Lý do ch ọn đề tài Cái hệ thống ký hiệu nhiều cấp bậc, nhiều bình diện - gọi là ngôn ngữ - được hình thành và phát triển chủ yếu để phục vụ cho sự giao tiếp của con người, vừa có mối qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH SÂM
Thành phố Hồ Chí Minh 2012
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Mai
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
M ỤC LỤC 4
CÁC CH Ữ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN 7
DANH M ỤC CÁC BẢNG 8
M Ở ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 L ịch sử vấn đề 11
3 M ục đích nghiên cứu 17
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu 18
6 Ngu ồn tài liệu tham khảo và ngữ liệu 19
7 phương pháp nghiên cứu 19
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 21
9 Đóng góp của luận án 22
10 B ố cục của luận án 23
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 24
1.1 M ỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ LỜI NÓI, GIỮA CÂU VÀ PHÁT NGÔN 25
1.2 C ẤU TRÚC TƯƠNG THÍCH CỦA CÂU HỎI 27
1.2.1 Vai trò c ủa ngữ cảnh trong việc xác định nghĩa của câu 27
1.2.2 Khái ni ệm cấu trúc tương thích 29
1.2 3 Đặc điểm của cấu trúc tương thích 29
1.2.4 M ột số hệ quả của việc sử dụng cấu trúc tương thích 34
1.3 LÝ THUY ẾT NGỮ DỤNG HỌC 35
1.3.1 Lý thuy ết hành động ngôn từ 35
1.3.2 Nhân t ố giao tiếp 36
1.3.3 Ch ức năng giao tiếp, các thành tố nội dung và đích của diễn ngôn 39
1.3.4 Lý thuy ết lập luận và hội thoại 40
1.4 CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CÂU HỎI 43
1.4.1 C ấu trúc thông tin 43
Trang 51.4.2 M ối quan hệ của câu hỏi và cấu trúc thông tin 54
1.5 TIỂU KẾT 56
Chương 2: CẤU TRÚC THÔNG TIN CÂU HỎI TIẾNG VIỆT 60
2.1 VAI TRÒ C ỦA CÂU TRẢ LỜI TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH HAI THÀNH PH ẦN THÔNG TIN CỦA CÂU HỎI TIẾNG VIỆT 61
2.1.1 S ự tương hợp về đích ngữ dụng 61
2.1.2 S ự tương hợp về khung tình thái 62
2.1.3 S ự tương hợp về nội dung mệnh đề 62
2.1.4 S ự tương hợp về TT TGĐ ND 63
2.1.5 S ự tương hợp về TT XN ND 63
2.2 HAI THÀNH PH ẦN THÔNG TIN CỦA CÂU HỎI CHÍNH DANH TI ẾNG VIỆT 64
2.2.1 Thành ph ần TT TGĐ ND 64
2.2.2 Thành ph ần TT XN ND 67
2.2.3 CTTT c ủa các kiểu câu hỏi chính danh tiếng Việt 72
2.2.4 Các ki ểu TT của câu hỏi chính danh tiếng Việt 87
2.3 HAI THÀNH PH ẦN THÔNG TIN CỦA CÂU HỎI PHI CHÍNH DANH TI ẾNG VIỆT 92
2.3.1 Các t ầng TT của câu hỏi phi chính danh tiếng Việt 92
2.3.2 M ối quan hệ giữa các tầng TT 96
2.3.3 Các ki ểu TT trong câu hỏi phi chính danh tiếng Việt 107
2.4 M ỐI QUAN HỆ CẤU TRÚC THÔNG TIN CỦA CÂU HỎI CHÍNH DANH VÀ CÂU H ỎI PHI CHÍNH DANH TIẾNG VIỆT 119
2.5 TI ỂU KẾT 127
Chương 3: SỰ ĐÁNH DẤU CẤU TRÚC THÔNG TIN TRONG CÂU H ỎI VÀ VAI TRÒ CỦA CÂU HỎI TRONG TƯƠNG TÁC H ỘI THOẠI 131
3.1 VAI TRÒ C ỦA PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ 131
3.1.1 Phương tiện ngữ âm 131
3.1.2 Phương tiện từ vựng 135
3.1.3 Phương tiện ngữ pháp 139
3.2 VAI TRÒ C ỦA CÁC CẤU TRÚC THÔNG TIN CÂU HỎI TRONG HỘI THOẠI 147
Trang 63.2.1 Câu h ỏi trong quan hệ với yếu tố phi ngôn 147
3.2.2 Các ch ức năng câu hỏi đảm nhận trong HT 149
3.3 TI ỂU KẾT 161
K ẾT LUẬN 164
TÀI LIỆU THAM KHẢO 170
Trang 7CÁC CH Ữ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN
TĐ TTM (TĐM) tiêu điểm thông tin mới
TĐ TTPT (TĐPT) tiêu điểm thông tin pha tạp
TĐ TTTP (TĐTP) tiêu điểm thông tin tương phản
Trang 8Cấu trúc TT của câu hỏi tiếng Việt
Mô tả hai thành phần TT của câu
Sự tương hợp CTTT giữa câu hỏi và câu trả lời (câu hỏi chính danh)
Sự tương hợp CTTT giữa câu hỏi và câu trả lời (câu hỏi phi chính danh)
Mô tả hai thành phần TT của câu hỏi chính danh
CTTT câu hỏi có tiểu từ tình thái đứng cuối CTTT câu hỏi có vị từ (ngữ vị từ) tình thái mang nghĩa nghi vấn đứng đầu
CTTT câu hỏi chứa các cặp từ mang nghĩa
đối lập “có” – “không”, “đã” – “chưa”
CTTT câu hỏi có các ngữ vị từ nghi vấn đứng cuối
CTTT câu hỏi chứa từ “hay” chỉ sự lựa chọn
CTTT câu hỏi chứa đại từ nghi vấn
Mô tả hai thành phần TT của câu hỏi phi chính danh
Mối quan hệ CTTT giữa câu hỏi chính danh
và câu hỏi phi chính danh
TĐ TTM chuyển thành TĐ mang tính hiển nhiên hoặc thứ yếu
TĐ TTM chuyển thành TĐ TTTP Chuyển đổi vị trí TĐ trong thành phần TT
XN ND Chuyển đổi vị trí TĐ NV từ thành phần TT
XN ND sang thành phần TT TGĐ ND Chuyển vị trí TTĐ NV từ thành phần TT XN
Trang 923 Bảng 3.1 Vai trò của câu hỏi trong hội thoại 148
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Cái hệ thống ký hiệu nhiều cấp bậc, nhiều bình diện - gọi là ngôn ngữ - được hình thành và phát triển chủ yếu để phục vụ cho sự giao tiếp của con người, vừa có mối quan hệ bên trong (cấu trúc của các thành tố) vừa có mối quan hệ bên ngoài (với nền văn hóa mà nó là bộ phận cấu thành) Vì thế, nghiên cứu ngôn ngữ, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở bình diện mã tín hiệu mang tính hình thức thuần túy mà còn phải tìm hiểu mặt nội dung của nó, xem đằng sau cái được mã hóa đó là
gì, cả nghĩa hiển ngôn lẫn hàm ngôn, trong từng hoàn cảnh cụ thể, có tính đến yếu
tố nhân vật giao tiếp Chính ngữ pháp chức năng, dưới ánh sáng của ngôn ngữ trong hành chức, đã đưa ngôn ngữ học vượt qua giai đoạn chỉ nghiên cứu bình diện kết học của các đơn vị trong hệ thống, tuy không bỏ qua mặt nghĩa nhưng chỉ quan tâm đến nghĩa biểu hiện, tức chỉ tìm hiểu mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, mà trả ngôn ngữ về đúng chức năng và môi trường hoạt động của nó Chúng tôi, qua đề tài này, một mặt cũng muốn làm rõ đặc điểm của câu hỏi tiếng Việt dưới góc độ lý thuyết thông tin, mặt khác, xem đây như là cơ hội để học hỏi các chuyên luận cùng đề tài và mở rộng vốn kiến thức về ngôn ngữ học còn hạn hẹp của mình
Câu tục ngữ “Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học” đã phần nào khẳng định vai trò của HV hỏi Theo quan niệm thông thường, hỏi là cách nhanh nhất để
tiếp nhận TT, mà từ đó là sự mở rộng và điều chỉnh bức tranh về thế giới cũng như thiết lập và phát triển mối quan hệ của các nhân vật giao tiếp Trước đây, người ta ít
quan tâm đến câu hỏi, bởi vì, toàn bộ lý thuyết logic hình thức chỉ lấy câu tường
thuật làm đối tượng nghiên cứu Song, trong thời gian gần đây, câu hỏi được quan tâm nhiều hơn, được trình bày thành những chuyên mục riêng trong sách ngữ pháp
và trở thành đề tài nghiên cứu chuyên sâu của nhiều công trình ngôn ngữ học ở tất
cả các bậc học Đứng ở góc độ chức năng, người ta thấy rằng câu hỏi không chỉ
Trang 11được dùng để hỏi mà còn dùng để thực hiện những HV khác hỏi vốn được thể hiện bằng hình thức các câu như cảm thán, cầu khiến, … và đảm nhận một vai trò hết
sức quan trọng trong tương tác HT Kết quả thu được từ các công trình đó đã giúp
hình thành nên một cái nhìn rất phong phú, sâu sắc và tinh tế về câu hỏi tiếng Việt
Vì những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn câu hỏi làm đề tài nghiên cứu trong
luận án này
2 L ịch sử vấn đề
Trước nay khi nghiên cứu về câu hỏi tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học thường lấy việc phân tích các bình diện làm cơ sở cho sự tổng hợp các vấn đề có liên quan đến cách thức tổ chức, biểu hiện nội dung và giá trị sử dụng Trong luận
án này, chúng tôi sẽ khảo sát đặc điểm của câu hỏi trên cơ sở những luận điểm cơ bản của lý thuyết CTTT Vì thế, nội dung luận án vừa mang tính kế thừa vừa có tính chất mới Trong phần lịch sử vấn đề có tính chất trường quy, chúng tôi sẽ trình bày một cách sơ lược những công trình nghiên cứu về câu hỏi tiếng Việt và những công trình nghiên cứu về lý thuyết TT, còn những vấn đề thuộc nội dung chúng tôi
sẽ bàn kỹ ở phần tổng quan
2.1 Câu hỏi tiếng Việt
Bùi Đức Tịnh (1996) cho rằng công năng của câu hỏi là thu nhận TT “Ta
dùng câu nghi vấn để tỏ ý muốn biêt một việc gì.” [147, tr.79] và từ đó chỉ ra các
dấu hiệu hình thức của câu hỏi như: câu nghi vấn có chỉ định từ, câu nghi vấn có đại từ nghi vấn, câu nghi vấn có phó từ nghi vấn giữ vai trò hạn định một động từ, một phó từ hoặc một tính từ, … Ông cũng chú ý đến giá trị tại lời gián tiếp của câu hỏi, tuy nhiên, chỉ là những ghi nhận về trường hợp ngoại lệ của cách sử dụng câu
hỏi “Khi đặt một câu hỏi mà muốn cho thấy mình tin rằng việc muốn hỏi là có thật
thì ta dùng hình thức phủ định nghi vấn: Anh không có làm việc ấy à?” [147,
tr.79-80)
Nguyễn Kim Thản (1996) cũng tiếp cận từ phương diện công năng yêu cầu
cung cấp TT và phạm vi quan sát về ảnh hưởng giữa người nói và người nghe “Câu
hỏi có mục đích thông báo cho người nghe, người đọc điều hoài nghi ở người nói,
Trang 12người viết và nói chung đòi người đối thoại trả lời.” [132, tr.62] và chia câu hỏi
thành bốn loại: câu hỏi toàn bộ, câu hỏi bộ phận, câu hỏi lựa chọn và câu hỏi rộng Ông đặc biệt chú ý đến các yếu tố hình thức tạo nên câu hỏi: tiểu từ tình thái, đại từ
nghi vấn, từ nối “hay” (“hay là”), cụm từ “phải chăng”, “phải không”, …và cũng
chú ý nhiều hơn đến mục đích khác hỏi của câu hỏi như: câu hỏi dùng để khẳng định, phủ định, ra lệnh và bày tỏ cảm xúc Theo ông, ngữ điệu là một tiêu chí nhận diện câu hỏi, chỉ cần nâng giọng cuối câu thì một câu tường thuật có thể trở thành câu hỏi
Diệp Quang Ban (1996) mặc dù luôn cho rằng việc nhận diện câu hỏi của
mình có sự kết hợp của hai tiêu chí hình thức và mục đích phát ngôn nhưng với những gì đã trình bày, ông vẫn cho thấy cách tiếp cận câu hỏi của ông chủ yếu là từ phương diện mục đích phát ngôn Bảng phân loại của ông khá chi tiết, không những cung cấp số lượng loại câu hỏi, diễn giải kỹ từng loại, mà còn bổ sung thêm
một số trường hợp biến dạng Ví dụ, ông cho rằng câu hỏi “có … không”, “có …
phải không”, “đã … chưa”, “xong (rồi, xong rồi )… chưa” là biến dạng của câu
hỏi “có … (hay) không”, “có phải … (hay) không”, “đã … (hay) chưa”, “xong
(rồi, xong rồi) … (hay) chưa” trong đó từ “hay” dễ dàng được khôi phục; câu hỏi
“… có không?”, “ …(có) phải không?”, “… chưa?”, “…không?” là biến dạng theo
cách dồn/ rút bớt hoặc vừa dồn vừa rút từ câu hỏi “ có … không” Ông cũng chú ý
đến giá trị khác hỏi của câu hỏi nhưng xem đây là câu hỏi giả và vì thế mục đích
mà câu hỏi này thực hiện cũng là mục đích giả
Cao Xuân Hạo (2006) theo quan điểm ngữ pháp chức năng, nhận diện câu
hỏi dựa vào tiêu chí có dấu hiệu riêng của tình thái hỏi “Đối với tiếng Việt, căn cứ
vào một số thuộc tính về cấu trúc ngữ pháp, có thể phân câu thành hai loại lớn: câu trần thuật và câu nghi vấn và căn cứ vào hình thức mà coi câu mệnh lệnh như một tiểu loại của câu trần thuật, khác với các tiểu loại khác về tình thái ” [61, tr.27]
Từ đó, dựa trên đích ngữ dụng của HV hỏi, ông chia câu hỏi thành hai loại lớn là câu hỏi chính danh (câu hỏi có lực ngôn trung trực tiếp) và câu hỏi phi chính danh (câu hỏi có lực ngôn trung gián tiếp) Mỗi loại như thế lại được chia thành các tiểu loại như câu hỏi chính danh bao gồm câu hỏi tổng quát, câu hỏi chuyên biệt (bộ phận) và câu hỏi hạn định; câu hỏi phi chính danh bao gồm câu hỏi có giá trị cầu
Trang 13khiến, câu hỏi có giá trị khẳng định, câu hỏi có giá trị phủ định, câu hỏi có giá trị phỏng đoán hay ngờ vực, ngần ngại, câu hỏi có giá trị cảm thán
Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu câu hỏi theo quan điểm ngữ pháp chức năng, dưới ánh sáng ngữ dụng học, đã mang đến một cái nhìn rất sâu sắc và tinh tế, đặc biệt là ở bình diện hành chức, cho câu hỏi tiếng Việt
Lê Đông (1985, 1991, 1994, 1996) đi sâu nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa,
ngữ dụng của câu hỏi chính danh từ quan điểm của lý thuyết cấu trúc thông báo Tác giả đã phát hiện ra trục ngữ nghĩa, ngữ dụng cơ bản của câu hỏi chính danh là
TT tiền giả định và cái chưa biết, cần biết Trên cơ sở này, tác giả cũng đã giải quyết thấu đáo vấn đề phân loại câu hỏi chính danh và các kiểu TT bổ trợ thường gặp
Nguyễn Thị Thìn (1994) cố gắng hệ thống hóa cấu trúc câu hỏi phi chính
danh Trong luận án của mình, tác giả trình bày mười một kiểu cấu trúc hỏi, ba
trong số đó là “NP – mà/ mà lại – VP/ không VP – à/ ư/ sao?”, “Chẳng lẽ/ Không
lẽ - à/ ư/ sao?”, “Dễ thường/ Dễ - à/ chắc/ hay sao” đã cho thấy sự phong phú
trong việc thực hiện đích ngữ dụng gián tiếp của câu hỏi tiếng Việt
Nguyễn Thị Lương (1995) có khuynh hướng nghiên cứu ý nghĩa của câu
hỏi khi tập trung miêu tả đặc điểm của các tiểu từ tình thái nghi vấn cuối câu Tuy
các tiểu từ này được miêu tả ở cả trạng thái tĩnh lẫn động nhưng chưa được xem xét
đầy đủ ở bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng
Nguyễn Đức Dân và Vũ Thị Thời (2007) từ hiệu lực ở lời gián tiếp chất
vấn bác bỏ của câu hỏi đã phát hiện ra nhiều hiệu lực ở lời gián tiếp khác như phủ
định, khẳng định, … và các biểu thức ngôn ngữ biểu đạt nó: “Có A đâu?”, “Có A
nào X?”, “X th ế nào được?”, “Có A gì X?”, “A làm gì?”, “Làm gì có A?”, “Chẳng
A là gì?”, “Có A ở đâu?”, “Có A là bao?”, “Có A là mấy?”, “A sao/ làm sao/ thế
nào được?”
Nguyễn Thị Thu Hương (2003) xuất phát từ một cấu trúc hỏi (cấu trúc “có
… không”) trên cơ sở so sánh với một kiểu câu hỏi của tiếng Anh (yes – no
question), đã tìm ra tất cả các hiệu lực tại lời của nó, ví dụ như Câu hỏi có giá trị
như một lời yêu cầu, đề nghị hoặc ra lệnh, câu hỏi có giá trị như một lời mời, câu hỏi diễn tả sự mong muốn được người khác giúp đỡ, câu hỏi nhằm có được sự đồng
Trang 14tình của người nghe, câu hỏi diễn đạt sự không đồng ý, câu hỏi có giá trị phủ định,
c âu hỏi có giá trị cảm thán, câu hỏi thể hiện sự nghi ngờ, câu hỏi thể hiện sự ngạc nhiên
Câu hỏi càng lúc càng được chú ý ở phương diện hành chức, Mai Thị Kiều Phượng (2007) chủ yếu nghiên cứu đặc điểm của HV hỏi được thực hiện bằng phát
ngôn hỏi trong một lĩnh vực nhất định của đời sống (mua bán) Từ đó, tác giả trình bày đặc điểm ba bình diện câu hỏi trên cả hai đích ngữ dụng chính danh và phi chính danh
Nghiên cứu câu hỏi nhưng Lê Anh Xuân (1999, 2000, 2001, 2006) không
khảo sát câu hỏi mà khảo sát câu trả lời Ví dụ, để trả lời cho câu hỏi chính danh, tác giả cho rằng người nói không nhất thiết phải sử dụng câu trần thuật hay câu cầu khiến mà có thể sử dụng nhiều loại câu khác nhau, trong đó có cả câu hỏi Trả lời bằng câu hỏi nhưng người nói hoàn toàn có thể thực hiện được các HV khác hỏi như khẳng định, phủ định, biện minh hay giải thích, … Dùng câu trả lời để khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi là một hướng nghiên cứu tuy không mới nhưng rất có ý nghĩa
Nhìn chung, công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học, trong một thời gian dài, về ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học của câu hỏi đã đạt được những thành tựu lớn Trong luận án này, chúng tôi xem những thành tựu đó như những tiền đề quan trọng, làm cơ sở để khảo sát đặc điểm câu hỏi tiếng Việt dưới một góc nhìn còn khá mới mẻ: lý thuyết TT
2.2 Lý thuyết TT
V.Mathesius (1929) có lẽ là người đầu tiên đề cập đến lý thuyết về phân đoạn thực tại câu (Funtional Sentence Perpective – FSP) và những đơn vị có chức năng chuyển tải TT của câu trong quá trình giao tiếp với sự phân định hai thành phần TT cái đã biết/ cái chưa biết (known/ unknown) ứng với cái cũ/ cái mới
(given/ new) J Firbas (1966) khi nói về “tỉ lực thông báo” (Communicative
Dynamism – CD) trong câu đã tóm tắt như sau “Các thành phần của câu nối tiếp
nhau theo thứ tự của tỉ lực thông báo mà mỗi thành phần đóng góp, bắt đầu từ mức thấp nhất và dần dần chuyển thành mức cao nhất” [173, tr.240)] Chính quan điểm
đồng nhất hai thành phần TT cũ và mới với hai thành phần trong cấu trúc nội dung
Trang 15mệnh đề của câu là đề và thuyết đã dẫn các nhà ngôn ngữ học trong trường phái
Prague này đến chỗ “lẫn lộn không những giữa cấu trúc đề - thuyết với cấu trúc
thông báo, mà cả giữa cấu trúc đề - thuyết với những hiện tượng tiêu điểm hóa (focalisati on) trên trục đối vị (cường điệu – emphase) và trên trục kết hợp (tương phản – contract)” [61, tr.79]
M.A.K.Halliday (1967, 1985, 1991) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
“cấu trúc thông tin” (information structure) trong một bài viết về hiện tượng ngôn
điệu trong lời nói năm 1967 Từ hai thành phần TT mà V Mathesius và các học trò
đã phân định trước đó, M.A.K.Halliday định danh thành TT cũ và TT mới, trong đó
TT mới là cái mà người nói giả định người nghe chưa biết và cần biết, còn TT cũ là cái giả định người nghe đã chia sẻ được từ người nói Sự phân bố thường gặp của hai thành phần TT này là cũ - mới Khắc phục nhược điểm của các tác giả lý thuyết phân đoạn thực tại câu, Halliday cho rằng không phải lúc nào trật tự hai thành phần TT cũ mới cũng trùng với trật tự đề - thuyết trong câu Một cái đề tương phản hoàn toàn có thể là một TT mới
S.Dik (1978) cho rằng sự phân chia TT trong câu không nhất thiết như một cấu trúc lưỡng phân mà chỉ như hai thành phần rời nhau và có thể không choán hết
cả câu Trong phần trình bày về đề (theme, topic), Dik có đề cập đến TĐ (focus) mà theo ông đó là bộ phận có chức năng dụng pháp thể hiện thành phần TT quan trọng nhất, nổi bật nhất trong câu
R.Dooley (1982), tương tự như S.Dik, khi phân tích cấu trúc câu của tiếng Guarani, cũng nêu rõ TĐ là hạt nhân dụng pháp mang thông báo quan trọng nhất của câu và có tác dụng cơ bản đến lực ngôn trung Chính cái lõi này sẽ cho biết cái
gì là trọng tâm thông báo của câu hỏi chính danh và thông tin nào là quan yếu trong câu trả lời tương hợp
N.Chomsky (1971) xác định hai thành phần TT cơ bản trong câu là TT cũ –
TT mới và thay thuật ngữ chủ đề - thuật đề ( theme – rheme), đề - thuyết ( topic – comment) thành thuật ngữ tiền giả định - TĐ Trong đó, TT tiền giả định tuy là TT không bắt buộc phải hiển ngôn trong câu, tức có thể tồn tại ngoài câu, nhưng luôn
là yếu tố đóng vai trò tiền đề trong việc xác định TĐ Cặp thuật ngữ này được rất nhiều nhà ngữ học như R.Jackendoff (1972), M.Rooth (1985), E.Vallduvi và
Trang 16R.Zacharski (1994), D.Buring (2005), S.Calhoun (2007), … sử dụng Về sau, M.Kriffka (1992, 2001, 2006) dùng cặp thuật ngữ khác thay thế là TT nền - TĐ (common ground – focus)
K.Lambrecht (1994) chia hết TT trong câu thành hai phần gọi là TGĐ ND
và XN ND tương ứng với TT cũ và TT mới, cái xác định và cái cần thông báo Dựa trên tiêu chí quy mô vùng tiêu điểm gắn với chức năng giao tiếp cụ thể, ông đề xuất
ba mô hình CTTT tương ứng với hai phạm vi rộng và hẹp Mỗi kiểu CTTT có cơ cấu TT TGĐ ND và TT XN ND riêng, trong đó TT XN ND có thể được giới hạn trong phạm vi một tham tố, nội dung sự tình mà hoặc trải dài trên phạm vi cả sự tình Quan điểm của Lambrecht được nhiều nhà ngữ học đồng tình và sử dụng trong các nghiên cứu của mình như D.Bolinger (1995), R.Van Valin (1997), E.V.Rodinova (2001), C.Breul (2004), … Mỗi tác giả có những bổ sung riêng, tuy nhiên, về cơ bản, họ tiếp nhận quan điểm của Lambrecht
Ngoài bình diện cú pháp, các nhà ngữ học còn khảo sát CTTT trên các bình
diện khác M Steedman (2002, 2003) tập trung khảo sát hoạt động của trọng âm
chỉ xuất TĐ TP thông qua hai lớp cấu trúc trong một đơn vị TT Theo ông, lớp ngoài cùng được biểu thị bằng ngữ điệu phân đoạn đề - thuyết có chức năng phân đoạn đơn vị thông tin, còn lớp bên trong là khu vực hoạt động của trọng âm cường điệu với chức năng đánh dấu TĐ TP Như vậy, bằng việc phân tích cấu trúc đơn vị
TT, Steedman đã nêu được vai trò của các đơn vị ngữ âm trong việc đóng gói và chuyển đích ngữ dụng của TT
Trong lĩnh vực nghiên cứu tiếng Việt, hầu như đến nay chưa có một công trình lớn nào bao quát được tất cả các vấn đề của CTTT Ngoài một số bài báo mang tính chuyên đề của các tác giả như Lý Toàn Thắng (1981), Nguyễn Hồng Cổn (2001, 2004, 2010), Trần Hữu Mạnh (2004), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2008, 2010), …, vấn đề này chỉ được trình bày một cách sơ lược dưới dạng một tiểu mục trong các sách nghiên cứu của tác giả Trần Ngọc Thêm (1985), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1991), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đỗ Hữu Châu (2001), Diệp Quang Ban (2005), …
Trang 173 M ục đích nghiên cứu
Việc thực hiện luận án này nhằm mục đích là vận dụng một lý thuyết còn
khá mới mẻ ở Việt Nam, lý thuyết CTTT, để giải quyết một số bình diện của câu hỏi
tiếng Việt
Nói cụ thể, nghiên cứu của chúng tôi trả lời những câu hỏi sau:
Trong câu hỏi tiếng Việt, các thành phần TT được thể hiện như thế nào, kể
cả câu hỏi chính danh và câu hỏi phi chính danh?
Các phương tiện ngôn ngữ, gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, đảm nhận vai trò gì trong việc đánh dấu TĐ câu hỏi tiếng Việt?
Câu hỏi thể hiện những TT gì trong giao tiếp và nó đảm nhiệm những chức năng gì trong tương tác HT?
Nhìn chung, trả lời các câu hỏi này, luận án cũng chỉ nhằm góp phần giải quyết những vấn đề rất chung của ngôn ngữ là:
Chúng ta làm gì khi chúng ta nói?
Chúng ta thật sự nói gì khi chúng ta nói?
Vì thế, theo chúng tôi, đề tài rất thiết thực và hướng giải quyết vấn đề cũng khả thi, chẳng những có ý nghĩa về mặt lý thuyết mà còn có giá trị về mặt thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên gọi đề tài, luận án chủ yếu tập trung giải quyết những vấn đề thuộc
đặc điểm của câu hỏi tiếng Việt dưới góc nhìn lý thuyết CTTT Đối tượng được
xác định là câu có hình thức hỏi trong bất kỳ ngữ cảnh nào của HT và phạm vi nghiên cứu là ba bình diện của câu hỏi, đặc biệt bình diện dụng học Từ đó, luận án
sẽ rút ra những điểm giống và khác nhau giữa hai cách sử dụng chính danh và phi chính danh, làm cơ sở cho việc khảo sát vai trò câu hỏi trong giao tiếp Để phục vụ cho việc xử lý TT của các nhân vật giao tiếp cũng như đảm bảo tính phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp, luận án sẽ trình bày thêm đặc điểm cấu trúc tương thích, xem đây như một yêu cầu quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ trong tương tác HT
Trang 185 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Luận án đề ra những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Đi tìm và lý giải, trên cơ sở phân tích, so sánh và tổng hợp, một cấu trúc câu
hỏi phù hợp với mọi hoàn cảnh giao tiếp mà ở đây chúng tôi tạm gọi đây là cấu trúc câu hỏi tương thích
Miêu tả hai thành phần TT cơ bản cũng như các kiểu thông tin của câu hỏi tiếng Việt trên cơ sở chấp nhận quan điểm ngôn ngữ học của K.Lambrecht (1994)
Việc trình bày đặc điểm câu hỏi tuy không tách bạch từng bình diện, song qua đặc điểm CTTT, chúng tôi hy vọng sẽ làm rõ đặc điểm của các bình diện Cách trình
bày này cũng có thuận lợi riêng, vì giải quyết được mối quan hệ rất mật thiết giữa
ba bình diện ở cấp độ câu, cụ thể là câu hỏi
Khảo sát mối quan hệ và các bước chuyển từ câu hỏi dùng để hỏi, sang câu hỏi không dùng để hỏi xét ở góc độ cấu trúc thông tin, xem tại sao một câu
như thế này là dùng để hỏi:
(1) a- Anh có mệt không?
Trong khi một câu khác cũng có cấu trúc như thế nhưng không dùng để hỏi:
b- Anh có rảnh không?
Và một câu cũng hoàn toàn là cấu trúc ấy song chỉ dùng để đe dọa:
c- Con có muốn ăn đòn không?
Hay như hai câu hỏi sau đây:
(2) a- Anh nói gì?
Và:
b- Anh nói gì mà kỳ vậy?
mà theo những trải nghiệm thông thường, các câu hỏi (1)a, (2)a dùng để hỏi, còn các câu (1)b, (2)b không dùng để hỏi
Trình bày vai trò của câu hỏi trong tương tác HT để thấy hết tầm quan
trọng trong giao tiếp của HV hỏi Nhân việc khảo sát đặc điểm của câu hỏi, chúng tôi cũng muốn góp một tiếng nói làm phong phú thêm bức tranh về tương tác HT
Trang 196 Ngu ồn tài liệu tham khảo và ngữ liệu
Để thực hiện luận án này, chúng tôi đã sử dụng một nguồn tài liệu và ngữ
liệu khá phong phú
Về tài liệu tham khảo:
- Đó là các công trình nghiên cứu trong nước được công bố dưới dạng báo hoặc sách, không chỉ về các vấn đề trình bày trong luận án mà còn về các vấn đề liên quan
- Đó là các công trình nghiên cứu nước ngoài, chủ yếu là các công trình mang tính lý thuyết cơ sở được dịch sang tiếng Việt
- Và cả các công trình nước ngoài chưa được dịch sang tiếng Việt, chủ yếu
là sách tham khảo tiếng Anh
Về ngữ liệu:
- Ngữ liệu trích lại của các tác giả đi trước
- Ngữ liệu sưu tập trong hội thoại hàng ngày
- Ngữ liệu sưu tập trên báo chí và một số tác phẩm văn chương
7 phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận, khảo sát, phân tích và lý giải đối tượng, luận án tuân theo những nguyên tắc và sử dụng những phương pháp vốn có hiệu lực trong khoa học nói chung cũng như trong ngành ngôn ngữ học nói riêng
Về nguyên tắc, trước hết, phải kể đến nguyên tắc bao quát tối đa về nguồn tài liệu, trong chừng mực có thể có được Chúng tôi cố gắng tìm đọc, càng nhiều
càng tốt, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ những công trình viết
về CTTT đến những công trình nghiên cứu về đặc điểm câu hỏi tiếng Việt
Sau nữa là nguyên tắc điều tra thực tế cách sử dụng câu hỏi tiếng Việt
trong giao tiếp
Hai công việc này tuy được tiến hành cùng một lúc nhưng độc lập nhau: việc bao quát tài liệu tham khảo cho cái nhìn bước đầu về đối tượng còn việc xử lý tư liệu giúp nắm rõ hơn những đặc điểm của đối tượng Trên cơ sở đó, luận án thống
kê, phân tích, lý giải và rút ra các đặc điểm phổ quát về câu hỏi
Trang 20Về phương pháp, vì đối tượng nghiên cứu là đơn vị tập hợp đủ ba bình diện của ngôn ngữ nên hệ phương pháp được lựa chọn một mặt phải đảm bảo các tiền đề
lý thuyết, mặt khác phải có giá trị thực hành
Có thể hình dung công việc nghiên cứu như sau: xuất phát từ những luận điểm cơ bản về CTTT theo quan điểm ngôn ngữ học của K Lambrecht (1994), trên
cơ sở xử lý tư liệu về cách sử dụng của câu hỏi trong thực tế, chúng tôi tiến hành khảo sát và sau đó miêu tả các thành phần TT trong câu hỏi, xem trong câu hỏi, kể
cả chính danh và phi chính danh, hai thành phần TT được thể hiện như thế nào, TĐ
NV có đặc điểm gì Tiếp theo, chúng tôi so sánh, đối chiếu để tìm ra những điểm giống và khác nhau cũng như các bước chuyển dưới góc độ CTTT của câu hỏi chính danh và câu hỏi phi chính danh Bên cạnh đó, chúng tôi còn phân tích các kiểu thông tin mà câu hỏi có thể thể hiện, vai trò của các phương tiện ngôn ngữ trong việc đánh dấu TĐ câu hỏi và vai trò của câu hỏi trong tương tác hội thoại Cuối cùng, tổng hợp những kết quả thu được, chúng tôi cố gắng rút ra một cái nhìn khái quát về đặc điểm của câu hỏi dưới góc độ lý thuyết TT Như vậy, ngoài một số thủ pháp mà bất cứ công trình nghiên cứu nào cũng phải sử dụng như sưu tập, xử lý
tư liệu, phân loại, thống kê, tổng hợp, cách tiếp cận của luận án dựa vào ba phương pháp chính:
Phương pháp miêu tả, phân tích ngữ cảnh
Vì chú ý đến bình diện hành chức của câu hỏi nên khi nghiên cứu, luận án không trừu xuất đối tượng ra khỏi hoàn cảnh giao tiếp, chẳng những thế, còn cố gắng miêu tả và phân tích cả ngữ cảnh hẹp lẫn ngữ cảnh rộng Đối với ngữ cảnh hẹp, luận án chú ý đến sự tương tác của các yếu tố ngôn ngữ; Đối với ngữ cảnh rộng, luận án chú ý đến sự chi phối của các yếu tố phi ngôn
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Khi khảo sát đặc điểm CTTT của câu hỏi chính danh và phi chính danh, luận
án tiến hành so sánh, đối chiếu để tìm những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng Đặc biệt, từ những điểm tương đồng và dị biệt ấy, luận án phát hiện ra mối quan hệ cũng như những bước chuyển từ cách sử dụng để thu nhận TT sang cách
sử dụng để truyền đạt TT của câu hỏi
Phương pháp hệ thống hóa
Trang 21Luận án tôi tiến hành phân loại, sắp xếp, lý giải mối quan hệ, … của đơn vị khảo sát làm cơ sở tổng hợp và khái quát những đặc điểm chung Trên cơ sở của đặc điểm chung, luận án hệ thống hóa thành những luận điểm cụ thể Đây cũng là căn cứ để luận án trình bày những nhận xét, kết luận của mình về đối tượng nghiên cứu
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận án chẳng những có ý nghĩa về mặt lý thuyết mà còn có giá trị về mặt thực tiễn
Về lý thuyết, luận án muốn góp phần làm rõ thêm một số đặc điểm của câu hỏi tiếng Việt dưới góc độ lý thuyết TT, cụ thể là các vấn đề sau:
Lấp đầy một số ô trống mà các công trình khác còn để lại Đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về đặc điểm câu hỏi tiếng Việt ở cả ba bình diện, đặc biệt là câu hỏi chính danh, tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề mà do nhiều nguyên nhân khác nhau, các công trình ấy không đề cập hoặc đề cập một cách không đầy đủ và
thiếu tính hệ thống, ví dụ như sự chuyển đổi của câu hỏi từ cách dùng để hỏi sang cách dùng không hỏi,
Sử dụng một lý thuyết còn khá mới mẻ, lý thuyết CTTT, thuộc ngành ngữ dụng học để xử lý một vấn đề không mới Lý thuyết CTTT tuy đã được quan tâm
nhưng hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu về câu hỏi tiếng Việt nào lấy lý thuyết này làm cơ sở và trình bày vấn đề một cách có hệ thống Sử dụng lý thuyết này luận án xem như là một cách đóng góp vào những vấn đề mang tính lý luận của ngôn ngữ học hiện nay
Từ việc nghiên cứu câu hỏi, chúng tôi cho rằng có thể mở rộng phạm vi sang
các loại câu khác Nhìn chung, khi thực hiện chức năng giao tiếp, ngôn ngữ được
hiện thực hóa thành những câu nói cụ thể và mỗi câu như thế được xem là một cách thức truyền đạt những nhận định mà nội dung là thông báo những sự thế của thế giới khách quan (hoặc có thật hoặc tưởng tượng) theo cách tri giác và tư duy của người nói Nói chung, cái cuối cùng người ta trao đổi và tác động vào nhau, qua ngôn ngữ, chính là TT Tổ chức một câu hay một diễn ngôn như thế nào đó, biểu hiện nghĩa ra sao, phản ánh sự tình gì, đặt trong ngữ cảnh giao tiếp nào, mục đích
Trang 22cuối cùng vẫn là phục vụ cho việc truyền đạt và tiếp nhận TT của các nhân vật giao tiếp
Về thực tiễn, những kết luận của luận án có thể vận dụng vào một số lĩnh vực hoạt động của tiếng Việt sau:
Vận dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt với tư cách là một ngoại ngữ, giúp
người nước ngoài hiểu hơn về sự phong phú và tinh tế của tiếng Việt
Vận dụng vào việc dạy tiếng Việt trong nhà trường phổ thông, giúp học sinh
giải quyết một số vấn đề thuộc phạm vi câu hỏi theo hướng xử lý TT, ví như xác định hai thành phần TT của câu hỏi chính danh và câu hỏi phi chính danh, giải thích tại sao có thể sử dụng một cấu trúc hỏi cho hai đích ngữ dụng khác nhau trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, … Từ câu hỏi, học sinh sẽ tìm hiểu sang các loại câu khác và các em có thể thấy được sự giàu đẹp của tiếng Việt để thêm yêu quý tiếng Việt
Góp thêm một tiếng nói có ý nghĩa vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Việt
9 Đóng góp của luận án
Luận án một mặt làm rõ đặc điểm của câu hỏi tiếng Việt dưới góc nhìn của
lý thuyết TT ở cả hai đích ngữ dụng thu nhận và truyền đạt TT, mặt khác, tìm hiểu mối quan hệ giữa câu hỏi được sử dụng chính danh với câu hỏi được sử dụng phi chính danh Đề tài của luận án không phải là đề tài mới nhưng chúng tôi hy vọng sẽ trình bày được một cách nhìn mới, xem câu hỏi tổ chức như thế nào, biểu hiện nội dung gì, được sử dụng ra sao trong cái trục ngữ nghĩa – ngữ dụng cơ bản là hai thành phần TT, TGĐ ND và XN ND, của nó Chúng tôi theo quan điểm của K.Lambrecht (1994), trên cơ sở tiếp cận từ bình diện hình thức, sẽ làm rõ mối quan
hệ giữa các thành phần TT và đích ngữ dụng của câu hỏi, từ đó khẳng định sự chi phối của CTTT đến sự lựa chọn thể hiện của các yếu tố ngôn ngữ và khẳng định sự tồn tại tự nhiên của CTTT ở mọi dạng biểu đạt trong ngôn ngữ
Trang 2310 B ố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm ba chương:
Chương 1 giới thiệu tổng quan về mối quan hệ của CTTT và câu hỏi tiếng Việt
Chương 2 trình bày đặc điểm CTTT của câu hỏi, kể cả câu hỏi chính danh
và câu hỏi phi chính danh, có chú ý đến các kiểu TT mà câu hỏi thể hiện
Chương 3 khảo sát vai trò của các phương tiện ngôn ngữ, bao gồm ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp, trong việc đánh dấu TĐ của câu hỏi tiếng Việt và vai trò của câu hỏi trong tương tác HT
Trang 24Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Ngữ pháp truyền thống tiếp cận câu hỏi từ phương diện mục đích phát ngôn
và tuy chưa hình dung một cách sáng rõ nhưng thực chất ít nhiều đã đụng chạm đến bình diện dụng học Các nhà nghiên cứu đã định nghĩa, phân loại, xác định hình thức câu theo cái mục đích đó Kết quả của việc làm này là câu hỏi được nhận diện như một phương tiện thực hiện công năng đặc trưng hỏi và yêu cầu được trả lời Đến khi quan sát câu hỏi trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, nhận thấy nó không chỉ
có cái công năng đặc trưng đó mà còn rất nhiều công năng khác, nhiều tác giả đã lúng túng và thêm vào một phần như ghi chú: câu hỏi nhưng không thực hiện mục đích hỏi (câu hỏi giả) Ngữ pháp chức năng và ngữ pháp chức năng hệ thống luôn
cố gắng đẩy mạnh việc nghiên cứu câu hỏi theo hướng ngữ nghĩa, ngữ dụng với các yếu tố như lực ngôn trung, tiền giả định, hàm ý, HT, lập luận, tính liên nhân, phép lịch sự, chiến lược giao tiếp, … Theo quan điểm của trường phái này, câu trả lời được xem là một trong những nhân tố quan trọng xác định nghĩa của câu hỏi: tất cả các câu trả lời có thể có được cho một câu hỏi chính là nghĩa của câu hỏi đó Ngôn ngữ học tri nhận tiếp cận câu hỏi ở bình diện ngữ nghĩa Câu hỏi được xem là một phương tiện thực hiện việc thu nhận tri thức, là cơ sở hình thành nên kinh nghiệm
và sau đó là các cách ý niệm hóa Để thực hiện HV hỏi, người bản ngữ tạo ra một
số khuôn mẫu lời nói nhất định Có thể xem câu hỏi như một phạm trù tri nhận gồm
có nhiều tiểu loại phạm trù khác nhau Mỗi phạm trù có một điển dạng và các hiện tượng mờ mà các hiện tượng mờ này rất dễ trở thành thành viên cho các phạm trù khác
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày những lý luận như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, lý thuyết CTTT và mối quan hệ giữa CTTT với câu hỏi, cấu trúc câu hỏi tương thích, … làm cơ sở cho việc triển khai nội dung khảo sát là đặc điểm câu hỏi tiếng Việt ở hai đích ngữ dụng thu nhận và truyền đạt TT dưới góc nhìn của lý thuyết TT Trong luận án, chúng tôi một mặt vẫn đặt đối tượng khảo sát của mình trong mối quan hệ với những thành tựu chung của ngôn ngữ học
Trang 25hiện đại nhưng mặt khác giải pháp cho đề tài luận án là theo định hướng của ngữ pháp chức năng
1.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ LỜI NÓI, GIỮA CÂU VÀ PHÁT NGÔN
Chúng tôi lấy việc giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa câu
và phát ngôn làm cơ sở lý thuyết chung là vì đối tượng nghiên cứu của đề tài vừa là câu (thuộc hệ thống, ngôn ngữ) vừa là phát ngôn (thuộc thành phẩm, lời nói) Hai yếu tố này, trong một thời gian dài (ở thời kỳ tiền ngữ pháp chức năng), được phân chia thứ bậc và ranh giới xác định trong ngôn ngữ học: ngôn ngữ là đối tượng chính, đối tượng duy nhất, đích thực; lời nói là bộ phận ngoại vi Phải đến khi ngữ pháp chức năng ra đời, cùng với nó là sự xuất hiện của khuynh hướng ngữ dụng học, thì mối quan hệ mang tính logic hệ thống- sản phẩm này mới được giải quyết
thỏa đáng, như Cao Xuân Hạo từng nói “Lời nói là sự hiện thực hóa ngôn ngữ, là
ngôn từ trong hoạt động thực sự của nó Trong toàn bộ những sách vở và những phát ngôn về ngôn ngữ không thể có lấy một nhận định nào, một ý kiến nào có liên quan đến ngôn ngữ mà không được rút ra từ một câu nói cụ thể” [61, tr.26] Cho
đến nay thì phần lớn các nghiên cứu về ngôn ngữ đều hướng vào lời nói, dùng thành tựu của lời nói để soi sáng đặc điểm ngôn ngữ
Theo J.Lyons (2006), việc phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói, mà sau đó là những ảnh hưởng sâu sắc đến ngành ngôn ngữ học, có lẽ bắt đầu từ tính nước đôi
về quy loại (categorially ambivalent) xét theo đặc trưng ngữ nghĩa quan yếu về số
tính (countability) của từ “language” trong tiếng Anh “Biểu thức chứa nó có thể
dùng để chỉ không phải là tập hợp các ngôn ngữ mà mỗi thành viên là (hoặc có thể miêu tả như là) một hệ thống của các từ và các quy tắc ngữ pháp, mà là để chỉ những sản phẩm (cái được sử dụng) ở dạng nói hay dạng viết của một tập hợp các
hệ thống cụ thể” [87, tr.36] Để làm giảm sự mơ hồ và lẫn lộn về tính lưỡng nghĩa
hệ thống – sản phẩm này, một số nhà ngôn ngữ học đã đặt ra các thuật ngữ để thay thế, F.d.Saussure (1916) với ngôn ngữ và lời nói, N.Chomsky (1965) với ngữ năng
và ngữ thi, J.Lyons (1977) với hệ thống và sản phẩm, v.v Dĩ nhiên, các thuật ngữ này không có sự trùng khớp hoàn toàn về nội hàm và ngoại diên
Trang 26F.d.Saussure nhấn mạnh tính xã hội của ngôn ngữ để không xem lời nói là đối tượng nghiên cứu (vì lời nói mang đậm tính cá nhân) Quan điểm của Saussure
về sau chịu nhiều chỉ trích của các nhà ngôn ngữ học, như J.L.Austin (1962) Với lý thuyết hành động ngôn từ, J.L.Austin chỉ rõ hoạt động ngôn từ thông qua những lời nói cụ thể chính là một hoạt động xã hội Lý thuyết của J.L.Austin được đánh giá là
“một lý thuyết về dụng học mang tính xã hội Lý thuyết này cho rằng nói là một họat động trong khuôn khổ những thiết chế và những quy ước xã hội đã được giả định và chấp nhận bởi các thành viên hay những người tham gia tương tác” [87,
tr.249] Như vậy, ngôn ngữ trong quá trình thực hiện chức năng quan trọng nhất mà cũng là lý do tồn tại của nó – giao tiếp – không chỉ chịu sự quy định của hệ thống cấu trúc nội tại mà còn chịu sự chi phối của các yếu tố thuộc môi trường tồn tại như đặc điểm nền văn hóa, chuẩn tắc xã hội, đặc tính tư duy dân tộc, các quy tắc giao tiếp, chiến lược giao tiếp, v.v
Trở lại mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, chúng tôi muốn nhấn mạnh quan điểm của J.Lyons (2006): ngôn ngữ thuộc hệ thống, mang tính tiềm tàng; lời
nói mang tính sản phẩm, hiện thực như ông từng nói “Sự phân biệt mang tính bản
chất ở đây là sự phân biệt giữa một hệ thống (gồm một bộ các quy tắc ngữ pháp và một vốn từ vựng) với cái sản phẩm (cái được sử dụng) của chính cái hệ thống đó”
[87, tr.38] Theo đó là sự phân biệt giữa câu và phát ngôn “Phát ngôn là dạng thức
phụ thuộc vào văn cảnh của câu cụ thể” [87, tr.53] Điều đó cũng có nghĩa là khi
nói đến câu là nói đến tính đúng ngữ pháp và tính độc lập của nghĩa ở mức độ cao đối với văn cảnh; còn nói đến phát ngôn là nói đến tính khả chấp (caculability), không trọn vẹn về mặt ngữ pháp và tính phụ thuộc của nghĩa vào văn cảnh, nghĩa của phát ngôn được xác định bởi chính cái ngữ cảnh chứa phát ngôn đó
Câu và phát ngôn còn khác nhau ở cách sử dụng Ở đây, chúng tôi muốn nói
về câu hỏi: câu hỏi thuộc vào loại được dùng theo lối đặc trưng (characteristic use)
để hỏi; phát ngôn hỏi, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp, bên cạnh dùng cho mục đích hỏi, còn được dùng cho những mục đích khác hỏi, tức dùng theo lối không đặc trưng (non-characteristic use) tạo nên hàm ý (implication) Đó là chưa kể, một cấu trúc ngữ pháp, trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, có thể được sử dụng
Trang 27theo những hàm ý khác nhau và được xử lý TT theo những cách khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ câu để gọi cả câu hỏi và phát ngôn hỏi
Việc nghiên cứu ngôn ngữ theo quan điểm động, xem hoạt động giao tiếp là một hoạt động xã hội có tính tương tác cao, đứng ở góc độ của người tạo lập văn bản, có tính đến yếu tố hoàn cảnh và năng lực của Sp2, đã giúp tác giả Mai Thị Kiều Phượng (2007) tìm ra một cấu trúc rất thỏa đáng cho phát ngôn: cấu trúc lựa chọn Cấu trúc này vốn có cơ sở từ những vấn đề lựa chọn ngôn từ sao cho đạt hiệu quả giao tiếp do các nhà ngôn ngữ học như L.Wittgenstein (1962), C.W.Morris (1938), K.Carnap (1942), J.Bar Hiller (1954), J.Austin (1962), R.Mongtague (1968), J Searle (1969), …xây dựng trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX, được xem là
lý thuyết nền tảng của ngữ dụng học Cấu trúc lựa chọn có thể hiểu là một sự lựa chọn mang tính chiến lược các yếu tố ngôn ngữ để tạo thành các tổ hợp phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất
“Thực chất và cái đích của cấu trúc lựa chọn là xác lập hiệu lực giao tiếp theo hướng hiển ngôn và hàm ngôn, lấy cấu trúc hiển ngôn làm hình thức cho cấu trúc hàm ngôn Đồng thời là sự chú ý mối quan hệ giữa phạm trù ngôn ngữ và phạm trù phi ngôn ngữ” [117, tr.25]
Tuy rất tâm đắc với cấu trúc lựa chọn nhưng chúng tôi lại đề cao tính phù hợp (compatibility) với hoàn cảnh giao tiếp của phát ngôn hơn – chúng tôi tạm gọi
là cấu trúc tương thích Lựa chọn có thể xem như một thao tác bắt buộc khi sử
dụng ngôn ngữ và cấu trúc lựa chọn là một cấu trúc hiển nhiên tồn tại trong ngôn ngữ vì hầu như nói bất cứ điều gì, Sp1 cũng đã trải qua thao tác lựa chọn Song đứng từ góc độ ngữ cảnh, cấu trúc ấy có tương thích với những yêu cầu của ngữ cảnh hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có năng lực ngữ dụng của những người tham gia giao tiếp
1.2.1 Vai trò c ủa ngữ cảnh trong việc xác định nghĩa của câu
Ngữ cảnh, bao gồm ngữ cảnh rộng (nền văn hóa, kiến thức khoa học, bức tranh thế giới, các chuẩn tắc xã hội, …) và ngữ cảnh hẹp (không gian và thời gian,
Trang 28tính chính thức, nghi thức hay không chính thức, nghi thức của cuộc thoại, …), là yếu tố phi ngôn nhưng giữ vai trò rất quan trọng đối với sự lựa chọn các cấu trúc ngôn ngữ Khác với ngữ cảnh, ngôn bản là một chuỗi câu tạo nên diễn ngôn và
chuỗi câu ấy “không phải đơn giản chỉ được xếp cạnh nhau trên chuỗi mà phải gắn
bó với nhau theo một cách thức thích hợp nào đó về ngữ cảnh Ngôn bản, với tư cách là một thể toàn vẹn cần thể hiện các đặc trưng có liên quan, song có thể phân biệt được với nhau căn cứ vào tính liên kết và tính mạch lạc” [87, tr.274] Để tạo
nghĩa và xác định nghĩa cho phát ngôn “ngôn bản và ngữ cảnh bổ sung cho nhau,
cái này tiền giả định cái kia Ngôn bản là thành tố của cái ngữ cảnh mà nó được sản sinh ra, còn ngữ cảnh được tạo ra liên tục biến cải và thay đổi diện mạo nhờ vào những ngôn bản mà Sp1 nói/ viết trong những tình huống cụ thể.” [87, tr.275]
Về vai trò của ngữ cảnh và ngôn cảnh đối với việc xác định nghĩa của phát ngôn, cũng theo J.Lyons (2006), ngữ cảnh quy định nghĩa của phát ngôn ở ba mức
độ phân biệt:
- Cho biết câu nào được nói ra
- Làm rõ mệnh đề được thể hiện (nếu có một mệnh đề được thể hiện)
- Cho biết rõ mệnh đề đang xét ấy thể hiện lực ngôn trung cụ thể nào Như vậy, chính ngữ cảnh đã mang đến cho phát ngôn một lượng không nhỏ
TT và cũng chỉ có ngữ cảnh mới cho biết được hiện dạng (tokens) nào là tương thích còn hiện dạng nào là không tương thích Thực tế cho thấy, việc mã hóa và giải mã TT, đặc biệt đối với những CTTT mang tính đa tầng, nếu không đạt được
sự thống nhất thì chủ yếu là do các nhân vật giao tiếp không chia sẻ được với nhau
TT nền từ ngữ cảnh và ngôn cảnh
T.Givón (1989) cũng cho rằng ngữ cảnh quyết định hai yếu tố nghĩa và tính hữu dụng của câu Tạo lập và truyền đạt câu là để cung cấp hoặc tiếp nhận một nội dung mới (nhận thức, hành động, tình cảm) song cần lưu ý rằng, lượng TT mới thêm vào tính theo tỉ lệ TT trong mệnh đề là rất nhỏ còn lượng TT liên quan làm nền giúp ta hiểu được TT mới là rất lớn Những TT nền này do ngữ cảnh rộng và hẹp quy định, phần lớn trong số chúng nằm trong bức tranh chung về thế giới của
chúng ta
Trang 291.2.2 Khái ni ệm cấu trúc tương thích
Có thể hiểu cấu trúc tương thích là kết quả của quá trình lựa chọn và cấu trúc hóa các yếu tố ngôn ngữ, xác lập hiệu lực giao tiếp dựa trên mối quan hệ suy ý của TT hiển ngôn và hàm ngôn, phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp và phù hợp với năng lực ngữ dụng của người tiếp nhận, phục vụ cho những chiến lược giao tiếp nhất định
Mối quan hệ logic của cấu trúc tương thích và ngữ cảnh là mối quan hệ mang tính điều kiện – kết quả Ngữ cảnh giữ vai trò quyết định cho sự hình thành
và sử dụng của cấu trúc tương thích, ngược lại, một cấu trúc chỉ được xem là tương thích khi phù hợp và hữu dụng với ngữ cảnh và nhân vật giao tiếp Vì thế, một cấu trúc có thể tương thích với ngữ cảnh và đối tượng này nhưng không tương thích với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp khác, đồng thời, một ngữ cảnh chỉ có thể chấp nhận một số lượng cấu trúc tương thích hữu hạn
1.2 3 Đặc điểm của cấu trúc tương thích
1.2.3 1 Tính phù hợp
Tính phù hợp là đặc điểm quan trọng nhất của cấu trúc tương thích, bao gồm phù hợp với yêu cầu ngữ cảnh, ngôn bản và Sp2 Đối với ngữ cảnh, đó là sự phù hợp với đặc điểm nền văn hóa, đặc tính tư duy dân tộc, các chuẩn mực đạo đức
xã hội, kiến thức nền và hiện thực đang được phản ánh trong diễn ngôn Đối với ngôn bản, đó là sự liên kết và mạch lạc với các phát ngôn đứng trước, là điều kiện hình thành các phát ngôn đứng sau, trở thành một lập luận phục vụ một chiến lược giao tiếp nhất định Đối với Sp2, đó là sự phù hợp với năng lực tiếp nhận và tính quan yếu của TT được truyền đạt Tóm lại, một phát ngôn được xem là tương thích (không phân biệt phát ngôn đó phải được hiểu theo nghĩa hiển ngôn hay hàm ngôn)
là một phát ngôn đáp ứng các yêu cầu sau:
- Phù hợp với bức tranh chung về thế giới của các nhân vật tham gia giao tiếp
- Phù hợp với tính liên kết và mạch lạc của ngôn bản
Trang 30- Phù hợp với vai giao tiếp, có tính đến đặc điểm tâm lý, trạng thái tình cảm, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống, năng lực tiếp nhận, đặc tính vùng miền của đối tác giao tiếp
- Là một lập luận trong chiến lược giao tiếp (đối với những cuộc giao tiếp có chiến lược) cùng hướng đến một mục đích giao tiếp nhất định
- Thể hiện được tính liên nhân và tính lịch sự
- Truyền tải được nội dung giao tiếp
Cấu trúc tương thích chẳng những chứa đựng được TT cần truyền đạt mà quan trọng hơn là còn đảm bảo cho TT ấy được truyền đạt một cách có hiệu quả nhất Mức độ tương thích với ngữ cảnh giao tiếp và đối tượng tiếp nhận của cấu trúc ngôn ngữ có thể xem như chỉ tố đánh giá năng lực ngữ dụng của người tạo lập ngôn bản Năng lực ngữ dụng của người tạo lập càng cao thì tính tương thích ngữ cảnh của phát ngôn càng cao và càng đảm bảo hiệu quả của hoạt động giao tiếp Tuy nhiên, đạt độ tương thích hoàn toàn đến mức độ lý tưởng thì khó, còn tương thích ở mức độ chấp nhận được thì hầu như người bản ngữ nào cũng thực hiện được Từ nhỏ họ đã được học và làm quen các cấu trúc phù hợp với những hoàn cảnh nhất định Thói quen tạo nên tính khuôn mẫu ấy là điều kiện để họ nhận ra những cấu trúc không phù hợp Việc sử dụng những cấu trúc không phù hợp dễ làm cho Sp1 bị đánh giá thấp về trình độ, tính cách, lối sống, …từ đó là những ảnh hưởng không nhỏ cho không khí của cuộc thoại Ví dụ những phát ngôn sau đây có những yêu cầu rất khắt khe về mặt ngữ cảnh giao tiếp:
(3) a- Bộ ăn thịt hoài không thấy chán hả?
b- Đi mua hay đi dọ giá vậy cô?
Nếu không cố tình xúc phạm Sp2 thì chắc chắn Sp1 không bao giờ sử dụng những câu như thế Như ta đã biết, điều kiện tiên quyết đảm bảo cho một cuộc giao tiếp đạt hiệu quả mong muốn là sự tôn trọng thể diện của đối tượng giao tiếp
1.2.3 2 Tính khuôn mẫu và tính sáng tạo
Ngôn ngữ vừa có những yêu cầu chung mang tính quy tắc mà cộng đồng sử dụng ngôn ngữ phải tuân theo để đảm bảo cho việc sử dụng ngôn ngữ diễn ra bình thường, vừa chấp nhận những sự sáng tạo mang dấu ấn cá nhân, thể hiện năng lực
và tính cách riêng của nhân vật giao tiếp Như vậy, có thể hiểu, tính khuôn mẫu và
Trang 31tính sáng tạo là tính hợp chuẩn và tính chệch chuẩn Đây cũng là một tiêu chí để phân biệt ngôn ngữ và lời nói – một hệ thống mang tính chuẩn mực và một sản phẩm mang tính sáng tạo
Tính sáng t ạo
Bên cạnh tính khuôn mẫu, cấu trúc tương thích còn có tính sáng tạo Việc xác lập hiệu lực giao tiếp theo hướng hiển ngôn và hàm ngôn trên cơ sở phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và khả năng của đối tượng tiếp nhận là một trong những lý
do để người tạo lập văn bản phá vỡ khuôn mẫu có sẵn, tạo nên những cấu trúc đa tầng TT, trong đó có những TT mà nếu không có sự chia sẻ về những điều kiện ngữ cảnh thì Sp2 sẽ không xử lý được Ví dụ, để yêu cầu đóng cửa, người Việt có thể linh hoạt sử dụng các phát ngôn sau:
a- Đóng cửa lại!
b- Làm ơn đóng cửa lại!
(4) c- Anh đóng cái cửa hộ tôi với!
d- Anh có thể đóng cửa lại không?
e- Anh đóng cửa lại được không?
g- Không thấy là cửa đang mở à?
h- Hôm nay sao mà nhiều gió quá?
i- Gió thế này không nấu cơm được đâu
k- Để cửa thế này người ta hay nhòm vào lắm đấy
Nếu câu cầu khiến (4)a, b, c cho phép Sp1 trực tiếp nêu ra yêu cầu để Sp2 phải thực hiện việc đóng cửa thì câu tường thuật (4)h, i, k chỉ là một gợi ý bóng gió
xa xôi Vì là gợi ý bóng gió xa xôi nên Sp2 có thể làm ngơ và Sp1 cũng có thể chối cãi điều mình mong muốn Cái hiển thị trên bề mặt ngôn ngữ ít hơn nhiều so với
Trang 32cái được chuyển tải từ những yếu tố hiển thị đó cộng thêm một phép suy diễn trên
cơ sở của sự liên tưởng Riêng các phát ngôn hỏi (4)d, e, g chủ yếu biểu thị thắc mắc của người hỏi, thắc mắc về những điều nên làm nhưng chưa được làm Câu (4)d có thể xem như một yêu cầu đóng cửa Câu (4)g mang tính gợi ý và cũng có thể có giá trị như một lời khuyên hoặc nhắc nhở Câu (4)h nằm ở ranh giới của câu hỏi và câu cảm Chỉ một lời than phiền của Sp1 cũng đủ thông báo cho Sp2 biết Sp1 muốn gì và Sp2 phải làm gì Câu này cũng gần với câu tường thuật (4)h, i, k ở cách nói bóng gió xa xôi
Hoặc chỉ sử dụng một câu nhưng Sp1có thể truyền đạt được nhiều TT khác nhau, phục vụ cho những đích ngữ dụng khác nhau:
(5) Hôm qua đám cưới cô Dung có đông không?
- Hỏi để biết đám cưới cô Dung có đông không
- Hỏi để báo tin cô Dung đã cưới
- Hỏi để thăm dò xem cô Dung có mời Sp2 đi dự đám cưới không
- Hỏi để biết Sp2 có đi đám cưới cô Dung không
- Hỏi để trách Sp2 không đi đám cưới cô Dung mà dám đi khoe với mọi người đám cưới cô Dung đông lắm
Ngữ cảnh giao tiếp sẽ giúp Sp2 hiểu được hàm ý của Sp1 và hồi đáp đúng vào cái hàm ý đó bằng những cấu trúc tương thích:
(a) Đông lắm Em chưa thấy đám cưới nào đông như vậy
(b) Cũng không đông lắm, khoảng 20 bàn
(c) Thấy cũng không đông vì nghe nói cô ấy đã làm trước ở dưới quê
(d) Hôm qua bận đi đám cưới đứa cháu nên em chỉ gửi quà mừng cho cô ấy thôi
(e) Em không đi nên cũng không biết
(g) Bận quá nên em không đi được
(h) Ủa, đám cưới cô Dung à?
(i) Cô ấy không mời em
(k) Cô Dung cưới rồi à?
(l) Cô Dung nào vậy?
(m) Em đâu có quen cô nào tên Dung
Trang 33(n) Anh không đi đám cưới đó à?
(o) Sao anh không đi đám cưới cô Dung?
(p ) Xin lỗi anh, tại hôm qua mọi người hỏi quá, cũng ngại nên em mới nói vậy
(q) Em nói vậy chứ em đâu có biết Cô ấy đâu có mời em
1.2.3.3 Tính dự đoán
Năng lực ngôn giao tồn tại một cách tiềm tàng trong thế giới tinh thần của người bản ngữ Chỉ cần một vài chỉ dẫn của ngữ cảnh giao tiếp, dựa trên tính tương thích của phát ngôn, Sp2 đã có thể xử lý được TT mà Sp1 muốn truyền đạt, đồng thời cũng dự đoán được những gì sẽ xảy ra kế tiếp Tính dự đoán này chẳng những giúp các nhân vật giao tiếp chuẩn bị một phát ngôn tương thích mà còn chủ động hướng cuộc thoại hoặc điều chỉnh cuộc thoại theo ý muốn của mình để đạt được mục đích giao tiếp Ví dụ, một đoạn thoại mời thường có bố cục như sau mà nếu nắm được các nhân vật giao tiếp sẽ dễ dàng tạo ra được các cấu trúc tương thích:
- Sp1 mời (có thể diễn đạt hàm ẩn bằng cách nêu một câu hỏi)
- Sp2 chấp nhận (tích cực) hoặc từ chối (tiêu cực)
Ví dụ:
(6) - Bố thấy đàn ông thời nay thế nào?
- Giống như máy ATM vậy?
- Sao lại thế?
Trang 34- Vì đến kỳ lương là bị rút một cách không thương tiếc chỉ với một câu mật khẩu “Ông đưa lương tháng này đây để tôi còn lo mọi chuyện”
[Truyện cười, st từ Internet]
1.2.4 M ột số hệ quả của việc sử dụng cấu trúc tương thích
Yêu cầu sử dụng cấu trúc tương thích trong giao tiếp ngôn ngữ, mà theo đó
là tính khuôn mẫu và sáng tạo, tính dự đoán, tính phù hợp….là một yêu cầu mang tính bắt buộc Vẫn TT đó, mục đích đó, nhưng ở ngữ cảnh này, Sp1 có thể nói theo cách này, còn ở ngữ cảnh khác, Sp1 phải nói theo cách khác Hoạt động giao tiếp chẳng những đảm bảo được diễn ra theo cơ chế cái được truyền đạt bao giờ cũng nhiều hơn cái truyền đạt mà còn cho phép Sp2 dự đoán được diễn biến của HT để
có thể chuẩn bị cho một cấu trúc tương thích tiếp theo “nếu không có bất kỳ dấu
hiệu ngữ cảnh nào để hiểu trái ngược thì điều đang nói đến trong bất kỳ một ngôn bản nào đó sẽ được giả định là quan yếu (relevant) đến những gì vừa được nói đến trong những đơn vị ngôn bản đi trước” [87, tr.138] Hai hệ quả mà ta thường thấy
rõ nhất trong việc sử dụng cấu trúc tương thích là:
Thứ nhất, một bề mặt ngôn ngữ có thể hiển thị nhiều nghĩa hàm ẩn khác
nhau mà sự xác định nó cần căn cứ vào tham thoại ở trước Với hai cuộc thoại:
(7) a- Mày đi đâu vậy?
- Đi uống cà phê
- Sắp thi rồi mà đi uống gì mậy?
b- Đi uống cà phê không?
- Sắp thi rồi mà đi uống gì mậy?
Ở (7)a, HV hỏi có giá trị nhắc nhở: sắp đến thi rồi không nên chơi nữa; Ở (7)b, HV hỏi có giá trị từ chối: không thể đi được vì phải học thi
Thứ hai, một cấu trúc hỏi thể hiện 2, 3 HV hàm ẩn, trong đó HV này có thể
là điều kiện hình thành của HV kia, như chất vấn để phủ định, để khẳng định, bác
Trang 35Các HV chất vấn để bác bỏ bao giờ cũng kèm theo thái độ thách thức: hãy chỉ ra nguyên nhân, người, thời gian, địa điểm diễn ra sự việc mà anh đang nói đến, bởi vì người hỏi tin rằng những điều đó là vô lý hoặc không có trong thực tế
1.3.1 Lý thuy ết hành động ngôn từ
Khi xét ngôn ngữ với tư cách là công cụ phục vụ đắc lực cho họat động giao tiếp, các nhà ngôn ngữ học (như J.L.Austin, F.Armengaud, Vendler, A.Wiezbicka, K.Bach và R.M.Harnish, …) xem mỗi lời nói là một HV - HV ngôn ngữ - để Sp1
tác động vào Sp2 Ví như một câu nói “Anh ấy về chưa chị?” vừa là hành động hỏi, yêu cầu cung cấp TT về cái đối tượng “anh ấy” vốn có quan hệ mật thiết với
“chị” đối với nội dung sự tình “về chưa” tính đến thời điểm nói, vừa thể hiện một
sự quan tâm, đồng cảm, chia sẻ và mong muốn được giúp đỡ, … Số lượng các HV ngôn ngữ, vì thế, rất lớn, lớn đến nỗi không thể nào lập thành danh sách được Với
5 nhóm HV ngôn ngữ của J.L.Austin (1962): nhóm trình bày (expositive) gồm một
số hành động như: trình bày, kể lại, phân biệt, hỏi, trả lời, biện luận, giải thích, khẳng định, mách, kết luận, cho biết, định nghĩa, miêu tả, minh họa, …; nhóm phán định (verdictive) gồm: phán xử, bênh vực, đánh giá, tính toán, xác nhận, phân tích, chẩn đoán, …; nhóm hành chức (exercitive) gồm: chỉ định, thải hồi, đề bạt, khai trừ, thăng chức, ra lệnh, chỉ thị, biện hộ, khích lệ, thanh minh, thúc giục, nhượng, yêu cầu, khuyên can, …; nhóm ước kết (commissive) gồm: hoãn, hứa, hẹn, báo trước, đồng ý, …; nhóm ứng xử (behabitive) gồm: cám ơn, chia buồn, than phiền, chê bai, trách móc, hoan nghênh, … J.R.Searle (1969, 1975) cho rằng vì không theo một tiêu chí nhất định nào cả nên sự phân loại đó giẫm đạp lên nhau Để khắc phục tình trạng trên, J.R.Searle đưa ra 4 tiêu chí:
1- Đích ở lời 2- Hướng khớp ghép 3- Trạng thái tâm lý 4- Nội dung mệnh đề
Trang 36Kết quả, ông cũng chia HV ngôn ngữ thành 5 nhóm, nhưng 5 nhóm của ông hoàn toàn khác với 5 nhóm của J.L.Austin: tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm,
tuyên bố Và “hỏi” được xếp vào nhóm HV điều khiển, thay vì nhóm trình bày như
J.L.Austin
Vendler (1972) bổ sung vào bảng phân chia của J.L.Austin 2 nhóm nữa, đó
là thao tác và nghi vấn A.Wiezbicka (1987) chia HV ngôn ngữ làm 37 nhóm, trong
đó “hỏi” được xác lập thành một nhóm riêng Cũng như A.Wiezbicka, Vendler,
D.Wunderlich (1991) cho rằng không nên xếp hành động “hỏi” vào một nhóm nào
vì bản thân hành động này đã đủ tư cách để xác lập thành một nhóm riêng Có thể xem “hỏi” là hành động nguyên khởi để xếp vào đó những hành động thứ phát như
chất vấn, nghi ngờ, ….Trong tương tác HT (conversational interaction), HV ngôn ngữ được hiện thực hóa thành những HV cụ thể, K.Bach và R.M.Harnish (1984) chia 6 nhóm HV ngôn ngữ thành hai loại HV lớn: HV ở lời gián tiếp (indirect illocutionary force) - HV có tính chất liên cá nhân với đặc trưng tiêu biểu là hướng vào cá nhân và phân biệt với nhau bởi các kiểu ý định ở lời khác nhau - và HV ở lời trực tiếp (direct illocutionary force)
Khi đề cập đến tính đa trị của HV ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ trên hay dẫn
chứng HV hỏi vì HV này có thể vừa dùng để hỏi, vừa dùng để phủ định, để chất vấn hay khẳng định, … Vốn là một HV mang tính xã hội, “hỏi” có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong tương tác HT ở cả nội dung TT lẫn nội dung liên nhân
1.3.2 Nhân t ố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp có khá nhiều, như nhân vật, ngữ cảnh, mục đích giao tiếp, chuỗi HV ngôn ngữ, đường kênh - hình thức giao tiếp, chuẩn mực tương tác, cách thức tương tác,… nhưng ở đây chúng tôi chỉ trình bày hai nhân tố là nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn
1.3.2.1 Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp được xác định là những người tham gia vào HT, trực tiếp tương tác lẫn nhau bằng các HV ngôn ngữ và cùng hướng đến một mục đích giao tiếp nhất định Như vậy, nhân vật giao tiếp chỉ có Sp1 và Sp2, không có Sp3 (người được nói đến)
Trang 37Căn cứ vào tiêu chí số lượng nhân vật giao tiếp, người ta chia HT ra làm ba loại: song thoại (1 Sp1 và 1 Sp2), đa thoại (một/nhiều Sp1 và một/nhiều Sp2), độc thoại (Sp1 cũng đồng thời là Sp2) Song, dù là loại nào thì nhân vật giao tiếp cũng hình thành hai tuyến, Sp1 và Sp2, ngay cả trường hợp độc thoại, Sp1 cũng phải tự phân thân thành hai nhân vật giao tiếp
a- Nói đến nhân vật giao tiếp không thể không nói đến quan hệ vai và tính liên nhân Về hình thức, vai giao tiếp được chia thành hai loại trên cơ sở của mối quan hệ nghe – nói Có những cuộc thoại mối quan hệ này chỉ diễn ra một chiều, tức là một người chỉ đảm nhận một vai trò nhất định, nhưng thông thường mối quan
hệ này mang tính đa chiều, hai (hoặc hơn) nhân vật giao tiếp liên tục thay đổi vai cho nhau, lúc thì họ là Sp1 lúc thì họ là Sp2 Về thực chất, có thể xem cuộc đời như một cái sân khấu mà ở đó mọi người được mặc định hoặc tự sắm cho mình một vai nào đó và phải cư xử sao cho phù hợp với vai đó Vai giao tiếp gắn liền với đặc điểm tính cách, trạng thái, năng lực của mỗi người, chi phối việc lựa chọn các yếu
tố ngôn ngữ và quy định thái độ của người đó.Vai giao tiếp được xác lập một cách
rõ ràng trong thế giới tinh thần của Sp2 “Trong một cuộc giao tiếp, người tham gia
này phải xây dựng hình ảnh tinh thần về các đặc điểm , trạng thái, năng lực của người kia theo đích giao tiếp của mình để rồi căn cứ vào cái hình ảnh tinh thần đó
mà định ra các chiến lược hay kế họach giao tiếp” [19, tr.16] và “Niềm tin mà người tham gia giao tiếp phải có trong giao tiếp bao gồm cả niềm tin vào tính phù hợp của cái hình ảnh tinh thần mà mình đã xây dựng nên với đối phương mình”
[19, tr.16]
b- Tính liên nhân và phép lịch sự
Trong giao tiếp, Sp1 không chỉ xây dựng hình ảnh tinh thần về Sp2 mà còn phải lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ để xây dựng hoặc thay đổi hình ảnh tinh thần mong muốn của chính bản thân mình trong suy nghĩ của Sp2, trên cơ sở phù hợp
với đặc điểm nền văn hóa và những quy ước của xã hội Cái “quan hệ so sánh xét
trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau”
[19, tr.17] đã biến hoạt động giao tiếp trở thành một hoạt động tương tác thật sự Quan hệ liên nhân được hình thành trên hai trục, trục của vị thế xã hội hay còn gọi
là trục quyền uy (power) và trục quan hệ khoảng cách hay còn gọi là trục thân cận
Trang 38(solidarity) Trục quyền uy, trục do quyền chức, tuổi tác, nghề nghiệp tạo nên, có quan hệ ngang bằng hoặc cao thấp, là trục cố định, vì một khi đã xác định đúng thì
sẽ được giữ nguyên trong suốt quá trình giao tiếp Ngược lại, trục thân cận, được hình thành theo quan hệ thể hiện trên thang độ từ xa lạ đến gần gũi, thân mật, là trục thay đổi liên tục trong suốt cuộc giao tiếp
Tính liên nhân là một yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với kết quả của họat động giao tiếp, nghĩa là giao tiếp đạt được đích hay không tùy thuộc khá nhiều vào việc giải quyết mối quan hệ này Trước hết xin được đơn cử hai biểu hiện sau:
Thứ nhất, thái độ Sp2 tác động mạnh đến thái độ Sp1, và ảnh hưởng trực tiếp đến hướng vận động HT Với một Sp2 thờ ơ, tỏ ra không hưởng ứng điều Sp1 nói như nhìn chỗ khác, cười với người khác, bắt bẻ một cách vô lý, … chắc chắn Sp1 sẽ không có hứng thú để nói tiếp, cuộc thoại vì thế phải chuyển hướng hoặc dừng lại Cuộc thoại chỉ đi đến đích khi Sp2 có thái độ hợp tác, có ý thức tiếp thu những điều Sp1 nói Sự hợp tác ấy vừa được thể hiện bằng các yếu tố ngôn ngữ như
“ừ”, “vậy hả?”, “sao vậy?”, “sao nữa?”, “vậy sao?”, “tiếp đi!”, …vừa bằng các
yếu tố phi ngôn ngữ như mắt nhìn tập trung, thái độ chăm chú, tình cảm biểu hiện phù hợp với nội dung đang tiếp nhận, …
Thứ hai, sau khi đã xác định được mối quan hệ liên nhân với Sp2, Sp1 phải chọn một cách nói sao cho phù hợp với tính cách, trình độ, năng lực của Sp2 Sự tôn vinh hay xúc phạm thể diện đều ảnh hưởng đến kết quả giao tiếp Một khi nhận thấy Sp1 không giải quyết thỏa đáng mối quan hệ liên nhân với mình, Sp2 sẽ không hợp tác và cuộc thoại phải dừng lại, khoảng cách của hai nhân vật vì thế cũng bị đẩy xa ra
Liên quan đến tính liên nhân, người ta hay nói đến thể diện (face) các nhân vật giao tiếp mà cách thức để tôn vinh thể diện đó chính là phép lịch sự Phép lịch
sự là một yếu tố thuộc địa hạt liên nhân trong hoạt động giao tiếp “Chúng có chức
năng giữ gìn tính cách hài hòa quan hệ đó (ở mức thấp nhất là giải tỏa những xung đột tiềm tàng, tốt hơn nữa là làm cho người này trở nên dễ chịu đối với người kia)”
(C.K.Orechioni, 1994)
1.3.2.2 Hiện thực ngoài diễn ngôn
Trang 39Hiện thực ngoài diễn ngôn là những sự kiện thuộc bức tranh thế giới Bức tranh ấy, nếu là chung giữa các nhân vật giao tiếp thì được gọi là bức tranh chung
về thế giới, làm điều kiện cho sự vận động và phát triển HT; nếu là riêng thì là vốn văn hóa và khối tri thức nền tạo nên trình độ, năng lực, … của các nhân vật giao tiếp Các nhân vật giao tiếp chỉ có thể giao tiếp được với nhau khi có chung một lượng tiền giả định bách khoa nào đó Cũng có thể nói ngược lại, mục đích của sự
giao tiếp là tác động để làm thay đổi, đến một mức nào đó, lượng tiền giả định bách khoa của các nhân vật giao tiếp
Hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận: hiện thực - đề tài của diễn ngôn; hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh rộng), thoại trường (ngữ cảnh hẹp) và ngữ huống giao tiếp (các yếu tố tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm cụ thể của cuộc giao tiếp)
Đề tài của diễn ngôn tuy rất đa dạng, từ một mảng của hiện thực của thế giới khách quan như một cảm xúc, một tư tưởng, một tình cảm, một nguyện vọng, một
sự kiện, một cảnh vật, … cho đến bản thân ngôn ngữ nhưng chỉ được chấp nhận khi đặt trong thế giới khả hữu và lấy thế giới đó làm hệ quy chiếu để thuyết giải nghĩa diễn ngôn
1.3.3 Ch ức năng giao tiếp, các thành tố nội dung và đích của diễn ngôn
1.3.3.1 Các chức năng giao tiếp
Giao tiếp thực hiện 5 chức năng tương ứng với ba đích tương tác: TT, tạo
lập quan hệ, biểu hiện, giải trí và hành động Phần lớn những điều ta nói với nhau
hằng ngày ngoài việc TT một điều gì đó còn là để bày tỏ những đặc điểm cá nhân như sở thích, ưu điểm, nhược điểm, quan điểm, lý tưởng, nguồn gốc địa phương,… làm cơ sở cho việc tạo lập hoặc thay đổi quan hệ Trong đó không thể nói sự thay đổi khoảng cách trên trục tình cảm không ảnh hưởng đến mối quan hệ trên trục quyền uy, vì người Việt xưa nay sống vốn trọng tình cảm, … Ngoài ra, giao tiếp còn giúp Sp1 giải tỏa các bức xúc, căng thẳng trong cuộc sống và thúc đẩy nhau hành động : không chỉ Sp2 hành động mà cả Sp1 cũng hành động
1.3.3.2 Thành tố nội dung
Diễn ngôn gồm có hai nội dung là nội dung TT có chức năng chính là tái hiện hiện thực thế giới, và nội dung liên nhân có vai trò thiết lập mối quan hệ của
Trang 40các nhân vật giao tiếp Nếu như nội dung thứ nhất bị quy định bởi tính đúng sai logic thì nội dung thứ hai hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào tính tình thái của diễn ngôn
1.3.3.3 Mục đích giao tiếp
Giao tiếp có ba đích tác động: đích thuyết phục, đích truyền cảm và đích
hành động Các đích này được thực hiện bằng hai phương thức trực tiếp và gián
Khái niệm HT: “HT là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ,
nó cũng là hình thức cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác.” [5, tr.201]
Vận động HT: HT vận động thông qua sự trao lời và sự trao đáp theo những quy tắc
nhất định để tương tác lẫn nhau của các nhân vật giao tiếp
- Sự trao lời – sự trao đáp: Nói đến sự trao lời - sự trao đáp phải nói đến khái niệm lượt lời và cặp kế cận Mỗi một lần trao lời là một lượt lời, mỗi lần đáp lại là một lượt lời Hai lượt lời tương phối nhau như hỏi – đáp, chào – chào, yêu cầu – chấp nhận, yêu cầu – từ chối, cảm ơn – cảm ơn, … tạo nên một cặp trao đáp Có trao, có đáp thì mới có HT Mỗi một đơn vị trao lời đều ngầm ẩn một câu hỏi đặt ra cho người đáp, như hỏi ý kiến về độ tin cậy, về tính hấp dẫn, về tầm quan trọng của
TT trong tham thoại, … và mỗi câu đáp cũng một cách hiển ngôn hoặc ngầm ẩn trả lời câu hỏi đó
- Sự tương tác (interaction): I Goffman cho rằng “Tương tác có nghĩa là tác
động qua lại mà những người trong cuộc gây ra đến hành động của nhau khi họ đối mặt với nhau Giữa các nhân vật tương tác có sự liên hòa phối (inter – syn – chronisation) có nghĩa là có sự tự hòa phối của từng nhân vật” Sự hòa phối giữa
các nhân vật chủ yếu được bảo đảm qua các tín hiệu sau đây: