Phạm vi nghiên cứu đề tài Trong đề tài nghiên cứu "Quy chế pháp lý về tài chính trong công ty cổ phần", người viết tìm hiểu về lý luận, quy định của pháp luật có liên quan và thực trạng
Trang 1KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 35 (2009 – 2013)
Đoàn Nguyễn Minh Thuận Trần Xuân Nữ
MSSV: 5095450 Lớp: Luật Thương mại 3 – K35
Cần Thơ, 5/2013
Trang 2GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận SVTH: Trần Xuân Nữ
LỜI CẢM ƠN -* -
Lời cảm ơn đầu tiên, em xin được gửi đến gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ, động viên cũng như tạo điều kiện về tinh thần lẫn vật
chất để em hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại học CầnThơ, quý thầy cô Khoa Luật, đặc biệt là t hầy cô Bộ môn Luật
Thương mại, những người đã truyền thụ kiến thức và giúp đỡ em
trong bốn năm học vừa qua
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô ĐoànNguyễn Minh Thuận đã tận tình giúp đỡ, cung cấp những kiến thức
quý báo và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Thành phốCần Thơ, Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ, Thư viện
Khoa Luật, các trang mạng thông tin điện tử những nơi em có thể
tìm được nguồn tư liệu cho bài làm của mình
Mặc dù nhận thấy bản thân cũng đã có nhiều cố gắng trongquá trình nghiên cứu, tuy nhiên, sẽ không tránh khỏi những thiếu
xót và hạn chế Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự đóng góp
của quý thầy cô để nội dung trong bài luận văn được hoàn thi ện
hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
-* -
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Trang 4GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận SVTH: Trần Xuân Nữ
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
-* -
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
-* -
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Trang 6GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận SVTH: Trần Xuân Nữ
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 4
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 4
1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần 4
1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần 6
1.1.3 Phân loại công ty cổ phần 7
1.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần 8
1.1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần trên thế giới 8
1.1.4.2 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần ở Việt Nam 11
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 13
1.2.1 Khái quát về tài chính nói chung trong công ty cổ phần 13
1.2.1.1 Khái niệm về tài chính trong công ty cổ phần 13
1.2.1.2 Chức năng của tài chính trong công ty cổ phần 14
1.2.1.3 Vai trò của tài chính trong công ty cổ phần 17
1.2.2 Khái quát về vốn nói riêng trong công ty cổ phần 18
1.2.2.1 Khái niệm về vốn trong công ty cổ phần 18
1.2.2.2 Đặc điểm của vốn trong công ty cổ phần 19
1.2.2.3 Vai trò của vốn trong công ty cổ phần 25
1.2.3 Pháp luật điều chỉnh nội dung về tài chính trong công ty cổ phần 26
CHƯƠNG 2 29
PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 29
2.1 CHẾ ĐỊNH HÌNH THÀNH VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 29
Trang 72.1.1 Chủ thể góp vốn công ty cổ phần 29
2.1.2 Tài sản góp vốn công ty cổ thần 31
2.1.3 Cách thức góp vốn công ty cổ thần 33
2.1.4 Thời gian góp vốn công ty cổ phần 34
2.2 NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VỀ TÀI CHÍNH 36
2.2.1 Hoạt động huy động vốn công ty cổ phần 36
2.2.1.1 Huy động vốn công ty cổ phần thông qua chào bán cổ phần 36
2.2.1.2 Huy động vốn công ty cổ phần thông qua phát hành trái phiếu 41
2.2.1.3 Huy động vốn công ty cổ phần thông qua vay vốn từ cá nhân hay tổ chức 45
2.2.2 Hoạt động mua lại cổ phần 45
2.2.2.1 Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông 45
2.2.2.2 Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty 47
2.2.2.3 Điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần được mua lại 48
2.2.3 Hoạt động chuyển nhượng cổ phần 49
2.3 CHI TRẢ CỔ TỨC TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 51
2.3.1 Điều kiện chi trả cổ tức trong công ty cổ phần 52
2.3.2 Các cách chi trả cổ tức trong công ty cổ phần 53
2.3.2.1 Chi trả cổ tức bằng tiền 53
2.3.2.2 Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu 55
2.3.2.3 Chi trả cổ tức bằng tài sản 57
2.3.3 Mức trả cổ tức trong công ty cổ phần 57
CHƯƠNG 3 59
THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 59
3.1 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT TRONG HUY ĐỘNG VỐN CÔNG TY CỔ PHẦN THÔNG QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 59
Trang 8GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận SVTH: Trần Xuân Nữ
3.1.1 Thực trạng và đề xuất trong hoạt động huy động vốn công ty cổ phần thông qua phát hành cổ phiếu 59 3.1.2 Thực trạng và đề xuất trong hoạt động huy động vốn công ty cổ phần thông qua phát hành trái phiếu 62 3.2 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT VỀ CHI TRẢ CỔ TỨC TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 67 3.2.1 Thực trạng và ý kiến đề xuất về việc thực hiện các quyết định trả cổ tức trong công ty cổ phần 67 3.2.2 Thực trạng và ý kiến đề xuất về phương thức trả cổ tức trong công ty cổ phần 68 3.2.3 Thực trạng và ý kiến đề xuất về quyền nhận cổ tức được đảm bảo ng hiêm
túc, được thực hiện một cách đơn giản, thuận tiện 69
3.3 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM ĐẢM BẢO AN TOÀN VỀ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 70 3.3.1 Thực trạng và đề xuất nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý trong hoạt động công bố thông tin công ty cổ phần 70 3.3.2 Thực trạng và đề xuất nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý trong thực hiện quản lý, kiểm soát tài chính công ty cổ phần 72
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có nhiều lý do để người viết chọn "Quy chế pháp lý về tài chính trong công ty cổ
phần" làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình Một phần xuất phát từ sự hiểu biết cũng
như sự yêu thích đề tài mang tính chủ quan của người viết, phần khác là do nhu cầu thiếtyếu cần hoàn thiện về mặt pháp luật với cơ chế về tài chính công ty cổ phần (CTCP)trong nền kinh tế hội nhập của nước ta với nền kinh tế thế giới
Lý do thứ nhất đó chính là bản thân người viết có thể vận dụng và thể hiện nhữngkiến thức chuyên ngành Luật thương mại mà người viết được học và nghiên cứu trongquá trình học tập tại trường Và kể từ khi biết rằng trong hoạt động thương mại, CTCP đã
có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế nước nhà thì người viết cũng mangnhiều sự ưu ái đối với loại hình doanh nghiệp này
Lý do thứ hai là trong quá trình đào sâu tìm hiểu các hoạt động diễn ra trongCTCP, người viết nhận thấy so với các loại hình doanh nghiệp khác CTCP có nhiều lợithế hơn hẳn Những lợi thế hơn hẳn này xuất phát từ những lợi ích và đặc điểm pháp lý
mà pháp luật quy định cho CTCP Một trong số đó là CTCP có lợi thế hơn hẳn về cấutrúc vốn và tài chính rất linh hoạt Về tài chính, trong CTCP nó đóng vai trò rất quantrọng cho sự tồn tại và phát triển của công ty; công ty sẽ không thể được thành lập và tồntại nếu không có vốn; vốn và tài chính là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động,quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với các đối tác bên ngoài công ty Theo quy định củapháp luật về doanh nghiệp, CTCP có thể gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư cho kinhdoanh của công ty bằng cách quy định và phát hành các loại cổ phiếu và trái phiếu racông chúng Tuy nhiên, hành lang pháp lý đối với CTCP chưa đảm bảo về vấn đề tàichính của công ty, cụ thể hơn là chưa thật sự tạo nhiều thuận lợi, an toàn trong hoạt độnghuy động vốn thông qua thị trường chứng khoán, quyền lợi được nhận cổ tức chính đángcủa cổ đông và trong vấn đề về an toàn tài chính của CTCP
Nhằm muốn tìm hiểu rõ ràng hơn về tầm quan trọng và đóng góp một số ý kiến đềxuất để khắc phục những bất cập còn tồn tại trong quy chế pháp lý về tài chính CTCPnhư đã nêu ở trên, nên khi chọn đề tài nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp, người viết đã
chọn cho mình đề tài với tên gọi: "Quy chế pháp lý về tài chính trong công ty cổ phần"
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Loại hình doanh nghiệp là CTCP với ưu điểm vượt trội về lợi thế hơn hẳn trong sốcác loại hình doanh nghiệp, đã đóng góp không ít vào nhu cầu đầu tư và phát triển cho
Trang 10kinh tế nước nhà Tuy nhiên, nếu pháp luật còn tồn tại bất cập về cơ chế tài chính CTCP,chưa đảm bảo an toàn cho công ty cũng như cho các nhà đầu tư như hiện nay thì nhu cầu
ấy về lâu dài sẽ không còn đáp ứng được nữa Vì sẽ đánh mất uy tín công ty, đánh mấtniềm tin của nhà đầu tư khi quyền và lợi ích của họ không được đảm bảo, công ty bị tổnthất rất lớn lực hút của xã hội đầu tư vào doanh nghiệp mình Vì thế, mục tiêu khi nghiêncứu đề tài mà người viết muốn hướng đến đó chính là:
Tìm hiểu về đề tài "Quy chế pháp lý về tài chính trong công ty cổ phần" thông
qua đó để có thể thấy được những lợi ích và đặc điểm pháp lý về tài chính mà pháp luậtqui định cho CTCP cũng như những tồn tại chưa được khắc phục ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của chủ thể liên quan trong các hợp đồng, giao dịch của công ty nói riêng, ảnhhưởng đến nhu cầu đầu tư phát triển của nền kinh tế xã hội nước ta nói chung, từ đó pháthuy hơn nữa những mặt được và đề ra giải pháp khắc phục những mặt chưa được củapháp luật về tài chính trong CTCP
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong đề tài nghiên cứu "Quy chế pháp lý về tài chính trong công ty cổ phần",
người viết tìm hiểu về lý luận, quy định của pháp luật có liên quan và thực trạng quá trình
áp dụng các quy định pháp luật đó vào thực tế về "tài chính" của riêng loại hình doanh nghiệp là "công ty cổ phần", bao gồm các nội dung về hình thành vốn, nh ững hoạt động
tài chính và việc chi trả cổ tức trong CTCP
Bên cạnh đó, với đề tài này, người viết tập trung tìm hiểu thêm về thực tiễn ápdụng quy định pháp luật với ưu điểm đã đạt được cần phát huy hơn nữa cũng như nhượcđiểm cần khắc phục, thông qua đó xin được đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm đóng gópmột phần vào việc hoàn thiện pháp luật tài chính trong CTCP
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương pháp sau đây:
Phương pháp sưu tầm tài liệu Với phương pháp này đã giúp người viết tìm hiểu
được rất nhiều xung quanh đề tài như công ty cổ phần, tài chính trong CTCP, pháp luậtđiều chỉnh về tài chính CTCP, những hoạt động trong công ty về góp vốn, huy động vốn,chi trả cổ tức Từ đó thấy được thuận lợi cũng như hạn chế mà các quy định pháp luật vềtài chính trong CTCP mang lại cho hoạt động đầu tư kinh doanh của công ty, quyền vàlợi ích của các chủ thể có liên quan khác
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, tổng hợp dữ liệu: Đây là phương pháp
cần thiết và quan trọng trong nghiên cứu Phương pháp này giúp người viết đánh giáchính xác sự vật, hiện tượng đảm bảo tính chính xác trong nghiên cứu Trước khi nghiêncứu đề tài, người viết đã tiến hành thu thập tư liệu, tài liệu có liên quan đến đối tượng từ
Trang 11những nguồn khác nhau như sách, báo, tạp chí các loại, truy cập internet để bổ sungcho các vấn đề nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn.
Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phương pháp phân tích luật viết nhưphương pháp phân tích câu chữ, diễn dịch, liệt kê, để từ đó làm nổi bậc thêm vấn đề
5 Bố cục đề tài
Để thuận lợi cho việc tra cứu, tìm hiểu nội dung bài luận văn ngoài phần mở đầu,kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài luận gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về tài c hính trong công ty cổ phần.
Trong phần này người viết sẽ nêu những khái quát chung về công ty cổ phần, tài chínhtrong CTCP và pháp luật điều chỉnh nội dung về tài chính trong CTCP
Chương 2 Pháp luật về tài chính trong công ty cổ phần Ở chương này ngườ i
viết xin trình bày các quy định pháp luật trong vấn đề tài chính liên quan đến CTCP, đó
là những chế định về hình thành vốn, những hoạt động về tài chính và việc chi trả cổ tứctrong CTCP
Chương 3 Thực trạng và đề xuất nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý v ề tài chính
trong công ty cổ phần Ở chương ba này người viết nêu ra những thực trạng đang diễn ra
hiện nay, những bất cập về quy chế pháp lý tài chính trong CTCP ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của công ty cũng như quyền và lợi ích tài chính hợp pháp c ủa chủ sởhữu, chủ nợ Từ đó xin được đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm khắc phục và hoàn thiệncác chế định về tài chính trong CTCP, bảo đảm được lợi ích cho các bên có liên quan
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần
Công ty cổ phần được xem là phương thức phát triển cao nhất của loài người đểhuy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển.1Lần đầu tiên hình thức CTCP được pháp luật nước ta chính thức quy định cụ thể từ khiQuốc hội ban hành Luật công ty 19902 ngày 21/12/1990 Theo quy định của Luật công ty,CTCP được định nghĩa trước tiên là một doanh nghiệp, trong đó:3 vốn điều lệ của công tyđược chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; số thành viên gọi là cổ đông có thể
là tổ chức, cá nhân4 và phải có số lượng ít nhất là bảy cổ đông trong suốt thời gian hoạtđộng của công ty; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm
vi phần vốn của mình góp vào công ty; cổ phiếu phân thành hai loại là cổ phiếu có ghitên và cổ phiếu không ghi tên, với cổ phiếu không ghi tên cổ đông có quyền tự do chuyểnnhượng cổ phần của mình, còn với cổ phiếu có ghi tên cổ đông chỉ được chuy ển nhượngnếu được sự đồng ý của Hội đồng quản trị, trừ trường hợp số cổ phiếu có ghi tên của cổđông là thành viên Hội đồng quản trị không được chuyển nhượng trong suốt thời gian tạichức và trong thời hạn hai năm kể từ ngày thôi giữ chức thành viên Hội đ ồng quản trị; tưcách pháp nhân của công ty sẽ có kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh; ngoài ra công ty được huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán các loại là
cổ phiếu hoặc trái phiếu ra công chúng
Mặc dù đã phát huy được vai t rò tích cực của mình vào công cuộc phát triển kinh
tế nước nhà nhưng với tính biến đổi liên tục các quan hệ kinh doanh trong thực tiễn, Luậtcông ty 1990 đã bộc lộ nhiều bất cập Để khắc phục tình trạng trên, Quốc hội nước ta đãthông qua Luật doanh nghiệp 1999 5 để thay thế cho Luật công ty vào ngày 12/6/1999.Định nghĩa về CTCP trong Luật doanh nghiệp 1999 tuy có thay đổi, bổ sung nhưng
3 Xem các Điều 1, 2, 18, 30, 39, Luật công ty.
4 Theo quy định tại Điều 1 Luật công ty 1990 thì: cá nhân, tổ chức có quyền tham gia thành lập, góp vốn đầu tư
công ty cổ phần là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân thuộc các thành phần kinh
tế, tổ chức xã hội.
5 Luật doanh nghiệp được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12/6/1999 (sau đây gọi là Luật doa nh nghiệp 1999) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000.
Trang 13tương đối không nhiều so với Luật công ty Điểm giống nhau cụ thể là: vốn điều lệ trongcông ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; tính chịu trách nhiệm hữuhạn của cổ đông về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty; cổ đông có thể là
tổ chức, cá nhân; công ty có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy độngvốn; công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh Những điểm thay đổi bổ sung đó là: số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạnchế số lượng tối đa; cổ đông vẫn có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình chongười khác, tuy nhiên trường hợp ngoại lệ được quy định thì không dựa trên cổ phiếu là
có ghi tên hay không mà là cổ phần ưu đãi loại nào và tư cách người nắm giữ cổ phầnphổ thông, theo đó cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập
sẽ bị hạn chế quyền tự do chuyển nhượng trong ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấpGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; công ty có thể huy động vốn bằng cách phát hànhnhiều loại chứng khoán chứ không chỉ là cổ phiếu hay trái phiếu
Sau năm năm được đưa vào thực thi, nhằm để luật phá t huy tầm quan trọng, phùhợp hơn với những quan hệ kinh doanh mới, tránh lạc hậu về cách thức tổ chức một công
ty theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế Luật doanh nghiệp 1999 được thay đổi bằngLuật doanh nghiệp 2005 Không nằm ngoài mục đích trên, L uật doanh nghiệp 2005 đãđược sửa đổi, bổ sung năm 2009 trong kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XII thông quangày 19/6/2009 Đây là văn bản luật được chính thức áp dụng hiện nay ở nước ta,6 vớinhững quy định như sau: CTCP được định nghĩa trước tiên là một d oanh nghiệp Theokhoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tàisản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Trong đó: 7
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể
là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổđông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệptrong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổphần phổ thông của cổ đông sáng lập công ty trong ba năm đầu kể từ ngày công ty đượccấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngàyđược cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; CTCP có quyền phát hành chứngkhoán các loại để huy động vốn
6
Luật Doanh nghiệp năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua
ngày 19 tháng 6 năm 2009 (sau đây gọi là Luật doanh nghiệp) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2009.
7
Nguyễn Đình Tài, Bài giảng Luật doanh nghiệp 2005 , Nxb Chính trị Quốc gia, 2008, tr 185.
Trang 141.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần
Ngoài những kiến thức được cung cấp thông qua quy định của pháp luật ở phầntrên Chúng ta có thể tìm hiểu, khái quát thêm về CTCP qua những đặc điểm được trìnhbày như sau: 8
Một là , vốn điều lệ công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần Vốn điều lệ là số v ốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trongmột thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty Người chủ sở hữu ít nhất một cổphần đã phát hành của CTCP được gọi là cổ đông Mỗi cổ đông có thể mua một hoặcnhiều cổ phần Đây là những đặc điểm rất cơ bản của CTCP;
Hai là, công ty cổ phần không chỉ phải có cổ phần phổ thông mà còn có thể phát
hành loại cổ phần khác, đó là những cổ phần ưu đãi, bao gồm: cổ phần ưu đãi biểu quyết,
cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công tyquy định;
Ba là, công ty cổ phần đã cho phép các nhà đầu tư có khả năng chuyển đổi mục
tiêu và hình thức một cách rất linh động thông qua đặc điểm là cổ đông có quyền tự dochuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trư ờng hợp đó là cổ phần ưu đãibiểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập công ty trong ba năm đầu kể từngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;
Bốn là, số lượng cổ đông công ty cổ phần tối thiểu là ba và khác với công ty trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là số lượng thành viên không vượt quá năm mươi,thì số lượng cổ đông tối đa của CTCP là không hạn chế Trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác, trong quá trình hoạt động, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần củamình, vì vậy mà thường có một số lượng rất lớn cổ đông trong CTCP Đặc điểm này đãgóp phần giúp cho cơ cấu tổ chức của công ty được chặt chẽ hơn;
Năm là, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Khác với tính trách nhiệm vô hạncủa các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân trongdoanh nghiệp tư nhân, đặc điểm này cho thấy các cổ đông trong CTCP chỉ chịu tráchnhiệm pháp lý hữu hạn đối với phần vốn góp của mình vào công ty;
Sáu là, trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành chứng
khoán các loại ra công chúng để huy động vốn Với đặc điểm này, công ty hoàn toàn cókhả năng huy động được một lượng vốn lớn và rộng rãi trong công chúng
8 Nguyễn Đình Tài, Bài giảng Luật doanh nghiệp 2005 , Nxb Chính trị Quốc gia, 2008, tr 185.
Trang 151.1.3 Phân loại công ty cổ phần
Qua quá trình tìm hiểu về công ty cổ phần,9 căn cứ vào tiêu chí đối tượng cóquyền mua cổ phần khi công ty phát hành cổ phiếu, có thể phân loại CTCP thành: CTCPnội bộ, CTCP đại chúng và CTCP niêm yết Đặc điểm của ba loại CTCP này là:
Là công ty cổ phần chỉ phát hành cổ phiếu trong số những người sáng lập ra công
ty, nhân viên và người lao động trong công ty và các pháp nhân là những đơn vị trựcthuộc những đơn vị trong cùng tập đoàn của đơn vị sáng lập Đây là loại cổ phiếu kýdanh không được chuyển nhượng hoặc chỉ được chuyển nhượng theo một số điều kiệnnhất định trong nội bộ công ty Việc tăng vốn của công ty rất hạn chế Công ty chỉ đượcvay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc tích lũy từ trong nội bộ công ty
Là công ty cổ phần đại chúng tiếp tục con đường phấn đấu để có đủ điều kiệnđược niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán sẽ trở thành công ty niêm yết Chứng khoáncủa họ sẽ được giao dịch trên các thị trường chứng khoán tập trung Chúng có thể trởthành những CTCP hàng đầu của đất nước, có uy tín, tiếng tăm và được hưởng nhữngđiều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong huy động vốn
9 Nguyễn Đình Tài, Bài giảng Luật doanh nghiệp 2005 , Nxb Chính trị Quốc gia, 2008, tr 189-190.
10 Luật chứng khoán năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 24/11/2010 (sau đây gọi là Luật chứng khoán) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011.
Trang 161.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần
1.1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần trên thế giới
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triểntrong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Sự ra đời của CTCP là một phát minh củaloài người trong nền sản xuất xã hội Nó là phương thức phát triển cao nhất cho đến naycủa loài người để huy động được một lượng vốn lớn cho kinh do anh và qua đó đóng gópvào sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia
Ở các nước khác nhau, công ty cổ phần có thể có những tên gọi khác nhau Ở Pháp
là công ty vô danh, ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn, ở Mỹ nó được gọi là công
ty kinh doanh, và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần 11
Theo những nghiên cứu mới nhất về công ty cổ phần12 thì loại hình công ty này là
ý tưởng cách mạng diễn biến theo một quá trình rất dài, thậm chí đã có ngay từ 3000 nămtrước Công nguyên, từ người Assyria, Phoeni cia rồi người Hy Lạp Họ đã lập ra những tổchức để kinh doanh thương mại ở Địa Trung Hải
Đến thời của người La Mã, tầng lớp quý tộc lập ra các societas (hội xã) lúc đầu để phụ các hiệp sĩ thu thuế nông nghiệp, chinh phục các lãnh thổ Các societas không thay
đổi nhiều mà chỉ là những nhóm tập hợp các cá nhân với các hợp đồng thu thuế ngắn hạn
Ở tầng lớp thứ dân, những người thợ thủ công và thương gia mở các collegia hay corpora
(công ty), tự bầu ra người quản lý và được cấp phép hoạt động
Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, Hồi giáo với thế giới Ả Rập nổi lên và phát triển.Tiếp theo sau là Trung Quốc Tuy nhiên, tại những nơi này, người ta đã không thiết lậpđược những tổ chức giống như công ty, nên đã không phát triển hơn lên được mà trái lạilàm lụi dần
Thời Trung cổ, hai tổ chức người La Mã để lại đã được phục hồi Đó là giới
thương gia tại Italia và các công ty của họ, cùng các guild (phường hội) được chính
quyền cấp phép tại miền bắc Âu châu
Tại Italia, từ thế kỷ thứ IX trở đi, các công ty hàng hải xuất hiện ở Almafi vàVenise Lúc đầu họ làm theo mô hình của người Hồi giáo, sau đó chuyển về lối cũ đểgom vốn và trông nom việc buôn bán bằng thuyền theo từng chuyến Sự sắp xếp này rấthấp dẫn những người có tiền ngồi ở nhà Họ có thể phân tán rủi ro r a nhiều chuyến hàng
và tránh được sự truân chuyên khi đi biển Sự hùn hạp dần dần trở nên phức tạp hơn, việc
Trang 17tài trợ được tăng lên và trải ra cho nhiều chuyến, lại có thêm người nước ngoài tham gia,
cơ cấu về quyền sở hữu cũng được thiết lập
Vào thế kỷ XII, một hình thức tổ chức hơi khác với loại trên một chút đã xuất hiện
ở Florence và một số thị trấn xa bờ biển Đó là compagnia Lúc đầu tổ chức này có tính
cách gia đình và hoạt động trên căn bản chịu trách nhiệm liên đới, những người cộng tác
chịu trách nhiệm chung với nhau giá trị món hàng họ nắm giữ Danh từ compagnia có gốc Latin là cum và pania, nghĩa là cùng nhau bẻ chiếc bánh Giống như tổ chức Venise,
compagnia cũng từ từ trở nên tinh vi hơn để thu hút những người ngoài gia đình
Ở miền bắc Âu châu, các thương gia cũng bắt chước các hình thức kinh doanh màngười Italia đã đi tiên phong Có doanh nghiệp ở vùng Ravensberg bên Đức tập hợp bagia đình thành công ty, rồi lập ra các chi nhánh ở Barcelone, Genoa và Paris Các hoạtđộng này đã dễ dàng ph át triển vì có luật pháp hỗ trợ
Từ đầu thời Trung cổ, các luật gia đã mở rộng luật La Mã và luật của giáo hộiThiên chúa giáo để nhìn nhận sự tồn tại của "pháp nhân" Các pháp nhân này gồm các
trường đại học, thị trấn, tổ chức tôn giáo và các guild của các thương gia lớn và người
buôn bán nhỏ Những hội đoàn này thực hiện những sự trao đổi tài sản để dùng làm vậtbảo đảm và cung cấp học bổng, là những vật mà cá nhân bị cấm làm Chúng còn làphương tiện để chuyển giao các truyền thống và sự giàu có của t hế hệ trước cho thế hệsau Tính bất tử của pháp nhân đã làm cho các vương triều lo ngại Pháp nhân làm chonhững lợi lộc mà cá nhân thu thập được trong thời phong kiến được luồn lách ra khỏi cácquy định hiện hành, vì pháp nhân không bao giờ già, không ba o giờ chết và không baogiờ kết hôn với ai
Dù rất muốn nhưng các nhà cầm quyền lại không có biện pháp nào có thể ngăn
cản sự bành trướng của các pháp nhân Suốt thời Trung cổ, các guild là hình thức cơ bản của các tổ chức kinh doanh (từ guild xuất phát từ guildan trong tiếng của người Saxon, có
nghĩa là trả tiền) Một guild được phép độc quyền kinh doanh trong phạm vi của một thịtrấn và phải đóng góp một số tiền đáng kể cho chính quyền địa phương
Các guild liên kết với các "công ty được cấp phép" (chartered company) Công ty
này là một hội của của các thương gia độc lập được chính quyền ban cho độc quyền kinhdoanh tại một thị trường nước ngoài nào đó Các công ty được cấp phép có cách quản lý
nội bộ giống như các guild Thỉnh thoảng họ cũng kết hợp thành một tổ hợp (consortia)
để tạo thành sức mạnh mặc cả về giá chuyên chở hoặc giá nguyên liệu
Đến thế kỷ XVI và XVII, đã có nhiều công ty được phép cấp xuất hiện và mangtên của các lãnh thổ mà chúng được độc quyền mua bán (chẳng hạn công ty East Indiabuôn bán ở Ấn Độ, Muscovy ở Nga, Husdon's Bay ở Mỹ) Các công ty được cấp phép là
Trang 18một nỗ lực phối hợp giữa chính quyền và các thương gia để chinh phục các vùng đất mới
mà Columbus, Magellan và Vasco De Gama đã khám phá; chúng xuất phát từ một sốnước như Anh, Pháp, Hà Lan Những công ty ấy đã may mắn được vua dành cho độcquyền mua bán với vùng này vùng nọ trên thế giới
Các công ty được cấp phép đã tiếp thu hai ý tưởng của thời Trung cổ, là bán cổphiếu trên thị trường tự do và tính trách nhiệm hữu hạn cho các hội viên Vì vậy, chúngcũng được gọi là CTCP Chuyện doanh nghiệp bán cổ phiếu để gom vốn đã có từ thế kỷXIII Khắp Âu châu người ta đã từng bán cổ phiếu của các doanh nghiệp khai mỏ vàđóng tàu; tuy nhiên chính các công ty được cấp phép đã đẩy việc bán cổ phần lên tộtđỉnh Việc cho người đầu tư hưởng một trách nhiệm hữu hạn là quan trọng Bởi vì quátrình xâm chiếm thuộc địa chứa đầy rủi ro, nếu không cho người ta hưởng thì không thểkhuyến khích họ bỏ vốn Người đầu tư phải được bảo vệ
Các công ty được cấp phép đã phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa thực dân Âu châu.Công ty Đông Ấn (East India Company) được lịch sử cận kim nhắc đến là công ty củaAnh; được thành lập ngày 31/10/1600 bởi một nhóm có 218 người Nó được phép độcquyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở Áchâu, Phi châu; được đến tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn, các địa điểm ở Á châu,Phi châu và Mĩ châu và các địa điểm tương tự khác nằm ngoài Mũi Hảo Vọng và eo biểnMagellan Sau khi được cấp phép, công ty đó đã cử một đoàn tàu gồm năm chiếc lênđường Nó đã chinh phục Ấn Độ, trở thành một "đế quốc" trong một đế quốc; và bị giảithể ngày 01/6/1874 khi giấy phép lần cuối cùng không được gia hạn
Ở Mỹ, công ty cổ phần phát triển rất mạnh Lúc đầu là vì phải xây dựng đường xelửa, sau này là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ rộng lớn của
Mỹ Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty làm đường xe lửa, mà thị trường chứngkhoán ở New York phát triển Năm 1811, bang New York ban bố luật về tính tráchnhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về NewYork và tính hữu hạn đó trở thành phổ biến, bởi vì ban nào không dùng đến nó thì khôngthu hút được vốn
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, công ty cổ phần bắt đầu phát triển ởnhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí,ngân hàng, bảo hiểm ở các nước tư bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơikhác trên thế giới Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóngcủa khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đếnnhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội.Công ty cổ phần là một trong nh ững công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập
trung vốn Vì vậy, có ý kiến bình luận rằng: "Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích lũy
Trang 19làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương đến việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chưa có đường sắt".13 Sự ra đời của CTCP đã giúpcho nhà doanh nghiệp giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo.
1.1.4.2 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần ở Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thịtrường vốn và thị trường tiền tệ Chính từ nhu cầu khách quan phát triển kinh tế xã hộicần có sự liên kết hùn vốn, đồng thời về mặt chủ quan các nhà đầu tư muốn chia sẻnhững gánh nặng rủi ro trong kinh doanh và tìm kiếm l ợi nhuận cao hơn đã dẫn đến sự rađời của CTCP và cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật cho sự ra đời ấy 14
Có nhận định nói rằng: "Công ty cổ phần đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn
giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành nghề đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia". 15 Đúng như nhậnđịnh này và phân tích ở phần trên, CTCP đã trải qua quá trình phát triển lâu dài, từ phạm
vi ở một nước, một khu vực nhất định đã phát triển thành những công ty đa quốc gia, hoạtđộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Ở Việt Nam, luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định trong "Bộ Dân luật thihành tại các tòa Nam án Bắc Kỳ", trong đó chương IX nói về hội buôn được chia thànhhai loại là hội người và hội vốn Trong đó hội vốn được chia thành hai loại là hội vô danh
và hội hợp cổ Nhìn chung quy định của pháp luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai 16
Dưới thời Pháp thuộc, các quy định của Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807,trong đó có quy định về hình thức CTCP được áp dụng ở cả ba kỳ tại Việt Nam Đến năm
1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật Thương mại Trung phần có hiệu lực ápdụng tại Trung kỳ, trong đó có quy định về CTCP (gọi là công ty vô danh) từ Điều 102đến Điều 142 và từ Điều 159 đến Điều 171
Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Bộ luật Thương mại, trong
đó CTCP được gọi là hội nặc danh với đặc điểm "gồm có các hội viên mệnh danh cổ
đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùng của mình dưới hình thức cổ phần"
(Điều 236) và "chỉ được thành lập nếu có số hội viên từ bảy người trở lên" (Điều 295).
Các vấn đề pháp lý hình thức liên quan đến hội nặc danh như thành lập, góp vốn, cơ cấuquản lý đã được quy định rất chi tiết trong bộ luật này từ Điều 236 đến Điều 278 cũn gnhư từ Điều 295 đến Điều 314
13 Các Mác, Tư bản, quyển 1, tập III, Nxb Sự thật, 1975, tr 99.
14 Từ Thảo, Sự hình thành và phát triển công ty cổ phần trên thế giới và Việt Nam ,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/05/03/4791/, [truy cập ngày 15 -02-2013].
15 Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, Công ty - Vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005 ,
Nxb.Tri thức, 2009, tr 118.
16
Lê Thị Châu, Quyền sở hữu tài sản của công ty, Nxb Lao động, 1997, tr 17.
Trang 20Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước vào năm 1975 và trênphạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế kỷ 20, với chính sách kinh
tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty nói chung v à CTCP nói riêng hầu nhưkhông được pháp luật thừa nhận Khái niệm “công ty” trong giai đoạn này không đượchiểu đúng bản chất pháp lý mà chỉ được hiểu theo hình thức kinh doanh Các hình thức tổchức sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn này chủ yếu bao gồm các nhà máy, xí nghiệpquốc doanh, hợp tác xã (đối với thành phần kinh tế tập thể) và công ty hợp danh (hìnhthành từ quá trình cải tạo công thương nghiệp Xã hội Chủ nghĩa) Trong giai đoạn này,mặc dù Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam(ban hành kèm theo Nghị định 115/CP của Chính phủ ngày 18/4/1977) có đề cập đếnhình thức CTCP khi quy định “xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp” có thể thành lập theohình thức “công ty vô danh” (một tên gọi khác của CTCP) nhưng lại khôn g có văn bảnpháp luật nào quy định về tổ chức và hoạt động của hình thức CTCP này Và trên thực tế,cũng không có xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp nào được thành lập theo hình thức “công
ty vô danh” theo quy định của Điều lệ về đầu tư của nước ngoài năm 197 7 kể trên
Cho đến khi Luật công ty được ban hành ngày 21/12/1990, hình thức CTCP mớichính thức được quy định cụ thể Sau khi Luật công ty ra đời, nhiều văn bản pháp luậtkhác nhau đã được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt độngtrong các lĩnh vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới hình thức CTCP
Ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp để thay thế cho Luậtcông ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Sau hơn năm năm được thực hiện, Luật doanhnghiệp 1999 đã được thay đổi bằng Luật doanh nghiệp 2005 Luật doanh nghiệp 2005được ban hành với những nội dung một phần kế thừa những mặt tích cực, hợp lý từ quyđịnh trong các văn bản luật trước, một phần Luật doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung nhữngđiểm còn bất cập, hay không còn ph ù hợp với thực tiễn của những quan hệ kinh doanh,tránh lạc hậu về cách thức tổ chức
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay, ngày 19tháng 6 năm 2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản trong đó có nội dung sửađổi, bổ sung của Luật doanh nghiệp Trong văn bản này, tổng cộng có mười chương,trong đó chế độ pháp lý của CTCP được quy định ở chương thứ tư với năm mươi ba điềuluật Theo đó, công ty cổ phần vẫn tiếp tục được ghi nhận và được quy định theo hướngtiếp cận dần đến các chuẩn mực quốc tế về quản trị CTCP
Trang 211.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.2.1 Khái quát về tài chính nói chung trong công ty cổ phần
Theo Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tàisản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.17 Vì công ty cổ phần là một loạihình doanh nghiệp nên tài chính trong CTCP sẽ mang nét đặc trưng của tài chính doanhnghiệp Với mối liên quan chặt chẽ đó nên những nội dung khái quát về tài chính trongCTCP người viết trình bày sau đây được dựa trên cơ sở những kiến thức về tài chính củadoanh nghiệp
Căn cứ vào đặc điểm hoạt động, tài chính doanh nghiệp chia thành hai bộ phận là: 18
và dịch vụ
Bộ phận tài chính này còn được gọi là tài chính doanh nghiệp phi tài chính Doan hnghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp không kinh doanh tiền tệ, bao gồm các doanhnghiệp, công ty, tổ chức kinh tế trực tiếp sản xuất sản phẩm, kinh doanh hàng hóa vàcung ứng dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
Bộ phận tài chính này còn được gọi là tài chính doanh nghiệp tài chính Doanhnghiệp tài chính là doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng,bao gồm các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, cô ng ty chứng khoán, quỹ tiếtkiệm, quỹ tín dụng, công ty cho thuê tài chính Doanh nghiệp tài chính còn có tên gọi làcác tổ chức tài chính trung gian
1.2.1.1 Khái niệm về tài chính trong công ty cổ phần
Tài chính trong công ty cổ phần là các quỹ bằng tiền của công ty cổ phần Hìnhthái vật chất của các quỹ này hoặc là tiền, hoặc là nhà cửa, máy móc thiết bị, nguyên vậtliệu hoặc các loại chứng khoán có giá Quỹ tiền tệ của CTCP được tạo lập từ nhiều nguồntài chính khác nhau và vận động không ngừng để thực hiện các nhiệm vụ kinh doanhtrong công ty mình.19 Trong công ty cổ phần có những nét đặc trưng về tài chính là: 20
Thứ nhất, tài chính trong CTCP là một trong những hình thức phản ánh những
luồng chuyển dịch giá trị trong nền kinh tế Luồng chuyển dịch đó chính là sự vận động
Trang 22của các nguồn tài chính gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP Sự vậnđộng của các nguồn tài chính diễn ra theo bốn nhóm quan hệ kinh tế sau đây:
Các quan hệ trong nội bộ CTCP để tiến hành quá trình sản xuất kinh d oanh;
Các quan hệ giữa CTCP với Ngân sách Nhà nước;
Các quan hệ giữa CTCP với hệ thống tín dụng, ngân hàng và các tổ chức thuê muatài chính trong việc vay, trả nợ, thuê mua tài sản;
Các quan hệ giữa CTCP với thị trường trong việc cung ứng các yếu tố vật chất vàdịch vụ sản xuất (đầu vào) cũng như tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ (đầu ra) của quá trìnhkinh doanh
Thứ hai, sự vận động của các nguồn tài chính trong CTCP phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doanh của CTCP Điều đó thể hiện ở chỗ sự chuyển hóa các nguồn tài chínhhướng tới sự hình thành các quỹ, hoặc vốn kinh doanh của CTCP và ngược lại Sựchuyển hóa qua lại đó được thực hiện thông qua hệ thống các quan hệ phân phối dướihình thức giá trị nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ, phục vụ cho các mục tiêu sảnxuất kinh doanh của CTCP
Từ những đặc trưng đã được nêu ở trên có thể rút ra kết luận về tài chính trongCTCP như sau:
Tài chính trong công ty cổ phần là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, các luồng vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính t rong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới những mục tiêu kinh doanh của công ty cổ phần trong khuôn khổ cho phép của pháp luật.
1.2.1.2 Chức năng của tài chính trong công ty cổ phần
Nếu tài chính là một phạm trù kinh tế - lịch sử, sự phát sinh và tồn tại của nó cótính chất khách quan, thì chức năng của tài chính là những đặc tính vốn có của chúng.Những chức năng này phát sinh khi phạm trù tài chính xuất hiện và được hoàn thiện cùngvới quá trình phát triển của nề n sản xuất hàng hóa - tiền tệ và Nhà nước Tài chính trongdoanh nghiệp nói chung hay trong CTCP nói riêng đều thể hiện hai chức năng, đó là: 21
Bản chất của tài chính là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trìn h tạo lập vàphân phối các nguồn tài chính Do đó, chức năng phân phối là chức năng vốn có, nằm sẵntrong phạm trù tài chính, biểu hiện bản chất của tài chính Công ty cổ phần là một trongcác chủ thể phân phối tài chính, chính nhờ chức năng này mà các ngu ồn lực tài chính của
21
Lê Thị Mận, Lý thuyết tài chính - tiền tệ, Nxb Lao động – xã hội, 2010, tr 13-16.
Trang 23xã hội được phân phối cho các chủ thể phân phối tài chính nói chung trong CTCP nóiriêng, từ đó đáp ứng cho các nhu cầu khác nhau và những lợi ích khác nhau của CTCPtrong nền kinh tế.
Kết quả của quá trình phân phối tài chính trong công ty cổ phần sẽ hình thành nêncác quỹ tiền tệ của CTCP với các mục đích sử dụng đã được xác định trước đó là quỹ tiền
tệ của CTCP dùng để sản xuất sản phẩm, kinh doanh hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằmtối đa hóa lợi nhuận
Phân phối tài chính trong công ty cổ phần có đặc điểm chủ yếu là luôn gắn liền vớiviệc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của công ty Ngoài ra, còn có hai đặc điểm khác là:
Thứ nhất, phân phối tài chính trong CTCP chỉ diễn ra dưới hình thái giá trị;
Thứ hai, phân phối tài chính trong CTCP bao gồm cả phân phối lần đầu và quá
trình phân phối lại đan xen nhau, trong đó phân phối lại là chủ yếu Hai loại phân phốinày được thực hiện chủ yếu thông qua các khâu của hệ thống tài chính và hệ thống giá cả
Về phân phối lần đầu: là phân phối phầ n thu nhập cơ bản giữa những thành viêntham gia tạo ra của cải vật chất của xã hội Phân phối lần đầu được thực hiện trước hết vàchủ yếu tại khâu cơ sở của hệ thống tài chính Trong phân phối lần đầu, giá trị sản phẩm
xã hội trong khu vực sản xuất sẽ hình thành những bộ phận, một phần bù đắp những chiphí vật chất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm, kinh doanh hàng hóa, cungứng dịch vụ, phần này hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định và quỹ bù đắp vốn lưuđộng đã ứng ra; một phần hình thành q uỹ lương để trả lương cho người lao động; mộtphần để hình thành quỹ bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thương mại); một phần nộpthuế cho Nhà nước để hình thành nên quỹ tập trung của Nhà nước và một phần là thunhập cho các chủ sở hữu về vốn hay nguồn tài nguyên
Kết thúc quá trình phân phối lần đầu sẽ hình thành nên những phần thu nhập cơbản của các chủ thể tham gia tạo ra của cải vật chất cho xã hội hay thực hiện các dịch vụ.Nếu quá trình phân phối dừng lại ở đó thì nhiều nhu cầu cần thiết khác của xã hội sẽkhông được đáp ứng Do đó, quá trình phân phối lại phát sinh là một nhu cầu khách quan
Về phân phối lại: là sự tiếp tục phân phối thu nhập cơ bản đã được hình thànhtrong phân phối lần đầu và thực hiện các quan hệ điều tiết thu nhập để đáp ứng nhu cầutích lũy và tiêu dùng, cũng như phục vụ các yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của Nhànước Mục đích của phân phối lại là nhằm đảm bảo cho khu vực không sản xuất vật chất
có phần thu nhập thỏa đáng để tồn tại và phát triển theo định hướng của Nhà nước; đểchuyển quyền sở hữu một phần thu nhập từ thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào tayNhà nước dưới hình thức thuế; giúp Nhà nước điều hòa các nguồn tiền tệ để đảm bảophát triển cân đối giữa các ngành, địa phương; thêm nữa là làm thay đổi quyền sử dụng
Trang 24các khoản thu nhập đã được hình thành qua phân phối lần đầu, giúp các tổ chức, cá nhân
sử dụng các khoản thu nhập có hiệu quả hơn
Trong công ty cổ phần, với chức năng phân phối, thông qua quá trình phân phốilần đầu và phân phối lại, công ty đã thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của mình, giảiquyết thỏa đáng các mối quan hệ trong nền kinh tế như: mối quan hệ giữa tích lũy và tiêudùng, giữa tích tụ và tập trung, mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa công ty với các chủ thểtham gia phân phối khác
Chức năng giám đốc của tài chính trong công ty cổ phần là chức năng vốn có bắtnguồn từ bản chất của tài chính và có quan hệ biện chứng với chức năng phân phối củatài chính trong CTCP Giám đốc tài chính trong CTCP là sự kiểm tra sự hình thành và sửdụng quỹ tiền tệ của CTCP, đảm bảo cho quỹ tiền tệ của công ty trong nền kinh tế đượcphân phối hợp lý, sử dụng chúng hiệu quả và thực hiện được mục đích đề ra Như vậy,đối tượng của giám đốc tài chính là giám đốc phân phối các nguồn lực tài chính trong xãhội ở tất cả các khâu của hệ thống tài chính Đặc điểm của giám đốc tài chính trongCTCP là giám đốc bằng tiền đối với các hoạt động kinh tế, tài chính của công ty và chủthể của giám đốc tài chính trong CTCP cũng là chủ thể p hân phối tài chính trong CTCPhay là chính CTCP đó
Giám đốc tài chính đảm bảo duy trì kỷ cương, pháp luật về tài chính, phát hiện, xử
lý, ngăn ngừa những hiện tượng tham ô, gây lãng phí của cải, chỉ ra những sai xót, nhữngbất hợp lý không có hiệu quả kinh tế nhằm đưa ra các giải pháp để sửa chữa, điều chỉnhkịp thời, đảm bảo sự lành mạnh các quan hệ kinh tế, tạo điều kiện phát huy toàn bộ khảnăng tiềm tàng của công ty, phục vụ cho sự phát triển công ty, từ đó cũng góp phần làmphát triển kinh tế - xã hội
Về nội dung, giám đốc tài chính trong công ty cổ phần là sự xem xét tính cần thiết,quy mô, tỷ trọng của việc phân phối các nguồn lực tài chính để hình thành quỹ tiền tệ củaCTCP và hiệu quả của việc sử dụng chúng, nhằm đảm bảo cho các quỹ tiền tệ được p hânphối và sử dụng tối ưu
Về phạm vi, giám đốc tài chính trong công ty cổ phần được tiến hành từ khâu đầuđến khâu cuối của quá trình phân phối sản phẩm xã hội Nó được tiến hành rộng rãi trongcác lĩnh vực khác nhau, thông qua tất cả các khâu của hệ thống tài chính Công tác kiểmtra tài chính có thể diễn ra đồng thời với công tác phân phối và cũng có thể diễn ra mộtcách độc lập tương đối không đi liền với các hoạt động phân phối Có thể nói, ở đâu có
sự hoạt động của tiền tệ thuộc phạm trù tài chính thì ở đó có sự giám đốc tài chính
Trang 251.2.1.3 Vai trò của tài chính trong công ty cổ phần
Vì là một loại hình doanh nghiệp nên vai trò của tài chính trong công ty cổ phần ắt
sẽ mang những đặc trưng về vai trò của tài chính doanh nghiệp Trong nền kinh tế thịtrường vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng được đề cao, nó có ảnh hưởng sâusắc đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có haivai trò chủ yếu là: 22
Tài chính trong doanh nghiệp nói chung hay trong CTCP nói riêng là khâu cơ sởcủa hệ thống tài chính, hoạt động tài chính của nó luôn gắn liền với hoạt động sản xuấtkinh doanh, đã góp phần tạo ra thu nhập quốc dân, tăng tích lũy cho nền kinh tế và tậ ptrung vốn cho Nhà nước
Công ty cổ phần là một đơn vị kinh tế cơ sở, sử dụng trực tiếp các tư liệu sản xuấtkết hợp với sức lao động để tạo ra của cải vất chất cho xã hội, là nơi phát sinh ra các quan
hệ kinh tế thông qua hoạt động mua bán, vay mượn, phân phối và trực tiếp thi hành cácchính sách, chế độ, thể lệ kinh tế, tài chính của Nhà nước
Để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, biện pháp là giảm bớt sự can thiệp củaNhà nước, mở rộng quyền chủ động của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh và cảtrong tài chính Vì vậy mà hiện nay, công ty cổ phần cũng như các loại hình doanhnghiệp khác sẽ tự chịu trách nhiệm về việc huy động vốn, quản lý, sử dụng vốn, doanhthu, chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, cùng với đó làtăng cường trách nhiệm của người lãnh đạo trong điều hành kinh doanh
Để phù hợp và thích nghi với nền kinh tế thị trường, Chính phủ đã quy định nhucầu về vốn đối với các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp quốc doanh và doanhnghiệp ngoài quốc doanh) Và với loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Chính phủquy định, ngoài các khoản vốn tự có, vốn do doanh nghiệp tự tích lũy, các doanh nghiệpngoài quốc doanh nói chung hay CTCP nói riêng còn được huy động vốn dưới các hìnhthức như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn, nhận góp vốn liên kết
Trong công ty cổ phần hay các loại hình doanh nghiệp khác, muốn chi phí huyđộng vốn thấp nhất được đảm bảo thì việc huy động vốn vừa phải đáp ứng cho nhu cầusản xuất kinh doanh vừa phải lựa chọn hình thức huy động hợp lý Vì vậy, để định hướng
sự huy động vốn cũng như hạ thấp chi phí nhằm tăng lợi nhuận cần xác định nhu cầu vốnhợp lý cho hoạt động của doanh nghiệp mình
22
Lê Thị Mận, Lý thuyết tài chính - tiền tệ, Nxb Lao động – xã hội, 2010, tr 76-78.
Trang 26Cùng với việc tạo lập nguồn vốn, doanh nghiệp còn phải biết tổ chức phân phốisao cho hợp lý, sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, đồng thời phải bảo toàn và phát triển vốndựa trên cơ sở giảm hao phí vật chất, sử dụng tối ưu công suất máy móc thiết bị hiện có,thu hút lao động vào làm việc với năng suất cao, tăng tích lũy, hoàn thành nghĩa vụ đốivới Nhà nước.
Tài chính công ty cổ phần góp phần vào việc kích thích hay kìm hãm hoạt độngcủa nền kinh tế Là tác dụng kích thích hay kìm hãm như bao doanh nghiệp khác, CTCPphải tùy thuộc vào sự vận dụng chức năng phân phối của người quản lý trong việc giảiquyết lợi ích kinh tế đối với các chủ thể
Vai trò kích thích, điều tiết tài chính trong CTCP thể hiện rõ nhất ở việc tạo ra sứcmua hợp lý, thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ và t hông qua việc xác định giámua, bán hợp lý của hàng hóa, dịch vụ, cổ phiếu sẽ có tác động tích cực đến hoạt độngsản xuất kinh doanh của công ty
1.2.2 Khái quát về vốn nói riêng trong công ty cổ phần
1.2.2.1 Khái niệm về vốn trong công ty cổ phần
Vốn là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính nó gắn liền với nền sản xuấthàng hoá Dưới góc độ phạm trù kinh tế, vốn là một điều kiện tiên quyết của bất cứ doanhnghiệp ngành kinh tế, dịch vụ và kỹ thuật nào trong nền kinh tế thuộc hình thức sở hữukhác nhau 23
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung khi nói đến vốn thì đồng nghĩa với phạmtrù tiền vốn (vốn bằng tiền, vốn tài chính), tức là nó đại diện cho loại hàng hóa nhất định.Trong điều kiện nền kinh tế hiện vật là chủ yếu, phạm trù hàng h óa bị thu hẹp với cơ chếcấp phát giao nộp sản phẩm, nên có quan niệm như trên là khó tránh khỏi Ngay bản thânquan niệm vốn được biểu hiện bằng tiền, thì tiền ở đây phải vận động với mục đích sinhlời chứ không phải dạng tích trữ Có thể hiểu đơn giản để phân biệt vốn và tiền tệ nhưsau: tiền sẽ được coi là vốn khi chúng được sử dụng cho sản xuất, kinh doanh, ngược lại,
nó không được coi là vốn khi đem vào tích trữ hay mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhucầu sinh hoạt của cá nhân hay xã hội Trong tác phẩm của mình, Các Mác đã phân biệt rõphạm trù tiền tệ và phạm trù tư bản Các Mác cho rằng nếu tiền không tham gia vào quátrình sản xuất của xã hội thì tiền đó chỉ ở dạng tư bản tiềm năng mà thôi 24
23Đại học Kinh tế Quốc dân, Khái niệm về vốn kinh doanh , ve-von-kinh-doanh.html, [truy cập ngày 18 -02-2013].
http://voer.edu.vn/bai-viet/khoa-hoc-xa-hoi/khai-niem-24
Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh, Bài báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường , va-tao-lap-von-cua-doanh-nghiep-trong-nen-kinh-te-thi-tru.1237225.html, [truy cập ngày 18 -02-2013].
Trang 27http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/bao-cao-tot-nghiep-ly-luan-chung-ve-von-Những quan niệm về vốn như trên trong nền kinh tế thị trườ ng ngày nay là lạc
hậu, vì: "Vốn là một phạm trù rộng lớn hơn bao gồm tiền tệ, vật tư, tài sản, đất đai,
nguồn nhân lực, với nhiều loại: vốn hữu hình (tiền mặt, máy móc, ) hay vốn vô hình (bản quyền kinh doanh, phát minh sáng chế, )".25 Đặc trưng của vố n là dùng để đưa vàođầu tư với mục đích tạo ra lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Từ những phân tích trên có thể rút ra được khái niệm đúng về vốn trong công ty cổphần là:
"Vốn trong công ty cổ phần là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu, th am gia liên tục vào quá trình sản xuất kinh doanh của công ty với mục đích đem lại giá trị thặng dư" 1.2.2.2 Đặc điểm của vốn trong công ty cổ phần
Trong phạm trù kinh tế - tài chính, "vốn được chia ra làm nhiều loại theo mục đích
và thời gian sử dụng".26 Xuất phát từ căn cứ là dựa vào đặc điểm luân chuyển giá trị vàcông dụng của vốn – căn cứ này có tầm quan trọng lớn biểu hiện qua chính tên gọi của
nó, nói lên công dụng và giá trị của vốn, đó là những tiêu chí được nhiều sự quan tâm củanhà đầu tư - vốn của công ty được chia thành:27 vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tưtài chính Về mặt pháp lý, vốn được chia ra theo nguồn gốc tạo lập, mục đích tạo lập, dongười sở hữu công ty bỏ vào28 hay do công ty đứng ra vay ta có ba loại vốn là vốn điều
lệ, vốn pháp định và vốn vay Như ta đã thấy, vốn trong công ty không chỉ có một loại
mà nó tồn tại nhiều loại với tên gọi và những đặc điểm riêng Vì vậy có thể nói đặc điểmcủa vốn sẽ được biểu hiện cụ thể và rõ nét qua đặc điểm của từng loại vốn:
Vốn cố định công ty cổ phần là vốn ứng trước để mua sắm tài sản cố định, phục vụcho nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ của công ty, là bộphận vốn của doanh nghiệp được dùng để hình thành nên những tài sản có thời gian sửdụng, thu hồi giá trị mang tính dài hạn.29 Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủyếu của doanh nghiệp với đặc điểm là giá trị lớn và thời gian luân chuyển dài, tham giavào nhiều chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong mỗi chu kỳ sản xuất, giá trị vốn cố định ứng trước sẽ được chuyển từngphần vào giá trị sản phẩm mới Theo nguyên tắc vốn cố định ứng trước sẽ được thu hồi
Trang 28toàn bộ khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng, dưới hình thức phân bổ dần giá trị tài sản
cố định mua sắm hoặc xây dựng (nguyên giá) vào chi phí sản xuất theo giá trị ước tính(khấu hao tài sản cố định) Tài sản cố định có hình thái vật chất gọi là tài sản cố định hữuhình, bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, truyền dẫn,cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm, các loại tài sản cố định khác, nó khôngthay đổi hình thái vật chất từ lúc mua đến lúc hư hỏng Tài sản cố định không có hìnhthái vật chất gọi là tài sản cố định vô hình, bao gồm: chi phí thành lập doanh nghiệp, chiphí về đất sử dụng, chi phí về bằng phát minh sáng chế, lợi thế thương mại
Trong quá trình quản lý và sử dụng, do chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác nhau,tài sản cố định bị hao mòn dần làm giá trị và giá trị sử dụng bị giảm dần Để có thể tái tạotài sản cố định và bảo toàn số vốn cố định, công ty phải có kế hoạch thu hồi vốn cố địnhbằng cách trích khấu hao tài sản cố định và hạch toán chi phí hoạt động sản xuất kinhdoanh Trích khấu hao tài sản cố định là chuyển dịch giá trị hao mòn của tài sản cố địnhvào chi phí sản xuất kinh doanh để hình thành nên nguồn vốn khấu hao tài sản cố định
Vốn lưu động công ty cổ phần là vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiềnlương dưới hình thái nguyên vật liệu dự trữ, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm, tiền tệ,các khoản phải thu trong và ngoài doanh nghiệp, nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuấtcủa doanh nghiệp được liên tục 30
Đối tượng lao động mà công ty cổ phần hướng đến trong kinh doanh gồm hai bộphận Một bộ phận là hàng hóa doanh nghiệp mua về để tiêu thụ , một bộ phận khác baogồm các yếu tố phục vụ cho việc tiêu thụ hàng hóa như các công cụ, dụng cụ, bao bì Hai bộ phận này hợp thành tài sản lưu động của CTCP Vốn lưu động thường xuyên vậnđộng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trì nh kinh doanh và giá trịcủa nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị của hàng hóa tiêu thụ và kết thúcmột vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 31
Đây là loại vốn có điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình hoạt động củacông ty Khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn lưu động hầu hết chuyển dịch giátrị ngay một lần vào giá trị sản phẩm mới, thay đổi hình thái vật chất ban đầu hoặc bị hưhỏng hoàn toàn Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh trongdoanh nghiệp, nếu doanh nghiệp đảm bảo đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất,phân bổ vốn hợp lý trong các giai đoạn luân chuyển thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao,
từ đó có điều kiện thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách Nhà nước, tr ả nợ vay ngânhàng, tăng tích lũy cho doanh nghiệp
Trang 29 Vốn đầu tư tài chính
Vốn đầu tư tài chính công ty cổ phần là vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tham giavào các hình thức đầu tư như mua bán các loại chứng khoán có giá, góp vốn liên doanh,kinh doanh bất động sản nhằm đa dạng hóa các loại hình kinh doanh, giúp công ty có thểvượt qua những khó khăn về tài chính, để ổn định và duy trì các hoạt động của mình khichẳng may hoạt động kinh doanh chính bị thua lỗ.32
Trong nền kinh tế thị trường, với sự tác động mạnh mẽ của quy luật kinh tế, rủi rotrong kinh doanh là điều không tránh khỏi, trong CTCP hay tất cả các loại hình doanhnghiệp khác nếu muốn đảm bảo an toàn, phòng ngừa rủi ro về vốn cần áp dụng nhiềubiện pháp khác nhau, trong đó phân bổ vốn hợp lý, sử dụng hiệu quả và phân tán vốntrong kinh doanh là một biện pháp hữu hiệu Thông thường khi xây dựng chiến lược chodoanh nghiệp thì chỉ tiêu chủ yếu về an toàn trong kinh doanh là đa dạng hóa đầu tư và đadạng hóa sản phẩm với kết quả cuối cùng là bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanhcủa doanh nghiệp Do đó, ngoài việc lập các quỹ dựphòng, mua bảo hiểm, các CTCP cầnphải tham gia vào các hình thức đầu tư Vì nếu chẳng may hoạt động kinh doanh bị thua
lỗ thì nhờ đa dạng hóa các loại hình kinh doanh mà công ty có thể vượt qua những khókhăn về tài chính để ổn định và duy trì các hoạt động trong công ty mình
Vốn điều lệ còn được gọi là vốn gốc hay vốn chủ sở hữu (do người sở hữu công ty
bỏ vào), là một thành phần không thể thiếu trong cấu t rúc vốn của CTCP Trong lịch sửhình thành và phát triển,33 CTCP được biết đến là mô hình công ty được xây dựng như
một công cụ hữu hiệu để huy động nguồn vốn lớn và rộng rãi trong xã hội " Trong các
chế định pháp lý về CTCP theo Luật doanh nghiệp thì chế định vốn điều lệ là chế định cơ bản, thể hiện rõ bản chất của CTCP và là đặc trưng cơ bản để phân biệt CTCP với các loại hình doanh nghiệp khác".34Vốn điều lệ hiện không có định mức tối thiểu, trừ một sốngành nghề kinh doanh cần vốn pháp định thì vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốnpháp định Tài sản dùng để góp vốn điều lệ bao gồm: tiền Việt Nam, ngoại tệ tự dochuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bíquyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty 35
Theo quy định tại Điều 77 Luật doanh nghiệp, vốn điều lệ được chia thành nhiềuphần bằng nhau gọi là cổ phần, tổng giá trị các cổ phần chính là vốn điều lệ CTCP Luật
32 Lê Thị Mận, Lý thuyết tài chính - tiền tệ, Nxb Lao động – xã hội, 2010, tr 86, 87.
33 Từ Thảo, Sự hình thành và phát triển công ty cổ phần trên thế giới và Việt Nam ,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/05/03/4791/, [truy cập ngày 15 -02-2013].
34 Từ Thanh Thảo, Bàn về chế định vốn điều lệ công ty cổ phần , Khoa Luật thương mại - Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật , số 8, 2011, tr 36.
35
Điều 4 khoản 4 Luật doanh nghiệp
Trang 30doanh nghiệp không phân biệt các cổ phần ở đây là cổ phần đã được phát hành và chà obán được hay chưa Thêm nữa theo Luật doanh nghiệp, vốn điều lệ là số vốn do các thànhviên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệcông ty.36 Như vậy, luật không yêu cầu các cổ đông phải có "tiền tươi" để góp vố n ngaykhi công ty thành lập mà cho góp vốn thành nhiều đợt.37 Tuy nhiên văn bản hướng dẫnthi hành Luật doanh nghiệp - Nghị định 102 38- lại đưa ra cách hiểu khác về vốn điều lệCTCP Nghị định 102 chỉ thừa nhận vốn điều lệ CTCP là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần
đã phát hành, là vốn đã thực góp, ngoại trừ tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lậpcông ty, vốn điều lệ của CTCP là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sánglập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều l ệ công ty, số
cổ phần phải được thanh toán trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứngnhận thành lập doanh nghiệp.39 Trong khi đó, theo Luật doanh nghiệp, vốn điều lệ CTCP
là tổng giá trị các cổ phần, không kể là cổ phần đã bán cho cổ đông hay c ổ đông đã thanhtoán đủ cho công ty hay chưa.40 Do vậy, đây là quy định trái Luật doanh nghiệp của Nghịđịnh 102 và không đúng với lý luận về vốn điều lệ CTCP Với vị trí là văn bản dưới luật,Nghị định 102 được ban hành trên cơ sở Luật doanh nghiệp, để cụ thể hoá luật và để thựchiện luật, Nghị định 102 tất yếu sẽ có hiệu lực pháp lý sau Luật doanh nghiệp Thêm vào
đó, về mặt lý luận truyền thống, CTCP là mô hình công ty "đối vốn" đặc trưng, việc pháthành cổ phần để huy động vốn là một "kênh" huy động vốn cơ bản Từ những phân tíchtrên có thể kết luận về khái niệm vốn điều lệ CTCP theo quy định pháp luật hiện hành là:
Vốn điều lệ công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, là số vốn do các cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thờ i hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty; số vốn này không thể là vốn thực góp trong mọi trường hợp mà vốn điều lệ phải được xác định trên cơ sở tổng giá trị cổ phần trong mọi trường hợp Để thu về vốn cổ phần, công ty sẽ tiến hành chào bán các cổ p hần này Chỉ sau ba năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nếu số cổ phần được quyền chào bán quy định tại khoản 4 Điều 84 của Luật doanh nghiệp không được bán hết thì công ty phải đăng ký điều chỉnh giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với
số cổ phần đã phát hành như quy định tại khoản 9 Điều 23 Nghị định 102.
36
Điều 4 khoản 6 Luật doanh nghiệp.
37
Trần Thanh Tùng, Võ Đình Đức, Khi nghị định "đá" luật, đăng tại:
http://www.phapluatvn.vn/danhnhanvaphapluat/201010/Khi-nghi-dinh-da-luat-2010948/), [truy cập ngày 2013].
Trang 31 Vốn pháp định
Theo quy định của Luật doanh nghiệp thì vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải
có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp.41 Luật công ty đề ra vốn phápđịnh cho mọi ngành nghề và xem đó như là một điều kiện để công ty kinh doanh Tuynhiên từ Luật doanh nghiệp năm 1999 trở đi, vốn đã được quan niệm khác trước, điềunày được chứng tỏ qua việc chỉ duy trì loại hình vốn này ở những công ty có việc kinhdoanh thuộc một số nhỏ ngành nghề phải có vốn pháp định vì sự an toàn của chúng đốivới sinh hoạt xã hội, những người thành lập công ty nay không còn bị buộc phải có một
số vốn nhất định bỏ vào một tài khoản thì mới được lập doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp 2005 tiếp tục duy trì quy định về mức vốn pháp định, nhưng có
giới hạn là chỉ áp dụng cho một số lĩnh vực kinh doanh nhất định "Vốn pháp định chỉ tồn
tại trong công ty cổ phần khi lĩnh vực mà công ty có hoạt động kinh doanh mang tính nhạy cảm, dễ có tác động lây lan và có xác suất rủi ro cao, lĩnh vực đó đòi hỏi một mức
độ quy mô vốn cần thiết để đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh". 42
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định 102 về ngành nghề kinh doanh phải có vốnpháp định thì các ngành nghề kinh doanh phải có vốn pháp định này do pháp luật chuyênngành của ngành, nghề kinh doanh đó quy định, kèm theo là quy định về mức vốn phápđịnh cụ thể, cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về vốn pháp định, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định, hồ sơ, điều kiện và cách thức xác nhận vốn phápđịnh
Một số ngành nghề kinh doanh yêu cầu phải có vốn pháp định khi đăng ký kinhdoanh là:43 tổ chức tín dụng,44 quỹ tín dụng nhân dân,45 tổ chức tín dụng phi ngân hàng,46kinh doanh bất động sản,47 dịch vụ đòi nợ,48 dịch vụ bảo vệ,49 dịch vụ đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài,50 sản xuất phim51 (doanh nghiệp phải có Giấy chứng nhận đủ
Trang 32điều kiện kinh doanh do Cục Điện ảnh cấp trước khi đăng ký kinh doanh), kinh doanhcảng hàng không,52 cung cấp dịch vụ hàng không mà không phải là doanh nghiệp cảnghàng không,53 kinh doanh vận chuyển hàng không,54 kinh doanh hàng không chung.55
Vốn vay cũng là một trong những loại vốn cơ bản trong cấu trúc vốn công ty cổphần, là vốn doanh nghiệp thực hiện việc vay vốn từ bên ngoài Thông qua công cụ phântích và khẳng định của lý thuyết tài chính hiện đại, ngoài nguồn vốn tự có của mình,doanh nghiệp sử dụng thêm nguồn vốn vay bên ngoài để góp phần tăng cao hiệu quả kinhdoanh và giá trị của doanh nghiệp mình Số vố n điều lệ cộng với tiền công ty đi vay trởthành nguồn tài chính của công ty 56
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành như đã nêu ở phần khái niệm về vốn thì vốn vay
là một trong các thành phần chính của vốn trong CTCP Để hình thành nên nguồn vốnvay, CTCP có thể đi vay dưới nhiều hình thức tín dụng Điều quan trọng là CTCP phải cómột tỷ lệ vốn vay trên vốn cổ phần hợp lý để phản ánh thế mạnh tài chính của công ty,vừa tạo niềm tin cho các đối tác của mình, những hình thức tín dụng đó là:
Thứ nhất là thông qua phát hành trái phiếu
Theo khoản 3 Điều 77 Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần có quyền phát hànhchứng khoán các loại để huy động vốn Cùng với số cổ phiếu là công cụ huy động vốnchủ sở hữu, CTCP có thể sử dụng trái phiếu để vay vốn trung hạn và dài hạn, đ áp ứngcho nhu cầu về vốn kinh doanh có lúc vượt ngoài khả năng tài chính của các cổ đông Tạikhoản 3 Điều 6 Luật chứng khoán, trái phiếu được quy định là loại chứng khoán xác nhậnquyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức pháthành Trái phiếu xác nhận quyền của người sở hữu trái phiếu được trả nợ gốc và lãi suất
ấn định trong trái phiếu Quan hệ giữa người sở hữu trái phiếu với công ty là quan hệgiữa chủ nợ với con nợ
Thứ hai là tín dụng ngân hàng
Huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng là một hình thức huy độngvốn phổ biến, được các doanh nghiệp áp dụng trên thực tế Thông qua hình thức này,CTCP có thể có được các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đáp ứng được yêu
Trang 33cầu về vốn của hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty vay vốn của ngân hàng phải đảmbảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận, hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúngthời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Thứ ba là tín dụng thuê mua
Trên thực tế nhiều công ty cổ phần khó tiếp cận vốn vay ngân hàng Sự ra đời củacác công ty cho thuê tài chính là một giải pháp để tài trợ vốn trung hạn và dài hạn cho cácdoanh nghiệp Cho thuê tài chính vừa là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, vừa làmột dạng cho thuê tài sản mà theo đ ó, tổ chức tín dụng cho khách hàng quyền sử dụng tàisản trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện khách hàng phải trả tiền thuê.57Tuy nhiên, không phải một giao dịch cho thuê tài sản nào của tổ chức tín dụng cũng đượccoi là cho thuê tài chính Xét về mặt bản chất, giao dịch cho thuê tài chính có những đặcđiểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất, cho thuê tài chính là phương thức cấp tín dụng mà đối tượng là một tài
sản cụ thể;
Thứ hai, cho thuê tài chính là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền năng củ a
chủ sở hữu (bên cho thuê) được chuyển giao cho bên thuê
Cho thuê tài chính được phân thành nhiều phương thức tùy theo từng tiêu chí phânloại Để làm nổi bật bản chất tín dụng, hoạt động cho thuê tài chính có thể được phân loạithành cho thuê tài chính không hoàn lại tài sản thuê và cho thuê tài chính có hoàn lại tàisản thuê
1.2.2.3 Vai trò của vốn trong công ty cổ phần
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động chính của công ty cổ phần là kinh doanh
Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, các CTC P phải có các yếu tố cần thiết như nhàcửa, kho tàng, cửa hàng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, truyền dẫn, vật tư, tiềnmặt, hàng hóa doanh nghiệp mua về để tiêu thụ, các yếu tố phục vụ cho việc tiêu thụhàng hóa (như các công cụ, dụng cụ) Dưới góc độ hiện vật, các yếu tố này gọi là nhữngtài sản Trong điều kiện kinh tế thị trường, các CTCP phải sử dụng một lượng vốn cầnthiết và thông qua các phương thức nhất định như đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê mướn
để hình thành các yếu tố tài sản cần thiết kể trên Với một số lượng nhất định, vốn đápứng nhu cầu cũng như duy trì một quy mô tài sản thích hợp phục vụ cho kinh doanh trongCTCP.58
57Võ Đình Toàn (chủ biên), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam , Đại học Huế, Nxb Công an Nhân dân, 2005, tr.
163.
58
Nguyễn Thị Bình, Vũ Diễm Hà, Giáo trình tài chính doanh nghiệp thương mại , Nxb Hà Nội, 2005, tr 26, 60.
Trang 34Sẽ là không tưởng nếu nghĩ rằng có thể tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinhdoanh nào mà không có vốn hoặc không đủ vốn Do đó có thể nói rằng, vốn trong CTCP
có vai trò đặc biệt quan trọng để bắt đầu, duy trì và phát triển hoạt động của công ty, làđiều kiện vật chất tiền đề không thể thiếu để CTCP có thể tiến hành các hoạt động kinhdoanh Vai trò quan trọng của vốn được thể hiện cụ thể như sau: 59
Một là , vốn là điều kiện không thể thiếu được để CTCP được thành lập (vốn điều
lệ CTCP) Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty cần mua sắm máy móc,trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thuê công sở, mướn nhâ n công Trong giai đoạnnày công ty cần một lượng vốn rất lớn và phải huy động vốn;
Hai là, vốn là điều kiện cần thiết để công ty chủ động thực hiện các dự án mang
lại lợi nhuận Không có vốn thì các dự án sản xuất kinh doanh, các cơ hội kinh doanhmang nhiều lợi nhuận sẽ bị bỏ lỡ và chỉ sẽ là dự định, kế hoạch Mỗi doanh nghiệp cần cóchiến lược duy trì và phát triển khi thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt;
Ba là, vốn vẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp doanh nghiệp có khả năng đầu
tư, đổi mới công nghệ, đầu tư cho quảng cáo nhằm tăng cường cạnh tranh trước các đốithủ
Xuất phát từ những vai trò quan trọng trên của vốn mà cách để CTCP tạo vốn, cóthể huy động vốn tối đa từ mọi nguồn với một chi phí thấp nhất và một cơ cấu tối ưuđóng một vai trò quan trọng không kém Giải quyết được vấn đề trên CTCP sẽ được bảotồn và tăng trưởng, từ đó tạo điều kiện đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của công ty
1.2.3 Pháp luật điều chỉnh nội dung về tài chính trong công ty cổ phần
Để hoạt động về tài chính của công ty cổ phần phát triển lành mạnh cần phải có cơ
sở hạ tầng đầy đủ và phù hợp Trung tâm của môi trường này chính là môi trường pháp lýtrong đó diễn ra các hoạt động về tài chính CTCP Trong môi trường đó, phải có mộtkhuôn khổ pháp luật về tài c hính của công ty vững vàng, đủ để đáp ứng những vấn đềphức tạp trong hoạt động kinh doanh hiện đại Trong hệ thống pháp luật điều chỉnh về tàichính CTCP vừa tồn tại những văn bản pháp luật điều chỉnh chủ yếu, vừa có văn bản điềuchỉnh bổ sung nhằm hổ trợ cho các quy định chủ yếu Nhìn chung hiện nay chúng ta cóhai văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh về tài chính CTCP, đó là:
Một là, Luật doanh nghiệp năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 được Quốc
hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 8 năm 2009 Trong luật này, ngoài phần quy định áp dụng chung cho tất cả
59
Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh, Bài báo cáo tốt nghiệp: Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường , va-tao-lap-von-cua-doanh-nghiep-trong-nen-kinh-te-thi-tru.1237225.html, [truy cập ngày 19 -02-2013].
Trang 35http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/bao-cao-tot-nghiep-ly-luan-chung-ve-von-các loại hình doanh nghiệp trong chương một và chương hai thì chương bốn là chương cónhững quy định dành riêng cho loại hình CTCP từ Đi ều 77 đến Điều 129, chứa trong đó
là những quy định pháp luật điều chỉnh đến vấn đề tài chính của công ty;
Hai là, Nghị định số102/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2010 của Chính phủ
hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp có hiệu lực thi hành kể từngày 15 tháng 11 năm 2010 Đây là văn bản dưới luật, được ban hành trên cơ sở Luậtdoanh nghiệp, nhằm cụ thể hoá luật và thực hiện luật Nghị định này tuy có hiệu lực pháp
lý sau Luật doanh nghiệp nhưng giữ vai trò quan trọng không nhỏ tron g việc điều chỉnh
và cụ thể hơn những nội dung được quy định trong Luật doanh nghiệp cũng như vềCTCP
Những văn bản pháp luật khác cùng điều chỉnh về những vấn đề có liên quan đếntài chính CTCP bao gồm những văn bản luật như Bộ luật dân sự năm 2005;60 Luậtthương mại năm 2005;61 Luật chứng khoán năm 2006;62 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005;63Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 200864 và văn bản dưới luật cụ thể hóa những vănbản luật này
Tóm lại, như đã phân tích, khi doanh nghiệp muốn thành lập và để có thể tiế p tụckinh doanh lâu dài thì phải có một lượng vốn nhất định Số vốn ấy phải đủ cho nhu cầuhoạt động của từng ngành nghề kinh doanh trong doanh nghiệp đó Vì vậy hình thànhvốn cũng như huy động vốn đối với mỗi loại hình doanh nghiệp là vô cùng quan trọng Hầu hết các doanh nghiệp đều thực hiện huy động vốn và điều đó là một tất yếu kháchquan để doanh nghiệp tồn tại, phát triển, tăng tích lũy cho doanh nghiệp mình
Thông qua việc tìm hiểu và khái quát chung từ CTCP đến tài chính trong CTCP đãthể hiện được lý luận về tài chính trong CTCP cũng như thấy được ý nghĩa, tầm quantrọng của tài chính nói chung hay của vốn nói riêng từ khi CTCP được thành lập cho đếnlúc thực hiện các hoạt động kinh doanh
Từ lý luận chung ấy người viết biết được rằng, loại hình doanh nghiệp được xem
là phương thức phát triển cao nhất của loài người để huy động vốn đó chính là công ty cổphần Vì thế có thể nói, huy động vốn là một hoạt động đặc trưng và quan trọng trongCTCP Hoạt động này cùng sự hình thành vốn lúc ban đầu khi t hành lập công ty suy rộng
60 Bộ luật dân sự được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (sau đây gọi là Bộ luật Dân sự) có hiệu lực thi hành từ n gày 01 tháng 1 năm 2006.
61 Luật thương mại được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.
62 Luật chứng khoán được sửa đổi, bổ sung năm 2010 được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thôn g qua ngày 24
tháng 11 năm 2010 (sau đây gọi là Luật chứng khoán) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
63
Luật sở hữu trí tuệ được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2 006.
64 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008(sau
đây gọi là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.
Trang 36ra là hoạt động của CTCP về tài chính Nói về lĩnh vực hoạt động tài chính CTCP thìngoài hình thành và huy động vốn ra chứa trong nó còn có nhiều hoạt động tài chính khácliên quan đến nguồn vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh của công ty, hoạt động kinhdoanh của công ty, đến quyền và lợi ích của các nhà đầu tư, cổ đông của công ty Có thểđiểm qua đó là mua lại cổ phần, chuyển nhượng cổ phần, chi trả cổ tức.
Thừa nhận tầm quan trọng của công ty cổ phần trong nền kinh tế cũng như tầmquan trọng của tài chính trong CTCP, pháp luật nước ta đã có những quy định điều chỉnh
về tài chính CTCP Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, tiếp theo chương một, ở nội dungcủa chương hai luận văn sau đây người viết sẽ phân tích những quy định của p háp luật vềtài chính trong CTCP
Trang 37CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1 CHẾ ĐỊNH HÌNH THÀNH VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1.1 Chủ thể góp vốn công ty cổ phần
Góp vốn vào doanh nghiệp được hiểu là cá nhân, tổ chức dùng t ài sản thuộc sởhữu của mình mua cổ phần của CTCP hoặc đưa vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công tyhợp danh để trở thành chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của doanh nghiệp.65 Vậy có thểđịnh nghĩa góp vốn vào CTCP là cá nhân, tổ chức dùng tài sản thuộc sở h ữu của mìnhmua cổ phần của CTCP để trở thành chủ sở hữu chung của CTCP
Theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật doanh nghiệp thì tổ chức, cá nhân cóquyền mua cổ phần của CTCP, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợpdanh theo quy định của Luật doanh nghiệp, trừ các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
13 của luật này Theo đó những tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn mua cổ phần củaCTCP là66 những pháp nhân, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khôngphân biệt nơi đăng ký trụ sở chính và mọi cá nhân không phân biệt quốc tịch và nơi cưtrú, nếu không thuộc đối tượng được quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật doanh nghiệp trừcác trường hợp được nêu dưới đây đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức khônghạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật doanh nghiệp, các trườnghợp đó là:
Thứ nhất, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết thực
hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán;
Thứ hai, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các trườn g hợp đặc thù áp
dụng quy định của các luật đã nêu tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 102 67 và các quy địnhpháp luật chuyên ngành khác có liên quan;
Thứ ba, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp 100% vốn
nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo phápluật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước;
Trang 38Thứ tư, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ áp dụng theo Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (Phụ lục Nghị định thưgia nhập WTO của Việt Nam)
Nếu như quyền thành lập doanh nghiệp được quy định theo phương pháp loại trừthì cách quy định về quyền góp vốn vào doanh nghiệp cũng được quy định theo phươngpháp như vậy, tức là mọi cá nhân, tổ chức nếu không thuộc trường hợp bị cấm góp vốnvào doanh nghiệp thì đều có quyền góp vốn vào doanh nghiệp Các trường hợp bị cấmgóp vốn vào doanh nghiệp quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật doanh nghiệp bao gồm:
Đối tượng thứ nhất là cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt
Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan,đơn vị mình;
Đối tượng thứ hai là các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo
quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
Theo quy định tại Điều 20 Luật cán bộ công chức thì cán bộ, công chức cũngkhông được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quyđịnh tại Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vànhững việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền Theo khoản
2 Điều 37 Luật phòng chống tham nhũng có quy định rằng người đứng đầu, cấp phó củangười đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vàodoanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việcquản lý nhà nước Như vậy: 68
Một là, về đối tượng bị cấm có hai loại: cán bộ, công chức là những người đứng
đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; vợ hoặc chồng của những người đó;
Hai là, về phạm vi các doanh nghiệp bị cấm: luật chỉ cấm những đối tượng trên
không được góp vốn vào doanh nghiệp mà người đó (người đứng đầu, cấp phó của ngườiđứng đầu cơ quan, đơn vị) trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước
Việc góp vốn vào công ty cổ phần có h ai giai đoạn Giai đoạn một là góp vốn khithành lập công ty, giai đoạn hai là góp vốn khi công ty đang trong quá trình hoạt động.Người góp hoặc cam kết góp vốn điều lệ vào CTCP gọi là cổ đông Cổ đông sẽ góp vốnvào công ty thông qua hoạt động mua cổ phầ n Những thành viên cùng nhau sáng lập raCTCP là những cổ đông sáng lập,69 những cổ đông khác không thuộc cổ đông sáng lậpCTCP là những cổ đông thường
68 Nguyễn Việt Khoa, Từ Thanh Thảo: Luật kinh tế, Nxb Phương Đông, 2010, tr 22.
69 Khoản 11 Điều 4 Luật doanh nghiệp quy định: "Cổ đông sáng lập là cổ đông tham gia xây dựng, ký tên và thông
qua bản Điều lệ đầu tiên của CTCP".
Trang 39Theo quy định của Luật doanh nghiệp, trong công ty cổ phần ngoài cổ phần phổthông phải có, công ty có thể có các loại cổ phần ưu đãi nhằm để cho nhà đầu tư lựa chọnphù hợp với mục đích đầu tư của mình khi góp vốn vào công ty; người sở hữu cổ phầnphổ thông gọi là cổ đông phổ thông, tương tự người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông
ưu đãi Có những loại cổ phần ưu đãi là cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức,
cổ phần ưu đãi hoàn lại và những loại cổ phần ưu đãi khác Với từng loại cổ phần ưu đãi
mà mình sở hữu, nhà đầu tư sẽ được gọi tên tương ứng với loại cổ phần ưu đãi đó
2.1.2 Tài sản góp vốn công ty cổ phần
Theo quy định của Bộ luật dân sự,70 tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và cácquyền tài sản,71 quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao tronggiao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ.72 Loại tài sản mà cổ đông có thể đưa vàoCTCP theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật doanh nghiệp là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất,73 giá trị quyền sở hữu trí tuệ,74 côngnghệ,75 bí quyết kỹ thuật,76 các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty Hay nói cách khácnhà đầu tư có thể dùng bất kỳ loại tài sản nào được coi là hợp pháp để góp vốn vàoCTCP; các tài sản đó có thể là bí quyết kinh doanh, những tài sản là đối tượng của hợpđồng thuê mua, quyền đòi nợ nếu được các thành viên góp vốn khác chấp thuận Nhưng
dù góp vốn bằng tài sản nào thì các bên cũng phải xác định được các tiêu chí để đánh giá
về mặt giá trị của tài sản đó Tài sản dùng để góp vốn đó phải xác định được một giá trịkinh tế cụ thể hay nói khác hơn là có thể quy đ ược ra tiền.77
Nhằm hợp pháp hóa tài sản của người cam kết góp vốn vào công ty thì họ phảichuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty sau khi công ty được cơ quan có thẩm
Khái niệm quyền sử dụng đất không được quy định trong Luật đất đai 2003 nhưng có thể căn cứ trên cơ sở quyền
sử dụng tài sản được quy định tại Điều 1 92 Bộ luật dân sự để xác định, theo đó: "Quyền sử dụng là quyền khai thác
công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản" Vậy từ đó có thể suy ra khái niệm về giá trị quyền sử dụng đất là: "Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị quyền khai thác công dụng, hưở ng hoa lợi, lợi tức từ tài sản là đất".
74
Khoản 1 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ ( Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua ngày 19/6/2009 (sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ) có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2010) quy định: "Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm
quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng".
75
Khoản 2 Điều 3 Luật chuyển giao công nghệ (Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 (sau đây gọi là Luật chuyển giao công nghệ) có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2007) quy định: " Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí qu yết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương
tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm".
76
Khoản 1 Điều 3 Luật chuyển giao công nghệ quy định: "Bí quyết kỹ thuật là thông tin được tích lũy, khám phá
trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả
năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ".
77
Nguyễn Việt Khoa, Từ Thanh Thảo: Luật kinh tế, Nxb Phương Đông, 2010, tr 22-24.
Trang 40quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Việc chuyển quyền sở hữu tài sảngóp vốn cho công ty được thực hiện theo quy định sau đây: 78
Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phảilàm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơquan nhà nước có thẩm quyền Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn khôngphải chịu lệ phí trước bạ;
Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiệnbằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản Biên bản xác nhận phảighi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứngminh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thànhlập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trịtài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngàygiao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc đại diện theo ủy quyền của người góp vốn vàngười đại diện theo pháp luật của công ty;
Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối vớitài sản góp vốn đã chuyển sang công ty
Tài sản khi được góp vốn vào công ty cổ phần phải được chủ thể có thẩm quyềntheo quy định của pháp luật định giá Định giá tài sản góp vốn là việc quy đổi giá trị tàisản góp vốn thành đơn vị tiền tệ, ở đây là tiền đồng Việt Nam Với nguyên tắc định giá
cơ bản nhất là đồng thuận Pháp luật để cho các chủ thể tham gia định giá tự do trongviệc định giá tài sản góp vốn, ngay cả khi việc định giá rõ ràng là cao hơn giá trị thực củatài sản nhiều lần do các chủ thể định giá cố tình nâng cao giá trị tài sản, thì việc định giá
đó vẫn không bị coi là một thỏa thuận vô hiệu Trong Luật doanh nghiệp không có quyđịnh nào về thỏa thuận định giá vô hiệu
Có thể chia tài sản góp vốn vào doanh nghiệp nói chung hay công ty cổ phần nóiriêng thành hai loại đó là tài sản không phải định giá và tài sản phải định giá, cụ thể cáctài sản của từng loại được liệt k ê như sau:
Những tài sản góp vốn mà không phải định giá bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng;
Những tài sản phải định giá bao gồm các loại tài sản còn lại không phải là tài sảnkhông phải định giá kể trên, như giá trị quyền sử dụng đất, g iá trị quyền sở hữu trí tuệ,công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty
78
Điều 29 Luật doanh nghiệp quy định về chuyển quyền s ở hữu tài sản.