Công ty cổ phần được định nghĩa là một tổ chức thành lập theo pháp luật trong đó vốn được chia làm nhiều phần bằng nhau, người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP được gọi l
Trang 1LỜI CẢM ƠN.
Lời đầu tiên tác giả xin gởi lời cảm ơn đến thầy cô Khoa Kinh tế, thầy cô trường Đại học LuậtThành phố Hồ Chí Minh đã tận tụy truyền cho tác giả nguồn kiến thức sâu rộng để làm nên Khóaluận
Và hơn hết, tác giả xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thành Đức đã không ngại thờigian quý báu chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên tác giả hoàn thành Khóa luận này
Khóa luận hoàn thành còn nhờ sự giúp đỡ tận tình của các anh, chị Công ty Luật TNHH Sài GònLuật, của bạn bè - những người luôn sát cánh với tác giả trong thời gian qua Xin chân thành cảm
Sinh viên thực hiện
ĐỖ THỊ THÌN.
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường, CTCP có một vị trí trung tâm và là một
xu thế vận động tất yếu của hệ thống doanh nghiệp Ở nước ta, điều này cũng đã được thểhiện rõ qua chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp trong những năm qua Trong đó,nổi bật lên là vấn đề hệ thống, ổn định và đảm bảo các khía cạnh pháp lý của các cổ đôngtrong CTCP
Luật Doanh nghiệp có hiệu lực cho đến nay gần 2 năm đã góp phần nâng cao đáng kể đờisống pháp lý và hoạt động của CTCP, tuy nhiên trong quá trình vận dụng vào thực tế cũng
đã nảy sinh nhiều vấn đề vướng mắc, chồng chéo giữa các điều khoản của Luật Doanhnghiệp, giữa Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác, một vài quy định chưa thực
sự tạo ra khung pháp lý chặt chẽ để thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng của cổ đông CTCP.Làm thế nào để CTCP giữ vững vai trò là “trung tâm” trong tiến trình phát triển kinh tế thịtrường, làm thế nào để đảm bảo tư cách, quyền lợi của các cổ đông – một thành tố đóng vaitrò nòng cốt trong CTCP là một trong những giải pháp góp phần thực hiện chủ trương xâydựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với quốc sách phát huy tiềmlực toàn xã hội
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn cùng với kiến thức từ thầy cô, bạn bè, từ sách vở, từcác phương tiện thông tin đại chúng tác giả chọn đề tài “QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN” để làm khóa luận tốt nghiệp cuối khóa của mình Thôngqua đó, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé công sức của mình vào việc hoànthiện hơn các quy định của LDN nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của cổ đông CTCP, bảmđảm CTCP phát triển đúng với bản chất là loại hình công ty đối vốn và giữ vị thế trung tâmtrong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
2 Mục đích nghiên cứu đề tài.
Đây là vấn đề khoa học pháp lí không phải là mới mẻ nhưng giá trị của vấn đề thì trườngtồn mãi mãi, trải qua bao lần thay đổi và dù Luật Doanh Nghiệp năm 2005 được sửa đổi thìbản chất của vấn đề vẫn còn đó Do đó, mục đích của đề tài là nghiên cứu một cách hệthống các vấn đề lý luận, các khía cạnh pháp lý về cổ đông trong CTCP nhằm tiếp cận vấn
đề sâu hơn và có cái nhìn toàn diện hơn để nâng cao kiến thức cho bản thân, thông qua đó
hi vọng đóng góp một phần nhỏ bé công sức, công trình nghiên cứu cho nền khoa học pháp
lý nước nhà cũng như vào xu thế vận động tất yếu của hệ thống doanh nghiệp
3 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu về quy chế xác lập tư cách của cổ đông, quyền và nghĩa vụ của
cổ đông, và chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP theo quy định của Luật Doanh nghiệp
và từ đó có một số vấn đề liên hệ với các văn bản pháp luật khác
Trang 3Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổnghợp, duy vật biện chứng…hy vọng chia sẻ cùng độc giả mối quan tâm về đề tài này.
KẾT CẤU ĐỀ TÀI:
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I: Khái quát về CTCP và cổ đông trong CTCP
CHƯƠNG II: Xác lập và chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP
CHƯƠNG III: Quyền và nghĩa vụ của cổ đông CTCP
CHƯƠNG IV: Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông CTCP
Trang 4LDN : Luật Doanh nghiệp năm 2005.
BLDS : Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT 3
I Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành CTCP 3
1 Khái niệm và đặc điểm CTCP 3
1.1 Khái niệm CTCP 3
1.2 Đặc điểm CTCP 4
2 Lịch sử hình thành CTCP 7
II Cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu trong CTCP 8
1 Cổ phần, cổ phiếu trong CTCP 8
1.1 Cổ phần 8
1.2 Cổ phiếu 12
2 Trái phiếu trong CTCP 13
III Cổ đông trong CTCP 14
1 Khái niệm, đặc điểm cổ đông trong CTCP 14
1.1 Khái niệm cổ đông 14
1.2 Đặc điểm cổ đông trong CTCP 15
2 Vai trò cổ đông trong CTCP 16
3 Các loại cổ đông trong CTCP 16
CHƯƠNG II: XÁC LẬP, CHẤM DỨT 18
I Xác lập tư cách cổ đông trong CTCP 18
1 Xác lập tư cách CĐSL 18
2 Xác lập tư cách cổ đông thường 20
3 Xác lập tư cách cổ đông từ trái phiếu chuyển đổi 23
4 Xác lập tư cách cổ đông thông qua các hành vi giao dịch khác 24
II Chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP 28
CHƯƠNG III: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CTCP 30
Trang 6I Quyền và nghĩa vụ của CĐPT trong CTCP 30
1 Quyền của CĐPT 30
1.1 QUYỀN TÀI SẢN 30
1.2 QUYỀN NHÂN THÂN 44
2 Nghĩa vụ của CĐPT 58
II Quyền và nghĩa vụ của CĐUĐ trong CTCP 59
1 Cổ đông ưu đãi biểu quyết 59
2 Cổ đông ưu đãi cổ tức 61
3 Cổ đông ưu đãi hoàn lại 64
CHƯƠNG IV: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ 65 I Kiến nghị về xác lập và chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP 65
1 Kiến nghị về xác lập tư cách cổ đông trong CTCP 65
1.1 Tư cách cổ đông là tổ chức không có tư cách pháp nhân 65
1.2 Tư cách cổ đông của người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi 65
1.3 Tư cách cổ đông của người thừa kế di sản là cổ phần 66
2 Kiến nghị về chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP 66
II Kiến nghị về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong CTCP 67
1 Kiến nghị về quyền của cổ đông trong CTCP 67
1.1 Quyền nhận cổ tức 67
1.2 Quyền biểu quyết 68
1.3 Quyền ủy quyền cho người khác 70
1.4 Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần 71
1.5 Quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ 72
1.6 Quyền cầm cố cổ phần 72
2 Kiến nghị về nghĩa vụ của cổ đông trong CTCP 73
Trang 7CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT
VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN.
I Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành CTCP.
1 Khái niệm và đặc điểm CTCP.
1.1 Khái niệm CTCP.
Ngày xưa, các nhà buôn đã biết hùn nhau đồng vốn để làm ăn và chia lời lãi từ côngviệc kinh doanh Họ chấp nhận mất đi phần vốn đã bỏ ra nếu công việc kinh doanhgặp trở ngại Hình ảnh này cũng không khác mấy với hình ảnh người ta mua cổ phần
ở các CTCP ngày nay Bằng việc cách điệu hóa các nguyên tắc mà các nhà buôn đãtừng hùn vốn với nhau, quy định cụ thể về phương thức góp vốn, người được quyềngóp vốn, đa dạng hóa các loại vốn góp, thêm bớt các quyền và nghĩa vụ của ngườigóp vốn,cách chia lời lãi, trách nhiệm của mỗi người góp vốn đối với những rủi rotrong kinh doanh… ý tưởng sơ khai về sự hợp tác cùng bỏ vốn, chia lời lãi và chỉ mấtnhững gì đã góp vào ban đầu của các nhà buôn được tiếp nối trong các CTCP hiệnđại
Ngày nay, CTCP được xem là phương thức phát triển cao nhất của loài người để huyđộng vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển1
Công ty cổ phần được định nghĩa là một tổ chức thành lập theo pháp luật trong đó
vốn được chia làm nhiều phần bằng nhau, người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát
hành của CTCP được gọi là cổ đông Cổ đông có thể là cá nhân hay tổ chức và chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trongphạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp CTCP mang bản chất là công ty đối vốnquy tụ các cổ đông có thể là những người không quen biết nhau, tối thiểu phải là banhưng không hạn chế số lượng tối đa
1.2 Đặc điểm CTCP.
CTCP tồn tại dưới các tên gọi khác nhau ở các nước khác nhau Ở Pháp, người ta cóthể thành lập CTCP, công ty hợp vốn cổ phần, công ty cổ phần đơn giản Ở Đức, nó
là công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu (company limited by shares) Nhưng
dù CTCP được gọi tên như thế nào thì những đặc trưng cơ bản của CTCP hầu nhưvẫn không thay đổi
Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập.
Pháp luật về công ty của các nước đều xác lập một cách cụ thể về các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của CTCP với tư cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực và tư cáchchủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty CTCP chịutrách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của chính công ty, lànguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại Tòa án thông quangười đại diện của mình Cổ đông là chủ sở hữu CTCP và có một số quyền lợi như:
1 Nguyễn Ngọc Bích, “Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần”, NXB Trẻ, trang 26
Trang 8quyền tham gia quản lý điều hành, quyền được chia cổ tức, quyền được chia tài sảntheo tỷ lệ cổ phần sở hữu khi công ty giải thể … nhưng cổ đông chỉ được sở hữu cổphần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty.Trong khi đó, CTCP với tư cách là một pháp nhân có quyền sở hữu toàn bộ tài sảnriêng của công ty.
Cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn.
Khi một cá nhân hay tổ chức chuyển dịch vốn của mình vào CTCP trở thành tài sảnthuộc sở hữu CTCP, cổ đông vẫn được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từviệc góp vốn nhưng cũng có thể mất chúng khi công ty giải thể hoặc phá sản Vốnthuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ
số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa
vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình.Đặc điểm này cho phép người ta mạnh dạn đầu tư vào công ty mà không phải chịu rủi
ro đối với tài sản cá nhân trong trường hợp công ty phá sản vì cổ đông không bao giờ
bị mất nhiều hơn so với số vốn đã bỏ ra đầu tư vào CTCP Cũng chính lợi thế này màcác CTCP có khả năng huy động rất lớn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạtđộng sản xuất – kinh doanh của mình
Cổ phần được tự do chuyển nhượng
Đây là đặc điểm quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của CTCP Chính đặc điểm này đã thuhút các NĐT vì với cổ phần được tự do chuyển nhượng cổ đông có thể chuyểnnhượng cổ phần cho NĐT khác bất cứ lúc nào, họ được quyền rời bỏ công ty khi họmuốn2 Hơn nữa, với việc tự do chuyển nhượng cổ phần, cơ cấu cổ đông của công ty
có thể thay đổi linh hoạt mà không làm ảnh hưởng đến sự tồn tại cũng như bản chấtcủa công ty
CTCP có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt
Công ty cổ phần không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn Vốn làyếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ vớicác đối tác bên ngoài Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồncủa quyền lực Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của công ty cổ phần là một dấu hiệuchỉ rõ thực lực tài chính của công ty Sự phát triển của công ty cổ phần tỷ lệ thuận với
sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế Sự vận động của vốn trong công ty
cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởngbởi ý chí chủ quan của con người Do vậy, cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản
lý vốn trong CTCP sẽ đa dạng và cụ thể để có thể đáp ứng được sự vận động linhhoạt của đồng vốn trong CTCP
Quy mô CTCP dễ dàng mở rộng.
Cổ đông CTCP có thể là cá nhân hay tổ chức, số lượng tối thiểu là ba, không hạn chế
số lượng tối đa Do vậy, bất cứ ai cũng có thể trở thành cổ đông của CTCP nếu họ
2
Trang 9không thuộc dạng bị cấm góp vốn vào CTCP và chỉ cần nắm giữ ít nhất một cổ phầncủa CTCP Mặt khác, CTCP có thời gian tồn tại vô hạn nên việc phát hành chứngkhoán để huy động vốn và mở rộng quy mô công ty là điều hết sức dễ dàng.
Cơ chế quản lý tập trung cao.
CTCP không phải là sự tập hợp đơn thuần của cổ đông mà là một thực thể thống nhất
có tổ chức chặt chẽ Bản thân công ty là một pháp nhân độc lập với đầy đủ quyền vànghĩa vụ của mình nhưng không thể quyết định được ý chí của mình hay tự mìnhhành động như một thể nhân Vì vậy, mọi hành động của CTCP phải được thực hiệnthông qua một cơ quan quản lý riêng biệt Điều đó dẫn đến sự tách biệt giữa nhữngngười sở hữu cổ phần và những người điều hành Sự tách biệt này giúp tiết kiệm chiphí của việc ra quyết định và để đảm bảo rằng các nhà quản lý không đi ngược lại lợiích của mình Các cổ đông thành lập ra bộ máy, cơ chế để quản lý, kiểm soát nhữnghành vi cơ hội chủ nghĩa của các cổ đông nắm quyền kiểm soát hoặc là đối với các cổđông khác, hoặc là đối với các đối tác khác liên quan đến công ty như chủ nợ hayngười lao động Nó mang đến cho cổ đông thiểu số hay các thành phần khác nhưngười lao động và chủ nợ một phương tiện tiếp cận thông tin đáng tin cậy hay thamgia trực tiếp vào việc ra quyết định của công ty Rõ ràng, việc tách bạch giữa sở hữu
và quản lý như vậy vừa thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp được công
ty thuê làm công tác quản lý, vừa tạo ra được sự quản lý tập trung cao thông qua cơchế quản lý hiện đại nhằm phát huy tính hiệu quả, công khai, minh bạch, góp phầnbảo vệ nhà đầu tư tốt hơn và cải thiện sức cạnh tranh cho chính bản thân doanhnghiệp
Với những đặc điểm nổi bật, CTCP đã trở thành hình thức tổ chức doanh nghiệpmang tính thống trị nhằm giải quyết nhu cầu về vốn cho tăng trưởng Dù vẫn còn cónhững hạn chế nhất định nhưng trong thời buổi cạnh tranh toàn cầu hiện nay nhữnghạn chế của CTCP là hoàn toàn có thể được khắc phục Trong nền kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, CTCP là hình thức huy động vốn trên quy
mô lớn một cách hiệu quả nhất, giúp doanh nghiệp tiếp thu sự tiến bộ của khoa họcnhanh chóng, tạo điều kiện cho công ty kinh doanh hiệu quả hơn và tăng thêm nguồnthu cho ngân sách
2 Lịch sử hình thành CTCP.
CTCP có nguồn gốc khá mơ hồ ở Ý hoặc một trong những ngân hàng đầu tiên ởGenua, hoặc Mailand trong thế kỷ XV, hoặc trong công ty Đông Ấn của Hà Lan,hoặc thậm chí đã có nguồn gốc xa xưa trong các societas của người La Mã3
Ở thời La Mã, tầng lớp quý tộc lập ra những societas (hội xã) để phụ các hiệp sĩ thuthuế nông nghiệp, sau đó là đi chinh phục các lãnh thổ và đúc khí giới, áo giáp cungcấp cho các đoàn quân viễn chinh; còn ở tầng lớp thứ dân, những người thợ thủ công
và thương gia mở các collegia hay corpora (công ty) tự bầu người quản lý và đượccấp phép hoạt động Sau đế quốc La Mã sụp đổ, hình thức này cũng lụi tàn dần chomãi đến thời kỳ Trung cổ, hai trong số các tổ chức do người La Mã để lại đã được
3 TS Phạm Duy Nghĩa, “Chuyên khảo luật kinh tế”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004, trang 255.
Trang 10phục hồi là đế quốc của các thương gia tại Ý và công ty cùng các guild (phường hội)được chính quyền cấp phép tại miền Bắc Châu Âu.
Bắt đầu từ đó, hình thức lập hội, lập các tổ chức dạng như công ty phát triển liên tụcdưới nhiều hình thái khác nhau qua các thời kỳ tại các vùng lãnh thổ khác nhau.Trong các thời kỳ này, nền kinh tế thị trường phát triển cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của CNTB, nhu cầu hùn hợp vốn và liên kết của các nhà buôn nhỏ lẻ trước sựchèn ép của các nhà tư bản là tất yếu và ngày càng trở nên phổ biến dưới nhiềuphương thức Mầm mống hình thành CTCP đúng như C.Mac nhận định: “Ngay trongbuổi đầu của nền sản xuất TBCN một số ngành sản xuất cũng đòi hỏi một số tư bảntối thiểu mà lúc bấy giờ từng cá nhân riêng lẻ chưa thể có được, tình hình đó mặcnhiên dẫn đến Nhà nước phải trợ cấp cho những tư nhân như ở Pháp dưới thời Côn-
Be, như là một số công quốc cho tới nay Mặt khác, nó dẫn đến việc thành lập một sốhội nắm giữ độc quyền do pháp luật thừa nhận để kinh doanh trong những ngànhcông nghiệp và thương nghiệp nhất định Đó là tiền thân của Công ty cổ phần hiệnđại”4
Ở Việt Nam, nhu cầu hội người, hội vốn, hội các làng nghề giữa các gia đình nhàbuôn truyền thống với những kẻ thực dân, giữa các tầng lớp nhỏ bé, yếu thế với nhau
đã xuất hiện từ lâu và là nhu cầu tất yếu để tạo nên sức mạnh tập thể CTCP cũng vì
lẽ ấy đã có một truyền thống âm thầm từ hơn một thế kỷ nay ở nước ta Thế nhưng donhững biến động chính trị, do phụ thuộc vào kinh tế kế hoạch nên “cái mầm mống ấysớm héo hon” Mãi đến cuối thập niên 1980, nền kinh tế kế hoạch mới đến hồi kết vànhường đường cho một sắc luật của nền kinh tế thị trường ra đời Trên cơ sở nghiêncứu các tài liệu về Luật Kinh tế chế độ cũ (như Luật thương mại Trung phần banhành thời Pháp, áp dụng cho miền Trung; Luật thương mại của chế độ cộng hòa ),một số tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp nghiên cứu về luật công ty của một số quốc gia
tư bản Luật Công ty năm 1990 đã mở màn tái khám phá ra CTCP Lần đầu tiêntrong lịch sử chế độ xã hội chủ nghĩa ở VN, kinh tế tư nhân được thừa nhận về mặt
pháp lý Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy đã được thay đối bởi LDN năm 1999, và
ngày nay, LDN năm 2005 dành hẳn một chương với các quy định khá cụ thể để nói
về CTCP – một hình thức kinh doanh đem lại nhiều thành công cho nền kinh tế vàđóng vai trò vô cùng quan trọng như C.Mac đã từng nhận định: “Nếu phải chờ đợi Tưbản tư nhân tích tụ cho đến lúc đủ sức làm một con đường sắt thì có lẽ đến ngày nayChâu Âu vẫn chưa có đường sắt, nhưng nhờ việc thành lập công ty cổ phần nên việc
ấy làm được dễ dàng như trở bàn tay”5
II Cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu trong CTCP.
Trang 11Cổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vịnhỏ nhất của một cá nhân hay tổ chức trong CTCP Ở các quốc gia khác nhau, thuậtngữ “cổ phần” được hiểu theo các cách khác nhau nhưng bản chất của nó vẫn thể hiệnquyền sở hữu đối với CTCP.
Ở Philippin, Singapore, Malaixia…phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn
tư nhân hoặc các công ty đóng và các công ty công cộng đều được coi là cổ phần Cổphần ở các công ty này chỉ khác nhau là có được chào bán ra công chúng và có đượcniêm yết ở sở giao dịch chứng khoán hay không Ở các quốc gia này, cổ phần đượcxem như là đơn vị để phân chia quyền sở hữu của công ty và mỗi cổ phần có thể gồmnhiều cổ phiếu có giá danh nghĩa như nhau
Ở Việt Nam, và một số quốc gia khác trên thế giới cổ phần là phần chia nhỏ nhất vàbằng nhau của vốn điều lệ6, là từ “tượng trưng” cho quyền sở hữu của cổ đông vàđược cụ thể hóa bằng một cổ phiếu Quyền sở hữu này dù chỉ là một phần cũng chophép người sở hữu cổ phần những đặc quyền nhất định, thường là: hưởng một phầntương ứng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, thông qua phần chia lãi sau thuế,quyền được tham gia quyết định kinh doanh quan trọng trong các phiên họp thườngniên hay bất thường, và sức mạnh quyền này tỉ lệ với số cổ phần nắm giữ (???),quyền được tiếp tục tham gia đóng góp vốn khi doanh nghiệp phát hành bổ sung các
cổ phần mới, hoặc phát triển các dự án mới cần gọi vốn và một số quyền khác tùytheo qui định pháp luật
Các loại cổ phần.
CTCP phải có cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi là loại cổ phần không bắt buộc phải
có trong CTCP, bao gồm: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần
ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
LDN không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là “CPPT” nhưng căn cứ vào quyền vànghĩa vụ của người nắm giữ nó CPPT được hiểu là loại cổ phần có thu nhập không ổnđịnh, cổ đông nắm giữ CPPT được trả cổ tức hàng năm tùy thuộc vào hoạt động kinhdoanh của công ty và có những quyền cơ bản nhất như biểu quyết, tham gia bầu cử vàứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty, chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặcphá sản tương ứng với phần vốn góp của mình
LDN cũng không đưa ra khái niệm chung cho “CPUĐ” mà mỗi CPUĐ đều có kháiniệm riêng và đem lại cho người nắm giữ những quyền đặc biệt Thực chất, CPUĐ cónguồn gốc từ CPPT, chẳng qua từ cái gốc chính đó, người ta giảm đi các yếu tốquyền căn bản để tạo ra những CPUĐ khác nhau7 Trong đó:
Cổ phần ưu đãi biểu quyết, theo khoản 1 Điều 81 LDN, là “cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định” Như vậy, so với các CĐPT, CĐUĐ biểu
quyết sẽ có tiếng nói nhiều hơn trong các cuộc họp ĐHĐCĐ LDN không hạn chế tối
6 Điểm a khoản 1 Điều 77 LDN.
7 Nguyễn Ngọc Bích, “ Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần”, NXB Trẻ, trang 114.
Trang 12đa số phiếu biểu quyết của CPUĐ biểu quyết và cũng không hạn chế tỷ lệ CPUĐ biểuquyết nói riêng mà chỉ hạn chế về chủ thể có quyền nắm giữ loại cổ phần này nhằm
hạn chế cổ đông đưa ra các quyết định bất lợi cho CTCP Theo đó, “chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và CĐSL được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết”.
Cổ phần ưu đãi cổ tức, theo khoản 1 Điều 82 LDN, là “cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của CPPT hoặc mức ổn định hằng năm” Loại cổ
phần này thực ra đã tồn tại ở các nước phát triển từ rất lâu Đây là loại cổ phần phùhợp với các cổ đông thiểu số và những cổ đông không có nhu cầu quản trị công ty.Đối với các cổ đông thiểu số thường chọn loại cổ phần này để có được lợi ích caohơn trong việc nhận cổ tức vì họ biết rằng với ngần ấy cổ phần ít ỏi quyền biểu quyết,quyền quản trị công ty (nếu có) cũng trở nên vô nghĩa Còn đối với các cổ đôngkhông có nhu cầu quản trị, dù họ sở hữu một lượng lớn cổ phần đã phát hành, lựachọn loại cổ phần này chủ yếu để nhận cổ tức Các chủ thể này sẵn sàng hy sinhquyền bầu cử, ứng cử để lựa chọn CPUĐ cổ tức vì mức cổ tức hấp dẫn của nó
Cổ phần ưu đãi hoàn lại, theo khoản 1 Điều 83 LDN, là “cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại” CPUĐ loại này cũng là một
trong những công cụ huy động vốn hữu hiệu của CTCP, đặc biệt là khi công ty cầngấp một khoản vốn lớn để giải quyết những công việc cụ thể Có thể nói, đây cũng làmột khoản vay của CTCP trong quá trình hoạt động của mình, chỉ khác là công tykhông phải trả lãi cho người nắm giữ nó và quyền ưu tiên nhận tài sản còn lại củaCTCP phải xếp sau người nắm giữ trái phiếu sau khi công ty giải thể hoặc phá sản(nếu có)
Ngoài ba loại CPUĐ mà LDN dự liệu như đã phân tích thì CTCP còn có thể có một
số loại CPUĐ khác tùy thuộc vào Điều lệ quy định Thậm chí, CTCP có thể chỉ pháthành các loại CPUĐ khác do Điều lệ công ty quy định mà không nhất thiết phải baogồm ba loại cổ phần nêu trên Tham khảo pháp luật của Singapore, Thai Lan,Malaisia, Philippin các CPUĐ khác bao gồm8:
Cổ phần ưu đãi dự phần được chia cổ tức Sau khi đã nhận được cổ tức ưu đãi, các
CĐUĐ dự phần được chia thêm cổ tức mà các CĐPT được hưởng trong phạm vi quyđịnh trong bản điều lệ công ty
Cổ phần ưu đãi dự phần khi thanh lý Sau khi đã nhận được tài sản thanh lý theo phần
ưu đãi khi công ty giải thể, các CĐUĐ dự phần được nhận thêm tài sản phân chia chocác CĐPT trong phạm vi được quy định trong bản điều lệ
Cổ phần ưu đãi không dự phần Được ưu đãi về cổ tức nhưng không được dự phần
vào việc chia thêm tài sản thanh lý hay cổ tức thường
Cổ phần ưu đãi phức hợp Các cổ phần ưu đãi có thể được phát hành có kèm theo các
quyền như “các cổ phần ưu đãi không dự phần, không bầu cử”, “các cổ phần ưu đãi
có thể mua lại được hoặc có thể chuyển đổi”, hoặc “các cổ phần ưu đãi có thể mua lại
8
Trang 13được và có thể chuyển đổi không dồn lãi dự phần” hoặc “ các cổ phần ưu đãi khôngdồn lãi dự phần”
Như đã đề cập trên thì cổ phần là phần chia nhỏ nhất và bằng nhau của vốn điều lệ, là
từ tượng trưng cho quyền sở hữu của cổ đông và được cụ thể hóa bằng một cổ phiếu,chỉ có CTCP mới phát hành cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một CTCP và cổ đông là người
có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu
Định nghĩa về cổ phiếu được tìm thấy trong luật pháp của hầu hết các quốc gia, chẳnghạn luật pháp về chứng khoán của Liên Xô có định nghĩa: “cổ phiếu là một loạichứng khoán do các pháp nhân phát hành trên cơ sở sở hữu tập thể hay sở hữu hoàntoàn quốc doanh, không ấn định thời hạn lưu hành, nhưng xác nhận việc bỏ vốn pháttriển xí nghiệp (xác nhận thành viên của xí nghiệp cổ phần và những người tham giaquản lý xí nghiệp) và cho phép người sở hữu chứng khoán có quyền hưởng một phầnlợi nhuận xí nghiệp dưới dạng lợi tức cổ phần”9
LDN định nghĩa cổ phiếu là “chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên” Như vậy, cổ phiếu trên thực tế là giấy chứng nhận
quyền sở hữu cổ phần của cổ đông, trong trường hợp cổ phiếu tồn tại dưới dạng búttoán ghi sổ thì bút toán ghi sổ đó là cơ sở để xác định phần quyền sở hữu của cổđông
Thông thường các CTCP đều phân cổ phiếu thành “cổ phiếu thường” và “cổ phiếu
ưu đãi” Cách phân chia này tồn tại từ trước đến nay và hầu như thống nhất như nhau
ở các nước phát triển
Cổ phiếu thường ghi nhận cổ đông nắm giữ có quyền hạn và trách nhiệm cơ bản như:được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh, được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máyquản trị và kiểm soát công ty, chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứngvới phần vốn góp của mình
Cổ phiếu ưu đãi bao gồm CPUĐ biểu quyết, CPUĐ cổ tức, CPUĐ hoàn lại ghi nhậnCĐUĐ sẽ được ưu đãi hơn CĐPT trong một số quyền như nhận cổ tức với mức ưuđãi, tỷ lệ biểu quyết cao hơn, được hoàn lại cổ phần nhưng đồng thời cũng bị hạn chếmột số quyền như: không được tự do chuyển nhượng cổ phần, không có quyền bầu
cử, ứng cử…
2 Trái phiếu trong CTCP.
9 “Chứng khoán và thị trường chứng khoán – kinh nghiệm của các nước trên thế giới”, Viện Khoa học tài chính, Hà Nội 1991, trang 75.
Trang 14Trái phiếu là chứng khoán có thể chuyển nhượng được trong đó ghi nhận một khoản
vay dài hạn của CTCP Người sở hữu trái phiếu có mệnh giá giống nhau thì có tráiquyền giống nhau
Bằng việc phát hành trái phiếu CTCP có thể có được những số tiền lớn mà không gặpcác khó khăn vì người sở hữu trái phiếu chỉ là một chủ nợ, cổ đông của CTCP sẽkhông tăng thêm và không đảo lộn thành viên trong các phiên họp ĐHĐCĐ Lãi suấttrả cho các khoản vay có thể thấp hơn lãi suất ngân hàng và công ty cũng dễ dàng duytrì sự tồn tại của mình trước nhiều chủ nợ thay vì một chủ nợ duy nhất là Ngân hàng.Mặt khác, khoản tiền lãi này được trừ vào lợi tức chịu thuế, một đặc điểm thuận lợicho CTCP
Tuy nhiên, CTCP chỉ được phát hành trái phiếu nếu thỏa mãn các điều kiện quy địnhtại Điều 88 LDN Theo đó, trừ khi pháp luật chứng khoán có quy định khác, CTCPkhông được quyền phát hành trái phiếu trong các trường hợp:
Không thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành, không thanh toán hoặcthanh toán không đủ các khoản nợ đến hạn trong ba năm liên tiếp trước đó
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế bình quân của ba năm liên tiếp trước đó không cao hơnmức lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu định phát hành
Việc phát hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn không bịhạn chế bởi các quy định nói trên
Như vậy, cổ phiếu và trái phiếu đều là công cụ huy động vốn của CTCP chỉ khácnhau ở chỗ trái phiếu là công cụ huy động vốn vay còn cổ phiếu để huy động hoặctăng vốn điều lệ Người nắm giữ trái phiếu là chủ nợ của CTCP, còn người mua cổphiếu sẽ là chủ sở hữu trong CTCP Cách gọi tên khác nhau này đồng nghĩa với việcngười nắm giữ hai loại chứng khoán có những quyền và nghĩa vụ khác nhau nhưngnhìn chung nó đều có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của CTCP
III Cổ đông trong CTCP.
1 Khái niệm, đặc điểm cổ đông trong CTCP.
1.1 Khái niệm cổ đông.
Một trong những đặc trưng của CTCP là tính đa dạng hóa chủ sở hữu và khả năng tự
do chuyển nhượng cổ phần nên CTCP là một công cụ thu hút vốn từ đại chúng rấthữu hiệu Người mua cổ phần sẽ được gọi là cổ đông LDN quy định một cách rõràng rằng cá nhân hay tổ chức góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh đượcgọi là “thành viên”, riêng cá nhân hay tổ chức mua cổ phần của CTCP được gọi là
“cổ đông” Về bản chất họ đều là thành viên của doanh nghiệp và tên gọi như thế nàochỉ là căn cứ để phân biệt họ là thành viên của loại hình doanh nghiệp nào
Trang 15Theo định nghĩa tại khoản 11 Điều 4 LDN thì cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP nhưng không phải mọi chủ sở hữu cổ phiếu đều được
coi là cổ đông Chủ sở hữu cổ phiếu, người nắm giữ cổ phiếu chỉ trở thành cổ đôngcủa công ty khi đã ghi đúng, ghi đủ những thông tin luật định vào sổ đăng kí cổ đông.Đối với trường hợp cổ phiếu không ghi tên thì các thông tin về người mua trong sổđăng ký cổ đông tại khoản 2 Điều 86 LDN đủ để chứng thực quyền sở hữu cổ phầncủa cổ đông đó trong công ty
Tóm lại, cổ đông có thể là cá nhân hay tổ chức sở hữu một hoặc nhiều cổ phần trongCTCP, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần đang sở hữu, được chứngnhận bằng cổ phiếu của CTCP và phải đảm bảo đủ các thông tin được quy định trong
hợp để tạo nên nguồn vốn ban đầu cho việc thành lập CTCP và có vẻ cởi mở hơnAnh, Mỹ nhằm tránh được việc thành lập CTCP với sự tham gia tượng trưng của một
số người khác cho đủ điều kiện luật định nhưng thực chất đó chính là những thànhviên “ma” và một ĐHĐCĐ giả tạo
Về chủ thể có quyền trở thành cổ đông CTCP
Công ty cổ phần là công cụ hữu hiệu thực hiện xã hội hóa đầu tư, mọi cá nhân, tổ chức, không trừ một ai đều có được cơ hội như nhau để thực hiện ý tưởng đầu tư với thủ tục hết sức đơn giản là mua cổ phần của công ty cổ phần, khi đó họ là cổ đông và
có khả năng thể hiện ý chí của mình thông qua ĐHĐCĐ Tuy nhiên, để trở thành cổđông họ phải thỏa mãn các điều kiện được quy định tại Điều 13 LDN
Thứ nhất, đối tượng được quyền góp vốn thành lập và quản lý CTCP LDN dùng
phương pháp loại trừ để xác định những đối tượng này Theo đó, những cá nhân hay
tổ chức không thuộc một trong bảy (07) trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều
13 thì được phép góp vốn thành lập và quản lý CTCP
Thứ hai, đối tượng được quyền góp vốn vào CTCP So với những đối tượng được
quyền thành lập và quản lý CTCP thì với khoản 3 Điều 13 LDN đối tượng đượcquyền mua cổ phần và trở thành cổ đông trong CTCP có phạm vi rộng hơn Nhữngđối tượng này bao gồm cả những người bị pháp luật cấm không được thành lập vàquản lý doanh nghiệp như sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
10 Tham khảo tại địa chỉ: http://nguoivietochauau.com/Tu_van_phap_luat/tim_hieu_luat_ba_lan/62/.
11 Nguyễn Mạnh Bách, “Quy định pháp luật về các công ty thương mại”, NXB Tổng hợp Đồng Nai, tr 119.
Trang 16quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhànước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn gópcủa Nhà nước tại doanh nghiệp khác…
2 Vai trò cổ đông trong CTCP.
Nói về thương trường, xưa ông cha ta đã có câu “buôn tài không bằng dài vốn” vàchính các cổ đông đã đầu tư đem lại nguồn vốn cho công ty Cổ đông là những hạtgiống của công ty, là thành viên quan trọng nhất của thị trường vì họ là người sẵnsàng bỏ tiền đầu tư giúp công ty thực hiện các dự án, kế hoạch kinh doanh và chia sẻrủi ro cũng như cùng phát triển, là người tham gia vào việc ra các quyết định quantrọng, định hướng cho sự phát triển lâu dài của công ty
Cổ đông còn đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp công ty quảng bá hình ảnh công ty
ra đại chúng, đóng góp vào sự phát triển bền vững, quyết định yếu tố thành bại củacông ty Không những thế, năng lực tài chính, quyền lợi, kiến thức và cả đạo đức của
cổ đông quyết định chất lượng phát triển thị trường chứng khoán của một quốc gia
3 Các loại cổ đông trong CTCP.
Công ty cổ phần, về bản chất là công ty đối vốn, là nơi số lượng cổ đông có khi lênđến hàng ngàn người Việc phân loại cổ đông có thể căn cứ vào nhiều tiêu chí khácnhau Bao gồm:
Căn cứ vào thời gian, trình tự tham gia thành lập có thể chia thành CĐSL và cổ đông thường CĐSL là người góp vốn cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào
bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần Trừ CĐSL những cổ đông còn lại sẽ là cổđông thường, hình thành bằng cách tham gia góp vốn, mua cổ phần và trở thành cổđông của CTCP
Căn cứ vào loại cổ phần có thể chia cổ đông thành CĐPT và CĐUĐ CĐPT là những
cổ đông sở hữu CPPT và có những quyền và nghĩa vụ căn bản nhất CĐUĐ là những
cổ đông sở hữu CPUĐ, được nhận một số quyền ưu tiên hơn nhưng đồng thời cũngphải từ bỏ một số quyền nhất định
Căn cứ vào chủ thể có thể chia cổ đông thành cổ đông là tổ chức và cổ đông là cá nhân hoặc cổ đông là NĐT trong nước và cổ đông là NĐT nước ngoài Theo khoản 5
Điều 3 LĐT thì NĐT nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiệnhoạt động đầu tư tại Việt Nam Hiện nay, trong một số ngành nghề, quyền góp vốnmua cổ phần của NĐT nước ngoài còn bị khống chế ở một tỷ lệ nhất định Tuy nhiên,theo lộ trình cam kết với WTO, những lĩnh vực hạn chế nói trên trong tương lai sẽ mởdần và không hạn chế tỷ lệ góp vốn đối với nhà đầu tư nước ngoài, NĐT nước ngoàiđược đối xử bình đẳng, quyền của họ ngày càng được mở rộng hơn
Căn cứ về nguồn gốc hình thành bao gồm cổ đông là người lao động trong công ty,
cổ đông là trái chủ, cổ đông mua lại phần vốn góp trên thị trường chứng khoán hay
cổ đông hình thành thông qua việc thỏa thuận giữa các bên Đối với cổ đông là người
Trang 17lao động trong công ty, CTCP bằng cách cho họ quyền ưu tiên mua cổ phiếu đã biến
họ thành cổ đông của doanh nghiệp, điều này giúp gắn liền quyền lợi của họ với sựphát triển của công ty và ngăn ngừa những xung đột về quyền lợi có thể phát sinh.Đối với cổ đông là trái chủ, trái phiếu chuyển đổi của trái chủ đến một lúc nào đó,theo một tỉ lệ công bố trước và vào một khoảng thời gian xác định trước, sẽ đượcchuyển đổi thành cổ phiếu và người nắm giữ trái phiếu sẽ trở thành cổ đông củaCTCP Đối với cổ đông mua lại phần vốn góp trên thị trường chứng khoán hay cổđông hình thành thông qua việc thỏa thuận giữa các bên phải thực hiện theo các quyđịnh của LDN và LCK, phải ghi nhận các thông tin vào sổ đăng kí cổ đông và cáctrình tự thủ tục khác do luật định
Căn cứ vào mục đích, tiêu chí gắn kết chặt chẽ với công ty bao gồm cổ đông chiến lược và cổ đông là NĐT tài chính, cổ đông đầu tư dự án Cổ đông chiến lược có thể
là các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài có năng lực tài chính, quản trịdoanh nghiệp; chuyển giao công nghệ mới, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thịtrường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp và sẵn sàng hỗ trợcho công ty phát triển Cổ đông chiến lược không được chuyển nhượng số cổ phầnđược mua trong thời hạn tối thiểu 03 năm, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phầnnày trước thời hạn trên thì phải được ĐHĐCĐ chấp thuận12 Cổ đông là NĐT tàichính thì chỉ quan tâm đến lợi nhuận, họ thường mua đi và bán lại để thu lời từ cổphần mà họ sở hữu Còn đối với các cổ đông đầu tư dự án, họ trở thành cổ đông củaCTCP bằng cách góp vốn vào dự án mà công ty đang thực hiện, các cổ đông nàythường hướng đến dự án của công ty chứ không phải là CTCP
12 Điểm a, điểm d khoản 3 Điều 6 NĐ 109.
Trang 18CHƯƠNG II: XÁC LẬP, CHẤM DỨT
TƯ CÁCH CỔ ĐÔNG TRONG CTCP.
I Xác lập tư cách cổ đông trong CTCP.
1 Xác lập tư cách CĐSL.
Trong nền kinh tế thị trường, CTCP được coi là thực thể trụ cột của nền kinh tế thìCĐSL là thành phần trụ cột của CTCP Trong ba năm đầu kể từ ngày CTCP được cấpGiấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, so với các cổ đông thường, CĐSL giữ vai trònòng cốt Họ là những người đã có công gây dựng nên CTCP, pháp luật cho họ nhiềuquyền hơn các cổ đông thường nhưng đồng thời cũng phải có trách nhiệm nặng nềhơn nhằm tạo ra sự ổn định về cơ cấu và hoạt động của CTCP trong thời gian đầumới thành lập Sau khoản thời gian này, vai trò của CĐSL không còn quan trọng nhưtrước nữa, CĐSL được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình và không còn chịu sựđiều chỉnh chặt chẽ của pháp luật CĐSL có thể là cá nhân hay tổ chức và việc xáclập tư cách CĐSL thông thường theo các cách sau:
Thứ nhất, LDN tại khoản 11 Điều 4 và NĐ 139 Điều 15 giải thích rằng “CĐSL là
người góp vốn cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đầutiên của CTCP” Nhưng trước hết, một cá nhân hay tổ chức muốn trở thành CĐSLcủa CTCP phải đảm bảo quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam,quyền mua cổ phần của CTCP được quy định tại Điều 13 LDN và Điều 10, Điều 11
NĐ 139
Về số vốn phải góp, “các CĐSL phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số CPPT được quyền chào bán” 13 LDN không yêu cầu CTCP phải đảm bảo mức vốnpháp định tối thiểu nếu nó không kinh doanh những ngành nghề bắt buộc phải có vốnpháp định14 Luật cũng không ấn định số cổ phần tối thiểu mà mỗi CĐSL phải muanên với quy định này có thể coi đây là một quy định gián tiếp của LDN về cổ phần tốithiểu linh hoạt dựa trên số cổ phần chào bán đối với CĐSL
Thứ hai, nhận chuyển nhượng phần vốn góp của CĐSL khác Trong vòng 3 năm kể
từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cá nhân, tổ chứccũng có thể trở thành CĐSL khi được CĐSL trong CTCP chuyển nhượng phần vốngóp của mình Bên nhận chuyển nhượng phải thỏa mãn các điều kiện về quyền thànhlập, góp vốn và quản lý CTCP, việc chuyển nhượng phải được sự chấp thuận củaĐHĐCĐ theo quy định tại khoản 5 Điều 84 LDN
Thứ ba, tư cách của CĐSL cũng có thể được xác lập trên cơ sở thừa kế số cổ phần
mà CĐSL trong CTCP đang nắm giữ LDN chưa có một quy định nào đề cập cụ thể
đến vấn đề thừa kế cổ phần và quyền để lại thừa kế của cổ đông trong CTCP Tuynhiên, căn cứ theo các quy định về thừa kế tại chương XXII của Bộ luật dân sự năm
2005 thì cố phiếu cũng là một dạng tài sản thuộc sở hữu của cổ đông và khi cổ đông
đó chết, quyền để lại thừa kế phát sinh Người hay những người nhận thừa kế di sản
13 Điều 84 LDN
14
Trang 19là cổ phiếu sẽ trở thành CĐSL của CTCP, điều này tùy thuộc vào Điều lệ CTCP quyđịnh.
Vấn đề đặt ra là trong vòng 3 năm đầu kể từ ngày CTCP được cấp Giấy chứng nhận
đăng kí kinh doanh thì việc để thừa kế cổ phần của CĐSL phải thỏa mãn các điều kiện gì, cổ đông là tổ chức có được quyền để lại thừa kế cổ phiếu của do mình nắm
giữ hay không Vấn đề này sẽ được đề cập chi tiết hơn trong phần “quyền để thừa kếcủa cổ đông”
2 Xác lập tư cách cổ đông thường.
CTCP đã trở thành hình thức tổ chức doanh nghiệp mang tính thống trị nhằm giảiquyết nhu cầu về vốn cho tăng trưởng Đây là hình thức công ty huy động vốn trênquy mô lớn một cách hiệu quả nhất Việc đa dạng hóa các loại cổ phần trong công ty
là một lợi thế của CTCP trong việc thu hút vốn đầu tư của công chúng khi tìm cơ hộiđầu tư phù hợp với yêu cầu, khả năng, mục đích của chính họ Điều này lý giải tại saotrong CTCP có nhiều loại cổ đông khác nhau Pháp luật của các nước trên thế giớicũng như pháp luật Việt Nam đều quy định những đối tượng có quyền góp vốn rộnghơn so với đối tượng được quyền thành lập và quản lý CTCP Không có sự phân biệtmột cách tuyệt đối giữa CĐSL và CĐPT vì nếu như để thành lập CTCP phải có sựgóp vốn, tham gia xây dựng của CĐSL thì CĐPT là một bộ phận không thể thiếu đểhình thành nên CTCP theo đúng bản chất là loại hình công ty đối vốn
CĐPT hình thành nếu một cá nhân hay tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát
hành của CTCP LDN quy định rằng CTCP phải có CPPT, người sở hữu CPPT là Cổ đông phổ thông Bên cạnh cổ đông phổ thông còn có cổ phần ưu đãi là cổ phần không bắt buộc phải có trong các CTCP, người sở hữu cổ phần ưu đãi được gọi là Cổ đông ưu đãi
Sự khác nhau về tên gọi của hai loại cổ đông này xuất phát từ loại cổ phần mà cổđông nắm giữ Sự tồn tại cổ phần ưu đãi liệu có tạo ra đặc quyền cho người sở hữu cổphần ưu đãi không, có xâm phạm nguyên tắc bình đẳng trong CTCP không? Chúng
tôi sẽ có dịp quay trở lại phân tích, xem xét khi đề cập đến quyền của cổ đông ưu đãi.
Trong phần này, chúng tôi sẽ lần lượt xem xét một số vấn đề phái sinh từ việc xác lập
tư cách của cổ đông phổ thông như: tổ chức không có tư cách pháp nhân không được góp vốn mua cổ phần hay thành lập CTCP, tư cách cổ đông của NĐT nước ngoài Một là, tổ chức không có tư cách pháp nhân không được góp vốn mua cổ phần hay thành lập CTCP.
LDN và LĐT đều thừa nhận tổ chức có quyền góp vốn mua cổ phần và quản lý doanhnghiệp, tuy nhiên không có đạo luật nào định nghĩa “tổ chức” là gì15 BLDS cũng chỉđưa ra các dấu hiệu để xác định một “tổ chức có tư cách pháp nhân”, tham khảo từđiển Tiếng Việt16 thì khái niệm tổ chức không giúp ích được gì cho sự hạn chế của
15 Khoản 4 Điều 3 LĐT năm 2005, Điều 13 LDN.
16 Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ Khoa học xã hội, NXB Đà Nẵng năm 2006, trang 1007
Trang 20luật NĐ 139 hướng dẫn thi hành LDN lại quy định “chỉ có tổ chức có tư cách pháp nhân mới có quyền thành lập và góp vốn vào CTCP”17
Việc áp dụng Luật hay NĐ trong những trường hợp như thế này còn là vấn đề tranhcãi trong giới khoa học pháp lý Luật luôn có giá trị cao hơn các văn bản hướng dẫnnhưng thường thì người ta hay căn cứ vào NĐ để thi hành Luật Nếu hiểu như thế thì
trong trường hợp này Chính phủ đã thu hẹp khái niệm và hạn chế quyền đầu tư thành lập, góp vốn vào công ty theo như quy định tại LDN và LĐT năm 2005 Quy định gây
khó khăn cho một tổ chức nghề nghiệp, tổ chức chính trị xã hội… muốn góp vốn vàoCTCP, có thể làm cho CTCP mất đi một cổ đông tiềm năng và vì vậy luật cần phải có
sự giải thích rõ ràng để bảo đảm quyền góp vốn mua cổ phần của tổ chức không có tưcách pháp nhân
Hai là, tư cách cổ đông của NĐT nước ngoài.
NĐT nước ngoài theo khoản 5 Điều 3 LĐT là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để
thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam LDN và LĐT đều thừa nhận quyền góp vốnmua cổ phần, tham gia quản lý CTCP của các chủ thể này tại Việt Nam
Chính sự tham gia mạnh của NĐT nước ngoài, với kiến thức, kinh nghiệm và tiềmlực về vốn đã kéo theo sự quan tâm mạnh hơn của NĐT trong nước làm cho thịtrường phát triển mạnh hơn, giúp NĐT trong nước trưởng thành hơn về mọi mặt Tuynhiên, để hạn chế sự thôn tính và làm chủ nền kinh tế, NĐ 139 giới hạn mức vốn góp
mua cổ phần của họ trong một số lĩnh vực như: CTCP niêm yết; doanh nghiệp ngành nghề kinh doanh có điều kiện do pháp luật chuyên ngành quy định; doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng theo Biểu cam kết về thương mại dịch vụ với WTO 18
Trên con đường hội nhập, NĐT nước ngoài được đối xử bình đẳng, quyền của họngày càng được mở rộng hơn Biểu cam kết dịch vụ với WTO có quy định rằng:
“Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép góp vốn dưới hình thức mua cổ phần tại Việt Nam Trong trường hợp này, tổng mức vốn cổ phần do các NĐT nắm giữ trong một doanh nghiệp không được vượt quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó, trừ khi luật pháp Việt Nam có quy định khác hoặc được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép” Chúng ta cũng hứa: “Một năm sau khi gia nhập, hạn chế 30%
cổ phần nước ngoài trong việc mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được bãi bỏ, ngoại trừ đối với việc góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các ngân hàng thương mại cổ phần và các ngành không cam kết trong biểu cam kết này” Như
vậy, từ ngày 11/1/2008 (một năm sau khi gia nhập WTO), thực chất rào cản chỉ nằmtrong ba loại trường hợp đặc biệt còn lại theo quy định của NĐ 139
Hạn chế quyền mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài để đảm bảo an ninh quốc gia,
ổn định chính trị là hợp lý, điều này cũng được tìm thấy ở các quốc gia có thị trườngphát triển khá ổn định như Hàn Quốc giới hạn đầu tư ở ngành điện, thép; hoặc tại
17 Điều 9, Điều 10 NĐ 139.
18
Trang 21Indonesia, Singapore giới hạn đối với ngành ngân hàng, báo chí…19 Tuy nhiên, theo
lộ trình cam kết với WTO, những lĩnh vực hạn chế nói trên trong tương lai sẽ mở dần
và không hạn chế tỷ lệ góp vốn đối với nhà đầu tư nước ngoài bởi nếu vẫn duy trì tínhđóng như thế, quy định về hạn chế tỷ lệ sở hữu phần vốn góp trong một số lĩnh vực
đã buộc NĐT nước ngoài tìm cách “lách” luật, nhất là đối với một số ngành nghềđang “nóng” như thương mại, phân phối, siêu thị
Theo đó, tăng tỷ lệ vốn góp cho NĐT khi cần thiết và phù hợp với tình hình quốc gia
là điều phải làm, mở cửa, “tăng room” cho NĐT nước ngoài là kênh huy động vốnhiệu quả Thay vào đó là các biện pháp để quản lý và kiểm soát được hoạt động cũngnhư mục đích đầu tư của NĐT nước ngoài
3 Xác lập tư cách cổ đông từ trái phiếu chuyển đổi.
Trái phiếu chuyển đổi là một loại trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
công ty theo một tỉ lệ công bố trước và vào một khoảng thời gian xác định trước Lợiích cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng của trái phiếu chuyển đổi đó là việcdung hòa lợi ích của trái chủ và cổ đông Trái chủ và cổ đông là hai đối tượng có mâuthuẫn lợi ích với nhau do họ cùng tranh dành phần lợi nhuận của doanh nghiệp vớithứ tự ưu tiên khác nhau Lợi ích của một bên sẽ là thiệt hại của bên kia Các cổ đông
có thể dễ dàng chấp thuận việc doanh nghiệp tham gia vào các dự án rủi ro để manglại lợi nhuận cao nhưng các trái chủ chắc chắn sẽ không thích những kế hoạch làmtăng rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Bằng việc kết hợp “2 trong 1”, doanh nghiệptạo ra được một tầng lớp trái chủ dễ “thông cảm” với quyền lợi các cổ đông
Thông thường bao giờ người phát hành trái phiếu chuyển đổi cũng dành cho ngườimua quyền quyết định có chuyển đổi sang cổ phiếu hay không Người nắm giữ tráiphiếu chuyển đổi có quyền không chuyển sang cổ phiếu nếu tại thời điểm chuyển đổi
công ty làm ăn không tốt Nhưng một khi người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi đồng
ý chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thì họ sẽ trở thành cổ đông trong CTCP Các
thông tin về cổ đông mới này sẽ được lưu vào sổ cổ đông và họ có các quyền vànghĩa vụ tương ứng với loại cổ phiếu mà họ đã chuyển đổi
Tuy nhiên, hiện nay, mức lợi hấp dẫn đủ để chủ nợ chuyển trái phiếu chuyển đổithành cổ phiếu là điều khó khả thi, vấn đề công khai minh bạch các thông tin củadoanh nghiệp còn rất mập mờ, các chủ nợ cũng còn gặp nhiểu rủi ro do sự điều chỉnh
chưa chặt chẽ và cụ thể của cả LDN và LCK Rủi ro của người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi phụ thuộc vào thời gian chuyển đổi và giá chuyển đổi, được xác định ngay lúc phát hành Về thời gian chuyển đổi, có nhiều biến động về tổng số lượng cổ
phiếu đang lưu hành và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người nắm giữ trái phiếu chuyển đổitrong khoản thời gian trước khi đến hạn chuyển đổi Về giá chuyển đổi, công ty cóthể phát hành thêm cổ phiếu trong khoản thời gian trước khi việc chuyển đổi xảy ralàm cho cổ phiếu bị pha loãng, giá chuyển đổi của trái phiếu cũng giảm giá trị Thếnhưng hiện nay trong khung pháp lý chưa có quy định nào để giảm thiểu các rủi ro
19 TS Luật học Phạm Thị Thu Giang, “Một số vấn đề pháp lý về sự tham gia của NĐT nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam”, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5 năm 2006.
Trang 22này và đảm bảo quyền chuyển đổi tư cách từ trái chủ chuyển đổi sang cổ đông củangười nắm giữ
4 Xác lập tư cách cổ đông thông qua các hành vi giao dịch khác.
CTCP không chỉ đa dạng các loại cổ phần để thu hút đầu tư, thu hút cá nhân, tổ chứcgóp vốn, mua cổ phần tạo ra nguồn vốn lưu động, dồi dào cho công ty mà ngay cả cáccách trở thành cổ đông trong CTCP cũng đa dạng Ngoài cách góp vốn, mua cổ phầnhay chuyển đổi từ trái phiếu chuyển đổi… như đã đề cập trên đây thì tư cách cổ đông
còn được hình thành thông qua các hành vi giao dịch dân sự khác, cụ thể như: mua bán, tặng cho, thừa kế, trao đổi, cầm cố, chia tài sản khi ly hôn…
Các giao dịch này phải hội tụ đủ các điều kiện về thành lập, quản lý, góp vốn, mua cổphần theo quy định tại Điều 13 LDN, Điều 10, Điều 11 NĐ 139; cổ phần của CĐSLtrong 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh cóquyền tự do chuyển nhượng cho CĐSL khác nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phầncủa mình cho người không phải là là CĐSL nếu được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ,thông tin sở hữu cổ phần của các chủ thể này được xác nhận trong sổ cổ đông, trườnghợp cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên phải được đăng ký với cơ quanđăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày cóđược tỷ lệ sở hữu đó Sau khi mua bán, nhận tặng cho, thực hiện đúng các nghĩa vụcủa mình về công bố thông tin20… thì mới trở thành cổ đông trong CTCP, được kế
thừa các quyền và nghĩa vụ về tài sản, về nhân thân tương xứng với tờ cổ phiếu đangnắm giữ như quy định của pháp luật và Điều lệ công ty
Trong phần này, chúng ta chỉ giới hạn về cách xác lập tư cách cổ đông trong CTCPthông qua các giao dịch dân sự nêu trên nếu các chủ thể này đã thỏa mãn tất cả cácđiều kiện để được pháp luật công nhận là cổ đông của CTCP Các giao dịch đó baogồm:
Trường hợp 1: Mua bán cổ phần.
Cổ phiếu là một loại giấy tờ có giá, nó cũng là một loại tài sản, là hàng hóa theo quyđịnh tại Điều 163 BLDS và xuất phát từ nguyên tắc cổ đông có quyền tự do chuyểnnhượng cổ phần của mình cho người khác21 Cổ phiếu của cổ đông trong CTCP đượcxem như một đối tượng được phép giao dịch trên thị trường mua bán hàng hóa Tuynhiên, hàng hóa là cổ phần khác với các loại hàng hóa khác hoặc dịch vụ thực trongnền kinh tế Người ta mua bán hàng hóa thực là mua bán giá trị sử dụng của hàng hóa
đó, còn mua bán hàng hóa cổ phần là mua bán quyền sở hữu công ty
20 Theo qui định về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, các thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, các thành viên ban giám đốc, kế toán trưởng của tổ chức niêm yết và người có liên quan phải công bố thông tin giao dịch, kể cả giao dịch không thông qua hệ thống giao dịch tại sàn cho SSC, Sở Giao dịch chứng khoán, TTGD chứng khoán tối thiểu trước khi giao dịch một ngày Trong thời hạn ba ngày sau khi hoàn tất giao dịch cũng phải báo cáo kết quả cho các cơ quan nêu trên.
21 Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của LDN.
Trang 23Thông qua hoạt động mua bán này, hay nói theo ngôn từ của LDN là thông qua hoạt
động chuyển nhượng cổ phần, tư cách cổ đông được chuyển từ người bán sang người mua, người mua được thừa hưởng và được pháp luật bảo vệ các quyền và nghĩa vụ
tương ứng với số cổ phần mà họ đang nắm giữ
Trường hợp 2: Tặng, cho cổ phần.
“Tặng, cho” tài sản theo quy định tại Điều 465 BLDS là sự thoả thuận giữa các bên,theo đó bên tặng, cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên đượctặng, cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng, cho đồng ý nhận Căn cứ vàonguyên tắc này, cổ đông với số cổ phiếu tự do chuyển nhượng có quyền tặng, cho chongười khác mà không cần phải xin phép ĐHĐCĐ Việc “tặng, cho” phải tuân theo
các thủ tục luật định, người nhận “tặng, cho” khi đã thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định trở thành cổ đông của CTCP và có các quyền và nghĩa vụ tương ứng
với loại cổ phần mà họ được tặng cho
Trường hợp 3: Thừa kế cổ phần.
BLDS quy định “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”22 Cổ phiếu cũng là một loại tài sản và được mua từ chính công sứccủa cổ đông sở hữu nó nên khi cổ đông đó chết, cổ phiếu sẽ trở thành di sản thừa kế
của cổ đông Cá nhân hoặc tổ chức được thừa kế sẽ trở thành cổ đông của công ty
Trường hợp 4: Trao đổi cổ phần.
Trao đổi tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyểnquyền sở hữu đối với tài sản cho nhau Cổ phiếu cũng là loại tài sản được đem ra trao
đổi, tư cách cổ đông cũng vì thế mà có sự trao đổi kéo theo sự thay đổi về quyền và nghĩa vụ giữa các cổ đông với nhau Việc trao đổi cổ phiếu thực chất là sự hoán đổi
tư cách cổ đông giữa các cổ đông trong cùng một công ty hoặc giữa các CTCP, quyền
và nghĩa vụ, địa vị của mỗi cổ đông sau khi trao đổi gắn liền với loại cổ phần mà họ
đã trao đổi với nhau Ngoài ra, họ còn được nhận khoản chênh lệch mà các bên phảithanh toán cho nhau trong trường hợp tài sản trao đổi chênh lệnh về giá trị 23
Trường hợp 5: Chia tài sản khi ly hôn
Tiền mua cổ phiếu trong thời kì hôn nhân là công sức đóng góp chung của hai vợchồng hoặc nếu không thì cũng là “của chồng công vợ” Khi hai vợ chồng không thểkéo dài hơn nữa đời sống hôn nhân, thì cổ phiếu là một trong những loại tài sản đượcchia khi ly hôn Đằng sau quyết định cho ly hôn của Tòa án là việc CTCP tiếp nhậnthêm một cổ đông mới, cổ đông cũ buộc phải chia tài sản ly hôn là cổ phần cho vợ
hoặc chồng mình, người được chia tài sản sau khi ly hôn khi thỏa mãn các điều kiện nhất định sẽ trở thành cổ đông của CTCP tương ứng với quyền và nghĩa vụ được ghi
nhận trong cổ phiếu
22 Điều 631 BLDS.
23 Trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Trang 24Trường hợp 6: Cầm cố cổ phần.
“Đảm bảo bằng cổ phiếu” là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đượcquy định trong BLDS24 LDN thừa nhận cổ phiếu được tự do chuyển nhượng thì cổđông với cổ phiếu được tự do chuyển nhượng trên tay cũng có quyền giao số cổ phiếuthuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để đảm bảo thực hiện nghĩa vụdân sự của cổ đông
Việc cầm cố này phải được lập thành văn bản và đó cũng chính là căn cứ để xử lý đốivới số cổ phiếu đã được đem đi cầm cố nếu khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà cổđông không thực hiện, thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận, hoặc bên nhận cầm
cố được xác lập quyền sở hữu đối với số cổ phiếu đó theo thời hiệu thì bên nhận cầm
cố trở thành chủ sở hữu đối với cổ phiếu đó và trở thành cổ đông của CTCP 25 hoặc chính bên nhận cầm cố có thể bán số cổ phiếu đó, người mua cổ phiếu sẽ trở thành
cổ đông của CTCP Tuy nhiên, LDN không quy định loại cổ phiếu nào được cầm cố
và loại cổ phiếu nào bị hạn chế cầm cố, các công ty cần cụ thể hóa những quy địnhnày vào Điều lệ để hạn chế các tranh chấp phát sinh từ quyền cầm cố, bảo vệ quyềncủa người sở hữu đối với cổ phiếu trong giao dịch này
Trên đây là các cách xác lập tư cách của một cổ đông trong CTCP, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà cổ đông nắm giữ các quyền tương ứng với loại cổ phần mà họ
sở hữu cổ phần phổ thông hay cổ phần ưu đãi, và cũng từ đó họ có các nghĩa vụ
tương ứng với loại cổ phần đó LDN không dự liệu hết các cách xác lập tư cách cổ đông, thông qua phân tích trên chúng tôi nghĩ LDN và Điều lệ nên có những quy địnhchặt chẽ hơn tạo điều kiện cho một cá nhân hay tổ chức bước đầu tiên đặt “vốn và niềm tin” vào CTCP trở thành cổ đông được thuận lợi và dễ dàng trước khi họ thực hiện các quyền được cho phép và bị hạn chế trong khung hành lang pháp
II Chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP.
NĐT một khi đã là cổ đông CTCP, đương nhiên được bảo vệ và được quyền duy trì tư cáchthành viên CTCP LDN không dự liệu những trường hợp nào chấm dứt tư cách cổ đôngtrong CTCP
Căn cứ vào Điều 80 LDN, chúng ta có thể suy ra tư cách cổ đông có thể bị chấm dứt nếukhông thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như: không thanh toán đủ số tiền mua cổ phầnnhư đã cam kết; khi công ty giảm vốn bằng cách giảm số cổ phần, cổ đông nào không có đủ
số cổ phần cũ tối thiểu để đổi lấy một cổ phần mới mà không chịu đóng góp thêm Riêngđối với CĐSL, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 84 LDN “Trường hợp có CĐSLkhông thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì số cổ phần chưa góp đủ đó của CĐSL
sẽ huy động người khác không phải là CĐSL nhận góp đủ số cổ phần đó; người nhận gópvốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty Trong trường hợp này, cổ đôngsáng lập chưa góp cổ phần theo đăng ký đương nhiên không còn là cổ đông của công ty”
24 Điều 321BLDS.
25 Điều 247, Đ i ề u 3 2 6 , Đ i ề u 3 2 7 , Đ i ề u 3 3 6 B L D S
Trang 25Quy định này gây khó hiểu cho cả người nhận góp phần vốn còn thiếu đó và cả CĐSL.
CĐSL sẽ xử lý ra sao đối với số CPPT đã mua nếu như LDN buộc họ phải chấm dứt tư cách cổ đông.
Tư cách cổ đông còn có thể chấm dứt theo ý chí của cổ đông trong một số trường hợp chấmdứt quyền sở hữu như: tặng cho, để thừa kế, chuyển nhượng, trao đổi, cầm cố… Trườnghợp cổ phần được “tặng, cho”, chuyển nhượng, trao đổi, cầm cố…: giao dịch đó phải thỏamãn các điều kiện của một chủ thể quyền đối với loại cổ phần mà họ nắm giữ, tư cách cổđông sẽ chấm dứt trong số cổ phần mà họ đã thực hiện giao dịch Nếu cổ đông không mayqua đời, cổ phần của họ sẽ được chia thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc, tư cách cổđông của họ cũng đồng thời chấm dứt
Chấm dứt tư cách cổ đông trong một số trường hợp khách quan như: chuyển đổi công ty,công ty giải thể, phá sản… CTCP về nguyên tắc có thể chuyển đổi thành một công ty dướihình thức khác theo quyết định của ĐHĐCĐ, công ty cũng bắt buộc phải chuyển đổi khi số
cổ đông dưới mức tối thiểu theo luật định là ba người Công ty được chuyển đổi sẽ chấmdứt tồn tại, cổ đông cũng vì thế mà chấm dứt tư cách trong công ty được chuyển đổi, cổđông trong phạm vi vốn góp của mình sẽ chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợthuế, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi Trong trườnghợp CTCP giải thể hoặc phá sản, sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí theo quyđịnh của pháp luật Cổ đông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phầngóp vốn vào công ty và tư cách cổ đông cũng đồng thời chấm dứt
Trang 26CHƯƠNG III: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CTCP.
I Quyền và nghĩa vụ của CĐPT trong CTCP.
Tóm lại, chúng ta có thể xem xét các quyền của cổ đông dưới hai khía cạnh: quyền tài sản và quyền nhân thân.
1.1 QUYỀN TÀI SẢN Bao gồm các quyền sau:
Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài
sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tàichính26 Do vậy, ngoại trừ cổ tức trả cho CPUĐ cổ tức thì bất cứ điều khoản nào trong Điều lệ quy định sẽ trả một khoản tiền lãi cố định cho CĐPT trong công ty ngay cả khi kinh doanh không có lãi đều trái với nguyên tắc CTCP chỉ được trả lãi khi kinh doanh có lãi, đều bị coi là không hợp pháp Các cổ đông phải hoàn trả cho
công ty số tiền, tài sản khác đã nhận Trường hợp cổ đông không hoàn trả được chocông ty thì cổ đông đó và tất cả thành viên HĐQT phải cùng liên đới chịu tráchnhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị sốtiền, tài sản đã trả cho cổ đông mà chưa được hoàn lại27
26 Khoản 9 Điều 4 LDN
27
Trang 27Cách thức trả cổ tức do ĐHĐCĐ hoặc HĐQT quyết định HĐQT phải lập danh sách
cổ đông được nhận cổ tức, xác định mức cổ tức, thời hạn và hình thức trả cổ tức chậmnhất ba mươi ngày trước mỗi lần trả cổ tức Thông báo trả cổ tức phải được gởi cho
cổ đông chậm nhất là mười lăm ngày trước khi thực hiện trả cổ tức Cổ đông chuyểnnhượng cổ phần của mình trong thời hạn giữa thời điểm HĐQT kết việc lập danhsách cổ đông và thời điểm trả cổ tức thì người chuyển nhượng là người được nhận cổtức28
Cũng có thể CĐPT không được chia cổ tức Thực vậy, có một điều mà các CĐPT
luôn phải nhớ đó là các doanh nghiệp không hề bị bắt buộc phải thực hiện việc chi trả
cổ tức khi công ty kinh doanh không có lãi hay khi ĐHĐCĐ quyết định không phânchia lợi nhuận và dành số tiền này lại để gia tăng vốn hoạt động của công ty Quy
định của LDN về quyền nhận cổ tức là nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông rằng cổ đông không thể bị tước đoạt quyền ấy một cách bất hợp pháp.
Về việc trả cổ tức Cổ đông thường được thanh toán cổ tức bằng tiền, trong một số
trường hợp công ty có thể đề nghị các cổ đông lựa chọn giữa việc nhận cổ tức bằngtiền hay bằng cổ phiếu của công ty hoặc cũng có thể là cổ phiếu của công ty khác màcông ty đang nắm giữ, hoặc một loại tài sản khác thuộc sở hữu của công ty như sảnphẩm của công ty Một số doanh nghiệp còn trả cổ tức bằng một công cụ nợ, đượcgọi là cổ tức nghĩa vụ (cổ tức nợ), bằng tài sản, giấy khất nợ với cam kết khoản tiền
sẽ được trả vào một ngày nào đó trong tương lai Các CTCP chưa áp dụng hình thứcchia cổ phiếu bằng tài sản nhiều và các quy định của LDN cũng chỉ dừng lại như thế.Hiện nay, phổ biến nhất vẫn là chia cổ tức bằng tiền hoặc bằng cổ phiếu
Chia cổ tức bằng cổ phiếu là việc công ty giữ lại một khoản lãi đáng lẽ phải chia cho
các cổ đông để tái đầu tư và chính cổ đông sẽ thu được nhiều hơn nữa lợi nhuận trongtương lai Các nhà đầu tư dài hạn có xu hướng chọn phương thức này vì họ hy sinhlợi nhuận ban đầu để dành vốn phát triển doanh nghiệp, hưởng lợi nhuận về sau, còncác nhà đầu tư “lướt sóng” nắm giữ cổ phiếu vừa hưởng chênh lệch giá lại có thể dễdàng bán khi có nhu cầu
Chia cổ tức bằng tiền mặt được các cổ đông ủng hộ khi thị trường “biến động” vì
hình thức chia cổ tức bằng cổ phiếu sẽ làm loãng giá cổ phiếu Ưu điểm lớn nhất củatiền mặt là tính thanh khoản rất cao, cầm tiền mặt trong tay bao giờ cũng chắc chắnhơn là cầm cổ phiếu trong tay Việc trả cổ tức bằng tiền mặt ở mức cao sẽ tạo sức ép,buộc lãnh đạo doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, sáng tạo hơn, đồng thời có điều kiệnđào thải những nhà quản trị kém Ngoài ra, cổ đông vẫn có thể tái đầu tư từ tiền mặtvào công ty thông qua các dự án tái đầu tư từ cổ tức
Tóm lại, chia cổ tức bằng cổ phiếu hay bằng tiền mặt đều có những ưu thế của nó.Bản thân việc chia cổ tức cũng có nghĩa là cổ đông ngồi lại bàn bạc và xác định lợinhuận sẽ được phân chia như thế nào, vấn đề quan trọng là phân chia lợi nhuận phải
phù hợp với tình hình kinh doanh và phát triển Nếu doanh nghiệp cần vốn đầu tư, đặc biệt trong trường hợp các doanh nghiệp mới, đang phát triển, thì tăng phần lợi nhuận giữ lại, chia cổ tức ít Khi doanh nghiệp đã phát triển ổn định thì nâng mức cổ tức lên cao, thậm chí rất cao Hiện nay, để tận dụng cả hai ưu thế trên, nhiều công ty
28 Khoản 3 điều 93 LDN.
Trang 28đã áp dụng cùng lúc cả hai hình thức chi trả cổ tức: trả cổ tức bằng tiền và trả cổ tứcbằng cổ phiếu29
Một vấn đề cần lưu ý là cách thức chia cổ tức bằng tiền mặt theo luật Việt Nam lại gây ra nhiều bức xúc cho NĐT: “các doanh nghiệp không công bố cổ tức bằng số tiền cụ thể mà lại công bố cổ tức sẽ là bao nhiêu phần trăm (%)” Ở nước ngoài
không bao giờ có chuyện chia cổ tức 12%, 15% hay 20% mà chỉ có thể là 12.000đồng, 15.000 đồng Vấn đề công bố cổ tức theo tỷ lệ phần trăm hiện nay như vậy làchưa theo chuẩn mực của quốc tế và đây là trở ngại lớn cho các NĐT nước ngoài.Ông Huy Nam, chuyên gia tài chính chứng khoán khẳng định: "Công bố cổ tức phảibằng số tiền tuyệt đối chứ tỷ lệ phần trăm như hiện nay không có ý nghĩ gì cả"30
Thứ hai, quyền được hưởng một phần tài sản của công ty.
Đầu tiên, quyền được hưởng tài sản của công ty là quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán 31 tương ứng với tỷ lệ cổ phần đang sở hữu của cổ đông Quyền này đảm
bảo cho cổ đông vừa nhận được sự ưu tiên về giá, vừa ưu tiên về quyền được muathông qua một quyết định hoặc thông báo gọi là chứng quyền Ngoài ra, người sở hữuchứng quyền không mua hoặc không có điều kiện để mua có quyền bán chứng quyền
đó cho người khác
Để thực hiện quyền này, cổ đông muốn mua thêm cổ phần mới phải gửi phiếu đăng
ký mua cổ phần theo mẫu của công ty về công ty đúng hạn như thông báo, quá thờihạn này cổ đông có liên quan coi như đã không nhận quyền ưu tiên mua, công ty cóquyền bán số cổ phần không được mua đó cho cổ đông của công ty hoặc người kháctheo cách thức hợp lý Quyền này nhằm đền bù các thiệt hại mà cổ đông phải gánhchịu khi công ty tăng vốn, vì các cổ đông nắm giữ quyền sở hữu trong công ty theo số
cổ phần họ có nên khi công ty phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn thì quyền của
cổ đông trên các quỹ dự trữ sẽ bị phân tán hơn, lãi của công ty sẽ được phân chia chonhiều người hơn
Tiếp theo, quyền được hưởng tích sản của công ty còn là quyền nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản Trường hợp công ty bị giải thể hoặc phá sản, sau khi đã hoàn tất việc thanh
lý, nếu còn lại tiền thì mỗi cổ đông sẽ nhận được một phần bằng với mệnh giá mà họnắm giữ Nếu như còn dư thì phần này sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ tươngứng phần vốn góp của họ trong công ty, trừ khi Điều lệ có quy định khác
Thứ ba, quyền chuyển nhượng cổ phần.
CTCP là một công ty đối vốn, trong đó bản thân thành viên không quan trọng bởi vìvới quy định cổ phần được tự do chuyển nhượng lượng cổ đông có thể lên đến hàng
29 Ví dụ như: ngân hàng ACB, CTCP Khu công nghiệp Tân Tạo (ITA), Công ty FPT Xem địa chỉ: http://www.doanhnghiep24g.com.vn/cms/detail.php?id=2546
30 Tham khảo tại địa chỉ: http://vietbao.vn/Kinh-te/Vi-sao-cac-cong-ty-khong-cong-bo-co-tuc-bang-tien/ 45236233/87/.
31 Quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán : Trong thời gian công ty hoạt động, nếu công ty tăng vốn bằng
việc phát hành thêm CPPT thì các cổ đông có quyền đăng ký mua các cổ phần mới theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ
Trang 29ngàn người và có thể được thay thế bất cứ lúc nào thông qua hình thức chuyểnnhượng Lý do luật pháp cho chuyển nhượng là vì tiền của cổ đông bỏ ra phải chịu rủi
ro, trong khi quyền hành của họ đối với công ty bị hạn chế, nên họ có quyền kiểmsoát sự rủi ro của mình bằng cách đẩy nó đi khi nào muốn32
Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần là quyền của hầu hết các cổ đông trong công tyngoại trừ cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng vàhạn chế chuyển nhượng đối với CPPT của CĐSL Liên quan đến quyền này, chúngtôi có một số đề cập sau:
Hạn chế chuyển nhượng CPPT của CĐSL: “Các CĐSL phải cùng nhau đăng ký mua
ít nhất 20% tổng số CPPT được quyền chào bán… Trong thời hạn ba năm, kể từ ngàycông ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, CĐSL có quyền tự dochuyển nhượng CPPT của mình cho CĐSL khác, nhưng chỉ được chuyển nhượngCPPT của mình cho người không phải là CĐSL nếu được sự chấp thuận củaĐHĐCĐ…Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, các hạn chế đối với CPPT của CĐSL đều được bãi bỏ”33
Quy định các CĐSL phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số CPPT có quyền chào bán
và không được tự do chuyển nhượng là quy định bắt buộc có tính cứng nhắc để ràngbuộc nghĩa vụ vật chất của các CĐSL đối với người mua, tránh tình trạng tuyên
truyền lừa đảo để thu hút người mua Vấn đề đặt ra là khi các CĐSL nắm giữ hơn 20% CPPT, số cổ phần nằm ngoài mức tối thiểu này liệu có bị hạn chế chuyển nhượng hay không? Trong giới khoa học pháp lý hiện nay có hai lập luận khác nhau: Lập luận thứ nhất cho rằng: “Việc hạn chế chuyển nhượng này chỉ áp dụng đối với
số cổ phần tối thiểu mà các CĐSL phải nắm giữ trong ba năm đầu của công ty là 20%trên tổng số CPPT được quyền chào bán, số cổ phần ngoài mức tối thiểu này được tự
do chuyển nhượng như đối với các cổ đông khác… Sự hạn chế nói trên giúp duy trì
sự gắn bó đoàn kết giữa các CĐSL với nhau, ít nhất cũng trong giai đoạn đầu củacông ty”34
Lập luận thứ hai cho rằng: “CĐSL có nghĩa vụ phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20%
CPPT trong một khoản thời gian là buộc họ gắn bó với công ty trong một thời giannhất định đủ để ràng buộc trách nhiệm của họ với kế hoạch do họ đặt ra Nếu họ muahơn 20% thì đó là quyền của họ nhưng quyền đó phải đi kèm với nghĩa vụ khôngđược chuyển nhượng cả lượng cổ phần ngoài mức tối thiểu” Quan điểm này được rất
nhiều sự đồng tình trong giới khoa học pháp lý Chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm này với các lý lẽ như sau:
Một, CTCP trong thời gian đầu mới thành lập còn non trẻ, có thể chưa khẳng định
được chỗ đứng của mình trên thương trường, các quyết định do người sáng lập đưa rachưa được thực tế khẳng định sẽ đưa công ty phát triển đến mức độ nào và có rủi ro
32 Nguyễn Ngọc Bích, “Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong CTCP ”, NXB Trẻ, trang 45.
33 Điều 84 LDN.
34 Nguyễn Mạnh Bách, “Quy định pháp luật về các công ty thương mại”, NXB Tổng hợp Đồng Nai, năm 2006, tr
139, tr 140.