Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty cổ phần là sự gia tăng nhanh chóng số lượng các cổ đông - những thành viên đóng vai trò nòng cốt trong công ty, từ đó một yêu cầu đặt ra là
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHAN MAI
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN NGỌC DŨNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Khoa sau Đại học Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với PGS.TS Trần Ngọc Dũng, giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội – người đã giúp đỡ tôi hết sức tận tình và có những góp ý, hướng dẫn quý báu để tôi có thể hoàn thành đề tài này
Tôi xin cảm ơn bố mẹ, gia đình và bạn bè – những người đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ rất nhiều để tôi có thể hoàn thành đề tài của mình
Xin chân thành cảm ơn
Học viên
Nguyễn Thị Phan Mai
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 6
1.1 Khái quát chung về công ty cổ phần 6
1.1.1 Khái niệm của công ty cổ phần 6
1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần 6
1.2 Khái quát chung về cổ đông trong công ty cổ phần 8
1.2.1 Khái niệm cổ đông trong công ty cổ phần 8
1.2.2 Đặc điểm của cổ đông trong công ty cổ phần 8
1.2.3 Phân loại cổ đông trong công ty cổ phần 9
1.2.4 So sánh cổ đông trong công ty cổ phần với thành viên trong công ty TNHH và xã viên trong hợp tác xã 11
1.3 Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần 12
1.3.1 Hệ thống các văn bản pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần – Quá trình hình thành và phát triển 12
1.3.2 Những nội dung cơ bản của quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần 14
1.4 So sánh quy chế pháp lý về cổ đông trong CTCP ở Việt Nam và quy chế pháp lý về cổ đông trong CTCP ở một số nước trên thế giới – Kinh nghiệm cho Việt Nam 15
1.4.1 Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản 15
Trang 41.4.2 Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật
của Singapore 16
1.4.3 Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật của Mỹ: 18
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 20
2.1 Các quy định pháp luật về xác lập, thay đổi, chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần 20
2.1.1 Xác lập tư cách cổ đông 20
2.1.2 Thay đổi tư cách cổ đông công ty cổ phần 24
2.1.3 Chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần 25
2.2 Các quy định pháp luật về quyền của cổ đông phổ thông trong công ty cổ phần 26
2.3 Các quy định pháp luật về nghĩa vụ của cổ đông phổ thông trong công ty cổ phần 37
2.4 Các quy định về quyền của cổ đông ưu đãi biểu quyết trong công ty cổ phần 38
2.5 Các quy định về quyền của cổ đông ưu đãi cổ tức trong công ty cổ phần……… 39
2.6 Các quy định về quyền của cổ đông ưu đãi hoàn lại trong công ty cổ phần……… 40
2.7 Các quy định về quyền và nghĩa vụ đặc biệt của cổ đông trong công ty cổ phần……….40
Trang 52.8 Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về cổ đông trong công ty
cổ phần……… 42 2.8.1 Những ưu điểm đã đạt được 42 2.8.2 Những hạn chế còn tồn tại 43 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 54 3.1 Các nguyên tắc của việc hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông trông công ty cổ phần: 54 3.2 Phương hướng hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty
cổ phần 55 3.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần 56 3.3.1 Nhóm các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về
cổ đông công ty cổ phần 56 3.3.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
cổ đông trong công ty cổ phần 61
3.3.3 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường nhận thức pháp luật của các
cổ đông công ty cổ phần 62 KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 69
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công ty cổ phần là một mô hình doanh nghiệp có các ưu điểm vượt trội, đóng một vai trò quan trọng và là một xu thế vận động tất yếu của hệ thống doanh nghiệp nói chung Tuy ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới, song công ty cổ phần ở Việt Nam đang có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt kể cả quy mô lẫn chất lượng; mang lại hiệu quả to lớn trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới Ngay từ khi công ty cổ phần ra đời, Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công ty cổ phần Từ Luật Công ty (1990), đến Luật Doanh nghiệp (1999) và gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp (2005), chúng ta đã đạt được những bước tiến lớn trong việc hoàn chỉnh những quy định pháp luật về loại hình doanh nghiệp này Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty cổ phần là sự gia tăng nhanh chóng số lượng các cổ đông - những thành viên đóng vai trò nòng cốt trong công ty, từ đó một yêu cầu đặt ra là phải hoàn thiện pháp luật để tạo một hành lang pháp lý phù hợp cho các cổ đông có thể dễ dàng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Trong những năm qua, các vụ việc xâm phạm quyền và lợi ích của nhà đầu
tư, cổ đông ở Việt Nam diễn ra một cách khá phổ biến Những hệ quả tức thời đối với cá nhân người đầu tư có thể không lớn, nhưng tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường như làm suy giảm khả năng huy động vốn cổ đông rất đáng được nhà quản lý kinh tế cũng như các doanh nghiệp lưu tâm Bởi vậy việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về cổ đông công ty cổ phần là một yêu cầu cần thiết, giúp tạo ra khung pháp lý chặt chẽ để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các cổ đông, qua đó thu hút được nguồn vốn trong xã hội, góp phần vào việc
Trang 7thúc đẩy loại hình doanh nghiệp này phát triển rộng rãi ở nước ta Chính vì vậy,
tôi đã mạnh dạn chọn nội dung “Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề cổ đông trong công ty cổ phần không còn là một đề tài quá mới mẻ
đối với giới nghiên cứu luật học Đã có khá nhiều bài viết, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ đề cập đến vấn đề này Mỗi bài viết, đề tài nghiên cứu lại đề cập đến các khía cạnh pháp lý khác nhau của cổ đông trong công ty cổ phần Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về nội dung này
như: “Quy chế pháp lý về cổ đông công ty cổ phần”, Đỗ Thị Thìn, khóa luận tốt nghiệp 2008; hay “Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần theo
pháp luật Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Bùi Minh Nguyệt, Luận
văn thạc sỹ Luật học 2010; “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở
Việt Nam”, Đỗ Thái Hán, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2012; “Luật Doanh nghiệp bảo vệ cổ đông, Pháp luật và thực tiễn”, Bùi Xuân Hải, NXB Chính trị
Quốc gia, 2011…
Tuy nhiên, trước sự biến động không ngừng của xã hội, sự gia tăng của loại hình công ty này nói chung và các cổ đông công ty cổ phần nói riêng, hàng loạt văn bản pháp luật mới được ban hành với nhiều quy định điều chỉnh các quan hệ phát sinh xung quanh cổ đông công ty cổ phần Bên cạnh đó, yêu cầu học hỏi kinh nghiệm các nước phát triển về vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các chế tài thật sự phù hợp để áp dụng trong thực tiễn Do
đó luận văn này tập trung đi sâu nghiên cứu quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần, trên cơ sở cập nhật đối chiếu với tình hình thực tiễn thời gian
Trang 8qua từ đó rút ra kinh nghiệm trong xây dựng và áp dụng pháp luật đối với vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Luận văn đi sâu nghiên cứu các quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty
cổ phần như: quyền và nghĩa vụ của các loại cổ đông trong công ty cổ phần, thực trạng pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần
3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản của pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần thể hiện trong Luật Doanh nghiệp (2005) và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này, và trong các văn bản pháp luật của một số nước trên thế giới đề từ đó xác định ưu điểm, hạn chế của pháp luật nhằm đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu
đề tài là các phương pháp truyền thống, như: phân tích, so sánh, chứng minh, hệ thống hóa, thống kê, tổng hợp….Trong đó, các phương pháp được sử dụng chủ yếu là hệ thống hóa, thống kê, tổng hợp các quy định của pháp luật về cổ đông
Trang 9trong công ty cổ phần, việc thực hiện các quy định đó, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với lý luận và thực tiễn, phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế của pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần để từ đó đưa ra phương
hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề trên
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nêu ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần
Khi nghiên cứu đề tài này, luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quy chế pháp lý đối với cổ đông trong công
ty cổ phần, như: khái niệm cổ đông trong công ty cổ phần, đặc điểm của cổ đông trongcông ty cổ phần, các loại cổ đông trong công ty cổ phần…, những nội dung
cơ bản của pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần, so sảnh quy chế pháp lý
về cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
- Hệ thống hóa các quy định của pháp luật thực định về cổ đông trong công ty cổ phần, bình luận, đánh giá các quy định đó
- Đề xuất phương hướng, nhiệm vụ nhằm hoàn thiện pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty cổ phần cũng như
cổ đông của công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả
6 Những điểm mới của luận văn
Đề tài này không còn là một vấn đề mới mẻ đối với giới nghiên cứu Luật học, nhưng luận văn đóng ghóp một phần vào công tác nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật nói chung cũng như pháp luật kinh tế nói riêng Luận văn có điểm mới sau đây:
Trang 10- Luận văn đã trình bày được quá trình hình thành và phát triển của quy chế pháp
lý của cổ đông trong công ty cổ phần từ khi công ty cổ phần ở Việt Nam ra đời (từ Luật công ty (1990) đến luật Doanh nghiệp năm (2005))
- Luận văn nghiên cứu một số quy định về cổ đông trong công ty cổ phần trong pháp luật của một số nước trên thế giời và chỉ rõ những bài học nước ta có thể tham khảo và áp dụng
- Phân tích, đánh giá khách quan thực trạng pháp luật về cổ đông trong công ty
cổ phần ở Việt Nam Luận văn nêu ra được những điểm hạn chế, thiếu sót trong các quy định pháp luật hiện hành về cổ đông trong công ty cổ phần
- Luận văn đưa ra được phương hướng và các giải pháp cụ thể tương đối đồng bộ
và sát với thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, Luận văn được cơ cấu thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về cổ đông trong công
ty cổ phần
Chương 2: Thực trạng quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần
Trang 11Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Khái quát chung về công ty cổ phần
1.1.1 Khái niệm của công ty cổ phần
Xuất hiện từ thế kỷ XVII, cho đến nay công ty cổ phần đã có lịch sử hàng trăm năm và đã trở thành hình thức doanh nghiệp phổ biến ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường Về bản chất, công ty cổ phần là một công ty đối vốn, trong đó vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết số cổ phần mà họ sở hữu
Tại Việt Nam, Luật Công ty năm (1990) lần đầu tiên đã có các quy định về công ty cổ phần Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy đã được thay thế bởi Luật Doanh nghiệp (1999) Ngày nay, Luật Doanh nghiệp (2005) đã dành hẳn một chương với các quy định khá cụ thể về công ty cổ phần
Nói một cách khái quát, công ty cổ phần là công ty, mà trong đó, vốn điều
lệ được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau, gọi là cổ phần Các thành viên của công ty (cổ đông) có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ, nghĩa vụ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần mà họ nắm giữ
1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần
Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần
Ở công ty cổ phần có sự tách bạch giữa tài sản của công ty và tài sản của cá nhân Do đó, công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
Trang 12bằng tài sản của công ty; các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn họ đã góp vào công ty
Khả năng huy động vốn
Công ty cổ phần có cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng huy động vốn lớn Điều này thể hiện ở việc trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng để huy động vốn Đây là một ưu điểm vượt trội của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác
Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý
Việc quản lý công ty cổ phần được thực hiện thông qua ba cơ quan: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Ngoài ra, đối với những công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là
tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty thì phải có Ban kiểm soát Trong công ty cổ phần có sự tách biệt giữa vai trò của chủ sở hữu với chức năng quản lý trong công ty Giám đốc, Tổng giám đốc là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty, nhưng không nhất thiết phải là cổ đông của công ty
mà có thể được thuê để quản lý công ty Sự tách bạch như vậy một mặt vừa thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp làm việc cho công ty, mặt khác đã tạo cho công ty cổ phần có được sự quản lý tập trung cao
Công ty cổ phần là một tổ chức có tư cách pháp nhân
Điều đó có nghĩa là công ty cổ phần nhân danh chính mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật và chiụ trách nhiệm trước các nghĩa vụ phát sinh bằng chính những tài sản của công ty Công ty cổ phần có tài sản độc lập với các tổ chức và cá nhân khác
Trang 131.2 Khái quát chung về cổ đông trong công ty cổ phần
1.2.1 Khái niệm cổ đông trong công ty cổ phần
Khoản 11, Điều 4, Luật Doanh nghiệp (2005) định nghĩa “Cổ đông là người
sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần” Tuy nhiên, không
phải mọi chủ sở hữu cổ phần đều được gọi là cổ đông Người nắm giữ cổ phiếu chỉ trở thành cổ đông của công ty khi đã ghi đúng, ghi đủ những thông tin luật định vào
Sổ đăng ký cổ đông Do đó, có thể khái quát“Cổ đông công ty cổ phần là tổ chức hay cá nhân sở hữu một hoặc nhiều cổ phần trong công ty cổ phần, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với sổ cổ phần đang sở hữu, được chứng nhận bằng cổ phiếu của công ty và phải đảm bảo đủ các thông tin được quy định trong Sổ đăng ký cổ đông” Về bản chất, cổ đông có vai trò là thành viên, là chủ sở hữu của công ty cổ phần
Điều này giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa “cổ đông” và “trái chủ” trong công ty cổ phần Với cấu trúc vốn đa dạng, công ty cổ phần được phát hành các loại chứng khoán, để huy động vốn “Cổ phiếu” và “trái phiếu” đều là công cụ huy động vốn của công ty cổ phần, nhưng khác nhau ở chỗ trái phiếu là công cụ huy động vốn vay, còn cổ phiếu dùng để huy động hoặc tăng vốn điều lệ Nếu như “cổ phiếu” có vai trò là một chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu hợp pháp của một chủ thể đối với một doanh nghiệp cổ phần, thì “trái phiếu” xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối với người sở hữu, trong đó cam kết sẽ trả lại khoản nợ kèm tiền lãi trong một thời hạn nhất định Do đó, người nắm giữ trái phiếu - “trái chủ” là chủ nợ của công ty cổ phần, còn người mua cổ phiếu - “cổ đông” là chủ sở hữu trong công ty cổ phần
1.2.2 Đặc điểm của cổ đông trong công ty cổ phần
Về số lượng cổ đông trong công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có số lượng thành viên đông đảo
và không bị hạn chế Điểm d, khoản 1, Điều 79 Luật Doanh nghiệp (2005) quy
Trang 14định công ty cổ phần có “tối thiểu ba thành viên và không hạn chế số lượng tối đa”
Điều này xuất phát từ đặc thù của công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp đặc trưng cho công ty đối vốn Khi tham gia vào công ty, các thành viên không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp Họ có thể dễ dàng chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty một cách dễ dàng, khiến cho số lượng thành viên của công ty tăng lên một cách đáng kể Quy định không giới hạn số lượng cổ đông tối đa mà chỉ quy định số lượng cổ đông tối thiểu đã giúp cho công ty cổ phần phát huy cao nhất khả năng thu hút vốn của mình, Đây là quy định khá phù hợp với pháp luật nhiều nước trên thế giới (pháp luật của
Ba Lan quy định công ty cổ phần có số lượng cổ đông tối thiểu là một cổ đông; ở Anh, Pháp số lượng cổ đông trong công ty cổ phần tối thiểu là bảy)
Về chế độ trách nhiệm của cổ đông trong công ty cổ phần
Cổ đông chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi số vốn mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình Đặc điểm này cho phép nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào công ty mà không lo phải chịu rủi ro đối với tài sản cá nhân trong trường hợp công ty phá sản vì cổ đông không bao giờ bị mất nhiều hơn
so với số vốn họ đã bỏ ra đầu tư
1.2.3 Phân loại cổ đông trong công ty cổ phần
Cổ đông trong công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú Có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại cổ đông trong công ty cổ phần, như:
Căn cứ vào loại cổ phần: có thể chia thành “Cổ đông phổ thông” và
“Cổ đông ưu đãi”
Điều 78 Luật Doanh nghiệp quy định công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông, và người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông, với những quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất
Trang 15Ngoài ra, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi, và người sở hữu cổ phần
ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi Tương ứng với mỗi loại cổ phần ưu đãi là các loại cổ đông ưu đãi khác nhau Cổ phần ưu đãi đem lại cho người nắm giữ những quyền và nghĩa vụ đặc biệt Có các loại cổ đông ưu đãi sau:
- Cổ đông ưu đãi biểu quyết (sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết)
- Cổ đông ưu đãi cổ tức (sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức)
- Cổ đông ưu đãi hoàn lại (sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại)
- Các loại cổ đông ưu đãi khác (sở hữu các loại cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định)
Căn cứ vào thời gian, trình tự tham gia thành lập công ty cổ phần, có thể chia
thành “Cổ đông sáng lập” và “Cổ đông thường”
Cổ đông sáng lập là người góp vốn cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và
ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần (khoản 1, Điều 23, Nghị định
số 102//2010/NĐ-CP)
Trừ các cổ đông sáng lập, những cổ đông còn lại sẽ cổ đông thường trong công
ty, hình thành bằng cách tham gia góp vốn, mua cổ phần và trở thành cổ đông của Công ty cổ phần
Ngoài ra, có thể căn cứ vào nhiều tiêu chí khác để phân loại như:
- Căn cứ vào chủ thể: có thể chia thành “cổ đông là tổ chức” và “cổ đông là cá nhân”; hoặc “cổ đông là nhà đầu tư trong nước” và “cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài”
- Căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ: phân loại thành “cổ đông lớn” và
“cổ đông thiểu số”
- Căn cứ vào nguồn gốc hình thành: có thể chia thành cổ đông là người lao động trong công ty, cổ đông mua lại phần vốn góp trên thị trường chứng khoán…
Trang 161.2.4 So sánh cổ đông trong công ty cổ phần với thành viên trong công ty TNHH và xã viên trong hợp tác xã
Có thể thấy, cổ đông trong công ty cổ phần, thành viên trong công ty TNHH
và xã viên trong hợp tác xã có một số đặc điểm giống nhau và khác nhau, việc so sánh ba loại hình thành viên này là hết sức cần thiết Có thể so sánh ba loại hình thành viên này dựa trên những tiêu chí sau:
Những điểm giống nhau:
- Đều là các thành viên có nhu cầu, tự nguyện góp vốn (và góp sức đối với xã viên hợp tác xã) để lập ra một tổ chức kinh tế
- Đều được hưởng phần lợi nhuận dựa trên số vốn/ công sức đã góp
- Đều chịu trách nhiệm về các khoản nợ, rủi ro,thiệt hại trong phạm vi phần vốn góp của mình
Những điểm khác nhau:
Những điểm khác nhau giữa cổ đông trong công ty cổ phần, thành viên công
ty TNHH và xã viên hợp tác xã được thể hiện trong bảng sau:
Tiêu chí Cổ đông công ty
cổ phần
Thành viên công ty TNHH Xã viên Hợp tác xã Điều kiện
Góp vốn và công sức, tự nguyện gia nhập hợp tác
Việc biểu quyết tại Đại hội xã viên và các hội nghị xã viên không phụ thuộc vào số vốn góp hay chức vụ của xã viên hợp tác xã Mỗi xã viên hoặc đại biểu xã viên chỉ có một phiếu biểu quyết
Trang 171.3 Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần
1.3.1 Hệ thống các văn bản pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần – Quá trình hình thành và phát triển
Ở Việt Nam, cổ đông trong công ty cổ phần được quy định lần đầu tiên tại Luật Công ty năm (1990), sau đó là Luật Doanh nghiệp (1999) và gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp (2005) Từ khi ra đời đến nay, quy chế về cổ đông trong công ty
cổ phần đã có những bước tiến quan trọng thể hiện rõ ràng trong những văn bản pháp luật trên Cụ thể như sau:
Luật Công ty (1990) chưa có định nghĩa rõ ràng, cụ thể thế nào là cổ đông; quyền, nghĩa vụ của cổ đông cũng chưa được quy định; chưa phân loại các loại cổ đông trong công ty Đạo luật này mới chỉ nêu khái quát cổ đông là thành viên của công ty cổ phần, sở hữu cổ phần của công ty cổ phần Như vậy, tại Luật công ty (1990), quy chế cổ đông trong công ty cổ phần hay công ty cổ phần nói chung chưa được quy định chi tiết, còn sơ sài, nhiều hạn hạn chế
Đến LDN (1999), quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần có một bước tiến đáng kể kể về chất lượng cũng như số lượng các điều luật Đạo luật này
đã phân loại cổ đông gồm có cổ đông phổ thông và các cổ đông ưu đãi, đã quy định
rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ pháp lý của cổ đông phổ thông, quyền của các
cổ đông ưu đãi trong công ty cổ phần (từ Điều 53 đến Điều 58) Tuy nhiên, LDN
(1999) vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là “cổ đông”, Luật đã quy định về
quyền, nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần nhưng chưa thực sự đầy đủ, chi tiết Ví dụ như Luật chưa quy định cụ thể về việc cổ đông phổ thông có quyền tự
do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác hoặc cho người không phải
là cổ đông của công ty, chưa có quy định cho phép cổ đông phổ thông được xem xét, tra cứu, trích lục Điều lệ công ty; Nghĩa vụ của các cổ đông phổ thông cũng được quy định khá sơ sài, chưa đưa ra được các chế tài khi cổ đông vi phạm Điều lệ
Trang 18công ty hay làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của công ty thì sẽ bị xử lý ra sao… Như vậy, có thể thấy LDN (1999) đã quy định đầy đủ hơn, chi tiết hơn về quy chế pháp lý đối với cổ đông trong công ty cổ phần Tuy nhiên, các quy định vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế, chưa nắm bắt được hết các tình huống có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của công ty cổ phần
So với LDN (1999), LDN(2005) đã có nhiều đổi mới và tiến bộ trong quy định
về các loại hình doanh nghiệp nói chung và về công ty cổ phần nói riêng Trong LDN (2005), có tới 52/111 điều quy định về công ty cổ phần LDN (2005) đã có những quy định cụ thể đảm bảo cho việc thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các cổ đông nói chung; đồng thời bảo vệ mạnh mẽ lợi ích của các cổ đông thiểu số nói riêng Bên cạnh việc tạo cơ sở pháp lý cho các cổ đông có điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty, LDN (2005) cũng có những quy định bảo vệ mạnh mẽ hơn quyền và lợi ích của các cổ đông thiểu số như quy định cho phép nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có các quyền: đề cử người vào HĐQT và BKS, Quy định về phương thức bầu dồn phiếu…Như vậy, so với hai văn bản trên, LDN (2005)
đã có những quy định hoàn thiện hơn quy chế pháp lý về cổ đông của công ty cổ phần
Có thể thấy rằng, qua hơn 20 năm tồn tại ở nước ta, quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiện hơn Các quy định đã từng bước được điều chỉnh cụ thể hơn, chi tiết và hợp lý hơn, phù hợp với quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước Hiện nay, ngoài quy định tại LLDN (2005), pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần còn được thể hiện trong một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật như Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành LDN, thay thế Nghị định số 139, Thông tư số 131/2010/TT-BTC ngày 6/9/2010
Trang 19hướng dẫn quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam…
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần, chúng ta cần tham khảo các quy định có liên quan tại Bộ luật Dân sự, về các vấn
đề như tài sản, quyền tài sản, quyền mua bán, tặng cho, thừa kế cổ phần…Sau hơn năm năm thi hành Bộ luật dân sự (2005), bên cạnh nhiều ưu điểm cũng đã bộc lộ nhiều thiếu sót, hạn chế và đang tiếp tục được sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới Ngoài ra, do tính chất đặc thù của mình, pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần còn chịu sự điều chỉnh của các quy định của Luật đầu tư, Luật chứng khoán Có thể nói Luật đầu tư (2005) và Luật chứng khoán (2006) đã quy định chi tiết các vấn đề về mua bán, phát hành, chào bán, chuyển nhượng cổ phần, cổ phiếu…, qua đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cổ đông, các nhà đầu tư vào Công ty cổ phần có được môi trường kinh doanh ổn định, hiệu quả
1.3.2 Những nội dung cơ bản của quy chế pháp lý về cổ đông trong công
ty cổ phần
Căn cứ vào những quy định trong các văn bản pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần, quy chế pháp lý về cổ đông công ty cổ phần bao gồm các nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, Xác lập, thay đổi, chấm dứt tư cách cổ đông công ty cổ phần
Thứ hai, Quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông trong công ty cổ phần;
Quyền của cổ đông ưu đãi trong công ty cổ phần và các quyền, nghĩa vụ đặc biệt của cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần
Khi nghiên cứu về quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần, chúng ta cần tìm hiểu kỹ càng các quy định pháp luật dựa trên các nội dung trên
Trang 201.4 So sánh quy chế pháp lý về cổ đông trong CTCP ở Việt Nam và quy chế pháp lý về cổ đông trong CTCP ở một số nước trên thế giới –Kinh nghiệm cho Việt Nam
1.4.1 Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần được quy định tại Luật Công ty (2005) của Nhật Bản Luật công ty của Nhật Bản là sự kết hợp đặc biệt giữa truyền thống Luật Dân sự của Đức (có một vài yếu tố của Pháp) với Luật Công ty của Mỹ và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội, văn hóa của Nhật Bản Nền tảng pháp lý cho các loại hình công ty ở Nhật Bản là Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đã có từ khá lâu và sau đó được sửa đổi, bổ sung nhiều lần Việc ban hành Luật Công ty mới trong tháng 6 năm 2005 ( Japanese Company Act 2006-JCA 2006) là đỉnh cao của những nỗ lực của Nhật Bản để tái cấu trúc lại và làm mới khuôn khổ hệ thống pháp luật công ty của mình.[8]
Luật Công ty (LCT) của Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp của Việt Nam đều có những quy định tương đồng về quyền của cổ đông, như quyền hưởng lợi tức cổ phần, quyền biểu quyết, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, quyền xem xét trích lục các thông tin, v.v…
Trong Luật Công ty của Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp của Việt Nam,
cổ đông có những quyền của người góp vốn, như: quyền dự họp ĐHĐCĐ, quyền biểu quyết, quyền đề cử thành viên HĐQT, BKS, quyền tiếp cận thông tin, quyền được hưởng cổ tức, quyền ưu tiên mua cổ phần mới, quyền chuyển nhượng cổ phần, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, quyền nhận tài sản còn lại khi công ty phá sản Quyền của cổ đông được phân loại phụ thuộc vào cổ phần nắm giữ Cả Việt Nam và Nhật Bản đều có qui định về cổ đông phổ thông
và cổ đông ưu đãi Cổ đông ưu đãi theo Luật Công ty của Nhật Bản là người sở
Trang 21hữu cổ phần ưu đãi trong CTCP Cổ đông ưu đãi có quyền và lợi ích đặc biệt mà
cổ đông phổ thông không có như quyền ưu đãi biểu quyết, quyền ưu đãi cổ tức, quyền ưu đãi hoàn lại [6]
Ở Việt Nam, cơ cấu cổ đông của CTCP khác với cơ cấu cổ đông của công
ty cổ phần ở Nhật Bản ở chỗ có sự tham gia của cổ đông nhà nước trong một số CTCP Cổ đông nhà nước có thể sở hữu đa số cổ phần để giữ vai trò chi phối trong CTCP Còn pháp luật Nhật Bản không quy định sự tham gia của cổ đông nhà nước trong các CTCP.[5]
1.4.2 Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật của Singapore
Singapore áp dụng khá triệt để hệ thống pháp luật của Anh Một trong những nguyên tắc của việc áp dụng hệ thống pháp luật Anh ở Singapore là áp dụng đến chừng mực chưa gây ra mâu thuẫn với tập quán và pháp luật của Singapore Chính vì vậy, nguồn luật về công ty của Singapore chủ yếu dựa vào các văn bản pháp luật về công ty của Anh và Úc Tuy nhiên, Luật Công ty của Singapore hiện nay cũng chứa đựng nhiều điểm khác so với luật công ty hai nước trên Theo Luật Công ty (Luật số 50), Luật đăng ký kinh doanh (Luật số 32) của Singapore thì ở Singapore có các loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp một chủ)
- Loại hình doanh nghiệp hợp danh: Hợp danh là thoả thuận giữa những người tiến hành kinh doanh nhằm thu lợi Như vậy, theo định nghĩa này thì hai dấu hiệu đặc trưng của hợp danh là sự tồn tại của việc kinh doanh và sự thoả thuận giữa nhiều người tham gia việc kinh doanh vì lợi nhuận Mục đích lợi nhuận là tiêu chí cơ bản cho việc xác định hợp danh Số lượng thành viên tối thiểu của hợp danh là 2 và tối đa là 20 Các hợp danh có thành viên với số lượng
từ 21 trở lên được gọi là công ty cho dù không đăng ký như là công ty
- Công ty: Hai hay nhiều người có thể thành lập công ty hoạt động vì mục đích hợp pháp thông qua việc họ ký vào thoả thuận thành lập công ty và tuân thủ
Trang 22quy định đăng ký Trong mọi trường hợp một công ty phải có ít nhất 2 thành viên Nếu công ty trong quá trình hoạt động mà còn lại một thành viên và công
ty vẫn tiếp tục hoạt động hơn tháng thì thành viên này bị coi là phạm luật công ty
và phải chịu trách nhiệm về tất cả những khoản nợ xảy ra trong công ty thì việc
sở hữu cổ phiếu của công ty là điều kiện bắt buộc Công ty theo pháp luật của Singapore gồm 3 loại hình:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phiếu (CTCP): trách nhiệm của các thành viên công ty là hữu hạn và chỉ hạn chế tới giá đã được thanh toán hay chưa được thanh toán cổ phiếu mà họ nắm giữ
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn theo bảo lãnh: trách nhiệm của các thành viên công ty là hữu hạn và chỉ hạn chế tới giá trị mà họ cam kết cá nhân đóng góp vào tài sản của công ty trong trường hợp giải thể
+ Công ty trách nhiệm vô hạn: các thành viên công ty chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động của công ty
Luật công ty Singapore chia các công ty thành công ty cổ phiếu giao dịch hạn chế (private company) và công ty cổ phiếu giao dịch rộng rãi (public company) Công ty cổ phiếu giao dịch hạn chế không được quá 50 thành viên, không được phát hành cổ phiếu và trái phiếu cho công chúng và không được nhận tiền gửi của công chúng Công ty này cũng có thể hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phiếu Ngược lại, công ty có cổ phiếu giao dịch rộng rãi không bị ràng buộc bởi những quy định này
Theo một số sửa đổi mới đây trong Luật công ty của Singapore, luật pháp trao cho giám đốc công ty những nghĩa vụ nặng nề và cụ thể hơn so với pháp luật của Việt Nam Cụ thể, giám đốc công ty vừa có nhiệm vụ điều hành công ty, vừa có nhiệm vụ giám sát việc hoạt động của các thành viên HĐQT, chịu trách nhiệm về công bố thông tin…Có thể nói đây là một quy định khá hay mà Việt Nam cần học hỏi, bởi ở Việt Nam, nhiều nhà lãnh đạo công ty còn tắc trách, ỷ lại
Trang 23mà không làm tròn trách nhiệm của mình, đặc biệt là các nghĩa vụ về công bố thông tin.[7]
1.4.3 Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật của Mỹ:
Ở Mỹ có hai loại hình công ty: công ty đóng là công ty không bán cổ phiếu ra công chúng và công ty mở là công ty có niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Luật của Mỹ không buộc người lập công ty phải xác định loại hình công ty khi đăng ký hoạt động mà sẽ căn cứ vào việc công ty đó sau này niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hay không để phân loại hình thức công ty Có thể kể đến một số điểm đáng chú ý trong luật pháp của Mỹ về quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông như sau:
Cổ đông ở Mỹ có quan niệm bỏ tiền vào công ty thì luôn mong muốn số tiền ấy gia tăng và sinh sôi nảy nở Sự gia tăng có thể là cổ tức nhận được mỗi năm nhiều hơn hoặc cổ phiếu lên giá nhưng cổ đông Mỹ lại thích cổ phiếu mình cầm giữ tăng giá hơn là hưởng cổ tức Cái lợi của cổ đông là thu lợi từ sự phát triển của công ty mà không phải bận tâm hay bỏ thời gian vào việc quản lý Quản lý công ty là việc của HĐQT và Tổng giám đốc
Ở Mỹ cũng có quy định về phương thức bầu dồn phiếu, nhưng phương thức bầu dồn phiếu chỉ được áp dụng dễ dàng trong các công ty không phát hành chứng khoán Còn ở các công ty phát hành chứng khoán thì phương thức bầu dồn phiếu không khả thi vì số cổ đông quá lớn Trong việc bầu chọn Ban giám đốc, trừ khi
có những quy định khác trong điều khoản thành lập công ty,các giám đốc được bầu bằng đa số phiếu Điều đó có nghĩa là các ứng cử viên có số phiếu bầu lớn nhất sẽ được chọn, cho dù họ có đạt được sự tán đồng từ đa số cổ phiếu có quyền tham gia bỏ phiếu hay không.Việc bầu chọn như vậy sẽ giúp cân bằng quyền lợi
Trang 24của tất cả các cổ đông trong công ty Đây là một phương thức mà Việt Nam cần học hỏi
Như vậy, ở một số nước trên thế giới, quy chế pháp lý về cổ đông không giống nhau Học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển, pháp luật của Việt Nam cần hoàn thiện hơn nữa quy chế này theo hướng quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các cổ đông một cách đồng bộ, chặt chẽ từ vai trò quản lý của HĐQT đến việc giám sát và quản lý của các nhà đầu tư, của các cổ đông được diễn ra song hành Có như vậy thì hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần sẽ cao hơn và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế, trình độ quản lý kinh doanh của chúng ta trong giai đoạn hiện nay [5]
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN 2.1 Các quy định pháp luật về xác lập, thay đổi, chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần
2.1.1 Xác lập tư cách cổ đông
Xác lập tư cách cổ đông trong công ty cổ phần là việc một chủ thể có đủ điều kiện, thực hiện những phương thức nhất định được pháp luật cho phép để trở thành
cổ đông - chủ sở hữu của công ty cổ phần Tư cách cổ đông trong công ty cổ phần
có thể được xác lập bằng nhiều phương thức khác nhau như: mua cổ phần của công
ty cổ phần; nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho cổ phần từ cổ đông hiện hữu của
công ty
So với quy chế thành viên tại các loại hình doanh nghiệp khác, việc các nhà đầu tư tham gia và trở thành thành viên của công ty cổ phần được thực hiện một cách dễ dàng thông qua việc nắm giữ quyền sở hữu đối với cổ phần của công ty cổ phần Tuy nhiên, việc xác lập tư cách cổ đông trong công ty cổ phần vẫn phải tuân thủ những trình tự, thủ tục nhất định do luật định
Thứ nhất, điều kiện về chủ thể
Luật Doanh nghiệp(2005) quy định “mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức,
cá nhân nước ngoài” đều có quyền góp vốn, mua cổ phần của các loại hình doanh
nghiệp nói chung và của công ty cổ phần nói riêng Quy định này góp phần tạo nên
sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, đảm bảo nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc, phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết
Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích đảm bảo an ninh quốc gia, ổn định chính trị, phát triển kinh tế, Luật Doanh nghiệp (2005) đã quy định một số trường hợp ngoại
lệ nhà đầu tư không có quyền mua cổ phần trong công ty cổ phần Theo đó, Luật Doanh nghiệp (2005) đã sử dụng phương pháp loại trừ khi liệt kê những đối tượng này tại Khoản 4, Điều 13:
Trang 26- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng” tài sản nhà nước” để thành lập doanh nghiệp kinh doanh “thu lợi riêng” cho cơ quan, đơn vị mình;
Sở dĩ pháp luật quy định cấm các chủ thể trên mua cổ phần của công ty cổ phần là nhằm hạn chế trường hợp những đối tượng này lợi dụng quyền hạn để sử dụng tài sản từ ngân sách nhà nước để trục lợi riêng cho đơn vị mình
- Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
Luật Doanh nghiệp (2005) quy định một số trường hợp cán bộ công chức không được mua cổ phần của Công ty cổ phần là xuất phát từ mục đích đảm bảo cho họ tập trung tối đa công việc nhà nước, hết sức mình phục vụ nhân dân, đồng thời ngăn chặn những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh bất hợp pháp…
Thứ hai, các phương thức xác lập tư cách cổ đông công ty cổ phần
- Một là, mua cổ phần của công ty cổ phần
Đối với cổ đông thông thường, việc xác lập tư cách cổ đông công ty cổ phần được thực hiện một cách dễ dàng thông qua việc “mua ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty” Luật chỉ quy định “cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở
lên phải được đăng ký với cơ quan kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày có tỷ lệ sở hữu đó” (Khoản 4, Điều 86)
Đối với cổ đông sáng lập là những cổ đông có vai trò hết sức quan trọng
trong công ty, Luật Doanh nghiệp quy định “các cổ đông sáng lập phải cùng
nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán
và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” (Khoản 1, điều
84)
- Hai là, nhận chuyển nhượng cổ phần từ cổ đông hiện hữu trong công ty
Trang 27Hoạt động chuyển nhượng cổ phần đã là một đặc thù trong công ty cổ phần
Về nguyên tắc, cổ phần trong công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ hai trường hợp sau:
Thứ nhất, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác (Khoản 3, Điều 81, Luật Doanh nghiệp (2005)) Thứ hai, trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nay là đăng ký doanh nghiệp), cổ đông sáng lập có quyền tự
do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông (Khoản 3, Điều
84, Luật Doanh nghiệp(2005))
- Ba là, thông qua trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi là một loại trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu công ty theo một tỷ lệ cộng bố trước vào một khoảng thời gian xác định trước Người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi có quyền không chuyển sang cổ phiếu nếu như tại thời điểm chuyển đổi công ty làm ăn không tốt Khi người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi đồng ý chuyển đối trái phiếu sang cổ phiếu thì họ sẽ trở thành cổ đông trong công ty cổ phần
Ngoài ra, trên thực tế hiện nay có rất nhiều phương thức xác lập tư cách cổ đông trong công ty cổ phần LDN (2005) đã quy định một cách cụ thể và chi tiết về hoạt động chuyển nhượng cổ phần Tuy nhiên, đạo luật này lại chưa đề cập đến các
vấn đề khác, như thừa kế, tặng, cho cổ phần Bộ luật dân sự quy định “Cá nhân
có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”
Cổ phiếu cũng là một loại tài sản, do đó khi cổ đông chết, cổ phiếu cũng có thể
trở thành di sản thừa kế của cổ đông “Tặng, cho” tài sản theo quy định của Bộ
Trang 28luật Dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng, cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng, cho mcty cổ phần hoàn toàn
có quyền tặng, cho cổ phần của mình cho người khác
Như vậy, thông qua thừa kế, tặng cho cổ phần, quyền sở hữu cổ phần được chuyển giao cho chủ thể khác Người nhận thừa kế, tặng cho cổ phần khi đã thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định sẽ trở thành cổ đông của công ty cổ phần
và có các quyền và nghĩa vụ tương ứng
Thứ ba, thời điểm công nhận tư cách cổ đông trong Công ty cổ phần
- Đối với cổ đông thường, tư cách cổ đông được công nhận khi đã thanh toán
đủ số cổ phần và những thông tin về người mua được ghi đúng trong Sổ đăng ký cổ đông
- Trong quan hệ chuyển nhượng, giấy tờ chuyển nhượng cổ phần phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký Bên chuyển nhượng vẫn là người sở hữu cổ phần cho đến khi tên của người nhận chuyển nhượng được đăng ký vào sổ đăng ký cổ đông (/khoản 5 Điều 87 Luật Doanh nghiệp)
- Cổ đông sáng lập là người tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản
Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần Danh sách các cổ đông sáng lập là một trong những yêu cầu bắt buộc trong hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty cổ phần Bởi vậy, việc đăng ký tư cách cổ đông sáng lập phải được thực hiện tại các cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Quy định chặt chẽ như vậy tưởng chừng như hợp lý bởi nó tạo ra một bằng chứng pháp lý để xác nhận một nhà đầu tư nào đó là chủ sở hữu một phần của công ty và cũng là chứng cứ quan trọng góp phần hạn chế tranh chấp về cổ phiếu.Tuy nhiên, thực tế cho thấy có không ít vụ việc nhà đầu tư bỏ tiền mua cổ phần, đặc biệt là mua với số lượng nhỏ, nhưng không được ghi tên vào sổ đăng
Trang 29ký cổ đông Như vậy, họ không được công nhận là cổ đông của công ty Trong những trường hợp như vậy, quyền lợi của người mua cổ phần không được đảm bảo
2.1.2 Thay đổi tư cách cổ đông công ty cổ phần
Thay đổi tư cách cổ đông trong công ty cổ phần là việc một chủ thể chuyển
từ vai trò cổ đông này sang vai trò cổ đông khác trong công ty thông qua việc chuyển đổi hoặc nhận chuyển nhượng các loại hình cổ phần khác trong công ty Việc thay đổi tư cách cổ đông kéo theo sự thay đổi quyền và nghĩa vụ tương ứng của các chủ thể
Khoản 6, Điều 78, Luật Doanh nghiệp (2005) quy định “Cổ phần phổ thông
không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông” Như vậy,
với việc chuyển đổi cổ phần ưu đãi thành cổ phần phổ thông, tư cách cổ đông ưu đãi cũng chuyển thành cổ đông phổ thông với các quyền và nghĩa vụ thay đổi tương ứng Còn các cổ đông phổ thông không thể chuyển đổi thành các cổ đông
ưu đãi, trừ trường hợp mua hoặc nhận chuyển nhượng các cổ phần ưu đãi của công ty cổ phần (trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết) theo quy định tại Điều lệ hoặc
do Đại hội đồng cổ đông quyết định
Ngoài ra, tư cách của cổ đông cũng có thể thay đổi thông qua việc nhận góp
số vốn còn thiếu của cổ đông sáng lập đã đăng ký mua mà không thanh toán đủ (Điểm c, Khoản 3, Điều 84); hoặc nhận chuyển nhượng cổ phần phổ thông của
cổ đông sáng lập trong thời hạn ba năm, kể từ khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông (Khoản
5, Điều 84) Trong những trường hợp này người nhận góp vốn và nhận chuyển nhượng đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty
Trang 302.1.3 Chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần
Chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần là việc hủy bỏ quyền sở hữu của một chủ thể đối với cổ phần họ đang nắm giữ, thông qua đó là việc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với công ty cổ phần
Ngược lại với phương thức xác lập đã nêu trên, việc chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần được đặt ra khi cổ đông không còn quyền sở hữu đối với số cổ phần của công ty
Thứ nhất, tư cách cổ đông chấm dứt trong một số trường hợp khách quan
như: chuyển đổi công ty, công ty giải thể, phá sản…CTCP có thể bị giải thể, phá sản hay chuyển đổi thành một công ty dưới hình thức khác theo quyết định của ĐHĐCĐ Công ty cũng bắt buộc phải chuyển đổi khi số cổ đông dưới mức tối thiểu theo luật định là ba người Khi đó, công ty sẽ chấm dứt tồn tại, tư cách cổ đông cũng vì thế mà chấm dứt
Thứ hai, tư cách cổ đông có thể bị chấm dứt vì những lý do chủ quan như
khi cổ đông chuyển nhượng, tặng, cho cổ phần của mình cho người khác, khi cổ đông rút vốn, yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình, hay khi cổ đông đó không thanh toán đủ số tiền mua cổ phần như đã cam kết… Trong những trường hợp này, người không còn nắm giữ cổ phần đương nhiên không còn là cổ đông của công ty
Tuy nhiên, LDN (2005) lại không quy định thủ tục chấm dứt tư cách thành viên HĐQT trong tất cả các trường hợp đã được liệt kê, nên không thể áp dụng thống nhất trên thực tế Chẳng hạn, trường hợp thành viên HĐQT không tham gia các hoạt động của HĐQT trong 6 tháng liên tục thì sẽ xác định đây là trường hợp đương nhiên phải chấm dứt tư cách thành viên HĐQT hay phải có sự bỏ phiếu của ĐHĐCĐ?, cách tính sự hoạt động liên tục 6 tháng của thành viên HĐQT như thế nào?
Trang 312.2 Các quy định pháp luật về quyền của cổ đông phổ thông trong công
ty cổ phần
Quyền tham dự và phát biểu trong các ĐHCĐ và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền
Đây là một trong những quyền quan trọng nhất thể hiện quyền làm chủ của
cổ đông trong CTCP, cho phép cổ đông tham gia vào các quyết định của công ty, được biểu quyết các vấn đề quan trọng trong công ty như: định hướng phát triển của công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; quyết định tổ chức lại, giải thể công ty…Quyền biểu quyết áp dụng cho mọi cổ đông trong công ty ngoại trừ cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại
Điều 104 LDN (2005) quy định chi tiết điều kiện tiến hành cuộc họp và thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông, theo đó:
- Cuộc họp ĐHCĐ chỉ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định
- Quyết định của ĐHCĐ được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận, tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định;
- Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu
Trang 32quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định;
- Việc biểu quyết bầu thành viên HĐQT và BKS phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu Theo đó, mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát Cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên
Có thể thấy nguyên tắc bầu dồn phiếu đã thể hiện rõ nét cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số Bởi trong công ty cổ phần, cổ đông thiểu số với số vốn góp ít, thường đồng nghĩa với tỷ lệ biểu quyết những vấn đề quan trọng của công ty thấp so với cổ đông lớn Nhưng nếu áp dụng phương thức bầu dồn phiếu, họ có thể liên kết lại với nhau để tạo ra một tỷ lệ lớn hơn trong việc bầu những thành viên vào HĐQT hoặc BKS Đây có thể coi là điểm tiến bộ của LDN (2005) so với các quy định trong các văn bản pháp luật trước đó Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này còn tồn tại một số vướng mắc, thí dụ như với tỷ lệ biểu quyết 65% số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp khi thông qua quyết định Đại hội đồng cổ đông quy định tại điểm a khoản 3 điều này Nếu áp dụng theo hướng
dẫn tại Khoản 4, Điều 29, Nghị định số 102 thì “người trúng cử thành viên
HĐQT hoặc BKS được xác định theo số phiếu bầu tính từ cao xuống thấp, bắt đầu từ ứng cử viên có số phiếu bầu cao nhất cho đến khi đủ số thành viên quy định tại Điều lệ công ty” Như vậy có thể hiểu điều kiện trúng cử là lấy theo tỷ lệ
từ cao xuống thấp mà không cần đáp ứng tỷ lệ 65% tổng số phiếu biểu quyết Điều này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số bởi vì không phải lúc nào việc dồn phiếu của các cổ đông nhỏ lẻ cũng có thể đạt tới tỷ lệ 65% Ngoài
ra, trên thực tế, các cơ quan nhà nước đã giải thích theo cách hiểu của cụm từ
“đủ các điều kiện sau” được nêu tại Khoản 3, Điều 104 thì việc biểu quyết, bầu
Trang 33thành viên HĐCĐ hoặc BKS phải đáp ứng cả khoản a và c Điều đó có nghĩa là
việc biểu quyết, bầu thành viên HĐCĐ và BKS được thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, nhưng một ứng cử viên trúng cử phải có được ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết Có thể thấy theo giải thích này thì rõ ràng Luật đã không bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số theo thông lệ quốc tế
Bên cạnh đó, cũng không có cơ sở pháp lý để áp dụng phương thức bầu dồn phiếu trong việc bãi miễn, bầu bổ sung thành viên HĐQT, BKS
Phương thức bầu dồn phiếu đã được Điểm c, Khoản 3, Điều 104 LDN quy định áp dụng cho việc bầu thành viên HĐQT và thành viên BKS Phương thức này bảo đảm cho hiệu lực của tất cả các phiếu bầu của cổ đông, mỗi phiếu bầu chỉ có hiệu lực bầu cho một ứng viên Điều 96.2.b quy định thẩm quyền của ĐHĐCĐ bãi miễn, bầu bổ sung thành viên HĐQT Tuy nhiên, LDN không có quy định áp dụng phương thức bầu dồn phiếu khi bãi miễn, bầu bổ sung thành viên HĐQT, cho nên không thể xác định được những cổ đông nào có quyền bỏ phiếu bãi miễn và bầu bổ sung thành viên HĐQT để bảo đảm quyền lợi công bằng cho mọi cổ đông
Ngoài ra, quy định tại khoản 2, Điều 79, Luật doanh nghiệp (2005) quy định cho các cổ đông hoặc nhóm cổ đông đạt tỉ lệ 10% tổng số cổ phần phổ thông có các quyền triệu tập ĐHĐCĐ, đề cử người vào HĐQT và BKS, xem xét trích lục biên bản nghi quyết của ĐHĐCĐ, yêu cầu BKS từng vấn đề cụ thể Rất lớn rất khó để cổ đông các công ty đại chúng hay các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đạt tỷ lệ 10%, tỉ lệ này ở Trung Quốc chỉ là 3% Khi đã thỏa mãn tỉ lệ này thì phải thỏa mãn một điều kiện khác đó là phải sở hữu ít nhất sáu tháng liên tục Quy định này gây khó khăn cho các cổ đông khi thực hiện quyền của họ
Theo quy định của pháp luật thì cổ đông nhận chuyển nhượng cổ phần trong thời gian giữa hai phiên họp ĐHĐCĐ thì được phép tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ Pháp luật thừa nhận quyền tham dự của họ nhưng lại không cho họ được tham gia
Trang 34biểu quyết góp ý kiến là không thỏa đáng Do đó, pháp luật cần quy định về vấn đề này một cách hợp lý hơn
Mặc dù còn một số thiếu sót nhưng Luật Doanh nghiệp (2005) đã quy định khá chặt chẽ về vấn đề tham gia, biểu quyết, cũng như thông qua quyết định tại Đại hội đồng cổ đông trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích của số đông các cổ đông trongcông ty Song cần nhìn nhận một thực tế là không phải cổ đông nào cũng quan tâm và hiểu được đầy đủ quyền của mình Chính điều này đã khiến cho nhiều cổ đông bị thua thiệt, đặc biệt là các cổ đông nhỏ lẻ
Quyền được nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông
Một trong những quyền tài sản mà các cổ đông quan tâm nhất chính là cổ tức công ty Các cổ đông khi tham gia vào công ty cổ phần có thể mua cổ phiếu với nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng đều là lợi nhuận từ hoạt động của công ty
“Cổ tức” là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt
hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính” (Khoản 9, Điều 4, LDN) Cách thức trả cổ tức do ĐHĐCĐ hoặc HĐQT quyết định, có thể bằng tiền, cổ phiếu hoặc tài sản khác thuộc sở hữu của công ty Hiện nay, phương thức phổ biến nhất vẫn là chia cổ tức bằng tiền hoặc
cổ phiếu
Chia cổ tức bằng tiền mặt: Ưu điểm của hình thức này là tính thanh khoản rất
cao, tâm lý cổ đông khi cầm tiền mặt trong tay bao giờ cũng chắc chắn hơn so với cầm cổ phiếu trong tay Hơn nữa, khi muốn, cổ đông vẫn có thể tái đầu tư vào công
ty từ nguồn cổ tức Đồng thời, việc trả cổ tức bằng tiền mặt ở mức cao sẽ tạo sức
ép, buộc lãnh đạo doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, sáng tạo hơn
Chia cổ tức bằng cổ phiếu là việc công ty giữ lại một khoản lãi đáng lẽ phải
chia cho các cổ đông để tái đầu tư để cổ đông sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn trong
Trang 35tương lai Các nhà đầu tư dài hạn thường có xu hướng chọn phương thức này vì họ muốn hy sinh lợi nhuận ban đầu để dành vốn phát triển doanh nghiệp, hưởng lợi nhuận về sau
Có thể thấy việc chia cổ tức bằng cổ phiếu hay bằng tiền mặt đều có những ưu thế của nó Hiện nay, để tận dụng nhiều ưu thế, nhiều công ty đã áp dụng cùng lúc
thiếu cơ sở Ngay như có sự giải thích thêm đó là “trên mệnh giá” thì cũng sẽ mơ
hồ, vì về mặt kỹ thuật mà nói, mệnh giá cổ phiếu trong quá trình vận động trên TTCK có thể không đứng yên Cụ thể, nghiệp vụ tách cổ phiếu sẽ làm cho nó nhỏ đi
và nếu là gộp cổ phiếu thì nó có thể cao lên Mặt khác, nếu cho rằng mệnh giá là cố định và việc công bố trả cổ tức là bằng % thì có vẻ việc này chỉ phục vụ cho những người đã mua cổ phần theo mệnh giá, trong khi thực tế trên thị trường thì không phải vậy, việc đầu tư hoàn toàn là theo giá thị trường Hơn nữa, do % thường được dùng trong các phép đo tương đối, việc công bố trả cổ tức bằng % dễ tạo ra
sự so sánh hơn kém dẫn tới nhầm lẫn, nhất là những người chưa hoặc mới tiếp cận TTCK
Trang 36 Quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty
Quyền này được áp dụng với các điều kiện:
- Thứ nhất, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của công ty chỉ đặt ra
khi một công ty cổ phần kinh doanh có lợi nhuận và phát hành thêm cổ phần mới
để gọi thêm vốn cổ phần Khi đó, cổ đông của công ty sẽ được ưu tiên mua số cổ phần công ty mới chào bán này
- Thứ hai, chỉ có những cổ đông hiện hữu tại thời điểm CTCP gọi thêm vốn
cổ phần mới được hưởng quyền này
Sự ưu tiên này thể hiện ở hai khía cạnh:
- Ưu tiên về giá: Theo quy định tại khoản 1, Điều 87, LDN (2005), giá chào
bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ một số trường
hợp, trong đó có trường hợp cổ phần chào bán cho tất cả các cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty Như vậy, giá chào bán cổ phần cho các cổ đông hiện hữu là giá ưu đãi, có thể thấp hơn giá thị trường
- Ưu tiên về thứ tự mua cổ phần: Theo đó, số cổ phần mới chào bán sẽ phải
bán cho những cổ đông hiện hữu trước, nghĩa là họ được ưu tiên mua trước Sau
đó, công ty mới có thể chào bán rộng rãi số cổ phần còn lại cho các nhà đầu tư khác
Có thể thấy mục đích của quyền ưu tiên mua cổ phần này được đặt ra để
bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu trong CTCP Họ là những người đã gắn bó với công ty Khi công ty kinh doanh có hiệu quả, họ phải là những người đầu tiên được hưởng lợi từ kết quả hoạt động kinh doanh này Bên cạnh đó, xét dưới góc độ quản lý công ty, quyền ưu tiên mua cổ phần của các cổ đông hiện
Trang 37hữu đã góp phần bảo đảm cho công ty không bị xáo trộn trong bộ máy quản lý khi gọi thêm vốn cổ phần mới, tránh tình trạng các cổ đông mới có thể mua với số lượng lớn cổ phần mới phát hành và qua đó giành quyền chi phối công ty, ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động bình thường của công ty và cũng không loại trừ trường hợp đối thủ cạnh tranh nhảy vào thôn tính công ty
Bên cạnh việc dành cho cổ đông hiện hữu “quyền ưu tiên mua” cổ phần mới chào bán của công ty, LDN (2005) cũng dự liệu trong trường hợp các cổ đông này không có nhu cầu hay khả năng tài chính để mua thêm cổ phần mới chào bán của công ty thì “cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người khác” (điểm c, khoản 2, điều 87) Nhìn chung, đây là quy định phù hợp với pháp luật của nhiều nước trên thế giới
Quyền được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông
Tự do chuyển nhượng cổ phần là một điểm đặc thù và cũng là ưu điểm vượt trội của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác, giúp cho công ty
cổ phần có được cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt trong kinh doanh
Về nguyên tắc, cổ phần phổ thông trong CTCP được chuyển nhượng một cách
tự do cho cả cổ đông lẫn người không phải là cổ đông trong công ty Tuy nhiên quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông này cũng có ngoại lệ được quy định
tại khoản 5, Điều 84, LDN(2005) Theo đó “trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông”
Quy định này là phù hợp và cần thiết bởi trong thời gian ba năm đầu thành lập, công ty cổ phần cần có sự ổn định về các nhân sự chủ chốt (các cổ đông sáng lập)