1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại QUY CHẾ PHÁP lý về cổ ĐÔNG TRONG CÔNG TY cổ PHẦN

158 210 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các loại hình doanh nghiệp thì công ty cổ phần có vai trò to lớn đối với nền kinh tế đất nước vì nó có những ưu điểm vượt trội so với các loại hình doanh nghiệp khác như: có khả nă

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện :

MSSV: 5062354 Lớp: Luật Thương Mại 1- K32

Cần Thơ, 4/2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên huớng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV: 5062354 Lớp: Thuơng Mại 1-K32

Cần Thơ, tháng 4/2010

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HUỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

3 Phương pháp nghiên cứu 7

4 Kết cấu đề tài 7

CHƯƠNG 1 8

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 8

VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ ĐÔNG TRONG 8

CÔNG TY CỔ PHẦN 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành công ty cổ phần 8

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần 8

1.1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần 8

1.1.1.1 Đặc điểm công ty cổ phần 8

1.1.3 Lịch sử hình thành công ty cổ phần 13

1.1.3.1 Lịch sử hình thành công ty cổ phần trên thế giới 13

1.1.3.2 Lịch sử hình thành công ty cổ phần ở Việt Nam 17

1.1 Cổ phần (cổ phiếu), trái phiếu trong công ty cổ phần 18

1.1.1 Cổ phần (Cổ phiếu) 19

1.2.1.1 Đặc tính của cổ phần 19

1.2.1.2 Các loại cổ phần 21

1.1.1 Trái phiếu 22

1.1.1.1 Trái phiếu thường 23

1.1.1.2 Trái phiếu chuyển đổi 24

1.3 Cổ đông trong công ty cổ phần 25

1.3.1 Khái niệm 25

1.3.2 Đặc diểm của cổ đông trong công ty cổ phần 25

1.3.3 Các loại cổ đông trong công ty cổ phần 25

1.4 Các cách xác lập, chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần 26

1.4.1 Xác lập tư cách cổ đông trong công ty cổ phần 26

1.4.2 Chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần 28

1.5 Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế 29

CHƯƠNG 2 32

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 32

2.1 Quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông 32

2.1.1 Quyền của cổ đông phổ thông 32

2.1.1.1 Quyền tham dự và phát biểu trong các Đại Hội đồng cổ đông, biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện ủy quyền 32

2.1.1.2 Quyền nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông .39

2.1.1.3 Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần 41

2.1.1.4 Quyền xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Bản Điều lệ, số biên bản họp Đại Hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại Hội đồng cổ đông 44

2.1.1.5 Quyền xem xét, tra cứu trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác 45

2.1.1.6 Quyền được hưởng một phần tài sản của công ty 45

Trang 6

2.1.1.7 Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần 46

2.1.2 Nghĩa vụ của cổ đông phổ thông 48

2.2 Quyền và nghĩa vụ của cổ đông ưu đãi 48

2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của cổ đông ưu đãi biểu quyết 48

2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của cổ đông ưu đãi cổ tức 51

2.2.3 Cổ đông ưu đãi hoàn lại 53

2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của cổ đông thiểu số (cổ đông ít vốn) 54

CHƯƠNG 3 58

THỰC TRẠNG – HƯỚNG HOÀN THIỆN 58

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG 58

CÔNG TY CỔ PHẦN 58

3.1 Thực trạng về cổ đông trong công ty cổ phần 58

3.1.1 Vi phạm của cổ đông nhà nước 58

3.1.2 Cổ đông nhỏ bị tước quyền họp Đại hội cổ đông 58

3.1.3 Mâu thuẫn của cổ đông lớn với lãnh đạo công ty 60

3.1.4 Xung đột lợi ích giữa cổ đông với người quản lý công ty 62

3.1.5 Quyền ưu tiên mua trước bị vi phạm hoặc lạm dụng 64

3.1.6 Cổ đông chưa nghĩ đến lợi ích lâu dài và bền vững của chính họ 65

3.1.7 Ban kiểm soát chưa thể hiện hết vai trò của mình để bảo vệ cổ đông 66

3.1.8 Phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài 69

3.2 Hướng hoàn thiện 72

3.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ quyền lợi cổ đông 72

3.2.2 Minh bạch hóa thông tin 75

3.3.3 Các biện pháp khác 76

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), nền kinh tế nước ta chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây Ngày 21/12/1990, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đây là căn cứ cho việc ban hành Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 sau này ở nước ta Để khẳng định vị trí và vai trò của Doanh nghiệp đối với nền kinh tế đất nước, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh “ Phát triển Doanh nghiệp là động lực để phát triển kinh tế…”

Như vậy, vai trò và vị trí của doanh nghiệp là rất quan trọng không những đối với nhà đầu tư mà còn quan trọng đối với nền kinh tế đất nước Vì vậy, muốn phát triển kinh tế và phát triển đất nước thì trước hết phải phát triển các loại hình doanh nghiệp Trong các loại hình doanh nghiệp thì công ty cổ phần có vai trò to lớn đối với nền kinh tế đất nước vì nó có những ưu điểm vượt trội so với các loại hình doanh nghiệp khác như: có khả năng huy động vốn lớn, số lượng thành viên không hạn chế, các cổ đông được tự do chuyển nhượng cổ phần,…Chính vì những lý do trên mà công

ty cổ phần được xem là loại hình doanh nghiệp chủ lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước

Do đó, sự ra đời của các công ty cổ phần ở nước ta là xu hướng tất yếu, là hướng đi đúng đắn để nền kinh tế nước ta hòa nhập với nền kinh tế thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tập trung vốn đầu tư trong nước Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang rất cần vốn và công nghệ mới

Trong công ty cổ phần thì cổ đông là nhân tố cực kỳ quan trọng và là yếu tố sống còn của công ty, không có cổ đông thì công ty cổ phần không thể được thành lập và hoạt động được Để tìm hiểu sâu hơn về cổ đông trong công ty cổ phần cũng như tầm

quan trọng của nó đối với sự sinh tồn của công ty cổ phần mà đề tài “Quy chế pháp lý

về cổ đông trong công ty cổ phần” được chọn để nghiên cứu làm đề tài tốt nghiệp cử

nhân luật của tác giả

2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trọng tâm nghiên cứu đề tài “ Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần” là việc tìm hiểu những quy định của pháp luật có liên quan đến cổ đông trong công ty cổ phần Những quy định này được tập hợp trên cơ sở những điều luật quy định đối với cổ đông nằm rải rác trong các văn bản pháp luật hiện hành nhằm tạo cho người đọc có cái nhìn tổng quan về nó Từ đó tác giả có sự phân tích, đánh giá những

Trang 8

ưu nhược điểm trong chính sách pháp luật quy định về cổ đông trong công ty cổ phần Trên cơ sở đó, tác giả xin đóng góp ý kiến đề xuất của mình trong việc hoàn thiện quy

chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần

Mặc dù cho đến thời điểm hiện tại có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu liên quan đến cổ đông nhưng chỉ tập trung nghiên cứu riêng lẻ những vấn đề cơ bản về cổ đông

mà chưa có bài viết nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này Đây là một khó khăn đối với người viết nhưng với những bài viết có liên quan đến cổ đông là những tài liệu quý giá giúp tác giả hoàn thành bài viết của mình

3 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành theo phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac – Lenin, tức là trên cơ sở các vấn đề thực tiễn đưa ra những luận chứng mang tính khoa học pháp lý Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp thu thập số liệu, phương pháp thông kê, phương pháp đối chiếu so sánh,…

Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần

Chương 3: Thực trạng – giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần

Hoàn thành đề tài này tác giả xin chân thành cảm ơn cô Phạm Mai Phương, các thầy cô Khoa Luật và các bạn sịnh viên đã tạo điều kiện, hỗ trợ và giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài này

Tác giả luôn mong muốn sẽ hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất Tuy nhiên, hạn chế và thiếu sót là điều không thể nào tránh khỏi trong quá trình nghiên cứu Rất mong được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn sinh viên để

đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ ĐÔNG TRONG

CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành công ty cổ phần

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần

1.1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần

Công ty cổ phần giữ một vai trò rất lớn trong nền kinh tế thi trường, tuy nhiên cho đến nay luật chưa đưa ra khái niệm hoàn chỉnh nào về công ty cổ phần mà chỉ đưa

ra đặc điểm của công ty cổ phần Luật Doanh nghiệp 2005 miêu tả công ty cổ phần như sau:

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó có;

Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật Doanh nghiệp 2005;

Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.1

- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán

- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

1.1.1.1 Đặc điểm công ty cổ phần

So với các loại hình doanh nghiệp khác hiện nay ở nước ta, thì loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần (hình thức liên kết pháp lý các nhà đầu tư, các chủ thể kinh doanh cùng nhau hùn vốn để thành lập và tổ chức vận hành công ty theo những mục đích nhất định) có nhiều lợi thế hơn hẳn Lợi thế hơn hẳn đó xuất phát từ những lợi ích

và đặc điểm pháp lý mà pháp luật quy định và được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập

Pháp luật về công ty của các nước đều xác lập một cách cụ thể về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực và tư cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty Trong qua trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng

1

Luật doanh nghiệp năm 2005

Trang 10

chính tài sản của mình; với tư cách chủ thể là pháp nhân thông qua người đại diện của mình theo quy định của pháp luật, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại Tòa án Khi công ty mua sắm các tài sản mới, thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty chứ không thuộc sở hữu của các cổ đông công

ty vì lúc này công ty cổ phần là một pháp nhân, tách biệt hoàn toàn với các cổ đông Trong trường hợp này, cổ đông không được xem tài sản mà công ty mới mua sắm là tài sản của cá nhân mình; mặc dù trên thực tế cổ đông là chủ sở hữu một số quyền lợi

có giá trị của công ty cổ phần như: quyền tham gia quản lý, điều hành công ty theo quy định, quyền được chia cổ tức, quyền được chia tài sản theo tỷ lệ cổ phần sở hữu khi công ty giải thể….Tuy nhiên, với tư cách là một pháp nhân, công ty có quyền sở hữu tài sản riêng còn các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần trong công ty mà không có quyền sở hữu đối với bất kỳ tài sản nào của công ty

Các cổ đông trong công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn

Khi một tổ chức hay cá nhân mua cổ phiếu của công ty cổ phần tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những phương thức nhất định vào công ty cổ phần và trở thành tài sản thuộc sở hữu của công ty cổ phần, nhưng cổ đông vẫn được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn với tư cách là một pháp nhân, công

ty có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật nên các quyền và nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông vì công ty là chủ thể của quyền sở hữu công

ty Vốn thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách nhiệm của các cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình Xét về phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của công ty cổ phần nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty cổ phần; công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình.Cả công ty cổ phần lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho công ty cổ phần số tiền mua cổ phiếu phát hành Đây là điểm khác nhau cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh, đối với công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân (theo pháp luật Việt Nam) và đối với công ty đối nhân hay doanh nghiệp một chủ của hầu hết các nước thì các thành viên hợp danh (hay thành viên nhận vốn) và chủ doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm cá nhân vô hạn về các nghĩa

vụ của công ty hay của doanh nghiệp bằng tài sản của mình, bất kể tài sản đó có liên quan đến hoạt đông kinh doanh hay không

Như vậy, xuất phát từ sự tồn tại độc lập của công ty cổ phần so với các cổ đông nên công ty cổ phần có các quyền và nghĩa vụ tài sản riêng, do đó các rủi ro của cổ

Trang 11

đông khi đầu tư vào công ty chỉ giới hạn trong số lượng giá trị cổ phiếu mà cổ đông có đầu tư Ngược lại khi đầu tư vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân thì mức

độ rủi ro là vô hạn Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư đầu tư vào công ty cổ phần nhiều hơn so với đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác mà ở đó họ phải chịu trách nhiệm vô hạn Khi đầu tư vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân, những người này phải thấp thỏm lo âu khi tình hình kinh doanh của doanh nghiệp xấu đi, vì họ có thể mất toàn bộ tài sản bất kỳ khi nào Ngược lại, khi đầu tư vào công ty cổ phần với tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn của

cổ đông thì không bao giờ nhà đầu tư bị mất nhiều hơn so với số vốn đã bỏ ra Chính lợi thế này mà các công ty cổ phần có khả năng huy động rất lớn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một cách tự do

Hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế giới đều quy định và cho phép chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành từ cổ đông sang chủ sở hữu mới Vì khác với các loại công ty khác, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông Các cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là hàng hóa nên các

cổ đông khi sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ thực hiện rất dễ dàng Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhượng các phần vốn góp của mình, thành viên đó phải chuyển nhượng trước hết cho các thành viên còn lại trong công ty hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết Đó là lí do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư vào công ty cổ phần chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác Đây cũng là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán

Công ty cổ phần có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt

Công ty cổ phần không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn Vốn

là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với các đối tác bên ngoài Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của quyền lực Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong công

ty cổ phần sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của công ty cổ phần là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của

Trang 12

công ty Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong công ty cổ phần là yếu tố năng động nhất Các quy luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hóa là sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn Sự phát triển của công

ty cổ phần tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các quy luật kinh tế , vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người Điều này đặc ra một đòi hỏi là con người phải tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn để có thể đáp ứng được sự vận động linh hoạt của vốn

Sự linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất đi bản chất vốn có của công ty cổ phần Điều đó

có nghĩa là phải tạo cho bản thân công ty cổ phần khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhượng

đó mà bị thay đổi

Theo quy định của luật doanh nghiệp thì công ty cổ phần ở Việt Nam có thể quy định và phát hành nhiều loại cổ phần khác nhau như: cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi (trong cổ phần ưu đãi có: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần

ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phần ưu đãi khác…) và các loại trái phiếu Đây sẽ là những loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư cho kinh doanh của công ty Ngoài ra, khi xây dựng giá trị các cổ phần của công ty thì các công ty thường xác lập mệnh giá của cổ phần thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà đầu tư dù cho khả năng tài chính không nhiều nhưng vẫn

có khả năng tham gia đầu tư vốn vào công ty cổ phần

Tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và không hạn chế về thời gian tồn tại

Với các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh,

sự tồn tại của các doanh nghiệp này luôn luôn gắn liền với tư cách của chủ sở hữu doanh nghiệp hay các thành viên hợp danh; bởi vì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này có thể sẽ bị kết thúc cùng với cái chết , sự rút lui hay sự khánh tận của chủ doanh nghiệp tư nhân hay một trong các thành viên hợp danh của công ty Nhưng đối với công ty cổ phần thì hoạt động kinh doanh của công ty hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì có thể xảy ra đối với các cổ đông trong công ty; bởi vì công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản thậm chí cái chết có thể xảy ra đối với các cổ đông thì công ty cổ phầnvẫn tiếp tục tồn tại và phát triển mà hoàn toàn không hề bị ảnh hưởng gì Đây chính là một ưu điểm bảo đảm cho việc kinh doanh của công ty diễn ra một cách liên tục và ổn định Mặt khác, các luật công ty hiện đại của một số nước đều không hạn chế thời gian tồn tại của công ty cổ phần trừ những trường hợp như: công ty phá sản hoặc các cổ đông cùng thỏa thuận

Trang 13

chấm dứt hoạt động hay vì một lí do nào khác mà điều lệ công ty quy định Chính sự

ổn định trong kinh doanh và thời gian hoạt động lâu dài đã tạo cho các công ty cổ phần

có được sự thu hút mạnh mẽ và được ưa chuộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác

Công ty cổ phần có cơ chế quản lý tập trung cao

Với tư cách là một pháp nhân độc lập, trong công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý Đó là việc các cổ đông sẽ bầu ra Ban giám đốc và Ban giám đốc sẽ thay mặt các cổ đông quản lý công ty cổ phần

Như vậy, trong công ty cổ phần việc quản lý được tập trung hóa cao vào ban giám đốc mà không dàn trải đều việc quản lý cho các cổ đông như đối với công ty hợp danh; bởi vì trong công ty hợp danh việc quản lý công ty được thực hiện bởi các thành viên hợp danh với tư cách là những người chịu trách nhiệm vô hạn hoặc liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của công ty nên họ được toàn quyền quản lý công ty và nhân danh công ty trong các hoạt động Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn được thể hiện ở việc luật công ty hiện đại ở một số nước còn quy định cho phép giám đốc quản lý công ty có thể không phải là cổ đông công ty Giám đốc có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần, là người điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty Rõ ràng việc quy định như vậy một mặt thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp được công ty thuê làm công tác quản lý, mặt khác tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý

đã tạo cho công ty cổ phần có được sự quản lý tập trung cao thông qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý các doanh nghiệp có quy mô lớn

Tóm lại: Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội theo hướng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình độ quản lý và các nguồn lực vật chất cần thiết khác cho nhu cầu đầu tư và phát triển của đất nước là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong tiến trình đẩy mạnh việc khai thác các nguồn lực quốc gia, chúng ta không thể không tính đến yếu tố nội lực Nhìn lại các loại hình doanh nghiệp hiện nay mà pháp luật Việt Nam cho phép thành lập và hoạt động, tuy mỗi loại đều có những điểm mạnh nhất định đòi hỏi các nhà kinh doanh cần nắm bắt để khai thác và vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện và sở thích của mình nhưng chúng ta không thể phủ nhận những lợi thế hơn hẳn của loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác Chính những ưu điểm vượt trội như thế, một mặt đã tạo nên lực hút rất lớn của xã hội đầu tư

Trang 14

vào hình thức kinh doanh này, mặt khác cũng đòi hỏi nhà nước ta cần có chính sách tạo hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn cho các nhà đầu tư khi thành lập các công ty

cổ phần để kinh doanh, nhất là việc hình thành một cơ chế quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công ty cổ phần ở Việt Nam

1.1.3 Lịch sử hình thành công ty cổ phần

1.1.3.1 Lịch sử hình thành công ty cổ phần trên thế giới2

Theo những nghiên cứu mới nhất về công ty cổ phần thì loại hình công ty này là một ý tưởng cách mạng diễn biến theo một quá trình rất dài thậm chí ngay từ 3.000 năm trước công nguyên, từ người Assiryria, Phoenicia rồi người Hy Lạp Họ đã lập ra những tổ chức để kinh doanh thương mại ở vùng Địa Trung Hải

Đến thời của người La Mã, tầng lớp quý tộc lập ra những societas (xã hội) lúc đầu là để phụ các hiệp sĩ thu thuế nông nghiệp, sau đó là để đi chinh phục các lãnh thổ

và đúc khí giới, áo giáp cung cấp cho các đoàn quân viễn chinh Ở tầng lớp thứ dân, những người thợ thủ công và thương gia mở các collegia hay corpora (công ty) tự bầu

ra người quản lý và được cấp phép hoạt động Theo William Blacstone, luật gia vĩ đại vào thế kỷ 18 của Anh, thì vinh dự phát minh ra corpora (công ty) hoàn toàn thuộc về người La Mã Họ đã đưa ra những ý niệm nền tảng về luật lệ công ty, nhất là ý tưởng một nhóm người họp lại với nhau tạo ra một thực thể tách rời khỏi họ Họ nối kết công

ty với gia đình (familia) tạo ra đơn vị căn bản của xã hội Các socci (người cộng tác hoặc đối tác) giao một số lớn quyền quản lý cho các magister (thầy), để người sau điều khiển những người được họ ủy quyền tại các địa phương và lập báo cáo Công ty cũng

có một hình thức trách nhiệm hữu hạn nào đó Còn về phần các societas, chúng vẫn là một hình thức còn non trẻ, là những nhóm tập hợp các cá nhân, hợp đồng thu thuế của

họ đều ngắn hạn Sự giàu có vẫn tập trung trong nông nghiệp và bất động sản

Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ thì Hồi giáo với thế giới Ả Rập nổi lên và phát triển Tiếp theo sau đó là Trung Quốc Tuy nhiên tại những nơi này người ta đã không thiết lập được những tổ chức giống như công ty nên đã không phát triển lên hơn được

mà trái lại tàn lụi dần

Trong thời Trung cổ, có hai tổ chức do người La Mã để lại đã được phục hồi; ấy

là đế quốc của các thương gia tại Ý và công ty cùng các guild (phường hội) được chính quyền cấp phép tại miền bắc Châu Âu

Tại Ý, từ thế kỷ thứ IX trở đi, các công ty hàng hải xuất hiện ở Almafi và Venise Lúc đầu họ làm theo mô hình của người Hồi giáo sau đó chuyển về lối cũ để gom vốn

và trông nom việc buôn bán bằng thuyền theo từng chuyến, mỗi chuyến kéo dài vài tháng Sự sắp xếp theo cách này rất hấp dẫn đối với những người có tiền ngồi ở nhà

Họ có thể phân tán rủi ro ra nhiều chuyến hàng và tránh được sự truân chuyên khi đi

2

Nguyễn Ngọc Bích-Nguyễn Đình Cung, Công ty vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005,NXB Tri Thức năm 2009, trang 32-38

Trang 15

biển Sự hùn hạp dần dần trở nên phức tạp hơn, việc tài trợ được tăng lên và trải ra cho nhiều chuyến, lại có thêm cả người nước ngoài tham gia và cơ cấu về quyền sở hữu cũng được thiết lập Chẳng hạn các thương gia ở Venise lập ra tổ hợp (consortium) thuê tàu của chính quyền để vận chuyển hàng hóa Chi phí cho mỗi chuyến đi được thu góp bằng cách phát hành 24 phần hùn cho các người cộng tác

Vào thế kỷ XII một hình thức tổ chức hơi khác với loại trên một chút xuất hiện ở Florence và tại một số thị trấn xa bờ biển Đó là compagnia Tổ chức này vào lúc đầu

có tính cách gia đình và hoạt động trên căn bản chịu trách nhiệm liên đới, những người cộng tác chịu trách nhiệm chung nhau về giá trị của món hàng họ nắm giữ Danh từ

campagnia có gốc Latinh là cum và pania, nghĩa là cùng nhau bẻ chiếc bánh

Giống như tổ chức của Venise, compagnia cũng từ từ trở nên tinh vi để thu hút những người ngoài gia đình Có lẽ ngay từ năm 1340 các tổ chức này đã áp dụng chế

độ kế toán kép để giữ cho các văn phòng của họ ở nước ngoài hoạt động trung thực Một thương gia ở Genoa sẽ ghi vào sổ sách của mình “đã thanh toán” cho số tiền gửi cho văn phòng của mình ở Bruges; còn nơi sau sẽ ghi “đã nhận” Hơn nữa, thay vì gửi tiền kim loại các thương gia lớn bắt đầu tin nhau và dùng thương phiếu Thực sự, compagnia đã liên kết chặt chẽ với banchi tức là ngân hàng (banchi là cái ghế dài mà những người Ý cho vay tiền ngồi, sau này “cái ghế” trở thành “ngân hàng”), và ngân hàng Ý là bậc thầy về sử dụng thương phiếu

Ở miền bắc châu Âu, các thương gia cũng bắt chước các hình thức kinh doanh mà người Ý đã đi tiên phong Có doanh nghiệp ở vùng Ravensberg bên Đức tập họp ba gia đình thành công ty rồi lập ra các chi nhánh ở Barcelone, Genoa và Paris Các hoạt động này đã dễ dàng phát triển vì có luật pháp hỗ trợ

Từ đầu thời Trung cổ, các luật gia đã từ từ mở rộng luật La Mã và luật của giáo hội Thiên chúa giáo để nhìn nhận sự tồn tại của “pháp nhân”, vốn là một hội của những người không ràng buộc nhau chặt chẽ lắm và muốn được đối xử như một tập thể Các “pháp nhân” này bao gồm cả các thị trấn, tổ chức tôn giáo, và các guild của các thương gia lớn cũng như của người buôn bán nhỏ Những hội đoàn kiểu này đầy dẫy trong xã hội thời đó Chúng thực hiện những sự trao đổi tài sản để dùng làm vật bảo đảm và cung cấp học bổng là những việc mà cá nhân bị cấm làm Chúng còn là phương tiện để chuyển giao các truyền thống và sự giàu có của thế hệ trước cho thế hệ sau Tính bất tử của pháp nhân đã làm cho các vương triều lo ngại Pháp nhân làm cho các lợi lộc mà cá nhân thu thập được trong thời phong kiến được luồng lách ra khỏi các quy định hiện hành vì pháp nhân không bao giờ già, không bao giờ chết và cũng không bao giờ kết hôn với ai Vua Edward I của Anh đã phải ban hành luật để giới hạn

số đất đai được chuyển cho các pháp nhân, nhất là cho giáo hội

Trang 16

Tuy vậy, không có biện pháp nào của nhà vua có thể ngăn chặn được sự bành trướng của pháp nhân Trong gần suốt thời Trung cổ, các guild là hình thức cơ bản của các tổ chức kinh doanh Một guild được phép độc quyền kinh doanh trong phạm vi của một thị trấn và họ phải đóng góp một số tiền đáng kể cho chính quyền địa phương Người lãnh đạo guild đề ra tiêu chuẩn chất lượng, huấn luyện nhân sự, cử công chứng viên và những người môi giới, trông coi việc từ thiện, xây cất các trung tâm trưng bày

và ấn định hình phạt Họ giống các nghiệp đoàn bảo vệ hội viên của mình nhiều hơn là một tổ chức thúc đẩy các sáng kiến kinh doanh

Các guild liên kết với các “công ty được cấp phép” Công ty này là một hội của các thương gia độc lập được chính quyền ban cho độc quyền kinh doanh tại một thị trường nước ngoài nào đó Các công ty được cấp phép có cách quản lý nội bộ giống như các guild Thỉnh thoảng họ cũng kết hợp thành một tổ hợp (consortia) để tạo sức mạnh mặc cả về giá chuyên chở hoặc giá nguyên liệu Ở Anh năm 1248 có một công

ty loại này tên là Staple of London Nó được nhà vua cho phép kiểm soát việc xuất khẩu dạ; đến năm 1357 được cho quyền thu thuế quan về xuất khẩu dạ, bù lại công ty tài trợ cho vua Edward III trong cuộc chiến tranh với Pháp Chính quyền dành cho công ty được cấp phép một số đặc quyền và sự bảo đảm về an ninh để nó phát triển giống như ngày nay các chính phủ dành cho các công ty lớn về các hợp đồng về quốc phòng vậy

Đến thế kỷ 16 và 17 đã có nhiều công ty được cấp phép xuất hiện và mang tên của các lãnh thổ mà chúng được độc quyền mua bán Các công ty được cấp phép là một nổ lực phối hợp giữa chính quyền và các thương gia để chinh phục những vùng đất mới mà Columbus, Magellan và Vasco De Gama đã khám phá và chúng xuất phát

từ vài nước chính như Anh, Pháp, Hà Lan Những công ty ấy đã may mắn được các vua dành cho độc quyền mua bán với các vùng này vùng nọ trên thế giới và có khi họ phải đánh nhau khi kinh doanh như trường hợp của hai công ty East India của Anh và công ty cùng tên của Hà Lan ở Indonesia

Các công ty được cấp phép rút ra hai ý tưởng của thời Trung cổ là bán cổ phiếu trên thị trường tự do và tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các hội viên Vì vậy họ cũng được gọi là công ty được cấp phép Chuyện doanh nghiệp bán cổ phiếu để gom vốn đã có từ thế kỷ 13 Khắp châu Âu người ta đã từng bán cổ phiếu của các doanh nghiệp khai mỏ và đóng tàu; tuy nhiên các công ty được cấp phép đã đẩy việc bán cổ phần lên tột đỉnh Việc cho người đầu tư hưởng một trách nhiệm hữu hạn là quan trọng

vì quá trình xâm chiếm thuộc địa chứa đầy rủi ro mà không cho người ta hưởng như thế thì không thể thu hút họ bỏ vốn Người đầu tư phải được bảo vệ

Các công ty được cấp phép đã phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa thực dân Âu châu Lịch sử cận kim nhắc đến công ty East India Company của Anh Nó được thành lập

Trang 17

ngày 31/10/1600 bởi một nhóm có 218 người, và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở Á châu, Phi châu và

Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng và eo biển Magellan Sau ngày được cấp phép công ty ấy đã cử một đoàn tàu gồm 5 chiếc lên đường Nó đã chinh phục Ấn Độ, trở thành một trong những đế quốc và chỉ giải thể ngày 1/6/1874 khi giấy phép lần sau cùng không được gia hạn

Việc các công ty bán cổ phần trên thị trường đã tạo ra những sự lũng đoạn thi trường, cơn sốt giá và phá sản do các tay đầu cơ gây ra Có hai vụ đáng kể, một là vụ của công ty Mississippi Company ở Pháp năm 1720 và South Sea Company ở Anh cùng năm Sau vụ này Quốc Hội Anh đã ra luật hạn chế việc thành lập công ty cổ phần, đưa ra nhiều điều kiện để được thành lập, bị buộc phải xin phép và thời hạn hoạt động chỉ từ 20 – 50 năm Một mặt khác các công ty được cấp phép chỉ dành riêng cho lĩnh vực kinh doanh quốc tế, còn những ngành hoạt động khác ở Anh vào lúc đó thì người ta vẫn sử dụng hình thức hùn hạp, chịu trách nhiệm liên đới Hai lĩnh vực hoạt động đáng kể nhất là buôn bán nô lệ và sản xuất các mặt hàng công nghiệp.Hình thức này tuy có những bất tiện về trách nhiệm, về giải thể khi có một thành viên chết, nhưng nó bảo đảm cho chủ nhân sáng lập kiểm soát được việc kinh doanh trọn vẹn nên vẫn được ưa dùng Do thực tế này và cũng vì những biến cố đã nêu nên việc thành lập công ty cổ phần ở Anh giảm và được doanh nhân chuyển sang Mỹ

Ở Mỹ, công ty cổ phần phát triển rất mạnh Lúc đầu là vì phải xây dựng đường xe lửa, sau này là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên lãnh thổ bao la của Mỹ Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty làm đường ray xe lửa mà thị trường chứng khoán ở New York đã phát triển Năm 1811, bang New York ban bố luật về tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về New York và tính hạn hữu kia trở thành phổ biến vì bang nào không dùng đến nó là không thu hút được vốn

Từ sự phát triển kinh tế của Mỹ các nước ở Âu châu thấy phải đuổi theo và họ giảm bớt sự kiểm soát đối với công ty Ở Pháp ngoài công ty nặc danh phải có phép của chính quyền khi thành lập thì họ lập ra loại hình societe en commandite par actions (hợp hội tư cổ phần) cho phép những người không tham gia vào việc quản lý cơ sở được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn

Ở Anh chính quyền cũng từ từ nới lỏng luật lệ dành cho công ty Năm 1825, ngoài những luật khác, họ bỏ luật hạn chế công ty cổ phần đã ra năm 1720 Từ năm

1830 đường sắt được lập giữa nhiều địa phương, nhiều công ty ra đời; họ bán cổ phần trên thị trường; và để cho hấp dẫn họ bán cổ phiếu ưu đãi, nhưng không ở London mà

ở các tỉnh khác Ngoài ra các công ty điện tín, viễn thông cũng phát triển Các sự kiện này thúc đẩy Quốc hội Anh phải ra luật để đưa công ty cổ phần vào trật tự Luật về

Trang 18

công ty cổ phần được ban hành năm 1844 Theo đó các công ty muốn thành lập không phải xin phép mà chỉ cần đăng ký Tuy nhiên luật này không cho công ty được hưởng tính trách nhiệm hữu hạn Sự hạn chế này phản ánh sự nghi ngờ của dư luận về công ty

cổ phần lúc đó Tuy nhiên vào những năm 1850 có hơn 40 công ty của Anh sang nước Pháp để lập dù chi phí thành lập rất cao Chính phủ Anh sợ mất doanh nghiệp nên năm

1855 ra luật về tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty đã được thành lập theo luật về công ty cổ phần Cuối cùng cả hai luật kia được sáp nhập thành một năm 1862 Vào lúc ấy, nước Anh là bá chủ về hàng hải và là một cường quốc trên thế giới Luật công ty của Mỹ cũng chịu ảnh hưởng của Anh do nguồn gốc hình thành nước

Mỹ Các nước trong khối thịnh vượng chung ngày nay có luật công ty giống nước Anh

Riêng Pháp và Đức đi theo con đường khác do khác biệt về văn hóa Công ty của Đức bị luật quy định chặt chẽ và không uyển chuyển như công ty của Anh và Mỹ Ở Pháp, năm 1807 bộ luật Napoleon thiết lập một nền tảng cho công ty bằng cách cho lập hội hợp tư cổ phần và đến năm 1863, thì luật công ty trách nhiệm hữu hạn ra đời Như lịch sử đã cho thấy công ty cổ phần là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động được nhiều vốn nhất cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển

1.1.3.2 Lịch sử hình thành công ty cổ phần ở Việt Nam

Công ty cổ phần ở Việt Nam ra đời tương đối muộn so với các nước phát triển trên thế giới Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: chiến tranh kéo dài và liên tục, hậu quả để lại qua nặng nề, trình độ dân trí còn thấp nên chưa bắt kịp trình độ khoa học kỹ thuật của thế giới…Vì thế, pháp luật điều chỉnh cũng muộn hơn so với hoạt động thương mại

Vào thời kỳ pháp thuộc, Luật thương mại của Pháp được áp dụng ở Việt Nam.Luật về công ty lần đầu tiên được quy định trong “dân luật thi hành tại các Tòa

án Bắc kỳ” khoảng năm 1931, trong đó nói về “Hội buôn” Đạo luật này chia hội buôn lúc bấy giờ thành hai loại: hội người và hội vốn

+ Hội người được chia thành:

 Hội hợp danh (công ty hợp danh);

 Hội hợp tư (công ty hợp vốn đơn giản);

 Hội đồng lợi (công ty hợp danh)

+ Hội vốn được chia thành:

 Hội vô danh (công ty cổ phần)

 Hội hợp cổ (công ty hợp vốn đơn giản cổ phần)

Sau cách mạng tháng Tám và chín năm kháng chiến chống thực dân pháp, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh xóa bỏ mọi hạn chế của chế độ thực dân Pháp đối với các thủ

Trang 19

tục đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam Chính phủ cũng đồng ý để các công ty ngoại quốc tiếp tục tiến hành các hoạt động kinh doanh như trước Đây là lần đầu tiên Việt Nam xuất hiện loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Thời kỳ này, các chủ doanh nghiệp cũng đóng góp nhiều công sức và tài sản cho cuộc kháng chiến Điểm khác biệt lớn nhất trong thời kỳ này là các loại hình doanh nghiệp

từ chỗ chịu sự điều chỉnh của luật Pháp sang chịu sự điều chỉnh của luật nước Việt Nam

Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền, dẫn đến có hai thệ thống pháp luật khác nhau Ở miền Bắc bắt đầu xây dựng nền kinh tế kế hoạch tập trung với hai thành phần kinh tế khác nhau là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, do đó không có công ty tồn tại và không có luật công ty Ở miền Nam lúc bấy giờ cung đang diễn ra cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên cũng chưa có luật công ty cụ thể

Sau năm 1975 đất nước được hoàn toàn thống nhất, các doanh nghiệp có nguồn gốc sở hữu ngoài nhà nước và tập thể không được phép tồn tại, chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh và các cơ sở sản xuất sở hữu tập thể và hợp tác xã được phép hoạt động Tính đến năm 1986, ở Việt Nam có khoảng 10.000 doanh nghiệp quốc doanh, một con số rất nhỏ so với 65 triệu dân3

Năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng ta quyết định xây dựng đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

có sự quản lý của nhà nước Xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, có thể nói rằng bước phát triển này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền kinh tế nói chung

và các doanh nghiệp nói riêng Ngày 21/12/1990, Quốc hội nước ta đã thông qua luật công ty và doanh nghiệp tư nhân… Đã góp phần đáng kể vào việc đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước Tuy nhiên trong qua trình thực hiện thì Luật công ty năm

1990 đã bộc lộ nhiều thiếu sót, hạn chế và không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước Để khắc phục và hạn chế những thiếu sót đó ngày 12/6/1999 Quốc hội đã thông qua luật Luật doanh nghiệp năm 1999 và ngày 29/11/2005 Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp 2005 Đây là những văn bản có ý nghĩa rất lớn đến việc điều chỉnh và tác động đến quá trình phát triển của công ty cổ phần ở Việt Nam

1.1 Cổ phần (cổ phiếu), trái phiếu trong công ty cổ phần

Theo Luật Doanh nghiệp, công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán trong công chúng: đó là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… Các chứng khoán này còn được gọi là các “giấy tờ có giá” bởi vì đó là những chứng chỉ có giá trị như

3

Lê Minh Toàn, Những điều cần biết về luật doanh nghiệp, NXB chính trị quốc gia,năm 2003,trang 46

Trang 20

động sản; đặc tính của nó là có thể chuyển nhượng một cách dễ dàng bằng cách trao tay hay bằng chuyển khoản4

1.2.1.1 Đặc tính của cổ phần5

Mệnh giá cổ phần được ghi trong Điều lệ và là một phần của vốn điều lệ Nếu vốn điều lệ là 1.000.000.000đ chia làm 10.000 cổ phần thì mệnh giá cổ phần là 100.000đ Nhưng công ty có thể có những cổ phần với mệnh giá khác, ví dụ như trường hợp tăng vốn Luật Doanh nghiệp không ấn định mệnh giá tối thiểu của cổ phần, tuy nhiên công ty không được phát hành cổ phiếu không có mệnh giá Có khi công ty muốn giảm bớt số lượng cổ phiếu trên thi trường bằng cách gom các cổ phần lại, do đó mệnh giá cổ phiếu sẽ tăng lên: nếu gom các cổ phần 10.000đ thành cổ phần 50.000đ thì một cổ phần mới bằng năm cổ phần cũ; cổ đông có 20 cổ phần cũ sẽ nhận được 4 cổ phần mới Cổ đông nào không đủ năm cổ phần cũ để được nhận nhận trọn một cổ phần mới thì phải mua thêm hoặc bán đi

Mệnh giá của cổ phiếu khác với giá trị thực tại của cổ phiếu Giá thực tại của cổ phiếu là tổng số tích sản thuần (tích sản gộp trừ đi tiêu sản) chia cho tổng số cổ phần của công ty Nếu công ty có lập quỹ dự trữ thì giá trị thực tại sẽ cao hơn mệnh giá; nhưng nếu công ty chịu lỗ thì mệnh giá sẽ lớn hơn Nếu công ty có vốn điều lệ là 1.000.000.000đ chia thành 10.000 cổ phần, và một tích sản là 2.400.000.000đ:

Cổ phiếu tượng trưng cho một phần vốn điều lệ không thể bị phân chia, đó là nguyên tắc tính bất khả phân của cổ phần Trường hợp cổ phần thuộc quyền sở hữu không phân chia của nhiều người, nguyên tắc bất khả phân của cổ phiếu đối với công

ty đưa đến hậu quả là mọi quyền lợi liên quan đến cổ phần phải được hành xử theo

Trang 21

nguyên tắc nhất trí Do đó, các đồng sở hữu chủ cổ phần không phân chia sẽ được một người trong số họ thay mặt trong Đại hội đồng Tuy nhiên, các đồng sở hữu chủ đều có

tư cách là thành viên công ty và họ phải được triệu tập để tham dự Đại hội đồng nếu là thành phần ký danh

Một vấn đề đặc ra là: công ty có thể tự do mua lại cổ phần của chính mình hay không? Điều này rất có lợi cho công ty: công ty có thể nâng giá cổ phiếu của mình bằng cách mua vào hoặc làm giảm giá bằng cách bán ra các cổ phiếu đang năm giữ Công việc đầu cơ này có thể rất tai hại cho các nhà đầu tư Ngoài ra, về pháp lý công

ty không thể trở thành cổ đông của chính mình, cũng như một người không thể vừa là chủ nợ vừa là con nợ của chính mình Do đó, nguyên tắc là công ty không thể là chủ

sở hữu các cổ phần của chính mình Nguyên tắc này có các ngoại lệ sau đây:

- Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định của Đại hội đồng về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền và nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty, có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình Công ty phải mua lại cổ phần với giá thị trường hoặc theo quy định của Điều lệ Trường hợp không thỏa thuận được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết6

- Công ty có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần loại khác đã bán7

Việc công ty mua lại cổ phần thường xảy ra khi công ty quyết định giảm vốn mặc

dù không bị lỗ, hoặc bằng hành động ấy công ty muốn điều hòa thị trường chứng khoán đối với cổ phiếu của công ty Sự can thiệp của công ty nhằm khống chế các thăng trầm quá đáng của giá thì trường và giúp công ty dễ dàng thực hiện kế hoạch gom cổ phần sau này

Tuy nhiên, để tránh xảy ra hành vi đầu cơ hoặc ít nhất cũng giới hạn rủi ro này, Luật đề ra các quy định chặt chẽ cho việc mua cổ phần:

- Việc mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán phải được Đại hội đồng quyết định Nếu dưới tỷ lệ này thì do Hội đồng quản trị quyết định

- Giá mua lại do Hội đồng quản trị quyết định Đối với cổ phần phổ thông giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại Đối với cổ phần khác nếu Điều lệ công ty không quy định hoặc công ty và bên bán không thỏa thuận, thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường

- Quyết định mua lại cổ phần phải được thông báo đến tất cả các cổ đông bằng văn thư bảo đảm

- Công ty chỉ được quyền thanh toán cho cổ đông giá cổ phần được mua lại nếu việc này không khiến công ty mất khả năng thanh toán các khoản nợ và các nghĩa vụ

Trang 22

tài sản khác của công ty8 Sự ngăn cấm này nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ của công ty: bằng biện pháp mua lại cổ phần của cổ đông công ty đang gặp khó khăn có thể tìm cách tẩu tán tài sản của công ty khỏi việc kê biên của chủ nợ

- Sau khi thanh toán hết số cổ phần mua lại, nếu tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ sách kế toán của công ty giảm hơn 10% thì công ty phải thông báo điều đó cho tất cả chủ nợ biết

1.2.1.2 Các loại cổ phần9

Người ta phân loại các loại cổ phần theo tính chất của việc góp vốn (cổ phần bằng tiền hay bằng tài sản khác), hay theo các quyền lợi dành cho chủ sở hữu (cổ phần phổ thông hay cổ phần ưu đãi)

Chủ sở hữu cổ phần được cấp một giấy chứng nhận gọi là cổ phiếu; cổ phiếu có thể là ký danh (có ghi tên chủ sở hữu) hay không ký danh (còn gọi là cổ phiếu trao tay)

Tên cổ đông được ghi trong sổ đăng ký cổ đông của công ty, mọi việc chuyển nhượng cổ phiếu phải được đăng ký vào sổ này Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng văn bản hoặc bằng cách trao tay cổ phiếu, tên của người nhận chuyển nhượng được ghi vào sổ đăng ký cổ đông Cổ phiếu là một loại giấy tờ có giá tham gia vào thị

trường chứng khoán bên cạnh trái phiếu và những giấy tờ có giá khác

Cổ phần ưu đãi dành cho các chủ sở hữu các quyền lợi mà cổ đông phổ thông không có Cổ phần ưu đãi có thể được tạo lập ngay khi thành lập công ty, nhưng thông thường thì loại cổ phần này được tạo lập nhân dịp tăng vốn công ty, đó là một biện pháp giúp cho việc tăng vốn thành công Luật Doanh nghiệp dự liệu 3 loại: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại (Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005)

- Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với

cổ phần phổ thông Chỉ có tổ chức được chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ

có hiệu lực trong ba năm kể từ ngày công ty được cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh

- Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết được quyền tham gia Đại hội đồng

cổ đông và các quyền khác như cổ đông phổ thông nhưng không được quyền chuyển nhượng cổ phần này cho người khác

- Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm Cổ tức được trả cho loại cổ phần này được ghi trên cổ phiếu và gồm hai phần: cổ tức cố định và cổ tức thưởng Theo Điều 81 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh

Trang 23

doanh của công ty, nghĩa là cổ đông vẫn được trả cổ tức dù công ty không có lãi Trong trường hợp này, việc trả cổ tức chỉ có thể thực hiện bằng cách trích từ vốn điều

lệ hoặc các quỹ dự trữ, như thế sẽ làm giảm các tài sản vốn là vật bảo đảm cho các chủ

nợ của công ty Thực ra cổ đông ưu đãi cổ tức được ưu tiên trả cổ tức dù rằng lãi của công ty không đủ để trả cổ tức cho tất cả các cổ đông khác

- Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có các quyền như cổ đông phổ thông nhưng không được tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, không có quyền

đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức do Điều lệ công ty quy định hoặc

do Đại hội đồng cổ đông quyết định

- Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần sẽ được công ty hoàn lại vốn bất cứ lúc nào theo yêu cầu của chủ sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu (Điều 83 Luật Doanh nghiệp 2005) Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại có các quyền như

cổ đông phổ thông nhưng không được quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng

cổ đông và không có quyền cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Người nắm giữ loại cổ phần này do Điều lệ công ty quy định hay do Đại hội đồng cổ đông quyết định

- Cổ phần bằng tiền và cổ phần cổ phần bằng tài sản khác

Sự phân biệt căn cứ trên bản chất của việc góp vốn Cổ phần bằng tiền khi giá cổ phần được thanh toán bằng tiền hay bằng bù trừ một khoản nợ; hoặc khi việc phát hành cổ phần là hậu quả của việc nhập vào vốn điều lệ các quỹ dự trữ và tiền lãi của công ty Ngược lại, tất cả các cổ phần khác đều là cổ phần bằng tài sản như: quyền sử dụng đất, bất động sản, hàng hóa, bằng sáng chế… Cổ phần bằng tài sản phải được chuyển nhượng một lần cho công ty, trong khi cổ phần bằng tiền có thể chỉ phải thanh toán phân nửa khi đăng ký

có thể thấp hơn lãi suất ngân hàng và công ty cũng có thể duy trì sự độc lập của mình hơn trước một số các chủ nợ tản mát thay vì một chủ nợ duy nhất là ngân hàng vốn là

10

LS Nguyễn Mạnh Bách, Quy định của pháp luật về các công ty thương mại,NXB Tổng hợp Đồng Nai năm

2006, trang 142-144

Trang 24

nhà cho vay chuyên nghiệp Ngoài ra, về phương diện thuế, tiền lãi mà công ty phải trả cho các trái phiếu được trừ vào lợi tức chịu thuế, đây là một lợi điểm quan trọng so với

cổ tức trả cho các cổ đông

Đối với người sở hữu trái phiếu họ sẽ nhận được hàng năm một khoản lãi có thể cao hơn lãi xuất ngân hàng; trong khi đó nếu là cổ đông thì chưa chắc gì năm nào cũng được chia cổ tức Mặt khác, chủ sở hữu trái phiếu chắc chắn được hoàn lại mệnh giá trái phiếu, trong khi giá cổ phiếu có thể thấp hơn mệnh giá của nó

*Nhược điểm:

Trong thời kỳ lạm phát hiện nay thì lợi ích của người mua trái phiếu chỉ là giả tạo

vì khi được hoàn vốn họ chỉ được nhận lại đúng mệnh giá của trái phiếu trong khi giá trị của tiền tệ đã giảm sút Ngoài ra, trong trường hợp lãi suất tăng, các trái phiếu cũ được phát hành với lãi suất thấp sẽ mất giá trên thị trường chứng khoán

Về phía công ty, việc phát hành trái phiếu để vay vốn không phải lúc nào cũng có lợi Một mặt, không như đối với cổ tức, công ty phải trả lãi hàng năm dù rằng bị lỗ, điều này khiến công ty sẽ phải vay để trả lãi cho khoản vay cũ, như vậy sẽ gây rất nhiều tốn kém cho công ty Mặt khác, trong giai đoạn lãi suất trên thi trường tiền tệ hạ thấp, công ty nếu không dự liệu việc trả nợ trước thời hạn có thể phải tiếp tục trả lãi cao trong khi nếu phát hành trái phiếu mới thì sẽ chỉ phải trả một lãi suất thấp hơn Theo điều 88 Luật Doanh nghiệp 2005, Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều

lệ công ty Trái phiếu thường và trái phiếu có thể chuyển đổi là hai loại trái phiếu thông dụng nhất mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét sau đây

1.1.1.1 Trái phiếu thường

Hội đồng quản trị là cơ quan có quyền quyết định về chiến lược phát triển công

ty, do đó là cơ quan quyết định việc phát hành trái phiếu, giá trái phiếu, tổng giá trị trái phiếu và thời điểm phát hành Luật Kinh doanh không quy định các điều kiện để phát hành trái phiếu cũng như tổng giá trị tối thiểu hay tối đa của trái phiếu Tuy nhiên, theo Điều 85 Luật Doanh nghiệp 2005, công ty không được quyền phát hành trái phiếu trong các trường hợp sau đây:

- Không thanh toán đủ gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành, không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ đến hạn trong ba năm liên tiếp trước đó

- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế bình quân của 3 năm liên tiếp trước đó không cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu định phát hành

Mệnh giá của trái phiếu bằng tổng giá trị khoản vay chia cho số trái phiếu được phát hành Giá phát hành có thể thấp hơn mệnh giá nếu có một khoản thưởng phát hành Để thu hút người mua công ty có thể phát hành trái phiếu dưới giá: trái phiếu mệnh giá 1000 được bán với giá 990 Chênh lệch 10 gọi là thưởng phát hành, bù lại thì

Trang 25

lãi suất loại trái phiếu thường thấp hơn Trên nguyên tắc công ty chỉ phải hoàn trả cho chủ sở hữu trái phiếu một số tiền bằng với mệnh giá cổ phiếu Nhưng trong thời kỳ lạm phát kết quả này rất tai hại cho người mua trái phiếu; do đó để giảm thiểu rủi ro này và trấn an dân chúng, công ty có thể phát hành trái phiếu có thưởng: bán theo mệnh giá nhưng được hoàn trả trên mệnh giá Trái phiếu mệnh giá 1.000, giao bán 1.000, nhưng sẽ được hoàn trả 1.100 (thưởng lúc hoàn trả)

Tại các quốc gia có thị trường tiền tệ phát triển, con số trái phiếu được phát hành rất lớn, do đó luật pháp dự liệu là các chủ sở hữu trái phiếu có thể tụ họp nhau lại thành từng nhóm tổ chức, có người đại diện để bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của họ Chi phí hoạt động của các nhóm do công ty phát hành trái phiếu gánh chịu Tại Việt Nam vấn đề này chưa được luật quy định11

1.1.1.2 Trái phiếu chuyển đổi

Trong khi chủ sở hữu trái phiếu thường chỉ được quyền nhận một khoản tiền lãi hàng năm và được hoàn vốn khi đến hạn, thì chủ sở hữu trái phiếu chuyển đổi có nhiều

sự lựa chọn hơn Chủ sở hữu có quyền lựa chọn trở thành cổ đông của công ty khi kết quả kinh doanh của công ty có khấm khá Trong trường hợp này chủ sở hữu trái phiếu

sẽ yêu cầu chuyển trái phiếu thành cổ phiếu hoặc đổi trái phiếu lấy cổ phiếu

Vấn đề đặt ra ở đây là: việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu đương nhiên dẫn đến công ty phải tăng thêm cổ phần và do đó tăng vốn điều lệ Vấn đề này không thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị mà của Đại hội đồng cổ đông Ngoài ra nếu

có cổ phần mới thì các cổ đông trên nguyên tắc phải được quyền ưu tiên mua Như vậy

để giải quyết khó khăn này, việc phát hành trái phiếu chuyển đổi phải do một quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong đó ghi rõ là quyền ưu tiên mua cổ phần mới của các cổ đông không áp dụng trong trường hợp này

Ngoài hình thức trái phiếu chuyển đổi công ty có thể phát hành trái phiếu phổ thông kèm theo phiếu đăng ký mua cổ phần Loại trái phiếu này khác với trái phiếu chuyển đổi ở chủ sở hữu không bị bắt buộc lựa chọn hoặc giữ trái phiếu hoặc đổi lấy

cổ phiếu Thực vậy phiếu đăng ký mua cổ phần có thể tách riêng khỏi trái phiếu và có thể giao dịch riêng rẽ với trái phiếu Do đó, chủ sở hữu có quyền lựa chọn rộng rãi hơn giữa bốn giải pháp:

- Giữ trái phiếu và bán phiếu đăng ký

- Bán trái phiếu và giữ phiếu đăng ký để chờ đợi cổ phần công ty tăng giá

- Giữ cả trái phiếu lẫn phiếu đăng ký

Trang 26

1.3 Cổ đông trong công ty cổ phần

để chứng thực quyền sở hữu cổ phần của cổ đông đó trong công ty

Tóm lại, cổ đông có thể là cá nhân hay tổ chức sở hữu một hoặc nhiều cổ phần trong công ty cổ phần, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần đang sở hữu , được chứng nhận bằng cổ phiếu của công ty cổ phần và phải đảm bảo đủ các thông tin được quy định trong sổ đăng ký cổ đông

1.3.2 Đặc diểm của cổ đông trong công ty cổ phần

Thứ hai, đối tượng được quyền góp vốn vào công ty cổ phần Đối tượng được góp vốn vào công ty cổ phần tương đối rộng có thể bao gồm cả những người bị pháp luật cấm không được thành lập và quản lý doanh nghiệp như sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân Việt Nam, cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác…

1.3.3 Các loại cổ đông trong công ty cổ phần

Cổ đông của công ty cổ phần có thể là tổ chức hay cá nhân trong nước hay cũng

có thể là nước ngoài

Cổ đông gồm tất cả những người đã góp vốn dưới hình thức cổ phiếu Số người tối thiểu phải có để thành lập công ty là ba Số tối đa không hạn chế Khi công ty phát hành chứng khoán thì số cổ đông có thể lên đến hàng ngàn người ở rải rác khắp nơi

Trang 27

trong nước và có thể cả ngoài nước Cổ đông có thể mua cổ phần phổ thông hay cổ phần ưu đãi các loại, và quyền lợi của họ tùy thuộc vào mỗi loại cổ phiếu đã mua

Vì sẽ có người góp nhiều, kẻ góp ít nên căn cứ vào số vốn góp sẽ có cổ đông nhiều vốn, cổ đông ít vốn Hơn nữa, do chế độ quản lý tập trung nên các quyết định của công ty được lập theo nguyên tắc đa số Từ đó, cổ đông có vốn lớn dễ trở thành cổ đông đa số; còn những người ít vốn trở thành cổ đông thiểu số Thiểu số thì thường dễ

bị thua nên vấn đề cổ đông ít vốn được đặt ra và pháp luật bảo vệ họ

Trong công ty có phát hành chứng khoán trên thị trường thì cổ đông thường có hai loại: cá nhân và tổ chức Loại sau còn được gọi là các cổ đông định chế Các cổ đông định chế nắm nhiều cổ phần trong công ty nên họ là cổ đông có vốn lớn13

1.4 Các cách xác lập, chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần

1.4.1 Xác lập tư cách cổ đông trong công ty cổ phần

Xác lập tư cách cổ đông sáng lập

Thứ nhất, tại khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp thì “cổ đông sáng lập là người

góp vốn cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào Bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần Nhưng trước hết, một cá nhân hay tổ chức muốn trở thành cổ đông sáng lập của công ty cổ phần phải bảo đảm quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, quyền mua cổ phần được quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp

Về số vốn phải góp, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần

đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp Gấy chứng nhận đăng ký kinh doanh14

Thứ hai, trong 3 năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký

kinh doanh, cá nhân, tổ chức cũng có thể trở thành cổ đông sáng lập thông qua hình thức phần vốn góp của cổ đông sáng lập khác Tuy nhiên, việc chuyển nhượng phải thỏa mãn các điều kiện về thành lập, góp vốn và quản lý công ty cổ phần và việc chuyển nhượng phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông

Thứ ba, tư cách cổ đông sáng lập cũng có thể được xác lập trên cơ sở thừa kế cổ

phần mà cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần đang nắm giữ Tuy Luật Doanh nghiệp chưa có một một quy định nào đề cập cụ thể đến vấn đề này nhưng căn cứ theo các quy định về thừa kế tại Bộ luật Dân sự 2005 thì cổ phiếu cũng là một dạng tài sản của cổ đông nên nó cũng sẽ được thừa kế khi cổ đông chết

Xác lập tư cách cổ đông thường

Công ty cổ phần là hình thức công ty huy động vốn trên quy mô lớn và hiệu quả nhất Việc đa dạng hóa các loại cổ phần trong công ty là một lợi thế của công ty trong

Trang 28

việc thu hút vốn đầu tư Điều này lý giải vì sao trong công ty cổ phần có nhiều loại cổ đông khác nhau Pháp luật của ta quy định những đối tượng có quyền góp vốn rộng hơn so với đối tượng thành lập và quản lý công ty cổ phần

Cổ đông phổ thông hình thành nếu một cá nhân hay tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần Theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì trong công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông và người sở hữu cổ phần này gọi là cổ đông phổ thông Bên cạnh cổ phần phổ thông còn có cổ phần ưu đãi loại

cổ phần này không bắt buộc phải có trong công ty cổ phần, người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi

Xác lập tư cách cổ đông từ trái phiếu chuyển đổi

Trái phiếu chuyển đổi được coi là “ chứng khoán lai căng”, vừa là nợ cho vay vừa là vốn bỏ ra của người sở hữu Với tính chất ấy, nó là một phương tiện hấp dẫn và hữu hiệu để công ty huy động vốn Như là một loại chứng khoán nợ, trái phiếu chuyển đổi cho người cầm nó được ưu tiên lấy lãi và tài sản của công ty trước các cổ đông phổ thông Nếu giá của cổ phiếu phổ thông tăng trên thị trường, người sở hữu có thể chọn cách chuyển nó sang cổ phiếu, lúc đó nó thành vốn góp Như thế là họ sẽ có cơ hội hưởng lợi khi giá chứng khoán lên cao, mà vẫn có một sự an toàn nào đó của một người chủ nợ

Trái phiếu chuyển đổi sẽ cho người nắm nó được đổi lấy cổ phiếu phổ thông theo một giá đã định sẵn Công ty ghi giá chuyển đổi trong hợp đồng vay nợ Giá này là giá của cổ phần phổ thông mà ở mức đó trái phiếu sẽ được đổi Giá cũng được định ở một mức mà người nắm sẽ không có lợi về tiền bạc nếu họ đổi khi giá cổ phiếu chưa lên đến tỉ lệ chuyển đổi, thí dụ như hợp đồng quy định trái phiếu có mệnh giá 1000$ sẽ được chuyển đổi khi cổ phiếu phổ thông ở giá 40$ Như vậy trái phiếu kia sẽ đổi được

Xác lập tư cách cổ đông thông qua các hành vi giao dịch khác

Ngoài các cách trên tư cách cổ đông còn được xác lập thông qua các hành vi giao dịch dân sự khác như: mua bán, tặng cho, thừa kế, trao đổi, cầm cố, chia tài sản khi ly hôn…

Trang 29

Các giao dịch này phải hội đủ các điều kiện về thành lập, quản lý, góp vốn, mua

cổ phần theo quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp và Điều 10, Điều 11 Nghị định

139 Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông15, thông tin sở hữu cổ phần của các chủ thể này được xác nhận trong sổ cổ đông, trường hợp cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên phải được đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày có được tỷ lệ sở hữu đó Sau khi trở thành cổ đông của công ty cổ phần thì được kế thừa quyền và nghĩa vụ tài sản, nhân thân tương ứng với số cổ phiếu đang nắm giữ theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty

1.4.2 Chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần

Luật không dự liệu những trường hợp nào thì chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần nhưng căn cứ vào Điều 80 Luật Doanh nghiệp, chúng ta có thể suy ra

tư cách cổ đông có thể bị chấm dứt nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như: không thanh toán đủ số tiền mua cổ phần như đã cam kết; khi công ty giảm số vốn bằng cách giảm số cổ phần, cổ đông nào không có đủ số cổ phần cũ tối thiểu để đổi lấy một cổ phần mới mà không chịu đóng góp thêm Riêng đối với cổ đông sáng lập, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 84 Luật Doanh nghiệp “ trường hợp có cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì số cổ phần chưa góp đủ đó của

cổ đông sáng lập sẽ huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ

số cổ phần đó; người nhận vốn góp đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập Trong trường hợp này, cổ đông sáng lập chưa góp đủ số cổ phần theo đăng ký đương nhiên không còn là cổ đông của công ty”

Tư cách cổ đông còn có thể chấm dứt theo ý chí của cổ đông trong một số trường hợp chấm dứt quyền sở hữu như: tặng cho, thừa kế, chuyển nhượng, trao đổi, cầm cố…Trường hợp cổ phần được tặng cho, chuyển nhượng, trao đổi, cầm cố…: giao dịch đó phải thỏa mãn các điều kiện của một chủ thể có quyền đối với cổ phần mà họ nắm giữ, tư cách cổ đông sẽ chấm dứt trong số cổ phần mà họ đã thực hiện giao dịch Nếu cổ đông không may qua đời, cổ phần của họ sẽ được chia thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc, tư cách cổ đông của họ cũng đồng thời chấm dứt

Chấm dứt tư cách cổ đông trong một số trường hợp khách quan như: chuyển đổi công ty, giải thể công ty, phá sản…Công ty cổ phần về nguyên tắc có thể chuyển đổi thành một công ty dưới hình thức khác theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, công ty cũng bắt buộc phải chuyển đổi khi số cổ đông dưới mức tối thiểu theo luật

15

Khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005

Trang 30

định Công ty được chuyển đổi sẽ chấm sự tồn tại, cổ đông cũng vì thế mà chấm dứt tư cách trong công ty đó Trong trường hợp công ty cổ phần giải thể hoặc phá sản, sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí theo quy định của pháp luật Cổ đông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty và

tư cách cổ đông cũng đồng thời chấm dứt

1.5 Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế

Công ty cổ phần là một hình thức doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường , có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện kinh tế thị trường Thể hiện:

Do quan hệ sở hữu trong công ty cổ phần là thuộc về các cổ đông nên quy mô sản xuất có khả năng được mở rộng to lớn và nhanh chóng, mà không cá nhân riêng lẻ nào

có thể thực hiện được Kiểu tích tụ dựa vào cá nhân riêng lẻ diển ra vô cùng chậm chạp, còn tập trung tích tụ theo kiểu công ty cổ phần bằng cách thu hút được các nguồn vốn của đông đảo các nhà đầu tư và tiết kiệm của quảng đại quần chúng, lại cho phép tăng quy mô rất nhanh Mác đánh giá vai trò của công ty cổ phần: “Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích lũy làm cho một nhà tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương việc xây dựng đường sắt thì có lẻ đến ngày nay thế giới này vẫn chưa có đường sắt Ngược lại, qua công ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện việc đó trong nháy mắt ”

Vốn huy động dưới hình thức công ty cổ phần, khác với vốn cho vay trên cơ sở tín dụng bởi vì nó không cho vay hưởng lãi mà là kiểu đầu tư chịu mạo hiểm và rủi ro Cho nên các công ty cổ phần có thể tồn tại được ngay cả trong trường hợp chúng chỉ đem lại lợi tức (lợi nhuận của công ty cổ phần mang hình thái lợi tức)

Công ty cổ phần có thời gian tồn tại là vô hạn (nếu không có quy định thời hạn hoạt động và loại trừ trường hợp bị phá sản) và vốn góp cổ phần có sự độc lập nhất định đối với các cổ đông Người bỏ tiền ra mua cổ phiếu của công ty cổ phần không có quyền rút vốn mà chỉ có quyền sở hữu cổ phiếu Các cổ phiếu có thể được tự do mua bán trên thị trường và được quyền thừa kế Vì vậy khác với các loại hình công ty khác, vốn cổ phiếu đã được góp tồn tại với quá trình “sống” của công ty, còn chủ sở hữu có thể thay đổi Sự tồn tại của công ty cổ phần không bị ảnh hưởng bởi các cổ đông chết hay tù tội

Trong công ty cổ phần, chức năng của vốn tách rời quyền sở hữu của nó cho phép

sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp Giám đốc kinh doanh trở thành một nghề, không cần phải mang chức vụ hành chính công ty cổ phần có thể thuê giám đốc trên

cơ sở hợp đồng quản trị (đại diện chủ sở hữu)

Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù: chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của công ty là san sẻ rủi ro cho các chủ nợ

Trang 31

khi công ty bị phá sản Vốn tự có của công ty huy động thông qua phát hành cổ phiếu

là vốn của nhiều cổ đông khác nhau, do đó san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông Chính vì cách thức huy động vốn của công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu của các công ty ở nhiều nghành khác nhau để giảm bớt tổn thất khi bị phá sản so với việc đầu tư tài chính vào một hay một số công

ty của cùng một nghành16

Việc ra đời của các công ty cổ phần với việc phát hành các loại chứng khoán và cùng với việc chuyển nhượng, mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời của thị trường chứng khoán:

Thị trường chứng khoán ra đời lại là nơi để cho các nhà kinh doanh có thể tìm được các nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh; là nơi khai thông các nguồn tiết kiệm của những người tích lũy đến các nhà đầu tư; là cơ chế phân bổ các nguồn đầu tư theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường; và là cơ sở quan trọng để Nhà nước thông qua đó để thể hiện những chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu lựa chọn Thiếu thị trường chứng khoán không có nền kinh tế thị trường phát triển Song sự ra đời của thị trường chứng khoán không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, mà là kết quả của sự phát triển chung về kinh tế xã hội, trong đó sự ra đời và phát triển, hoạt động một cách hoàn hảo của các công ty cổ phần giữ vai trò quyết định

Công ty cổ phần tạo điều kiện tập hợp được nhiều lực lượng khác nhau vào hoạt động chung nhưng vẫn tôn trọng sở hữu riêng cả về quyền, trách nhiệm và các lợi ích của cổ đông theo mức vốn góp Mở rộng sự tham gia của các cổ đông trong công ty cổ phần, đặc biệt là người lao động là cách để họ tham gia vào hoạt động của công ty với

tư cách là người chủ sở hữu đích thực chứ không phải với tư cách là người làm thuê Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý

Công ty cổ phần tuy có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội, nhưng không có nghĩa là nó không có những hạn chế, chẳng hạn: công ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn đã đem lại những thuận lợi cho công ty, nhưng lại chuyển bớt rủi

ro cho các chủ nợ công ty cổ phần gồm đông đảo các cổ đông tham gia, nhưng trong

đó đa số các chủ nhân không biết nhau và nhiều người trong họ không hiểu kinh doanh, mức độ tham gia góp vốn vào công ty có sự khác nhau, do đó mức độ ảnh hưởng của các cổ đông đối với công ty không giống nhau, điều đó có thể dẫn đến việc lợi dụng và lạm dụng hoặc nảy sinh tranh chấp và phân hóa lợi ích giữa các nhóm cổ đông khác nhau Công ty cổ phần tuy có tổ chức chặt chẽ nhưng việc phân công về quyền lực và chức năng của từng bộ phận cho hoạt động của công ty có hiệu quả lại rất

16

TS Đoàn Văn Hạnh, công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Nhà xuất bản thống kê, trang 48

Trang 32

phức tạp Công ty cổ phần là tổ chức có tính dân chủ cao trong kinh tế phụ thuộc vào

tỷ lệ góp vốn, do đó quyền kiểm soát công ty trên thực tế vẫn ở trong tay các cổ đông lớn…

Việc khắc phục những hạn chế trên phụ thuộc vào trình độ phát triển chung của nền kinh tế, trình độ dân trí, trình độ điều hành quản lý của nhà nước và sự hoàn hảo của hệ thống pháp luật

Tóm lại: công ty cổ phần là hình thức tổ chức mang tính chất xã hội hóa cao, không những được thể hiện ở phương diện sở hữu mà còn thể hiện tập trung ở việc sử dụng vốn

Trang 33

CHƯƠNG 2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ

2.1 Quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông

2.1.1 Quyền của cổ đông phổ thông

2.1.1.1 Quyền tham dự và phát biểu trong các Đại Hội đồng cổ đông, biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện ủy quyền

Quyền biểu quyết là quyền cá nhân quan trọng nhất của cổ đông, quyền này cho phép cổ đông tham gia vào các quyết định của công ty, thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc tham dự và biểu quyết các vấn đề quan trọng trong công ty

Tại điểm a khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp thì, cổ đông có thể thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền, mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết Điều này có nghĩa là khi cổ đông phổ thông sở hữu càng nhiều cổ phần thì quyền biểu quyết của họ càng lớn, cổ đông nắm giữ bao nhiêu

cổ phần thì ý kiến của họ sẽ mặc nhiên có giá trị gấp bấy nhiêu lần so với một cổ phần trong công ty17

Cổ đông thực hiện các quyền của mình thông qua Đại hội đồng cổ đông họp định

kỳ hoặc bất thường, quyết định các vấn đề quan trọng như: định hướng phát triển công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát; sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; quyết định tổ chức lại, giải thể công ty…bằng cách biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, hoặc gởi ý kiến bằng văn bản để thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp Điều lệ có quy định Quyết định được thông qua theo hình thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản

có giá trị như quyết định được thông qua tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông18

Ở Mỹ, cổ đông có thể thực hiện với sự nhất trí hoàn toàn bằng văn bản mà không cần tổ chức cuộc họp Một số bang còn cho phép tham dự Đại hội đồng cổ đông bằng điện thoại truyền hình hoặc các phương tiện điện tử khác, và một số bang còn cho phép thực hiện hành động hoặc coi như hành động được thực hiện, bởi các cổ đông với

ý kiến tán thành của đa số19

Trang 34

Thực hiện quyền biểu quyết của mình, cổ đông góp phần đảm bảo cho cuộc họp Đại hội đồng cổ đông diễn ra một cách thuận tiện, tiết kiệm kinh phí cho các lần triệu tập, chuẩn bị và tổ chức cuộc họp; đảm bảo đủ tỷ lệ biểu quyết để các quyết định tại cuộc họp được thông qua, cổ đông vừa thể hiện được ý chí của mình mà công ty lại nắm bắt kịp thời các cơ hội làm ăn kinh doanh Liên quan đến vấn đề này có một số vấn đề nổi bật như: phương thức bầu dồn phiếu, tỷ lệ biểu quyết, cổ đông thực hiện quyền biểu quyết của mình như thế nào…20

Bầu dồn phiếu

Quyền biểu quyết bầu chọn thành viên Hội đồng quản trị là một trong những vấn

đề quan trọng của cổ đông Thành viên Hội đồng quản trị là những người thay mặt cho

cổ đông đưa ra phần lớn các quyết định quan trọng của công ty Vì vậy, điểm c khoản

3 Điều 104 Luật Doanh nghiệp quy định việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu vào Hội đồng quản trị và cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên21

So với Luật Doanh năm 1999 thì phương thức bầu dồn phiếu thể hiện bước tiến

bộ rõ rệt trong việc bảo vệ cổ đông nhỏ vì các cổ đông lớn luôn muốn có nhiều đại diện trong Hội đồng quản trị, họ thường chia phiếu cho nhiều người để có nhiều đại diện nhưng phương thức bầu dồn phiếu giúp các cổ đông nhỏ dồn phiếu lại với nhau,nâng cao vị thế của mình lên bằng cách chỉ dồn cho một đại diện Quy định này

có ý nghĩa vô cùng quan trọng đảm bảo cho cổ đông thiểu số có tiếng nói hiệu quả hơn, hơn thế nữa nó có ý nghĩa trong việc điều chỉnh quyền sử dụng đồng vốn và quyền kiểm soát công ty của các cổ đông chi phối, từ đó dẫn đến cải thiện hoạt động quản trị công ty Đối với công ty cổ phần, giờ đây lá phiếu của cổ đông nhỏ lẻ sẽ trở nên có giá trị hơn trước nhiều Những cổ đông nắm giữ trên 10% vốn điều lệ cũng dễ dàng vào Hội đồng quản trị mà không cần hợp tác với các chức danh quản lý trong Hội đồng quản trị, cổ đông nhà nước hay những cổ đông lớn khác Với cơ chế này thì các nhà đầu tư bên ngoài sẽ có vai trò tích cực chủ động trong việc tham gia vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát mà không còn bị phụ thuộc như trước nữa22

Luật Doanh nghiệp quy định việc bầu các thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải theo phương thức bầu dồn phiếu nhưng chưa hướng dẫn chi tiết nên trong thực tiễn áp dụng lúng túng, dẫn đến tranh chấp quyền lực khá nhiều tại các công

ty cổ phần Những khó khăn vướng mắc này đã được tháo gỡ hoàn toàn tại Điều 17 Nghị định 139 Theo quy định tại Điều này, phương thức bầu dồn phiếu được áp dụng

Trang 35

đối với tất cả các công ty cổ phần bao gồm cả các công ty niêm yết, trừ trường hợp Luật Chứng Khoán có quy định khác Trước và trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, các cổ đông có quyền lập nhóm để đề cử và dồn phiếu bầu cho người họ đề cử Số lượng ứng cử viên mà mỗi nhóm đề cử phụ thuộc vào số lượng ứng cử viên do đại hội quyết định và theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của mỗi nhóm23 Nếu Điều lệ không quy định khác hoặc Đại hội đồng cổ đông không quyết định khác thì số lượng mà các nhóm có quyền đề cử thực hiện như sau:

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 10% đến dưới 20% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được đề cử tối đa một ứng cử viên;

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 20% đến dưới 30% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được đề cử tối đa hai ứng cử viên;

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 30% đến 40% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được đề cử ba ứng cử viên;

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 40% đến dưới 50% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được quyền đề cử tối đa bốn ứng cử viên;

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 50% đến dưới 60% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được quyền đề cử tối đa năm ứng cử viên;

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 60% đến dưới 70% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được quyền đề cử tối đa sáu ứng cử viên;

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 70% đến dưới 80% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được quyền đề cử tối đa bảy ứng cử viên;

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 80% đến dưới 90% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được quyền đề cử tối đa tám ứng cử viên

Trường hợp số lượng ứng cử viên được cổ đông, nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát hoặc các cổ đông khác đề cử24

Thế nhưng, còn tồn tại một vướng mắc về điều kiện trúng cử của thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát giữa quy định của Luật Doanh nghiệp và nghị định

139 Theo nghị định thì người trúng cử thành viên Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát được xác định theo số phiếu bầu tính từ cao xuống thấp Theo quy định tại điểm a khoản c Điều 104 Luật Doanh nghiệp thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện: được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp chấp thuận, việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu

Trang 36

dồn phiếu Như vậy, xuất phát từ những quy định này thì điều kiện trúng cử của thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát có thể được hiểu theo hai cách sau:

Thứ nhất, người trúng cử thành viên Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát phải

có số phiếu bầu cao tương ứng, nhưng ít nhất phải bằng 65% tổng số cổ phần của cổ đông tham dự họp

Thứ hai, người trúng cử vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát được xác định

theo số phiếu bầu từ cao xuống thấp mà không theo tỷ lệ khống chế25

Ở Mỹ thì phương thức bầu dồn phiếu chỉ được áp dụng dễ dàng trong các công ty không phát hành chứng khoán, còn ở các công ty phát hành chứng khoán thì không khả thi vì số lượng cổ đông quá lớn Trong việc bầu chọn Ban giám đốc “ trừ khi có những quy định khác trong điều khoản thành lập công ty không thì các giám đốc được bầu chọn bằng đa số phiếu, có nghĩa là các ứng viên có số phiếu bầu lớn nhất sẽ được chọn, cho dù họ đạt được sự tán đồng từ đa số cổ phiếu có quyền tham gia bỏ phiếu hay không”26 Quy định này tương tự với quy trình bầu chọn thành viên Hội đồng quản trị tại nước ta theo cách hiểu thứ hai

Trên thực tế, tại Việt Nam các cơ quan nhà nước đã giải thích theo cách thứ nhất

Tỷ lệ biểu quyết

Công ty cổ phần có số lượng cổ đông rất lớn có khi lên đến hàng ngàn người, bất

cứ cổ đông nào dù sở hữu nhiều hay ít cổ phần thì họ đều là chủ của công ty, luật quy định quyền biểu quyết của cổ đông nhằm mục đích để cổ đông thực hiện vai trò làm chủ của mình, nhưng nếu ai cũng biểu quyết và mỗi cổ đông lại có những ý kiến khác nhau thì phải làm sao? Để giải quyết vấn đề vướng mắc này luật chỉ trao quyền biểu quyết cho cổ đông biểu quyết, Luật Doanh nghiệp đồng thời cũng đưa ra một tỷ lệ nhất định để thông qua quyết định của công ty, tỷ lệ này thể hiện sự đồng lòng, nhất trí của

cổ đông, đúng thì họ hưởng lợi, sai thì họ phải chịu trách nhiệm Những quyết định không quan trọng của doanh nghiệp thì phải đạt ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận Đối với những vấn đề quan trọng thì tỷ lệ biểu quyết là 75% Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định27

So với Luật Doanh nghiệp năm 1999, tỷ lệ biểu quyết trong các trường hợp này

đã được nâng cao, điều này đã đem lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và có nhiều

ý nghĩa cho cả cổ đông Cụ thể là:

Trang 37

Cổ đông hay nhóm cổ đông nắm giữ khoảng 20% vốn Điều lệ có quyền phủ quyết những quyết định không phù hợp với lợi ích của họ vì trên thực tế ít khi tập hợp được 100% cổ phần có quyền biểu quyết của tất cả cổ đông

Điều kiện tổ chức Đại hội cổ đông cần được chuẩn bị kỹ lưỡng, cần phải tranh thủ được nhiều sự ủng hộ của cổ đông, nhất là các cổ đông lớn

Việc tổ chức lấy ý kiến bằng văn bản phải đạt trên 75% vốn điều lệ sẽ hạn chế hình thức lấy ý kiến bằng văn bản và các vấn đề được Đại hội cổ đông quyết định, Hội đồng quản trị cần chuẩn bị kỹ lưỡng hơn những nội dung của cuộc họp

Cuối cùng, với những phương thức bầu dồn phiếu thì việc thôn tính công ty sẽ khó khăn hơn trước Người thôn tính toàn bộ doanh nghiệp thì phải nắm giữ trên 75% vốn điều lệ thì mới được toàn quyền quyết định, một khi chưa đạt tỷ lệ trên thì vẫn có thể bị nhóm cổ đông khác phủ quyết mọi quyết định về đường lối phát triển của doanh nghiệp28

Cổ đông thực hiện quyền biểu quyết của mình

Về phía cổ đông, không phải ai bỏ tiền ra mua cổ phiếu đều có hiểu biết về kinh doanh, về pháp luật Chính vì thế, không phải bất kỳ ai cũng hiểu được hết về quyền

và nghĩa vụ của mình Chính sự thiếu hiểu biết này mà nhà đầu tư thường bị thua thiệt Trong khi đó, về phía công ty, các công ty lại không tạo điều kiện hay thậm chí là cản trở cổ đông thực hiện quyền của mình Thực vậy, quyền tham dự và quyền biểu quyết

là những quyền căn bản của các cổ đông phổ thông Luật Doanh nghiệp quy dịnh mỗi

cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết Điều lệ của tất cả các công ty đều ghi nhận nhưng khi áp dụng vào thực tế, nhất là khi thông báo triệu tập Đại hội đồng cổ đông, các công ty cổ phần đều quy định cổ đông muốn tham dự Đại hội đồng cổ đông phải sở hữu số cổ phần nhất định hoặc được người khác ủy quyền số cổ phần mà công

ty quy định Lý giải cho những quy định này, một số công ty cho rằng không đủ cơ sở vật chất để đảm bảo cho tất cả các cổ đông cùng dự họp.Hiện nay luật chưa dự liệu biện pháp chế tài nào đối với Hội đồng quản trị khi cố tình cản trở quyền biểu quyết của cổ đông trong khi trên thực tế việc này vẫn thường xuyên xảy ra, cổ đông không thể thực hiện quyền biểu quyết của mình29

Về phía Luật Doanh nghiệp, ngoài các hạn chế trên thì các quy định của Luật Doanh nghiệp đôi khi chưa tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để cổ đông thực hiện quyền của mình một cách tốt nhất

Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp quy dịnh trong trường hợp triệu tập Đại hội đồng

cổ đông công ty phải gởi thông báo mời họp bằng phương thức bảo đảm đến được địa chỉ thường trú của cổ đông có quyền dự họp chậm nhất là bảy ngày trước ngày khai

Trang 38

mạc cuộc họp30 Quy định này giúp cổ đông thu xếp thời gian, công việc để nghiên cứu tài liệu về cuộc họp hoặc sắp xếp việc ủy quyền cho người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông Do đó cổ đông chỉ thực hiện được quyền của mình tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông nếu nhận được thông báo kịp thời Đôi khi quyền này bị cản trở bởi một số yếu tố:

Một là, trong quá trình gởi-nhận thông báo triệu tập gặp sự cố do lỗi bưu điện hoặc do lỗi của công ty nhưng các bên đều không có lưu lại giấy tờ để chứng minh, do vậy công ty không thể chịu trách nhiệm và quyết định cũng đã thông qua, cổ đông đương nhiên phải chịu phần thiệt

Hai là, Địa chỉ thường trú theo quy định tại khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp

là “ địa chỉ đăng ký trụ sở chính đối với tổ chức; địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc đại chỉ nơi làm việc hoặc địa chỉ khác của cá nhân mà người đó đăng ký với doanh nghiệp để làm địa chỉ liên hệ” Tuy nhiên, đối với cổ đông nước ngoài là tập đoàn kinh tế bao gồm tổ chức có tư cách pháp nhân, tập đoàn đó thực chất là cổ đông nhưng giao cho một pháp nhân độc lập của mình tham gia góp vốn Khi thông báo được gởi thì sẽ gửi về địa chỉ của pháp nhân đó chứ không phải là địa chỉ trụ sở chính của tập đoàn kinh tế nước ngoài Ở một số nước khác trên thế giới pháp luật của họ cho phép các tổ chức kinh tế được sử dụng địa chỉ khác với địa chỉ trụ sở chính để nhận thư từ, giao dịch, địa chỉ này theo tiếng Anh gọi là “care of”.Vậy tại sao luật Việt Nam không cho phép nhà đầu tư nước ngoài nhận thư thông báo tại một địa chỉ nào đó thuận tiện cho việc tiếp nhận thông tin nhanh hơn31

Thứ hai, thông qua quyền biểu quyết, Luật Doanh nghiệp đã có những quy định

đảm bảo cho cổ đông thực hiện quyền làm chủ của mình nhưng quyền của cổ đông cũng chỉ là quyền trên giấy nếu thiếu đi các tố quyền, tức là thiếu quyền viện cầu công

lý, khiếu nại ra Tòa và yêu cầu can thiệp hoặc nếu có thì cũng chỉ là những quy định chưa rõ ràng, thiếu tính thực tiễn

Điều 107 Luật Doanh nghiệp chỉ quy định đơn giản rằng cổ đông có quyền yêu cầu Tòa án hoặc trọng tài xem xét, hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty; trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty Liên quan đến quy định này, Luật của Trung Quốc, cổ đông có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các nghị quyết của Hội đồng quản trị hay Đại hội đồng cổ đông nếu vi phạm các nguyên tắc triệu tập, thông tin và biểu quyết hay có bằng chứng cho thấy cổ đông đa

số lạm dụng lợi thế của mình để chèn ép cổ đông thiểu số Trái lại, Luật Doanh nghiệp lại cho phép cổ đông có quyền yêu cầu trọng tài hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng

Trang 39

cổ đông trong khi đây không phải là một tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại và trọng tài không có thẩm quyền này32 Quy định này hoặc thừa nhận hoặc là chưa rõ, mà một khi quy định chưa rõ thì cổ đông không thể dựa vào những quy định chưa rõ như vậy để hành xử và các cơ quan chức năng cũng không giải quyết được khúc mắc của cổ đông điều này dẫn đến hệ quả là cổ đông chỉ biết tìm đến cơ quan ngôn luận thay vì cơ quan công quyền Luật Doanh nghiệp cũng không quy định rõ nếu từ lúc có đơn yêu cầu hủy bỏ đến lúc có bản án hay quyết định của Tòa án thì quyết định đó có được đưa ra thực hiện không, nếu đã đem ra thực hiện mà gây thiệt hại thì sao? Vấn đề này chưa được làm rõ

Ủy quyền cho người khác

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp: “ người đại diện theo ủy quyền là cá nhân được thành viên, cổ đông là tổ chức của công ty cổ phần ủy quyền bằng văn bản thực hiện các quyền của mình tại công ty theo quy định của luật này”33 Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự: “ cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân

có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”34

Quy định của Luật Doanh nghiệp có mâu thuẫn với khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự bởi khoản 14 Điều 4 Luật Doanh nghiệp chỉ cho phép cổ đông là tổ chức có quyền ủy quyền cho cá nhân thực hiện các quyền của mình tại công ty Trong khi Bộ luật Dân sự lại cho phép cá nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Điều này đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các cổ đông trong công ty,

cổ đông là cá nhân không được ủy quyền cho người đại diện của mình thực hiện các giao dịch trong công ty, ngoại trừ quyền ủy quyền bằng văn bản cho một người khác

dự họp Đại hội đồng cổ đông 35

Với quy định ủy quyền cho người khác dự họp, mọi người đều có thể tham gia vào việc biểu quyết của công ty mà không cần phải trực tiếp tham dự cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thông qua cách ủy quyền công ty cổ phần đồng thời cũng nhận được nhiều sự đóng góp từ cổ đông ngay cả những cổ đông không có mặt tại cuộc họp nhưng thông qua đại diện của mình Luật Doanh nghiệp quy định rằng “ cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức trực tiếp hoặc ủy quyền

bằng văn bản cho một người khác dự họp Đại hội đồng cổ đông” nhưng lại không quy

định rõ người khác đó là cổ đông hay không phải là cổ đông của công ty36

Phạm vi đại diện theo ủy quyền tại khoản 2 Điều 144 Bộ luật Dân sự được xác lập theo sự ủy quyền Nghĩa là những người đại diện của cổ đông chỉ được thực hiện những nhiệm vụ gì mà cổ đông đã ủy quyền, ngay cả biểu quyết các vấn đề tại cuộc

Trang 40

họp Đại hội đồng cổ đông người đại diện theo ủy quyền cũng chỉ được ủy quyền biểu quyết các vấn đề chuẩn bị sẵn trong tờ thông báo chương trình họp của công ty Điều này gây trở ngại khi chương trình thay đổi bất ngờ thì người đại diện theo ủy quyền có quyền biểu quyết những vấn đề phát sinh không hay chỉ dừng lại trong phạm vi được

có liên quan39 Nếu trả cổ tức không đúng như quy định bảo đảm trả nợ này thì các cổ đông phải hoàn trả cho công ty số tiền hay tài sản khác đã nhận; nếu cổ đông không trả được thì Hội đồng quản trị và cá nhân cổ đông phải liên đới chịu trách nhiệm40

Có một điểm đáng chú ý là luật Doanh nghiệp 1999 để Đại hội đồng cổ đông quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn quy định như thế nhưng cho phép Bản điều lệ công ty quy định khác, tức là Hội đồng quản trị cũng được41 Quy định như thế là phù hợp với tập tục của các công ty ở các nước phát triển Ở đó cổ tức được trả từ số lời lãi thu hoạch trong năm và do Hội đồng quản trị quyết định Khi công ty đã hoạt động lâu, Hội đồng quản trị có thể quyết định trả cổ tức ít hơn số lời lãi thu được trong năm và dùng khoản tiền ấy để tái đầu tư Nếu

số tiền đầu tư đó tạo thêm lời lãi thì tài sản chung của công ty tăng lên và nó sẽ đẩy giá

cổ phiếu tăng theo Cổ đông sẽ hưởng một mối lợi mới do giá cổ phiếu của mình tăng, gọi là lãi vốn Vậy cổ đông tuy không được chia cổ tức nhưng lại được hưởng lãi vốn, nếu họ bán cổ phiếu đi42

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nghị định 139/NĐ-CP ngày 05/9/2007 về hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp 2005 Khác
8. Nghị Định 109/2007/NĐ-CP về chuyển đổi Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần Khác
9. Thông tư 18/2007/TT-BTC hướng dẫn việc mua bán lại cổ phiếu và một số trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của công ty đại chúng Khác
10. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam Khác
11. Nghị quyết 71/2006/QH 11 của Quốc hội ngày 29/11/2006. SÁCH THAM KHẢO-TẠP CHÍ Khác
1. Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình luật thương mại (pháp luật về doanh nghiệp), Trường Đại học Cần Thơ Khác
2. Giáo trình luật thương mại, Đại học luật Hà Nội Khác
3. Nguyễn Ngọc Bích, Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần,NXB Trẻ, năm 2005 Khác
4. Nguyễn Ngọc Bích-Nguyễn Đình Cung, Công ty vốn, quản lý & tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, NXB Tri Thức, năm 2009 Khác
5. Chứng khoán và thị trường chứng khoán-kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Viện Khoa học tài chính, Hà Nội năm 1991 Khác
6. Nguyễn Mạnh Bách, Quy định pháp luật về các công ty thương mại, NXB Tổng hợp Đồng Nai, năm 2006 Khác
7. ALAN B.MORISON chủ biên, Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ, NXB chính trị quốc gia, năm 2007 Khác
8. Nguyễn Thị Thu Vân, Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty ở Việt Nam hiện nay.NXB Chính trị quốc gia, 1998 Khác
9. Võ Hưng Thanh, Từ Luật Doanh nghiệp đến Luật Thương mại-cẩm nang pháp luật cho mọi nhà doanh nghiệp hiện hành, NXB Thống kê, 2001 Khác
10. Tạp chí nghiên cứu lập pháp 11. Tạp chí dân chủ pháp luật 12. Tạp chí luật học Khác
14. Nguyễn Văn Mích, nghiên cứu lập pháp số 17 tháng 11/2006. CÁC TRANG WEB 1. www.google.com.vn 2. www.tailieu.vn 3. www.tuoitre.com.vn 4. www.xalo.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm