và Viết thế nào?.Hiểu được quan điểm sáng tác đó mới có thể lí giải được đặc điểm đa dạng,nhiều sắc thái của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh: vì sao những truyện, kísáng tác vào đầu nh
Trang 1- Rèn luyện năng lực tổng hợp, khái quát, hệ thống hoá các kiến thức đã học vềvăn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX.
B - NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý
I - NỘI DUNG
1 Đặc điểm bài học
- Đây là bài khái quát cả một thời kì văn học, nội dung kiến thức rất phong phú,
GV cần phải chọn lọc, tránh sa vào chi tiết phải có quan điểm lịch sử, quanđiểm toàn diện khi đánh giá văn học thời kì này
a) Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá
? nêu lịch sử thời kì này
GV nhấn mạnh những điểm có ảnh hưởng tới văn học:
Đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản, sự lãnh đạo của Đảng đã tạo nên trênđất nước ta một nền văn học thống nhất
- Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ kéo dài suốt
30 năm đã tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới đời sống vật chất và tinh thần của toàndân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật, tạo nên văn học giai đoạn này những
Trang 2đặc điểm và tính chất riêng của một nền văn học hình thành và phát triển tronghoàn cảnh chiến tranh lâu dài và vô cùng ác liệt.
- Nền kinh tế còn nghèo nàn và chậm phát triển Về văn hoá, từ năm 1945 đếnnăm 1975, điều kiện giao lưu bị hạn chế, nước ta chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnhhưởng của văn hoá các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc, )
b) Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
● Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954
Hs nêu đặc điểm LSử
- Một số tác phẩm trong những năm 1945 - 1946 đã phản ảnh được không khí
hồ hởi, vui sướng đặc biệt của nhân dân ta khi đất nước vừa giành được độc lập
- Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến; tậptrung khám phá sức mạnh và những phẩm chất tốt đẹp của quần chúng nhândân; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộckháng chiến
- Truyện ngắn và kí là những thể loại mở đầu cho văn xuôi chặng đường kháng
chiến chống thực dân Pháp Những tác phẩm tiêu biểu là: Một lần tới Thủ đô và Trận phố ràng của Trần Đăng, Đôi mắt và Nhật kí ở rừng của Nam Cao, Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ Phương, Từ năm 1950, đã xuất hiện những tập truyện, kí khá dày dặn: Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc,
Thơ ca những năm kháng chiến chóng thực dân Pháp đạt được nhiều thành tựu
xuất sắc Tiêu biểu là những tác phẩm: Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Rằm tháng giêng, Lên núi của Hồ Chí Minh, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, Nhớ của Hồng Nguyên, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Đồng chí của Chính Hữu, đặc biệt là tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu,
Một số vở kịch xuất hiện gây được sự chú ý lúc bấy giờ như Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Chị Hoà của Học Phi.
● Chặng đường từ năm 1985 đến năm 1964
Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vấn đề, nhiều phạm vi củahiện thực đời sống Một số tác phẩm khai thác đề tài kháng chiến chống Pháp:
Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, trước giờ nổ súng của Lê Khâm Một số tác phẩm khai thác đề tài hiện thực đời sống trước Cách mạng tháng Táng: Tranh tối tranh sáng của Nguyễn Công Hoan, Mười năm của Tô Hoài, Vỡ bờ (hai tập) của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển
(bốn tập) của Nguyên Hống Viết về đề tài công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội: Sông Đà cua Nguyễn Tuân, Bốn năm sau của Nguyễn Huy Tưởng, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Cái sân gạch của Đào Vũ,…
Thơ ca phát triển mạnh mẽ Các tập thơ xuất sắc ở chặng này gồm có: Gió lộng của Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Riêng chung của Xuân Diệu, Đất nở hoa của Huy Cận, Tiếng sóng của Tế Hanh,
- Kịch nói ớ giai đoạn này cũng phát triển Tiêu biểu là các vơ Một đảng viên của Học Phi, Ngọn lửa của nguyễn vũ, Chị Nhàn và Nổi gió của Đào Hồng
Cẩm,
Trang 3● Chặng đường từ năm 1965 đến năm l975
Chủ đề bao trùm của văn học là đề cao tinh thần yêu nước, ngợi ca chủ nghĩaanh hùng cách mạng Từ tiền tuyến lớn, những tác phẩm truyện, kí viết trongmáu lửa của chiến tranh đã phản ánh nhanh nhạy và kịp thời cuộc chiến đấu của
quân dân miền Nam anh dũng: Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Hòn Đất của Anh Đức Mẫn và tôi của Phan Tứ,
Ở miền Bắc, truyện, kí cũng phát triển mạnh Tiêu biểu là những tập kí chống
Mĩ của Nguyễn Tuân; truyện ngắn của Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, VũThi Thường, Đỗ Chu, Nhiều tác giả nổi lên nhờ những cuốn tiểu thuyết như
Hữu Mai với Vùng trời (ba tập), Nguyễn Minh Châu với Cửa sông và Dấu chân người lính, Chu Văn với Bão biển (hai tập),
- Thơ ca những năm chống Mĩ cứu nước đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, thực
sự là một bước tiến mới của nền thơ Việt Nam hiện đại Thơ ca chặng đườngnày thể hiện rất rõ khuynh hướng mở rộng hiện thực; đồng thời bổ sung, tăngcường chất suy tưởng, chính luận Nhiều tập thơ có tiếng vang, tạo được sự lôi
cuốn, hấp dẫn như: Ra trận, Máu và hoa của Tố Hữu, Hoa ngày thường - Chim báo bão và Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên, Đầu súng trăng treo của Chính Hữu, Vầng trăng quầng lửa của Phạm Tiến Duật, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Gió Lào cát trắng của Xuân Quỳnh, hương cây - Bếp lửa của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt, Cát trắng của Nguyễn Duy, Góc sân
và khoảng trời của Trần Đăng Khoa, lịch sử thơ ca chặng đường này đặc biệt
ghi nhận sự xuất hiện và những đóng góp của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kìchống Mĩ Đó là Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, LưuQuang Vũ, Bằng Việt, Nguyễn Mĩ, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh,Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng Khoa,
- Kịch cũng có những thành tựu đáng ghi nhận Các vở kịch gây được tiếng
vang: Quê hương Việt Nam và Thời tiết ngày mai của Xuân Trình, Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt của Vũ Dũng Minh,
c) Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
● Văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận
mệnh chung của đất nước Đây là một đặc điểm nói lên bản chất của văn họcgiai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Dựa vào SGK, GV nhấn mạnh và làm rõ đặc điểm cơ bản này
● Nền văn học hướng về đại chúng Đây cũng là một đặc điểm cơ bản của vănhọc Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
GV dựa vào SGK, phân tích để làm rõ đặc điểm này
● Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Đây
là một đặc điểm thể hiện khuynh hướng thẩm mĩ của văn học Việt Nam nhữngnăm 1945 - 1975 Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã đáp ứng đượcyêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển cáchmạng của văn học giai đoạn này
GV giải thích kn sử thi , lãng mạn
GV dựa vào SGK, phân tích để làm rõ đặc điểm này
(2) Vài nét khái quát văn học Việt Nam từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX
Trang 4a) Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hoá
- Với chiến thắng mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc ta lại mở ra một thời kìmới - thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước Tuy nhiên, từ năm 1975 đếnnăm 1985, đất nước ta lại gặp những khó khăn, thử thách mới
- Từ năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản đề xướng và lãnh đạo,kinh tế nước ta cũng từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hoánước ta có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều nước trên thế giới Văn họcdịch, báo chí và các phương tiện truyền thông khác phát triển mạnh mẽ Đấtnước bước vào công cuộc đổi mới, thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phùhợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triểnkhách quan của nền văn học
b) Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu
- Từ sau năm 1975, thơ không tạo được sự lôi cuốn hấp dẫn như ở giai đoạntrước Tuy nhiên, vẫn có những tác phẩm ít nhiều tạo được sự chú ý của ngườiđọc Chế Lan Viên từ lâu vẫn âm thầm đổi mới thơ ca, được thể hiện qua các tập
Di cảo thơ Những cây bút thuộc thế hệ chống Mĩ cứu nước vẫn tiếp tục sáng tác, sung sức hơn cả là Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo,
Nguyễn Đức Mậu
Hiện tượng nở rộ trường ca sau năm 1975 là một trong những thành tựu nổi bật
của thơ ca giai đoạn này (Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo) Một số tập thơ có giá trị khi ra đời ít nhiều tạo được sự chú ý như: Tự hát của Xuân Quỳnh, Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhị, Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, ánh trăng của Nguyễn Duy, Xúc xắc mùa thu của Hoàng Nhuận Cầm, Nhà thơ và hoa cỏ của Trần Nhuận Minh, Gọi nhau qua vách núi của Thi Hoàng, Những cây bút thơ thuộc thế hệ sau năm 1975
xuất hiện rất nhiều, đang từng bước tự khẳng định mình Tiêu biểu là Phùng
Khắc Bắc với tập Một chấm xanh, Y Phương với tập Tiếng hát tháng giêng, Nguyễn Quang Thiều với tập Sự mất ngủ của lửa, Trần Anh Thái với tập Đố bóng xuống mặt trời.
- Từ sau năm 1975, văn xuôi có nhiều khởi sắc hơn thơ ca: Một số cây bút đãbộc lộ ý thức muốn đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời
sống như Nguyễn Trọng Oánh với Đất trắng (1979), Thái Bá Lợi với Hai người trở lại trung đoàn (1979) Từ đầu những năm tám mươi, văn xuôi tạo được sự chú ý của người đọc với những tác phẩm như Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn, Cha và con và , Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, Mưa mùa
hạ, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, những tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê của
Nguyễn Minh.Châu, Từ năm 1986, văn học chính thức bước vào chặng đườngđổi mới Văn học gắn bó hơn, cập nhật hơn những vấn đề của đời sống hằngngày Những sự xuất hiện, đề cập tới những vấn đề bức xúc của đời sống Văn
xuôi thực sự khởi sắc với các tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp; tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh; bút kí Ai đã đặt tên cho dòng
Trang 5sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường hồi kí Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô
Hoài,
Từ sau năm 1975, kịch nói phát triển mạnh mẽ Những vở kịch như Nhân danh công lí của Doãn Hoàng Giang, Hồn Trường Ba, da hàng thịt của Lưu Quang
Vũ, Mùa hè ở biển của Xuân Trình, là những vở tạo được sự chú ý.
Như vậy, từ năm 1975 và nhất là từ năm 1986, văn học Việt Nam từng bước
chuyển sang giai đoạn đổi mới Văn học vận động theo hướng dân chủ hoá, mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc Văn học phát triển đa dạng hơn về đề
tài, chủ đề; phong phú và mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật; cá tính sáng tạocủa nhà văn được phát huy Văn học đã khám phá con người trong những mốiquan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đờisống, kể cả đời sống tâm linh Cái mới của văn học giai đoạn này là tính chấthướng nội, đi vào hành trình tìm kiếm bên trong quan tâm nhiều hơn tới số phận
cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thường: Tuy nhiên, bên cạnhnhững mặt tích cực và những tìm tòi đúng hướng cũng nảy sinh những khuynhhướng tiêu cực, những biểu hiện quá đà, thiếu lành mạnh Văn học có xu hướngnói nhiều tới mặt trái của xã hội, ít nhiều có khuynh hướng bạo lực
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1 Kiểm tra, đánh giá
GV kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp nhận bài của HS theo các câu hỏi:
- Các chặng đường phát triển của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
(thành tựu chủ yếu của các thể loại)?
- Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nang từ năm l945 đến năm 1975?Làm rõ các đặc điểm đó qua từng thể loại
- Một số thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ năm 1975, đến hết thế kỉXX?
2 Gợi ý giải bài tập.
Câu nói của Nguyễn Đình Thi đề cập tới mối quan hệ giữa văn nghệ và khángchiến Một mặt, văn nghệ phụng sự kháng chiến - đó là mục đích của nền vănnghệ mới trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh Mặt khác, chính hiện thựccách mạng và kháng chiến đã đem đến cho văn nghệ một sức sống mới, tạo nênnguồn cảm hứng sáng tạo mới cho văn nghệ
Trang 6
Nghị luận xã hội là loại văn bản có ý nghĩa nhật dụng cao Về nội dung, nghị
luận xã hội thường bàn đến các đề tài: một vấn đề chính trị; một tư tưởng, đạo lí; một hiện tượng đời sống Với HS phổ thông, đề tài nghị luận về một tư tưởng,
đạo lí thường là: quan điểm về đạo đức, thế giới quan nhân sinh quan của conngười; về văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phương pháp tư tưởng
2 Trọng tâm bài học
Cách làm một bài nghị luận xã hội bàn về một tư tưởng, đạo lí
II - PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Phương pháp dạy học
chủ yếu dùng phương pháp đàm thoại để giúp HS giải quyết yêu cầu của đề bàitrong SGK, từ đó củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận về tưtưởng, đạo lí
2 Tiến trình tổ chức dạy học
Bước 1: Hướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu luyện tập để biết cách làm bài
nghị luận về một tưởng, đạo lí
GV có thể dựa vào đề bài và những câu hỏi gợi ý trong SGK để hướng dẫn HShọc tập Chỉ yêu cầu HS nêu khái quát, ngắn gọn, theo hướng sau:
a) Tìm hiểu đề
- Câu thơ của Tố Hữu viết dưới dạng câu hỏi, nêu lên vấn đề sống đẹp trong đờisống của mỗi người Đây là vấn đề cơ bản mà mỗi người muốn xứng đáng làcon người cần nhận thức đúng và rèn luyện tích cực
- Để sống đẹp, mỗi người cần xác định: lí tưởng (mục đích) đúng đắn, cao đẹp; tâm hồn, tình cảm lành mạnh nhân hậu; trí tuệ (kiến thức) mỗi ngày thêm mở rộng; hành động tích cực, lương thiện Với thanh niên, HS, muốn trở thành người sống đẹp, cần thường xuyên học tập và rèn luyện để từng bước hoàn thiện
Trang 7những tấm gương người tốt, bàn cách thức rèn luyện để sống đẹp, phê phán lốisống ích kí, vô trách nhiệm, thiếu ý chí, nghị lực, ).
- Dẫn chứng: chủ yếu dùng tư liệu thực tế, có thể lấy dẫn chứng trong thơ vănnhưng không cần nhiều (tránh lạc sang nghị luận văn học)
b) Lập dàn ý
GV hướng dẫn HS lập dàn ý theo gợi ý trong SGK
Bước 2: Hướng dẫn HS sơ kết, nêu hiểu biết về nghị luận xã hội nói chung, cách
làm bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng (mục 2 của SGK)
Gợi ý trả lời câu hỏi trong SGK:
- Đề tài nghị luận về tư tưởng, đạo lí vô cùng phong phú, bao gồm các vấn đề vềnhận thức (lí tưởng, mục đích sống); về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòngnhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng; tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù,thái độ hoà nhã, khiêm tốn; thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi, ); về các quan hệ giađình (tình mẫu tử ,tình anh em, ), quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò,tình bạn, ) và về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộcsống,…
- Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là: giảithích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận
Bước 3: GV hướng dẫn HS phần Ghi nhớ.
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1 Kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình tổ chức bài học, GV có thể giúp HS vừa hình thành vừa tự kiểmtra tri thức, kĩ năng
2 Gợi ý giải bài tập.
Bài tập 1
a) Vấn đề mà Gi Nê-ru bàn luận là phẩm chất văn hoá trong nhân cách của mỗicon người Căn cứ vào nội dung cơ bản và một số từ ngữ then chốt, ta có thể đặttên cho văn bản ấy là: “Thế nào là con người có văn hoá?” “Một trí tuệ có vănhoá”, hoặc “Một cách sống khôn ngoan”,
b) Để nghị luận, tác giả đã sử dụng các thao tác lập luận: giải thích (đoạn l: Văn hoá, đó có phải là sự phát triển nội tại Văn hoá nghĩa là ); phân tích (đoạn 2: Một trí tuệ có văn hoá ); bình luận (đoạn 3: Đến đây, tôi sẽ để các bạn ).
c) Cách diễn đạt trong văn bản trên khá sinh động Trong phần giải thích, tác giảđưa ra nhiều câu hỏi rồi tự trả lời câu nọ nối câu kia, nhằm lôi cuốn người đọcsuy nghĩ theo gợi ý của mình Trong phần phân tích và bình luận, tác giả trực
tiếp đối thoại với người đọc (tôi sẽ để các bạn quyết định lấy Chúng ta tiến bộ nhờ Chúng ta bị tràn ngập Trong tương lai sắp tới, liệu chúng ta có thể ),
tạo quan hệ gần gũi, thân mật, thẳng thắn giữa người viết (thủ tướng một quốcgia) với người đọc (nhất là thanh niên) Ở phần cuối, tác giả viện dẫn đoạn thơcủa một nhà thơ Hi Lạp vừa tóm lược các luận điểm nói trên, vừa gây ấn tượngnhẹ nhàng, dễ nhớ và hấp dẫn
Bài tập 2
SGK đã nêu những gợi ý cụ thể GV nhắc HS làm bài ở nhà (lập dàn ý hoặc viếtbài), rồi kiểm tra, chấm điểm để động viên, nhất là những HS chăm chỉ, tự giáchọc tập
Trang 8Tuần Tiết
- Vận dụng được những kiến thức nói trên vào việc cảm thụ và phân tích văn thơcủa Người
- Hồ Chí Minh là một tác gia quan trọng trong chương trình Ngữ văn THCS vàTHPT Nhiều tác phẩm của Hồ Chí Minh, HS đã được học ở THCS Vì vậy, khidạy bài này, GV cần phát huy kiến thức đã học và đã đọc của HS về văn thơ củaNgười
2 Tiến trình tổ chức dạy học
GV hướng dẫn HS bám sát bài viết trong SGK Tiến trình bài giảng cũng theosát các mục trong văn bản đó
a) Về tiểu sử Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Dựa vào SGK, GV hướng dẫn HS nắm vững những nét chính về tiểu sử củaNguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Nhấn mạnh để HS hiểu sâu sắc: Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Hồ ChíMinh còn để lại một di sản văn học quý giá Hồ Chí Minh là nhà văn, nhà thơlớn của dân tộc
b) Về quan điểm sáng tác
Trang 9Dựa vào SGK, GV nhấn mạnh những điểm sau trong quan điểm sáng tác vănhọc nghệ thuật của Hồ Chí Minh:
Hồ Chí Minh coi văn nghệ là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sựnghiệp cách mạng Quan điểm này thể hiện rõ trong hai câu thơ: “Nay ở trong
thơ nên có thép - Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (“Cảm tưởng đọc Thiên gia thi”) Về sau, trong Thư gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951, Người lại khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
- Hồ Chí Minh luôn coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn chương.Tính chân thật được coi là một thước đo giá trị của văn chương nghệ thuật.Người nhắc nhở người nghệ sĩ nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc và đề cao sựsáng tạo, chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo
Khi cầm bút, Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận đểquyết định nội dung và hình thức của tác phẩm Người luôn đặt câu hỏi: Viếtcho ai? (đối tượng), (viết để làm gì? (mục đích); sau đó mới quyết định Viết cáigì? (nội dung) và Viết thế nào? (hình thức) Tuỳ từng trường hợp cụ thể, Người
đã vận dụng phương châm đó theo những cách khác nhau Vì thế, những tácphẩm của Người chẳng những có tư tưởng sâu sắc, nội dung thiết thực mà còn
có hình thức nghệ thuật sinh động, đa dạng
Quan điểm sáng tác nói trên của Hồ Chí Minh cũng giải thích vì sao trong trướctác của người có những bài văn, bài thơ lời lẽ nôm na, giản dị, dễ hiểu nhưngbên cạnh đó lại có những tác phẩm đạt tới trình độ nghệ thuật cao, phong cáchđộc đáo
kẻ thù, thức tỉnh và giác ngộ quần chúng hoặc thể hiện những nhiệm vụ cáchmạng của dân tộc qua những chặng đường lịch sử Trong những thập niên đầuthế kỉ XX, bút danh Nguyễn ái Quốc, Nguyễn, Nguyễn A.Q, Ng A.Q, Ng ÁiQuốc, N.A.Q., N, xuất hiện thường xuyên trên các tờ báo Người cùng khổ (LeParia), Nhân đạo (L’humanite), Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière), Người
đã viết hàng loạt những bài báo sắc sảo lên án tội ác của thực dân Pháp cùngchính sách tàn bạo của chính phủ Pháp đối với các nước thuộc địa, kêu gọinhững người nô lệ, bị áp bức liên hiệp lại, đoàn kết đấu tranh
- Tiêu biểu nhất cho văn chính luận của Người ở giai đoạn này là Bản án chế độthực dân Pháp, xuất bản lần đầu ở Pa-ri năm 1925 Cuốn sách đã tố cáo mộtcách đanh thép tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa: épbuộc hàng vạn người dân bản xứ đổ máu vì mẫu quốc trong Chiến tranh thế giớithứ nhất; bóc lột và đầu độc họ bằng sưu thuế, rượu và thuốc phiện; tổ chức một
bộ máy cai trị bất chấp công lí và nhân quyền, chà đạp và lăng nhục nhữngngười dân vô tội một cách man rợ Tác phẩm lay động tâm tư người đọc khôngchỉ ở những sự việc được mô tả chân thực, ở những bằng chứng không thể chối
Trang 10cãi mà còn ở thái độ, tình cảm sâu sắc, mãnh liệt của tác giả và nghệ thuật châmbiếm, đả kích sắc sảo, giàu chất trí tuệ.
Tác phẩm tiêu biểu cho văn chính luận của Hồ Chí Minh còn là bản Tuyên ngônĐộc lập (l945) Đó là một văn kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đồngthời là một áng văn chính luận mẫu mực: bố cục ngắn gọn, súc tích; lập luậnchặt chẽ; lí lẽ đanh thép; bằng chứng xác thực; ngôn ngữ hùng hồn, giàu tínhbiểu cảm
Tuyên ngôn Độc lập còn là áng văn thể hiện những tình cảm cao đẹp của Ngườiđối với dân tộc, nhân dân và nhân loại Tiếp sau Tuyên ngôn Độc lập là những
áng văn chính luận nổi tiếng như Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập, tự do (l966) Đó là những văn kiện quan trọng
được viết trong những giờ phút thử thách đặc biệt của dân tộc, thể hiện sâu sắctiếng gọi thiêng liêng của non sông đất nước, văn phong vừa hào sảng, vừa thathiết làm rung động trái tim hàng triệu người Việt Nam yêu nước Những ángvăn chính luận tiêu biểu của Hồ Chí Minh cho thấy tác giả viết không chỉ bằng lítrí sáng suốt, trí tuệ sắc sảo mà còn bằng cả tấm lòng yêu, ghét sâu sắc, mãnhliệt nồng nàn
● Truyện và kí
? Cho biết những tác phẩm của HCM mà em được biết?
- Trong thời gian hoạt động ở Pháp, ngoài những tác phẩm chính luận, Nguyễn
Ái Quốc còn sáng tác một số truyện ngắn, kí, tiểu phẩm, sau này được tập hợplại trong tập Truyện và kí Đó là những truyện viết bằng tiếng Pháp, đăng báo ở
Pa-ri như Pa-ris (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (l922), Đồng tâm nhất trí (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Những tập truyện này, một mặt
hướng vào việc vạch trần bộ mặt tàn ác, xảo trá, bịp bợm của chính quyền thựcdân, châm biếm một cách thâm thuý, sâu cay vua quan phong kiến ôm chân thựcdân xâm lược; mặt khác, bộc lộ nồng nàn lòng yêu nước và tinh thần tự hào vềtruyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam Các tác phẩm trong Truyện và kíđều ngắn gọn, súc tích, vừa thấm nhuần tư tưởng, tình cảm của thời đại, vừa thểhiện một bút pháp mới, mang màu sắc hiện đại trong lối viết nhẹ nhàng mà đầytính trào lộng của văn thông tấn Ngoài tập Truyện và kí nói trên, Người còn viết
một số tác phẩm khác như Nhật kí chìm tàu (l931), Vừa đi đường vừa kể chuyện
(l963),
- Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định tài năng viết truyện ngắn của Nguyễn ÁiQuốc Hà Minh Đức nhận xét: “Chất trí tuệ và tính hiện đại là những nét đặc sắccủa truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc” Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng ngòi bút châmbiếm của Nguyễn ái Quốc “vừa sâu sắc, đầy tính chiến đấu, vừa tươi tắn, hómhỉnh”
● Thơ ca
? nêu những bài thơ của HCM mà em biết?
Trang 11Thơ ca Hồ Chí Minh được in trong các tập Nhật kí trong tù (viết năm 1942
-1943, xuất bản năm 1960),Thơ Hồ Chí Minh (1967) và Thơ Chữ Hán Hồ Chí Minh (1990).
- Nhật kí trong tù (Ngục trung nhật kí) - một tập nhật kí bằng thơ được viết trong
thời gian Người bị giam cầm trong nhà tù Quốc dân đảng tại Quảng Tây, TrungQuốc từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu năm 1943 Tác giả đã ghi chép nhữngđiếu mắt thấy, tai nghe trong nhà tù và trên đường đi đày, từ nhà lao này đến nhàlao khác Bởi thế, tác phẩm đã tái hiện một cách chân thực, chi tiết bộ mặt tànbạo của nhà tù Quốc dân đảng và một phần hình ảnh xã hội Trung Quốc nhữngnăm 1942 - 1943 Vì thế, tác phẩm mang giá trị phê phán sắc sảo, thâm thuý.Tuy nhiên, Nhật kí trong tù chủ yếu ghi tâm trạng, cảm xúc và suy nghĩ của tácgiả, phản ánh tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sỹ cách mạng tronghoàn cảnh thử thách nặng nề của chốn lao tù Nhờ vậy, qua tập thơ, ta có thểnhận ra bức chân dung tự hoạ của Hồ Chi Minh Đó là một con người nghị lựcphi thường; tâm hồn luôn khao khát tự do, hướng về Tổ quốc; vừa nhạy cảmtrước vẻ đẹp của thiên nhiên, dễ xúc động trước nỗi đau của con người, vừa cócon mắt sắc sảo, tinh tường phát hiện những mâu thuẫn hài hước của một xã hộimục nát để tạo ra tiếng cười đầy trí tuệ
Nhật kí trong tù là một tập thơ sâu sắc về tư tưởng, độc đáo mà đa dạng về bút
pháp, kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật thơ ca của Hồ Chí Minh
Ngoài Nhật kí trong tù còn phải kể đến một số chùm thơ Người sáng tác ở ViệtBắc từ năm 1941 đến năm 1945 và trong thời kì kháng chiến chống thực dânPháp Trong số đó, phần lớn là những bài được viết nhằm mục đích tuyên truyền
như Dân cày, Công nhân, Ca binh lính, Ca sợi chỉ, Những bài thơ viết theo cảm hứng nghệ thuật như Pác Bó hùng vĩ, Tức cảnh Pác Bó (viết trước Cách mạng); Đăng sơn, Đối nguyệt, Nguyên tiêu, Thu dạ, Báo tiệp, Cảnh khuya,
(viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp) vừa mang màu sắc cổ điển, vừamang tinh thần hiện đại Nổi lên trong thơ Người là hình ảnh nhân vật trữ tìnhtâm hồn luôn trĩu nặng “nỗi nước nhà” mà cốt cách, phong thái vẫn điềm tĩnh,ung dung, tự tại
d) Phong cách nghệ thuật
? giải thích khái niệm phong cách
● Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh độc đáo mà đa dạng
- Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh trước hết bắt nguồn từ truyền thống giađình, môi trường văn hoá và hoàn cảnh sống, hoạt động cách mạng cùng cá tínhcủa Người Ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được sống trong không khí của vănchương cổ điển Việt Nam và Trung Quốc, của thơ Đường, thơ Tống, Trongthời gian hoạt động cách mạng ớ nước ngoài, nhiều năm Người sống ở Pa-ri,Luân Đôn, Oa-sinh-tơn, Ca-li-phoóc-ni-a, Hồng-kông, tiếp xúc và chịu ảnhhưởng về tư tưởng cũng như nghệ thuật của nhiều nhà văn Âu, Mĩ và nền vănhọc nghệ thuật phương Tây hiện đại Những điều đó đã trực tiếp hoặc gián tiếptác động tới việc hình thành phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh
- Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh còn được hình thành do quan điểm củaNgười về sáng tác văn học Khi cầm bút, Người thường đặt những câu hỏi: Viết
Trang 12cho ai?, Viết để làm gì?; Sau đó mới quyết định Viết cái gì? và Viết thế nào?.Hiểu được quan điểm sáng tác đó mới có thể lí giải được đặc điểm đa dạng,nhiều sắc thái của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh: vì sao những truyện, kísáng tác vào đầu những năm hai mươi của thế kí trước lại viết bằng tiếng Pháp
với một bút pháp rất hiện đại của phương Tây; vì sao bản Tuyên ngôn Độc lập
lại có bố cục ngắn gọn, lập luận chặt chẽ và được mở đầu bằng việc trích những
lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kì và bản Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền của Cộng hoà Pháp , vì sao những bài
Ca dân cày, Ca du kích lại có lời lẽ giản đi, mộc mạc, dễ nhớ, dễ thuộc đến thế;
vì sao những bài thơ chữ Hán của Người lại hàm súc, đậm đà màu sắc cổ điểnnhư vậy,
● Nhìn chung, ở mỗi thể loại văn học, từ văn chính luận, truyện, kí đến thơ ca,
Hồ Chí Minh đều tạo được những nét phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn
- Văn chính luận của Hồ Chí Minh thường ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luậnchặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy sức thuyết phục, giàu tính luận chiến
và đa dạng về bút pháp GV có thể phân tích các tác phẩm tiêu biểu như Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến để làm rõ phong cách chính
luận của Người
- Truyện và kí của Nguyễn Ái Quốc nhìn chung rất hiện đại, thể hiện tính chiếnđấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng vừa sắc bén, thân thuý của phươngĐông, vừa hài hước, hóm hỉnh giàu chất uy-mua (humour) của phương Tây GV
có thể phân tích các truyện tiêu biểu như Lời than vãn của Bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, để làm rõ những nét
phong cách nói trên của truyện và kí của nguyễn Ái Quốc Khi phân tích, cầnchú ý chỉ ra những đóng góp riêng của Nguyễn ái Quốc ở các phương diện: mộttrí tưởng tượng phong phú, những sáng tạo độc đáo về tình huống truyện, sự kếthợp hài hoà văn hoá phương Đông và phương Tây trong nghệ thuật trào phúng,giọng điệu và lời văn linh hoạt, hấp dẫn,
- Thơ ca là thể loại thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh
+ Những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền cách mạng như Ca dân cày, Ca công nhân, Ca binh lính, lời lẽ thường giản dị, mộc mạc, mang màu sắc dân
gian hiện đại vừa dễ nhớ, dễ thuộc, vừa có sức tác động trực tiếp vào tình cảmngười đọc, người nghe:
Thân người chẳng khác thân trâu Cái phần no ấm có đâu đến mình.
(Ca dân cày)
Mẹ tôi là một đoá hoa Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.
(Ca sợi chỉ)
+ Những bài thơ nghệ thuật của Người là nhưng bài được viết theo hình thức cổthi hàm súc có sự hoà hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại,giữa chất trữ tình và tính chiến đấu GV có thể phân tích những bài thơ như
Chiều tối Giải đi sớm, Ngắm trăng, Rằm tháng giêng, Cảnh khuya, để làm rõ
những nét phong cách nói trên
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
Trang 131 Kiểm tra, đánh giá
Chủ yếu kiểm tra mức độ nắm bắt của HS về quan điểm sáng tác, phong cáchnghệ thuật của Hồ Chí Minh và khả năng vận dụng những tri thức đó để phântích những tác phẩm văn học của Người
2 Gợi ý giải bài tập.
Bài tập 1
Bài tập yêu cầu phân tích hai bài thơ Chiều tối và Giải đi sớm để làm rõ sự hoà
hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại của thơ Hồ Chí Minh
GV tìm những biểu hiện của các yếu tố nói trên trong hai bài thơ Chiều tối và Giải đi sớm Thao tác khảo sát cần thiết là dựa vào một số phương tiện thuộc về
thể loại như về thi đề, thi liệu, bút pháp, ngôn ngữ, Chẳng hạn:
- Bút pháp cổ điển: đó là một thế giới thơ đầy thiên nhiên Thiên nhiên đượcnhìn từ xa, được khắc hoạ bằng những nét chấm phá, không nhằm ghi lại hìnhxác mà chỉ cốt truyện được linh hồn của tạo vật Màu sắc cổ điển còn được thểhiện ở phong thái ung dung của nhân vật trữ tình
- Tuy nhiên, nhìn ở phương diện khác, cả hai bài thơ Chiều tối và Giải đi sớm
đều thể hiện rõ bút pháp hiện đại, tinh thần hiện đại Thiên nhiên trong hai bàithơ không tĩnh lặng mà vận động một cách khoẻ khoắn, hướng tới sự sống, ánhsáng và tương lai Nhân vật trữ tình cũng thế, không phải là ẩn sĩ mà là chiến sĩ,luôn luôn ở trong tư thế làm chủ hoàn cảnh, không bị chìm đi mà nổi bật hẳn lêngiữa bức tranh thiên nhiên,
Hai bài thơ trên còn thể hiện rất rõ sự hoà hợp giữa chất “thép” và chất “tình”,giữa tư cách chiến sĩ và thi sĩ
Bài tập 2
Qua tập thơ Nhật kí trong tù, người đọc có thể thấy nhiều bài học thấm thía vàsâu sắc GV hướng dẫn cho HS chỉ ra những bài học sâu sắc nhất, tuỳ theo hoàncảnh riêng của mỗi HS
Làm ở nhà
Tuần Tiết tháng
GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT
A - MỤC TIÊU BÀI HỌC
Giúp HS
- Nhận thức được sự trong sáng là một trong những phẩm chất của tiếng Việt, làkết quả phấn đấu lâu dài của ông cha ta, phẩm chất đó được biểu hiện ở nhiềuphương diện khác nhau trong cơ cấu của tiếng việt
- Có ý thức giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt, quý trọng di sảncủa cha ông, có thói quen rèn luyện các kĩ năng nói và viết nhằm đạt được sựtrong sáng, đồng thời biết phê phán và khắc phục những hiện tượng làm vẩn dụctiếng việt
Trang 14- Cần phối hợp giữa các nhận định lí thuyết với việc phân tích các ví dụ trongthực tế và làm các bài tập thực hành.
2 Trọng tâm bài học
Đây là bài dạy trong hai tiết:
Ở tiết l cần phân tích để HS hiểu nội dung vấn đề sự trong sáng của tiếng Việt.
Đây là khái niệm có tính chất trừu tượng, không dễ nắm bắt Đối với HS THPT,nên thông qua những hiện tượng cụ thể trong việc sử dụng ngôn ngữ để giúp HSphân biệt thế nào là trong sáng và thế nào là không trong sáng Trong SGK cónêu một số ví dụ cả dùng đúng và dùng sai Về ba phương diện cơ bản của sựtrong sáng trong tiếng việt:
- Tính chuẩn mực, có quy tắc
- Sự không lai căng lạm dụng ngôn ngữ khác
- Phẩm chất văn hoá, lịch sự của lời nói
GV có thể dẫn thêm các ví dụ khác, tốt nhất là lấy từ thực tế sử dụng ngôn ngữcủa HS để các em dễ nhận thức
Tiết 2 có nội dung về trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với việc giữ gìn sự trongsáng của tiếng Việt GV cần khẳng định để HS thấy rõ sự trong sáng là mộtphẩm chất của tiếng Việt, nhưng nếu mỗi cá nhân không có ý thức, không cótrách nhiệm và thói quen rèn luyện thì không giữ gìn và phát huy được sự trongsáng đó SGK trình bày trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ở baphương diện:
- Cần có tình cảm yêu mến và ý thức quý trọng tiếng Việt
- Cần có những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt thông qua kinh nghiệm thực tế,hoặc từ sự trau dồi, học hỏi qua giao tiếp, qua sách vở, nhà trường,
- Cần sử dụng tiếng Việt theo đúng các chuẩn mực và quy tắc của nó, tránh lạmdụng ngôn ngữ khác; cần nâng cao phẩm chất văn hoá trong giao tiếp ngôn ngữ.Trong bài học còn có hoạt động luyện tập thực hành thông qua việc làm các bàitập Ngoài ra, GV có thể cho HS tìm hiểu về khái niệm sự trong sáng của tiếngViệt thông qua các bài đọc thêm (các đoạn trích, ý kiến của một số tác giả)
II - PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Phương pháp dạy học
Khi GV hướng dẫn cho HS xác định nội dung sự trong sáng của tiếng Việt vànhững biểu hiện của sự trong sáng, nên xuất phát từ những ngữ liệu thực tế.Ngoài các ngữ liệu trong SGK, GV có thể tham khảo thêm các tài liệu khác vềviệc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Từ các ngữ liệu đó dẫn đến nội dungviệc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt HS thảo luận, nhận xét, GV hướng dẫn
và tổng kết thành nội dung của phần Ghi nhớ.
Trang 152 Tiến trình tổ chức dạy học
Bài học được tổ chức thành hai bước (ở cả hai tiết):
Bước 1: Tìm hiểu những nội dung lí thuyết Khi đi vào những vấn đề lí thuyết,
cần luôn luôn phối hợp giữa nhận định lí thuyết và phân tích ngữ liệu thực tế.Việc phân tích ngữ liệu cần chỉ ra cái đúng, cái sai, cái trong sáng và khôngtrong sáng về nội dung và hình thức (như ở một số ví dụ trong SGK đã làm)
Bước 2: Thực hành luyện tập Các bài tập có yêu cầu phân tích, nhận diện hoặc
sửa chữa, tạo lập nhưng đều hướng đến vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếngviệt
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1 Kiểm tra, đánh giá
Cho HS lần lượt giải các bài tập trong SGK Đánh giá nhận thức và kĩ năng của
HS thông qua việc làm các bài tập đó
2 Gợi ý giải bài tập.
TIẾT 1
Bài tập 1
Bài tập yêu cầu phân tích tính chuẩn xác trong việc sử dụng từ ngữ của Nguyễn
Du và Hoài Thanh Tính chuẩn xác là một biểu hiện về sự trong sáng của ngônngữ Muốn thấy được tính chuẩn xác, cần đặt các từ trong mục đích chỉ ra những
nét tiêu biểu trong diện mạo hoặc tính cách các nhân vật trong Truyện Kiều,
đồng thời so sánh đối chiếu với các từ gần nghĩa, đồng nghĩa cũng biểu hiện tínhcách đó mà hai nhà văn đã không dùng Các từ ngữ nói về các nhân vật mà hainhà văn đã sử dụng:
- Kim Trọng: rất mực chung tình
- Thuý Vân: cô em gái ngoan
Hoạn Thư: người đàn bà bản lĩnh khác thường, biết điều mà cay nghiệt
Thúc Sinh: sợ vợ
- Từ Hải: chợt hiện ra, chợt biến đi như một vì sao lạ
- Tú Bà: màu da “nhờn nhợt”
Mã Giám Sinh: “mày râu nhẵn nhụi”
- Sở Khanh: chải chuốt dịu dàng
- Bạc Bà, Bạc Hạnh: miệng thề “xoen xoét”.
Đối với mỗi từ ngữ dùng cho mỗi nhân vật, GV nên gợi ý để HS nhớ lại những
chi tiết tiêu biểu trong Truyện Kiều gắn vời từng nhân vật Từ đó, thấy được độ
chuẩn xác của việc dùng các từ ngữ đó Chẳng hạn, đối với Kim Trọng, việcdùng cụm từ rất mực chung tình là rất chính xác Kim Trọng yêu say đắm ThuýKiều, nhưng vì tai hoạ giáng xuống gia đình Thuý Kiều nên mối tình của họkhông được toại nguyện Mặc dù được thay thế bằng mối tình của Thuý Vân,nhưng Kim Trọng vẫn không lúc nào nguôi tình cảm với Thuý Kiều Kim Trọng
đã bằng mọi cách để tìm tung tích Thuý Kiều và cuối cùng đã tìm được nàng bịlưu lạc ở phương xa Tìm được Thuý Kiều, tình cảm của Kim Trọng vẫn đằmthắm như xưa, nghĩa là vẫn rất mực chung tình
Bài tập 2
Trang 16Đoạn văn đã bị lược bỏ một số dấu câu, do đó, lời văn không gãy gọn, ý khôngđược sáng rõ Muốn đạt được sự trong sáng, cần khôi phục lại những dấu câucần thiết vào các vi trí thích hợp như sau:
Tôi có lấy ví dụ về một dòng sông Dòng sông vừa trôi chảy, vừa phải tiếp nhận
dọc đường đi của mình những dòng nước khác Dòng ngôn ngữ cũng vậy một mặt nó phải giữ bản sắc cố hữu của dân tộc, nhưng nó không được phép gạt bỏ, từ chối những gì mà thời đại đem lại.
Thay cho hai dấu gạch ngang câu 2 là hai dấu ngoặc đơn
Thay cho dấu gạch ngang câu 3 là dấu hai chấm
Bài lập 3
Từ Microsoft là tên một công ti nên cần dùng Từ file cần thay bằng từ tiếng việt
là tiệp tin Từ hacker nên chuyển dịch là ké đột nhập trái phép cho dễ hiểu Còn
từ cocoruder là danh từ tự xưng nên có thể giữ nguyên Như vậy, trong câu này
có hai từ nước ngoài (file, hacker) nên thay bằng từ tiếng việt hoặc dịch nghĩa ra tiếng Việt Nam
TIẾT 2
Bài tập 1
Các câu b, c, d là những câu trong sáng, câu a không trong sáng ở câu a, có sự lẫn lộn giữa trạng ngữ (Muốn xoá bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn) với chủ ngữ của động từ đòi hỏi, trong khi đó, các câu b, c, d thể hiện rõ các
thành phần ngữ pháp và các quan hệ ý nghĩa trong câu
Bài lập 2
Trong lời quảng cáo dùng tới ba hình thức biểu hiện cùng một nội dung: ngày lễ Tình nhân, ngày Valentin, ngày Tình yêu Tiếng Việt có hình thức biểu hiện thoả đáng là ngày tình yêu (vừa có ý nghĩa cơ bản tương ứng với từ Valentin, vừa có
sắc thái biểu cảm ý nhị, dễ cảm nhận và lĩnh hội đối vời người Việt Nam), do đókhông cần và không nên sử dụng hình thức biểu hiện của tiếng nước ngoài là
Valentin Còn hình thức biểu hiện ngày lễ tình nhân thì thiên nói về con người, trong khi hình thức ngày tình yêu biểu hiện được ý nghĩa cao đẹp là tình cảm
của con người
VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 1
A - MỤC TIÊU BÀI HỌC
Giúp HS
Vận dụng kiến thức và kĩ năng về văn nghị luận đã học, viết được bàn nghị luận
xã hội bàn về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
- Tiếp tục rèn luyện các kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý và các thao tác lập luậntrong bài nghị luận xã hội như giải thích, phân tích, bác bỏ, so sánh, bình luận,
Trang 17- Nâng cao nhận thức về lí tưởng, cách sống của bản thân trong học tập và rènluyện.
có điều kiện tích luỹ kiến thức, sưu tầm tư liệu nhưng cũng rất dễ xảy ra tìnhtrạng HS sao chép tài liệu một cách máy móc GV nên nhắc các em tự giác làmbài, nhằm phản ánh trung thực kiến thức và kĩ năng của bản thân Đồng thời,
GV nên chú ý điều tra, tìm hiểu trình độ HS để chọn đề trong SGK hoặc soạn đềkhác cho sát vời trình độ HS lớp mình dạy
2 Trọng tâm bài học
Hướng dẫn HS chuẩn bị và tổ chức cho HS làm bài nghiêm túc
II - PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Phương pháp dạy học
GV có thể chọn đề trong SGK hoặc ra đề mới cho phù hợp trình độ HS Đề tàinghị luận nên tập trung và những quan niệm về đạo lí, những vấn đề tư tưởngphổ biến trong HS như: ước mơ, quan hệ gia đình, bạn bè, lối sống,
Bình luận ý kiến của Sê-khốp) (nhà văn Nga): “Con người càng phát triển cao
về trí tuệ và đạo đức thì càng tự do và cuộc sống càng đem lại cho anh ta nhiều thích thú hơn”
Đề 2
“Sống đẹp” đâu phải là những từ trống rỗng Chỉ có ai bằng đấu tranh, lao động
Nhân lên vẻ đẹp cuộc đời Mới là người sống cuộc sống đẹp tươi.
(G Bê-khe)
Những vần thơ trên của G Bê-khe (thi hào Đức) gợi cho anh (cho những suy nghĩ gì về yêu cầu và sự phấn đấu trong cuộc sống của tuổi trẻ học đường hiện nay.
Đề 3
Suy nghĩ về mục đích và những biện pháp học tập, rèn luyện của bản thân mình trong năm học cuối cấp THPT
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1 Kiểm tra, đánh giá
Chủ yểu hướng vào việc nhắc HS tự giác và tích cực làm bài
2 Gợi ý giải bài tập.
Trang 18có thể gợi ý và hướng dẫn thêm cho những HS yếu kém để các em hoàn tất bàiviết
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
A - MỤC TIÊU BÀI HỌC
Giúp HS:
- Thấy được giá trị nhiều mặt và ý nghĩa to lớn và của bản Tuyên ngôn Độc lập.
- Hiểu vẻ đẹp của tư tưởng và tâm hồn tác giả qua bản Tuyên ngôn Độc lập.
- Biết cách tìm hiểu một văn bản chính luận qua việc phân tích lập luận, lí lẽ vàngôn từ của tác phẩm
và tiến bộ
Văn bản có những đặc điểm sau:
a) Giá trị lịch sử: Xét ở góc độ lịch sử, có thể coi Tuyên ngôn Độc lập là lời
tuyên bố của một dân tộc đã đứng lên tranh đấu xoá bỏ chế độ phong kiến, thựcdân, thoát khỏi thân phận thuộc địa để hoà nhập vào cộng đồng nhân loại với tưcách một nước độc lập, dân chủ và tự do
b) Giá trị tư tưởng: Xét trong mồi quan hệ với các trào lưu tư tưởng lớn của nhân loại ớ thế kỉ XX, có thể coi Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm kết tinh lí
tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự đo Cảhai phẩm chất này của tác phẩm cần phải được coi như một đóng góp riêng củatác giả và cũng là của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp,vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế
kỉ XX: Đây là lí do vì sao Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liênhợp quốc (UNESCO) lại tấn phong Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc
và tạp chí Time xếp Hồ Chí Minh là một trong số 100 nhân vật có tầm ảnh
hưởng lớn nhất trong thế kỉ XX
c) Giá trị nghệ thuật: Xét ở bình diện văn chương, Tuyên ngôn Độc lập là một
bài văn chính luận mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xácthực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn
2 Trọng tâm bài học
Trang 19Tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn, có kết cấu chặt chẽ và liềnmạch Vì vậy, cần phân tích toàn bộ văn bản Tuy nhiên, do thời lượng và đặcđiểm riêng trong tiếp nhận của HS THPT, GV cần giúp các em tiếp cận hệ thống
lập luận của bản Tuyên ngôn Độc lập theo những điểm chính sau đây:
- Phần đầu, nêu nguyên lí phổ quát.Đây cũng là luận điểm xuất phát, coi độc lập,
tự do, bình đẳng là những thành tựu lớn của tư tưởng nhân loại, đồng thời là lítướng hết sức cao đẹp của nhiều dân tộc
- Phần tiếp theo, triển khai luận điểm bằng thực tế lịch sử, chứng minh nguyên línói trên đã bi chà đạp và bị phản bội như thế nào qua những chiêu bài mang màusắc mị dân và lừa dối trong hơn 80 năm đô hộ tước ta của thực dân Pháp, đồngthời phản ánh những nỗ lực của Việt Minh và toàn dân Việt nam trong việc đấutranh chống lại ách thống trị của thực dân và phát xít để thoát khỏi thân phậnthuộc địa và nô lệ
- Phần cuối, luận điểm kết luận: Tuyên bố về quyền tự đo và độc lập, tên hiệumới của nước Việt Nam và ý chí giữ vững quyền độc lập, tự đo của dân tộc ViệtNam
Khi lên lớp, GV cần nhấn mạnh những nét chính trên của bản Tuyên ngôn Độc lập Từ sự phân tích cụ thể, GV cần khái quát và nhấn mạnh các giá trị to lớn của bản tuyên ngôn như đã nêu trong phần Đặc điểm bài học, giúp học sinh tự trang bị kiến thức và kĩ năng để vận dụng vào việc tìm hiểu và phân tích, đánh giá một tác phẩm chính luận.
II - PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Phương pháp dạy học
Nêu vấn đề, gợi mở, phát vấn, đàm thoại kết hợp với diễn giảng
Hoạt động song phương giữa GV và HS trong quá trình tiếp cận, tìm hiểu vànhận biết những phương diện đặc sắc của văn bản
2 Tiến trình tổ chức dạy học
a) Phần Tiểu dẫn
GV gọi một hoặc hai em tóm tắt những ý cơ bản trong phần Tiểu dẫn và giúp
các em chốt lại các ý chính sau đây:
- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn, tầm vóc tư tưởng
cao đẹp và một bài văn chính luận mẫu mực
- Tuyên ngôn Độc lập được công bố trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đã quy
định đối tượng hướng tới Nội dung, cách viết của tác giả nhằm đạt được hiệuquá cao nhất
b) Hướng dẫn học bài
Hướng dẫn HS cách đọc: đọc rõ ràng, nhấn mạnh các ý quan trọng; giọng đanhthép, phẫn nộ, đau xót khi tố cáo tội ác của thực dân Pháp, giọng tự hào, thathiết khi nói về nhân dân ta, giọng trang trọng, hùng hồn khi tuyên bố độc lập ởcuối bài
Gợi tìm hiểu văn bản theo các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài.
Câu 1
Bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lập:
+ Đoạn l (từ đầu đến không ai chối cãi được): Nêu nguyên lí chung của Tuyên ngôn Độc lập.
Trang 20+ Đoạn 2 (từ Thế mà đến từ tay Pháp): Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và
khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà
+ Đoạn 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độclập tự do của dân tộc Việt Nam
- Tìm hiểu lập luận của bản Tuyên ngôn Độc lập:
Thể tuyên ngôn thường có bố cục ba phần: mở đầu nêu nguyên lí chung, sau đóchứng minh cho nguyên lí đó và cuối cùng là phần tuyên ngôn Từ nhận thức
chung đó, hướng dẫn HS vận dụng vào Tuyên ngôn Độc lập để nhận diện hệ
thống lập luận cụ thể của văn bản
Yêu cầu cần đạt là xác định đúng ba phần của văn bản và nội dung của từngphần; trên cơ sở đó, phân tích rõ tính lôgíc chặt chẽ của hệ thống lập luận
+ Phần mở đầu nêu nguyên lí mang tính phổ quát: Tất cả mọi người và các dântộc đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầuhạnh phúc Đây cũng là luận diềm xuất phát, coi độc lập, tự đo, bình đẳng lànhững thành tựu lớn của tư tưởng nhân loại, đồng thời là lí tưởng theo đuổi hếtsức cao đẹp của nhiều dân tộc
+ Phần thứ hai: Qua thực tế lịch sử hơn 80 năm đô hộ nước ta của thực dânPháp, tác giả chứng minh nguyên lí trên đã bị bọn thực dân Pháp phản bội, chàđạp lên những thành tựu về tư tưởng và văn minh nhân loại như thế nào
+ Phần kết luận: Tuyên bố về quyền được hưởng tự do, độc lập của dân tộc
Câu 2
GV nêu vấn đề để HS tìm hiểu và thảo luận những nội dung sau:
- Nêu nguyên lí: quyền bình đẳng, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc củacon người và các dân tộc
- Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Hợp chủng quốc Hoa Kì và của Cộng hoàPháp nhằm vừa đề cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân đạo và củavăn minh nhân loại, vừa tạo tiền đề cho lập luận sẽ nêu mệnh đề tiếp theo
Từ quyền bình đẳng và tự do của con người mà suy rộng ra về quyền bình đẳng,
tự do của các dân tộc trên thế giới Đây là một cách vận dụng khéo léo và đầysáng tạo nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ trong lập luận Đúng như một nhànghiên cứu nước ngoài đã thừa nhận: Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh
là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dântộc Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết lấy vận mệnh của mình
Còn Giáo sư Uy-li-ơm Đuy-ki, tác giả cuốn sách Hồ Chí Minh - một cuộc đời
(Ho Chi Minh a life), khi trả lời phỏng vấn phóng viên BBC cũng nhận định:
“Theo tôi, ông Hồ Chí Minh đã rất thành công trong việc biến hai động lựctrong xã hội Việt Nam thời gian đó thành chính con người ông Tức là trongphong cách cá nhân của mình, ông Hồ Chí Minh đã thể hiện được ham muốncủa dân Việt Nam, muốn được có công lí, gồm cả công bằng xã hội và công lí
về chính trị, quyền được bên ngoài đối xử công bằng Và điều thứ hai ông thểhiện được là tạo ra một cuộc cách mạng với mục tiêu đem lại cuộc sống tốt hơncho người Việt Nam”
Trang 21Như thế, có thể khẳng định đây là một đóng góp riêng của tác giả và cũng là củadân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vócquốc tế vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX.
lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái hòng mị dân và che giấu những hành động đó
- Bản Tuyên ngôn Độc lập đã vạch trần bản chất thực dân xảo quyệt, tàn bạo và
man rợ đó bằng những lí lẽ xác đáng và sự thật lịch sử không chối cãi được.Đoạn văn đã tố cáo hùng hồn và đanh thép tội ác mọi mặt của thực dân Pháp đốivới nhân dân ta bằng giọng văn mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục
Bằng phương pháp liệt kê, tác giả Tuyên ngôn Độc lập đã nêu hàng loạt những
tội ác của chủ nghĩa thực dân trên các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục
và ngoại giao Bản tuyên ngôn cũng vạch rõ những âm mưu thâm độc, nhữngchính sách tàn bạo, những thủ đoạn không thể dung thứ của thực dân Pháp tronghơn 80 năm đô hộ đất nước ta Đoạn văn gây xúc động hàng triệu con tim, khơidậy lòng phẫn nộ bởi, dù rất ngắn gọn nhưng giá trị nổi bật của đoạn văn lànhững lí lẽ xác đáng, các bằng chứng xác thực không thể chối cãi, và đặc biệt làđoạn văn được diễn đạt bằng một ngôn ngữ sắc sảo, gợi cảm, hùng hồn
- Như đã nói, phần luận tội này còn mang một sức mạnh lớn lao của sự thật, đãbác bỏ một cách đầy hiệu lực những luận điệu về công lao khai hoá và quyềnbảo hộ Đông Dương được phát đi từ Văn phòng Tổng thống Sác-lơ đơ Gôn(Charles de Gaul1e), đăng tải ầm ĩ trên các báo ở Pa-ri tạo một sự mơ hồ nhậnthức về tình hình chính trị Việt Nam lúc bấy giờ trước dư luận quốc tế Từ đó,vạch trần trước công luận về cái gọi là công lao khai hoá và sứ mệnh bảo hộ màthực dân Pháp cố tình rêu rao Thực chất của công lao khai hoá mà thực dânPháp tự ca ngợi, đó là: “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”, “thi hành chínhsách ngu dân”, dùng rượu và thuốc phiện làm suy nhược nòi giống của một dântộc, ; thực chất của sứ mệnh bảo hộ mà thực dân Pháp kể công trước quốc tế là:khi “phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồngminh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật” và
“trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”
- Những luận điệu khác của các thế lực cơ hội quốc tế nhằm phủ nhận công cuộcđấu tranh mấy mươi năm giành độc lập của dân tộc ta cũng như ý nghĩa cuộcCách mạng tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Mặt trậnViệt Minh, cũng bị phản bác một cách mạnh mẽ bằng những chứng cớ xác thực
và đầy sức thuyết phục
Câu 4
(Gợi ý trả lời câu hỏi qua phần tuyên bố độc lập)
- Trên thực tế, tuyên bố về quyền độc lập của một dân tộc trước thế giới không
dễ gì được cộng đồng quốc tế thừa nhận ngay nếu lời tuyên bố đó không hội đủnhững cơ sở chắc chắn về pháp lí và thực tiễn, phù hợp với công ước quốc tế
Trang 22Từ điều này, GV phân tích để HS hiểu được vì sao trong lời tuyên bố độc lập,tác giả lại nhấn mạnh bốn điểm:
+ Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước
mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nướcViệt Nam
+ Kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp.+ Căn cứ vào những điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở haiHội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn, kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhậnquyền độc lập tự đo của dân tộc Việt Nam
+ Tuyên bố về ý chí kiên quyết bảo vệ quyền tự do, độc lập của toàn dân tộcViệt Nam
Vì, về khách quan, chỉ khi không bị lệ thuộc vào bất cứ thế lực chính trị nào,đồng thời xác định quyền tự quyết trên mọi phương diện thì một dân tộc mớiđược cộng đồng quốc tế công nhận về quyền độc lập Về chủ quan, toàn bộ cộngđồng dân tộc phải thực sự có chung khát vọng độc lập, tự do và ý chí bảo vệquyền tự do, độc lập ấy Chỉ khi hội đủ hai điều nói trên, lời tuyên bố độc lậpcủa một dân tộc với thực sự có sức thuyết phục
Phần tuyên bố độc lập không chỉ vững chắc về lập luận, lí lẽ, bằng chứng màcòn hết sức chặt chẽ về ngôn từ
Ví dụ, tác giả viết: “[ ] tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp” – chỉthoát li quan hệ thực dân, không khước từ quan hệ ngoại giao, hữu nghị; hoặc
viết “xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam” – kí về (đơn
phương và áp đặt) chứ không phải kí với (song phương và có thoả thuận), Vài
ví dụ nhỏ cho thấy một tầm nhìn xa rộng của tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập
cho những vận động và biến đổi của lịch sử sau này
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1 Kiểm tra, đánh giá
- Đánh giá mức độ hiểu các giá trị lịch sử, tư tưởng, nhất là giá trị văn chương từtác phẩm của HS qua cách đọc văn bản
- Hướng dẫn HS đọc đồng thời kiểm tra mức độ cảm nhận của HS về tâm huyết,khát vọng về độc lập, tự đo, tình cảm đối với đất nước ta, nhân dân ta của Chủtịch Hồ Chí Minh qua bản tuyên ngôn
2 Gợi ý giải bài tập.
Ngoài gia trị lịch sử lớn lao, bản Tuyên ngôn Độc lập còn chứa dựng một tình
cảm yêu nước, thương dân nồng nàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tình cảm đóđược bộc lộ qua các phương diện: lập luận, lí lẽ bằng chứng và ngôn ngữ
- Về lập luận: Mọi cố gắng trong lập luận của tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập
chủ yếu dựa trên lập trường quyền lợi tối cao của một dân tộc nói chung và của
dân tộc ta nói riêng
- Về lí lẽ: Sức mạnh của lí lẽ được sử dụng trong bản tuyên ngôn xuất phát từtình yêu công lí, thái đồ tôn trọng sự thật, và trên hết, dựa vào lẽ phải và chínhnghĩa của dân tộc ta
- Về bằng chứng: Những bằng chứng xác thực, hùng hồn, không thể chối cãi chothấy một sự quan tâm sâu sắc đến vận mệnh của dân tộc ta, hạnh phúc của nhândân ta
Trang 23- Về ngôn ngữ: Cách sử dụng từ ngữ chan chứa tình cảm ngay từ câu đầu tiên
của bản tuyên ngôn: “Hỡi đồng bào cả nước” (đồng bào - những người chung
một bọc, anh em ruột thịt), và nhiều đoạn văn khác, luôn có cách xưng hô bộc lộ
tình cảm tha thiết, gần gũi: đất nước ta, nhân dân ta, nước nhà của ta, dân tộc
ta, những người yêu nước thương nòi của ta, nòi giống ta, các nhà tư sản ta, công nhân ta,
- Nhận thấy sức thuyết phục, lôi cuốn của bài văn được làm nên không chỉ bằng các lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh, mà còn bằng nhiệt huyết của một con người gắn bó với Tổ quốc, nhân dân, biết kết hợp hài hoà giữa sự trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống với những vấn đề trọng đại đang đặt ra cho thời đại của mình.
- Rút ra những bài học hữu ích, giúp HS có thể nâng cao chất lượng các bài làm văn nghị luận.
B- PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
Tiến trình tổ chức dạy học
a) Phần Tiểu dẫn
GV nêu câu hỏi: Anh (chị) đã có những hiểu biết gì về tác giả bài văn? HS thảoluận câu hỏi này trên cơ sở những kiến thức mà các em đã đọc được trong phần
Tiểu dẫn và những điều các em tự tìm hiểu, sưu tầm ngoài SGK Kết thúc phần
hướng dẫn thảo luận, GV cần chốt lại:
- Phạm Văn Đồng không phải là người chuyên làm lí luận hay phê bình văn học
Sự nghiệp chính mà ông theo đuổi suốt đời mình là sự nghiệp làm cách mạngtrong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao
- Tuy nhiên ông vẫn có những tác phẩm quan trọng về văn học và nghệ thuật.Những tác phẩm ấy ông cần viết ra là bởi:
+ Đó cũng là một cách thức để phục vụ cách mạng trên cương vị của ông
+ Văn học nghệ thuật là địa hạt được ông quan tâm, am hiểu và yêu thích Điềuquan trọng hơn nữa là ông có vốn sống, tầm nhìn và nhân cách đủ để có thể đưa
ra những ý kiến đúng đắn, mới mẻ, thấm thía và lớn lao về những hiện tượnghoặc vấn đề văn nghệ mà ông đề cập tới
Từ đó, GV có thể cho HS rút ra bài học: Để viết được một bài văn nghị luận vănhọc tốt thì điều quan trọng là phải có hiểu biết, không chỉ riêng về văn học mà
Trang 24còn về cuộc sống; đồng thời phải có quan niệm đúng đắn và sâu sắc về thế giớicũng như về đời sống của con người.
b) Hướng dẫn học bài
● Tìm hiểu hệ thống luận điểm chủ yếu của bài văn
GV có thể tiến hành bước này bằng cách cho HS tập chia đoạn và tìm những câuvăn cô đúc thể hiện được nội dung chủ yếu của mỗi đoạn và của toàn bài Cầngiúp HS nhận ra:
- Ngoài những câu mở đầu và kết luận, bài văn được chia thành ba phần chính,được ngăn cách bằng các dấu (٭) mà tự tác giả ghi trong bài: phần nói về conngười và quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu; phần nôi về thơ vănyêu nước đo Nguyễn Đình Chiểu sáng tác và cuối cùng là phần nói về truyện thơ
Truyện Lục Vân Tiên
Ba phần đó tương ứng với ba luận điểm chủ chốt mà nội dung cơ bản của mỗiluận điểm đã được thu gọn trong một câu văn được đặt ở khoảng đầu của mỗiphần:
+ “Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là của một chiến sĩ hi sinh phấnđấu vì một nghĩa lớn”
+ “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí củachúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từl860 về sau, suốt hai mươi năm trời.”
+ “[…] Lục Vân Tiên, một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, rất phổ
biến trong dân gian, nhất là miền Nam.”
- Các luận điểm đó lại quy tụ xung quanh, để làm sáng rõ một nhận định baotrùm lên nội dung của tất cả các phần trong toàn bài viết: “Trên trời có những vìsao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìnthì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểucũng vậy” Bài văn, do đó, đã kết lại thành một khối thống nhất và chặt chẽ
- Bài văn không được kết cấu theo trật tự thời gian Nguyễn Đình Chiểu viết
Truyện Lục Vân Tiên trước nhưng trong bài viết, tác giả lại nói đến sau; Truyện Lục Vân Tiên được xác định là một tác phẩm lớn, nhưng phần viết về cuốn
truyện thơ đó lại không kĩ càng bằng phần viết về thơ văn yêu nước chống ngoạixâm Từ cố gắng tháo gỡ vấn đề này, HS có thể rút ra bài học: Trong văn nghịluận, mục đích nghị luận quyết định cách sắp xếp luận điểm và mức độ nặng nhẹ
của từng luận điểm, việc viết để làm gì quyết định việc viết thế nào.
Tìm hiểu về con người và quan niệm sáng tác thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu
GV cho HS đọc và thảo luận phần văn bản từ câu “Kiến nghĩa bất vi vô dõngdã” đến câu “Vóc dê da cọp khôn lương thực hư!” trong văn bản Cần cho các
em nhận thấy:
- Tác giả đã không viết lại tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu mà chỉ nhấn mạnh đếnkhí tiết của một người chiến sĩ yêu nước, trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớncủa ông GV nên giúp HS có thể tự lí giải điều này
- Điều được tác giả nêu ra để ca ngợi trước tiên trong thơ văn của Nguyễn ĐìnhChiểu chưa phải là các tác phẩm cụ thể, mà là quan niệm của ông về sáng tácvăn chương HS có thể nhận ra, ở Nguyễn Đình Chiểu, quan niệm về văn
Trang 25chương hoàn toàn thống nhất với quan niệm về lẽ làm người, “văn tức là người”,văn thơ phải là vũ khí chiến đấu của con người chiến sĩ
GV có thể yêu Cầu HS sơ bộ đánh giá, bình luận về quan niệm làm người, cũngnhư quan niệm văn chương ấy (những mặt đúng đắn và những mặt có thể cònhạn chế)
● Tìm hiểu về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu
Trên cơ sở HS đã đọc kĩ văn bản (đọc trước ở nhà và nghe lại những đoạn, câutiêu biểu nhất trên lớp học), GV hướng dẫn việc tìm hiểu của HS qua việc thảoluận những câu hỏi như:
+ Vì sao tác giả Phạm Văn Đồng lại bắt đầu phần này bằng việc tái hiện lại hoàncảnh lịch sử nước ta trong suốt hai mươi năm trời sau thời điểm 1860
+ Tác giả đã dựa vào đâu để cho rằng hiện tượng thơ văn yêu nước của NguyễnĐình Chiểu, một phần lớn là những bài văn tế, ca ngợi [ ] và than khóc nhữngngười liệt sĩ là điều không phải ngẫu nhiên?
+ Vì sao trong số đó, tác giả lại đặc biệt nhấn mạnh (và chỉ nhấn mạnh) đến bài
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc?
+ Anh (chị) có nhận xét gì về cách lập luận và văn phong của tác giả? Nhữngcâu văn nào ở phần này để lại trong anh (chị) ấn tượng thật khó quên? Vì saovậy?
+ Từ tất cả những điều trên, anh (chị) có thể suy ra: theo quan điểm của PhạmVăn Đồng, những yếu tố gì là quan trọng nhất trong việc làm nên một nhà vănlớn?
Qua hướng dẫn thảo luận, GV cần làm cho HS thấy được:
- Phạm Văn Đồng đã đặt các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trên cái nền củahoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ: Bởi, một nhà văn chỉ thực sự lớn khi tác phẩmcủa ông ta phản ánh một cách trung thành những đặc điểm bản chất của một giaiđoạn lịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với đời sống của đất nước, nhân dân.Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc vì,trước hết, thơ văn của ông đã làm sống lại phong trào kháng Pháp bền bỉ vàoanh liệt của nhân dân Nam Bộ từ 1860 trở về sau
Tác giả gọi đấy là một thời khổ nhục, nhưng vĩ đại Vì thế, sáng tác của Nguyễn
Đình Chiểu, tấm gương phản chiếu một thời đại như thế, tất yếu phải là lời ngợi
ca những chiến sĩ dũng cảm, đồng thời cũng là lời than khóc cho những anhhùng thất thế đã bỏ mình trong cuộc chiến đấu vì nước, vì dân
- Song, văn chương chân chính không thể chỉ là sự ghi chép lại diện mạo chânthực của một thời Văn chương chân chính còn phải tham gia tích cực vào cuộcđấu tranh của thời đại đó Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là như thế.Phạm Văn Đồng, trong bài viết của mình, cho thấy: Tác phẩm của Nguyễn ĐìnhChiểu lớn lao bởi sức cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu chống thực dân, bằngcách làm cho lòng người rung động trước những hình tượng sinh động và nãonùng của những con người suốt đời tận trung với nước, trọn nghĩa với dân, giữvẹn khí phách hiên ngang cho dù chiến bại
- Mặt khác, bản chất của văn chương là sáng tạo Văn chương đóng góp chocuộc đời bằng những cái độc đáo, cái riêng, chưa từng thấy ở các tác phẩm trước
đó, hay cùng thời ấy Đó là lí do khiến Phạm Văn Đồng, ở phần này, nói đến bài
Trang 26văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhiều nhất, và hào hứng nhất Phải tới bài văn tế đó,
người đọc mới bắt gặp một hình tượng trung tâm mà văn chương cho đến lúc ấycòn chưa có: người chiến sĩ xuất thân từ nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc,bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước
Phạm Văn Đồng hiểu rất rõ rằng, tác phẩm văn chương lớn chỉ có thể sinh ra từnhững tâm hồn lớn Vì thế, khi nói đến thơ văn yêu nước của Nguyễn ĐìnhChiểu, tác giả luôn chú ý làm cho người đọc nhận ra rằng, những câu văn, vầnthơ đó chính là bầu nhiệt huyết của nhà thơ trào ra thành chữ nghĩa: “Ngòi bút,nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu.”
Có thể vì thế mà tác giả không cho phép mình được nói về Nguyễn Đình Chiểu
và thơ văn của ông một cách vô tình Bài văn đã được làm nên không chỉ bằngmột trí tuệ sáng suốt, sâu sắc mà còn bằng một tình cảm đang trong trạng tháixúc động mạnh mẽ khác thường Sự kết hợp giữa con tim và khối óc đã khiếntác giả viết được những câu văn vào hàng hay nhất, làm rung động lòng ngườinhiều nhất, trong số biết bao câu văn đã được viết ra để bàn về tác phẩm của
Nguyễn Đình Chiểu nói chung và bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc nói riêng.
- Nhưng Phạm Văn Đồng đã không viết về Nguyễn Đình Chiểu với nỗi tiếcthương của một người hoài cổ Tác giả luôn nhìn người xưa từ hôm nay (nhữngnăm 60 trong thế kỉ XX), vì cuộc sống của hôm nay Chính vì thế mà con ngườiđang sống hết mình giữa trung tâm của cuộc chiến đấu hào hùng, tất thắngchống đế quốc xâm lược lại có điều kiện để thông cảm hơn với một con ngườicũng đang sống hết mình trong công cuộc chống thực dân oanh liệt mà đauthương thuở ban đầu; đồng thời, hiểu thấu hơn những giá trị đã khiến choNguyễn Đình Chiểu trở thành ngôi sao càng nhìn càng thấy sáng
● Tìm hiểu về truyện thơ Truyện Lục Vân Tiên
GV yêu cầu HS đọc kĩ văn bản; trên cơ sở đó, hướng dẫn các em tìm hiểu phầnnày qua việc thảo luận những câu hỏi như:
+ Theo Phạm Văn Đồng, đâu là nguyên nhân chuyến khiến cho Truyện Lục Vân
Tiên có thể trở thành tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu và rất được phổbiến dân gian?
+ Tác giả đã bàn luận như thế nào về những điều mà nhiều người cho là hạn chếcủa tác phẩm này?
+ Từ đó, anh (chị) học tập được gì về quan điểm đánh giá tác phẩm và về cáchlập luận của tác giả bài văn?
GV cần làm cho HS thấy được
- Phạm Văn Đồng cho thấy, Truyện Lục Vân Tiên là một bản trường ca ca ngợichính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trungnghĩa!
Đó là điều chúng ta phải hiểu đúng, để có thể thấy hết giá trị của tác phẩm rấtlớn này
- Tác giả không phủ nhận những sự thật như: “Những giá trị luân lí mà NguyễnĐình Chiểu ca ngợi, ở thời đại chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có
phần đã lỗi thời”, hay “văn chương của Lục Vân Tiên” có những chỗ “lời văn không hay lắm” Sự thừa nhận này cho thấy tác giả là người luôn giữ được sự
trung thực và công bằng trong khi nghị luận
Trang 27Song không vì sự thừa nhận ấy mà giá trị của Truyện Lục Vân Tiên bị hạ thấp đi.
Bằng những chứng cớ xác thực, Phạm Văn Đồng đã chỉ ra rằng, đó là những
hạn chế không thể tránh khỏi và không phải là cơ bản nhất Truyện Lục Vân Tiên vẫn là tác phẩm lớn của Nguyễn Đình Chiểu, bởi cuốn truyện thơ ấy mang
những nội dung tư tưởng, đạo đức gần gũi với quần chúng nhân dân, cả thời xưa
lẫn thời nay, và do đó, được họ cảm xúc và thích thú Truyện Lục Vân Tiên lại
có một lối kể chuyện, nói chuyện nôm na, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bátrong dân gian Có thể coi đây là một ví dụ tiêu biểu của cách lập luận thường
được gọi là đòn bẩy; ở đó, người lập luận bắt đầu bằng sự hạ xuống, nhưng đó là
sự hạ xuống để nâng lên - một cách lập luận mà HS rất nên học tập và vận dụng Tóm lại: Phạm Văn Đồng đã xem xét giá trị của Truyện Lục Vân Tiên trong mối liên hệ mật thiết với đời sống của nhân dân Truyện Lục Vân Tiên có giá trị bởi
công trình nghệ thuật đó, về cả nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật, đềuthân thuộc với đông đảo nhân dân, được nhân dân chấp nhận và yêu mến Đó là
cơ sở đúng đắn và quan trọng nhất để đánh giá tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên (và không chỉ với riêng tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên)
GV chốt lại những kiến thức cơ bản nhất của bài học và cho HS đọc lại phần
Ghi nhớ
C- KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1 Kiểm tra, đánh giá
Các câu hỏi kiểm tra cần giúp GV đánh giá được HS về các mặt:
- Nắm được chủ đề và các luận điểm, luận cứ chủ yếu của bài văn
- Hiểu biết đúng đắn và sâu sắc hơn về giá trị lớn lao của con người và của thơvăn Nguyễn Đình Chiểu
- Nhận thấy những điểm đặc sắc trong quan niệm về văn chương và trong nghệthuật nghị luận của Phạm Văn Đồng
2 Gợi ý giải bài tập.
a) Bài luyện tập của HS cần phải đạt các yêu cầu chính sau đây:
Chân thật Phải tuyệt đối tránh nêu ra những ý kiến giả tạo, khuôn sáo, không
đúng với suy nghĩ và tình cảm thật của mình
- Đúng đắn Muốn thế, phải cố gắng học tập và tu dưỡng để không đưa ra những
ý kiến không chính xác về kiến thức hoặc về tư tưởng
- Có sức thuyết phục Muốn thế, còn cần chú ý vận dụng tốt các kĩ năng làm
văn, đặc biệt là những kĩ năng về lập luận và diễn đạt
b) Trong bài làm, HS có thể nêu các luận điểm:
- Đúng là giới trẻ ngày nay có thể còn cảm thấy ít nhiều xa lạ với những tác
phẩm như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.
- Nhưng điều đó không có nghĩa là công việc học tập những tác phẩm như Văn
tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhà trường là không cần thiết Bởi lẽ:
+ Trong nhà trường, HS không chỉ cần học tập những gì mình thích, mà còn cầnhọc tập những gì giúp mình có thể sống tốt cuộc đời
+ Việc học tập những tác phẩm có giá trị như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là rất
cần thiết cho cuộc sống hôm nay
Trang 28+ Những tác phẩm như thế vẫn có thể từ chỗ còn xa lạ trở nên gần gũi, quenthân, nếu HS thực sự nỗ lực trong học tập để biến những kiến thức vốn ở ngoàimình thành kiến thức và tình cảnh của chính mình.
Tuần Tiết Ngày soạn
MẤY Ý NGHĨ VỀ THƠ
I- NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý
l Cần chú ý đến thời điểm ra đời của tiểu luận Mấy nghĩ vê thơ Cuộc kháng
chiến chống Pháp đã sang năm thứ ba và thu được những thắng lợi quan trọng,trong đó có sự góp phần tích cực của văn nghệ, của thơ ca, nhưng vắn nghệ sĩlúc bấy giờ không khỏi không còn những vướng mắc về tư tưởng và quan niệmsáng tác Để phục vụ kháng chiến tốt hơn nữa, thơ ca cần phải được nhìn nhận,định hướng trên nhiều phương diện Trong Hội nghị tranh luận văn nghệ ở ViếtBắc tháng 9 - 1949, có khá nhiều ý kiến phê phán thơ Nguyễn Đình Thi khóhiểu, trúc trắc, không có vần điệu, không bám sát đặc trưng của thơ, xa rời quần
chúng, Với bài Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện một quan
niệm đúng đắn về thơ nói chung, về thơ ca kháng chiến nói riêng, qua đó vừađáp ứng được yêu cầu thơ ca phục vụ kháng chiến, vừa nhấn mạnh và làm nổibật đặc trưng bản chất của thơ ca
2 Viết về một vấn đề lí luận phức tạp, nhưng Nguyễn Đình Thi không lên giọngcao đạo mà dùng lối viết thân tình, chia sẻ, trao đổi với đồng nghiệp bằng giọngtâm huyết của người trong cuộc - đội ngũ những nhà thơ kháng chiến Bài tiểuluận được viết theo phong cách chính luận - trữ tình, nghị luận kết hợp với yếu
tố tuỳ bút, lí luận gắn với thực tế (thực tế cuộc sống, thực tế kháng chiến, thực tếtâm trạng của nhà thơ) nên đạt được sự rõ ràng, mạch lạc, có sức thuyết phục, cósức lay động thấm thía
II – HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM
1 Nguyễn Đình Thi đã phân tích sâu sắc đặc trưng cơ bản nhất của thơ là biểuhiện tâm hồn con người Ông đưa ra một câu hỏi không mang nghĩa nghi vấn màmang nghĩa khẳng định: “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn conngười chăng?” Khởi đầu một bài thơ, người viết phải có “rung động thơ”, sau đó
Trang 29mới “làm thơ” Rung động thơ có được khi tâm hồn ra khỏi trạng thái bìnhthường, do có sự va chạm với thế giới bên ngoài, với thiên nhiên, với nhữngngười khác mà tâm hồn con người thức tỉnh, bật lên những tình ý mới mẻ Cònlàm thơ là thể hiện những rung động của tâm hồn bằng lời hoặc những dấu hiệuthay cho lời nói (tức là chữ) Những lời, những chữ ấy phải có sức mạnh truyềncảm tới người đọc thơ, khiến “mọi sợi dây của tâm hồn rung lên”
2 Những yếu tố đặc trưng khác của thơ: hình ảnh, tư tưởng, cảm xúc, cái thực, cũng được Nguyễn Đình Thi đề cập đến một cách thấu đáo Hướng tới việc biểuhiện tâm hồn con người, hình ảnh của thơ dù là hình ảnh về sự vật, thì cũngkhông cốt ghi lại cái vẻ bề ngoài mà đã bao hàm một nhận thức, một thái độ,tình cảm hoặc suy nghĩ Thơ gắn liền với sự suy nghĩ, thơ phải có tư tưởng,nhưng tư tưởng trong thơ cũng là tư tưởng - cảm xúc, thơ muốn lay động nhữngchiều sâu của tâm hồn, đem cảm xúc mà đi thẳng vào sự suy nghĩ Cảm xúc, tìnhcảm là yếu tố quan trọng bậc nhất mà thơ hướng tới; nói như nhà thơ Cu Ba, Hô-
xê Mác-ti (José Marti): “Thiếu tình cảm thì có thể trở thành người thợ làmnhững câu có vần, chứ không làm được nhà thơ”, còn ở đây Nguyễn Đình Thiviết: “Cảm xúc là phần thịt xương hơn cả của đời sống tâm hồn Ngay cái thựctrong thơ cũng là sự thành thực của cảm xúc, là biểu hiện một cách chân thật vàsinh động những gì đang diễn ra trong tâm hồn, đó là hình ảnh thực này lêntrong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc trạng thái nào đấy” Tómlại, hình ảnh, tư tưởng, cảm xúc, cái thực của thơ đều nằm trong hệ quy chiếucủa tâm hồn con người
3 Ngôn ngữ thơ có những nét đặc biệt so với ngôn ngữ các thể loại văn họckhác Nếu ngôn ngữ trong các tác phẩm truyện, kí chủ yếu là ngôn ngữ tự sự, kểchuyện, ngôn ngữ trong các tác phẩm kịch chủ yếu là ngôn ngữ đối thoại, thìngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt nhờ yếu tố nhịp điệu, như NguyễnĐình Thi khẳng định: Cái kì diệu ấy của tiếng nói trong thơ, có lẽ chăng ta tìm
nó trong nhịp điệu [ ] một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của hìnhảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn Xuất phát từ sự đề cao nhịp điệu bêntrong, nhịp điệu của tâm hồn Nguyễn Đình Thi quan niệm không có vấn đề thơ
tự do, thơ có vần và thơ không có vần, mà chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay vàthơ không hay, thơ và không thơ Thời đại mới, tư tưởng, tình cảm mới, nộidung mới đòi hỏi một hình thức mới, điều quan trọng là dùng thơ tự do, thơkhông vần, hay dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâmhồn con người mới ngày nay
4- Nét tài hoa của Nguyễn Đình Thi bộc lộ trong nghệ thuật lập luận, đưa dẫnchứng, sử dụng từ ngữ, hình ảnh, để làm sáng tỏ từng vấn đề đặt ra Mở đầubài viết Nguyễn Đình Thi đã dùng ngay cách lập luận phủ nhận để khẳng định(bác bỏ một số quan niệm có phần phiến diện về thơ - có người cho thơ là ởnhững lời đẹp,, lại có người cho thơ khác với các thể văn khác ớ chỗ thơ in sâuvào trí nhớ, để nhấn mạnh đặc trưng bản chất của thơ là biểu hiện tâm hồn conngười), từ đó triển khai các ý ngày càng cụ thể hơn, xoáy sâu vào vấn đề chính
Lí lẽ gắn với dẫn chứng Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh rất cụ thể, sinh động,gây ấn tượng mạnh:
Trang 30“Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm vớicuộc sống Toé lên một nơi giao nhau của tâm hồn và ngoại vật, trước hết lànhững cảm xúc”; “Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấyxếp bên nhau thành một vùng sáng chung”
5 Không nên nghĩ rằng bài viết chỉ có tác dụng nhất thời lúc bấy giờ, mà cácvấn đề tác giả đặt ra, các luận điểm xung quanh vấn đề đặc trưng bản chất câuthơ ca ngày nay vẫn còn có giá trị bởi ý nghĩa thời sự, tính chất khoa học đúngđắn, gắn bó chặt chẽ vời cuộc sống và thực tiễn sáng tạo thi ca
IV- TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Đình Thi - Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000.
thể gọi là truyện tiểu sử, truyện danh nhân - như ta thường gọi.
2 Về đặc tính của thể loại, đoạn trích này rất tiêu biểu cho sự kết hợp nhiều
hình thức khác nhau trong lối viết của truyện danh nhân (ở dây là chân dung vănhọc) Có thể lưu ý đến những sự pha trộn này để từ đó đi đến phân biệt chândung văn học với một vài hình thức văn xuôi mà nó đã “ăn bám” vào đó
a) Dựa trên cuộc đời thực của nhà văn nhưng có phần tiểu thuyết hoá, nên chândung văn học không hoàn toàn trùng khít với tiểu sử nhà văn, biểu lộ ở:
- Sự lựa chọn những mảng đời, những tác phẩm với độ đậm nhạt khác nhau sovới sự phân bố đồng đều ở những bản lí lịch, tiểu sử
-Trật tự thời gian có thể đảo lộn, không nhất thiết đi theo diễn biến trật tự lịchbiểu
- Sự pha trộn giữa lịch sử xã hội và đời tư của nhà văn Nhân vật trung tâm (nhàvăn được vẽ chân dung) luôn được đặt trong một bối cảnh lịch sử, xã hội, vănhoá và văn học rộng lớn nhằm hai mục đích Thứ nhất: giải thích những nguồngốc, nguyên nhân của đời sống thực tế có thể có những ảnh hưởng chi phối tớitài năng và sự nghiệp của nhà văn Thứ hai: gợi lên vai trò tác động ngược trởlại đối với thực tế, với độc giả của nhà văn, từ đó xác định vị trí của nhà văntrong văn đàn, trong cuộc sống của dân tộc, của nhân loại - tuỳ theo tầng cỡ củahọ
- Sự pha trộn giữa truyện kể và suy tưởng, bình luận Người viết chân dung vănhọc luôn có quyền ngắt mạch kể chuyện, đi vào những ngả rẽ của suy tư, củacảm nhận, đặc biệt là những bình luận văn chương
b) Từ sự phân tích những sự pha trộn kết hợp trên trong lối viết, có thể thấy
chân dung văn học là một hình thức đứng giữa ba thể loại: tiểu sử - tiểu thuyết
–phê bình văn học Bởi vậy, trong thuật ngữ châu Âu, cụ thể là Pháp, Anh và cả
Trang 31tiếng Nga nữa, khi xác định hình thức của loại văn này của Xvai-gơ, có khi
người ta gọi là tiểu sử tiểu thuyết hoá (tương đương với truyện tiểu sử trong tiếng Việt), lại có khi gọi là tản văn (chữ essai, essay, có thể biến hoá tuỳ theo
nội dung sách: cũng có thể bao hàm tiểu luận, tuỳ bút)
B – HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM
l Cần lưu ý HS: khi đọc đoạn văn, yêu cầu cuối cùng là từ câu chuyện kể về mộtdanh nhân, nắm bắt đặc trưng của thể loại chân dung văn học Cần phân biệtđoạn trích với loại văn xuôi thường thấy ở các cuốn SGK hoặc sách nghiên cứu,loại viết về tiểu sử sự nghiệp nhà văn - mục đích chủ yếu là cung cấp nội dungkiến thức
2 Nói một cách khác, ở đây nên đặt vấn đề: điều quan trọng không chỉ là hiểubiết về Đô-xtôi-ép-xki mà là lối viết về Đô-xtôi-ép-xki ông không lí tướng hoáthiên tài, mà thể hiện những mâu thuẫn-thực con người ,
- Sự khác biệt của lối viết ở đây đã tạo ra một độ lệch như thế nào so với mộtbài viết đơn thuần cung cấp tiểu sử nhà văn l (Hướng dẫn cho HS tìm ở ngaytrong SGK; nếu có HS nào tra được mục Đô-xtôi-ép-xki trong các từ điển vănhọc thì càng hay)
Độ lệch mà HS dễ phát hiện ở đây là tính chất hư cấu dẫu họ chưa nắm đượccuộc đời thực của Đô-xtôi-ép-xki; do đó, có thể xác định cho các em thấy rằng.:không thể có sự sao chép tiểu sử một cách chính xác loại văn này
3 Từ đó, HS có thể có một số kiến thức về đặc trưng của hình thức viết chândung văn học - đó mới là mục đích thiết thực của bài đọc thêm này (vì Đô-xtôi-ép-xki không phải là tác giả nằm trong chương trình THPT)
4 Yêu cầu trực tiếp nhất cần khai thác từ đoạn trích, đó là hướng dẫn HS pháthiện nghệ thuật viết của Xvai-gơ Tiêu chí của Xvai-gơ là tái hiện đúng nét nổi
bật của thiên tài này: con người đầy mâu thuẫn, vừa khốn khổ hèn mọn, vừa
vươn tới cao cả, thánh thiện Có thể nêu câu hỏi: Vì sao đoạn văn này hấp dẫnhơn những đoạn văn thuộc về “tiểu sử”, “sự nghiệp văn chương ta thường gặp”?
5 Có thể mở rộng vấn đề, hướng dẫn HS liên hệ với thực tế văn học Việt Nam:
kể tên một số cuốn chân dung văn học hoặc truyện tiểu sử ở Việt Nam; trongloại này, hiện nay, kiểu truyện nào phong phú hơn?
Từ đó, có thể giúp HS am hiểu được một số cuốn chân dung văn học, nhưng
cũng có thể thấy rằng, Việt Nam, loại truyện danh nhân (đặc biệt về các anh
hùng, chiến sĩ, ) chiếm tỉ lệ nhiều hơn là chân dung văn học
6 Có thể khuyến khích HS sáng tác những mẩu truyện danh nhân hoặc chândung văn học
III- TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Dương Khư (dịch qua bản tiếng Pháp), Ba bậc thầy: Đô-xtôi-ép-xki Ban-dắc -Đích-ken, Giáo dục, Hà Nội, 1996.
Tuần
Tiết
Trang 32NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
A - MỤC TIÊU BÀI HỌC
Giúp HS:
- Nắm được cách làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Có nhận thức, tư tưởng, thái độ và hành động đúng trước những hiện tượngđời sống hằng ngày
Bước 1: Hướng dẫn HS thảo luận để biết cách làm một bài nghị luận về một
hiện tượng đời sống
- Trước hết, GV cung cấp tư liệu về hiện tượng đời sống cho HS
+ Hướng dẫn HS đọc đế văn, lưu ý tên văn bản (Chia chiếc bánh của mình cho ai?), nội dung câu chuyện và ý khái quát của người kể chuyện: Một câu chuyện
lạ lùng
+ Để hiểu cụ thể câu chuyện lạ lùng, GV yêu cầu HS đọc tư liệu tham khảo
(phần Đọc thêm trong SGK): Chuyện cồ tích mang tên Nguyễn Hữu Ân.
- Tiếp đó, hướng dẫn HS thực hiện yêu cầu trong SGK theo những câu hỏi cụthể
Gợi ý trả lời câu hỏi trong SGK:
+ Thế hệ trẻ ngày nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân
+ Tuy nhiên, vẫn còn một số biểu hiện sống vị kỉ, vô tâm đáng phê phán
+ Tuổi trẻ cần dành thới gian tu dưỡng, lập nghiệp, sống vị tha để cuộc đời ngàymột đẹp hơn
- Dẫn chứng minh hoạ: Có thể khai thác trong văn bàn Chuyện cổ tích mang tên Nguyễn Hữu Ân; lấy dẫn chứng về những thanh niên làm việc tốt trong xã hội
hoặc những thanh niên lãng phí thời gian vào những trò choi vô bổ mà các
phương tiện thông tin đại chúng đã nêu.
- Cần vận dụng các thao tác lập luận chủ yếu: phân tích, chứng minh, bác bỏ,bình luận
b) Lập dàn ý
Trang 33SGK đã gợi ý, dẫn dắt cụ thể Sử dụng các câu hỏi của SGK và đưa vào kết quảtìm hiểu đề ở trên, GV yêu cầu HS thảo luận để lập dàn cho bài văn.
Có thể chia lớp ra các nhóm để thảo luận rồi trình bày ba phần Gợi ý:
Mở bài: Giới thiệu hiện tượng Nguyễn Hữu Ân rỗi dẫn đề văn, nêu vấn đề: Chia chiếc bánh của mình cho ai?
Thân bài: Lần lượt triển khai 4 ý chính (như gợi ý phần tìm hiểu đề).
Kết bài: Đánh giá chung và nêu cảm nghĩ riêng của người viết.
Bước 2: Hướng dẫn HS trả lời câu hỏi 2 và ghi nhớ nội dung bài học qua phần
Ghi nhớ trong SGK Có thể nhấn mạnh 2 nội dung cơ bản:
Nghị luận về một hiện tượng đời sống không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn có tácdụng giáo dục tư tưởng, đạo lí, cách sống đúng đắn, tích cực đối với thanh niên,HS
- Cách làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1 Kiểm tra, đánh giá
Tương tự cách dạy bài Nghị luận về một tư tướng, đạo lí, trong quá trình hướng
dẫn HS thảo luận, GV có thể kiểm tra, đánh giá cả hai mặt (nhận thức tư tưởng
và kĩ năng nghị luận) của HS
2 Gợi ý giải bài tập.
Bài tập 1
a) Điều mà tác gia Nguyễn Ái Quốc bàn là hiện tượng nhiều thanh niên, sinhviên Việt Nam du học nước ngoài dành quá nhiều thời gian cho việc chơi bời,giải trí mà chưa chăm chỉ học tập, rèn luyện để khi trở về góp phần xây dựng đấtnước
Hiện tượng ấy diễn ra vào những năm đầu thế kỉ XX Trong xã hội nước ta ngàynay, hiện tượng ấy vẫn còn Nhiều thanh niên, sinh viên Việt Nam ngày nay duhọc ở nước ngoài cũng đang mải mê kiếm tiền, chơi bời, lãng phí thới gian chonhững việc vô bổ mà không chịu tập trung tư tướng, quyết tâm học tập, rènluyện chuyên môn, tiếp thu khoa học kĩ thuật tiên tiến để có năng lực tốt nhất trở
về phục vụ quê hương, đất nước Hiện tượng trên, ta có thề bàn thêm một vài ý:
- Nêu và phê phán hiện tượng: Thanh niên, sinh viên Việt Nam du học lãng phíthời gian vào những việc vô bổ
- Chỉ ra nguyên nhân: Họ chưa xác, định lí tưởng sống đúng đắn, họ ngại khó,ngại khổ, lười biếng hoặc chỉ sống vì tiền bạc, vì những lợi ích nhỏ hẹp; cũngmột phần do cách tổ chức, giáo dục chưa tốt của những người có trách nhiệm
- Bàn luận: Nêu một vài tấm gương thanh niên, sinh viên chăm học đạt học vịcao đã trở về tham gia giảng dạy ở các trường đại học hoặc làm việc tại cácngành kinh tế, khoa học, kĩ thuật tiên tiến của nước nhà
- Rút ra bài học cho bản thân: Xác định lí tưởng, mục đích học tập đúng đắn.Khi ở trong nước, cố gắng học tập, rèn luyện; nếu được du học sẽ dành thậtnhiều thời gian cho việc học tập, tiếp thu kiến thức khoa học, kĩ thuật tiên tiến,sau này góp phần phục vụ Tổ quốc
b) Trong văn bản, Nguyễn ái Quốc dùng thao tác lập luận phân tích (thanh niên
du học mải chơi bời, thanh niên trong nước không làm gì cả, họ sống già cỗi,,thiếu tổ chức, rất nguy hại cho tương lai của đất nước ); so sánh (nêu hiện
Trang 34tượng thanh niên, sinh viên Trung Hoa du học chăm chỉ, cần cù) và bác bỏ (thếthì thanh niên của ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: Họ không làm gìcả).
c) Nghệ thuật diễn đạt của văn bản: Dùng từ, nêu dẫn chứng xác đáng, cụ thể,kết hợp nhuần nhuyễn các kiểu câu trần thuật, câu hỏi (thế thì thanh niên của tađang làm gì?), câu cảm thán (trực tiếp bày tỏ nỗi lo âu chính đáng: Hỡi ĐôngDương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi củaNgười không sớm hồi sinh.)
- Hiểu rõ hai khái niệm: ngôn ngữ khoa học (phạm vi sử dụng, các loại văn bản)
và phong cách ngôn ngữ khoa học (các đặc trưng để nhận diện và phân biệt
trong sử dụng ngôn ngữ)
- Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong các bài tập, bài làm văn nghị luận (một dạngvăn bản khoa học) và kĩ năng nhận diện, phân tích đặc điểm của văn bản khoahọc
Khi giảng dạy, có thể cho HS lấy thêm ví dụ để thấy ngôn ngữ khoa học có thể ởdạng nói (thuyết trình khoa học), nhưng chủ yếu ở dạng viết Chúng đều có ba
đặc trưng cơ bản: tính khái quát, trừu tượng; tính lí trí, lôgíc và tính khách quan, phi cá thề.
Cần cho HS liên hệ đến các kiểu bài nghị luận (kể cả nghị luận văn học) Đó đều
là bài tập rèn luyện kỹ năng tư duy khoa học và trình bày một văn bản khoa học
2 Trọng tâm bài học
Có hai đơn vị kiến thức:
(l) Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong phạm vi giao tiếp thuộc
lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong các văn bản khoa học
(2) Phong cách ngôn ngữ khoa học là phong cách ngôn ngữ có ba đặc trưng cơ
bản: tính khái quát, trừu tượng; tính lí trí, lôgíc và tính khách quan, phi cá thể
Trang 35II - PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Phương pháp dạy học
Để đi tới các khái niệm trên, GV phải cho HS tìm nhiều ví dụ trong thực tế vềhai phương diện
a) Các dạng và các loại văn băn của ngôn ngữ khoa học
+ Các dạng: dạng viết (báo cáo khoa học, luận văn, luận án, sách giáo khoa, sáchphổ biến khoa học, ) và dạng nói (giảng bài, nói chuyện khoa học, thảo luận,tranh luận, )
+ Các loại văn bản: loại văn bản khoa học chuyên sâu, loại văn bản dùng đểgiảng dạy các môn khoa học và loại văn bản phổ biến kiến thức khoa học
Từ nhận xét về các dạng và các loại văn bàn khoa học, rút ra định nghĩa ngônngữ khoa học
b) Khái niệm và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học
Dù có nhiều dạng và nhiều loại, phong cách ngôn ngữ khoa học vẫn có một sốyêu cầu cụ thể HS có thể nêu lên các yêu cầu này và từ đó GV đúc rút thành ba
đặc trưng, cũng là ba dấu hiệu cơ bản: tính khái quát, trừu tượng; tính lí trí, lôgíc và tính khách quan, phi cá thể
Có thể liên hệ với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (lời ăn, tiếng nói hằng ngày)hoặc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật để thấy ba đặc tính trên hoàn toàn đối lậpvới các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữnghệ thuật
Chính vì những sự đối lập về đặc trưng mà có sự khác nhau về yêu cầu sử dụngngôn ngữ của mỗi phong cách HS THPT còn non yếu trong việc xây dựng vănbản, đặc biệt là văn bản khoa học, cho nên khi dạy bài này, GV phảii lưu ý đếnviệc định hướng cho cả quá trình giảng dạy: rèn luyện và nâng cao trình độ tưduy khoa học và diễn đạt theo phong cách ngôn ngữ khoa học cho HS
Sự non yếu trong diễn dạt của các bài văn nghị luận (phong cách ngôn ngữ khoa
học) được thể hiện ở sự thiếu mạch lạc trong câu văn, đoạn văn và trong toàn bài văn của HS.
- Sự thiếu mạch lạc trong câu văn thể hiện các lỗi như:
+ Câu què cụt thiếu chủ ngữ hoặc lặp, thừa chủ ngữ (như thường gặp trong lời
ăn tiếng nói hằng ngày)
+ Không biết chấm câu, câu văn dài lê thê, ý nọ xọ ý kia hoặc rối ý
+ Câu văn đầu Ngô mình Sở, không phát triển theo một chủ đề nhất định, đầucuối không tương ứng,
Nói cách khác, trong câu văn của nhiều HS, ta thấy tư duy còn lộn xộn, rời rạc,
vì phạm yêu cầu của phong cách ngôn ngữ khoa học Yêu cầu đó là: mỗi câutương ứng với một phán đoán lôgíc, diễn đạt một; mỗi từ chỉ biểu hiện mộtnghĩa
- Sự thiếu mạch lạc trong đoạn văn và bài văn thể hiện chỗ:
+ Ý của câu trước không ăn nhập với ý câu sau Ý câu sau không phát triển được
ý câu trước
+ Ý của đoạn trước không liên kết với ý đoạn sau
+ Phần mở đầu không định hướng cho phần lập luận Phần lập luận không theomột trật tự lôgíc nào Luận điểm không rõ ràng, không được chứng minh; luận
Trang 36cứ không có cơ sở, phần lớn chỉ là bắt chước hoặc minh hoạ, nhưng bắt chước
và minh hoạ lẫn lộn Phần kết luận không tóm tắt được những luận điểm dã trìnhbày
Nói tóm lại, sự thiếu mạch lạc trong văn bản là do thói quen nghĩ gì viết nấy,nghĩ đến đâu viết đến đó, không có một dàn ý chung cho văn bản, một nội dungtổng thể trước khi nói hoặc viết Những điều này đều trái với phong cách ngônngữ khoa học, đặc biệt là những HS mới vào đầu cấp THPT
Vì vậy, trong 2 tiết học, GV không nên dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà cần phải định hướng cho HS, để các em có ý thức chuyển ngôn ngữ tự nhiên tự phát thành ngôn ngữ có ý thức, ngôn ngữ khoa học.
2 Tiến trình tổ chức dạy học
Để đạt yêu cầu trên, có thể tổ chức giờ dạy theo kiểu đàm thoại có hướng dẫn,thông qua các bài văn của HS mà tìm ra đặc trưng cũng như khái niệm phongcách ngôn ngữ khoa học Trật tự bài giảng theo các bước:
Đọc văn bản
- Nhận xét, phân loại văn bản khoa học
- Tìm hiểu các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1 Kiểm tra, đánh giá
a) Về kiến thức: Cuối bài, GV cho HS phát biểu định nghĩa về ngôn ngữ khoahọc và phong cách ngôn ngữ khoa học, nêu các đặc trưng của phong cách ngônngữ khoa học
b) Về thực hành: Hướng cho HS ý thức rõ rệt về phong cách ngôn ngữ khoa họctrong các bài tập Đánh giá sự tiến bộ của HS trong cả quá trình, không chỉ mộtbài GV chú ý kết quả làm các bài tập ở nhà của HS Nếu HS làm hết các bài tậptrong SGK thì chứng tỏ HS có nhận thức tốt và có thể tiến hộ nhanh chóng
2 Gợi ý giải bài tập.
Bài tập 1
Bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế
Kỉ XX (Ngữ văn 12, tập một) là một văn bản khoa học (không giống các văn
bản nghệ thuật, văn bản hành chính, ) vì:
a) Nội dung thông tin là những kiến thức khoa học khoa học văn học – chính xác hơn là khoa học lịch sử văn học (gọi tắt là văn học sử), một chuyên ngành
trong khoa học văn học Khoa học văn học (một số tài liệu nước ngoài gọi là
khoa nghiên cứu văn học) bao gồm các chuyên ngành: Văn học đại cương (Lí
luận văn học), Lịch sử văn học, Phê bình văn học, Thi pháp học,
b) Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng luận chứng (sự phát triển của xã hội từCách mạng thăng Tám năm l945 đến hết thế kỉ XX) và trình bày các luận diềm
về sự phát triển văn học
c) Văn bản này thuộc loại văn bản giáo khoa, dùng để giảng dạy trong nhàtrường, có đối tượng là HS phổ thông, nên phải có tính sư phạm, nghĩa là kiếnthức phải chính xác và phù hợp với trình độ nhận thức của HS lớp 12 THPT Vìvậy, một mặt trình bày kiến thức văn học sử, mặt khác cần làm cho HS tiếpnhận, ghi nhớ và có kĩ năng vận dụng để hiểu khái quát một giai đoạn văn họctrong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam
Trang 37d) Ngôn ngữ khoa học được sử dụng trong văn bản có không ít các thuật ngữ
khoa học văn học Ví dụ: chủ đề, hình ánh, tác phẩm, phản ánh hiện thực, đại chúng hoá, chất suy tưởng, nguồn cảm hứng sáng tạo, Tuy có phần trừu
tượng, lí trí, khô khan, nhưng HS lớp 12 có thể hiểu được
Tóm lại, qua văn bản này, GV cần làm cho HS hiểu thế nào là một văn bản khoahọc, đặc biệt là một văn bản giáo khoa về lịch sử văn học Bài tập có thể làm ởlớp, sau khi đã học phần lí thuyết về ngôn ngữ khoa học và các loại văn bảnkhoa học
Bài tập 1
Muốn giải thích và phân biệt các thuật ngữ khoa học với từ ngữ thông thườngcùng một hình thức âm thanh thì cần đối chiếu, so sánh lần lượt từng từ Với cácthuật ngữ khoa học (nếu không nhớ) cần dùng từ điển chuyên ngành để tra cứu
Ví dụ: Từ đoạn thẳng trong ngôn ngữ thông thường được hiểu là đoạn không
cong queo, gãy khúc, không lệch về một bên nào; trong ngôn ngữ khoa học(Toán học) được hiểu là đoạn ngắn nhất nối hai điểm với nhau
Trang 38quá trình trả bài, GV nên phối hợp nhận xét, đánh giá và rút kinh nghiệm giữanội dung và cách thức làm bài của HS Nhận xét, đánh giá cần cụ thể, rút kinhnghiệm cần thiết thực, tránh nói chung chung, tản mạn Từ việc uốn nắn nhữngsai sót về nội dung mà giáo dục về đạo đức, từ những sai sót về cách thức làmbài mà hướng dẫn HS rèn luyện về kĩ năng nghị luận.
2 Trọng tâm bài học
Hướng dẫn HS tự nhận xét, đánh giá bài viết và rút kinh nghiệm cho bàn thân
II - PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
Bước 2: Nhận xét chất lượng bài làm và trả bài (tham khảo mục 3 phần I, SGK).
GV đánh giá những ưu điểm, nhược điểm chung về bài làm của cả lớp và mộtvài HS yêu biểu
- Giới thiệu một vài đoạn văn viết tốt của HS
- Trả bài cho HS, giải thích một vài lời phê, vài kí hiệu nhận xét của mình trongbài viết của HS nếu thấy cần thiết
Bước 3: Hướng dẫn HS luyện tập ở nhà và chuẩn bị cho bài viết sau (tham khảo
2 Trọng tâm bài học
Tìm hiểu đề, xây dựng dàn ý và viết bài văn nghị luận về một hiện tượng đờisống
II - PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
Tham khảo những hướng dẫn ở tiết Viết bài làm văn số l Có thể chọn một trong
ba đề gợi ý trong SGK, hoặc tự soạn đề có nội dung tương tự Nên chọn nhữnghiện tượng đời sống sát hợp trình độ và hoàn cảnh HS lớn mình
Trang 39Một sổ đề gợi ý thêm
Đề 1
Suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng nghiện ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét trong nhiều bạn trẻ hiện nay (Tham khảo bài tập 2, bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống.)
Đề 2
Cứ đến mùa tuyển sinh đại học hàng năm, rất nhiều học sinh, sinh viên ở các thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quy Nhơn, Vinh, ) lại nhiệt tình tham gia phong trào “tiếp sức mùa thi”
Anh (chị) suy nghĩ thế nào về hiện tượng ấy?
III - KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ - GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
Tham khảo phần hướng dẫn ổ tiết Viết bài làm văn số 1.
Tuần tiết
-THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG AIDS
- Khi đại dịch ấy còn hoành hành trên thế giới, không ai có thể giữ thái độ im lặng cũng như sự kì thị, phân biệt đối xử với những người đang sống chung cùng HIV/AIDS “
- Sức thuyết phục mạnh mẽ của bài văn, được tạo nên bởi tầm nhìn, tầm suy nghĩ sâu rộng, bởi mối quan tâm, lo lắng cho vận mệnh của loài người và bởi cách diễn đạt vừa trang trọng, cô đúc, vừa giàu hình ảnh và gợi cảm
- Bản thông điệp nói về một vấn đề cụ thể, đang đặt ra trước mắt mỗi chính phủ
và mỗi người dân trên thế giới, nhưng có sức gợi nghĩ đến nhiều điều sâu xa, lớn rộng hơn
B - NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý
I - NỘI DUNG
1 Đặc điểm bài học
a) Trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông, bản thông điệp này thuộc
vào số các văn bản nhật dụng Hai chữ nhật dụng đây dùng để chỉ loại văn đề
cập tới những hiện tượng, vấn đề cụ thể, có ý nghĩa quan trọng, bức xúc, đangđặt ra trước mắt con người trong cuộc sống thường ngày của họ Việc giảng dạycác văn bản nhật dụng được đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu làm cho môn Ngữ văn
ở nhà trường xích lại gần hơn với cuộc sống xã hội và tham gia tích cực hơn vàocuộc đấu tranh nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong thực tế
Trang 40Để bản thông điệp của Cô-phi An-nan có thể hiện ra trước HS với đầy đủ ýnghĩa của một văn bản nhật dụng thì GV cần phải cho HS tìm hiểu vềHIV/AIDS hoặc các bệnh dịch, các tệ nạn xã hội khác ở địa phương, trên đấtnước và trong phạm vi toàn thế giới (khái niệm, biểu hiện, tình trạng và mức độnguy hiểm, cách phòng chống, trách nhiệm của mỗi người trong cuộc đấu tranhđẩy lùi hiểm hoạ, )
Tổ chức cho HS tham gia những hoạt động tuyên truyền để phòng chốngHIV/AIDS hoặc các dịch bệnh, các tệ nạn xã hội khác
b) Tuy nhiên, không.vì thế mà chúng ta chỉ cần dạy bài này như dạy một tài liệu
tuyên truyền, cổ động thông thường Bởi lẽ, bản thông điệp của C An-nan còn
là một bài văn có giá trị nghị luận không hề nhỏ Về mặt hình thức biểu hiện, giátrị nghị luận ấy được làm nên từ cách sắp xếp luận điểm, luận cứ hợp lí, rànhmạch; từ lôgíc lập luận chặt chẽ và nhất là từ những lời văn trang trọng, ở đó,sức nặng của suy nghĩ và cảm xúc được nén chặt trong một số ít ngôn từ, vì thế,tạo ấn tượng mạnh cho người đọc
GV Cần cho HS thấy, đấy là những điều các em có thể và nên học tập, khôngchỉ để viết các bài làm văn trong trường học, mà còn để phục vụ cho cuộc sốngsau này
2 Trọng tâm bài học
a) Về nội dung tư tưởng, cần nhấn mạnh vào các ý:
Không ai có thể cố thủ trong thành luỹ của sự im lặng, để lảng tránh trách nhiệmtham gia vào cuộc chiến đấu chống lại đạt dịch HIV/AIDS
Không nên giữ thái độ kì thị, phân biệt đối xử với những người nhiễmHIV/AIDS
b) Về hình thức trình bày, diễn đạt, cần tập trung làm rõ sự đặc sắc trong lậpluận, và nhất là trong cách hành văn của tác giả
Nên cho HS tìm hiểu b nửa cuối bản thông điệp, vì đây là nơi chứa đựng nhiềuhơn cả những nét đặc sắc - cả về nội dung ý nghĩa lẫn hình thức thể hiện- củabài văn
II - PHƯƠNG PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Phương pháp dạy học
GV cần căn cứ vào đặc điểm bài học, kết hợp với tình hình thực tế của HS ở lớpmình để tìm tòi, sáng tạo những biện pháp dạy học phù hợp và hiệu quả theophương hướng: phát huy tính chủ động, tích cực cùng tinh thần độc lập suy nghĩcủa HS, giúp các em có thể nhận ra sự đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật củabài văn
Ngoài những đặc trưng chung của phương pháp tìm hiểu, phân tích một văn bảntrong trường học, khi dạy bài này, gv cần chú ý thêm những điểm dưới đây:
a) Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, l- 12 - 2003 là một văn
bản nghị luận, giống như kiểu văn bản trong bài viết về Nguyễn Đình Chiểu của
cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng Vì thế, khi dạy bản thông điệp này, GV cũngphải chú ý đến những nét đặc sắc trong cách xây dựng hệ thống luận điểm, luận
cứ, trong bố cục lập luận, cũng như trong cách diễn đạt, hành văn
b) Nhưng Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, l- l2 -2003 còn
được học ở chương trình với tư cách là một văn bản nhật dụng việc học bài văn