Câu 1: Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”. Vùng Ái Châu (tức Thanh Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt. Bằngnhững kiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trongcác vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất.Câu 2: Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàn tay tài hoa của cha ông NXB Giáo dục 1988). Ngày 27 06 2011, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới. Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này.
Trang 1Câu 1: Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Châu
(tức Thanh Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt Bằng những kiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trongcác vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất
Trả lời:
Hồ Quý Ly (1400)
Niên hiệu - Thánh Nguyên
Vào cuối thế kỷ XIV, đất nước ở trong tình trạng rối ren Triều Trần đã trở nên ruỗng nát, bị lung lay tận gốc Nhân hoàn cảnh đó, Hồ Quý Ly, một quý tộc có vây cánh và thanh thế trong triều, đã lấn át dần quyền lực nhà Trần rồi đến nǎm
1400, phế truất hẳn vua Trần lập ra một vương triều mới: Triều Hồ
Hồ Quý Ly dòng dõi người ở Chiết Giang, Trung Quốc Từ đời Ngũ Quý sang Việt Nam sống ở Quỳnh Lưu, (Nghệ An) sau chuyển ra Thanh Hóa Hồ Quý Ly tham dự vào chính sự nhà Trần khoảng 28 nǎm Sau khi bức vua Trần rời đô từ Thǎng Long vào Thanh Hóa và giết hàng loạt quần thần trung thành với nhà Trần, tháng 2 nǎm Canh Thìn (1400) Quý Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu (Nguyên họ Hồ là dòng dõi nhà Ngu bên Trung Quốc, nên Quý Ly đặt niên hiệu là Đại Ngu.) Quý Ly làm vua chưa dược một nǎm, bắt chước tục nhà Trần, nhường ngôi cho con thứ Hồ Hán Thương rồi làm Thái Thượng hoàng cùng coi việc nước
Trong khoảng 35 nǎm nắm quyền chính ở triều Trần và triều Hồ, Quý Ly đã từng bước tiến hành một cuộc cải cách rộng lớn về mọi mặt Về mặt hành chính Quý Ly đổi các lộ xa làm trấn, đặt thêm các chức An Phủ phó sứ, Trấn thủ phó
sứ cùng các chức phó khác ở các châu huyện, ở các lộ thì đặt những chức quan lớn như: Đô hộ, Đô thống, Thái thú quản cả việc quân sự và dân sự Quý Ly còn đặt chức Liêm phóng sứ tại mỗi lộ để dò xét tình hình quân dân
Về mặt kinh tế, cải cách quan trọng nhất của Hồ Quý Ly là phép hạn điền, hạn
nô, phát hành tiền giấy và đổi mới chế độ thuế khóa Đó là những cải cách tiến
bộ nhằm tước giảm thế lực của bọn quý tộc Trần, giải quyết tình trạng kiệt quệ tài chính của triều đình Theo phép hạn điền, trừ đại vương và trưởng công chúa, mỗi chủ đất chỉ được giữ 10 nǎm trở xuống, sổ sách phải sung công, nghĩa là khôi phục chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất Ai có tội được phép lấy ruộng mà chuộc tội
Về vǎn hóa xã hội, Hồ Quý Ly phản đối lối học sáo rỗng, nhắm mắt học vẹt lời nói của cổ nhân để xét việc trước mắt Nǎm Nhâm Thân (1392), Quý Ly soạn
Trang 2sách "Minh Đạo" gồm 14 thiên đưa ra những kiến giải xác đáng về Khổng Tử
và những nghi vấn có cǎn cứ về sách "Luận ngữ" một trong những tác phẩm kinh điển của nho gia Hồ Quý Ly cũng có hoài bão xây dựng một nền vǎn hóa dân tộc Ông trọng dụng chữ Nôm, dịch Kinh thư ra nôm để dạy hậu phi, cung
nữ Ông còn quan tâm đến việc mở thêm trường học ở các lộ phủ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông và định lại phép thi cho có quy củ
Về mặt xã hội, Hồ Quý Ly mở "Quảng Tế Thư" một loại bệnh viện công, chữa bệnh bằng châm cứu và lập kho bán thóc rẻ cho người nghèo Việc ông cho ban hành cân, thước, đấu, thưng để thống nhất đo lường cũng góp phần làm tǎng thêm giá trị vǎn minh của đời sống xã hội
Hồ Quý Ly đã thực hiện những cuộc cải cách ấy với một quyết tâm cao, một tài nǎng xuất chúng và một bản lĩnh phi thường Và dù những cải cách đó có ý nghĩa tích cực nhưng nhìn chung toàn bộ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của
xã hội và những đòi hỏi cấp thiết của dân tộc Chính sách cải cách của nhà Hồ
có hạn chế bớt thế lực họ Trần nhưng lại làm lợi riêng cho họ Hồ nhiều hơn là lợi ích quốc gia Vì vậy ông đã thất bại Cái mà ông làm ra không bằng những bài học ông để lại Bài học lớn nhất, dẫn đến thất bại của ông là dể mất lòng dân Quý Ly đã tiến hành cải cách và đoạt chính quyền bằng bạo lực tàn bạo Trong cuộc tàn sát các tôn thất nhà Trần và những người không ǎn cánh, Quý
Ly đã giết một lúc 370 người, gián tiếp và trực tiếp giết nhiều vua, và còn tiếp tục tàn sát trong nhiều nǎm sau, làm cho người quen biết nhau "chỉ nhìn nhau bằng mắt không dám nói chuyện với nhau bằng lời" Người đương thời cho Quý
Ly là "gian giảo" Một triều vua như vậy thật khó đứng vững
Câu 2: Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một
trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàn tay tài hoa của cha ông - NXB Giáo dục 1988) Ngày 27 - 06 - 2011,
Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này
Trả lời:
Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” Ngày 27 - 06 - 2011,
Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới Đây là công trình Thành Nhà Hồ tỉnh Thanh Hóa
Thành Nhà Hồ thuộc địa phận các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn
Trang 3Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa Đây là kinh thành của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407
Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly - lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhà Trần - cho xây dựng vào năm 1397 Thành xây xong, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông rời đô từ kinh thành Thăng Long (Hà Nội) về Thanh Hóa Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua thay nhà Trần và đặt tên nước
là Đại Ngu (1400-1407), thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô Thành Nhà Hồ trong lịch sử còn có các tên gọi khác là thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai
Thành Nhà Hồ được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á
và là một trong rất ít còn lại trên thế giới Ngày 27/6/2011, tại Paris (Pháp), trong kỳ họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản thế giới, UNESCO đã công nhận thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới
Thành Nhà Hồ đã đáp ứng hai tiêu chí được quy định trong Công ước Di sản Thế giới năm 2008 Đó là tiêu chí 2 “bày tỏ sự trao đổi quan trọng của các giá trị nhân văn, qua một thời kỳ hay bên trong một khu vực văn hóa của thế giới, về những phát triển trong kiến trúc, công nghệ, nghệ thuật điêu khắc, quy hoạch thành phố hay thiết kế phong cảnh” và tiêu chí 4 “là ví dụ nổi bật về một loại hình công trình xây dựng, một quần thể kiến trúc hoặc kỹ thuật hoặc cảnh quan minh họa một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại”
Trong hồ sơ di sản thế giới, thành Nhà Hồ được mô tả là một công trình
kỳ vĩ bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thống xây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 Nhờ kỹ thuật xây dựng độc đáo, sử dụng các vật liệu bền vững, đặc biệt là các khối đá lớn, thành Nhà Hồ được bảo tồn rất tốt trong cảnh quan thiên nhiên hầu như còn nguyên vẹn Đây
là một trong số ít các di tích kinh thành chưa chịu nhiều tác động của quá trình
đô thị hóa, cảnh quan và quy mô kiến trúc còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Theo các tài liệu và thư tịch cổ, cùng với việc khảo cổ, nghiên cứu hiện trạng thì phức hợp di sản thành Nhà Hồ ngoài Thành nội, Hào thành, La thành còn có Đàn tế Nam Giao
Trang 4Câu 3: Triệu Thị Trinh có một câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió
mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Bằng kiến thức lịch sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh
Trả lời
Câu nói nổi tiếng của Bà Triệu : “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân xâm lược Ngô, cưỡi ách nô lệ, há chịu cúi đầu làm tì thiếp cho người ta” có ý nghĩa gì trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ? Bà Triệu là người giỏi võ nghệ, có chí lớn năm 19 tuổi, đáp lời hỏi bà về việc chồng con, bà nói : : “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân xâm lược Ngô, cưỡi ách nô lệ, há chịu cúi đầu làm tì thiếp cho người ta” Bà cùng anh trai chiêu tập nghĩa binh, quyết lòng đánh đuổi quân Ngô cứu nước, cứu dân Có thể nói, Bà Triệu là tấm gương sáng chói về cuộc cách mạng nhân quyền sớm trên thế giới,
vì vào thời điểm mà Bà khởi nghĩa, chế độ nô lệ còn đang bành trướng mạnh
mẽ khắp nơi và thân phận của người phụ nữ vẫn bị coi là rẻ mạt trong hoàn cảnh đất nước đang bị ngoại bang thống trị, với những lễ nghi tôn giáo khắt khe, người đàn ông thường được suy tôn là “đại trưởng phu”, là “anh hùng nam tử” và được quyền “năm thê, bảy thiếp”; còn người phụ nữ chỉ là “thân phận nữ nhi”, “liễu yếu đào tơ”, cùng với những chính sách tàn bạo của nhà Hán nhằm khống chế một bộ phận phản kháng ách áp bức bóc lột, gieo rắc trong lòng xã hội tính “trọng nam, khinh nữ” Tuy nhiên, bà Triệu đã dám khẳng khái tuyên
bố rằng “tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình biển Đông”, để phản kháng lại chế độ và để khẳng định vai trò vị trí của người phụ
nữ trong xã hội thử hỏi đáng nam nhi lức bấy giờ, trong cùng một hoàn cảnh đã mấy ai sánh bằng để phản đối và chống lại chế độ “trai năm thê, bảy thiếp”, phận làm tì thiếp, một hình thức nô lệ” Bà Triệu đã dứt khoát “há chịu cúi đầu làm tỳ thiếp người ta” từ đó bà đã dấn thân vào cuộc nổi dậy thực sự bà đã chiêu binh, phất cờ làm cách mạng đòi sự bình đảng, bình quyền nam nữ trong
đó người phụ nữ không còn phải “cúi đầu làm tỳ thiếp người ta”, và mục tiêu của Bà là “đánh đuổi quân xâm lược Ngô” để nhân dân được hưởng độc lập, thoát khỏi kiếp sống nô lệ
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, người dân Thanh Hóa luôn kiên cường, bất khuất và mưu trí Vì thế, vùng đất xứ Thanh “nhân kiệt” gần như thời nào cũng là nơi phát tích, dựng cờ khởi nghĩa
Trang 5Đó là Bà Triệu với cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Ngô; Dương Đình Nghệ kéo quân từ xứ Thanh ra Đại La đánh chiếm La Thành, cai quản đất nước dưới danh nghĩa Tiết Độ Sứ; Lê Lợi sau mười năm dấy binh đã đánh đuổi giặc Minh giành lại giang sơn xã tắc Người Thanh Hóa không chỉ giỏi “Lên ngựa cầm gươm, xuống ngựa cầm bút” mà còn là những người giàu khả năng sáng tạo Cha con Hồ Quý Ly xây Thành Nhà Hồ, chế súng thần công, đúc tiền đồng
và xây dựng pháp luật; Lê Văn Hưu viết lên “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Lợi với “Lam Sơn thực lục” Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân Việt Nam ghi nhận sự đóng góp to lớn của nhân dân Thanh Hóa với những trận chiến ác liệt, những chiến công vẻ vang Những thanh niên xung phong, tự vệ chiến đấu dũng cảm và chịu đựng gian khổ như Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, anh hùng Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo; anh hùng
Lê Mã Lương với câu nói nổi tiếng “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù” , mỗi người một vẻ nhưng đều làm rạng danh cho Tổ quốc Việt Nam, cho quê hương Thanh Hóa trong lịch sử Lịch sử vinh quang ấy kết tinh thành niềm tự hào của người Thanh Hóa
Linh khí của núi sông hun đúc nên khí chất của con người xứ Thanh cần
cù trong lao động, anh hùng trong đấu tranh, thông minh trong học hành xử thế, trọng danh dự, giữ khí tiết, giàu đạo lý nghĩa tình Phẩm chất cao quý ấy được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác Để rồi những người con xứ Thanh hôm nay luôn ra sức thi đua học tập, lao động xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh
Câu 4: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập như thế nào? Hãy nêu
những hiểu biết của em về một người Cộng sản Thanh Hóa mà em ấn tượng nhất?
Trả lời :
Ngày 29/7/1930, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập tại Làng Yên Trường,
xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh là một bước ngoặt lịch sử quan trọng, là nhân tố quyết định thắng lợi của phong trào đấu tranh cách mạng đánh đổ chế độ thực dân và phong kiến, giành chính quyền ở Thanh Hóa năm 1945, đồng thời giành nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc cũng như trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập hiện nay
Năm 1858, Thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, chính thức xâm lược Việt Nam Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Thanh Hóa, liên tục vùng
Trang 6lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc Pháp xâm lược Các cuộc đấu tranh yêu nước do các sỹ phu phong kiến lãnh đạo, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục diễn ra rộng khắp, thế nhưng đều lần lượt bị địch khủng bố đẫm máu và thất bại, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn của một chính Đảng Trong bối cảnh đó, ngày 03 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (Hương Cảng), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất ba
tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, tạo ra bước ngoặt quan trọng đối với phong trào cách mạng trong cả nước và các địa phương Cũng từ đây phong trào đấu tranh cách mạng ở Thanh Hóa phát triển mạnh mẽ rộng khắp Các chi bộ Cộng Sản: Hàm Hạ - Đông Sơn ; Phúc Lộc - Thiệu Hóa, Yên Trường, Thọ Xuân lần lượt ra đời Trước tình hình phong trào đấu tranh cách mạng ở Thanh Hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ và đang rất cần sự lãnh đạo của Đảng, xuất phát từ yêu cầu cấp bách, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, ngày 29/7/1930, Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã được tổ chức tại Làng Yên Trường, Xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân trên cơ sở hợp nhất 3 chi
bộ Cộng sản gồm Chi bộ Hàm Hạ, Chi bộ Thiệu Hóa và Chi bộ Thọ Xuân Đ/c
Lê Thế Long được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy và là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Đảng bộ Thanh Hóa
Ngôi nhà lịch sử chính là của gia đình đ/c Lê Văn Sỹ - Bí thư Chi bộ Yên Trường, huyện Thọ Xuân lúc bấy giờ, được chọn làm địa điểm để tổ chức hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh vào ngày 29 tháng 7 năm 1930 Điều đặc biệt là cũng tại ngôi nhà này trước đó một tuần đã diễn ra sự kiện thành lập chi bộ cộng sản Yên Trường, tiền thân của Đảng bộ huyện Thọ Xuân Có thể nói sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa là bước ngoặt quan trọng đối với Đảng bộ, nhân dân trong phong trào đấu tranh cách mạng giành chính quyền ở tỉnh ta Chấm dứt giai đoạn khủng hoảng kéo dài của phong trào cách mạng do thiếu sự lãnh đạo của một chính Đảng
Ngay sau khi thành lập, Đảng bộ tỉnh đã đề ra một số nhiệm vụ quan trọng trước mắt đó là: Xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức Nông hội đỏ, Công hội đỏ, cơ quan ấn loát, phát hành tờ báo “ Tiến lên”
Trong quá trình hoạt động, mặc dù bị thực dân Pháp khủng bố dã man, có những thời điểm các Chi bộ Cộng sản và Đảng bộ tỉnh gần như bị cô lập thậm chí là tan rã, nhưng trước yêu cầu bức thiết của lịch sử, bất chấp sự gian khổ, tù đày và hy sinh, các Chi bộ Đảng và Đảng bộ tỉnh nhanh chóng được khôi phục trở lại và tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng và đánh đuổi thực
Trang 7Pháp, lật đổ chế độ phong kiến Từ cuối năm 1935 trở đi, phong trào cách mạng
đã phát triển rộng khắp ở nhiều phủ, huyện trong tỉnh, nhằm chuẩn bị cùng với
cả nước tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền Mở đầu là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ngày 24/7/1945 ở huyện Hoằng Hóa
Đêm ngày 18, rạng sáng ngày 19/8/1945, sau khi Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh phát lệnh tổng khởi nghĩa, nhân dân và tự vệ các huyện nhất tề vùng lên giành chính quyền Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hóa giành thắng lợi nhanh chóng Ngày 23/8/1945, từ đình làng Ngô Xá Hạ ở căn cứ Thiệu Hóa, lực lượng cứu quốc gồm có hàng nghìn tự vệ của các huyện: Thiệu Hóa, Đông Sơn, Yên Định, Thọ Xuân đã tiến về thị xã Thanh Hóa ra mắt quốc dân đồng bào Đ/c Lê Tất Đắc, Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Cách mạng lâm thời tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng và kêu gọi toàn dân đoàn kết xây dựng bảo bệ chế độ mới./
Lê Hữu Lập - Người thanh niên cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa
Lê Hữu Lập lúc nhỏ tên là Độ (ngoài ra còn một số tên gọi khác như:
“Cậu Ấm”, Hoàng tức Thoại, tức Hoàng Lùn), sinh năm 1897 ở thôn Hữu Nghĩa, tổng Xuân Trường, huyện Hậu Lộc (nay là xã Xuân Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa), là con một gia đình nho học có khí tiết
* Lê Hữu Lập - Người thanh niên yêu nước chân chính:
Lúc còn nhỏ tuổi, Lê Hữu Lập được cha, chú mang theo trọ học ở nhiều nơi trong tỉnh Anh có điều kiện tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn Tầm hiểu biết ở một thiếu niên ham hiểu biết ngày được mở rộng
Năm 1918, sau khi tốt nghiệp trường Pháp Việt, được thêm một số kiến thức cả về nho học và tân học, anh càng say sưa suy nghĩ về con đường hoạt động tìm chí hướng Thông thường ở thời kỳ đó, với cái bằng tiểu học, anh có thể được bổ dụng đi làm trợ giáo hoặc thư ký cho các công sở Pháp hoặc Nam triều để kiếm một cuộc sống sung túc Nhưng anh coi cái bả vinh hoa phú quý
do bọn Tây, bọn vua quan đem lại là một sự đê hèn, nhục nhã Bởi lẽ đó, mặc
dù có một tấm bằng trong tay và được phong hai tiếng “Ấm sinh” (tên gọi đương thời thường được dùng cho các con quan lại từ ngũ phẩm trở lên Lê Hữu Lập tuy không phải con quan nhưng do kính trọng cụ Lê Cơ và lại là cháu nội của quan án nên được phong là “Ấm sinh”), song anh vẫn cùng bà con dân làng tham gia lao động, hòa mình với quần chúng trong các công việc đồng áng, phu phen tạp dịch ở vùng nông thôn đồng chua nước mặn Cuộc sống lầm than khổ cực của nông dân, cảnh tô cao, tức nặng của giai cấp địa chủ phong kiến, cảnh
Trang 8bị đánh đập, cùm kẹp… càng khắc sâu hận mất nước của người thanh niên yêu nước Lê Hữu Lập
Sau khi khởi nghĩa Ba Đình thất bại, phong trào cách mạng trong nước bị bọn thực dân, phong kiến đàn áp dã man Hàng trăm, ngàn gia đình có người thân tham gia nghĩa quân đã từng chịu cảnh đầu rơi máu chảy Khắp đó đây nỗi uất hận tràn ngập trong lòng quần chúng Ngay tại Làng Hữu Nghĩa, nơi chôn rau cắt rốn của đồng chí Lê Hữu Lập, đã có hàng chục gia đình bị tàn sát dã man, hàng trăm nóc nhà bị triệt hạ Thực tế lịch sử ấy càng hun đúc thêm lòng yêu nước, căm thù giặc trong tâm khảm người thanh niên trẻ tuổi Lê Hữu Lập
Một ngày hè năm 1922, Lê Hữu Lập đã trực tiếp gặp đồng chí Đinh Chương Dương, một thanh niên lớn tuổi đương thời đã từng nhiều phen bị thực dân Pháp kết tội vì có lòng yêu nước Đồng chí Đinh Chương Dương đã đem những hiểu biết của mình truyền lại cho Lê Hữu Lập, kể cho anh nghe về các tổ chức cách mạng trong nước, ngoài nước; về các nhà ái quốc Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, về chính sách áp bức bóc lột của bọn thực dân Pháp đối với nhân dân ta Những ngày tiếp xúc với Đinh Chương Dương tình cảm và lý trí của Lê Hữu lập càng lớn lên Anh nhận ra một hướng đi mới và luôn suy nghĩ đến điều căn dặn của Đinh Chương Dương: “Muốn làm cách mạng phải đi học cách mạng và muốn đi học cách mạng phải thoát ly gia đình Tuổi trẻ lúc này phải vươn cánh tay đập mạnh vào đầu giặc, đền nợ nước, trả thù nhà”
Đầu năm 1923, Lê Hữu Lập tạm biệt mẹ già, người vợ hiền và đứa con thơ mới ba tháng tuổi, bước vào con đường thoát ly hoạt động
Giữa năm 1924, Lê Hữu Lập được Đinh Chương Dương đưa sang Quảng Châu tham gia vào “Tâm Tâm xã” Tổ chức này ra đời từ năm 1923 do các đồng chí Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu và một số thanh niên có tư tưởng tiến bộ thành lập tại Quảng Châu, một thành phố ở miền nam Trung Quốc
* Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa cộng sản:
Trong lúc Tâm Tâm xã đang mò mẫm đi tìm đường lối cách mạng thì tháng 12 năm 1924, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Trung Quốc
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã liên hệ được với nhóm Tâm Tâm xã và nhóm cách mạng của cụ Phan Bội Châu Các đồng chí Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hữu Lập… trong Tâm Tâm xã và một số người khác từ trong nước ra
đã được đồng chí Nguyễn Ái Quốc huấn luyện chính trị để đào tạo thành những cán bộ cách mạng
Trang 9Đầu năm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tháng 6 năm 1925, đồng chí Lê Hữu Lập được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội
Đồng chí Lê Hữu Lập có vinh dự được sống gần gũi bên cạnh đồng chí Nguyễn Ái Quốc, một người thầy lỗi lạc, một nhà cách mạng thiên tài, trực tiếp được Người bồi dưỡng về lý luận cách mạng và phương pháp cách mạng, chính điều này đã đưa Lê Hữu Lập đi từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa cộng sản, con đường đi đúng đắn do Bác Hồ vạch ra cho thanh niên nước ta
Cuối năm 1925, đồng chí Lê Hữu Lập cùng một số anh em khác trực tiếp được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ rời Quảng Châu về nước tuyên truyền giác ngộ cách mạng và lựa chọn những thanh niên yêu nước ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Trị đưa sang Quảng Châu huấn luyện
* Những tháng năm sôi động
Lê Hữu Lập về tỉnh nhà vào giữa lúc phong trào yêu nước của nhân dân
ta trở nên sôi động, tạo thuận lợi cho đồng chí có điều kiện hoạt động Anh khẩn trương đi vào nhiệm vụ tuyên truyền con đường cách mạng mới của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
Tháng 5 năm 1926, tại số nhà 26 phố Hàng Than, Thị xã Thanh Hóa, đồng chí Lê Hữu Lập đã tổ chức Hội đọc sách báo cách mạng Đồng chí Lê Hữu Lập đã tìm đến những thanh niên yêu nước Các anh Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Chí Hiền, Mai Xuân Diễn, Lê Văn Thanh, Hoàng Khắc Trung… được anh tổ chức tham gia và trở thành hạt nhân của Hội đọc sách báo cách mạng bí mật
Sau khi Hội đọc sách báo cách mạng ra đời, lớp thanh niên tiến bộ và những nhà thơ yêu nước bắt đầu được nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ trương của cách mạng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở
đó, đồng chí Lê Hữu Lập đã tiến hành cuộc vận động xuất dương để học tập con đường cứu nước của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
Anh Nguyễn Văn Đắc ở Thị xã Thanh Hóa được Lê Hữu Lập tổ chức chuyến xuất dương đầu tiên (Nguyễn Văn Đắc tức Cao Hoài Nghĩa, sau khi dự xong lớp huấn luyện tại Quảng Châu được cử sang Thái Lan hoạt động trong tổ
Trang 10chức cách mạng của Việt Kiều) Đoàn xuất dương lần đầu thuộc các tỉnh miền Trung gồm có mười người, trong đó có đồng chí Trần Phú, sau này là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng cộng sản Đông Dương
Sau khi hoàn thành chuyến xuất dương thứ nhất, đồng chí Lê Hữu Lập trở về tiếp tục vận động xuất dương ở Thanh Hóa, Nam Định và Thái Bình Các đồng chí Nguyễn Mậu Sung (Thọ Xuân) và Võ Danh Thùy (Nông Cống) là hai người được đồng chí Lê Hữu Lập vận động xuất dương lần hai Ngày 20 tháng
02 năm 1926, đoàn xuất dương lần hai gồm mười người được lệnh lên đường
Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thứ nhất: Vận động thanh niên đi sang nước ngoài học tập lý luận cách mạng, đồng chí Lê Hữu Lập bắt tay vào nhiệm
vụ thứ hai: Xây dựng tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội tỉnh nhà
* Lê Hữu Lập - Người thanh niên cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa Đầu năm 1927, trên cơ sở Hội đọc sách báo cách mạng phát triển, đồng chí Lê Hữu Lập kịp thời chỉ đạo việc thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội tỉnh Thanh Hóa
Tháng 4 năm 1927, Ban chấp hành Tỉnh bộ lâm thời Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội được thành lập gồm ba ủy viên: Lê Hữu Lập, Lê Văn Thanh, Nguyễn Chí Hiền Đồng chí Lê Hữu Lập được cử làm Bí thư Tỉnh
bộ lâm thời
Một ngày đầu tháng 4 năm 1928, dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Hữu Lập, hội nghị đại biểu Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội tỉnh Thanh Hóa đã làm việc trong ba buổi và bầu ra Ban chấp hành Tỉnh bộ chính thức gồm bảy ủy viên Đồng chí Lê Hữu Lập được cử làm Bí thư và sau đó được bầu vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Thanh niên Trung Kỳ
Năm 1929, đồng chí được cử sang Thái Lan hoạt động
Tháng 11 năm 1929, đồng chí Lê Hữu Lập bị tòa án Nam Triều Thanh Hóa kết án tử hình vắng mặt
Tháng 3 năm 1930, tại Hội nghị đại biểu Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở U-Đôn (Thái Lan) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã quyết định chuyển tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội thành
tổ chức cộng sản Do công lao đóng góp tích cực cho việc thành lập Đảng cộng sản, đồng chí Lê Hữu Lập đã trở thành đảng viên cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa