1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo thực tập lý luận nhân cách

40 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 197,5 KB
File đính kèm Báo cáo thực tập lý luận nhân cách.rar (40 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tâm lí học hiện đại đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nhâncách do dựa trên thế giới quan, phương pháp luận và xuất phát từ những cáchtiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu

Trang 1

Trong tâm lí học hiện đại đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nhâncách do dựa trên thế giới quan, phương pháp luận và xuất phát từ những cáchtiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu cụ thể khác nhau.

Các tác giả của những lí thuyết nhân cách đều cố gắng xây dựng nghiêncứu của mình một cách hoàn chinh hoặc họ tập trung giải quyết một vấn đề tâm

lí cụ thể nào đó, nhưng qua những thử nghiệm, đo lường và vận dụng vào thực

tế, nhiều tác giả trong đó' có những tác giả của chính những lí thuyết đó đã thừanhận lí thuyết của mình còn những hạn chế, một số người đã tự tách ra khỏinhóm và đi xây dựng những lí thuyết mới về vấn đề nhân cách Do vậy cho đếnnay, những lí thuyết mới về nhân cách vẫn không ngừng được rađời bổ sung vàonhững nghiên cứu về nhân cách trong tâm lí học nhằm giải quyết những vấn đề

do thực tiễn đặt ra

Việc xem xét những quan niệm khác nhau này giúp chúng ta có được cáinhìn đầy đủ hơn về tính chất phức tạp của vấn đề nhân cách, sự hình thành vàphát triển các lí thuyết về nhân cách ở phương Tây, ở Liên Xô (cũ), nhát là Nga

và quan niệm của các nhà tâm lí học Việt Nam nghiên cứu về vấn đề nhân cáchcách, để có được những đánh giá đầy đủ, toàn diện trong từng lĩnh

Trang 2

vực này Từ đó, góp phần vào việc nghiên cứu về tính cách như một thuộctính tâm lí trong cấu trúc tâm lí của nhân cách.

2 Mục đích của chuyên đe

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lí luận trong các lí thuyết về nhân cáchtrong tâm lí học hiện nay Trên cơ sở đó, định hướng cho việc nghiên cứu cácthuộc tính nhân cách, đặc biệt là năng lực với tư cách là một thuộc tính tâm lí cơbản cần được nghiên cứu sâu, làm cơ sở định hướng cho việc xây dựng cơ sở líluận nghiên cứu về năng lực hiểu học viên trong dạy học của giảng viên đại họcquân sự

3 Những vấn đề lí 1uận về nhân cách trong tâm tí học hiện nay

3.1 Khái quát chung

Năm 1972, Nhà tâm lý học Thụy sĩ R.Meili (1900- 1991) đã nêu ra ba loại

mô hình về nhân cách: Mô hình phân kiểu học, mô hình phân tích nhân tố và môhình động thái Tuy nhiên những quan niệm này không phải là tuyệt đối chúngkhông thể chứa đựng những thành phần mà các quan niệm khác cũng có nhưngmức độ khác khau Sự khác biệt giữa các mô hình trước hết ở các đặc tính trungtâm của chúng

Quan niệm phân kiểu học, (đại diện là các tác giả W.H.Sheldem,E.Kretschemer C.Gjung ) đặc biệt chú trọng tới các nhân tố thể tạng, nhân tốsinh lí là nhân tố trung tâm của nhân cách Từ những khác biệt cá nhân giữa conngười về mặt sinh lí mà có các kiểu loại nhân cách khác nhau

Quan niệm phân tích nhân tố, đại diện gồm J.P.Guilford, H.J.Eysenck, R.B.Cattel) xem nhân cách là tổng thể của các nhân tổ bẩm sinh, chẳng hạnH.J.Eysenck cho rằng có hai nhân tố chính tạo nên nhân cách: Nhân tố I: tínhhướng nội - hướng ngoại; nhân tố N: Tính ổn định về cảm xúc Sự trực giao giữahai nhân tố này tạo nên các loại nhân cách khác nhau

- Quan niệm động thái về nhân cách (đại diện là H.A.Murray, G.Murphy ) chú ý tới những động lực thể hiện sự tác động giữa con người với môi trườngxung quanh tạo nên cấu trúc nhân cách H.A.Murray cho rằng, nhân cách chỉ có

Trang 3

thể có được trong hệ thống quan hệ cơ thế - môi trường Những nhu cầu và tíchhợp của chúng quy định xu hướng nhân cách.

Gần đây, theo quan điểm của nhiều nhà tâm lí học trong và ngoài nước,trong tâm lí học phương Tây hiện đang tồn tại ba dòng tâm lí học:

+ Dòng tâm lí học phân tích với các đại biểu như S.Freud, C Jung

E.Erikson, E.Fromm, K.Honey

+ Dòng tâm lí học hành vi với các đại biểu như J.Watson, B.P.Skiner

E.Bandura, HJ.Eysenck

+ Dòng tâm lí học nhân văn (trong đó có cả tâm lí học hiện sinh) với các

đại biểu như A.Maslow, C.Rogers, G.Kelly

Thuộc các dòng tâm lí học này có nhiều lí thuyết khác nhau về nhân cách

và sự phát triển nhân cách

3.2 Những phương hướng nghiên cứu

- Tâm lí học sai biệt

- Chủ nghĩa hành vi

- Chủ nghĩa nhân cách

Một số xu hướng nghiên 'cứu nhân cách từ sau Chiến tranh thế giới thứ haigồm các xu hướng:

+ Xu hướng mô tả các khác biệt, cái vô vị trong nhân cách

+ Xu hướng nhân văn gồm có: Mô hình động thái; mô hình xung đột; mô

hình kiên định

3.3 Một số lí thuyết về nhân cách trong tâm 1í học phuơng Tây

Ở phương Tây có nhiều học thuyết khác nhau về nhân cách thể hiện ở các

tí thuyết như: Phân tâm của S.Freud; thuyết siêu đẳng và bù trừ của A.Adler;thuyết lo lắng của K.Homey; thuyết phát huy bản ngã của A.Maslov; thuyết đặctrưng của G.Alport; thuyết nhu cầu tâm lí của H.A.Murray; thuyết tương tác xãhội của G.Mead; thuyết cái tôi của C.Roger; thuyết trường tâm lí của K.Lê vin;thuyết chạy trốn tự do của E.Fromm; thuyết tâm lí học thể trạng của Seldom;thuyết nhân tố về tâm lí nhân cách của R.B.Cattell, H.J.Eysenck

Trang 4

Tuy nhiên, trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi chỉ đi vào một vài trườngphái lớn trong tâm lý học phương Tây về nhân cách dưới đây.

3.3.1 Phân tâm học cổ điển của S.Freud về nhân cách

Theo S Freud (1856- 1939), người sáng lập ra trường phái Phân tâm học,cấu trúc nhân cách con người gồm ba thành tố là: "Cái ấy", "Cái tôi" và "Cáisiêu tôi", tương ứng với các cấp độ vô thức, ý thức và siêu thức

Khối vô thức - "Cái nó'', là khối bản năng, trong đó bản năng tình dục giữ

vị trí trung tâm Khối vô thức (id) là thùng năng lượng tâm thần chất chứa nhữngkhát vọng bản năng sôi sục Hoạt động của "cái ấy" theo nguyên tắc khoái cảmđòi hỏi sự thoả mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng Vô thức là cáingấm ngầm điều khiển, điều chỉnh hành vi con người

Khối ý thức tương đương với cái "tôi" (cao) Cái tôi được hình thành do áplực thực tại bên ngoài đến toàn bộ khối bản năng Nó đảm bảo các chức năngtâm lí như chú ý, trí nhớ Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại Nhiệm

vụ của cái tôi là làm cho cái ấy thoả mãn mà không làm tổn hại đến cơ thê, làmgiảm sự căng thảng một cách tốt nhất

Siêu thức - "Cái siêu tôi" (superego), là tổ chức bên trong bao gồm tất cảcác phạm trù xã hội, đạo đức, nghệ thuật, giáo dục Siêu tôi hoạt động theonguyên tắc kiểm duyệt

Cả ba khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đốiNhưng cả ba khối này luôn luôn xung đột với nhau, sự xung đột này là cơ chếcủa hoạt động tâm thần

Từ quan niệm như trên, S.Freud nêu ra cơ chế hoạt động tâm lí của conngười Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng và

cơ chế suy thoái Con người sống gồm các bản năng Xu hướng của các bảnnăng Rày là luôn vươn lên chiếm đoạt những cái khác (cái tôi và siêu tôi).Nhưng cái bản năng luôn bị sự chèn ép, kiểm duyệt của cái tôi Do đó, phải biếndạng bằng một hình thức nào đó như bệnh tâm thần, nói lắp, nói nhịu Trongtrường hợp không thoát lên được thì nó siêu thăng Cái siêu tôi thể hiện ở sự dạy

Trang 5

dỗ, quy định của bố mẹ, thể hiện trong truyền thống của thế hệ trước truyền lại.

Cơ chế tâm lí của việc hình thành siêu tôi là sự đồng nhất hoá – cá nhân đồngnhất với cha mẹ và những người giáo dục

- Về các giai đoạn phát triển nhân cách S.Freud chia sự phát triển nhâncách con người thành bốn thời kỳ (ba giai đoạn đầu gọi là tiền sinh dục)

+ Giai đoạn lỗ miệng (Oral): có từ lúc trẻ mới sinh, trẻ tìm thấy khoái lạc

ở miệng như mút vú mẹ, cho các đồ vật vào mồm

+ Giai đoạn hậu môn (Anles): ở trẻ năm thứ hai và năm thứ ba Giai đoạn

này trẻ chú ý tìm khoái lạc của hoạt động hậu môn

+ Giai đoạn âm vật và dương vật: giai đoạn này trẻ chú ý đến bộ phận sinh

dục, nảy sinh ra tình cảm lãng mạn đối với cha hoặc mẹ, người khác giới

+ Trong ba giai đoạn trên, cá nhân hướng đến bản thân mình Đến giai

đoạn thứ tư, cá nhân hướng ra đối tượng bên ngoài bắt đầu từ tuổi dậy thì

Các năng lượng của con người được sử dụng ở mục đích khác nhau như đihọc, vui chơi, bắt chước, hướng ra đối tượng khái giới để làm tình

Về ưu điểm: S.Freud đã đưa ra giả thuyết về vô thức tiềm thức là nhữngmặt quan trọng trong đời sống tâm lí của con người S.Freud đã khám phá mộtthế giới vô thức mà trước đây chưa được khám phá Mặt khác, đóng góp củaS.Freud còn ở chỗ đưa ra một số cơ chế tâm lí như cơ chế tự vệ, dồn nén, mặccảm, đồng nhất hoá, các giai đoạn phát triển nhân cách S.Freud đã lần đầu tiênđưa ra được mô hình tâm lí để chữa bệnh tâm thần có hiệu quả

Về hạn chế: S.Freud đã quá nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người,không thấy được mặt bản chất trong ý thức tâm lí của con người, không thấyđược bản chất xã hội - lịch sử của các hiện tượng tâm lí người

Mặt khác, quan niệm về con người và nhân cách con người của S.Freudbộc lộ những khía cạnh không đúng đắn: con người trong học thuyết phân tâm làcon người sinh vật, con người cơ thể bị phân li ra nhiều mảng, con người vớinhững mong muốn là Freud khó được chứng minh bằng thực nghiệm, đồng nhất

Trang 6

tâm lí trẻ em với tâm lí người lớn, tâm lí người bị bệnh và tâm lí người bìnhthường.

Chính vì những hạn chế nói trên, một số nhà tâm lí học từng theo quanđiểm của S.Freud đã tách ra thành phân tâm học mới

3.3.2 Phân tâm học mới về nhân cách

+ Lí thuyết tâm lí học của C.Jung (1879 - 1961)

C.Jung cho rằng hành vi con người được điều chỉnh bằng vô thức và cả ýthức Đó là quá trình điều chỉnh tổng họp, là một hệ thống tự điều chỉnh ông chorằng con người có vô thức đạo đức bẩm sinh Các hoạt động của con người cótính chất bản năng và tạo thành vồ thức tập thể Điều đó được thể hiện trong nềnvăn hoá dân tộc cũng như trong nghệ thuật - Ông cho rằng cóvô thức tập thể bởi

vì mỗi người đều tiềm tàng trong mình một di sản tinh thần được truyền từ nhiềuthế hệ trong một nền văn hoá dân tộc và nền văn minh nhân loại Chính vì vậy,hình thức phản ứng của mỗi cá nhân cũng giống nhau, CJung không thừa nhậnbản năng tình dục là quyết định tâm lí con người như S.Freud quan niệm, nhưngông lại thừa nhận trong con người có vô thức Vì vậy, bản chất học thuyết củaJung vẫn là học thuyết phân tâm được cải biến thành học thuyết phân tâm họcmới Trong cấu trúc nhân cách của Jung, cái tôi là trung tâm của ý thức Nhâncách là mẹ của ý thức Vô thức là mẹ của tâm lí tập thể và tâm lí cá nhân Quanđiểm của Jung về nhân cách còn gọi là lí luận nhân cách tầng sâu Lí luận nhâncách tầng sâu xuất phát từ quan niệm vô thức Vô thức được xác định bằngnhững sự kiện của hành vi Đó là những bản năng trực tiếp và bản năng tức thời

Lí luận nhân cách tầng sâu là một khám phá mới về vô thức Song điều này chưa

đủ để nói lên bộ mặt nhân cách con người Nhân cách con người còn thể hiệnnhững phẩm chất cũng như bộ mặt đạo đức trong nó

+ Thuyết siêu đẳng và bù trừ của Alfred Adler (1870 – 1937)

A.Adler là một nhà tâm lí học người áo, một môn đệ của S.Freud Líthuyết của ông chú trọng đến vấn đề nhu cầu hay động cơ thúc đẩy cá nhândành địa vi siêu đẳng hơn người khác Theo ông, các đam mê sinh dục, nhận

Trang 7

thức về sự thiếu hụt và phải sự bù trừ những khuyết tật chiếm vị trí trung tâmtrong sự phát triển nhân cách.

Nhận thức về sưu thiếu hụt có thể do nguyên nhân cơ thể như sự khônghoàn thiện về mặt thể chất, hình thái, do khó khăn trong giao tiếp ngoài xã hội Nhận thức này là động cơ thúc đẩy nên cá nhân luôn có khát vọng vượt quabằng hình thức muốn dành ưu thế - địa vị siêu đẳng, muốn làm chủ môi trườngxung quanh

Theo A.Adler sự "mặc cảm tự ti" nảy sinh khi cá nhân nhận thấy sự thuakém của bản thân cố gắng vượt qua những nhược điểm, nhưng nhiều lần bị thấtbại hoặc quá chú ý đến sự kém cỏi của bản thân

Mặt hạn chế của A.Adler thể hiện ở sự đánh giá thấp vai trò quyết địnhquan trọng của yếu tố xã hội đối với nguyện vọng phương hướng của sự bù trừquan niệm nhân chủng hoá về bản tính xã hội của con người, cá thể hoá và tâm

lí hoá nguyện vọng của cá nhân muốn hoàn thiện khắc phục những thiếu sót yếukém của mình

+ Thuyết chạy trốn tự do của Erich Fromm (1900 - 1980).

Vị trí trung tâm trong lí thuyết của E.Fromm là vấn đề bản chất xã hội củacon người trong đó có cái vô thức ông cho rằng cơ sở của các bệnh tâm căn ởcon người hiện đại là con ngươi ngày càng tách rời khỏi các thành viên khác của

xã hội Con người ngày càng trở nên tự do, nhưng cũng càng cô đơn và bơ vơ

Vì vậy con người cố gắng bằng các cách khác nhau chạy trốn khỏi sự tự do

đó

Theo E.Fromm, các cách chạy trốn tự do của con người là cách thức mà cáthể giải quyết các vấn đề tồn tại của mình, được xây dựng trên cơ sở nhu cầutrốn khỏi sự yếu kém và cách li của bản thân Hình thức này mang tính tự vệ vì

nó không khắc phục được các nguyên nhân sợ hãi, không giải quyết được cácvấn đề tồn tại của con người ông đã liệt kê một số cơ chế cơ bản để đào thảikhỏi sự cô độc, thiết lập với tập thể để làm mất cảm giác bơ vơ Theo ông, cơ chếđào thải này là chủ đề quan trọng của nhân cách

Trang 8

E.Fromm vạch ra được mối quan hệ của xã hội tư bản gắn liền với cácdạng tâm bệnh nhưng lại không nhìn thấy sự cần thiết phải cải tổ có tính chấtcách mạng những mối quan hệ đó Cuối cùng ông đã chuyển sang lập trườngduy tâm tìm lối thoát trong sự truyền bá tình yêu và trong hoạt động sáng tạo.Tóm lại, một số lí thuyết điển hình trong tâm lí học phương Tây hiện đạibên cạnh những mặt tích cực còn có nhiều thiếu xót, hạn chế nhất định.

Mặt tích cực thể hiện ở những điểm sau:

+ Xu hướng ngày càng phủ định nguyên nhân sinh vật của sự thù địch

giữa nhân cách và xã hội, nhấn mạnh nhu cầu "nhân văn" của con người

+ Chứng-minh khả năng phát triển không ngừng của nhân cách.

+ Phát hiện được những hiện tượng phong phú trong đời sống tâm lí của

con người

+ Chú ý đến tính đặc trưng và tính cơ động của nhân cách.

+ Đề xuất một số phương pháp nghiên cứu nhân cách có giá trị.

Những hạn chế, thiếu xót cơ bản là:

+ Xem nhân cách có trước và tôn tại song song với xã hội nếu không phải

là hiện tượng thứ nhất đối với xã hội, nhân cách bị nhân chủng hoá và

+ Giải thích các quan hệ xã hội như quan hệ liên nhân cách, thuần tuý có

tính chất cá nhân

+ Giải thích hành vi xã hội của con người bằng những thuộc tính đóng kín

trong bản thân nhân cách hoặc của môi trường phủ nhận những qui luật triểnthực tế của xã hội, của các nhóm xã hội, của nhân cách Chẳng hạn, cái sai củaE.Fromm là dung hoà giữa S.Freud và C.Mác Sự thật không thể có cơ sở tựnhiên nào do S.Freud tạo ra làm cơ sở cho chủ nghĩa Mác Đồng thời, sự tiến bộ

xã hội do động lực kinh tế quyết định chứ không do yêu tô tâm lí nào nhưFromm giải thích

3.3.3 Lí thuyết nét nhân cách của G.W.VAllport (1897-1967)

G.W.Allport cho rằng các nét nhân cách thực sự tồn tại và dựa trên hệthần kinh Chúng đại diện cho những thiên hướng khái quát của nhân cách và

Trang 9

chịu trách nhiệm về tính ổn định trong vận hành của một con người trong suốtcác tình huống và thời gian Tuy nhiên, G.W.Allport cũng lưu ý đặc điểm thểhiện những gì mà nó tạo nên đặc trưng của nhân cách.

Về đặc điểm nhân cách, G.W.Allport và đồng nghiệp đã tìm thấy 17.593

từ mô tả đặc điểm nhân cách trong các từ điển tiếng Anh, ông cho rằng các từnày đều là đặc điểm nhân cách Quan điểm về tính duy nhất, tính có một khônghai trong nhân cách của G.W.Allport được áp dụng cả trong trường hợp đặcđiểm Theo G.W.Allport, nhân cách con người là không lặp lại bởi không thể cóhai người cùng một khuôn mẫu đặc điểm như nhau nên mỗi người đối mặt vớinhững trải nghiệm môi trường hoàn toàn khác nhau

W.Allport phân biệt đặc điểm cá nhân và đặc điểm chung Đặc điểm chung

là những đặc điểm có ở đa số Chúng ta có thể so sánh giữa người này với ngườikhác dựa vào những đặc điểm chung này Đặc điểm cá nhân, tái lại là những đặcđiểm tạo nên tính duy nhất của người đó hoặc của một số người

Khi đặc điểm được dùng để mô tả nhóm thì chúng được gọi là những đặcđiểm chung và dùng để mô tả cá nhân thì đó là đặc điểm cá nhân Mặc dân đãphân loại như vậy nhưng mạnh đến đặc điểm cá nhân

Những đặc điểm cá nhân thiên hướng sau này được ông gọi là thiên hướng

cá nhân và thiên hướng sau này cũng dược chia thành 3 loại:

- Thiên hướng chủ yếu là những đặc điểm áp đảo ảnh hưởng thực sự đếnhoạt động sống của cá nhân Thiên hướng này quan sát thấy chỉ ở một số ítngười

- Thiên hướng trung tâm được mô tả trong một vài từ, gồm khoảng 5-10đặc điểm khái quát nhất về một cá nhân như trung thực, thân thiện, cởimở, Thiên hướng trung tâm là tổng hợp sự nhất quán của hành vi con người,thẹo G.WAllport mỗi người đều có một số thiên hướng này

- Thiên hướng thứ yếu được áp dụng trong một số hành vi đặc thù Chúng

ta chịu ảnh hưởng của những đặc điểm thứ yếu trong một số trường họp nhất

Trang 10

định Chúng ta ít khi hướng dẫn hành vi của chúng ta trong đa số các trườnghợp, nhưng lại xuất hiện trong các hoàn cảnh nhất định.

3.3.4 Lí thuyết về nhân cách và đặc điểm nhân cách của R.B.Cattel

Lí thuyết nhân cách của R.B.Cattel về đặc điểm nhân cách cùng phươngpháp đo nhân cách đã đánh dấu bước phát triển của lí thuyết này Những nghiêncứu đầu tiên của ông có tính khái quát rất cao, người ta còn gọi là những nghiêncứu tổng hợp, bắt đầu bằng việc thu thập những dữ liệu từ thực tế cuộc sống,ông khái quát những giả thiết từ chính những khuôn mẫu mà dữ liệu đem lại.R.B.Cattel phân biệt 3 loại phương pháp: 2 biến số, đa biến số và lâmsàng Trong phương pháp thiết kế đa biến, từ các dữ liệu của thực nghiệm tựnhiên, ông sử dụng phương pháp phân tích yếu tố nhằm rút ra các khía cạnh cómối tương quan cao với nhau ông cho rằng phương pháp hai biến đơn giản vàphiến diện trong nhân cách vì hành vi con người rất phức tạp, thề hiện mốitương tác giữa nhiều biến số Ngược lại, phương pháp lâm sàng có thể nghiêncứu hành vi như nó xảy ra và tìm kiếm tính quy luật trong sự vận hành của một

cơ thể tổng hợp

R.B.Cauel cho rằng yếu tố cơ bản về mặt cấu trúc là đặc điểm, được địnhnghĩa như là thiên hướng Khái niệm đặc điểm ngụ ý bao hàm một số khuônmẫu và sự lặp lại của hành vi theo thời gian và tình huống Theo R.B.Cattei cácđặc điểm nhân cách không đồng nhất với nhau, chúng khác nhau về quá trìnhhình thành, về khả năng thay đổi, về vai trò trong cấu trúc nhân cách R.B.Cattel tìm cách để phân biệt các loại đặc điểm khác nhau và chia chúng thànhhai nhóm Nhóm thứ nhất R.B.Cattel phân biệt các đặc điểm năng lực, đặc điểmtính khí và đặc điểm động thái Còn nhóm thứ hai phân biệt các đặc điểm bềngoài và đặc điểm nguồn gốc

Đặc điểm năng lực liên quan đến kỹ năng và khả năng cho phép cá nhânvận hành một cách có hiệu quả, chẳng hạn trí thông minh là một đặc điểm củanăng lực Đặc điểm khí chất liên quan đến cuộc sống cảm xúc của con người vàchất lượng kiểu loại của hành vi Khí chất xác định tốc độ, năng lượng và tình

Trang 11

cảm của con người trong hoạt động của họ Những đặc điểm động thái quan hệvới nỗ lực, động cơ cá nhân, gắn liền với những mục đích mà con người cho làquan trọng Nếu đặc điểm năng lực cho biết con người có thể hoạt động hiệu quảnhư thế nào thì đặc điểm động thái giải thích tại sao họ lại hành động thế nàyhay thế khác.

Đặc điểm bề mặt là những đặc điểm ta quan sát được và có tương quan vớinhau, những đặc điểm này có thể có nhiều nguyên nhân Đặc điểm nguồn gốc lànguyên nhân của hành vi, chúng xây dựng nên phần quan trọng của cấu trúcnhân cách con người và chịu trách nhiệm về tính nhất quán của hành vi conngười Những đặc điểm này được coi là cơ sở của nhân cách và có nhiều cấp độkhác nhau và những gì mà con người làm đều chịu ảnh hưởng của những đặcđiểm này

Một số đặc điểm nguồn gốc được xác định bởi đen và có nguồn gốc sinhhọc hay còn gọi là đặc điểm thể chất Một số đặc điểm nguồn gốc khác lại là kếtquả của kinh nghiệm và được gọi là đặc điểm mang nguồn gốc môi trường,chúng được xác định bởi đặc điểm văn hóa

Kết quả của hàng loạt nghiên cứu thực nghiệm ông cho ra một bảng hỏivới tên gọi 16 yếu tố nhân cách (Sixteen Personality Factor Inventory) Cácthuật ngữ liên quan đến những đặc điểm nhân cách được thể hiện trong testR.B.Cattel bao quát nhiều khía cạnh rộng lớn của nhân cách, đặc biệt về các đặcđiểm năng lực và khí chất

Trên cơ sở nghiên cứu R.B.Cattel phân tích yếu tố cầu các dữ liệu khácnhau, các kết quả tương tự và các nền văn họa khác nhau, các kết quả tương tựtheo các nhóm tuổi khác nhau và khả năng sử dụng chúng để dự báo hành vitrong môi trường tự nhiên và bằng chứng đóng góp đáng kể về di truyền củanhiều đặc điểm R.B.Cauel cho rằng có đủ bằng chứng để xây dựng nền tảng củamột bảng các yếu tố tâm lí - bảng phân loại

Về các quá trình tâm lí, động cơ

Trang 12

R.B.Cattel không coi con người là một đơn vị cố định, ứng xử theo mộtcách thức trong mọi tình huống Cách ứng xử phụ thuộc và đặc điểm nhân cách

và động cơ thích ứng với tình huống đó, thêm vào đó trang thái và các vai cũng

có tầm quan trọng đặc biệt liên quan đến sự thay đổi hành vi Trạng thái liênquan đến các thay đổi cảm xúc và tâm trạng vốn phần nào bị xác định bởi cáctình huống cụ thể R.B.Cattel cho rằng trong một số trường hợp các hành vi nhấtđịnh bị ràng buộc bởi các tình huống môi trường hơn là các yếu tố nhân cách

Về các yếu tố di truyền và môi trường trong đặc điểm nhân cách

R.B.Cauel nghiên cứu yếu tố môi trường và di truyền vào từng đặc điểmnhân cách ông đã tiến hành một loạt test với các thành viên của nhiều gia đình

và sau đó phân tích các khuôn mẫu, điểm thu được giữa các thành viên trong giađình và giữa các gia đình với nhau Từ các phân tích đó ông cho rằng ảnh hưởngcủa di truyền và môi trường thay đổi theo từng đặc điểm

Về các đặc điểm nhân cách trong sự phát triển, R.B.Cattel tiến hành các

nghiên cửu về xu thế tuổi, tức là loại đặc điểm và mức độ chung của các đặcđiểm liên quan đến mỗi giai đoạn phát triển Xu thế tuổi cũng liên quan đến cảcác nghiên cứu theo thời gian của sự phát triển các đặc điểm Phần lớn cácnghiên cứu theo xu thế tuổi cho rằng các yếu tố chủ yếu được tìm thấy ở cácnghiệm thể từ 4 tuổi trở lên cho tới khi trưởng thành

Mặt khác, các nghiên cứu ở trẻ em tuổi nhà trẻ cho thấy chỉ có 113 các đặcđiểm tương tự được tìm thấy ở người lớn là có ở trẻ em Một số nghiên cứu khác

về tính ổn định của nhân cách theo thời gian cũng cho kết quả là những nét tínhcách ở người trưởng thành thay đổi không đáng kể Những thay đổi nhanh vàmạnh mẽ về tính cách và về quan niệm cái tội thuộc về lứa tuổi vị thành niên.Nhìn chung, những nghiên cứu về cá nhân trong suốt cuộc đời đã chỉ ra trí tuệcủa con người có tính ổn định nhất, tiếp đó là những biến số của nhân cách nhưhướng ngoại, sự ổn định tình cảm và khả năng kiềm chế sự bốc đồng Cuối cùnglàm thái độ chính trị và ý kiến cá nhân

Trang 13

Những đóng góp của R.B.Cattel đối với sự phát triển những nghiên cứu vềnhân cách là rất to lớn, đề cập tới phần lớn các khía cạnh thích ứng với thuyếtnhân cách - cấu trúc, các quá trình tâm lí, sự trường thành và phát triển, tâmbệnh học và sự thay đổi R.B.Cattel đã tạo nên động lực chủ yếu trong việc pháttriển các kĩ thuật phân tích các yếu tố cũng như kĩ thuật để xác định sự đóng góp

di truyền vào nhân cách Các nghiên cứu của ông bao trùm hầu hết mọi lứa tuổi

và ông sử dụng rất nhiều kỹ thuật đo Ngoài ra, ông cũng nỗ lực đưa các nghiêncứu của mình tới các vùng văn hóa khác nhau nhằm tìm kiếm sự tương đồngcũng như khác biệt của nhân cách

R.B Cattel - đã -cho ra đời nhiều công cụ -để đo các đặc điểm nhân cách

và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: chẩn đoán lâm sàng, tư vấn, lựa chọnnhân sự Test 16 yếu tố nhân cách được thích nghi với hơn 40 ngôn ngữ khácnhau và được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu hiện nay về nhân cách

Tuy nhiên, lí thuyết của R.B.Cattel phụ thuộc nhiều vào kĩ thuật thống kê

và phép phân tích yêu tô Vân đề của phương pháp này ở chỗ số các yếu tốkhông được nhất quán giữa các tác giả Chính những tồn tại này làm cho nhữngnhà tâm lí học đi theo lí thuyết của ông tìm cách khắc phục

3.3.5 Lý thuyết nhân cách mô hình ba yếu tố của H.JEysenck (1916-1997)

H.J.Eysenck đã phát triển nội số cách đánh giá nhân cách, bao gồm canthiệp nhân cách của H.J.Eysenck, bảng điều tra y tế Maudsley, và can thiệp nhâncách Maudsley Công trình của ông đã ủng hộ vai trò của sự kế thừa trong mô tả

xu hướng nhân cách

Các thước đo nhân cách

H.J.Eysenck đưa ra lí thuyết nhân cách dựa trên 3 thước đo, được xác địnhnhư là sự kết hợp của các đặc điểm và yếu tố Chúng ta cần phải coi các thước

đo như là "các yếu tố cao cấp’’ Ba thước đo nhân cách như sau:

E - Hướng ngoại cản trở hướng nội*

N - Sự rối nhiễu thần kinh cản trở ổn định xúc cảm

Trang 14

P - Rối nhiễu tâm lí cản trở khả năng kiểm soát chức năng siêu tôi)

Theo H.J.Eysenck, thước đo hướng ngoại và rối nhiễu thần kinh đượcnhận thức như là các yếu tố cơ sở của nhân cách từ thời các nhà triết học Hy Lạp

cổ dại ông còn cho rằng sự thành công của các thước đo đó có thể tìm thấyphương kế đánh giá nhân cách gần đúng cho sự phát triển nhân cách

Nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm và thước đo của H.J.Eysenck đã giữđược sự nhất quán trong suốt cuộc đời từ thời thơ ấu, qua giai đoạn trườngthành, mặc dù có sự khác biệt về kinh nghiệm xã hội Tình huống có thể thayđổi nhưng các thước đo thì luôn ổn định H.J.Eysenck còn có đóng góp lớn chonghiên cứu trí tuệ, mặc dù ông không xếp trí tuệ là thước đo nhân cách nhưngcho rằng nó là một trong các ảnh hưởng quan trọng tới nhân cách Ông lưu ýrằng con người với IQ là 120 dường như phức tạp và nhiều thước đo hơn rấtnhiều so với những người có IQ là 80 ông đã chỉ ra các bằng chứng cho thấy80% trí tuệ của chúng ta là được truyền lại, chi còn 200/0 là sản phẩm của yếu tố

xã hội và môi trường (Eysenck & Eysenck, 1985)

3.3.6 Thuyết 5 yếu tố lớn của nhân cách (Big-Five Model)

Những năm gần đây, lịch sử tâm lí học lại được đánh dấu bởi sự phát triểncủa dòng lí thuyết về đặc điểm nhân cách bằng sự ra đời của mẫu 5 yếu tố lớncủa nhân cách (Big-Five Model) hay còn gọi là Big-Five Sự ra đời của Big-Five

được bắt đầu từ ba lĩnh vực Thứ nhất, là từ việc tìm kiếm trong ngôn ngữ tự

nhiên những từ vựng để mô tả nhân cách, các nhà tâm lí nhân cách đã tiến hànhphân tích yếu tố để tìm ra điểm chung nhất giữa một loạt các đặc điểm, hay là

những loại đặc điểm có xu hướng đi cùng nhau tập trung dưới một yếu tố Thứ

hai, là các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa các test về đặc điểm

nhân cách với các test khác Thứ ba, là phân tích những đóng góp của di truyền

đối với nhân cách

Phân tích thuật ngữ đặc điểm được tiến hành bắt đầu bằng cách tìm trong

từ điển những từ vựng được sử dụng để mô tả nhân cách, về sau, nhiều nhànghiên cứu khác nhau, tiến nhau, với các mẫu khác nhau và với những công cụ

Trang 15

khác nhau cũng phát hiện ra 5 yếu tố lớn của nhân cách (Jonh, 1990) Người tacũng tìm thấy độ tin cậy và độ giá trị của 5 yếu tố và các yếu tố này khá ổn định

Ờ lứa tuổi trường thành (Mc Crae và Costa, 1994) Golberg (1981) sau khi tổng

hợp các nghiên cứu của những người khác và của chính ông đã đề nghị lấy têngọi 5 yếu tố đó là "Big - Five" Tên của mỗi yếu tố này được mỗi tác giả đặt mộtcách khác nhau, cùng mô tả nhân cách chung Nhưng của 5 yếu tố được nhiềungười tán thành nhất là: nhạy cảm, hướng ngoại, sẵn sàng trải nghiệm, tán thành

và tận tâm Để cho dễ nhớ người ta ghép tên viết tắt của 5 yếu tố lấy các chữ cáiđầu theo tiếng Anh là OCEAN Ý nghĩa của 5 yếu tố được-diễn giải như sau

- Nhạy cảm: đánh giá sự bất ổn định về cảm xúc, nhận ra những cá nhân

dê rủi vào stress tâm lí, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá

- Hướng ngoại: đánh giá số lượng và cường độ các tương tác liên cá nhân,

mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hường ứng

- Sẵn sàng trải nghiệm: để mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao

sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng chịu đựng để khảo sát những cái mới lạ

- Tán thành: đánh giá chất lượng sự định hướng liên cá nhân với một

chuôi từ sự đông tình đen đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động

Tận tâm: đánh giá mức độ tổ chức, uy tín, động cơ trong hành vi hướng

tới mục đích của cá nhân Nó tương phản giữa những cá nhân phụ thuộc, khótính với những người độc lập và mềm mỏng

Big - Five được thiết kế để nắm bắt những đặc điểm nhân cách mà conngười coi là quan trọng nhất trong cuộc sống của mình Goldberg đã gọi xuhướng này bằng thuật ngữ "giả thiết về từ vựng cơ sở’’ Theo giả thiết này,những khác biệt cá nhân quan trọng nhất trong tương tác giữa người với người

sẽ được mã hoá như những thuật ngữ đơn nhất ở hầu hết các ngôn ngữ trên thêgiới Nhờ vậy mà có thể dùng cùng một bảng hỏi để nghiên cứu nhân cách ở cácvùng văn hoá khác nhau Những mối tương quan giữa kết quả của các bảng hỏikhác nhau cho phép khẳng định về giá trị, vai trò của phương hành khảo sát lạinhững nguồn dữ liệu khác nhau Những mối tương quan giữa kết quả của các

Trang 16

bảng hỏi khác nhau cho phép khẳng định về giá trị, vai trò của phương phápbảng hỏi trong nghiên cứu nhân cách con người nói chung.

Vào những năm 80 của Thế kỷ XX, nhiều vấn đề về tính khái quát của cấutrúc nhân cách được đặt ra khiến mối quan tâm đến cấu trúc Big - Five lại trỗidậy Nhiều Big - Five ra đời với những tên gọi tương đối khác nhau Big - Five

đã trở thành những chiếu đo chủ yếu của nhân cách trong các thang đo nhâncách khác nhau Theo nhiều nhà tâm lí học của trường phái này thì 5 yếu tố củanhân cách được đề nghị ở đây là cơ sở để giải thích chính xác cấu trúccủa nhâncách

Tóm lại, trong việc nghiên cứu nhân cách ở phương Tây có nhiều quanđiểm khác nhau về nội dung và phương pháp nghiên cứu song có một số điểmchung cơ bản sau đây:

- Ngày càng phủ định nguyên nhân sinh học của sự khác biệt giữa cá nhân

và xã hội, nhấn mạnh nhu cầu nhân văn (chế ước xã hội) của nhân cách

- Chứng minh khả năng phát triển của nhân cách trong đời sống cá thể.Nhân cách mang tính đặc rưng, cơ động và sáng tạo của cá nhân

- Đề xuất một số phương pháp nghiên cứu nhân cách có giá trị (nhưphương pháp test, phương pháp phóng ngoại )

- Tuy nhiên, còn những hạn chế chung trong nghiên cứu nhân cách

+ Quá nhân mạnh mặt sinh học, mặt cá tính của cá thể, xem nhẹ mặt xã

hội trong nhân cách

+ Xem nhân cách soạn song với xã hội, dẫn đến chỗ nhân chùng hóa hoặc

xã hội học hóa hoặc tâm lí học hóa nhân cách

+ Một số lí thuyết về nhân cách giải thích các quan hệ xã hội như là những

quan hệ liên nhân cách thuần túy, có tính cá nhân

+ Giải thích các hành vi của nhân cách bằng những thuộc tính khép kín ở

trong nhân cách, hoặc bằng môi trường, phủ nhận những quy luật phát triển củachính nhân cách

Trang 17

3.4 Lí luận về nhân cách của tâm lý học Xô viết và quan điểm của một

số nhà tâm lí học xã hội chủ nghĩa khác trước đây

* Các nhà tâm lí học xã hội chủ nghĩa khác trước dây đi theo 3 chiến lượcnghiên cứu khác nhau về nhân cách:

- Chiến lược nghiên cứu truyền thống hướng vào các thuộc tính các chiếnlược nghiên cứu hành vi của nhân cách

- Chiến lược nghiên cứu xu thế biến động tâm lí của cá nhân phản ứng,điều chỉnh hành vi trước những tình huống khác nhau

* Trong tâm lí học Xô viết, một số tác giả đại diện cho các lí thuyết khácnhau: Lí thuyết nhân cách của D.N.Udơnatze (1886-1960), nhân cách trong luậnđiểm triết học - tâm lý học của C.I.Rubinstein (1889-1960) lý thuyết nhân cáchcủa B.G.Ananhiev (1907-1972), quan điểm của A.G.Kôvaliôv, K.K.Platơnôv vềnhân cách, luận điểm của V.N.Miaxisev (1892-1973) về nhân cách, cách tiếpcận nhân cách của A.N.Lêônchiev (1903-1979)

3.4.1 Quan điểm của L.X Vưgôtxki với vấn đề nhân cách

L.X.Vưgôtxki đã khái quát những nghiên cứu trước ông về phát triển tâm

lí người, từ đó ông khái quát và đưa ra quan niệm mới, có những nét khác vớiquan niệm đương thời về sự phát triển con người, về sự phát triển nhân cáchPhát triển tâm lí người là phát triển nhân cách con người cụ thề, mà nét chủ yêucủa sự phát triển đó được biểu hiện rõ, trông thấy được là phát triển hành vi củangười đó

- Phát triển tâm lí người là sự phát triển có tính quy luật Đó không phải là

sự biến đổi cơ học hoặc trừu tượng

- Phát triển tâm lí người có nét độc đáo gắn với yếu tố động lực và mangtính định hình chứ không do một yếu tố siêu hình hay lực lượng thần bí chi phối

- Con đường nhận thức, phát hiện ra các quy luật phát triển nhân cáchkhông thể là cảm nhận trực giác, mô tả hay suy lí mà thực nghiệm khoa học

- Quá trình phát triển tâm lí người, phát triển nhân cách thường diễn ra

Trang 18

theo nhiều cách thức, nhiều con đường khác nhau Trong đó, những mốiliên hệ bản chất, ổn định và lặp đi lặp lại giữa các yếu tố cẩu sự phát triển đóđược L.X.Vưgôtxki khái quát thành một số quy luật chủ yếu TheoL.X.Vưgôtxki, phát triển tâm lí người nói chung, phát triển nhân cách trẻ em nóiriêng thường tuân thủ một số uy luật nhất định :

- Phát triển, hình thành các chức năng tâm lí bậc cao của con người Đây làhạt nhân cơ bản của sự hình thành và phát triển nhân cách con người, còn là quyluật của sự quá độ, thời kì chuyển đổi từ các hình thái hay phương thức hành vimang tính xã hội mà trong đó có sự can thiệp bởi các khâu trung gian của conngười và gắn liền với quá trình phát triển có tính lịch sử của hành vi người Ởđây có sự phối hợp phức tạp của các quá trình bộ phận như: hoàn thiện tư duy,chuyển từ kiểu tư duy đơn giản sang tư duy khoa học thông qua phát triển ngôn

ngữ ở người Thực tiễn giáo dục cũng cho thấy, nếu không hình thành và phát

triển được các chức năng tâm lí bậc cao ở đứa trẻ thì chưa thể nói chúng đã cótrí tuệ và sự thông minh

- Phát triển tỉnh văn minh, nét văn hóa của hành vi con người gắn với sựphát triển lịch sử xã hội của nhân loại là đặc trưng mang tính quy luật của sựphát triển người, phát triển nhân cách Nhiệm vụ trung tâm ở đây là hình thành,phát triển các kiểu hành vi mang tính xã hội, tập thể Nói cách khác, con đườngphát triển tính văn minh, nét văn hóa của con người phải đi từ việc hình thành,phát triển các hành vi mang tính xã hội và trên cơ sở đó phát triển các chúc năngtâm lí bậc cao ở chính con người đó Đó là cách thức đảm bảo cho con người cónhững phẩm chất nhân cách tích cực, mang bản chất người, có khả năng thíchứng xã hội và phát triển tư duy

- Chuyên hóa chức năng từ bên ngoài vào bên trong bản thân con người làmột quá trình biến đổi mang tính quy luật L.X.Vưgôtxki cho rằng quy luật này

có được là dựa trên cơ sở Của quy luật phát triển tính nhân văn, trình độ vănminh của hành vi con người Thực chất của sự chuyển hóa ở đây là sự chuyểncác hình thái biểu hiện của hành vi mang nét đặc trưng xã hội với tư cách là các

Trang 19

thao tác bên ngoài vào hệ thống hành vi mang nét riêng biệt của cá nhân conngười Sự chuyển hóa này được thực hiện, một mặt là nhờ sự phát triển và thamgia của chú ý, trí nhớ, mặt khác là do sử dụng phương tiên cơ bản là giao tiếptrực tiếp, tác động vào người khác, nhờ phương tiện lả người khác để chuyểnhóa vào trong con người Ở đây đòi hỏi sự xuất hiện của tự ý thức về bản thân,

là biểu hiện quan trọng của hành vi bậc cao ở nhân cách

Trong quan điểm của L.X.Vưgôtxki, đã nêu lên tư tưởng độc đáo vềnhâncách, như một hình thức tổ chức mang tính tích cực qua lại giữa các cá nhân vớinhau, Ở đó, sự tồn tại thực của cá nhân sẽ gắn bó một cách hữu cơ với sự tồn tạitinh thần của những người khác trong nó và đồng thời cá nhân ấy cũng được đạidiện về tinh thần trong tồn tại thực tế của những người khác Như vậy, theo cáchhiểu của L.X.Vưgôtxki, nhân cách là tổ hợp tâm lí có cấu trúc trọng vẹn Sựhình thành nhân cách là quá trình phát triển không chỉ biểu hiện ở sự tăng thêmnhững cấu tạo, những chức năng tâm lí mới, mà giữa các chức năng, các quátrình và các thuộc tính tâm lí cá nhân còn có những mối liên hệ, phụ thuộc lẫnnhau, tạo thành cấu trúc trọn vẹn [5, ti.24]

3.4.2 Quan điểm của B.G.Ananhiev về nhân cách

B.G.Ananhiev đã xuất phát từ những khái niệm cá thể, chủ thể, khách thể,hoạt động, cá nhân để giải quyết vấn đề nhân cách ông cho rằng, nhân cách là

cá thể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của từng bước tiến lịch sử.Nhân cách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch sử Sự phong phúcủa mối quan hệ xã hội của cá nhân đã tạo nên những đặc điểm của nhân cách.Cấu trúc nhân cách được dần dần hình thành trong quá trình cá nhân hoạt độngtrong mối quan hệ xã hội ông đưa ra cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc:

Nguyên tắc thứ bậc là sự sắp xếp đặc điểm xã hội chung nhất quy định những

đặc điểm tâm sinh lí và Nguyên tắc phối hợp là sự tác động qua lại giữa các

thành phần độc lập tương đối và thành phần phụ thuộc

Theo B.G.Ananhiev, để nghiên cứu con người với tư cách là nhân cáchphải nghiên cứu xu hướng, tính cách, hành vi xã hội, động cơ hành vi, cấu trúc

Trang 20

nhân cách vị thế nhân cách con đường sống của nhân cách trong xã hội Điềunày đòi hỏi các nhà khoa học, tâm lí học, xã hội học, giáo dục học, đạo đức họcphải quan tâm nghiên cứu.

A.G.Ananhiev coi con người là tiểu vũ trụ Điều này rất tương đồng vớiquan niệm phương Đông về con người Quan điểm B.B.Ananhiev coi việcnghiên cứu nhân cách là tổng hợp các khoa học nghiên cứu về con người là mộtđóng góp quan trọng trong việc chỉ hướng nghiên cứu nhân cách, nghiên cứunhân cách không tách rời việc nghiên cứu con người thực tiễn

3.4.3 Quan điểm về nhân cách của A.N.Lêônchiev (1903 - 1979)

A.N.Lêônchiev coi nhân cách như một cấu tạo tâm lí mới, được hình thànhtrong các quan hệ sống cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó Kháiniệm nhân cách thể hiện tính chỉnh thể của chủ thể cuộc sống Nhân cách là mộtcấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sựphát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hoá cá thể của con người Sự hình thànhnhân cách là một quá trình riêng không trùng khớp với quá trình biến đổi cácthuộc tính tự nhiên của cá thể Những quá trình thân kinh của cá nhân sẽ khôngbiến thành những thuộc tính nhân cách, mặc dù quá trình thần kinh sẽ khôngthiếu được trong quá trình hình thành nhân cách

Muốn hiểu nhân cách phải dựa vào hoạt động của chủ thể để phân tíchhoạt động là cơ sở của nhân cách Việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát từ

sự phát triển của hoạt động, những loại hình cụ thể của hoạt động và mối liên hệcủa nhân cách đó với những người khác

Quan điểm của A.Nlêônchiev về động cơ, xúc cảm và nhân cách: ông đưa

ra cách hiểu sự hình thành nhu cầu của con người theo sơ đồ Hoạt động - Nhucầu Hoạt động, luận điểm này cho rằng nhu cầu của con người cũng được sảnxuất ra Nhu cầu được phân tích về mặt tâm lí sẽ dẫn tới phân tích động cơ ông

chia ra hai loại động cơ: Động cơ tạo ý nhân cách và động cơ kích thích Động

cơ tạo ý gắn liền với nhân cách Động cơ tạo ý ở cấp cao hơn so với động cơ

Ngày đăng: 18/03/2017, 07:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bích (1998). Tâm lý học nhân cách - một số vấn đề lý luận Nxb Đại học quốc gia H Khác
2. Vũ Dũng (2009), Từ điển tâm lý học, Nxb Từ điển Bách khoa, H. 3 . Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc (2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, Nxb Chính trị quốc gia Khác
4. Đào Thị Oanh (2007), Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay, Nxb Giáo dục, H Khác
5. Trần Trọng Thủy (1997), Học thuyết xã hội - lịch sử của L.X.Vưgotxki về sự phát triển, Kỉ yếu Hội thảo "L.X.Vưgotxki - nhà tâm lý học kiệt xuất thế kỷ XX&#34 Khác
6. Trần Trọng Thủy (2000), Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước, Báo cáo đề tài KHCN 04-04 7. Nguyễn Quang Uẩn (2010), Tuyển tập nghiên cứu về tâm lý - giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm Hà nội.8 . Nguyễn Quang Uẩn (20 1 0), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia,. H Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w