1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên tại Việt Nam : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 07

82 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 706,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Black's Law Dictionary[18], Trọng tài viên là một cá nhân vô tư được các bên lựa chọn trong vụ việc tranh chấp với mục đích lắng nghe quan điểm của các bên và đưa ra phán quyết, đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ QUỲNH TRANG

“Quy chế pháp lý về trọng tài viên ở Việt Nam”

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ QUỲNH TRANG

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : Luật Kinh Tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Am Hiểu

Hà nội – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

MỤC LỤC 4

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ 6

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM 11

1.1 Khái quát chung về trọng tài viên 11

1.1.1 Khái niệm trọng tài viên 11

1.1.2 Vai trò của Trọng tài viên trong tố tụng trọng tài 20

1.2 Đặc điểm pháp lý đối với Trọng tài viên tại Việt Nam 22

1.2.1 Điều kiện hành nghề Trọng tài tại Việt Nam 22

1.2.2 Hành nghề trọng tài trong hoạt động giải quyết tranh chấp 27

1.2.3 Quản lý hoạt động của Trọng tài viên nước ngoài tại Việt Nam 32

1.3 Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM 42

2.1 Thực trạng pháp luật trọng tài tại Việt Nam 42

2.2 Thực trạng pháp luật về quản lý trọng tài viên tại Việt Nam 49

2.2.1 Quy định quản lý trung tâm trọng tài 50

2.2.2 Quy định quản lý trọng tài viên 56

2.2.3 Quy định quản lý trọng tài viên nước ngoài và trung tâm trọng tài nước ngoài tại Việt Nam 58

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM 65

Trang 5

3.1 Định hướng và quan điểm hoàn thiện Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên tại

Việt Nam 65

3.1.1 Yêu cầu xây dựng Quy chế pháp lý 65

3.1.2 Định hướng hoàn thiện Quy chế pháp lý 66

3.1.3 Quan điểm hoàn thiện Quy chế pháp lý 67

3.2 Giải pháp hoàn thiện Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên tại Việt Nam 69

3.2.1 Các giải pháp pháp lý 69

3.2.2 Các giải pháp bổ trợ khác 75

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ

Hình 1.1 Trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 20 Bảng 1.2 So sánh tiêu chuẩn trọng tài viên giữa trọng tài kinh tế Nhà

nước theo Nghị định 75/CP và trọng tài thương mại theo

Luật Trọng tài thương mại

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong lịch sử pháp luật dân sự Việt Nam, Trọng tài đã được biết đến như là một

bộ phận của các thiết chế giải quyết các tranh chấp thương mại bởi sự hiện diện ở nước

ta vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các toà án thương mại và các quy tắc trọng tài trong luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, do nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau, khái niệm trọng tài chưa được biết đến một cách phổ biến ở Việt Nam Số vụ tranh chấp thương mại được đưa ra giải quyết tại các trung tâm trọng tài của Việt Nam đến nay còn quá khiêm tốn, thậm chí có trung tâm trọng tài từ khi thành lập đến nay vẫn chưa giải quyết bất kỳ một vụ tranh chấp nào Số liệu do Bộ Tư pháp đưa ra tại Hội thảo công bố Luật Trọng tài thương mại 2010 đã phần nào phản ánh được thực trạng này Theo đó, chỉ có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam là tổ chức có số vụ tranh chấp thụ lý cao nhất (khoảng

20 vụ/năm) Trong khi đó, số vụ tranh chấp tại tòa án ngày càng quá tải, năm sau luôn tăng gấp đôi năm trước Theo thống kê, năm 2007, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý gần 9.000 vụ án, trong đó có khoảng 300 vụ án kinh tế, Tòa án kinh tế thành phố

Hồ Chí Minh phải xử gần 42.000 vụ án các loại trong đó có 1000 vụ án kinh tế Như vậy, tính trung bình mỗi thẩm phán ở Tòa án kinh tế Hà Nội phải xử 30 vụ/năm và mỗi thẩm phán ở Tòa án kinh tế thành phố Hồ Chí Minh xét xử 50 vụ/năm, trong khi đó mỗi trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam chỉ xử 0,25 vụ/năm Khảo sát của Bộ Tư pháp đối với 237 cá nhân, tổ chức kinh doanh thì có đến 57,8% ý kiến cho rằng hình thức giải quyết tranh chấp ưu tiên của họ là thương lượng 46,8% ý kiến ưu tiên lựa chọn tòa án, 22,8% ý kiến chọn hòa giải và chỉ có 16,9% ý kiến cho biết sẽ sử dụng trọng tài thương mại Có rất nhiều lý do dẫn đến việc trọng tài ít được

áp dụng trong các vụ tranh chấp thương mại, trong đó có nhiều người chưa tin tưởng phương thức này (68,6%), và có rất nhiều người chưa biết đến phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua trọng tài (74,3%) Những con số khiếm tốn đó cho thấy hoạt động tố tụng trọng tài tại Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, lực

Trang 8

lượng trọng tài viên còn nhiều hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật về trọng tài nói chung và quản lý trọng tài viên nói riêng chưa đảm bảo được niềm tin cho các đương sự trong các tranh chấp có nhu cầu giải quyết

Hoàn thiện Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên trong tổng thể định hướng hoàn thiện pháp luật trọng tài là một yêu cầu cấp bách tạo nền móng vững chắc giải quyết vấn đề bức xúc hiện nay để nâng cao hiệu quả trong giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài trong thời gian tới Với các lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Quy chế

pháp lý đối với trọng tài viên tại Việt Nam” cho luận văn của mình

- TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về Trọng tài

thương mại, 2011, NXB Chính trị Quốc gia;

- Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn

lọc, website VIAC;

- Hội Luật gia Việt Nam, Giới thiệu tóm tắt Luật Trọng tài của một số nước trên thế giới, 30/04/2009

- GS-TSKH Đào Trí Úc, Những vấn đề cơ bản của Luật Trọng tài thương mại

- Hội đồng Phối hợp Phổ biến Giáo dục Pháp luật Trung ương, Đặc san Tuyên

truyền pháp luật số 07/2013 – Chủ đề: Trọng tài thương mại và pháp luật về trọng tài

thương mại; 2013…

Trong các nghiên cứu của thế giới, có thể nhắc tới tài liệu Pháp luật và thực tiễn

trọng tài thương mại quốc tế của các tác giả Alan Redfera, Martin Hunter, Nigel

Trang 9

Blakeby & Dartasides đã được Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam dịch và trở thành tài liệu tham khảo đáng giá trong quá trình nghiên cứu.

Điều đáng nói là, các kết quả nghiên cứu thu được cho đến nay còn hết sức khiêm tốn Phần lớn các công trình khoa học về lĩnh vực này còn chưa chuyên sâu, đại

đa số được công bố dưới hình thức các bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học

chuyên ngành luật hoặc tham luận trong các Hội thảo quốc gia và quốc tế

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở phân tích một số quy định pháp luật hiện hành về hoạt động hành nghề của trọng tài viên, luận văn đi sâu phân tích, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động thực thi pháp luật về trọng tài viên, đồng thời đưa ra các ý kiến góp phần hoàn thiện việc xây dựng Quy chế đối với trọng tài viên hoạt động tại Việt Nam trong điều

kiện hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá các công trình khoa học của các tác giả đi trước có liên quan đến đề tài luận văn, tác giả kế thừa có chọn lọc và phát triển ý tưởng khoa học, từ đó đưa ra những luận điểm của mình về vấn đề nghiên cứu Nhiệm vụ

nghiên cứu mà luận án hướng tới cụ thể sau:

Một là, phân tích tổng quát các về đề lý luận về pháp luật trọng tài, các quy định

liên quan tới trọng tài viên

Hai là, phân tích, đánh giá về pháp luật trọng tài, các quy định liên quan tới

trọng tài viên, từ thực tiễn pháp luật để rút ra các vướng mắc, hạn chế của pháp luật

hiện hành và nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật liên quan

Ba là, đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên

và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng trọng tài hiện nay

Trang 10

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

Luận án tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những khía cạnh pháp lý của một số quy định của pháp luật trọng tài, các quy định liên quan tới trọng tài viên Nghiên cứu còn sử dụng thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở Việt Nam cũng như pháp luật trọng tài của một số quốc gia phát triển nhằm đánh giá về quy định pháp luật liên quan tới việc xây dựng Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên và đưa ra những quan điểm hoàn thiện tại Việt Nam hiện nay

3.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như phương phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, tư duy logic, phương pháp quy nạp, diễn

giải… nhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM

KẾT LUẬN

Trang 11

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI VIÊN TẠI VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về Trọng tài viên tại Việt Nam

1.1.1 Khái niệm trọng tài viên

1.1.1.1 Pháp luật giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

“Trọng tài” là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong đó,

các bên tham gia tranh chấp thống nhất nếu có tranh chấp phát sinh sẽ do một hoặc một

số người (được gọi là “trọng tài viên”, “Ủy ban trọng tài”) giải quyết, và quyết định

đó có tính chất bắt buộc thực hiện Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa,

có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài năm 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610) [25] Tuy nhiên các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697 Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn

đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài

Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở

Trang 12

tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn Thậm chí, trọng tài hiện nay còn giải quyết tranh chấp “trực tuyến” (thường được biết đến với thuật ngữ ODR – online dispute resolution nghĩa là giải quyết tranh chấp trực tuyến) Trọng tài trực tuyến tiến hành khi

có khiếu nại trực tuyến, thủ tục tố tụng diễn ra trên internet, trọng tài phân xử và ra phán quyết dựa vào hồ sơ do các bên xuất trình [25]

Với ý nghĩa được công nhận và cho thi hành ở phần lớn các quốc gia, phán quyết của trọng tài được coi là giải pháp có giá trị ràng buộc thực hiện rất lớn trong thực tiễn Sự thuyết phục của phán quyết được đưa ra được thuyết phục bởi những trọng tài viên có chuyên môn được các bên lựa chọn sẽ làm cho phán quyết đó được thực thi trên thực tế, không nhờ vào quyền lực Nhà nước

Trong lịch sử pháp luật dân sự Việt Nam, Trọng tài đã được biết đến như là một

bộ phận của các thiết chế giải quyết các tranh chấp thương mại bởi sự hiện diện ở nước

ta vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các toà án thương mại và các quy tắc trọng tài trong luật tố tụng dân sự Chế định trọng tài du nhập vào hệ thống pháp luật nước ta từ cuối thế kỷ XIX [8] Trong một tranh chấp đất đai năm 1897, Tòa thượng thẩm Sài Gòn xét

rằng “trọng tài được thừa nhận trong pháp luật An Nam” Trong thời gian này, các bộ

luật dân sự rồi toà án thương mại lần lượt ra đời và chế định trọng tài đã là một phần trong pháp luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, bối cảnh xã hội đương thời không thuận lợi cho sự phát triển của mô hình trên nên về cơ bản, trọng tài không có tác động đáng kể đến xã hội Việt Nam trong giai đoạn này Vào những năm 50 của thế kỷ trước, cùng với chế độ hợp đồng kinh tế, các tổ chức trọng tài kinh tế được hình thành tuy mang nét khác biệt cơ bản so với trọng tài thương mại hiện đại Bên cạnh đó, còn tồn tại trọng tài phi chính phủ, đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam Tuy nhiên, hai tổ chức trên chỉ thực sự hoạt động từ năm 1989 khi quan hệ ngoại thương bắt đầu phát triển Sau đó chúng được sáp nhập thành Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ Bước vào

Trang 13

thời kỳ hội nhập, diện mạo pháp luật nước ta có sự thay đổi Lúc này tồn tại song song hai hệ thống cùng có chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế là trung tâm trọng tài kinh tế và Tòa án kinh tế Ngoài ra, cần lưu ý rằng tồn tại hai mô hình trọng tài phi chính phủ khác nhau Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng riêng Trong khi đó, có năm trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 với hoạt động thực tiễn rất hạn chế Do đó, thành công của Nghị định số 116/CP khá khiêm tốn do yếu tố quản lý nhà nước được đề cao mà chưa chú ý đúng mức yếu tố thực tiễn Hơn nữa, các văn bản pháp luật trên đều có hiệu lực pháp lý thấp

Do vậy, yêu cầu phải sớm ban hành văn bản thống nhất, có hiệu lực pháp lý cao nhằm

ổn định mặt bằng pháp lý cho mô hình trọng tài trở nên bức thiết

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tác động tích cực đến việc xây dựng hành lang pháp lý, đặc biệt thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1988 và các văn bản luật sửa đổi, bổ sung sau đó Năm 1995, Việt Nam gia nhập Công ước New York về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, đánh dấu sự cải thiện đáng kể môi trường pháp lý nhằm tạo thuận lợi trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Trong thời kỳ này, để khắc phục tình trạng không có một văn bản luật về trọng tài thống nhất và hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài không được bảo đảm thi hành, ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại gồm 8 chương và 37 điều, thể hiện nỗ lực to lớn của Việt Nam hoà cùng xu thế hội nhập Hơn ba mươi năm kể từ khi tố tụng trọng tài hình thành tại Việt Nam, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 thay thế Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 03/2003/PL-UBTVQH11 được đánh giá có vai trò quan trọng trong mục tiêu thúc đẩy, tạo những chuyển biến lớn hoạt động tố tụng trọng tài tại Việt Nam để phù hợp hơn với xu thế giải quyết tranh chấp hiện đại Trên cơ sở kế thừa các nội dung tiến bộ đồng thời khắc phục các hạn chế, tồn tại trong quy định của Pháp lệnh cũ, Luật mới ra đời xây dựng các quy phạm trọng tài

Trang 14

chặt chẽ và mang tính thực tiễn cao hơn so với các quy định của bảy năm về trước Tuy nhiên, do nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau, khái niệm trọng tài chưa được biết đến một cách phổ biến ở Việt Nam Vào những năm 1963 và 1964, Chính phủ Dân chủ Cộng hòa đã thành lập Uỷ ban Trọng tài Ngoại thương và Uỷ ban Trọng tài Hàng hải Một hệ thống các trọng tài kinh tế từ huyện, tỉnh đến Trung ương đã được thành lập để giải quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã Nhưng trên thực

tế, các trọng tài kinh tế thực chất là những cơ quan hành chính nhà nước giải quyết tranh chấp giữa các xí nghiệp nhà nước mà chưa thực hiện được vai trò trọng tài theo đúng chức năng hiện đại của chúng Cùng với quá trình đổi mới, hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc giải quyết các tranh chấp kinh tế đã được quy định thuộc thẩm quyền của các Toà kinh tế và của các Trung tâm trọng tài kinh tế Từ năm 1998, hệ thống Trọng tài kinh tế đã giải thể Việc giải quyết các tranh chấp kinh tế từ đó đã được thực hiện bằng hai con đường: Toà kinh tế thuộc

hệ thống Toà án nhân dân và các Trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 Để bảo đảm cho hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại thay cho hoạt động của các Trọng tài kinh tế, ngày 25 tháng 2 năm 2003

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2003 Năm 2010, Luật Trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua gồm 13 chương, 82 điều có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 khắc phục những khiếm khuyết của Pháp lệnh Trọng tài, đồng thời đưa hoạt động xét xử trọng tài gần hơn các chuẩn mực quốc tế, cụ thể là Luật mẫu về Trọng tài UNCITRAL

Dưới góc độ lý luận, Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại quốc tế do Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (viết tắt tiếng Pháp là CNUDCI, tiếng Anh

là UNCITRAL) thông qua ngày 21 tháng 06 năm 1985 (sửa đổi năm 2006) đưa ra khái

niệm Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một

tổ chức trọng tài thường trực.[15]

Trang 15

Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z thì Trọng tài là một cách giải quyết

bất đồng trong quan hệ công nghiệp mà không cần đưa ra pháp luật hay đình công

[17]

Theo Hội đồng trọng tài Hoa Kỳ (AAA), Trọng tài là cách thức giải quyết tranh

chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành [17]

Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Trọng tài là phương thức giải

quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh này quy định Luật Trọng tài

thương mại năm 2010 gần như kế thừa nguyên vẹn và chỉ rút gọn không nhiều định nghĩa này tại Khoản 1 Điều 3 của Luật

Ngày nay, hoạt động giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài trở thành một phương thức giải quyết phổ biến đối với các tranh chấp thương mại do có những ưu điểm hơn hẳn các phương thức giải quyết khác

Thứ nhất, nếu so sánh với tố tụng tòa án, thì phán quyết trọng tài cũng có giá trị chung thẩm và hiệu lực ràng buộc thi hành đối với các bên tranh chấp

Thực tế, tố tụng trọng tài bỏ qua một số thủ tục bắt buộc mang tính nghi thức và rườm rà của tố tụng tòa án để đảm bảo quá trình xét xử được diễn tiến nhanh nhất, tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc của các đương sự Nếu như tố tụng tòa án cho phép quá trình xét xử phải qua trình tự sơ thẩm đến phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm… thì phán quyết trọng tài có tính chung thẩm, không thể chống án hoặc kháng cáo Xét xử trọng tài chỉ có một cấp xét xử, và khi phán quyết đã được đưa ra thì các bên có nghĩa vụ thi hành (tuy nhiên trọng tài không thực hiện việc cưỡng chế thi hành) Khi đó, Hội đồng trọng tài cũng chấm dứt hoạt động và quá trình tố tụng trọng tài kết thúc Quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật như bản án của Tòa án Ngoài ra, tuy là một thiết chế phi nhà nước, những hoạt động giải quyết

Trang 16

tranh chấp của trọng tài được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Tòa án thông qua các quy định như: xác định giá trị pháp lý và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xem xét yêu cầu hủy quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định của trọng tài…

Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật, đảm bảo duy trì quan hệ đối tác giữa các bên

Đặc trưng của tố tụng trọng tài khác hoàn toàn với tố tụng tòa án đặc biệt ở nguyên tắc công khai Do tính chất thỏa thuận luôn được đề cao, nên tố tụng trọng tài cho phép áp dụng nguyên tắc trọng tài xử kín nếu các bên nhất trí Theo thỏa thuận của các bên, trọng tài viên có nghĩa vụ đảm bảo bí mật về nội dung tranh chấp và danh tính của các đương sự, nhân chứng để đáp ứng yêu cầu bảo mật của quan hệ thương mại Ngoài ra, do tố tụng trọng tài là dựa trên cơ sở tự nguyên giữa các bên nên phán quyết trọng tài đảm bảo mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đương sự

Thứ ba, trọng tài là cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục

Trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài do các bên tự do lựa chọn Cách thức lựa chọn trọng tài đảm bảo khách quan cho các đương sự trong quá trình tố tụng Tính liên tục của hoạt động tố tụng được thể hiện ở quyền được chỉ định trọng tài cũng như chỉ định vụ việc yêu cầu cần giải quyết của các đương sự Trình độ chuyên môn của trọng tài viên được lựa chọn theo tính chất của vụ việc, phù hợp đối tượng tranh chấp, góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranh chấp Trọng tài viên sẽ là bên thứ ba chủ trì giải quyết vụ việc từ khi thụ lý giải quyết tới khi kết thúc

Thứ tư, trọng tài là cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, linh hoạt và tiết kiệm thời gian

Nguyên tắc tự thỏa thuận còn cho phép các bên được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành giải quyết vụ việc theo hướng tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép Tính chất mềm dẻo còn được thể hiện ở việc các bên có quyền thỏa thuận hòa giải ở bất cứ giai đoạn

Trang 17

nào của quá trình tố tụng cũng như cho phép sự tham gia nếu cần thiết của các chuyên gia trong quá trình tố tụng để đảm bảo yêu cầu chuyên môn Ngoài ra, thời gian giải quyết một vụ việc tranh chấp cũng sẽ ngắn hơn rất nhiều bởi những giảm thiểu các thủ tục tố tụng và tính chất chung thẩm của phán quyết trọng tài

Có thể khẳng định tố tụng trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp hiện đại, và đang trở thành một xu hướng giải quyết tranh chấp phổ biến đặc biệt đối với các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài do thừa hưởng những ưu điểm mà các phương thức tố tụng truyền thống không có được Trong hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, trọng tài viên/hội đồng trọng tài là chủ thể đặc biệt quan trọng do các bên chỉ định và sẽ đóng vai trò như một “thẩm phán” của vụ việc Chủ thể này ngoài việc có nền tảng chuyên môn pháp lý chắc mà phải có chuyên môn theo lĩnh vực phù hợp với nội dung vụ việc và có kinh nghiệm trong hoạt động giải quyết tranh chấp

1.1.1.2 Khái niệm “Trọng tài viên”

Khoản 5 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 định nghĩa Trọng tài viên

là người được các bên lựa chọn hoặc được Trung tâm trọng tài hoặc Tòa án chỉ định

để giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này

Theo Black's Law Dictionary[18], Trọng tài viên là một cá nhân vô tư được các

bên lựa chọn trong vụ việc tranh chấp với mục đích lắng nghe quan điểm của các bên

và đưa ra phán quyết, đồng thời các bên tuân thủ một cách tự nguyện phán quyết đó hoặc có thể cưỡng chế tuân thủ theo lệnh của tòa án

Thực tế, khái niệm Trọng tài viên được rất ít quốc gia quy định cụ thể về tư cách, trình độ, bằng cấp hoặc các tiêu chuẩn chuyên môn [1] Luật Mẫu của

UNCITRAL chỉ ghi nhận Hội đồng trọng tài nghĩa là trọng tài viên duy nhất hoặc hội

đồng các trọng tài viên[15], mà không ghi nhận cụ thể các tiêu chí trên Luật trọng tài

của Cộng hòa Pháp chỉ quy định tiêu chuẩn tối thiểu là chỉ những người có đủ quyền

công dân mới được làm trọng tài viên[16] Bên cạnh đó, cũng có một số nước (nhưng

Trang 18

rất ít) như Trung Quốc có quy định cụ thể về tiêu chuẩn trọng tài viên, ví dụ phải có bằng luật hoặc đã có kinh nghiệm thâm niên trong các ngành kinh tế, thương mại…[17]

Điều này phản ánh luật pháp các quốc gia để “mở” cho các bên đương sự có toàn quyền thỏa thuận lựa chọn trọng tài viên mà các bên thấy thích hợp, bất kể quốc tịch, bằng cấp, trình độ Cơ chế tự thỏa thuận được đề cao trong hoạt động tố tụng trọng tài là một nguyên tắc hàng đầu, khác hoàn toàn với phương thức tố tụng tòa án thông thường Điều này xuất phát từ lịch sử của ngành trọng tài là các bên muốn giải quyết tranh chấp thông qua một bên thứ ba một cách hiệu quả nhất, nhanh chóng nhất Quốc tịch, trình độ, bằng cấp, chuyên môn của người thứ ba này tùy thuộc vào từng vụ việc và khó có thể quy định cứng nhắc

Trong lĩnh vực thương mại, trọng tài tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và sẽ tự chấm dứt tồn tại khi vụ việc được giải quyết Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng, cũng không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình mà xây dựng quy tắc tố tụng theo thỏa thuận của các đương sự Trong khi đó, trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài, hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài Ở Việt Nam, mô hình

này được quy định là Trung tâm trọng tài, là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp

nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định

Để có thể hành nghề trọng tài, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chuyên môn, Trọng tài viên có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng trọng tài và quy tắc đạo đức nghề nghiệp

Một là, trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội

Trang 19

Là nguyên tắc tối quan trọng của tố tụng trọng tài, sự tự thỏa thuận là nền tảng của các quy định pháp luật liên quan tới trọng tài Thực tế, việc trao cho trọng tài viên nghĩa vụ tôn trọng thỏa thuận của các đương sự chính là một ưu điểm cũng là lợi thế của phương thức tố tụng này so với các phương thức khác Ở đây, trọng tài viên chỉ đóng vai trò của một bên thứ ba được “trả tiền” để độc lập giải quyết tranh chấp giữa các đương sự, nên việc tôn trọng nguyên tắc tự thỏa thuận giữa các đương sự là tất yếu Thông qua thỏa thuận trọng tài, các bên đương sự có thể thỏa thuận nhiều nội dung liên quan tới quá trình giải quyết tranh chấp mà trọng tài viên có nghĩa vụ tôn trọng như: quyền lựa chọn trung tâm trọng tài giải quyết tranh chấp, hình thức trọng tài giải quyết, quyền ấn định trọng tài viên, quyền ấn định cơ cấu trọng tài viên giải quyết, quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết tranh chấp, quyền thỏa thuận thời hạn thực hiện các thủ tục cần thiết cho việc giải quyết, quyền thỏa thuận thời gian mở phiên họp giải quyết tranh chấp

Việc tôn trọng ý chí của các bên không có nghĩa là trọng tài viên trở nên phụ thuộc và thiên vị bất cứ bên nào Các trình tự tối thiểu và nguyên tắc pháp luật có liên quan chính là ràng buộc tới trách nhiệm của trọng tài viên trong quá trình giải quyết

Hai là, trọng tài viên phải độc lập, vô tư, khách quan

Là nguyên tắc thứ 2 được đề cập tại Điều 4 Luật Trọng tài thương mại năm

2010, Trọng tài viên phải đáp ứng đủ các điều kiện nhật định để đảm bảo rằng họ độc lập, vô tư, khách quan trong việc giải quyết tranh chấp Để trở thành một trọng tài viên, công dân Việt Nam cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 20 Luật Trọng tại thương mại Khi tham gia giải quyết tranh chấp, trọng tài viên phải thật sự là người thứ ba độc lập, vô tư, không liên quan đến các bên có tranh chấp cũng như không có bất kỳ lợi ích nào dính dáng đến vụ tranh chấp đó Nếu vi phạm, trọng tài viên phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp hoặc các bên có quyền đổi trọng tài viên Trong quá trình giải quyết, trọng tài viên phải căn cứ vào các tình tiết của vụ việc, xác minh sự việc nếu

Trang 20

thấy cần thiết và phải căn cứ vào chứng cứ thu thập được để ra phán quyết Không ai

có quyền can thiệp, chỉ đạo vào việc giải quyết tranh chấp của trọng tài viên

Ba là, trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật

Đây được coi là nguyên tắc rất quan trọng trong mọi thủ tục tố tụng cũng như giải quyết mọi vấn đề của đời sống xã hội Mặc dù trọng tài viên có nghĩa vụ tôn trọng

sự thỏa thuận của các bên nhưng trên hết là công dân của một quốc gia, trọng tài viên

có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật Hơn thế nữa, trong tiêu chuẩn chuyên môn trọng tài viên, điều kiện là cá nhân hiểu biết pháp luật và có kinh nghiệm công tác nhiều năm trong lĩnh vực pháp luật là điều kiện bắt buộc Do vậy, việc giải quyết vụ việc trên cơ

sở pháp luật là yêu cầu bắt buộc đối với từng trọng tài viên

1.1.2 Vai trò của Trọng tài viên trong tố tụng trọng tài

Khi tranh chấp phát sinh, các bên có nhiều phương thức để giải quyết tranh chấp Theo tập quán thông thường, tranh chấp được ưu tiên giải quyết theo phương thức thương lượng và hòa giải Trường hợp hai bên không tự giải quyết được thì vụ việc có thể được đưa ra giải quyết bằng trọng tài hoặc tòa án Khi đó, Trọng tài viên đóng vai trò là “người cầm cân nảy mực” hay nói cách khác là “thẩm phán” của một phiên giải quyết tranh chấp giữa các đương sự Nếu so sánh vai trò đưa phán quyết của thẩm phán và trọng tài viên thì ở góc độ nào đó, phán quyết trọng tài viên có sức nặng lớn hơn do nguyên tắc phán quyết chung thẩm Bởi vậy, tiêu chuẩn hành nghề của Trọng tài viên cũng đặt ra rất lớn, đòi hỏi những cá nhân có chuyên môn vững cả về lí luận và thực tiễn mới có khả năng đảm đương được trách nhiệm

Do tính chất liên tục của quá trình tố tụng, trọng tài viên sẽ theo đuổi vụ việc từ khi được các bên thống nhất lựa chọn để giải quyết tranh chấp tới khi phán quyết trọng tài được ban hành (trừ trường hợp có sự thay đổi theo thỏa thuận của các bên hoặc phán quyết của tòa án) Trong suốt quy trình tố tụng đó, trọng tài viên đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, từ nghiên cứu hồ sơ vụ việc, thu thập chứng cứ và tài liệu phục vụ

Trang 21

quá trình giải quyết, xúc tiến gặp gỡ các bên, nhân chứng cũng như chủ tọa các phiên họp giải quyết giữa đôi bên tới việc ra phán quyết và đảm bảo cho phán quyết đó được thực thi Cụ thể:

Hình 1.1 Sơ đồ trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài [11]

Đối với giai đoạn tiền tố tụng, trên cơ sở thẩm quyền giải quyết tranh chấp được

xác nhận phù hợp, trọng tài viên sẽ yêu cầu các bên cung cấp bằng chứng và bản tự bảo

vệ trong đó ghi nhận những lí lẽ của các bên trong vụ việc Trong giai đoạn này, trọng

Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện

Bị đơn nộp bản tự bảo vệ + đơn kiện lại (nếu có) Thành lập hội đồng trọng tài

Xem xét thẩm quyền HĐTT

Xác minh tình

tiết, sự việc

Thương lượng, hòa giải

Áp dụng BPKCTT

Đình chỉ giải quyết tranh chấp

Phiên họp giải quyết tranh chấp

Ban hành phán quyết trọng tài

Thi hành Hủy phán quyết

Trang 22

tài viên có những cơ chế phối hợp với tòa án trong hoạt động thu thập chứng cứ, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các bên liên quan Tại thời điểm này, trọng tài viên có thể tham khảo các bên về phương án hòa giải để rút ngắn quá trình tố tụng và tìm kiếm giải pháp có lợi cho cả hai bên

Đối với giai đoạn tố tụng, phiên họp giải quyết sẽ được tổ chức với mục đích để

các bên trình bày lí lẽ và lập luận của mình Tại phiên họp, trọng tài viên sẽ đóng vai trò không khác một thẩm phán có thẩm quyền điều hành phiên họp và lắng nghe các lí

lẽ giữa các bên để có cơ sở ra phán quyết trọng tài Hoạt động tố tụng kết thúc bằng việc trọng tài viên tuyên bố phán quyết chung thẩm có giá trị bắt buộc thi hành với các đương sự Việc ra phán quyết trọng tài được đảm bảo bởi cơ chế thi hành án dân sự, được công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ các quốc gia thành viên của Công ước New York Tính chất chung thẩm và giá trị của phán quyết trọng tài chỉ gặp rủi ro bị hủy bởi tòa án có thẩm quyền trong một số trường hợp nhất định

Trong quá trình tố tụng trọng tài, trọng tài viên vừa thể hiện vai trò trung tâm giải quyết tranh chấp, là chủ thể đảm nhiệm chức năng giải quyết nội dung vụ việc và đồng thời đảm bảo các trình tự tố tụng cần thiết để phán quyết sau khi được ban hành

có đầy đủ giá trị chung thẩm và giá trị thực thi trong thực tiễn Giá trị của phán quyết trọng tài là thước đo cho vai trò của trọng tài viên trong suốt quy trình tố tụng trọng tài

1.2 Đặc điểm pháp lý của Trọng tài viên tại Việt Nam

1.2.1 Điều kiện hành nghề Trọng tài tại Việt Nam

Về yêu cầu chuyên môn:

Thực tế có sự khác biệt về yêu cầu chuyên môn đối với trọng tài viên từ trước tới nay trong pháp luật Việt Nam Thời điểm năm 1960, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 20/TTg ngày 14/01/1960 về việc tổ chức ngành trọng tài kinh tế Theo đó, trọng tài kinh tế được tổ chức ở cấp Trung ương, khu, thành phố, tỉnh và Bộ với chức năng chủ yếu là xét xử các tranh chấp hợp đồng kinh tế Sau đó, năm 1975,

Trang 23

Chính phủ ban hành văn bản thay thế là Nghị định số 75/CP về điều lệ tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế Nhà nước, theo đó, trọng tài kinh tế được thành lập như một

cơ quan nhà nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế, trong đó có nội dung về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế Tại thời điểm đó, Trọng tài viên của Trọng tài kinh tế Nhà nước phải đáp ứng các tiêu chuẩn khác nhiều so với quy định mới tại Điều 20 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 Kế thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm Trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ Quy định này đáp ứng nhu cầu thực

tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế

Tiêu chuẩn Trọng tài kinh tế Nhà nước Tiêu chuẩn Trọng tài viên hiện nay

- Tốt nghiệp Đại học pháp lý trở lên được

bồi dưỡng kiến thức quản lý kinh tế hoặc

tốt nghiệp đại học kinh tế trở lên được bồi

- Đã có 5 năm công tác trong ngành Trọng

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự;

- Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên

Trang 24

tài kinh tế (không kể thời gian tập sự)

Nếu là cán bộ quản lý kinh tế ở các đơn vị

kinh tế cơ sở thì phải có ít nhất 3 năm làm

công tác nghiệp vụ ở Trọng tài kinh tế

Nhà nước

Bảng 1.2 So sánh tiêu chuẩn trọng tài viên giữa trọng tài kinh tế Nhà nước theo Nghị

định 75/CP và trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại

Đặc biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có thể lựa chọn Trọng tài viên phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên môn sâu, Luật có quy định mở

đó là trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn Tùy thuộc vào yêu cầu thực tế, các Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quy định này đối với Trọng tài viên của tổ chức mình Thực tế, tại các Trung tâm Trọng tài tại Việt Nam, tiêu chuẩn chuyên môn đặt ra với trọng tài viên thành viên là rất cao Ví dụ như tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Thái Bình Dương (PIAC), một ứng cử viên để được PIAC thừa nhận như một trọng tài viên trong Danh sách Trọng tài viên của PIAC cần phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ chuyên môn sau đây [28]: (1) Đã có 07 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực trọng tài hoặc; (2) Đã có 07 năm hành nghề luật sư chuyên nghiệp hoặc là nhà tư vấn luật của doanh nghiệp, tổ chức hoặc; (3) Đã có 07 năm kinh nghiệm làm việc như một thẩm phán hoặc; (4) Đã nghiên cứu luật hoặc tham gia vào công việc giảng dạy và

có danh tiếng hoặc; (5) Có hiểu biết pháp lý, làm việc trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật hoặc thương mại, và có trình độ chuyên môn cao cấp hoặc kinh nghiệm, uy tín nghề nghiệp tương đương; hoặc; (6) Đã được công nhận là trọng tài viên của một tổ chức trọng tài được công nhận trên thế giới hoặc là thành viên của một Viện trọng tài được công nhận trên thế giới hoặc bất cứ viện trọng tài chuyên nghiệp tương đương nào

Trang 25

Bên cạnh các tiêu chuẩn chuyên môn đặt ra đối với trọng tài viên, pháp luật trọng tài thương mại còn đề cập tới các trường hợp loại trừ các chủ thể không được làm Trọng tài viên mặc dù đáp ứng được các điều kiện chuyên môn đã nêu để đảm bảo tính khách quan và độc lập của trọng tài viên trong quá trình giải quyết tranh chấp Căn cứ Khoản 2 Điều 20 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, các chủ thể hạn chế bao gồm:

- Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;

- Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích

Việc loại trừ các đối tượng này phù hợp với nguyên tắc trọng tài viên độc lập, khách quan, để đảm bảo người đảm nhận vị trí trọng tài viên không bị phụ thuộc vào

hệ thống tư pháp mà trở thành một vị trí khác

Quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên

Dựa trên các nguyên tắc của tố tụng trọng tài mà trọng tài viên bắt buộc tuân thủ, các nhóm quyền và nghĩa vụ tương ứng được nêu khá rõ tại Điều 21 của Luật Trọng tài thương mại năm 2010:

Về quyền, trọng tài viên có quyền chấp nhận hoặc từ chối giải quyết tranh chấp,

từ chối cung cấp các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, độc lập trong việc giải quyết tranh chấp và được hưởng thù lao

Về nghĩa vụ, trọng tài viên có nghĩa vụ giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà

mình giải quyết, trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bảo đảm giải quyết tranh chấp vô tư, nhanh chóng, kịp thời và tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp

Bên cạnh việc tuân thủ các quyền và nghĩa vụ đối với trọng tài viên theo quy định pháp luật, mỗi trung tâm trọng tài sẽ ban hành thêm các quy tắc đạo đức và quy tắc nghề nghiệp đối với các trọng tài viên thành viên của mình Đơn cử Trung tâm

Trang 26

trọng tài VIAC là đơn vị có Quy tắc đạo đức trọng tài viên riêng biệt được ban hành kèm theo Quyết định số 252-PTM/TT ngày 01/8/1996 của Chủ tịch Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam Bộ Quy tắc này nêu ra 05 nguyên tắc cơ bản bắt buộc tuân thủ đối với người hành nghề trọng tài viên của Trung tâm bao gồm:

Quy tắc Trung lập và Vô tư: Trọng tài viên có quyền đề xuất không nhận giải

quyết vụ kiện nếu thấy mình không đủ điều kiện để giải quyết vụ kiện một cách trung lập và vô tư dù rằng đã được nguyên đơn hoặc bị đơn lựa chọn hoặc đã được Chủ tịch Trung tâm chỉ định, cụ thể trong các trường hợp sau:

a) Trọng tài viên có định kiến sẵn đối với ít nhất một trong các bên hoặc với nhân chứng hoặc với chính bản thân vụ kiện làm ảnh hưởng đến quyết định của mình

về bản chất vụ kiện hoặc kết quả vụ kiện đó;

b) Trọng tài viên đã nêu quan điểm pháp lý về bản chất của vụ kiện trước khi được chỉ định làm trọng tài viên;

c) Khi có các mối quan hệ tài chính, kinh doanh, nghề nghiệp, gia đình và xã hội giữa trọng tài viên với ít nhất một trong các bên mà các mối quan hệ này đem lại lợi ích dưới các dạng khác nhau cho trọng tài viên; hoặc có cơ sở xác đáng cho rằng quyết định của trọng tài viên, nếu không khách quan, vô tư có thể đem lại những lợi ích nói trên cho trọng tài viên

Quy tắc Độc lập: Trọng tài viên với tư cách là thành viên của một tổ chức tài

phán nghĩa là phải giải quyết vụ kiện một cách độc lập, căn cứ vào pháp luật và các tình tiết trong vụ kiện, không chịu tác động của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào

Quy tắc Bí mật: Trọng tài viên có nghĩa vụ gữ bí mật các vụ tranh chấp và

không được sử dụng mọi thông tin liên quan đến vụ kiện vào bất kỳ mục đích nào và dưới bất kỳ hình thức nào, nếu không có thoả thuận của các bên hoặc pháp luật quy định khác Trong quá trình điều tra trước và trong phiên họp xét xử, trọng tài viên có nghĩa vụ giữ bí mật ý kiến, quan điểm của mình, của các thành viên khác và của uỷ ban

Trang 27

trọng tài Khi vụ kiện kết thúc, trọng tài viên có nghĩa vụ giao nộp toàn bộ hồ sơ liên quan đến vụ kiện cho Thư ký Trung tâm lưu giữ

Quy tắc Cần mẫn: Trọng tài viên chỉ chấp nhận giải quyết vụ kiện nếu có đủ

năng lực và thời gian để giải quyết theo thời hạn quy định Khi chấp nhận, trọng tài viên phải áp dụng biện pháp tốt nhất để giải quyết nhanh chóng vụ kiện, ngăn chặn việc cố tình kéo dài của một hoặc các bên

Quy tắc Công khai: Trọng tài viên có nghĩa vụ làm sáng tỏ mọi vấn đề có thể

ảnh hưởng đến sự trung lập, vô tư, độc lập xét xử của trọng tài viên Việc làm sáng tỏ các vấn đề nêu trong Quy tắc này phải được lập thành văn bản theo quy định của Trung tâm

Với các tiêu chuẩn chuyên môn, quy định pháp luật liên quan về quyền và nghĩa

vụ cũng như các quy tắc đạo đức và quy tắc nghề nghiệp như vậy, hoạt động của trọng tài viên được định hướng tới theo mô hình chuyên nghiệp với các cá nhân giải quyết tranh chấp có chuyên môn vững vàng, uy tín xã hội và được tuyển lựa khắt khe không kém gì các thẩm phán của hệ thống tố tụng tòa án

1.2.2 Hành nghề trọng tài trong hoạt động giải quyết tranh chấp

Các trọng tài viên hành nghề trọng tài trên cơ sở các quy định pháp luật cho phép Trong quá trình tố tụng trọng tài, pháp luật xây dựng nên các cơ chế đặc thù tạo điều kiện và cơ sở pháp lý để trọng tài viên thực hiện các công đoạn của quy trình giải quyết vụ việc Các cơ chế này được thể hiện ở một số vấn đề pháp lý liên quan tới việc hành nghề của trọng tài viên như: (i) xác định thẩm quyền; (ii) tính chất chung thẩm và hạn chế phán quyết vô hiệu/bị hủy; (iii) khả năng hỗ trợ từ cơ quan tư pháp và (iv) cơ cấu trọng tài viên

Vấn đề 1 Xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc

Việc xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ việc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và điều kiện đầu tiên phải xem xét đối với bất kỳ trọng tài viên nào trước khi

Trang 28

tham gia giải quyết vụ việc tranh chấp Theo quy định tại Điều 2 của Luật Trọng tài thương mại, Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại; hoặc tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài Như vậy, ngoài việc có thẩm quyền đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, Luật Trọng tài thương mại còn để mở khả năng trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng được pháp luật có liên quan quy định sẽ được giải quyết bằng trọng tài Quy định này đã khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003

về việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật thương mại, Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành

Vấn đề 2 Tính chất chung thẩm và hạn chế phán quyết vô hiệu/bị hủy

Một trong những ưu thế của tố tụng trọng tài nằm ở việc giá trị của phán trọng tài được thể hiện ở việc phán quyết đó có giá trị ràng buộc với các đương sự và được công nhận và bảo đảm thi hành, ít rủi ro bị tuyên hủy hoặc tuyên vô hiệu Điều 18 của Luật Trọng tài thương mại giới hạn 06 tình huống thoả thuận trọng tài bị coi là vô hiệu gồm: (i) tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài; (ii) người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; (iii) người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự; (iv) hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp; (v) một trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu; (vi) thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật So với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật mới đã bỏ quy định về việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi không chỉ rõ tên tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thỏa thuận trọng tài

Trang 29

không rõ ràng, Luật cho phép các bên có quyền thỏa thuận lại Trong trường hợp không thỏa thuận được thì bên khởi kiện (Nguyên đơn) có quyền được tự do lựa chọn

tổ chức trọng tài mà mình cho là phù hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo Khoản 5 Điều 43 của Luật Với quy định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp

Bên cạnh đó, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy theo đơn của một bên đương sự yêu cầu Tòa

án huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý với quyết định trọng tài” Quy định cũ

đã làm cho tố tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính chung thẩm của phán quyết trọng tài Về căn cứ hủy phán quyết trọng tài, Luật quy định các căn cứ rõ ràng,

cụ thể, phù hợp với Luật Mẫu UNCITRAL, xóa bỏ một số căn cứ hủy phán quyết trọng tài không rõ ràng được quy định trong Điều 54 khoản 5 Pháp lệnh Trọng tài thương

mại năm 2003 đó là căn cứ: “Bên yêu cầu chứng minh được trong quá trình giải quyết

vụ tranh chấp có Trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ của Trọng tài viên quy định tại khoản 2 Điều 13 của Pháp lệnh này” Trên thực tế những tiêu chí “vô tư”, “khách

quan” không được quy định rõ ràng nên rất dễ bị lạm dụng để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Ngoài yêu cầu phải có đề nghị hủy của một bên đương sự, thì căn cứ Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường

hợp: (i) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; (ii) Thành

phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định; (iii) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ; (iv) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng

Trang 30

đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài; (v) phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Điểm khác biệt so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 là Luật đã phân chia nghĩa vụ chứng minh về căn cứ hủy thành 2 trường hợp Đối với các căn cứ tại khoản a, b, c, d bên yêu cầu hủy có nghĩa vụ chứng minh Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài

Vấn đề 3 Hỗ trợ của Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp

Một trong những tâm điểm quan trọng nhất của Luật Trọng tài thương mại là vấn đề về mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên nhằm đảm bảo giá trị pháp lý của phán quyết trọng tài Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng này

Cụ thể, Điều 7 Luật Trọng tài thương mại xác định rõ Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài, khắc phục được những bất cập của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 Căn cứ Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài Thương mại, trừ khi các bên có thỏa thuận khác thì Tòa án được phép thụ lý tranh chấp

đã có thỏa thuận trọng tài trong những trường hợp sau: (i) các bên đã có thỏa thuận

giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng nó đã chấm dứt hoạt động; (ii) trọng tài viên trọng tài vụ việc được các bên lựa chọn không thể tham gia giải quyết tranh chấp; (iii) trọng tài viên trọng tài vụ việc được lựa chọn từ chối giải quyết tranh chấp mà không có thỏa thuận việc lựa chọn người thay thế; (iv) quy tắc tố tụng được các bên lựa chọn khác với quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài được lựa chọn và trung tâm này không cho phép áp dụng quy tắc của trung tâm khác Quy định

này được xây dựng với mục đích hạn chế tối đa sự can thiệp của hệ thống tư pháp nhà nước vào hoạt động tố tụng trọng tài – vốn dĩ được coi như một phương thức tài phán

tư Khi đó, Tòa án chỉ can thiệp khi việc giải quyết tranh chấp thông qua thỏa thuận

Trang 31

trọng tài trước đó của các bên không có cơ sở để thực hiện được trong thực tiễn và các bên không có thỏa thuận trọng tài mới thay thế

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên có thể viện tới quyền trưng cầu thu thập chứng cứ thông qua việc gửi văn bản đề nghị Toà án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ tranh chấp; gửi văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài Quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng được coi là một đặc quyền của trọng tài viên trong quá trình giải quyết vụ việc Cụ thể, theo yêu cầu của một trong các bên, Hội đồng trọng tài có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm

thời đối với các bên tranh chấp như: (a) Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh

chấp; (b) Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài; (c) Kê biên tài sản đang tranh chấp; (d) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp; (đ) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên; (e) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp Việc áp dụng các biện pháp này được hỗ trợ bởi hệ thống tòa án và cơ quan thi

hành án dân sự các cấp

Vấn đề 4 Cơ cấu trọng tài viên trong Hội đồng trọng tài

Về vấn đề này, pháp luật các nước có quan điểm đều khá thống nhất Về căn bản, các bên được quyền thỏa thuận phương thức lựa chọn trọng tài viên Thông thường, với một hội đồng trọng tài gồm 3 thành viên, mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài viên và hai trọng tài viên đó sẽ chỉ định người thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài Trong trường hợp các bên không lựa chọn trọng tài viên hoặc hai trọng tài viên do hai bên lựa chọn không thỏa thuận được chủ tịch hội đồng trọng tài thì quyền chỉ định sẽ thuộc về một bên thứ ba thường do các bên thỏa thuận trước (thường là một trung tâm trọng tài, đặc biệt là khi tiến hành tố tụng trọng tài tại trung tâm đó) hoặc nếu không có

Trang 32

thỏa thuận thì việc chỉ định sẽ do tòa án có thẩm quyền của nước sở tại thực hiện Ngoài ra, luật của một số nước có thể tạo cơ chế thuận lợi hơn cho một bên khi bên kia không hợp tác trong việc chỉ định trọng tài viên Theo Luật Trọng tài của Anh, nếu các bên đã thỏa thuận trước là hội đồng trọng tài sẽ bao gồm 3 thành viên và một bên không chịu chỉ định trọng tài viên của mình, bên kia có thể đề nghị chỉ định trọng tài viên của mình là trọng tài viên duy nhất Phán quyết của trọng tài viên duy nhất này sẽ

có hiệu lực như thể các bên đã thỏa thuận hội đồng trọng tài chỉ bao gồm một trọng tài viên duy nhất mà thôi

Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định ưu tiên quyền quyết định số lượng trọng tài viên của Hội đồng cho các bên tự thỏa thuận Trường hợp không thỏa thuận được thì số lượng trọng tài viên sẽ là ba Trọng tài viên khi được chỉ định có thể được thay đổi trong một số trường hợp nhất định để đảm bảo quy tắc Trung lập và Vô

tư Trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu thay đổi Trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong các trường hợp sau: (i) trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên; (ii) trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp; (iii) có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan; (iv) đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản Với các hạn chế kể trên, cơ cấu của hội đồng trọng tài sẽ được lập dựa trên sự thỏa thuận của các bên, đồng thời cơ cầu này ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình phối hợp giải quyết tranh chấp giữa các trọng tài viên

1.2.3 Quản lý hoạt động của Trọng tài viên nước ngoài tại Việt Nam

Do đặc điểm của mỗi loại hình trọng tài, cách thức hoạt động và thành lập khác nhau do những khác biệt về chính trị, kinh tế, pháp luật ở mỗi quốc gia do vậy Trọng tài viên ở mỗi nước sẽ được quy định khác nhau Theo Điều 74 của Luật Trọng tài thương mại, tổ chức trọng tài nước ngoài được hoạt động tại Việt Nam dưới hai hình

Trang 33

thức Chi nhánh và Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài Khoản 11

Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 định nghĩa nhóm này như sau: Trọng tài

nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hoạt động của trọng tài nước ngoài được bảo đảm bởi quy định về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam Cụ thể, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và thi hành theo các quy định tại Phần VI của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, mà cụ thể là

Khoản 2 Điều 342 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Quyết định của Trọng tài nước

ngoài là quyết định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động Điều 1

Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài

năm 1995 làm rõ khái niệm Trọng tài nước ngoài: Quyết định của trọng tài nước ngoài

được hiểu là quyết định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam […] Quyết định của trọng tài nước ngoài còn bao gồm quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ Việt Nam, nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên Trong đó, khái niệm

trọng tài Việt Nam được hiểu là các pháp nhân/thể nhân được hành nghề trọng tài giải quyết tranh chấp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam Còn theo

Khoản 12 Điều 3 của Luật Trọng tài thương mại, Phán quyết của trọng tài nước ngoài

là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn Các hoạt

động khác liên quan tới quá trình giải quyết vụ việc của trọng tài nước ngoài được tương trợ tư pháp theo các Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và quốc gia mà Trọng

tài viên có quốc tịch theo nguyên tắc có đi có lại

Trang 34

Như vậy có thể hiểu, trọng tài viên nước ngoài khi hành nghề tại Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu về cấp phép hoạt động theo pháp luật của Việt Nam, được hỗ trợ

về kỹ thuật và chuyên môn theo thỏa thuận tương trợ tư pháp giữa các chính phủ và được đảm bảo thi hành phán quyết theo Công ước New York trong trường hợp chính quốc cũng là thành viên của Công ước này

1.3 Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng Quy chế pháp lý đối với trọng tài

viên

Đối với mỗi quốc gia, trung tâm trọng tài và trọng tài viên được quản lý trên cơ

sở các quy định đặc thù Ở các nước theo hệ thống luật án lệ hầu hết đều có Luật Trọng tài riêng ghi nhận như Mỹ có Luật Trọng tài liên bang năm 1925, Anh có Luật Trọng tài năm 1959, 1975, 1979; Australia có Luật liên bang về Trọng tài Thương mại quốc

tế và các Luật Trọng tài của các bang, Bra-xin, Trung Quốc và rất nhiều các quốc gia khác ở các hệ thống pháp luật khác nhau từ lâu đều đã có Luật Trọng tài Ở các nước theo truyền thống luật dân sự, một số nước đưa các quy định của pháp luật về Trọng tài vào trong Bộ luật Tố tụng Dân sự như Áo, Đức, Pháp, Ý… Tuy nhiên có một số nước lại ban hành Luật Trọng tài riêng như Phần Lan, Đan Mạch…[3] Thực tế, phần lớn các

bộ luật này đều không đề cập nhiều tới quy chế pháp lý đối với trung tâm trọng tài và trọng tài viên Quan điểm được thừa nhận phổ biến là tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các trung tâm trọng tài và trọng tài viên được hành nghề trên cơ sở thỏa thuận với các đương sự bởi vốn dĩ cơ chế này là cơ chế “tư thuần túy”, không nên tăng cường sự can thiệp của cơ quan nhà nước vào địa hạt này Cơ chế tự thỏa thuận trong lĩnh vực dân sự - thương mại được đề cao và được ghi nhận trong các quy định liên quan, tạo nên cơ chế tự chủ cao cho các trung tâm trọng tài thương mại trên thế giới với tư cách một tổ chức giải quyết tranh chấp phi chính phủ Như đã đề cập, bản thân chế định về tiêu chuẩn chuyên môn đối với trọng tài viên, hiện tại chỉ có duy nhất Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia chuyển đổi mới có quy định đặc thù riêng về chuyên môn đối với đội ngũ trọng tài viên Các quốc gia phát triển trên thế giới quan

Trang 35

điểm chuyên môn của trọng tài viên dựa trên sự tuyển lựa của các đương sự và nhu cầu của từng vụ việc, mà không phải cứng nhắc theo quy định pháp luật Nhiều quốc gia trên thế giới không ghi nhận riêng Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên mà phân chia hoạt động trọng tài thành hai loại là Luật trọng tài và Luật trọng tài quốc tế, Luật Trọng tài liên bang và Luật trọng tài của các bang (Hoa Kỳ)…Ngay cả trong Luật Trọng tài mẫu của UNCITRAL cũng không hề đề cập cụ thể tới các điều kiện chuyên môn và quy chế pháp lý của trọng tài viên mà chỉ yêu cầu các quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên trong quá trình tố tụng Đây cũng được coi là các hiểu phổ biến đối với quy định này

Mỗi trung tâm trọng tài trong nước hay nước ngoài đều xây dựng bộ quy tắc tố tụng riêng, bộ tiêu chuẩn tuyển trọng tài viên riêng và yêu cầu tuân thủ đạo đức nghề nghiệp Bởi vậy, sự đa dạng bởi số lượng hàng trăm trung tâm trọng tài thương mại trên thế giới đồng nghĩa với tính đa dạng về quy chế pháp lý đối với các trọng tài viên hành nghề Tuy nhiên, các quy định về đăng ký cấp phép hoạt động trung tâm trọng tài, chứng nhận hành nghề trọng tài viên…là các thủ tục bắt buộc để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý về thống kê và hiệu quả hành nghề của các trung tâm này Đối với Việt Nam hay các nước chuyển đổi khác, việc quy định chi tiết các nội dung quản lý liên quan tới trung tâm trọng tài và trọng tài viên là không thừa khi mà hệ thống pháp luật còn chưa ổn định, hoạt động quản lý nhà nước chưa đầy đủ và hiệu quả Bất cập này từ hệ thống pháp lý đòi hỏi các nhà lập pháp và hành pháp Việt Nam cần có những giải pháp cụ thể để quá trình xây dựng pháp luật được hoàn thiện và phát huy hiệu quả hơn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vào thực tiễn thương mại hiện nay

1.3.1 Pháp: Phòng thương mại quốc tế ICC

Trọng tài ICC là một tổ chức trọng tài lâu đời được thành lập từ năm 1923 như

là một nhánh của Phòng thương mại quốc tế ICC Từ khi thành lập đến nay, trọng tài

Trang 36

ICC đã giải quyết hơn 19 nghìn vụ tranh chấp liên quan đến các bên và trọng tài viên

từ 180 quốc gia và vùng lãnh thổ Riêng trong năm 2012, đã có 759 yêu cầu trọng tài gửi cho trọng tài ICC liên quan đến 2.036 bên từ 137 quốc gia và vùng lãnh thổ, với các trọng tài viên được bổ nhiệm đến từ 76 quốc tịch, và có 491 phán quyết trọng tài

- Chỉ định địa điểm trọng tài;

- Đánh giá về sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài ICC;

- Đưa ra những quyết định cần thiết trong trường hợp tố tụng trọng tài giữa nhiều bên hoặc liên quan tới nhiều hợp đồng;

- Xác nhận, chỉ định và thay thế trọng tài viên;

- Giám sát quy trình tố tụng trọng tài để đảm bảo sự phù hợp với quy tắc tố tụng của ICC;

- Kiểm tra và phê chuẩn các phán quyết trọng tài;

- Quy định, giám sát và, nếu cần thiết, điều chỉnh phí trọng tài;

- Giám sát thủ tục trọng tài khẩn cấp

Ban thư ký là cơ quan giúp việc gồm hơn 80 luật sư và nhân viên hỗ trợ, đứng đầu là Tổng thư ký Trọng tài ICC Ban thư ký giúp Đại hội đồng thực hiện các chức năng của mình Tổ chức Ban thư ký bao gồm tám nhóm quản lý khác nhau, trong đó bảy nhóm đóng ở Paris, và một nhóm đóng ở Hong Kong Mỗi nhóm được lãnh đạo bởi một luật sư trưởng nhóm và hai hoặc ba luật sư phụ trợ Khi phát sinh một vụ việc, Tổng thư ký sẽ đánh giá và chuyển cho nhóm quản lý phù hợp, nhóm này sẽ trở thành đầu mối liên lạc cho các bên

Trang 37

Hội đồng trọng tài được thành lập để giải quyết các vụ việc tranh chấp cụ thể Thành phần hội đồng trọng tài gồm một hoặc ba trọng tài viên, do các bên lựa chọn hoặc được Đại hội đồng chỉ định

Hoạt động tố tụng:

Để sử dụng dịch vụ trọng tài ICC, nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện đến một trong các văn phòng của ban thư ký trọng tài Ngay sau khi nguyên đơn đã nộp đơn và phí trọng tài, đơn kiện được chuyển cho bị đơn Bị đơn phải phản hồi đơn kiện, kèm theo yêu cầu phản tố nếu có, trong vòng 30 ngày

Trong trường hợp một bên không nộp bản phản hồi; khiếu nại về sự tồn tại, hiệu lực hoặc phạm vi của thỏa thuận trọng tài; hoặc khiếu nại việc giải quyết chung các yêu cầu trong đơn kiện trong cùng một vụ kiện trọng tài, tố tụng trọng tài vẫn tiếp tục và hội đồng trọng tài sẽ quyết định về thẩm quyền của mình, trừ khi Ban thư ký trình vấn

đề ra Đại hội đồng giải quyết

Trong quá trình giải quyết trọng tài, trọng tài có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Sau khi kết thúc thủ tục tố tụng, hội đồng trọng tài sẽ ban hành phán quyết Phán quyết này phải được trình lên trước đại hội đồng trọng tài ICC phê chuẩn

1.3.2 Trung Quốc: Hội đồng trọng tài kinh tế và thương mại quốc tế Trung Quốc

Hội đồng trọng tài kinh tế và thương mại quốc tế Trung Quốc (CIETAC) là tổ chức trọng tài lớn nhất của Trung Quốc, được thành lập từ tháng 04/1956 Đặt trụ sở chính ở Bắc Kinh, hội đồng có các cơ sở đặt ở Thâm Quyến, Thượng Hải, Thiên Tân,

và Trùng Khánh Trong gần 60 năm tồn tại và hoạt động của mình, CIETAC đã giải quyết gần 20 nghìn vụ kiện trọng tài liên quan đến các bên từ hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, và các phán quyết trọng tài của trung tâm đã được công nhận và cho thi hành

ở hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ Đến nay, trung bình CIETAC xử lý gần 1.300 vụ việc một năm, là một trong những trung tâm xử lý nhiều vụ việc nhất trên thế giới [11]

Cơ cấu tổ chức

Trang 38

CIETAC gồm một trụ sở chính ở Bắc Kinh và ba chi nhánh đặt tại Thâm Quyến, Thượng Hải, Thiên Tân, và Trùng Khánh CIETAC và các chi nhánh hợp thành một trung tâm trọng tài duy nhất CIETAC có một Chủ tịch và một số Phó chủ tịch và thành viên, Ban thư ký, các Ủy ban đặc biệt, và hội đồng trọng tài

Chủ tịch thực hiện các chức năng và trọng trách theo Quy tắc trọng tài của CIETAC Các Phó chủ tịch thực hiện những chức năng và trọng trách của Chủ tịch theo ủy quyền

Trụ sở chính và mỗi chi nhánh đều có Ban thư ký riêng để quản lý những công việc hàng ngày dưới sự chỉ đạo của Tổng thư ký Trong tổ chức của CIETAC có ba Ủy ban đặc biệt Ủy ban chuyên gia cố vấn là cơ quan tư vấn có trách nhiệm nghiên cứu các vấn đề phức tạp về thủ tục trọng tài và quy định pháp luật, cũng như đưa ra ý kiến

tư vấn, sửa đổi quy tắc trọng tài và đào tạo trọng tài viên CIETAC Ủy ban biên tập vụ kiện tổng hợp và biên tập các vụ kiện đã giải quyết xong của CIETAC và hàng năm ấn bản thành sách tuyển tập Ủy ban đánh giá tiêu chuẩn trọng tài viên kiểm tra và rà soát các tiêu chuẩn và năng lực của trọng tài viên CIETAC, đề xuất việc gia hạn thời gian làm việc của trọng tài viên

Hội đồng trọng tài được thành lập để giải quyết từng vụ tranh chấp cụ thể, gồm một hoặc ba trọng tài viên trong danh sách của CIETAC

Hoạt động tố tụng

Khi bắt đầu tố tụng, nguyên đơn nộp cho Ban thư ký CIETAC tại trụ sở Bắc Kinh hoặc tại các chi nhánh yêu cầu trọng tài, kèm theo thỏa thuận trọng tài và các chứng cứ liên quan Ban thư ký gửi cho bị đơn thông báo trọng tài và bị đơn có thời hạn 45 ngày (trong trường hợp trọng tài có yếu tố nước ngoài) kể từ ngày nhận được thông báo để phản hồi

CIETAC có quyền tự quyết định về sự tồn tại và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của mình đối với vụ việc Nếu cần thiết, CIETAC có thể ủy quyền cho hội đồng trọng tài thực hiện việc này

Trang 39

Hội đồng trọng tài được thành lập gồm một hoặc ba thành viên Hội đồng sẽ xem xét vụ tranh chấp theo cách thức mà mình thấy là phù hợp Hội đồng có thể tổ chức các phiên xét xử trực tiếp hoặc không, có quyền thu thập chứng cứ, hỏi ý kiến chuyên gia, bổ nhiệm người giám định, nhưng không được quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (mà phải chuyển yêu cầu, nếu có, cho Tòa án có thẩm quyền)

Phán quyết trọng tài phải được ban hành trong vòng sáu tháng (trường hợp trọng tài có yếu tố nước ngoài) kể từ ngày thành lập hội đồng trọng tài Thời hạn này có thể gia hạn theo yêu cầu của hội đồng trọng tài và chấp thuận của Tổng thư ký CIETAC Hội đồng trọng tài phải trình phán quyết để CIETAC kiểm tra trước khi ban hành

1.3.3 Singapore: Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore

Thành lập từ năm 1991, Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore (SIAC) là một trong các tổ chức trọng tài có uy tín hàng đầu trong khu vực Là một trong những tổ chức có tốc độ phát triển nhanh, năm 2012, SIAC nhận giải quyết 235 đơn kiện trọng tài của các bên từ 39 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 25% so với cùng kỳ 2011 Các trọng tài của SIAC đến từ nhiều quốc gia trong khu vực như Singapore, Brunei, Malaysia, Indonesia, v.v [11]

Cơ cấu tổ chức

Tổ chức của SIAC bao gồm Hội đồng quản trị, Đại hội đồng trọng tài, Ban thư

ký và hội đồng trọng tài Hội đồng quản trị là tổ chức giám sát và điều hành chung hoạt động của SIAC, bao gồm một Chủ tịch HĐQT, một Phó chủ tịch HĐQT, và các thành viên HĐQT Đại hội đồng trọng tài gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch, và các Ủy viên, có chức năng hỗ trợ hội đồng trọng tài trong việc thực hiện các thủ tục tố tụng trọng tài và làm một số nhiệm vụ khi hội đồng trọng tài chưa được thành lập Ví dụ, đại hội đồng xem xét yêu cầu thay đổi trọng tài viên của các bên hoặc quyết định về thẩm quyền của trọng tài trong thời gian hội đồng trọng tài chưa được thành lập

Trang 40

Ban thư ký của SIAC có chức năng điều phối, hỗ trợ, giám sát hoạt động trọng tài và là đầu mối liên lạc cho các bên Hội đồng trọng tài được thành lập theo từng vụ việc trọng tài cụ thể, gồm một hoặc ba trọng tài viên

Hoạt động tố tụng

Một bên muốn khởi kiện trọng tài phải gửi thông báo trọng tài đến bộ phận đăng

ký của Đại hội đồng trọng tài và đồng thời cũng phải gửi thông báo đó đến phía bị đơn Trong vòng 14 ngày, bị đơn phải có phản hồi sơ bộ gửi đến nguyên đơn và bộ phận đăng ký Hội đồng trọng tài được thành lập gồm một hoặc ba trọng tài viên và có quyền thực hiện tố tụng trọng tài theo phương cách mà mình thấy phù hợp sau khi đã hỏi ý kiến các bên Các bên phải nộp bản giải trình nêu rõ tình tiết sự việc đã phát sinh,

cơ sở pháp lý và yêu cầu của mình Các thời hạn nộp và phản hồi giải trình đều do hội đồng trọng tài quyết định

Trước khi thành lập hội đồng trọng tài, vấn đề thẩm quyền trọng tài do Đại hội đồng trọng tài quyết định Sau khi thành lập, hội đồng trọng tài tự xem xét thẩm quyền của mình Tùy theo yêu cầu, hội đồng trọng tài có thể tổ chức phiên xét xử trực tiếp, triệu tập nhân chứng, bổ nhiệm chuyên gia, và áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Nếu hội đồng trọng tài đã thỏa mãn với chứng cứ và lý luận của các bên trình lên, hội đồng có thể quyết định khép lại quá trình tố tụng và ban hành phán quyết trọng tài Trước khi ban hành, phán quyết phải được trình lên bộ phận đăng ký của Đại hội đồng trọng tài để kiểm tra

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:38

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm