1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài dự thi Em yêu lịch sử xứ Thanh

22 889 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 553 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tạo điều kiện cho học sinhtrung cơ sở tìm hiểu lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Thanh Hóa, từ đónâng cao lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, trên cơ sở đó xác

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU:

Sinh thời Bác Hồ đã dạy:

“Dân ta phải biết sử taCho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Lịch sử là một môn học trong chương trình phổ thông, ở đó ngoài những kiếnthức chung về lịch sử dân tộc, chúng em còn được học phần lịch sử địa phương Đó

là nguồn mạch nuôi dưỡng cho chúng em tinh thần tự hào về quê hương đất nước,

từ đó thêm yêu quê hương Thanh Hóa anh hùng Để tạo điều kiện cho học sinhtrung cơ sở tìm hiểu lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Thanh Hóa, từ đónâng cao lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, trên cơ sở đó xác định

ý thức trách nhiệm của người công dân tương lai tham gia xây dựng và bảo vệ Tổquốc nói chung và quê hương Thanh Hóa nói riêng ngày càng phồn vinh, giàu đẹp,đồng thời giúp học sinh các trường THCS hứng thú và say mê học tập môn Lịch sử,tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của quê hương Thanh Hóa anh hùng , SởGD&ĐT Thanh Hóa Hướng dẫn tổ chức và phát động Cuộc thi “Em yêu Lịch sử xứThanh” lần thứ nhất năm học 2016-2017 Cuộc thi là mọt sân chơi để chúng em có dịp tìmhiểu kĩ hơn lịch sử của Thanh Hóa qua các thời kì, để hiểu biết sâu rộng về lịch sử dân tộc,

để học tốt hơn môn Lịch sử trong trường THCS

Vì những lí do trên đây em đã tích cực tham dự cuộc thi Em đã cố gắng sưu tầm tàiliệu, tìm hiểu các thông tin trên các phương tiện thông tin để hoàn thành bài thi của mình

Trang 2

NỘI DUNG CÂU HỎI:

Câu 1: Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Châu (tức

Thanh Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt Bằng nhữngkiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trong các vịvua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất

Câu 2: Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một trong

những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàntay tài hoa của cha ông - NXB Giáo dục 1988) Ngày 27 - 06 - 2011, Tổ chứcUNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới Đó làcông trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồnghiểu biết về công trình này

Câu 3: Triệu Thị Trinh có một câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh,đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lạigiang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Bằngkiến thức lịch sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chống giặcngoại xâm của con người xứ Thanh

Câu 4: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập như thế nào? Hãy nêu những

hiểu biết của em về một người Cộng sản Thanh Hóa mà em ấn tượng nhất?

Câu 5: Ngày 20/2/1947, Bác Hồ vào thăm Thanh Hóa đã căn dặn: “Thanh

Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu phải làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự phải là tỉnh kiểu mẫu, làm hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến”

Thực hiện lời căn dặn của Bác, sau 30 năm đổi mới (1986-2016) Đảng bộ, quân và dân Thanh Hóa đã phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Em hãy nêu một thành tựu nổi bật nhất góp phần đưa Thanh Hóa từng bước trở thành tỉnh kiểu mẫu Liên hệ trách nhiệm bản thân

Trang 3

TRẢ LỜI:

Câu 1: Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Châu (tức

Thanh Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt Bằng những kiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trong các vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất.

Xứ Thanh đúng là cái nôi của vua chúa Việt Vùng đất này là quê hương của những ông vua nổi tiếng trong lịch sủ dân tộc như Lê Hoàn, Lê Lợi, … Trong đó

Lê Lợi là một trong những vị vua có công lao to lớn đối với lịch sử dân tôc, là niềm

tự hào của mỗi người con Thanh Hóa

Lê Lợi sinh ngày 10 tháng 9 năm 1385 mất ngày 22 tháng 8 năm 1433 Quê quán ở Xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Ông xuất thân là hào trưởng, có uy tín và ảnh hưởng lớn trong vùng , là người khởi xướng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, chiến thắng quân Minh, giành lại độc lập cho nước Đại Việt và trở thành vị hoàng đế sáng lập nhà Hậu Lê

Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy vong Năm 1400, nhà Hồ được thành lập, công cuộc cải cách của nhà Hồ chưa đạt được kết quả như mong muốn thì giặc Minh ồ ạt tiến đánh nước ta Năm 1407, cuộc khởi nghĩa của nhà Hồ thất bại, nước

ta rơi vào ách đô hộ của nhà Minh Trước những hành động bạo tàn của kẻ thù, ngày mồng 02 Tết Mậu Tuất (năm 1418), từ núi rừng Lam Sơn (Thanh Hóa), Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách.Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào kiệt từ bốn phương kéo

về Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa ở đó có đủ các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý, Xa Khả Tham Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước Lê Lợi là linh hồn,

là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy

Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược Lúc ấy Lê Lợi xưng

là Bình Định vương Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngày càng lan rộng ra khắp cảnước Sau gần 10 năm chiến đấu ngoan cường, đến đầu năm 1426, quân Minh bị

Trang 4

quân khởi nghĩa bao vây ở Đông Quan (Thăng Long) Vương Thông - tướng chỉhuy quân Minh hoảng sợ, một mặt xin hàng nghĩa quân, mặt khác bí mật sai người

về nước xin quân cứu viện.Cuối năm 1427, Liễu Thăng chỉ huy10 vạn quân cứuviện ồ ạt kéo vào nước ta theo đường Lạng Sơn Nghĩa quân đánh tan tành ở trậnChi Lăng - Xương Giang lừng lẫy

Ngày 14 tháng 04 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế tại kinhthành Thăng Long.đặt lại tên nước là Đại Việt, niên hiệu là Thuận Thiên, Trong sựnghiệp xây dựng đất nước buổi đầu của vương triều Lê, Lê Lợi đã có những cốgắng không nhỏ về nội trị, ngoại giao, nhằm phục hồi, củng cố, phát triển đất nướctrên mọi mặt, như tổ chức lại bộ máy chính quyền từ trung ương xuống địa phương;ban hành một số chính sách kèm theo những biện pháp có hiệu quả để khôi phụcsản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống xã hội Lê Lợi cũng chú ý tới việc phát triểnvăn hóa, giáo dục, đào tạo nhân tài Lê Lợi đã cho mở khoa thi Minh Kinh Năm

1431, thi khoa Hoành từ Năm 1433, Lê Lợi đích thân ra thi văn sách

Nhưng, nhiệm vụ chính trị lớn nhất phải quan tâm giải quyết hàng đầu sau khiđất nước được giải phóng là việc tăng cường củng cố, giữ vững nền độc lập, thốngnhất của Tổ quốc Về phương diện này, Lê Lợi đã làm được hai việc có ý nghĩa lịch

sử Thứ nhất, ông đã thành công trong cuộc đấu tranh ngoại giao, thiết lập quan hệbình thường giữa triều Lê và triều Minh Thứ hai, Lê Lợi đã kiên quyết đập tannhững âm mưu và hành động bạo loạn muốn cát cứ của một số ngụy quân trước,điển hình là vụ Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, Lai Châu Trong bài thơ làm khắc vàovách đá núi Pú Huổi Chò (bên sông Đà, thuộc Lai Châu) năm 1431 khi đánh ĐèoCát Hãn, Lê Lợi đã nói rõ ý chí bảo vệ sự thống nhất giang sơn:

Lê Thái Tổ cũng là nhân vật trong truyền thuyết Hồ Gươm, một sự tích nổitiếng trong dân gian Việt Nam, kể lại quá trình ông có được thanh kiếm thần, tươngtruyền được thần nhân ban xuống để giúp ông chống lại quân đội nhà Minh

Vua ở ngôi gần 6 năm, mất ngày 22 tháng 08 năm Quý Sửu (1433), hưởng thọ 48tuổi Đền thờ tại khu di tích lịch sử Lam Kinh (Thọ Xuân- Thanh Hóa )

Trang 5

Câu 2: Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàn tay tài hoa của cha ông - NXB Giáo dục 1988) Ngày 27 - 06 - 2011,

Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này

Lời nhận xét của học giả người Pháp đã nhắc đến Thành Nhà Hồ.Thành nhà

Hồ hiện nay nằm trên hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) Đây

là công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai tại Việt Nam Được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, thành này còn được gọi là Tây Đô (hay Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội) Xây xong thành, Hồ Quý

Ly đã dời đô từ Thăng Long về Tây Đô

Theo sử liệu, vào năm 1397, trước nguy cơ đất nước bị giặc Minh từ phương Bắc xâm lăng, Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn (nay là Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) để xây dựng kinh thành nhằm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài, đồng thời cũng là cách để hướng lòng dân đoạn tuyệt với nhà Trần Theo chính sử, thành đượcxây dựng rất khẩn trương, chỉ trong 3 tháng Thế đất được chọn nằm ở khu vực giữasông Mã và sông Bưởi, phía bắc có núi Thổ Tượng, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía đông có núi Hắc Khuyển, phía nam là nơi hội tụ của sông Mã và sông Bưởi Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4 km Hào thành được đào bao quanh bốn phía ngoài nội thành, cách chân thành theo các hướng khoảng 50 m Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần vuông Chiều Bắc - Nam dài 870,5 m, chiều Đông - Tây dài 883,5 m Bốn cổngthành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng Tiền - Hậu - Tả - Hữu Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình mái vòm Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau Cổng tiền (cổng phía Nam) là cổng chính, có ba cửa Cửa giữa rộng 5,82

m, cao 5,75 m, hai cửa bên rộng 5,45 m, cao 5,35 m Ba cổng còn lại chỉ có một cửa Tường thành cao trung bình 5-6 m, chỗ cao nhất là cổng tiền cao 10 m

Trang 6

Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai (đường Hoàng Gia) lát đá dài khoảng 2,5 km hướng về đàn tế Nam Giao (nơi nhà vua tế lễ) được xây dựng vào tháng 8/1402 Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau.Các phiến đá dài trung bình 1,5 m, có tấm dài tới 6 m, trọng lượng ước nặng 24 tấn Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000 m3 và gần 100.000 m3 đất được đào đắp công phu Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững Qua hơn 600 năm cùng những biến cố thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn, dù thời gian xây dựng rất gấp gáp, chỉ trong khoảng 3 tháng Theo sử sách trong thành còn rất nhiều công trình được xây dựng, như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái miếu,núi Thọ Kỳ, Dục Tượng rất nguy nga, chẳng khác gì kinh đô Thăng Long Tuy nhiên, trải qua hơn 600 năm tồn tại, hầu hết công trình kiến trúc bên trong Hoàng thành đã bị phá hủy Những dấu tích nền móng của cung điện xưa giờ vẫn đang nằm ẩn mình phía dưới những ruộng lúa của người dân quanh vùng.

Thành Tây Đô thể hiện một trình độ rất cao về kĩ thuật xây vòm đá thời bấy giờ Những phiến đá nặng từ 10 đến 20 tấn được nâng lên cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàn toàn không có bất cứ một chất kết dính nào Trải qua hơn 600 năm, những bức tường thành vẫn đứng vững Được xây dựng và gắn chặt với một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều

Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc, Thành Nhà Hồ còn là dấu ấn văn hóa nổi bật của một nền văn minh tồn tại tuy không dài, nhưng luôn được sử sách đánh giá cao.…

Ngày 27/6, tại phiên họp lần thứ 35 của Ủy ban di sản thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra tại thủ đô Paris (Pháp), thành nhà Hồ đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới

Trang 7

Câu 3: Triệu Thị Trinh có một câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió

mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Bằng kiến thức lịch sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh.

Lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm là một bộ phận rất quan trọng trong lịch sử cấu thành nước ta Chống ngoại xâm để xây dựng một quốc gia độc lập, dân tộc độc lập.Qua hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ và 20 cuộc kháng chiến lớn, ta thấy, lịch sửđấu tranh chống ngoại xâm đã để lại một truyền thống quý báu anh hùng của dân tộc Nghiên cứu vấn đề này một cách toàn diện sẽ góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc sâu xa của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, phát huy truyền thống anh hùng và phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam trong thời đại ngày nay Truyền thống chống ngoại xâm là một vốn quý vô giá của dân tộc, là nguồn động viên tinh thần lớn lao, có tác dụng duy trì tư tưởng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu đối với nhân dân ta Việc đánh giặc cứu nước là rất quan trọng nhưng cũng rất bình thường đối với mọi người dân Nhân dân ta nhận thức sâu sắc rằng: nước mất thì nhà tan, do đó, muốn bảo vệ quyền lợi cá nhân thì không có cáchnào khác là phải đấu tranh bảo vệ quyền lợi của dân tộc Đấu tranh vì quyền lợi cá nhân nhưng không chỉ vì quyền lợi cá nhân mà còn vì nghĩa cả của dân tộc Từ xưa,truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và của tỉnh Thanh Hóa nói riêng Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh chóng giặc ngoại xâm trong lịch sử Thanh Hóa là cuộc khởi nghĩa BàTriệu, là phong trào Cần Vương và 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc: chống pháp và chống Mĩ xâm lược

1 Khởi nghĩa bà Triệu (248)

Trang 8

Triệu Thị Trinh sinh ra trong một gia đình yêu nước, có thế lực ở quận Cửu Chân

Bà là người giỏi võ nghệ, giàu mưu trí và có chí lớn Nhân dân còn truyền tụng các

câu nói đầy khí phách của bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người!”

Năm 248, Bà Triệu phất cờ khởi nghĩa ở vùng núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hóa) Đông đảo nhân dân khắp hai quận Cửu Chân, Giao Chỉ (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ) nổi dậy hưởng ứng

Bà Triệu đã chỉ huy nghĩa quân đánh thắng nhiều trận, quân Ngô tan rã.Bọn quan lại thống trị từ Thứ sử Giao Châu trở xuống đến các huyện lệnh đều bị giết hoặc chạy trốn Cả Giao Châu chấn động

Nhà Ngô phải cử danh tướng Lục Dận đem quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Nghĩa quân đã chiến đấu anh dũng, kiên cường nhưng vì lực lượng quân sự còn yếunên đã thất bại Bà Triệu Thị Trinh hy sinh trên núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh Hóa) Trên núi Tùng hiện có mộ Bà Triệu và dưới chân núi Tùng là Đền thờ chính của Bà Triệu, cạnh quốc lộ số 1, thuộc Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hóa Hội đền hằng năm vào ngày 21 tháng hai âm lịch .Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu là một cuộc khởi nghĩa lớn, có thanh thế vang dội, là đỉnh cao của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thế kỷ II, III

Cho đến nay, nhân dân cả nước còn lưu truyền hình ảnh Bà Triệu và hoạt động của quân khởi nghĩa

Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, nhưng hình ảnh người con gái kiên trinh bất khuất,người nữ anh hùng dân tộc siêu việt quyết nối chí Bà Trưng "giành lại giang san,cởi ách nô lệ" muôn thuở không mờ trong tâm trí phụ nữ và dân tộc Việt Nam

Trang 9

2 Khởi nghĩa Ba Đình và Phong trào Cân Vương:

Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta,triều đình nhà Nguyễn đã phân hóa sâu sắc, những người chủ chiến đã nổi dậy ngaytại kinh thành Huế Cuộc nổi dậy không thành, Tôn Thất Thuyết cùng vua HàmNghi rời kinh thành ra đi, kêu gọi nhân dân phò vua, cứu nước Vua Hàm Nghi banchiếu Cần Vương Hưởng ứng chiếu Cần Vương, phong trào Cần Vương đánh Pháp

do các văn thân, sỹ phu yêu nước lãnh đạo phát triển mạnh mẽ, được nhân dân trênkhắp cả nước hưởng ứng

Trong cao trào yêu nước chống xâm lược Pháp của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX,nhân dân Thanh Hóa đã có sự đóng góp to lớn, tô thắm thêm truyền thống yêunước, chống giặc ngoại xâm anh dũng, quật cường của nhân dân ta Những cuộcnổi dậy chống Pháp hưởng ứng chiếu Cần Vương nhất tề đứng lên đánh đuổi giặcTây, thể hiện lòng yêu nước, khí thế đánh giặc sục sôi, bừng bừng nghĩa khí,

Cuộc khởi nghĩa Ba Đình năm 1886-1887 là đỉnh cao của phong trào Cần Vươngchống thực dân Pháp xâm lược ở Thanh Hóa

Khởi nghĩa Ba Đình là sự liên kết, phối hợp của nhiều vùng, nhiều địa bàn dưới sựlãnh đạo của các sĩ phu yêu nước Gần với Ba Đình có Nguyễn Kiên đóng ở BồGiông, Mậu Yên, Trường Phi Lai; Tống Duy Tân đóng ở Bồng Trung; Cao Điểnđóng ở Sơn Thôn; Bang Hiền và Nghĩa quân đóng ở núi Gây Từ Ba Đình nghĩaquân tỏa đi các nơi, chặn đánh các đoàn xe vận tải của địch và tập kích các toán línhhành quân

Không chỉ có người Kinh đứng lên chống Pháp, đồng bào các dân tộc miền núicũng hăng hái hưởng ứng phong trào Cần Vương, theo Cầm Bá Thước, Hà VănMao và đoàn quân nghĩa đánh Tây:

Dưới sự chỉ huy của các lãnh tụ Ba Đình, nghĩa quân chiến đấu anh dũng, lập nhiềuchiến công: Thanh thế của phong trào Cần Vương chống Pháp dâng cao, khiến chogiặc chịu thất bại nặng nề và hoang mang lo sợ Để cứu nguy, giặc Pháp huy động

Trang 10

mọi binh lực hòng tiêu diệt căn cứ chiến đấu Ba Đình Trước tình hình trên, đểtránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, dành sức cho cuộc chiến đấu lâu dài, Phạm Bành

và Đinh Công Tráng quyết định rút quân khỏi căn cứ Ba Đình

Đầu năm 1887, giặc Pháp đàn áp dữ dội phong trào Cần Vương Căn cứ Ba Đình

và căn cứ Mã Cao nối tiếp nhau thất thủ lãnh tụ và các nghĩa binh chiến đấu vàtuẫn tiết hy sinh Cuộc khởi nghĩa Ba Đình năm 1886-1887 và phong trào CầnVương chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX ở Thanh Hóa đã tô đẹpthêm truyền thống vẻ vang của dân tộc ta trong chiến tranh chống xâm lược, phảnánh tinh thần yêu nước nồng nàn, sức mạnh đoàn kết hùng hậu của các tầng lớpnhân dân, tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất trong cuộc chiến tranh vô cùnggian khổ, đầy hy sinh để bảo vệ độc lập dân tộc còn mãi với non sông , đất nước Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa không chỉ để lại trang

sử vàng trong lịch sử mà còn để lại một di sản văn hóa có giá trị, trong đó vè vềkhởi nghĩa Ba Đình và phong trào kháng Pháp là một minh chứng Loại hình vănhóa dân gian đó cần phải được tiếp tục sưu tầm, gìn giữ và phát huy nhằm giáo dụctruyền thống lịch sử, yêu nước và cách mạng, bồi đắp và phát huy tinh thần chiếnđấu vì độc lập, tự do cho các thế hệ người xứ Thanh hôm nay và mai sau, chungsức xây dựng và bảo vệ đất nước, quê hương ngày càng tươi đẹp, mạnh giàu

3 Thanh Hóa trong kháng chiến chống Pháp (1946- 1954)

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa là tỉnh đấtrộng, người đông, cùng với 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hợp thành hậu phươngThanh – Nghệ - Tĩnh, trong đó Thanh Hóa là tỉnh địa đầu của miền Trung, là hậuphương trực tiếp của chiến trường Liên khu III, Bắc Bộ và Tây Bắc

Mùa hè năm 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang năm thứ 8 Cụcdiện chiến trường Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng Tại chiến trường Bắc

Bộ, Tây Bắc, quân và dân ta mở nhiều chiến dịch lớn Mọi nhu cầu bảo đảm chocuộc kháng chiến đòi hỏi rất lớn ở hậu phương

Trang 11

Những tháng cuối năm 1953, hậu phương Thanh Hóa vừa phải ra sức đẩy mạnh mọimặt công tác xây dựng và bảo vệ hậu phương, vừa tích cực động viên sức người,sức của cho tiền tuyến đánh thắng Chiến dịch nối tiếp chiến dịch, từ năm 1951-

1953, quân và dân Thanh Hóa liên tiếp bổ sung lực lượng, phục vụ 5 chiến dịch lớn:Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc và Thượng Lào Đặc biệt chiến dịchThượng Lào tháng 5-1953, Thanh Hóa bảo đảm tới 76% nhu cầu của cả chiến dịch

Chiến thắng Điện Biên Phủ là nguồn cổ vũ, động viên quân và dân Thanh Hóachiến đấu bảo vệ địa phương, dồn sức chi viện cho chiến trường Trong chiến dịch,Thanh Hóa đã thể hiện rõ vai trò hậu phương chiến lược quan trọng của Điện BiênPhủ Lực lượng vũ trang Thanh Hóa đã bổ sung 1 tiểu đoàn, 2 đại đội, 2 trung đội

và hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu Tinh thần xả thân chiếnđấu ngoan cường của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Thanh Hóa trên mặt trận làbiểu tượng tốt đẹp rực sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng Kết thúc cuộc khángchiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa có 5 đồng chí được Đảng và Nhànước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đó là: Anhhùng liệt sĩ Trần Đức, xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia; anh hùng liệt sĩ Lê Công Khai,

xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa; anh hùng liệt sĩ Trương Công Man, xã CẩmPhong, huyện Cẩm Thủy; anh hùng Lò Văn Bường, xã Xuân Lẹ, huyện ThườngXuân; tiêu biểu là anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện, Tiểu đội trưởng Đại đội 827, Tiểuđoàn 394, Trung đoàn pháo cao xạ 367, quê xã Nông Trường, huyện Nông Cống đãlấy thân mình cứu pháo không để rơi xuống vực thẳm Âm vang Điện Biên Phủ đãlan tỏa trên các mạch sống của nhân dân Thanh Hóa nói chung và lực lượng vũtrang Thanh Hóa nói riêng Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo nên nguồn lực tiếp sứccho lực lượng vũ trang Thanh Hóa cùng quân và dân cả nước tiếp tục chiến thắng

đế quốc Mỹ xâm lược, vững bước đi lên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc ngày nay

Ngày đăng: 19/12/2016, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w