1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

156 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 2,04 MB
File đính kèm Luan an 01.3.2016.rar (599 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm phát triển du lịch bền vững, khai thác đúng thế mạnhcủa tài nguyên du lịch tự nhiên, sinh thái, nhân văn, bảo vệ môi trường, mang lạilợi ích thiết thực cho dân cư bản địa đặc biệt l

Trang 1

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Du lịch sinh thái là một trong những loại hình du lịch đã và đang phát triểnmạnh mẽ ở Việt Nam Nhằm phát triển du lịch bền vững, khai thác đúng thế mạnhcủa tài nguyên du lịch (tự nhiên, sinh thái, nhân văn), bảo vệ môi trường, mang lạilợi ích thiết thực cho dân cư bản địa (đặc biệt là đồng bào các dân tộc), du lịch sinhthái đã và đang được phát triển với một cơ sở định hướng mới đó là du lịch sinh tháidựa vào cộng đồng (DLSTDVCĐ)

Theo Pirojnik l.l1, một trong những chuyên gia địa lý du lịch hàng đầu thế

giới, “Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt” Theo nguồn gốc phát

sinh có hai loại tài nguyên du lịch là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên dulịch văn hóa Khi nói về tài nguyên du lịch sinh thái hay DLSTDVCĐ người tathường liệt kê các yếu tố của tự nhiên như địa hình, khí hậu, nước và động thực vật.Trên thực tế sự phân bố, phân hóa và biến động của các yếu tố này tuân theo cácquy luật địa lý chung mà nhà địa lý nổi tiếng Liên Xô Kalescnik đã trình bày trong

“Những quy luật địa lý chung của Trái đất” 2 Ngay cả sự phân bố các quần cư, cáccộng đồng dân cư cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của các quy luật này

Để có cơ sở cho việc đề xuất định hướng, giải pháp khai thác một cách cóhiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên môi trường phục vụ phát triển kinh tế -

xã hội nói chung, phục vụ phát triển du lịch nói riêng, rất cần nắm vững quy luậtphân bố, phân hóa và biến động của các nguyên liệu tự nhiên cũng như văn hóa xãhội Điều này lý giải về sự cần thiết phải nghiên cứu cơ sở địa lý học trong pháttriển du lịch, trong đó có DLST

Vùng Đông Bắc Việt Nam vừa có tài nguyên du lịch phong phú, vừa có vănhóa đa sắc tộc, tuy nhiên đời sống của đồng bào các khu vực nông thôn, miền núi

của Đông Bắc còn nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó vậy, việc nghiên cứu “Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” là hoàn toàn

cần thiết nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển của vùng, của các địa phương trongvùng và là cơ sở khoa học giúp các địa phương định hướng phát triển du lịch bềnvững

1 Pirojnik l.l (1986), Địa lý du lịch và dịch vụ tham quan, NXB Minsk Trần Đức Thanh

dịch, Thư viện Khoa Du lịch học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, ĐHQuốc Gia Hà Nội

2 Kalescnik, Những quy luật địa lý chung của Trái đất, Đào Trọng Năng dịch ra tiếng Việt,

NXB Khoa học và Kỹ thuật, phát hành 1973

Trang 2

2 Mục tiêu của luận án

- Xác lập được hệ thống lý luận: cơ sở địa lý học phục vụ phát triển Du lịchsinh thái dựa vào cộng đồng

- Rút ra được bài học và gợi mở mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng từthực tế hoạt động du lịch và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở hai địa bàn nghiên cứutrường hợp

- Đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vàocộng đồng tại khu vực nghiên cứu Kết quả của đề tài là cơ sở để các cơ quan, đơn

vị tham khảo nhằm xây dựng nền tảng kinh tế - xã hội bền vững, góp phần xóa đóigiảm nghèo, nâng cao dân trí và bảo vệ môi trường

3 Nhiệm vụ của luận án

Để làm sáng tỏ mục tiêu của luận án, 6 nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:

1 Tổng quan các công trình, các hướng nghiên cứu về du lịch sinh thái và dulịch sinh thái dựa vào cộng đồng; về đánh giá tổng hợp lãnh thổ phục vụ phát triểnkinh tế xã hội; Tổ chức lãnh thổ và Phát triển bền vững

2 Thu thập và phân tích số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu trước đó tạikhu vực nghiên cứu Khảo sát thực địa, điều tra xã hội học và sử dụng phương phápchuyên gia nhằm thu thập thông tin sơ cấp về những nguồn lực cơ bản nhằm pháttriển du lịch tại vùng Đông Bắc Việt Nam

3 Phân tích, đánh giá và làm rõ các nguồn lực (tự nhiên, kinh tế - xã hội vàchính trị) phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng nóiriêng tại vùng du lịch Đông Bắc trong bối cảnh phát triển kinh tế của vùng và cảnước

4 Thành lập bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên phục vụ phát triển du lịch sinhthái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc Việt Nam

5 Phân tích, đánh giá và so sánh việc khai thác các nguồn lực phát triển dulịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại hai điểm nghiên cứu lựa chọn là khu vực VQG

Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

6 Đề xuất định hướng và giải pháp khai thác hiệu quả các nguồn lực pháttriển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại vùng du lịch Đông Bắc Việt Nam nhằmmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của vùng, góp phần xoá đói giảmnghèo; nâng cao dân trí và cải thiện môi trường…

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Khu vực nghiên cứu được giới hạn trong lãnh thổ

vùng Đông Bắc Việt Nam Về mặt tự nhiên, vùng Đông Bắc có giới hạn từ chân núiHoàng Liên Sơn đến hết vùng biển đảo Quảng Ninh Tuy nhiên, do đề tài liên quan

Trang 3

đến các vấn đề về kinh tế xã hội nên phạm vi của vùng sẽ được lấy theo ranh giớihành chính Như vậy, Đông Bắc là vùng bao gồm 11 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, HàGiang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, BắcGiang, Quảng Ninh

+ Luận án sử dụng cơ sở tài liệu, số liệu kinh tế xã hội và du lịch cập nhật tới năm

2015

+ Định hướng việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực nhằm phát triển du lịchsinh thái dựa vào cộng đồng để phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc Việt Nam đếnnăm 2030

5 Những luận điểm bảo vệ

- Luận điểm 1: Sự phong phú, đa dạng của điều kiện tự nhiên, tài nguyên

thiên nhiên và những đặc điểm văn hóa xã hội cũng như năng lực của cộng đồng làđiều kiện quan trọng để phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở Đông BắcViệt Nam

Trang 4

- Luận điểm 2: Sự phân bố, phân hóa của tài nguyên du lịch sinh thái tự

nhiên trên bản đồ phân vùng du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng được xây dựngtheo các tiêu chí đánh giá các nguồn lực tự nhiên và năng lực cộng đồng sẽ là căn

cứ quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái dựa vàocộng đồng ở Đông Bắc Việt Nam

6 Những điểm mới của luận án

1 Làm rõ được cơ sở địa lý học trong việc phát triển du lịch sinh thái dựavào cộng đồng ở vùng Đông Bắc Việt Nam Đó là cơ sở địa lý về phân hóa của điềukiện tự nhiên, tài nguyên du lịch tự nhiên, các hệ sinh thái đặc thù (HST tự nhiên cótính đa dạng sinh học cao và HST nhân sinh - sinh thái nông nghiệp và các HSTnhân văn có tính bản địa cao); Phân tích lượng giá về sức hấp dẫn của tài nguyênDLSTDVCĐ và Phân tích làm rõ về khả năng cung ứng dịch vụ DL cho phát triểnDLSTDVCĐ

2 Đánh giá khách quan tiềm năng tổng hợp của các nhân tố trên cho pháttriển DLSTDVCĐ theo các tiểu vùng (trên cơ sở phân vùng địa lý, xác định trọng

số đánh giá bằng ma trận tam giác)

3 Đề xuất định hướng phát triển DLSTDVCĐ trên cơ sở kết quả đánh giá cóphân tích so sánh với quan hệ phát triển du lịch vùng

7 Cơ sở tài liệu của luận án

Luận án được thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu cơ bản sau:

- Tài liệu thực địa liên quan đến đề tài được thu thập từ 2010 đến 2014

- Tài liệu, số liệu thống kê, báo cáo du lịch của Sở Văn hóa Thể thao và Dulịch các tỉnh vùng Đông Bắc; Niên gián thống kê các tỉnh Đông Bắc năm2015.Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu, quy hoạch du lịch Việt Namđến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030

- Kết quả điều tra xã hội học trong khuôn khổ luận án

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dungchính của luận án gồm 4 chương:

Chương 1 Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồngChương 2.Đánh giá tổng hợp các nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vàocộng đồng Đông Bắc Việt Nam

Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồngĐông Bắc Việt Nam

Chương 4 Định hướng và mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồngVườn quốc gia Ba Bể và huyện đảo Vân Đồn

Trang 5

Chương 1 CƠ SỞ ĐỊA LÝ HỌC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan đến luận án

1.1.1 Trên thế giới

1.1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về DLST và DLSTDVCĐ

Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ─ một hình thức rất cụ thể của du lịchsinh thái ─ đã đi về phía trước như một công cụ có giá trị cho xóa đói giảm nghèo,bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ du lịch có trách nhiệm và bềnvững Chính vì vậy khi nghiên cứu về DLSTDVCĐ cần phải lấy hoạt động DLSTlàm cốt lõi

Thuật ngữ “DLST” được Hector Ceballos - Lascurain (1996) chính thức đưa

ra vào năm 1987 ngay lập tức đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp: Du lịch sinh

thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và thế giới động vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám

phá trong những khu vực này” Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế (TIES) ba

năm sau đó (1990) bước đầu khẳng định vị thế của DLST với tư cách là một hệthống lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững trong du lịch

Song, cơ sở lý luận về DLST và DLSTDVCĐ được tổng hợp từ các công trìnhcủa các tác giả nước ngoài như: Blangy S and Mehta H (2006), James Higham (ed)(2007); Boo E (1990); Ceballos-Lascurain Hector (1996); Drumm,A.(1998);Goodwin, H (1996); Hawkins Donal E (1994); Lindberg Kleg and Hawkins Donald E(1993); Carter E (1993); Jones, S (2002); Tinelle D Bustam and Taylor Stein (2013);

Ludwig Ellenberg (2006); Sproule.K (1996); Scheyvens,R.(1999); Stephan W and

John N., (2000) Các công trình này đã đưa ra các khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc vàđiều kiện hình thành và phát triển DLST, DLSTDVCĐ

Đây là những công trình khoa học bổ ích cho việc vận dụng vào nghiên cứu

về phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

1.1.1.2 Những nghiên cứu về đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên

để phục vụ mục đích phát triển du lịch

Cho đến nay, đã có nhiều công trình đánh giá điều kiện tự nhiên và tàinguyên thiên nhiên cho PTDL với nhiều hướng tiếp cận đánh giá: đánh giá thíchnghi sinh thái, đánh giá ảnh hưởng môi trường, đánh giá kinh tế Trong đó, hướngđánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan là hướng được sử dụng nhiều

Thập kỉ 60 và 70, ở Nga và các nước Đông Âu đã có nhiều công trình nghiêncứu, đánh giá TNDL Công trình tiêu biểu của I.A Vedenhin và N.N Misônhitrencô

Trang 6

đã đánh giá toàn bộ các tiêu chí tự nhiên làm tiền đề cho việc tổ chức các vùng dulịch:

Theo Nguyễn Cao Huần (2005), L.I.Mukhina (1973), trong công trình đánh giáphục vụ du lịch vùng hồ Xelighe đã sử dụng đơn vị cơ sở là “đất đai nghỉ ngơi”- hệthống tự nhiên trên đất liền hay dưới nước thuận lợi cho một dạng hay nhóm dạng nghỉngơi nào đó Việc xác định những yếu tố tự nhiên như tính chất trầm tích, yếu tố địahình (độ cao, dốc, tần suất khúc ngoặt ), kiểu đất, thực vật (kiểu thực bì, độ cao cây

cỏ, độ chiếu tán, loài cây đang tái sinh ) làm cơ sở phân hóa không gian của lãnh thổvùng hồ cho các dạng nghỉ ngơi

Còn theo Đặng Duy Lợi (1992), E.E.Phêrôrốp là người đã đề xuất phương phápđánh giá khí hậu tổng hợp và đã được các tác giả Subukốp, I.X.Kanđôrốp, D.N.Đêmina hoàn thiện Phương pháp này dựa trên cơ sở phân loại thời tiết trong sinh khíhậu, qua đó xây dựng tổ hợp các kiểu thời tiết đặc trưng trong ngày với các mức độkhác nhau đến sức khỏe con người cũng như đến các hoạt động du lịch Đây là côngtrình nghiên cứu về sinh khí hậu con người có giá trị sử dụng của các nhà khí hậu trênthế giới; A.G.Ixatsenko (1985), căn cứ vào sự đa dạng của môi trường, mức độ thíchhợp của các điều kiện khí hậu, môi trường địa lý, điều kiện vệ sinh và các thuộc tính tựnhiên khác đặc trưng để xác định mức độ thích hợp cho mỗi loại hình du lịch đồng thờiđánh giá ảnh hưởng của ĐKTN và TNTN đến các công trình du lịch; I.I.Pirôjnhic(1985) đã tiến hành đánh giá tổng hợp thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch nhưTNDL, cấu trúc các luồng khách và cơ sở vật chất phục vụ du lịch theo các vùng và cácđới DL Công trình này đã đề cập rất nhiều đến hoạt động khai thác lãnh thổ du lịch-không gian du lịch; B.N.Likhainốp Z(1973) xác định tài nguyên phục vụ việc nghỉngơi, giải trí là một dạng đặc biệt của TNDL, việc nghiên cứu chúng là một nhiệm vụquan trọng của địa lý giải trí; Một số tác giả phương Tây như P.David, H.Robinson đãtiến hành đánh giá và sử dụng TNTN phục vụ mục đích giải trí Nhà địa lý Ce Cápar đãxác định TNDL là một thành hệ quan trọng trong hệ thống lãnh thổ du lịch cần phảiđược quan tâm nghiên cứu; Bôniface và Cooper (1993) đều cho rằng nghiên cứu vàđánh giá TNDL là bước căn bản trong quy hoạch PTDL

1.1.2 Tại Việt Nam

1.1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về DLST và DLSTDVCĐ

Giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nghiên cứu về DLST mới xuất hiện trên cácbài báo và tạp chí khoa học Đến cuối những năm 1990, DLST đã bước đầu gâyđược chú ý ở cấp độ quốc gia với sự tham gia của Tổng cục Du lịch Việt Nam cùngnhiều tổ chức quốc tế tại Việt Nam như UNDP, UN-ESCAP, WWF, IUCN Việc tổ

chức những hội thảo xoay quanh các vấn đề phát triển DLST như Hội thảo về DLST

Trang 7

với phát triển du lịch bền vững (DLBV) ở Việt Nam (1998); Hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST ở Việt Nam” (8-1999), Hội thảo khoa học:

“Phát triển du lịch sinh thái trong khu dự trữ sinh quyển: cơ hội và thách thức”

(2004) là những dấu hiệu bước đầu cho thấy sự quan tâm rộng rãi hơn của giớihọc giả Qua đó, hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã phần nào được định hình

Hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã được các tổ chức và các học giả đưa ranhư: Lê Văn Lanh (1998), Hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ViệtNam (2001); Phạm Trung Lương (2002), Lê Huy Bá (2009) Hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất khái niệm về DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường và đóng góp cho các

nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương

Về cơ sở thực tiễn, năm 2004, dựa trên sự hợp tác của Cục Kiểm Lâm, BộNông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tổ chức phát triển bền vững

Fundeso và Cơ quan hợp tác quốc tế Tây Ban Nha đã xuất bản cuốn “Cẩm nang

quản lý phát triển du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn Việt Nam” Cuốn sách này

được coi là nền tảng cho công tác quản lý, tổ chức DLST và DLSTDVCĐ tại ViệtNam

Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác đã và đang được hình thành xoay quanhvấn đề nhận thức và áp dụng thực tiễn DLST ở Việt Nam như: Đặng Duy Lợi(1992), Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (1998)Nguyễn Thị Sơn (2000), PhạmTrung Lương (2002), Hoàng Hoa Quân, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Lanh,

Đỗ Quốc Thông (2002), Nguyễn Quyết Thắng (2005), Nguyễn Thị Hải (2007), LêHuy Bá (2008), Nguyễn Xuân Hoà (2009), Trần Đức Thanh.(2003, 2009), Đỗ TrọngDũng (2011), Trần Đức Thanh và cộng sự (2014) Hầu hết những công trình nàyđều đưa ra những định hướng phát triển DLST theo hướng phát triển bền vững chokhu vực nghiên cứu mà chưa nghiên cứu thấu đáo các nguồn lực bên trong để giúpcác địa phương/khu vực nhận diện những thế mạnh trong phát triển DLST và hướngtới phát triển bền vững khu vực

1.1.2.2 Những nghiên cứu về đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên để phục vụ phát triển du lịch

Ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về TNDL Đánh giáĐKTN và TNTN phục vụ mục đích du lịch (nhất là phục vụ quy hoạch PTDL) được

đề cập đến khá nhiều Trên phạm vi toàn quốc đã có một số công trình tiêu biểu

trong lĩnh vực này được Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch thực hiện như: “Quy

hoạch tổng thể PTDL Việt Nam đến năm 2010”, “Quy hoạch tổng thể PTDL tổng

Trang 8

thể Đồng bằng Sông Cửu Long”, “Quy hoạch tổng thể PTDL vùng du lịch Bắc Bộ” (2000), “Quy hoạch tổng thể vùng Bắc Trung Bộ” (2002), “Quy hoạch tổng thể PTDL vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ” (2002) và đặc biệt là “Quy hoạch tổng thể PTDL Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030.

Trong công trình “Tài nguyên môi trường du lịch Việt Nam”của Phạm

Trung Lương (2000) đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn trong đánhgiá TNDL; khả năng ứng dụng của GIS trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch,

sử dụng GIS trong đánh giá tài nguyên theo phương pháp phân tích không gian

Còn trong công trình “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”củaVũ Tuấn

Cảnh, Đặng Duy Lợi, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1991) đã xác định nội dungđánh giá dựa vào tính chất của TNDL như tính nguyên vẹn, tính hấp dẫn, tính dunglượng, tính ổn định của môi trường tự nhiên

Trong lĩnh vực nghiên cứu chung về điều kiện PTDL, giáo trình “Địa lý

du lịch” của Nguyễn Minh Tuệ và nhiều người khác (1996) đã hệ thống hóa những

khái niệm cơ bản về du lịch, tài nguyên du lịch và bước đầu định hướng khai tháctiềm năng du lịch một số tiểu vùng du lịch Việt Nam Bùi Thị Hải Yến, Phạm

Hồng Long (2007), trong giáo trình “Tài nguyên du lịch”, “Quy hoạch du lịch” đã

đề cập đến đánh giá TNDL, tuy việc đánh giá còn sơ lược

Trong đề tài “Cơ sở khoa học của PTDL sinh thái Việt Nam” và hội thảo

“DLST với phát triển bền vững ở Việt Nam” (1998), hoặc công trình “Đặc trưng của

hệ sinh thái, cơ sở của PTDL sinh thái Việt Nam” Phạm Trung Lương, Nguyễn Tài

Cung đã tập hợp nhiều báo cáo, tham luận và một số nghiên cứu đánh giá về tiềmnăng DLST ở Việt Nam Những đề tài này đều tập trung đánh giá tiềm năng TNDLtheo từng thành phần hoặc tổng hợp trên phạm vi cả nước nhằm phục vụ công tác quyhoạch, tổ chức lãnh thổ và phân vùng du lịch Phạm vi đánh giá thường ở bản đồ tỉ lệnhỏ nên kết quả đánh giá chỉ dừng ở mức độ định tính, khái quát

Theo Phạm Trung Lương (2007) trong đề tài “Cơ sở khoa học để phát

triển các sản phẩm thể thao mạo hiểm vùng núi phía Bắc” đã đánh giá địa hình

cho du lịch Các tiêu chí về đặc điểm hình thái, trắc lượng hình thái của dạng địahình, độ dốc, hang động được xem xét, phân cấp cho một số LHDL

Còn theo Nguyễn Khanh Vân, Đặng Kim Nhung (1994) đã xây dựng tổnghợp thời tiết chính trong ngày dựa trên các tiêu chí: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, hiệntượng sương mù đưa ra chỉ tiêu trong điều kiện thời tiết đối với nghỉ dưỡng

Nguyễn Thị Sơn (2000) trong luận án “Cơ sở khoa học cho việc định

hướng phát triển DLST VQG Cúc Phương” đã đánh giá mức độ DDSH của VQG

Cúc Phương, Ninh Bình cho DLST, đã xác định một số tuyến tham quan trongrừng đến một số đối tượng sinh vật đặc hữu, quý hiếm

Trang 9

Các công trình “Cơ sở khoa học của việc xác định các tuyến, điểm du

lịch Nghệ An” của Nguyễn Thế Chinh (1995), “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng”, Nguyễn Thanh Sơn (1997), công trình “Đánh giá TNTN tỉnh Thừa Thiên - Huế phục vụ du lịch, Lê Văn Tín (1999), công trình “Cơ sở khoa học của việc tổ chức không gian du lịch dải ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam –

Đà Nẵng, Nguyễn Tưởng (1999) đã tiến hành đánh giá mức độ thuận lợi các điều

kiện và tài nguyên trong khu vực cho việc PTDL bằng phương pháp đánh giá tổnghợp hoặc cho điềm theo phương pháp trung bình cộng của các điểm thành phần

Đánh giá ĐKTN, TNTN cho PTDL trên phạm vi hẹp (tỉnh, huyện) mớichỉ được tiến hành chủ yếu ở các đề tài luận án tiến sĩ, Đặng Duy Lợi (1992), với

công trình “Đánh giá và khai thác các ĐKTN và TNTN huyện Ba Vì (Hà Tây)

phục vụ mục đích du lịch” đã đề cập đánh giá tổng hợp ĐKTN cho PTDL trên cơ

sở các chỉ tiêu định tính và bước đầu định lượng, qua đó xác định mức độ thuận lợicho PTDL và bước đầu đề xuất hướng khai thác tài nguyên cho một số LHDL nhưtham quan, nghỉ dưỡng cuối tuần

Nguyễn Hữu Xuân (1999), trong luận văn “Bước đầu đánh giá TNTN tự

nhiên huyện Lạc Dương, Lâm Đồng phục vụ phát triển một số LHDL”, cũng đã đề

cập đến việc đánh giá tổng hợp ĐKTN và TNTN cho PTDL ở mức LHDL

1.1.3 Các nghiên cứu trên lãnh thổ vùng Đông Bắc

Vùng Đông Bắc Việt Nam có tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng và cósức hấp dẫn không những với du khách trong nước mà còn cả với khách du lịchquốc tế Nơi đây có khả năng đón nhận số lượng lớn khách du lịch với nhiều loạihình khác nhau Song, những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên củaĐông Bắc chưa được nhận diện và khai thác có hiệu quả; môi trường ở các vùngnúi, vùng biển đang bị xuống cấp, tài nguyên thiên nhiên đang bị phá hoại nghiêmtrọng Để đạt được những mục tiêu phát triển của vùng trong tổng thể kinh tế-xã hộicủa cả nước, đảm bảo hài hoà giữa phát triển nhanh, hiệu quả và lâu bền, xoá đóigiảm nghèo; nâng cao dân trí và thể lực của nhân dân và cải thiện môi trường…Chính vì vậy, thời gian qua đã có một số công trình của một số nhà nghiên cứunhằm giúp cho vùng Đông Bắc Việt Nam phát huy thế mạnh sẵn có của mình nhằm

phát triển theo hướng bền vững: Phạm Chí Cường (2011): “Nghiên cứu xác lập cơ

sở khoa học và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo vệ môi trường khu vực lãnh thổ vùng núi Đông Bắc Việt Nam”; Đỗ Thị Vân Hương

(2014), Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên sinh khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam cho

phát triển một số cây trồng nông, lâm nghiệp có giá trị kinh tế, Luận án Tiến sĩ;

Trần Viết Khanh (2011), Đánh giá một số nguồn lực tự nhiên phục vụ phát triển

Trang 10

kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc Việ Phạm Trung Lương (2007), Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm TTMH vùng núi phía Bắc, Đề tài NCKH cấp ngành, Tổng

cục Du lịch Việt Nam; Lê Đức Tố và nnk (2005), Đề tài khoa học thuộc Chương

trình biển cấp Nhà nước KC – 09: “Luận chứng khoa học về một mô hình phát triển

kinh tế sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam”

Hầu hết các công trình kể trên đều với các mục đích, nội dung nghiên cứulàm rõ tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng khai thác, sử dụng tàinguyên vùng nghiên cứu và trên cơ sở đó đề xuất được các định hướng phát triểnkinh tế - xã hội trên cơ sở các kết quả đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tàinguyên, kinh tế - xã hội của vùng, đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hộibền vững, bảo vệ môi trường và qua đó đưa ra luận cứ khoa học, các biện pháp, giảipháp phòng tránh, giảm thiểu tai biến tự nhiên, môi trường phù hợp nhằm góp phầnphát triển bền vững vùng Đông Bắc Việt Nam

* Những nghiên cứu về Du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tại VQG Ba Bể (Bắc Kạn) và huyện đảo Vân Đồn (Quảng Ninh)

i) Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể

VQG Ba Bể là khu vực có sự tập trung đa dạng sinh học và các giá trị vănhóa bản địa của cộng đồng các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Mông, Dao - đây lànhững nguồn lực có thể phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nóichung Thời gian qua đã có nhiều tổ chức đã đưa ra những nghiên cứu về tiềm năngphát triển DLST cũng như cách thức bảo vệ tài nguyên và phát triển bền vững cho

khu vực như: Báo cáo tổng hợp quy hoạch chung khu du lịch sinh thái hồ Ba Bề

-Bắc Kạn (2003), Viện nghiên cứu và phát triển du lịch; Báo cáo tổng hợp xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái hồ Ba Bể và các vùng tiềm năng tỉnh Bắc Kạn (2011) của Trung tâm nghiên cứu và Tư vấn phát triển; Phân hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên- Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam (2001), Các vườn quốc gia Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội; Cục kiểm lâm, Bộ

Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, (2002), Chiến lược tài chính bền vững VQG Ba

Bể, tỉnh Bắc Kạn, Nghiên cứu tài chính dự án PARC, Hà Nội

Trong dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong Phát triển Nông lâm

nghiệp tỉnh Bắc Kạn (3PAD), tỉnh Bắc Kạn năm 2012, Cẩm nang du lich sinh thái

cộng đồng, Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD): Làm nổi bật tính nguyên

vẹn và đặc trưng của Hồ Ba Bể, quan tâm đến yếu tố môi trường, điều phối các dự

án khác về du lịch trong khu vực và nâng cao năng lực cho cộng đồng địa phươngtrong phát triển DLST

Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu về VQG Ba Bể hiện mớidừng lại ở mức độ nhận diện tiềm năng phát triển DLST nói chung chứ chưa đưa ra

Trang 11

được những mô hình DLST hay DLSTDVCĐ nhằm giúp cho cộng đồng địaphương tại khu vực có thể triển khai các hoạt động phát triển DL một cách hiệu quảnhất.

ii) Đối với huyện đảo Vân Đồn – Quảng Ninh

Huyện đảo Vân Đồn hiện đang được Nhà nước và tỉnh Quảng Ninh quyhoạch và định hướng phát triển thành 1 trong 4 trung tâm du lịch hiện đại tại QuảngNinh Để phát huy giá trị các nguồn lực nhằm phát triển du lịch nói riêng và kinh tế

- xã hội nói chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về khu vực này Cụ thể:

Đề tài khoa học cấp nhà nước: “Luận chứng khoa học kỹ thuật xây dựng và

phát triển hệ thống du lịch biển Việt Nam” (1995) do PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh làm

chủ nhiệm Đề tài đã có những đánh giá về vị trí, vai trò đồng thời đưa ra nhữngđịnh hưởng để phát triển du lịch cho tiểu vùng duyên hải Bắc Bộ

Đề tài khoa học thuộc Chương trình biển cấp nhà nước: “Tổng quan về hệ

thống đảo Việt Nam” (48B - 12) do GS.TSKH Lê Đức An và nhiều người khác thực

hiện năm 1990 đã đưa ra được những đặc trưng cơ bản cho các đảo của Việt Nam

Đề tài là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu và ứng dụng phát triển kinh

tế xã hội vùng biển đảo

Dự án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010”

do Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch thực hiện năm 1994 đã nghiên cứu đưa rađược những định hướng phát triển vùng du lịch Bắc Bộ trong đó có đề cập đến tiềmnăng du lịch vùng ven biển và hải đảo của tỉnh Quảng Ninh

Dự án “Quy hoạch phát triển du lịch Quảng Ninh thời kỳ 2001 - 2010” của

Sở Du lịch Quảng Ninh thực hiện năm 2001 đã thống kê nguồn tài nguyên du lịch,đánh giá hiện trạng và đưa ra được những định hướng và các giải pháp cơ bản chophát triển du lịch của tỉnh

Đề tài khoa học thuộc Chương trình biển cấp Nhà nước KC – 09: “Luận

chứng khoa học về một mô hình phát triển kinh tế sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam” (2005) do GS TS Lê Đức Tố chủ trì đã

tiến hành phân tích tiềm năng du lịch sinh thái ở một số đảo, cụm đảo ven bờ trong

đó có một số đảo của Quảng Ninh

Đề tài khoa học “Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội; thiết

lập cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho một số huyện đảo” được thực hiện vào năm 2006 do GS TSKH Phạm Hoàng Hải chủ trì

đã tiến hành đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nhằm phát triểnmột cách bền vững các ngành kinh tế bao gồm cả du lịch tại một số huyện đảo trong

đó có Cô Tô và Vân Đồn của Quảng Ninh

Trang 12

Đề tài khoa học cấp bộ: “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch biển đảo

tại vùng du lịch Bắc Bộ” do Nguyễn Thu Hạnh thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển

du lịch thực hiện năm 2006 đã hệ thống những vấn đề lý luận về sản phẩm du lịch,đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển các sản phẩm du lịch vùng biển đảocủa vùng du lịch Bắc Bộ

Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm

2020” do Tổng cục Du lịch - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện năm 2009

đã đánh giá có hệ thống tiềm năng tài nguyên và định hướng phát triển du lịch biểnđến năm 2020 trên phạm vi cả nước

Luận án “Đánh giá tiềm năng tự nhiên phục vụ phát triển du lịch bền vững

khu vực ven biển và các đảo tỉnh Quảng Ninh” được thực hiện trên cơ sở kế thừa

có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu trên, góp phần hoàn thiện hơn về cơ

sở lý luận đồng thời có những đóng góp thực tiễn cho việc khai thác có hiệu quả cácnguồn tài nguyên du lịch tự nhiên ở khu vực nghiên cứu

Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu về địa bàn khu vực huyệnđảo Vân Đồn đã hệ thống hóa được tiềm năng phát triển du lịch cũng như các địnhhướng phát triển bền vững cho khu vực Hầu hết các công trình chưa đề cập đến khảnăng phát triển DLSTDVCĐ tại khu vực này nên việc đánh giá các nguồn lực vàđưa ra mô hình phát triển DLSTDVCĐ hiện nay đang là một vấn đề mới, có tínhthời sự và thực sự cần thiết

 Từ lịch sử nghiên cứu đề tài, có thể rút ra một số nhận xét:

* Đối với vấn đề phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

- Lý luận thực tiễn và phát triển du lịch sinh thái được nhiều nhà khoa học vàcác tổ chức trong nước cũng như quốc tế quan tâm nghiên cứu: đây là những côngtrình khoa học bổ ích cho việc vận dụng vào nghiên cứu về phát triển du lịch sinhthái dựa vào cộng đồng

- Ở trong nước, những đề tài nghiên cứu về du lịch sinh thái dựa vào cộngđồng còn ít, chủ yếu dưới dạng các báo cáo khoa học

- Đặc biệt, đến nay chưa có những đề tài khảo cứu một cách thấu đáo, toàndiện về các nguồn lực để phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng nói chungcũng như việc nghiên cứu đánh giá các nguồn lực đó dựa trên cơ sở của địa lý họcnói riêng tại khu vực Đông Bắc Việt Nam

* Đối với vấn đề đánh giá tổng hợp tự nhiên và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch

Từ một số công trình nghiên cứu trên có thể nhận thấy, du lịch là một hoạtđộng kinh tế có những nét đặc trưng riêng, do đó đánh giá lãnh thổ cho du lịch cũngmang nhiều nét riêng, đó là:

Trang 13

- Đánh giá TNDL đã được thể hiện ở nhiều khía cạnh, lãnh thổ đánh giá từrất rộng lớn đến rất hẹp Phần lớn các đề tài nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá tiềmnăng PTDL.

- Đánh giá TNDL là một công việc khá phức tạp, hiện tại chưa có sự thốngnhất về quan niệm, phương pháp, chỉ tiêu đanh giá Đánh giá TNDL có đặc trưngđịnh tính rất cao Một số chỉ tiêu được xây dựng thường dựa trên những cảm nhậnđịnh tính hoặc của người quản lý du lịch, hoặc của người đi du lịch, do đó mang yếu

tố chủ quan cao

- Hầu hết những đánh giá cho du lịch đều dừng ở mức độ đánh giá chungtrên toàn bộ lãnh thổ nghiên cứu, chưa chỉ rõ được không gian thuận lợi cho pháttriển du lịch, chưa xây dựng được bản đồ phân hóa mức độ thuận lợi cho du lịch.Đánh giá TNDL cho phát triển LHDL ít được quan tâm

Một số công trình đánh giá một cách riêng lẻ các thành phần tự nhiên như địahình, khí hậu, thảm thực vật rừng mà xem nhẹ đánh giá tổng hợp tự nhiên Ngượclại, có công trình đánh giá tổng hợp tự nhiên nhưng lại ít quan tâm đến đánh giá cácthành phần riêng biệt của tự nhiên

- Sử dụng GIS trong đánh giá tài nguyên phục vụ du lịch bước đầu đã được

đề cập nhưng mức độ đánh giá còn sơ lược

Cho đến nay, phương pháp đánh giá bằng cách cho điểm số từng yếu tố đánhgiá, tính điểm tổng hay điểm tích vẫn là phương pháp phù hợp với đánh giá cho dulịch

=> Đối với Khu vực Đông Bắc Việt Nam và hai điểm nghiên cứu lựa chọn

Hầu hết các công trình kể trên đều với các mục đích, nội dung nghiên cứulàm rõ tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng khai thác, sử dụng tàinguyên vùng nghiên cứu và trên cơ sở đó đề xuất được các định hướng phát triểnkinh tế - xã hội trên cơ sở các kết quả đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tàinguyên, kinh tế - xã hội của vùng, đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hộibền vững, bảo vệ môi trường và qua đó đưa ra luận cứ khoa học, các biện pháp, giảipháp phòng tránh, giảm thiểu tai biến tự nhiên, môi trường phù hợp nhằm góp phầnphát triển bền vững vùng Đông Bắc Việt Nam

Các công trình cũng chưa đưa ra được những định hướng cụ thể về phát triểnkhông gian, phát triển sản phẩm cũng như những mô hình DLST hoặc DLSTDVCĐnhằm giúp cộng đồng địa phương các khu vực này có thể hiểu và tham gia vào hoạt động

du lịch một cách chủ động nhằm phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả nhất

Trang 14

Theo Trần Đức Thanh (2003), Tổ chức du lịch thế giới UNWTO đã đưa ra khái

niệm: "Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt

nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ".

Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là hoạt động của con người

ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí,nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

Định nghĩa về du lịch đã không ngừng được hoàn chỉnh và chứa đựng những

nội dung cơ bản sau: Là sự di chuyển và cư trú tạm thời; Ngoài nơi thường trú

thường xuyên trong thời gian rỗi của khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của họ; Cùng với mục đích du lịch là việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên,kinh tế, văn hóa và dịch vụ ở nơi đến của du khách; Là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế có liên quan đến khách du lịch.

Như vậy, HĐDL có liên quan đến nhiều thành phần tự nhiên và KTXH

1.2.1.2 Du lịch sinh thái

Trong Luật Du Lịch Việt Nam (2005), DLST được quan niệm: “DLST là

hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”.

Các hoạt động đặc trưng chủ yếu của DLST bao gồm: Đi bộ (trên cạn), lặn(dưới nước) tiếp cận quan sát các hệ sinh thái đặc thù; Quan sát, chụp ảnh các loàiđộng thực vật quý hiến, đặc hữu, các cảnh quan đặc sắc, các sinh hoạt văn hóa bảnđịa; Nghe thuyết minh, Trao đổi với hướng dẫn viên, cộng đồng về các giá trị tựnhiên, văn hóa bản địa; Lưu trú

Có thể thấy DLST được coi là du lịch lựa chọn những mặt tích cực của một

số loại hình du lịch, đó là sự kết hợp của cả du lịch tự nhiên và du lịch mạo hiểm vàbao hàm cả các yếu tố trong du lịch bền vững như: mang tính giáo dục cao, hỗ trợ

Trang 15

bảo tồn và quan tâm tới cộng đồng, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địaphương.

1.2.1.3 Du lịch cộng đồng

Khái niệm Du lịch cộng đồng (CBT) xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 và có rấtnhiều cách nhìn nhận và hiểu biết khác nhau về khái niệm này Các khái niệm, địnhnghĩa khác nhau tùy thuộc vào các tác giả, khu vực địa lý, hoặc nghiên cứu dự án cụthể Tuy nhiên vẫn có một số nguyên tắc chung như tính bền vững, sự tham gia vàlợi ích của cộng đồng địa phương Định nghĩa phổ biến về DLCĐ là:

Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009)3 cho rằng “DLCĐ là một loại

hình du lịch trong đó chủ yếu người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” Trong định

nghĩa này, Nicole và Wolfgang chú trọng đến vai trò và lợi ích kinh tế mà DLCĐđem lại cho người dân địa phương

Theo tổ chức ESRT trong Chương trình phát triển Du lịch có trách nhiệm với

Môi trường xã hội (2013, tr5): Du lịch cộng đồng mang lại cho du khách những trải

nghiệm về cuộc sống địa phương trong đó các cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào du lịch; thu được các lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch và chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương.

Hiện nay có rất nhiều tên gọi khác nhau có liên quan đến phát triển du lịch và

có sự tham gia ít nhiều của cộng đồng đến phát triển du lịch như: Du lịch dựa vàocộng đồng (Community - Based Tourism); Phát triển cộng đồng dựa vào du lịch(Community – Development in tourism; Phát triển du lịch có sự tham gia của cộngđồng (Community – Participation in Tourism); Phát triển du lịch núi dựa vào cộngđồng (Comnunity – Based Mountain Tourism) Đây là phương thức phát triển DL

trong đó, CĐ dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia vào hoạt động DL, thông qua đây họ được hưởng các quyền lợi về kinh tế song song với trách nhiệm bảo vệ TNDL theo hướng bền vững.

1.2.1.4 Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Có nhiều tên gọi khác thường dùng khi đề cập đến du lịch dựa vào cộngđồng: DLST dựa vào cộng đồng (Community – Based Ecotourism); Du lịch cộngđồng (Community Tourism) Các tên gọi này đều cùng một ý nghĩa và để thuận tiệncho sử dụng, người ta hay gọi là du lịch cộng đồng hơn

DLST dựa vào cộng đồng là một dạng DLST trong điều kiện cộng đồng địa phương có thực quyền và tham gia vào quá trình phát triển và quản lý DLST, phần lớn lợi ích thuộc về họ Sự khác biệt cơ bản giữa DLST và DLST

3http://vi.wikipedia.org/wiki/du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, ngày 08/10/2015

Trang 16

dựa vào cộng đồng là ở cách thức tham gia và mức độ hưởng lợi của cộng đồng.DLST đòi hỏi sự tham gia và chia sẻ lợi ích cho cộng đồng nhưng sự tham gia đó

có thể là thụ động, kể cả khi cộng đồng được khuyến khích tham gia ngay từ giaiđoạn đầu của dự án Cộng đồng không giữ vai trò trung tâm, do đó, họ thườngđược chia phần rất nhỏ trong tổng lợi ích thu được Kể cả khi một dự án DLSTđạt đến cấp độ cộng đồng địa phương tham gia vào quá trình quản lý và đượcchia sẻ lợi ích một cách công bằng, thì nó mới được coi là dự án kinh doanh

DLST thành công chứ chưa phải DLST dựa vào cộng đồng (Schevyns, 1999) Theo đề xuất của Schevyns (1999), thuật ngữ “DLST dựa vào cộng đồng” nên

dành cho những dự án kinh doanh dựa vào sự quản lý của cộng đồng ở cấp độ cao (và do đó phần lớn lợi ích thuộc về cộng đồng) hơn là gần như toàn bộ bị kiểm soát bởi các công ty bên ngoài

Cũng so sánh với DLST, theo Viện Nghiên cứu và Phát triển quốc tế (IIED),DLST dựa vào cộng đồng đề cập một cách rõ ràng hơn các hoạt động du lịch haycác tổ chức kinh doanh dựa vào cộng đồng địa phương, diễn ra trên chính mảnh đấtcủa họ, dựa vào những đặc trưng và sức hút về tự nhiên và văn hóa của họ Nếucộng đồng bị tách ra khỏi tài nguyên thiên nhiên, ví dụ tách biệt với các hoạt động

du lịch trong VQG hay KBTTN, thì dù họ có ở cận kề với các khu vực này, họ cũngkhó có thể tự mình phát triển du lịch nếu mảnh đất mà họ sống không có gì đặc biệt

Tóm lại: Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng không những là một bậc

cao hơn của DLST mà còn là sự phát triển theo hướng bền vững sinh thái của

du lịch dựa vào cộng đồng Đây là loại hình du lịch do cộng đồng tổ chức, dựa

vào thiên nhiên và văn hoá địa phương với mục tiêu bảo vệ môi trường.DLSTDVCĐ đề cao quyền làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao chấtlượng cuộc sống cho cộng đồng Với khách du lịch, DLSTDVCĐ tạo cơ hội tìmhiểu, nâng cao nhận thức về môi trường và giao lưu văn hoá, trải nghiệm cuộc sốnghàng ngày của cộng đồng

1.2.2 Mục tiêu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

DLST dựa vào cộng đồng không những là một bậc cao hơn của DLST

mà còn là sự phát triển theo hướng bền vững sinh thái của du lịch dựa vào cộngđồng DLST dựa vào cộng đồng cũng là du lịch dựa vào cộng đồng nhưng tậptrung vào việc đi tới những khu vực có sức hút về mặt tự nhiên, đóng góp vàobảo tồn môi trường và đời sống của người dân địa phương Chính vì vậy mụctiêu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng sẽ bao hàm cả mục tiêu của

cả hai hình thức phát triển du lịch là du lịch sinh thái và du lịch cộng đồngnhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Cụ thể đó là các mục tiêu sau:

Trang 17

- Góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa: DLST là loại hình

Du lịch nhằm mục đích giáo dục con người nâng cao hiểu biết về môi trường tựnhiên, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn Đây là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của DLST trong sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các hìnhthức DL tự nhiên khác Du khách nghỉ ngơi thăm thú thắng cảnh với tầm hiểu biếtđược nâng lên về những đặc tính sinh thái khu vực và văn hóa cộng đồng địaphương Chính sự hiểu biết đó sẽ giúp khách có thái độ cư xử, thể hiện bằng những

nỗ lực tích cực trong việc bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên sinh thái vàvăn hóa khu vực

DLSTDVCĐ đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương: vấn đề này vừa

là nguyên tắc vừa là mục tiêu của DLST Nếu như lợi nhuận từ các loại hình du lịchkhác thuộc về công ty quản lý thì ngược lại, DLSTDVCĐ sẽ giành phần lớn lợinhuận vào cải thiện môi trường sống và nâng cao an sinh xã hội cho CĐ ĐP

Có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương thông qua các

vai trò: hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách qua đó sẽ tạo thêm việc làmtăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít

bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời sẽ nhận thấy lợi ích của việcbảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST Sức ép của cộng đồngđối với môi trường vốn đã tồn tại từ bao đời nay sẽ giảm đi và chính cộng đồng địaphương sẽ là người chủ thực sự, những người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên

và văn hóa bản địa nơi diễn ra hoạt động DLST

Mang đến cho khách một sản phẩm có trách nhiệm đối với môi trường và

xã hội: Do đặc thù của DLST là dựa vào thiên nhiên, đó là loại hình tổ chức ngoài

thiên nhiên và trong các vùng tự nhiên hoang dã để tạo ra sản phẩm DL

1.2.3 Điều kiện hình thành và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Mọi hoạt động phát triển du lịch nói chung và DLSTDVCĐ nói riêng đềuđược thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên,văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ Kết quả củaquá trình khai thác đó là việc hình thành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng

về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội Trước tiên đó là những lợi ích vềkinh tế - xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tếcho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảotồn các giá trị văn hóa, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạtđộng phát triển du lịch Sau nữa là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trongviệc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên mới lạ và độc đáo, các truyền thống vănhóa lịch sử, những đặc thù dân tộc mà trước đó họ chưa biết tới và từ đó xác lập một

Trang 18

ý thức mới về trách nhiệm bảo tồn sự toàn vẹn của các giá trị thiên nhiên, văn hóalịch sử của nơi họ đến nói riêng và của hành tinh nói chung.

Mặt khác, DLSTDVCĐ dù là một hình thức du lịch hướng tới sự phát triểnbền vững nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò cốt lõi trong nó chính là loại hình

du lịch sinh thái - loại hình du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bảnđịa Do đó, vai trò của tài nguyên du lịch sinh thái đối với sự phát triển du lịch sinhthái dựa vào cộng đồng là rất quan trọng Đó là các giá trị tự nhiên thể hiện trongmột hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không táchrời hệ sinh thái tự nhiên đó

Theo Phạm Trung Lương (2002), không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa

bản địa đều được coi là tài nguyên DLST mà chỉ có các thành phần và các thể tổng

hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, DLST nói riêng mới được xem là tài nguyên du lịch Bao gồm:

- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt nơi có tính đa dạng sinh học cao

với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, cácsân chim )

- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa câycảnh )

- Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại

của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyềnthống gắn với các truyền thuyết của cộng đồng)

Do đặc thù của DLST là dựa vào thiên nhiên, đó là loại hình tổ chức ngoài thiênnhiên và trong các vùng tự nhiên hoang dã để tạo ra sản phẩm DL Chính vì vậy, nhữngkhu vực được lựa chọn phát triển DLSTDVCĐ cần tuân thủ các yêu cầu sau:

- Là nơi tiến hành các hoạt động DL mà cách ứng xử với môi trường tự nhiênchỉ có mức độ thỏa mãn theo các quy định pháp luật hiện hành với những dự ánnằm ngoài giới hạn của DLST

- Những nơi được thiết kế, xây dựng, gắn liền với thiên nhiên môi trường

hơn, thể hiên qua “tính nhạy cảm của các điểm, các cụm có mật độ thấp ít sử dụng

thiết kế và các vật liệu hạn chế tầm quan sát, gây ảnh hưởng đến môi trường Tuy nhiên vẫn cung cấp đầy đủ các tiện nghi dịch vụ và hoạt động của một cuộc DL truyền thống” Loại này chấp nhận tầm quan trọng của môi trường hơn là thực tiễn

Trang 19

- Là những nơi “tự nhiên” được coi trọng hàng đầu để nghỉ ngơi và giáo dụcvới nỗ lực tăng cường trực tiếp ý thức bảo tồn và giữ gìn môi trường Các chuyếnthám hiểm trong ngày, các trung tâm tham quan và phiên dịch viên là chìa khóa.

- Là loại dành cho khách “thám hiểm” đến các vùng xa xôi, hoang dã, cácchương trình DL được thiết kế nhằm hướng tới việc nâng cao nhận thức về bảo tồnmôi trường tự nhiên và văn hóa

Ngoài ra, phát triển DLST hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ,

có giá trị cao, điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách đặt ra đối với Du lịch sinh tháidựa vào cộng đồng là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khuvực đó bởi vì hơn ai hết chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất vềcác nguồn tài nguyên của mình, sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng

to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường tại

đó đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng cácnguồn thu nhập cho cộng đồng Ngoài ra, CĐĐP còn có các vai trò cụ thể như sau:

- CĐĐP là người cung cấp các dịch vụ phục vụ du lịch ban đầu của DSLT.

Có thể nói DL về với thiên nhiên chủ yếu diễn ra tại nơi có thiên nhiên hoang sơ.Trong khi đó, những khu vực này thường có địa hình hiểm trở, gây khó khăn và tốnkém cho công tác xây dựng cơ sở hạ tầng và giao thông cũng như các hoạt độngcung ứng dịch vụ du lịch Vì vậy khách du lịch và các nhà kinh doanh thường dựavào động đồng dân cư tại các làng, bản, thôn

- CĐĐP và đời sống của họ cung cấp nguồn tài nguyên du lịch hữu hình và

vô hình phong phú Các phong tục tập quán, lễ hội, lối sống, kiến trúc nhà ở độcđáo của các cộng đồng có sức thu hút đối với khách du lịch

- CĐĐP là những người am hiểu các điều kiện cũng như tài nguyên của mình

nhất nên nếu được đào tạo, họ sẽ là nguồn nhân lực tích cực và hiệu quả cho hoạt

động du lịch

- Đời sống của CĐĐP gắn liền với điểm du lịch được khai thác nên nếu nhận

thức được vai trò của DLST đối với cộng đồng, họ sẽ là lực lượng bảo vệ tốt nhất nguồn tài nguyên du lịch địa phương một cách bền vững Đồng thời, họ cũng sẽ

có phản ứng nhanh nhất với những biến đổi tiêu cực của môi trường

Như vậy, đối với việc người dân tham gia vào hoạt động phát triển DL, cácphương thức tham gia này của CĐ sẽ là một quá trình để xác định và củng cố vai tròcủa CĐ trong công tác quy hoạch, trong quá trình thực hiện, giám sát và đánh giácác hoạt động có ảnh hưởng đến đời sống của CĐ

1.2.4 Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Khác với nhiều loại tài nguyên khác, sau khi được khai thác có thể vận chuyển

đi nơi khác để chế biến tạo ra sản phẩm rồi lại được đưa đến tận nơi tiêu thụ, tài

Trang 20

nguyên du lịch nói chung, tài nguyên DLST nói riêng thường được khai thác tại chỗ

để tao ra các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của du khách Trong một số trường hợpthực tế có thể tạo ra những vườn thực vật, các công viên với nhiều loài sinh vật đặchữu trong môi trường nhân tạo để du khách tham quan Tuy nhiên các sản phẩm nàychưa phải là sản phẩm DLST đích thực, được tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của dulịch đại chúng, đặc biệt ở các đô thị lớn, ít có điều kiện đến các khu tự nhiên Chính

vì vậy, hoạt động DLSTDVCĐ cần tuân theo một số nguyên tắc sau:

- Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi

trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn: Đây là một trong những

nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLSTDVCĐ với các loại hình dựa vào tự nhiênkhác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biếtcao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khuvực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết đó thái độ cư xử của du khách sẽ thayđổi được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và pháttriển sinh thái và văn hóa khu vực

- Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái: Cũng như hoạt động của các loại

hình du lịch khác hoạt động DLST tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môitrường tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác thì vấn đề bảo vệmôi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại,DLST coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản quan trọng cần tuân thủ Bởi:việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động củaDLST; Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh tháiđiển hình Sự xuống cấp của môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sựxuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuốngcủa hoạt động DLST Với nguyên tắc này mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản

lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạtđộng DLST sẽ được đầu tư thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trìphát triển các hệ sinh thái

- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng: Đây được xem là một

trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST bởi các giá trị văn hóabản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường hệ sinh thái

ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyềnthống của cộng đồng địa phương dưới tác động của hoạt động nào đó sẽ trực tiếplàm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thayđổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến DLST.Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ýnghĩa quan trọng và là nguyêm tắc hoạt động của DLST

Trang 21

- Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương: Đây

vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Nếu như các loại hình dulịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạtđộng du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại, DLST sẽ dành mộtphần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình đóng góp cải thiện môi trường sốngcủa cộng đồng địa phương

Ngoài ra, DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của ngườidân địa phương vào hoạt động của mình như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên,đáp ứng chỗ nghỉ cho khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệmcho khách thông qua đosex tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địaphương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khaithác tự nhiên, đồng thời sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyênthiên nhiên để phát triển DLST Sức ép của cộng đồng đối với môi trường vốn đãtồn tại từ bao đời nay sẽ giảm đi và chính cộng đồng địa phương sẽ là những ngườichủ thực sự, những người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địanơi diễn ra hoạt động DLST

1.2.5 Đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên phục vụ mục đích phát triển

du lịch

Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, hay nói cách khác, cácđiều kiện địa lý và tài nguyên là khách thể của du lịch, là cơ sở để phát triển củangành du lịch Khi nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ du lịch, điều kiện địa lý và tàinguyên có vai trò đặc biệt quan trọng tới việc hình thành các điểm, tuyến du lịch vàhiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch

Theo Nguyễn Đình Kỳ, Lại Vĩnh Cẩm (2011): Đánh giá điều kiện địa lý và

tài nguyên cho mục đích phát triển du lịch là xác định giá trị của các hợp phần tự nhiên phù hợp cho việc khai thác phát triển du lịch Đánh giá tài nguyên du lịch được xác định theo các tính chất của tài nguyên bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên

và tài nguyên du lịch nhân văn Do vậy, trong nội dung nghiên cứu của luận án, đánh

giá điều kiện địa lý và tài nguyên chính là đánh giá tổng hợp mức độ thuận lợi của tàinguyên du lịch nhằm xác định khả năngkhai thác và phát triển DLSTDVCĐ vùngĐông Bắc Việt Nam

- Các phương thức đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch bao gồm:

+ Đánh giá định tính, là những nhận định về đặc điểm, tính chất của các đối

tượng hoặc lãnh thổ nghiên cứu nhằm mục đích phục vụ cho từng mục tiêu sử dụng

cụ thể Đánh giá định tính cần đảm bảo các yêu cầu: (1) đảm bảo được tính hiệu quả(hiệu quả và lợi ích kinh tế, hiệu quả và lợi ích xã hội, hiệu quả và lợi ích môitrường); (2) đảm bảo được các giá trị (giá trị thưởng thức, giá trị lịch sử, giá trị khoa

Trang 22

học, giá trị sử dụng); (3) đáp ứng được các điều kiện (điều kiện giao thông, điềukiện kinh tế, điều kiện cảnh quan, điều kiện dung lượng, điều kiện thi công, điềukiện thị trường).

Đối với đánh giá tổng hợp mức độ thuận lợi của tài nguyên du lịch, phương phápnày cho phép đánh giá ở mức độ: nhiều hay ít, phù hợp hay không phù hợp, thuận lợihay không thuận lợi đối với hoạt động du lịch ở một điểm, theo quy mô nhỏ

+ Đánh giá định lượng, là quy về các chỉ tiêu và cho điểm từng đối tượng

được đánh giá theo những mục tiêu đã đặt ra Tuy nhiên, không phải bao giờ cũng

có thể sử dụng phương pháp định lượng, do đó trong một số trường hợp, có thể ápdụng phương thức đánh giá bán định lượng trong quá trình nghiên cứu

Đánh giá định tính, định lượng hay bán định lượng các điều kiện tự nhiên vàtài nguyên đều nhằm phục vụ cho mục tiêu khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên.Thông thường, các nghiên cứu áp dụng quy trình đánh giá định tính sơ bộ trên cơ sởkết quả phân tích hiện trạng, tiếp theo sẽ tiến hành đánh giá định lượng để đưa ranhững chính sách quản lý, kịch bản quy hoạch và tổ chức lãnh thổ cho các mục tiêuphát triển

- Mục đích và các kiểu đánh giá

Đánh giá có thể là định lượng hay định tính Đánh giá định lượng là các kếtquả phải quy về được các đơn vị đo lường cụ thể: số lượng, khối lượng, kíchthước Đánh giá định tính là đưa ra được những nhận định về mặt tính chất của sựvật, hiện tượng

Trong đánh giá TNDL, theo Nguyễn Thị Hạnh (2012), Mukhina đã cho rằng:

“Đánh giá tài nguyên du lịch là phân loại các TNDL theo mức độ thuận lợi của chúngcho các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng của con người, liên quan tới tất cả các LHDL,đồng thời cũng có thể cho một LHDL cụ thể” Còn Boniface và Cooper: “Đánh giáTNDL là xác định mức độ thuận lợi, phù hợp của các tài nguyên cho các LHDLkhác nhau”

Như vậy, mục đích của việc đánh giá TNDL phục vụ PTDL là nhằm xácđịnh mức độ thuận lợi của tài nguyên đối với các hoạt động du lịch nói chung vàtừng LHDL, điểm du lịch nói riêng Trên cơ sở đó đề ra phương hướng và biệnpháp cụ thể nhằm sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả nhất, trên cơ sở bảo tồn vàphát triển tài nguyên

Theo Đặng Duy Lợi (1992), đánh giá TNDL phục vụ PTDL gồm các kiểunhư sau:

- Đánh giá thẩm mĩ: xác định mức độ cảm giác và phản ứng tâm lí của khách

du lịch đối với TNDL Cơ sở đánh giá dựa trên những thống kê điều tra xã hội học

Trang 23

- Đánh giá sinh học: Đánh giá các tiêu chí khí hậu, thời gian thích hợp của

khí hậu đối với sức khỏe con người hoặc cho các hoạt động du lịch

- Đánh giá kĩ thuật: Dựa trên một số chỉ tiêu kỹ thuật của các tiêu chí tự

nhiên, nhân văn để xác định giá trị tài nguyên đối với PTDL, làm cơ sở cho đánhgiá mức độ phân hóa lãnh thổ du lịch, xác định các điểm, tuyến du lịch, khu du lịch

- Đánh giá kinh tế: là kiểu đánh giá mà kết quả của nó sẽ là giá trị tiền tệ cụ thể.

Như vậy, đánh giá TNDL và các nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựavào cộng đồng là một kiểu đánh giá kỹ thuật mà nhiệm vụ xác định mức độ thuậnlợi để phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng theo từng khu vực địa lý Đánhgiá TNDL có thể tiến hành đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên và nhân văn có khảnăng khai thác cho du lịch

1.2.6 Phân vùng địa lý tự nhiên với phát triển du lịch bền vững

1.2.6.1 Ý nghĩa, nhiệm vụ của phân vùng địa lý tự nhiên

Theo V.I.PROKAEP (1971), phân vùng địa lý tự nhiên là sự phân chia vàphân loại các địa tổng hợp trên một lãnh thổ nào đó Công tác phân vùng bao gồm

cả việc phát hiện và đặt tên các địa tổng hợp, thể hiện chúng trên bản đồ và thuyếtminh những đặc thù của chúng

Ý nghĩa, đối với khoa học, phân vùng địa lý tự nhiên nhằm phát hiện ranhững đặc điểm phân hóa của các khu vực, sự tác động và mối quan hệ giữa cácthành phần tự nhiên Từ đó cho phép xác định quy luật phân hóa địa lý tự nhiêntrong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu và với lãnh thổ kế bên Đối với thực tiễn, phânvùng địa lý tự nhiên góp phần vào việc nghiên cứu, phân tích đánh giá tổng hợp vềđiều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các điều kiện KT-XH, tài nguyên nhânvăn phục vụ cho các mục đích kinh tế Kết quả phân vùng địa lý tự nhiên là cơ sởgiúp các nhà nghiên cứu, nhà quản lý xây dựng kế hoạch, chiến lược khai thác hợp

lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Nhiệm vụ của phân vùng địa lý tự nhiên là ở chỗ vạch ra được các thể tổnghợp địa lý tự nhiên ở các cấp phân vị khác nhau dựa trên sự phân hóa lãnh thổ vàdựa trên những nguyên tắc, phương pháp nhất định

1.2.6.2 Vai trò của phân vùng địa lý tự nhiên với phát triển du lịch

Phân vùng địa lý tự nhiên là tư liệu, cơ sở khoa học cho nền tảng nghiên cứu phát triển du lịch: Cơ sở ý nghĩa và nhiệm vụ phân vùng địa lý tự nhiên cho thấy,

kết quả nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên (bản đồ phân vùng và phần thuyếtminh) là những cơ sở khoa học, trí thức tổng hợp và đầy đủ nhất về ĐKTN, KT-XHcủa một lãnh thổ Vì vậy, phân vùng địa lý tự nhiên có vai trò cung cấp các thông

Trang 24

tin nền tảng nhằm khai thác lãnh thổ phục vụ các mục đích kinh tế khác nhau trong

đó có hoạt động du lịch

Phân vùng địa lý tự nhiên tìm ra mức độ đa dạng và đặc trưng của tài nguyên du lịch: Du lịch là ngành kinh tế có tính định hướng tài nguyên rõ rệt, không

có tài nguyên du lịch thì không thể phát triển được ngành du lịch Những lãnh thổ

có quy mô lớn thường không đồng nhất về ĐKTN và có sự phân hóa thành nhữngthể tổng hợp ĐLTN khác nhau Kết quả đã tạo nên tính đa dạng và phong phú trongĐKTN, TNTN Các thể tổng hợp địa lý tự nhiên có đặc điểm cũng như mức độ tậptrung tài nguyên thường khác nhau nên khả năng khai thác và sử dụng chúng làkhác nhau

Đối với lĩnh vực du lịch, sự phân hóa thành các thể tổng hợp lãnh thổ đã tạo

ra sự đa dạng và phong phú, sự độc đáo và những nét đặc thù của tài nguyên du lịch

tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Đặc biệt, sự độc đáo và tính đặc thù trongtài nguyên đã tạo nên tính đặc trưng và sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch Phânvùng địa lý tự nhiên là vạch ra các thể tổng hợp tương đối đồng nhất về tự nhiên, từ

đó tìm ra các giải pháp thích hợp trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môitrường trong phát triển du lịch

Phân vùng địa lý tự nhiên vạch ra các thể tổng hợp địa lý tự nhiên là các đơn vị cơ sở cho đánh giá tài nguyên du lịch: trong đánh giá tài nguyên du lịch, các

thể tổng hợp địa lý tự nhiên được sử dụng làm đơn vị cơ sở để đánh giá, so sánhnhằm tìm ra những thể tổng hợp địa lý tự nhiên có mức độ thuận lợi khác nhautrong phát triển du lịch

Phân vùng địa lý tự nhiên là cơ sở cho xác lập những quy hoạch và những định hướng mang tính chiến lược trong phát triển du lịch: Trong đánh giá dựa trên

các thể tổng hợp địa lý tự nhiên, hướng đánh giá dựa trên các đơn vị phân loại cảnhquan cho phát triển du lịch là một hướng rất tốt và mức độ chi tiết cao Tuy nhiên,

do lãnh thổ Đông Bắc là một lãnh thổ rộng lớn, việc đánh giá điều kiện tự nhiên, tàinguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn trong phát triển du lịch đòi hỏi có tính baoquát để phục vụ quy hoạch và những định hướng mang tính chiến lược

1.2.7 Tổ chức lãnh thổ du lịch

Theo Nguyễn Minh Tuệ (2011), Tổ chức lãnh thổ du lịch là một hệ thống

liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất TCLTDL của từng vùng hoặc ở cấp quốc gia đều phải phân tích sự phân

hóa không gian của du lịch căn cứ vào các điều kiện tài nguyên, hiện trạng cơ sở hạtầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động ngành cùng các mối liên hệ với các địa

Trang 25

phương trong cả nước, với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Nhiệm vụ của TCLTDL nhằm đưa ra các tuyến, điểm, các cụm ưu tiên pháttriển du lịch của từng vùng trên cơ sở các phân tích về tiềm năng tài nguyên và cácđiều kiện có liên quan khác nhằm khai thác tối đa tiềm năng của vùng Ngoài ra, cáctuyến, điểm du lịch của một vùng cần có sự đồng nhất và bổ trợ cho các tuyến, điểm

du lịch đã được xác định trong quy hoạch tổng thể quốc gia

Theo Vũ Tuấn Cảnh và cộng sự (1991), khi nghiên cứu về TCLTDL, các nhàkhoa học thường nghiên cứu về đặc điểm lãnh thổ, sự phân bố theo lãnh thổ của cáchoạt động sản xuất và dịch vụ có liên quan, cũng như những điều kiện địa lý và tàinguyên du lịch để từ đó đưa ra các cấp khác nhau trong hệ thống phân vị L.Dinev(1973) đưa ra hệ thống phân vị gồm 6 cấp: đối tượng du lịch → hạt nhân → khu →tiểu vùng → vùng → du lịch cơ bản; Với lãnh thổ Liên Xô (cũ), E.A.Kotliarov(1978) đưa ra hệ thống 4 cấp: nước cộng hòa (vùng, biên khu, tỉnh) → vùng du lịch

→ địa phương du lịch → tiểu vùng du lịch; Buchvarov (1982) với hệ thống 5 cấp tạilãnh thổ Bungari: điểm du lịch → hạt nhân du lịch → tiểu vùng → á vùng → vùng

du lịch Tại Việt Nam, do điều kiện đặc thù về diện tích nhỏ hẹp cũng như sự phânhóa lãnh thổ sâu sắc, hệ thống phân vị lãnh thổ du lịch được xác định theo 5 cấp:điểm du lịch → trung tâm du lịch → tiểu vùng du lịch → á vùng du lịch → vùng dulịch Đối với quy mô cấp tỉnh hoặc cấp thành phố trực thuộc Trung ương còn có khu

du lịch, đô thị du lịch và tuyến du lịch

Là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã hội, TCLTDL mang tính lịch sử, đượchình thành và phát triển với các hình thức như: hệ thống lãnh thổ du lịch, thể tổnghợp lãnh thổ du lịch, vùng du lịch

1.2.8 Sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

1.2.8.1 Sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Theo Phạm Hoàng Hải (1997) và Đặng Kim Nhung (1994), Quan niệm Bảo

vệ môi trường bị giới hạn thu hẹp trong việc bảo vệ thiên nhiên và sinh thái môitrường, thái độ này đã dần dần thay đổi khi con người ý thức được sự hủy diệt môitrường do quá trình phát triển không chú ý đến cân bằng sinh thái trong tự nhiên

Thực tế sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên tự nhiên (TNTN) không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động và đời sống của người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường (BVMT) và chất lượng cuộc sống của cộng đồng.

Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững các nguồn TNTN cần được

ưu tiên, bao gồm các hoạt động về khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệuquả tài nguyên Bởi vì hầu hết các vấn đề ô nhiễm môi trường là do việc khai thác

và sử dụng tài nguyên kém hiệu quả, nhất là tài nguyên đất, nước, rừng

Trang 26

Sử dụng hợp lý và bảo vệ môi trường tự nhiên là vấn đề rất phức tạp, bởi lẽ

nó giải quyết một vấn đề cơ bản là mối quan hệ tương tác giữa môi trường tự nhiênvới sản xuất xã hội, song nó lại thể hiện mối quan hệ có tính chất đối lập nhau: mộtphía là nguồn TNTN trong môi trường tự nhiên có hạn; còn một phía là nhu cầukhai thác và sử dụng các nguồn TNTN của sản xuất xã hội và con người lại là vôhạn

Để thỏa mãn hai yêu cầu trái ngược đó, đòi hỏi quá trình phân bố và pháttriển sản xuất phải giải quyết: vừa đẩy mạnh phát triển sản xuất, vừa phải tăngcường bảo vệ, cải tạo và bồi dưỡng môi trường tự nhiên Do đó, mối quan hệ giữamôi trường tự nhiên với việc phát triển KT-XH mới đạt được hiệu quả kinh tế cao,hiệu quả sản xuất lớn và hiệu quả môi trường sinh thái tiến bộ, bền vững

Cơ sở khoa học quan trọng của việc SDHLTN và BVMT trước hết phải đượclựa chọn từ các đặc điểm đặc trưng của tự nhiên, các điều kiện môi trường, sinhthái, lãnh thổ

Sử dụng các kết quả nghiên cứu cảnh quan và nhất là qua bản đồ cảnh quan ởcác tỉ lệ khác nhau sẽ cho một phương thức tiếp cận tổng hợp nhất, tương đối gầngũi, xác thực với hiện trạng tự nhiên lãnh thổ

Thông qua việc phân tích các quy luật hình thành, đặc điểm phân hóa khônggian và thời gian, các đặc trưng về động lực phát triển của cảnh quan, mối quan hệ vàtác động tương hỗ giữa các yếu tố và thành phần tự nhiên cũng như giữa các thể tổnghợp tự nhiên với nhau và đặc biệt là việc đánh giá tổng hợp các đơn vị cảnh quan sẽcho phép xác định mức độ “rất thích nghi”, “thích nghi” và “ít thích nghi” của mỗiđơn vị cảnh quan cho từng ngành sản xuất và từng dạng sử dụng tài nguyên

Tuy nhiên, trong quá trình đánh giá cảnh quan của lãnh thổ cần chú trọngđến yếu tố con người, các đặc điểm chung của điều kiện KT-XH Vì ngoài việc xemxét, đánh giá đúng tiềm năng các nguồn lực tự nhiên thì yếu tố con người luôn có ýnghĩa hết sức to lớn, là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển xã hội,khống chế và tác động lên các quá trình tự nhiên, đặc biệt vai trò điều tiếtSDHLTN, BVMT ở từng lãnh thổ

1.2.8.2 Phát triển bền vững

Theo Trần Viết Khanh (2011), năm 1987, Ủy ban môi trường và PTBV của

Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm PTBV như sau: “PTBV là sự phát triển nhằm

thỏa mãn các yêu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”.

Còn theo Trần Viết Khanh (2011) và Nguyễn Đình Hòe (2001), năm 1992,hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về “Môi trường và phát triển” tổ chức tại

Braxin với sự tham gia của nhiều nước đã thống nhất khái niệm “PTBV là sự phát

Trang 27

triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu của chính họ”.

Mục tiêu của phát triển bền vững là thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người,cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm tương lai ổnđịnh, PTBV thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ, giữa các quốc gia,giữa hiện tại và tương lai

Muốn PTBV phải lồng ghép được ba thành tố quan trọng của sự phát triểnvới nhau: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT Đây là nguyên lý chung đểhướng sự PTBV của các lĩnh vực trong nền kinh tế

1.2.9 Hệ thống các quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm hệ thống: Mặc dù giới hạn lãnh thổ nghiên cứu là vùng Đông

Bắc và VQG Ba Bể, huyện đảo Vân Đồn là hai địa bàn cụ thể để nghiên cứu điểmsong không có nghĩa là các lãnh thổ này được nghiên cứu như những lãnh thổ biệtlập, độc lập Việc nghiên cứu DLSTDVCĐ Đông Bắc phải được đặt trong một hệthống chung đó là bối cảnh chung của du lịch Việt Nam Các giải pháp đưa ra chovùng này không thể đối lập với các định hướng trong chiến lược phát triển du lịchViệt Nam Cũng như vậy, việc nghiên cứu du lịch nói chung, du lịch dựa vào cộngđồng nói riêng ở VQG Ba Bể phải được đặt trong định hướng, quy hoạch du lịchtỉnh Bắc Kạn, du lịch dựa vào cộng đồng ở Vân Đồn phải được đặt trong địnhhướng, quy hoạch du lịch tỉnh Quảng Ninh Các giải pháp đưa ra cho 2 địa bàn nàyphải được đặt trong định hướng chung của du lịch tỉnh, hay nói cách khác là trong

hệ thống chung cấp cao hơn

- Quan điểm hệ thống: bất cứ một đối tượng địa lý đều gắn với một không

gian cụ thể Các đối tượng này phản ánh những đặc trưng của lãnh thổ, phân biệtgiữa lãnh thổ này với lãnh thổ khác Đối với mỗi lãnh thổ, các đối tượng địa lý có

sự phân hóa nội tại và quy luật hoạt động riêng phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh thổ đó

Vận dụng quan điểm lãnh thổ nhằm xác định không gian nghiên cứu, phạm

vi các thể tổng hợp địa lý tự nhiên, các nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựavào cộng đồng và thể hiện chúng trên bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên phục vụphát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Trong đánh giá, các không gian đãđược phân chia trong một lãnh thổ được sử dụng làm các đơn vị được đánh giá, xácđịnh mức độ thuận lợi cho du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Từ đó đưa ra đượccác định hướng, giải pháp mang tính tổng hợp và sát thực tế địa phương

- Quan điểm lịch sử: nghiên cứu quá khứ để có được những đánh giá đúng

đắn hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển là cơ sở đưa ra các dự báo về

xu hướng phát triển Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích các

Trang 28

giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, các phân hệcũng như xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ Quan điểm lịch sử được thểhiện trong luận án thông qua những đánh giá, đề xuất phù hợp với giai đoạn lịch sửhiện nay về các mặt kinh tế, nhận thức dân trí

- Quan điểm phát triển bền vững: phát triển bền vững là sự phát triển trong

đó đảm bảo sự hài hòa giữa các mục tiêu tăng cường kinh tế với các mục tiêu giữgìn sự ổn định của văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường

Trong luận án, quan điểm này chỉ chi phối trong việc định hướng và giải phápkhai thác phát triển không gian và sản phẩm du lịch sinh thái dựa vào cộng đồngvùng theo từng khu vực Việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nhằm mục đíchmang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định xã hội, nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sốngngười dân và bảo vệ môi trường

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Hệ phương pháp nghiên cứu chung

1.3.1.1 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu

Đây là phương pháp tương đối quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài,những thông tin, báo cáo, số liệu, tài liệu có liên quan đều được thu thập, cập nhật

từ các nguồn khác nhau và được phân loại theo từng mục tiêu sử dụng đối với từngnội dung cụ thể của đề tài; sau đó tiến hành xử lí, phân tích để rút ra những kết luậncần thiết làm cơ sở cho những nhận định trong đề tài

1.3.1.2 Phương pháp thực địa

Phương pháp khảo sát thực địa nhằm thu thập, hoàn chỉnh tài liệu và kiểmchứng kết quả nghiên cứu so với thực tiễn Trong thực hiện luận án, NCS đã sửdụng phương pháp để làm quen với khu vực nghiên cứu, thu thập tài liệu, chụp ảnh,gặp gỡ với cán bộ và cộng đồng dân cư địa phương tại các điểm khảo sát Quá trìnhthực địa được thực hiện trong suốt thời gian từ năm 2012 đến năm 2015 và đượctiến hành thành nhiều đợt, lựa chọn những tuyến, điểm du lịch chìa khóa là nhữngđiểm có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng cũng như nhữngtuyến điểm đã được khai thác Các tuyến điểm du lịch đã thực địa: Tuyến Hà Nội -Bắc Giang - Lạng Sơn theo quốc lộ 1 với các điểm tham quan chính là các di tích,thắng cảnh ở Lạng Sơn (ải Chi Lăng, động Nhất - Nhị - Tam Thanh, thành NhàMạc, chùa Tiên, các chợ và cửa khẩu, các lễ hội và làng nghề ); Tuyến Hà Nội -Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng gắn với quốc lộ 3 với các điểm du lịch sinhthái, văn hóa: hồ Ba Bể, hang Pắc Bó, thác Bản Giốc, ATK Định Hóa, hồ NúiCốc ; Tuyến Hà Nội - Tuyên Quang - Hà Giang gắn liền với quốc lộ 2 với cácđiểm tham quan chủ yếu là Đền Hùng, Mỹ Lâm, dinh nhà Vương, làng dân tộc

Trang 29

Mông, chợ tình Khau Vai ; Tuyến Hà Nội - Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai gắn vớituyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai và quốc lộ 70 với các điểm du lịch Sa Pa, HồThác Bà ; Tuyến Hà Nội - Quảng Ninh theo quốc lộ 5, 18 và theo đường biểntham quan các điêm du lịch Hạ Long, Tuần Châu, Yên Tử, Móng Cái,Vân Đồn

1.3.1.3 Phương pháp bản đồ và GIS (Geography Information System)

Phương pháp này được sử dụng từ khâu đầu tiên là tìm hiểu địa bàn, trongquá trình khảo sát và nghiên cứu Bản đồ cho phép xác định rõ ràng, cụ thể phạm vinghiên cứu, mối quan hệ giữa các đối tượng về không gian và thời gian nghiên cứu.Trong quá trình thực hiện đề tài, NCS đã sử dụng bản đồ hành chính, bản đồ sinhkhí hậu, bản đồ đất, bản đồ thảm thực vật, bản đồ hiện trạng du lịch, bản đồ phân bốcác dân tộc chính Vùng Đông Bắc để xác định thông tin Kết quả nghiên cứu đượcthể hiện một cách trực quan trên bản đồ như: bản đồ du lịch sinh thái dựa vào cộngđồng vùng Đông Bắc, bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên vùng Đông Bắc phục vụphát triển du lịch, bản đồ đánh giá mức thuận lợi cho phát triển DLSTDVCĐ, bản

đổ định hướng phát triển không gian cho DLSTDVCĐ… dưới sự hỗ trợ của phầnmềm Arc GIS và Mapinfo

1.3.1.4 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình thực hiện, NCS thực hiện hỏi ý kiến các chuyên gia, các nhàkhoa học thuộc các lĩnh vực liên quan ở Viện Địa lý, Viện nghiên cứu và phát triển

du lịch Việt Nam, Tổng cục du lịch Việt Nam bằng cách hỏi và trao đổi trực tiếpcác chuyên gia

Ngoài ra, khi khảo sát thực địa, NCS tiếp xúc trực tiếp và trao đổi với cán bộquản lý, người dân địa phương ở các điểm khảo sát nhằm thu thập nhanh thông tin

về tình hình sử dụng tài nguyên, hiện trạng phát triển du lịch Các thông tin đượcthu thập chọn lọc phù hợp với mục đích nghiên cứu, bổ sung cho luận án

1.3.1.5 Phương pháp phân tích SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats)

Đây là phương pháp phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và tháchthức Từ thực tiễn phát triển du lịch của vùng Đông Bắc cũng như hai điểm lựachọn nghiên cứu, luận án vận dụng mô hình phân tích SWOT nhằm tạo cơ sở choviệc đề xuất các định hướng phát triển của hai điểm lựa chọn nghiên cứu Trong đó,điểm mạnh và điểm yếu được phân tích như những yếu tố nội bộ, còn cơ hội vàthách thức là những yếu tố bên ngoài góp phần thúc đẩy hoặc làm giảm khả năngphát triển của du lịch của vùng Đông Bắc cũng như hai điểm lựa chọn nghiên cứu

Trang 30

1.3.2 Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Theo Nguyễn Cao Huần (2005), đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tàinguyên để phục vụ mục đích phát triển du lịchlà phương pháp đánh giá truyềnthống đặc trưng cho nghiên cứu địa lý ứng dụng -là dạng đánh giá nhằm thể hiệnmức độ thích hợp (thuận lợi) theo khía cạnh tự nhiên của cảnh quan và các hợpphần của chúng đối với dạng hoạt động kinh tế nào đó Mức độ thuận lợi của cácđịa tổng thể thường được thể hiện ở dạng điểm hoặc cấpdựa vào nhu cầu sinh tháicủa loại hình sử dụng và tiềm năng tự nhiên của địa tổng thể.Đánh giá TNDL trênmột lãnh thổ có thể thực hiện đánh giá theo các đơn vị thể tổng hợp ĐLTN

Phương pháp đánh giácó thể tiến hành đánh giá theo từng thành phần Tuynhiên, do tính chất tổng hợp của tài nguyên, của các thể tổng hợp ĐLTN đòi hỏiphải tiến hành đánh giá tổng hợp nhằm xác định giá trị đích thực và khả năng khaithác thực tế của tài nguyên.Trong thực hiện đề tài, việc sử dụng phương pháp nàynhằm xác định mức độ thuận lợi (tốt, trung bình, kém) của TNDL (TNDL tự nhiên,TNDL nhân văn) và điều kiện SKH cho PTDL trên quan điểm PTBV.Phương phápđánh giá thích nghi sinh thái có thể thực hiện theo 3 bước:

Bước 1: Xây dựng thang đánh giá

Đây là bước quan trọng và quyết định nhất tới kết quả đánh giá bao gồm việclựa chọn các tiêu chí đánh giá, xác định các bậc, chỉ tiêu, điểm cho mỗi bậc và trọng

số của từng tiêu chí

Tiêu chí được xác định dựa trên đặc điểm, yêu cầu của chủ thể đánh giá Cáctiêu chí phải có sự phân hóa trên lãnh thổ nghiên cứu và ảnh hưởng rõ rệt đến chủthể đánh giá Mỗi tiêu chí thường được đánh giá theo các bậc, gồm 3, 4 hoặc 5 bậcvới các mức độ thuận lợi khác nhau Để đảm bảo tính khách quan và mang tính địnhlượng, mỗi bậc đánh giá được xác định bằng một điểm số xác định

Trên thực tế, các tiêu chí lựa chọn thường có tính chất, mức độ và giá trịkhông đồng đều Vì thế để đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả đánhgiá cần xác định thêm hệ số (trọng số) cho các tiêu chí.Trọng số có thể xác địnhbằng nhiều cách: theo ý kiến chuyên gia, phân tích hệ số hồi quy tuyến tính, phântích chỉ số kinh tế v.v…

Để đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên để phục vụ mục đíchphát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc, NCS xác lập các tiêuchíđánh giá dựa vào các nguồn lực cụ thể: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và vănhóa; các điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cùng sứchấp dẫn du lịch trong phạm vi một Vùng/tiểu vùng Mỗi tiêu chí phân chia làm 4

bậc đánh giá (RTL: Rất thuận lợi, TL: Thuận lợi, TĐTL:Tương đối thuận lợi và ITL:

Trang 31

Ít thuận lợi) dựa trên chỉ tiêu riêng và điểm số tương ứng từ cao xuống thấp Các chỉtiêu riêng được xác lập dựa trên các kết quả nghiên cứu, điều tra, thực nghiệm, hỏi ýkiến chuyên gia và bằng trực giác trên cơ sở tích lũy các kinh nghiệm

Theo Nguyễn Cao Huần (2005) Trọng số của các tiêu chí được xác địnhbằng ma trận tam giác - là phương pháp so sánh các yếu tố theo tầm quan trọng haymức độ ảnh hưởng của chúng đối với yêu cầu sinh thái của các dạng sử dụng Quátrình so sánh được tiến hành theo từng cặp các yếu tố dưới hình thức đặt câu hỏi:

“đối với dạng sử dụng X, yếu tố nào quan trọng hơn?” Yếu tố quan trọng hơn

được xác định 1 điểm, được ghi vào ô tương ứng (Bảng 1.1).

(Ghi chú: C1, C2, Cm là các yếu tố, chỉ tiêu đánh giá được thống kê, r là

số điểm hay tần suất lặp lại thể hiện sự quan trọng của yếu tố, k là trọng số của yếu

tố được lựa chọn, m là số lượng yếu tố, chỉ tiêu của loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng)

Bước 2: Tiến hành đánh giá

Tiến hành đánh giá nhằm xác định được điểm đánh giá Điểm đánh giá baogồm số điểm đánh giá riêng của từng yếu tố và số điểm đánh giá tổng hợp Điểmđánh giá riêng của từng tiêu chí là số điểm của các bậc đánh giá nhân với trọng sốcủa tiêu chí đó Điểm đánh giá tổng hợp là trung bình cộng hoặc nhân của các điểmđánh giá riêng của từng tiêu chí Trong thực hiện đề tài, NCS lấy điểm trung bìnhcộng để đánh giá kết quả Công thức xác định điểm trung bình cộng (CT1)

X

1

1

(CT1) Trong đó:

Bước 3: Đánh giá kết quả

Đây là giai đoạn cuối cùng của quy trình đánh giá Căn cứ vào điểm trungbình cộng để phân cấp các mức độ đánh giá từ RTL đến ITL Các cấp được xácđịnh bởi công thức (CT2):

X: Điểm trung bình cộng đánh giá

k i:Trọng số của tiêu chí thứ i

X i :Điểm đánh giá của tiêu chí thứ i

Trang 32

X X

Hình 1.2 Nội dung và quy trình đánh giá mức độ thuận lợi các nguồn lực phát triển

DLSTDVCĐ

1.3.3 Phương pháp luận phân vùng địa lý tự nhiên

Phân vùng ĐLTN cần xét đến tất cả các hợp phần tự nhiên bởi tuy có quan hệmật thiết và tác động tương hỗ lẫn nhau nhưng chúng có bản chất và sự phân hóa khácnhau Do đó, phân vùng ĐLTN rất phức tạp, cần phải có những cơ sở lý luận đúng đắnnhằm tránh những sai sót, đảm bảo tính chính xác, khoa học và thực tiễn

1.3.3.1 Các phương pháp trong phân vùng địa lý tự nhiên

Theo các học giả: A.G Ixatsenko (1969), F.N Mincov (1970) và V.I.PROKAEP (1971), trong phân vùng ĐLTN, trên thế giới, một số phương pháp chủyếu được sử dụng như: chồng xếp các bản đồ phân vùng bộ phận, nhân tố chủ đạo,phân tích liên hợp các thành phần tự nhiên riêng biệt, phương pháp phân tích bản đồkiểu cảnh quan, phương pháp thực địa (Mincov - 1959, Mikhailop - 1963, Ixatsenko

- 1965) Trong phân vùng ĐLTN lãnh thổ Việt Nam, theo Tổ phân vùng Địa lí tựnhiên, Ủy ban Khoa học Nhà nước (1970), một số phương pháp được các tác giả sửdụng như: phương pháp nhân tố chủ đạo và phương pháp phân tích các thành phầnriêng biệt; theo Đặng Kim Nhung và cộng sự (2009), phương pháp chồng xếp cácbản đồ phân vùng bộ phận, phương pháp phân tích liên hợp các thành phần tự

Đối tượng đánh giá

Đặc điểm, yêu cầu của DLSTDVCĐ

Tiêu chí và chỉ tiêu lựa chọn đánh giá

Kiểm tra tính hợp lý của kết quả đánh giá trên thực tế

Phương pháp Đánh giá tổng hợp các nguồn lực phục vụ PTDLSTDV Đ

Phân cấp mức độ thuận lợi của

Vùng/Tiểu vùng Đặc trưng DLSTDVCĐ

Trang 33

nhiên, phương pháp phân tích bản đồ kiểu cảnh quan, phương pháp nhân tố chủ đạo

và phương pháp thực địa

Trên cơ sở phân tích các phương pháp phân vùng và đặc điểm phân hóa tự nhiênlãnh thổ, các phương pháp phân vùng ĐLTN khu vực QN - HP được sử dụng gồm:

- Phương pháp thực địa: được áp dụng nhằm đánh giá mức độ khả thi của lý

thuyết, tính phù hợp với thực tiễn khi tiến hành phân vùng nghiên cứu của luận án

- Phương pháp phân tích yếu tố trội: Cơ sở lý luận của phương pháp phân

tích yếu tố trội được thể hiện trong phản ánh các đặc trưng của tự nhiên, nó giảithích sự không đồng nhất cũng như vai trò của từng yếu tố hay thành phần trong thểtổng hợp tự nhiên tại một cấp phân vị nào đó Nó nhấn mạnh đến vị trí, vai trò củayếu tố này hay yếu tố khác cũng như mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng với nhautrong một hệ thống đồng nhất của tự nhiên…

- Phương pháp phân tích tổng hợp các thành phần tự nhiên: Thiên nhiên là

một hệ thống thống nhất trong đó các hợp phần tự nhiên có quan hệ chặt chẽ vớinhau theo những quy luật khách quan Vì khi tiến hành phân vùng ĐLTN cho mụcđích sử dụng hợp lý TNTN của lãnh thổ cần thiết phải áp dụng phương pháp phântích tổng hợp các thành phần tự nhiên

- Phương pháp phân tích, so sánh các bản đồ bộ phận: Việc so sánh, đối

chiếu các bản đồ bộ phận với nhau giúp rút ra được những đặc trưng giống và khácnhau về ĐKTN giữa các cấp phân vùng, từ đó đưa ra được những chỉ tiêu khoa họcthích hợp cho mỗi cấp phân vùng theo mục đích nghiên cứu

1.3.3.2 Các nguyên tắc trong phân vùng địa lý tự nhiên

Trên thế giới, trong các công trình nghiên cứu phân vùng ĐLTN, các tác giả

đã đưa ra những nguyên tắc phân vùng ĐLTN Phêdina (1970a) đưa ra 4 cácnguyên tắc: địa đới, phi địa đới, địa đới - phi địa đới, phát sinh và tổng hợp.A.G.Ixatsenko (1969) đưa ra 2 nguyên tắc: tính chất khách quan, phát sinh hay lịch

sử V.I.Prokaev (1971) đưa ra 6 nguyên tắc: khách quan, tính đồng nhất tương đối,phát sinh, cùng chung lãnh thổ, so sánh và ưu tiên xét những qui luật phân vùngĐLTN phổ biến) F.N Mincov (1970) đưa ra 4 nguyên tắc: cùng chung lãnh thổ,phát sinh, tổng hợp và đồng nhất tương đối Trong các công trình phân vùng ĐLTNtrên lãnh thổ Việt Nam, có rất nhiều các nguyên tắc phân vùng được đề cập Một sốnguyên tắc được nhiều tác giả sử dụng như Vũ Tự Lập (1976), Nguyễn Văn Nhưng

và Nguyễn Văn Vinh (1998) và Tổ phân vùng Địa lí tự nhiên, Ủy ban Khoa họcNhà nước (1970) đã đưa ra các nguyên tắc phân vùng bao gồm: Nguyên tắc phátsinh; nguyên tắc tổng hợp; nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ; đồng nhất tương đối;nguyên tắc khách quan

Trang 34

Dựa trên các kết quả nghiên cứu và đặc điểm phân hóa tự nhiên lãnh thổnghiên cứu, các nguyên tắc sử dụng phân vùng ĐLTN khu vực QN - HP gồm:

- Nguyên tắc phát sinh: Áp dụng nguyên tắc phát sinh nhằm giải quyết các

vấn đề về sự phát sinh, phát triển của các thể tổng hợp tự nhiên Mặc khác cho phépgiải thích được nguồn gốc phát sinh của các thành phần tự nhiên và các thể tổnghợp tự nhiên cùng với các mối quan hệ tương tác giữa chúng Tuy nhiên, trên thực

tế khó tái tạo và xác định đầy đủ nguồn gốc và lịch sử của các địa hệ ở các cấp khácnhau, mặt khác tuổi và lịch sử hình thành của mỗi đơn vị và mỗi thành phần tựnhiên cũng khác nhau, do vậy nguyên tắc phát sinh chỉ có thể giải thích sự phân dịlãnh thổ diễn ra như thế nào, nguyên nhân gì và thời gian nào hình thành các cấpphân hóa lãnh thổ, mức độ thống nhất phát sinh nội tại của mỗi vùng… Do vậy, cầnthiết phải kết hợp với các nguyên tắc khác trong quá trình phân vùng ĐLTN

- Nguyên tắc tổng hợp: Để tiến hành phân vùng ĐLTN cần xem xét mọi khía

cạnh của thể tổng hợp tự nhiên trên mọi cấp phân vị, từ đó đề ra chỉ tiêu tổng hợptất cả đặc điểm của các yếu tố chung nhất để đưa vào một cấp phân vùng

- Nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ: nhấn mạnh đặc điểm toàn vẹn phát sinh của

lãnh thổ, nghĩa là mỗi lãnh thổ nhất định sẽ được thể hiện trên bản đồ bằng mộtkhoanh vi riêng với một tên gọi riêng

- Nguyên tắc yếu tố trội: Trong mỗi bậc của hệ thống phân vùng được đặc

trưng bởi một thành phần hoặc yếu tố tự nhiên nào đó chiếm ưu thế, song không làtuyệt đối Nhân tố chiếm ưu thế tại một phạm vi nhất định sẽ tạo ra sự phân hóalãnh thổ nhất định Áp dụng nguyên tắc yếu tố trội sẽ giải quyết được sự phân cấptrong hệ thống phân vị khu vực nghiên cứu

- Nguyên tắc đồng nhất tương đối: Tính đồng nhất tương đối được hiểu là mối

tương quan của các nhân tố hình thành vùng, làm nên tính riêng của mỗi vùng, tạo ra sựkhác biệt với các vùng khác Như vậy, nguyên tắc đồng nhất được áp dụng để giải thíchviệc nhóm các lãnh thổ có ĐKTN gần nhau thì được đưa về một đơn vị phân vùng

1.3.3.3 Hệ thống phân vị trong phân vùng địa lí tự nhiên

Trên thế giới, trong các công trình phân vùng ĐLTN, tác giả A.E Phêdina(1970b) đã đưa ra sơ đồ hệ thống phân vị khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiêncủa mỗi khu vực được phân vùng Mỗi sơ đồ phân vị đều dựa trên những dấu hiệunhận biết khác nhau

Theo Nguyễn Văn Nhưng, Nguyễn Văn Vinh (1998), kết quả tổng hợp chothấy, lãnh thổ Việt Nam đã được nhiều tác giả người Pháp và Liên Xô đã tiến hànhphân vùng như J Sion (1927), Ch Robequain (1935, 1952), P Gourou (1931), T.N.Sêglova (1957) , V.M Fridland (1961)

Trang 35

Đối với các tác giả Việt Nam, cũng đã có nhiều công trình phân vùng Ở mỗicông trình, các tác giả đã xây dựng hệ thống các cấp phân vị và các dấu hiệu nhận

biết Mội số hệ thống phân vị tiêu biểu: Hệ thống 6 cấp: Đới Xứ Miền

Khu Vùng Cảnh của Nguyên Đức Chính - Vũ Tự Lập (1963); 7 cấp: Á đại lục Xứ Đới Á đới MiềnÁ miền Vùng của Tổ Phân vùng Địa lí Tự

nhiên Việt Nam (1970); hệ thống các cấp phân vị và phân loại (Phụ lục 10) của Vũ

Tự Lập (1976); hệ thống 5 cấp gồm: Á đới Miền Đới Á miền Vùng ĐLTN

của Phòng Địa lí Thổ nhưỡng, Trung tâm Địa lí Tài nguyên (1992); hệ thống 3 cấp:

Đới cảnh quan Miền cảnh quan Vùng cảnh quan của Phạm Hoàng Hải,

Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997) và hệ thống 5 cấp:Ô địa lí Á

ô địa lí Đới địa lí Miền địa lí Vùng địa lí của Nguyễn Văn Nhưng, Nguyễn

Văn Vinh (1998) Mỗi hệ thống phân vị đều được phân chia theo những nguyêntắc, phương pháp khác nhau và có những dấu hiệu nhận biết cụ thể theo từng cấpphân vị

Dựa trên cơ sở lý luận về phân vùng ĐLTN và đặc điểm phân hóa về ĐKTNkhu vực nghiên cứu, NCS đã lựa chọn hệ thống phân vị gồm 3 cấp (Hình 1.3):

Hình 1.3 Sơ đồ các cấp phân vị phân vùng địa lý tự nhiên

1.3.4 Các bước tiến hành nghiên cứu luận án

Trong thực hiện luận án, NCS thực hiện theo 4 giai đoạn chính gồm: Chuẩnbị; nghiên cứu, phân tích hiện trạng của lãnh thổ; đánh giá mức đô thuận lợi phục

vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vùng Đông Bắc và kết quả đánh

giá (Hình 1.4) Trong giai đoạn chuẩn bị, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn về PTDL,

từ đó xác định mục tiêu, đối tượng nghiên cứu và lựa chọn các phương pháp nghiêncứu Giai đoạn nghiên cứu lãnh thổ và đánh giá mức độ thuận lợi để phát triển dulịch sinh thái dựa vào cộng đồng, bao gồm việc xác định sự phân hóa trong điềukiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm KT - XH Từ đó tiến hành phânvùng ĐLTN và phân loại mức độ thuận lợi Kết quả phân vùng ĐLTN và phân loạimức độ thuận lợi là cơ sở đánh giá, xác định các định hướng khai thác không gian

và định hướng phát triển sản phẩm Giai đoạn kết quả đánh giá là đưa ra các địnhhướng phát triển bền vững và giải pháp phát triển dựa trên kết quả đánh giá

Vùng

Á vùngTiểu vùng

Trang 36

Phân tích các nguồn lực phát triển DLSTDVCĐ vùng Đông Bắc

Tài nguyên DLTN

Đề xuất định hướng TCLTDL

- Bản đồ hành chính

- Bản đồ địa hình

- Bản đồ thổ nhưỡng

- Bản đồ thảm thực vật

- Bản đồ hiện trạng Du lịch Đông Bắc

- Bản đồ phân vùng Đông Bắc

VN cho mục đích phát triển LSTDVCĐ

- Bản đồ đánh giá TH mức độ thuận lơi để phát triển DLSTDVCĐvùng ĐB

- Bản đồ đánh giá TH mức độ thuận lơi để phát triển DLSTDCĐ tại hai điểm nghiên cứu

- Bản đồ định hướng không gian phát triển DLSTDVCĐ

Hình 1.4: Sơ đồ quy trình các bước thực hiện luận án

Đánh giá TH mức độ thuận lợi của

DLSTDVCĐtheo tiểu vùng

Đánh giá

ĐK khai thác tàinguyên

Đề xuất định hướng phát triển

VQG Ba Bể (Bắc Kạn)

Tổ chức lãnh thố du lịch

Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phạm vi nghiên cứu

Trang 37

- Tổng quan được các công trình nghiên cứu trên thế giới, Việt Nam và trong khu vựcnghiên cứu Nhìn chung việc sử dụng cơ sở địa lý học để phục vụ phát triển Du lịch đã đượcthực hiện từ lâu và được sử dụng trên nhiều lãnh thổ khác nhau bằng những phương phápkhác nhau Điều này cho thấy việc xác lập cơ sở địa lý học nhằm phát triển du lịch nóichung, DLSTDVCĐ nói riêng là phức tạp và cần thiết Trong khu vực Đông Bắc, việc sửdụng cơ sở địa lý học nhất là phương pháp đánh giá tài nguyên cho phát triển du lịch và cácngành kinh tế - xã hội đã được thực hiện trong rất nhiều công trình nghiên cứu trên phạm vitoàn vùng Tuy nhiên việc đánh giá và phân vùng địa lý tự nhiên phục vụ cho phát triểnDLSTDVCĐ còn chưa được thực hiện.

- Nghiên cứu và tổng quan được cơ sở lý luận về DLSTDVCĐ và hệ thống các quanđiểm nghiên cứu Đặc biệt là hệ thống các cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch trong

đó phương pháp chủ đạo là đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên,phân vùng địa lý tự nhiên, tổ chức lãnh thổ và sử dụng hợp lý tài nguyên được NCS chọnlàm các phương pháp chủ đạo nhằm xác định tiềm năng và mức độ thuận lợi đánh giá tổnghợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, phân vùng địa lý tự nhiên, tổ chức lãnh thổ

và sử dụng hợp lý tài nguyên cho phát triển DLSTDVCĐ vùng Đông Bắc

Trên đây là những cơ sở có tính khoa học cao, giúp cho việc phát triển DLSTDVCĐvùng Đông Bắc Việt Nam mang tính khách quan, khoa học và phục vụ phát triển bền vững

Trang 38

Chương 2 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

2.1 Các điều kiện địa lý chung

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Theo Lê Bá Thảo (1998), vùng Đông Bắc Việt Nam, được giới hạn trong toàn bộ khuvực Đông Bắc với diện tích tự nhiên là 63.952 km² (chiếm khoảng 20% diện tích cả nước),bao gồm 11 tỉnh (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái, LàoCai, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang) Giới hạn lãnh thổ của vùng: Điểm cựcBắc: 23°22’B trên đỉnh núi Rồng, Sơn nguyên Đồng Văn, Lũng Cú, Hà Giang; Cực Nam20º40’B thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh; Điểm cực Đông108°31’Đ: (Điểm cực đông trên đất liền) mũi Gót - đông bắc xã Trà Cổ, Móng Cái, QuảngNinh; Điểm cực Tây 103°31’Đ thuộc xã Y Tý, huyện Bát Xát, Lào Cai Phía Bắc vùng giápTrung Quốc; Phía Nam giáp vùng Đồng bằng sông Hồng; Phía Tây, Tây Nam giáp với cáctỉnh vùng Tây Bắc; Phía Đông và Đông Nam tiếp giáp Vịnh Bắc Bộ Với vị trí, lãnh thổ nêutrên, vùng có vai trò đặc biệt quan trọng về mặt sinh thái, môi trường, KT-XH và an ninhquốc phòng

2.1.1.2 Đặc điểm địa chất và địa hình

Theo Vũ Tự Lập (1978), vùng Đông Bắc nằm trong vùng địa chất bao gồm tám cấutrúc nham tướng có đặc điểm riêng (đới Sông Hồng, Sông Lô, Sông Hiến, Hạ Lang, AnChâu, Duyên Hải, Cô Tô và vùng trũng Hà Nội) Đặc điểm cấu trúc nham tướng được thểhiện qua 3 khu vực tự nhiên của vùng (khu vực Hoàng Liên Sơn, khu vực Việt Bắc và khu

vực Đông Bắc), cụ thể: Khu vực Hoàng Liên Sơn nằm hoàn toàn trong dãy núi địa lũy kiểu

phức nếp lồi Hoàng Liên Sơn với nền địa chất bao gồm đá biến chất Protêrôzôi hệ tầng NgòiHút và đá biến chất tuổi Protêrôzôi thượng đến Cambri hạ hệ tầng Sa Pa Thành phần thạchhọc trong khu vực bao gồm: Đá biến chất (đá phiến xêrixit, đá phiến thạch anh xêrixit -clorit, cát kết dạng quaczit có chứa các thấu kính nhỏ, đá hoa đôlômit); Đá trầm tích; ĐáMacma; trầm tích đệ Tứ (Q): bao gồm các trầm tích bở rời nguồn gốc aluvi, proluvi, deluvi,

coluvi và eluvi Khu vực Việt Bắc lại là khu có lịch sử phát triển cổ nhất trong miền Bắc và

Đông Bắc Bắc Bộ vì cơ bản đã được hình thành trong đại Cổ sinh Do đó mức độ biến chấtcủa nham thạch cao hơn ở các khu vực khác, nhất là trong các địa tầng Nguyên sinh và Thái

cổ Trên bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam trong phạm vi khu Việt Bắc có các đới nhamtướng sông Hồng, sông Lô, và bộ phận phía Tây Ngân Sơn của đới sông Hiến Nhìn chung

Trang 39

tính chất đồng nhất tương đối của khu Việt Bắc là tính chất của hệ tầng, chủ yếu có tuổi từ

cổ sinh trở về trước, là hoạt động nâng cao mạnh của vận động tân kiến tạo khiến cho địahình núi trung bình xuất hiện khá nhiều Điều này tạo nên sự phân dị rõ rệt - tính chất đồi -núi thấp có cấu tạo chủ yếu từ các hệ tầng trung sinh đại Nếu như khu Việt Bắc là khu cólịch sử phát triển lâu đời với khối nâng Việt Bắc, di tích của nền Hoa Nam và nếp uốn

Calêđôni thì khu Đông Bắc có lịch sử phát triển trẻ hơn do các móng uốn nếp Calêđônit vẫn

tiếp tục sụt võng và bị các lớp trầm tích trẻ hơn phủ lên Trong khu, hệ tầng Calêđônit chỉ lộ

ra nhiều theo một dải ở cánh cung duyên hải, từ cửa Lục đến Móng Cái (tầng Tấn Mài).Trong giai đoạn tân kiến tạo, khu Đông Bắc được nâng lên với cường độ yếu hơn so với khuViệt Bắc và có tính chất kế thừa rõ rệt Những nơi là nền móng Calêđôni được nâng lên khácao và trở thành vùng núi, nhiều chỗ cao trên 1000m Đó là vùng núi Cao Bằng với đá vôi vàdiệp thạch, là dải Ngân Sơn - Cốc xo có cấu tạo tương tự, là cánh cung duyên hải Khu vựcnúi này bao quanh khu vực sụt võng chồng gối Trung sinh đại, tạo nên những trường thànhgiữ không khí lạnh mùa đông lại và cản không khí hải dương, làm cho khu vực đồi núi cấutrúc trung sinh, từ sông Hiến đến sông Ba Chẽ trở thành một nơi vừa lạnh, vừa khô Các đớinham tướng được phát hiện trong khu là: đới sông Hiến, đới Hạ Lang, đới An Châu, đớiDuyên hải và đới Cô Tô

Nhìn chung, cấu trúc địa chất của mỗi khu vực trong vùng mang đặc điểm, tính chất

riêng biệt và có sự phân hóa mạnh mẽ theo phương đông-tây, bắc-nam Hoạt động địa chấtkhác nhau là một nguyên nhân quan trọng hình thành nên các kiểu địa hình, hướng địa hình

đa dạng và mang sắc thái riêng của vùng Đông Bắc

Theo Nguyễn Đình Kỳ (2011), địa hình của vùng đa dạng bao gồm nhiều kiểu địahình: thung lũng, đồng bằng, các dạng địa hình đồi, núi thấp, núi trung bình, núi cao… trong

đó luôn có sự xen kẽ giữa địa hình núi đất với địa hình núi và cao nguyên đá vôi Nét đặc sắccủa cấu trúc địa hình vùng là có dạng rẻ quạt mở rộng về phía Đông Bắc, quy tụ về phía nam

ở dãy núi Tam Đảo Theo thứ tự từ tây sang đông là các dãy núi cánh cung: cánh cung sôngGâm, cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều Các cánh cungnày chạy xen kẽ với các thung lũng sông Tại các vùng núi còn có một số cánh đồng khárộng như: Lộc Bình, Thất Khê, Cao Bằng, Tuyên Quang Trong vùng khu vực núi trung bình

và những đỉnh núi cao trên 2000m có tác dụng chắn gió tạo điều kiện cho nơi đây xuất hiệncác trung tâm mưa lớn như: Bắc Quang, Móng Cái

Nhìn chung đặc điểm địa hình khu vực là sự tiếp nối của vùng núi thấp phía NamTrung Quốc từ cao nguyên Vân Quý và vùng núi thấp Hoa Nam theo xu thế thấp dần về phíaNam và Đông nam Hướng cấu trúc địa hình và địa thế đặc sắc của miền đã tạo điều kiện

Trang 40

thuận lợi cho sự xâm nhập của các khối không khí cực đới lạnh khô theo gió mùa đông bắccũng như của khối khí nhiệt đới nóng ẩm theo gió mùa mùa hạ có hướng Đông nam từ vịnhBắc Bộ thổi vào, dễ dàng tiến sâu vào khắp lãnh thổ miền Bắc Việt Nam.

Địa hình Vùng thấp dần từ biên giới Việt - Trung về phía Đông Nam với các dãy núi

và sơn nguyên cao trên 1000m, một số đỉnh vượt quá 2000m chạy từ vòm sông Chảy đếnthượng nguồn sông Năng, sông Cầu, sau đó thấp dần về phía trung du ở hai bên khối núiriolit Tam Đảo Khu vực có độ cao trên 1000m bao gồm: Sơn nguyên Bắc Hà, Si Ma Cai,Mường Khương, núi vòm sông Chảy, sơn nguyên Quản Bạ - Đồng Văn, dãy Pu Tha Ca, núiPhia Ya, núi Phia Boóc, núi trung bình giáp lưu vực sông Gâm; Khu vực có độ cao dưới1000m: bao gồm phía nam và đông nam vùng núi và sơn nguyên kể trên là một vùng đồirộng lớn có độ cao dưới 500m Thỉnh thoảng có vài dãy núi nhô cao như dãy Con Voi có độcao từ 500 - 700m, các đỉnh cao như: Chạm Chu 1587m, Pu Khan Bon 1168m, Pu Sam Sao1172m…; Khu vực đồi trung du có độ cao từ 100 - 300m bao gồm vùng hạ du sông Hồng,sông Lô Đây là vùng có địa hình đồi thấp, thoải, nhiều thềm sông và bãi bồi có đất đai phìnhiêu thuận lợi cho canh tác Khu vực Đông Bắc có một số đơn vị địa hình chính như sau:Dải núi đá vôi Cao Bằng nằm ở phía Bắc chạy dọc theo biên giới Việt Trung từ Bảo Lạc đếnĐông Khê, có độ cao thấp dần từ 1500m xuống còn khoảng 700-600m Dải Ngân Sơn - Cốc

xô ở phía tây, kéo dài từ Bảo Lạc đến chợ mới, có nhiều đỉnh núi cao trên 1000m, cao nhất

là đỉnh Phia Uắc 1931m, đỉnh Ngân Sơn 1262m, Cốc Xô 1131m Khối trung tâm bao gồmkhu vực núi đá vôi rộng lớn từ Yên Lạc qua Chợ Mới đến Đồng Mỏ, với 2 cánh cung: Cánhcung Yên Lạc và Cánh cung Bắc Sơn Độ cao địa hình nơi đây không lớn, trung bình từ 500

- 600m Trong khu xuất hiện những khu vực đồi thấp thượng nguồn sông Hiến nằm lọt giữa

3 vùng núi kể trên bao gồm bồn địa Cao Bằng và máng trũng Thất Khê - Đồng Đăng - LộcBình (được gọi là ống máng Cao Lạng) Xen kẽ trong khu vực có các khối đá mắc ma xâmnhập tạo nên các đỉnh cao trong khu như Chóp Chài 800m, Khau Cư 849m Khu vực đồi núi

An Châu - Thái Nguyên lại có dạng đồi thấp xen với các bán bình nguyên cổ có tính chấttrung du gồm những dãy đồi chạy dài hoặc những quả đồi riêng lẻ Đồi thường có dạng lượnsóng mềm mại, có độ dốc từ 10 - 30º Trong vùng có một số ngọn núi nhô cao: Mẫu Sơn1541m, Tam Đảo 1591m Cánh cung núi duyên hải (cánh cung Đông Triều) gồm hai dải núichính: dải Nam Mẫu ở phía Nam và dải Bình Lưu ở phía Bắc, có một số đỉnh nhô cao trên1000m như Am Váp 1084m, Yên Tử 1068m, Cao Xiêm 1330m, Nam Châu Lãnh 1506m

Địa hình đồng bằng của vùng chiếm một tỷ lệ nhỏ, bao gồm dải đồng bằng duyên hảinhỏ hẹp chạy dài từ Tiên Yên qua Đầm Hà - Hải Hà đến tận Móng Cái chỉ rộng từ 10 -

Ngày đăng: 18/03/2017, 07:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Giới hạn lãnh thổ vùng Đông Bắc - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 1.1. Giới hạn lãnh thổ vùng Đông Bắc (Trang 3)
Hình 1.2. Nội dung và quy trình đánh giá mức độ thuận lợi các nguồn lực phát triển - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 1.2. Nội dung và quy trình đánh giá mức độ thuận lợi các nguồn lực phát triển (Trang 32)
Hình 1.4: Sơ đồ quy trình các bước thực hiện luận án - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 1.4 Sơ đồ quy trình các bước thực hiện luận án (Trang 36)
Hình 2.1. Biểu đồ so sánh sự tăng trưởng của Khách du lịch vùng Đông Bắc - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 2.1. Biểu đồ so sánh sự tăng trưởng của Khách du lịch vùng Đông Bắc (Trang 63)
Hình 2.2. Biểu đồ so sánh doanh thu từ du lịch vùng Đông Bắc so - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 2.2. Biểu đồ so sánh doanh thu từ du lịch vùng Đông Bắc so (Trang 65)
Bảng 2.4. Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí văn hóa bản địa - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Bảng 2.4. Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của tiêu chí văn hóa bản địa (Trang 84)
Bảng 2.11. Bảng  đánh giá mức độ thuận lợi về  tài nguyên DLSTDVCĐ theo các tiểu vùng - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Bảng 2.11. Bảng đánh giá mức độ thuận lợi về tài nguyên DLSTDVCĐ theo các tiểu vùng (Trang 89)
Bảng 2.12. Bảng  đánh giá mức độ thuận lợi về  vị trí và khả năng tiếp cận theo các tiểu vùng - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Bảng 2.12. Bảng đánh giá mức độ thuận lợi về vị trí và khả năng tiếp cận theo các tiểu vùng (Trang 90)
Bảng 2.15. Bảng đánh giá mức độ thuận lợi về CSHT, CSVCKT du lịch - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Bảng 2.15. Bảng đánh giá mức độ thuận lợi về CSHT, CSVCKT du lịch (Trang 92)
Bảng 2.16. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ thuận lợi cho phát triển DLSTDVCĐ - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Bảng 2.16. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ thuận lợi cho phát triển DLSTDVCĐ (Trang 93)
Hình 4.2.Biểu đồ so sánh doanh thu từ du lịch của VQG Ba Bể - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 4.2. Biểu đồ so sánh doanh thu từ du lịch của VQG Ba Bể (Trang 126)
Hình 4.3.Biểu đồ so sánh số lượng khách quốc tế và nội địa tới huyện đảo Vân Đồn - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 4.3. Biểu đồ so sánh số lượng khách quốc tế và nội địa tới huyện đảo Vân Đồn (Trang 131)
Hình 4.4. Biểu đồ so sánh doanh thu từ du lịch của Vân Đồn (Nguồn: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vân Đồn) - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 4.4. Biểu đồ so sánh doanh thu từ du lịch của Vân Đồn (Nguồn: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vân Đồn) (Trang 133)
Hình 4.5. Mô hình tổ chức và quản lý Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại VQG Ba Bể - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 4.5. Mô hình tổ chức và quản lý Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại VQG Ba Bể (Trang 142)
Hình 4.6. Mô hình tổ chức và quản lý Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại huyện đảo Vân Đồn - Luận án Cơ sở địa lý học phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 4.6. Mô hình tổ chức và quản lý Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại huyện đảo Vân Đồn (Trang 146)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w