1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN vị TRÍ, VAI TRÒ và QUY CHẾ PHÁP lý về cổ ĐÔNG TRONG CÔNG TY cổ PHẦN – THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP

12 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 89,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty cổ phần là một mô hình doanh nghiệp có các ưu điểm vượt trội, đóng một vai trò quan trọng và là một xu thế vận động tất yếu của hệ thống doanh nghiệp nói chung. Tuy nhiên, khác với cơ cấu tổ chức theo hướng đơn giản, tinh gọn của các loại hình công ty đối nhân, cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần khá phức tạp. Bởi lẽ, công ty cổ phần là loại hình công ty có sự tham gia của rất nhiều thành viên nên cần có cơ chế kiểm soát và phối hợp chặt chẽ để đảm bảo cho công ty hoạt động hiệu quả. Thực hiện các quy định của pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần luôn là vấn đề có tính nhảy cảm, phức tạp cùng với sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trang 1

VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Công ty cổ phần là một mô hình doanh nghiệp có các ưu điểm vượt trội, đóng một vai trò quan trọng và là một xu thế vận động tất yếu của hệ thống doanh nghiệp nói chung Tuy nhiên, khác với cơ cấu

tổ chức theo hướng đơn giản, tinh gọn của các loại hình công ty đối nhân, cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần khá phức tạp Bởi lẽ, công ty

cổ phần là loại hình công ty có sự tham gia của rất nhiều thành viên nên cần có cơ chế kiểm soát và phối hợp chặt chẽ để đảm bảo cho công ty

hoạt động hiệu quả Thực hiện các quy định của pháp luật về cổ đông

trong công ty cổ phần luôn là vấn đề có tính nhảy cảm, phức tạp cùng với

sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong những năm qua, các vụ việc xâm phạm quyền và lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông ở Việt Nam diễn ra một cách khá phổ biến Những hệ quả tức thời đối với cá nhân người đầu tư có thể không lớn, nhưng tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường như làm suy giảm khả năng huy động vốn cổ đông rất đáng được nhà quản lý kinh tế cũng như các doanh nghiệp lưu tâm Nghiên cứu về vị trí, vai trò và quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần là vấn đề mang tính thời sự Bài viết này tác giả khái quát vị trí, vai trò và quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần Tập trung phân tích thực trạng việc thực thi pháp luật về quy chế cổ đông trong công ty cổ phần và kiến nghị đưa ra các giải pháp làm thế nào để lợi ích của công ty cổ phần và các cổ đông luôn hài hòa, tạo tiền đề cho nhau phát triển

Trang 2

“Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác;

có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn” 1 Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp đối vốn, Đây là lựa chọn của

đa phần các công ty lớn có ít nhất 03 cá nhân hoặc tổ chức góp vốn trở lên, kinh doanh những ngành nghề đòi hỏi vốn lớn, thực hiện lọai hình này có thể huy động vốn dễ dàng và từ nhiều nguồn và đối tượng khác nhau Cổ đông trong công ty cổ phần là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần2 Theo nguyên tắc đối vốn, người nào góp nhiều cổ phần thì người đó sẽ có nhiều phiếu biểu quyết hơn so với

các cổ đông khác và có khả năng chi phối công ty cao hơn.Về bản chất,

cổ đông có vai trò là thành viên, là chủ sở hữu của công ty cổ phần

Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.

Ở Việt Nam, cổ đông trong công ty cổ phần được quy định lần đầu tiên tại Luật Công ty (1990), sau đó là Luật Doanh nghiệp (1999); Luật Doanh nghiệp ( 2005) và gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp (2019) Từ khi ra đời đến nay, quy chế về cổ đông trong công ty cổ phần đã có những bước tiến quan trọng thể hiện rõ ràng trong những văn bản pháp luật trên Có thể thấy rằng, qua hơn 30 năm tồn tại ở nước ta, quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiện hơn Các quy định đã từng bước được điều chỉnh cụ

1 Quốc hội, Luật số: 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Luật Doanh nghiệp 2014, Điều 110

2 Quốc hội, Luật số: 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Luật Doanh nghiệp 2014, Khoảng 2, Điều 4

Trang 3

thể hơn, chi tiết và hợp lý hơn, phù hợp với quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay: Về thành viên công ty cổ phần : Chủ thể sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty là cổ đông Công ty cổ phần có tối thiểu 03 cổ đông, không hạn chế số lượng cổ đông tối đa Việc quy định số cổ đông tối thiểu đã trở thành thông lệ quốc tế Cổ đông công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức:

+ Cá nhân: không phân biệt nơi cư trú và quốc tịch, nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp

2014 thì có quyền thành lập công ty cổ phần; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật doanh nghiệp thì có quyền mua cổ phần

+ Tổ chức: tất cả tổ chức là pháp nhân, bao gồm cả doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, không phân biệt nơi đăng

ký địa chỉ trụ sở chính nếu không thuộc đối tượng bị cấm đều có quyền thành lập, thanh gia thành lập, có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần

Các cổ đông công ty cổ phần gồm:

+ Dựa vào vai trò đối với việc thành lập công ty cổ phần: Cổ đông sáng lập và cổ đông góp vốn

+ Dựa trên cổ phầ Về thành viên công ty cổ phần : Chủ thể sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty là cổ đông Công

ty cổ phần có tối thiểu 03 cổ đông, không hạn chế số lượng cổ đông tối đa Việc quy định số cổ đông tối thiểu đã trở thành thông lệ quốc tế

Các cổ đông công ty cổ phần gồm:

+ Dựa vào vai trò đối với việc thành lập công ty cổ phần: Cổ

Trang 4

đông sáng lập và cổ đông góp vốn

+ Dựa trên cổ phần mà họ sở hữu: Cổ đông phổ thông và cổ đông

ưu đãi

- Căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ: phân loại thành “cổ đông lớn” và “cổ đông thiểu số”

Căn cứ vào những quy định trong các văn bản pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần, quy chế pháp lý về cổ đông công ty cổ phần bao gồm các nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, Xác lập, thay đổi, chấm dứt tư cách cổ đông công ty cổ

phần

Thứ hai, Quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông trong

công ty cổ phần; Quyền của cổ đông ưu đãi trong công ty cổ phần và các quyền, nghĩa vụ đặc biệt của cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần

Những bất cập trong thực hiện các quy định pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần

Việc thực thi pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần trong những năm qua thì các quyền của cổ đông theo quy định của pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần đã được tuân thủ trên thực tế Các quyền như tham dự họp Đại hội đồng cổ đông, bầu và bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, chuyển nhượng cổ phần, quyền ưu tiên mua trước, quyền nhận cổ tức… đã được thực hiện tương đối đầy đủ Quyền của cổ đông, nhóm cổ đông thiểu số trong việc yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc trực tiếp triệu tập họp theo thẩm quyền đã phát huy được hiệu lực thực tế Đại hội đồng cổ đông của đại bộ phận (khoảng 96%) các công ty cổ phần trong cả nước thường họp (thường niên) mỗi năm một lần Một số khá lớn (khoảng từ

30 – 40% số công ty cổ phần) tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông mỗi

Trang 5

quý một lần (Bùi Minh Nguyệt – 2015) Về quyền được cung cấp thông tin, ở nhiều Công ty cổ phần, cổ đông đã nhận được không chỉ tóm tắt Báo cáo tài chính, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, mà còn nhận được cả thông báo về quyết định của HĐQT, và thậm chí cả của Giám đốc (Tổng Giám đốc) Với sự phát triển của Internet thông tin các thông báo, báo cáo, quyết định… được cung cấp đến cổ đông của công ty cổ phần ngày càng nhanh chóng và được mở rộng hơn

Bên cạnh đó, thực trạng thực thi pháp luật về cổ đông Công ty

cổ phần cũng bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót:

Một là, Quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ bị hạn chế :

Luật Doanh nghiệp (2019) đã quy định rất rõ ràng rằng tất cả các cổ đông phổ thông đều có quyền tham dự và biểu quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Trên thực tế, hầu hết các công ty

cổ phần đều không thực hiện triệt để nguyên tắc này Lý do mà các công ty đưa ra đều không dựa trên cơ sở pháp lý cụ thể mà chỉ là ý chí của từng công ty để biện minh cho sự vi phạm của mình, như: Do địa điểm tổ chức chật hẹp, không đủ diện tích cho tất cả các cổ đông trong công ty tham dự ngồi họp, có không ít các công ty cổ phần đưa

ra các yêu sách bắt buộc cổ đông phải có tỷ lệ sở hữu số cổ phần nhất định mới được tham gia Đại hội cổ đông Chẳng hạn như yêu cầu cổ đông phải sở hữu từ 0,1% vốn điều lệ trở lên mới được tham dự Một

số công ty cổ phần khác cũng yêu cầu cổ đông phải sở hữu tối thiểu hàng trăm triệu đồng mệnh giá cổ phiếu mới được tham dự Đại hội cổ đông thường niên Khi các cổ đông nhỏ bị hạn chế họp Đại hội cổ đông

họ bị tước đi một quyền quan trọng của cổ đông là tham gia vào việc ra Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông

Hai là, việc vi phạm quyền tiếp cận thông tin của cổ đông đã

và đang diễn ra Phần lớn các cổ đông không được tiếp cận các thông

Trang 6

tin trọng yếu của công ty hoặc không đầy đủ, hoặc thiếu chính xác Các

cổ đông thiểu số hầu như không nhận được thông báo về quyết định của Đại hội đồng cổ đông, tóm tắt báo cáo tài chính, thông báo về việc trả cổ tức Đặc biệt là trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay,

sự minh bạch hóa thông tin của các công ty cổ phần đang ngày càng bị

vi phạm một cách nghiêm trọng Ở nhiều công ty cổ phần, cổ đông không hề biết tiền mình đầu tư đi về đâu

Chúng ta có thể thấy, sự minh bạch thông tin trong công ty cổ phần là rất quan trọng Nó có thể giúp các cổ đông đưa ra quyết định có nên đầu tư vào công ty hay không hay đưa ra các biện pháp giúp sức cùng công ty vượt khỏi khó khăn Hiện nay, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông đang bị vi phạm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của cổ đông cũng như đến chính lợi ích của công ty cổ phần

Ba là, quyền ưu tiên mua trước bị vi phạm hoặc lạm dụng,

điều này thường được biểu hiện dưới một số hình thức sau đây:

- Cổ đông đa số với vị thế chi phối của mình tại Đại hội đồng cổ đông đã bỏ phiếu ra nghị quyết phát hành thêm cổ phiếu mới theo phương thức phát hành nội bộ và dành cho mình quyền mua nhiều hơn

so với các cổ đông khác

- Việc phát hành dưới hình thức “ưu tiên cho người lao động” Trong các công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước, thì phần lớn, thậm chí tất cả cổ đông đều là người lao động Đại hội đồng cổ đông biểu quyết ưu tiên cho người lao động mua cổ phần cũng chính là ưu tiên cho mình, nhưng với tỷ lệ khác so với tỷ lệ sở hữu Lúc này, những cổ đông đã làm việc lâu năm và thường là thành viên Hội đồng quản trị và những người quản lý khác được hưởng lợi nhiều hơn so với các cổ đông – người lao động khác

Thực tế cho thấy, có rất nhiều cổ đông không nắm bắt và hiểu

Trang 7

biết về các quyền và nghĩa vụ của mình Điều đó dẫn đến hậu quả làm hạn chế quyền của chính bản thân mình và vi phạm nghĩa vụ, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông khác, ảnh hưởng đến sự phát triển của công ty Hàng năm Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã

ra quyết định xử phạt trên 50 vi phạm quy định về chế độ báo cáo, công bố thông tin của công ty đại chúng, công ty niêm yết, xử phạt vi phạm quy định về chế độ báo cáo, công bố thông tin của cổ đông lớn, cổ đông nội bộ và người có liên quan Ở nhóm cổ đông lớn, cổ đông nội bộ và người có liên quan, các đối tượng giải trình nguyên nhân vi phạm là do sự hiểu biết pháp luật chuyên ngành còn hạn chế, ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao

Có nhiều trường hợp, do quy mô cổ đông quá nhỏ, 3 hoặc 5 người với các cổ đông có mối quan hệ gia đình, hoặc quen biết, việc tổ chức ĐHCĐ, ra Nghị quyết, các cuộc họp của hội đồng quản trị qua loa hoặc thậm chí không họp, chỉ thống nhất miệng rồi ra văn bản Khi hoạt động kinh doanh suôn sẻ, lợi nhuận chia đều thì các cổ đông đều đồng thuận Nhưng công ty thua lỗ hoặc mối quan hệ cá nhân giữa các cổ đông sứt

mẻ thì các điều luật về quản trị công ty cổ phần, về trình tự, thủ tục đại hội cổ đông được các bên viện dẫn để làm vũ khí chống lại nhau Đã từng có trường hợp tranh chấp giữa các cổ đông của một công ty nhỏ dẫn đến phải khởi kiện ra tòa Theo đó, Công ty Bảo tồn Di sản văn hóa Việt

có 5 cổ đông sáng lập, cổ đông A được bầu làm Chủ tịch và Giám đốc công ty Sau một thời gian hoạt động, các cổ đông khác muốn miễn

nhiệm ông A vì cho rằng ông “làm ăn” không hiệu quả Thông báo mời

họp ĐHCĐ sử dụng hình thức tin nhắn điện thoại, địa điểm họp ở quán

cà phê, không có tài liệu và các cổ đông giơ tay biểu quyết để miễn nhiệm ông A Sau này, ông A đã khởi kiện đề nghị Tòa án hủy Nghị quyết ĐHCĐ vì trình tự thủ tục tổ chức họp và ra quyết định trái với Luật

Trang 8

Doanh nghiệp Mặc dù các quan điểm mà ông A đưa ra là có căn cứ pháp

lý và được Tòa án chấp nhận nhưng vụ việc này cho thấy, việc yêu cầu các công ty cổ phần với quy mô nhỏ 3, 5 người phải tuân thủ đầy đủ các quy định quản trị về ĐHCĐ, HĐQT, Ban Kiểm soát còn bất cập

Bốn là, việc xử lý vi phạm quyền cổ đông vẫn chưa thực sự đạt

hiệu quả trên thực tế Quyền của cổ đông được thực hiện hàng ngày, trong từng công ty cổ phần và vi phạm quyền của cổ đông cũng xảy ra thường xuyên hơn, dưới nhiều góc độ khác nhau, rất đa dạng, phong phú Trong việc xử phạt vi phạm về các quyền của cổ đông, pháp luật của Việt Nam hiện nay đã quy định tương đối đầy đủ, đồng bộ từ thẩm quyền, trình tự thủ tục, cũng như các loại chế tài Pháp luật về xử

lý vi phạm quyền của cổ đông chủ yếu tập trung trong quy định của

Bộ luật Dân sự (2015), Luật Chứng khoán (2019), Luật Doanh nghiệp (2014), Luật Hình sự (2015), Luật Tố tụng dân sự (2004, sửa đổi, bổ sung 2011)…

Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm về các quyền của cổ đông chủ yếu là Toà án, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

Bộ Tài chính, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền, Sở Kế hoạch và Đầu tư (Thanh tra kế hoạch và đầu tư, Thanh tra chuyên ngành), Uỷ ban Chứng khoán nhà nước, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế… và một số cơ quan có thẩm quyền khác

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

Vấn đề áp dụng pháp luật trong thực tiễn hay thực thi pháp luật

là một nội dung rất quan trọng trong việc bảo vệ cổ đông Pháp luật về

cổ đông trong công ty cổ phần còn chưa được thực thi thật sự hiệu quả trên thực tế là do các nguyên nhân như những thiếu sót, lỗ hổng trong các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cổ đông; sự nhận

Trang 9

thức chưa đầy đủ của một bộ phận các cổ đông công ty cổ phần; do thủ tục, thời gian xử lý các vụ việc vi phạm còn rườm rà, phức tạp, các chế tài, biện pháp tư pháp còn chưa kiên quyết; do các cơ quan nhà nước còn chưa chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông, nhất là các cổ đông thiếu số

Vì vậy, trước tiên cần phải định nghĩa rõ ràng cổ đông thiểu số là

ai, đặc điểm của cổ đông thiểu số là gì để có thể nhận dạng được họ, đồng thời để họ biết quyền và nghĩa vụ của mình ra sao Vấn đề này rất quan trọng, nhưng trong Luật Doanh nghiệp năm 2019 không có quy định nào nói về cổ đông thiểu số là ai, chúng ta chỉ định nghĩa cổ đông thiểu số dựa trên các quy định diễn tả về cổ đông lớn Theo chúng tôi, việc xác định có là cổ đông thiểu số hay không không nên dựa vào tỷ lệ

sở hữu với những con số tuyệt đối, mà nên căn cứ vào khả năng chi phối được công ty, khả năng áp đặt quan điểm, ý chí, đường lối, sách lược của mình trong công ty Tùy vào cơ cấu sở hữu mỗi công ty để xác định đâu là cổ đông thiểu số sẽ chính xác hơn, tránh tình trạng cùng một

tỷ lệ sở hữu cổ phần như nhau nhưng có công ty thì họ là cổ đông thiểu

số, có công ty thì họ lại không phải là cổ đông thiểu số

Thứ hai, Cùng với việc hoàn thiện pháp luật về cổ đông công ty

cổ phần thì cũng cần phải quy định rõ ràng chi tiết hơn về các thủ tục xử lý các vi phạm quyền, nghĩa vụ cổ đông, tăng cường các biện pháp tư pháp để đảm bảo cho các quy định đó được thực hiện trên thực

tế, cụ thể như:

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với các công ty cổ phần nhằm phát hiện triệt để các trường hợp vi phạm quyền, nghĩa vụ cổ đông để từ đó đưa ra hướng giải quyết vấn đề nhanh chóng, bảo vệ được quyền lợi chính đáng của các cổ đông

Nhà nước cần tăng cường hơn nữa các biện pháp tuyên truyền,

Trang 10

giáo dục, phổ biến pháp luật doanh nghiệp đến các nhà đầu tư bằng cách mở thêm nhiều khóa đào tạo miễn phí về các chính sách pháp luật đối với nhà đầu tư, lập ra các trung tâm tư vấn trực tuyến miễn phí

để các nhà đầu tư nhỏ có điều kiện tìm hiểu các quy định pháp luật và cách tự bảo vệ các quyền, lợi ích của mình khi đầu tư…

Và hiện nay ở nhiều nước trên thế giới có những hiệp hội cổ đông được thành lập để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các cổ đông Nếu như hiệp hội của các doanh nghiệp thường chỉ nhằm mục đích bảo

vệ lợi ích cho các doanh nghiệp, thì hiệp hội cổ đông sẽ bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông trước những người quản lý công ty, hay trước sự chèn ép của các cổ đông lớn Ở Việt Nam hiện đã có rất nhiều hiệp hội của doanh nghiệp, nhưng vẫn chưa có nhiều hiệp hội của các cổ đông Bởi vậy, trong thời gian tới, sự hỗ trợ của Nhà nước đối với quá trình thành lập và hoạt động của các hiệp hội cổ đông trong phạm vi cả nước

và từng địa phương hoặc ngành là hết sức cần thiết

Kết luận: Dựa trên việc nghiên cứu các quy định pháp luật về

cổ đông trong công ty cổ phần và thực trạng thực thi pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần ở các doanh nghiệp hiện nay trên thực tế tác giả nhận thấy rằng quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay tuy tương đối phù hợp với pháp luật của một

số nước tiên tiến trên thế giới nhưng vẫn còn một số điểm khác biệt cần phải được sửa đổi để đáp ứng được sự phát triển không ngừng của các quan hệ kinh tế trong điều kiện nền kinh tế mở cửa của nước ta như hiện nay

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, còn không ít các quyền, nghĩa vụ của cổ đông bị xâm phạm như quyền được tiếp cận thông tin của các cổ đông, quyền ưu tiên mua trước cổ phần, các quy định về trả cổ tức lỏng lẻo cũng gây ra không ít khó khăn cho các cổ

Ngày đăng: 02/10/2021, 08:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alan B. Morison (2007), Những vấn đề cơ bản của Pháp luật Mỹ, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của Phápluật Mỹ
Tác giả: Alan B. Morison
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
2. Đồng Ngọc Ba (2010) “Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công ty cổ phần trong nền kinhtế thị trường ở Việt Nam”
3. Bùi Xuân Hải (2011), “Biện pháp bảo vệ cổ đông, thành viên công tY: lí luận và thực tiễn ”, Tạp chí Luật học (3/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp bảo vệ cổ đông, thànhviên công tY: lí luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2011
4. Bùi Xuân Hải (2011), Luật Doanh nghiệp bảo vệ cổ đông, Pháp luật và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật Doanh nghiệp bảo vệ cổ đông,Pháp luật và thực tiễn
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
6. Phạm Trí Hùng, “Hệ thống pháp luật Singapore”, bài viết đăng trên trang web thongtinphapluatdansu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống pháp luật Singapore
7. Nguyễn Đức Lam (2009), “Tiếp nhận Pháp luật nước ngoài: nhìn từ ví dụ Luật công ty của Nhật và LuẬT doanh nghiệp của Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (156) ngày 20/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp nhận Pháp luật nướcngoài: nhìn từ ví dụ Luật công ty của Nhật và LuẬT doanh nghiệpcủa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Lam
Năm: 2009
8. Bùi Minh Nguyệt, “Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sỹ luật học 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trongcông ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, những vấn đề lý luận vàthực tiễn”
9. Bành Quốc Tuấn và Lê Hữu Linh (2012), “ Hoàn thiện cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần”, Tạp chí phát triển và hội nhập (13) tháng 3,4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơchế bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Tác giả: Bành Quốc Tuấn và Lê Hữu Linh
Năm: 2012
5. Nguyễn Thị Lan Hương, “Một số so sánh về Công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Luật học (25), 2009 Khác
10. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Báo cáo so sánh Luật công ty ở 4 quốc gia Đông Nam Á: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w