Nguyễn Thị Thúy Mỵ tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi chuồng kín tại trại Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011- 2016
Thái Nguyên - năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011- 2016
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Thái Nguyên - năm 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Qua sáu tháng thực tập tại cơ sở cũng như trong suốt thời gian học tập tại nhà trường, nhờ sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn, bạn bè và sự nỗ lực của bản thân tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp để chuẩn bị ra trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, tới thầy giáo,
cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường
Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ - người đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực tập và
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên tôi động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Cũng qua đây, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bác Đặng
Đức Khang cùng ban lãnh đạo cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên công tác
xã Hướng Đạo – Huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh Viên
Hoàng Xuân Thành
Trang 4ii
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là nội dung cuối cùng trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian quan trọng với mỗi sinh viên, là cơ hội để áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời đây cũng là khoảng thời gian quý báu để mỗi sinh viên học hỏi, thu thập mọi kiến thức, là hành trang bước vào cuộc sống mới với công việc của mình
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, yêu cầu của cơ sở, được sự đồng
ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, được sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi chuồng kín tại trại Đặng Đức Khang
xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc và thử nghiệm phác
đồ điều trị bệnh’’ Do thời gian và trình độ còn hạn chế, bước đầu còn bỡ ngỡ
với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý của Quý thầy cô và các bạn để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh Viên
Hoàng Xuân Thành
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 30
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 33
Bảng 4.2: Lịch tiêm phòng cho đàn lợn con và lợn nái 34
Bảng 4.3 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 34
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm bệnh sinh sản của đàn lợn nái trong sáu tháng 40
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 41
Bảng 4.6 Kết quả nghiên cứu về biểu hiện lâm sàng 42
Bảng 4.7 Kết quả điều tri bệnh sinh sản theo hai phác đồ 43
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung, sảy thai và sát nhau
đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 44
Trang 6PRRS: Porcine reproductive and respiratory syndrome
- Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
Trang 7v
MỤC LỤC
Trang
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.1 ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Cấu tạo, chức năng cơ quan sinh dục cái 3
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 6
2.1.3 Bệnh viêm tử cung 8
2.1.3 Bệnh sảy thai 14
2.1.4 Bệnh sát nhau 20
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.4.2 phương pháp nghiên cứu 29
Trang 8vi
Phần 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33
4.1.2 Công tác trị bệnh 35
4.1.3 Công tác khác 37
4.2 Kết quả nghiên cứu 40
4.2.1 Tình hình nhiễm bệnh sinh sản của đàn lợn nái qua sáu tháng 40
4.2.1 Tình hình mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 40
4.2.2 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh 42
4.2.3 Kết quả điều trị một số bệnh sinh sản theo hai phác đồ điều trị 43
4.3 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung, sảy thai, sát nhau đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 44
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 9Để chăn nuôi đàn lợn ngoại đạt hiệu quả cao bên cạnh các yếu tố về thức
ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cần được đảm bảo là phải có đàn giống tốt Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại
Trong thực tế có rất nhiều nguyên nhân gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái, ta có thể kể tới một số một số bệnh thường gặp như: viêm tử cung, sẩy thai, sát nhau, … Những bệnh này không những làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm tăng cao tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở đàn lợn con đang trong thời gian theo mẹ, do đó chất lượng của đàn giống bị ảnh hưởng Nếu không điều trị kịp thời, có thể kế phát viêm vú, mất sữa, nặng có thể dẫn tới rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc…và có thể chết
Để khắc phục hậu quả do bệnh gây ra trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: ‘‘Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi chuồng kín tại trại Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh’’
Trang 102
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sảy thai và sát nhau ở lợn nái
- Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh
- Xác định hiệu lực và độ an toàn của phác đồ điều trị
1.4 ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm tử cung, sảy thai và sát nhau ở lợn là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả
1.4.1 ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được một số thuốc có hiệu lực và độ an toàn cao trong điều trị bệnh viêm tử cung và bại liệt sau khi đẻ ở lợn, đề phòng, hạn chế được mầm bệnh
- Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 11
3
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cấu tạo, chức năng cơ quan sinh dục cái
Cơ quan sinh dục của lợn nái bao gồm:
- Bộ phận sinh dục ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình
+ Âm môn: hay còn gọi là âm hộ (vuhvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulae) Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có
nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)
+ Âm vật (clitoris): âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương
vật của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm, ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh
+ Tiền đình (vestibulum): tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo
Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng
có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà, 2003) [7]
- Bộ phận sinh dục bên trong
+ Âm đạo: âm đạo có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung ra ngoài Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ
có thành dày, phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh che lỗ âm đạo, âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn ở giữa và lớp niêm mạc ở trong Trên bề mặt niêm mạc có nhiều thượng
bì gấp nếp dọc Âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm
Trang 124
Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và thấp nhất ở các ngày 12-16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tính dục
và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, tử cung và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối
+ Tử cung (dạ con): tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo nằm trong xoang chậu, hai sừng tử cung nằm ở trước xoang chậu, tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung
và được giữ bởi các dây chằng Tử cung lợn thuộc loại tử cung hai sừng Gồm hai sừng thông với 1 thân và cổ tử cung
Sừng tử cung: dài 50 - 100cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng Thân tử cung: dài 3 - 5 cm
Cổ tử cung: dài 10 - 18 cm, có thành dày hình trụ, có các cột thịt xếp theo kiểu cài răng lược thông với âm đạo
Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc lớp cơ trơn
Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc mầu hồng được phủ bởi một lớp tế bào biểu mô hình trụ xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung, khi lông dung động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung
Trang 135
Trên niêm mạc có các nếp gấp Lớp niêm mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng Dưới sự ảnh hưởng của oestrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhầy xâm nhập vào lớp dưới màng nhầy và cuộn lại tuy nhiên các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progensterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục
+ Buồng trứng: buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormon sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai, hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ bao gồm ba phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình
hạt tế bào trứng nguyên thủy hay còn gọi là trứng non (fulliculloophoriprimari)
nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn nang chín, các tế bào nang bao
quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào hình hạt (Strarum glannulosum)
Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo thành xoang chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc,
ở ngoài có chỗ dầy lên để chứa trứng (ovum)
+ Ống dẫn trứng: ống dẫn trứng gồm có phễu phần rộng và phần eo
Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để ra tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo tiếp nối với
Trang 146
sừng tử cung, nó có thành dầy hơn phần rộng và ít gấp nếp hơn Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn duy trì sự sống và ra tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong mấy ngày trước khi phôi đi vào tử cung, nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di truyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di truyển của phôi vào tử cung
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
Sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống của vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ
và luôn củng cố và hoàn thiện qua quá trình chọn lọc để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu theo dõi các chỉ tiêu sau đây: tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại
+ Tuổi động dục lần đầu: là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục Các giống lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau
Theo Phạm Hữu Doanh (2003) [4] thì: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn nái là F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6-7 tháng) khi đạt 65- 80 kg
Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn cái hậu bị được sinh vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa Xuân (Nguyễn Tuấn Anh, 1998) [1]
Trang 157
Theo Lê Xuân Thọ (1979) [19] đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm huyết thanh ngựa chửa có thể gây động dục
+ Tuổi phối giống lần đầu
Phạm Hữu Doanh (2003) [4] cho rằng: không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1- 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống
Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 - 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg, nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn
mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn
+ Tuổi đẻ lứa đầu: theo Lê Hồng Mận (2004) [10], Lợn ỉ, Móng Cái cho
đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi
+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ
Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại) (Nguyễn Văn Thiện, 1996) [18]
Lê Hồng Mận (2004) [10] cho biết: thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày, lợn mẹ động dục trở lại
+ Đặc điểm động dục của lợn nái: ở lợn nái, thời gian động dục chia làm
3 giai đoạn: trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực
Trước chịu đực: lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác nhảy lên lưng Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40h ở lợn ngoại và lợn lại, 25 - 30h ở lợn nội
Trang 168
Chịu đực: lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm hộ giảm sưng, dịch nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30h ở lợn nội Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai
Sau chịu đực: lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng
+ Thời điểm phối giống thích hợp: đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3
Theo Nguyễn Hữu Ninh (2002) [14] cho biết: thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm thích hợp + Mang thai: thời gian mang thái của lợn trung bình là 114 ngày (113 -
115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu
Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
+ Năng suất sinh sản của lợn
Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/ năm Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ
lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm
2.1.3 Bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Hữu Phước (1992) [15] thì: bệnh xảy ra trên cả ở lợn nội
và lợn ngoại Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y
Trang 179
- Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2] cho biết: bệnh thường xảy ra vào thời gian 1 - 10 ngày sau khi đẻ
Các nguyên nhân bao gồm: dụng cụ truyền tinh gây xây xát âm đạo, tử cung, tinh dịch bị nhiễm khuẩn, dụng cụ thụ tinh không được vô trùng hoặc
do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật (Trương Lăng, 2000) [8]
Đoàn Thị Kim Dung, (2002) [5] cho biết: nguyên nhân gây ra bệnh viêm
tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng doi (Trecbomonas fortus) và do nấm Candda albicans
Kết quả phân lập của Nguyễn Hữu Phước (1992) [15] cho thấy, tỷ lệ các loại vi khuẩn gây viêm tử cung ở lợn nái như sau:
Các kết quả nghiên cứu của Bilen, (1994) [3] cho biết: viêm tử cung
thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli, Staphylococcus spp và Staphylococcus aureus Đây là nguyên nhân chính gây bệnh
Khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo Lợn nái luôn mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh Chỉ khi đẻ cổ tử cung mở, chất dịch tiết chảy ra, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển (Nguyễn Hữu Phước, 1992) [15]
Trang 1810
- Triệu chứng
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [17] cho biết: khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh
âm hộ và hai bên mông, gốc đuôi dính bết niêm dịch, khi niêm dịch khô đóng thành vảy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại khó khăn, giảm ăn
Viêm tử cung ở lợn có các thể sau:
+ Thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn: thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 38 - 39,50C Lợn kém ăn, có nhiều dịch tiết ra từ âm hộ, 12 - 72h sau
đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt cao 39,5 - 400
C Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xanh lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh hôi
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
+ Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt tăng cao 39,5
- 400C Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, múi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7 - 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh ảnh hưởng đến sản lượng sữa
Trang 1911
- Hậu quả
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa Lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản
Lê Thị Tài (2002) [16] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai
và sinh sản
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu
có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [13]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn mang thai là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc ) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và tử cung nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
Trang 2012
Có thể tìm muxin trong dịch nhày từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch axít axetic 1%, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc bệnh và ngược lại (Madec F, 1995) [11]
2.1.3.1 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
* Phòng bệnh: vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20 % sau đó rửa sạch bằng nước thường
Khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú, phun sát trùng bằng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000 lên mình gia súc
Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng rượu, cồn, bôi trơn vazolin hoặc dầu thực vật Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng thuốc sát trùng với nồng độ hợp lý Sau đó tiêm kháng sinh vetrimoxin để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực và lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,
* Biện pháp điều trị
Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, đỡ tốn kém thuốc mà bệnh chóng khỏi, con vật chóng hồi phục + Tiêm kháng sinh
Cách 1: Tiêm vetrimoxin: tiêm bắp 1ml/ 10kg TT/2ngày, liệu trình 6 ngày
Cách 2: Tiêm peniStep 1ml/ 10kg TT/3ngày (tiêm bắp), thụt rửa bằng sinh lý mặn với liều 500ml/con/ lần/ngày Liệu trình 6 ngày
+ Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, vitamin C, vitamin B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin C không dùng chung với kháng sinh peniciline, sulfamid và vitamin B12
Trang 21cách dùng: tiêm bắp 1ml/kg TT, hiệu lực trong 48h, liệu trình 6 ngày
- cách dùng: tiêm bắp 1ml/kg TT, hiệu lực trong 72h, liệu trình 6 ngày
* Vilamoks-LA
- Thành phần: là dạng huyễn dịch tiêm vô trùng, màu trắng xám nhạt Mỗi ml
có chứa amoxicillin trihydrate tương đương với 150mg amoxicillin base
- Công dụng:
Được sử dụng để phòng và điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và niệu sinh dục gây ra bởi các vi khuẩn mẫn cảm với Amoxicillin như: nhiễm trùng sau phẫu thuật, viêm phổi, viêm ruột, viêm rốn, viêm vú, viêm tử cung…
Trang 22- Liều lượng và cách sử dụng:
Liều dược chất: tiêm bắp với liều 20 mg/10kg TT cho trâu, bò, dê, cừu Liều thực tế: tiêm bắp 1ml/10kg TT
* Tylosin 200 Injection
- Thành phần: 200mg Tylosin Base trong 1ml
- Công dụng: Thuốc kháng khuẩn dạng chích dung cho gia súc, đặc trị
các bệnh gây ra do vi khuẩn gram + và mycoplasma như nhiễm trùng đường
ho hấp, niệu, tai, viêm khớp, viêm tử cung, viêm móng
Theo haiduongdost.gov.vn/nongnghiep[26] thì Abortion hay embryo loss
là thuật ngữ chuyên môn nói về bệnh sẩy thai ở lợn Đây là căn bệnh thường diễn ra ngay sau khi thụ thai hoặc khi đang mang thai nhưng lại ít được quan tâm, tỷ lệ sẩy thai khoảng 2% nhưng cũng có thể tăng lên tới 20% nên tổn thất
về mặt kinh tế rất lớn
Trang 2315
Ba giai đoạn thường gặp
- Trong giai đoạn thụ thai đến khi bám chắc được vào thành dạ con
- Trong giai đoạn bám vào thành dạ con sau 14 ngày thụ thai đến khi được 35 ngày tuổi
- Giai đoạn thuần thục của bào thai, điều này có nghĩa là sẩy thai có thể xảy ra bất kỳ khi nào, sau 14 ngày thụ thai cho đến hết giai đoạn 110 ngày mang thai ở lợn
Theo số liệu thống kê thì rủi ro sẩy thai ở lợn còn có những nguyên nhân sau:
- Do tuổi thọ và sức khoẻ của lợn bố, mẹ
- Nhiệt độ chuồng trại quá nóng
- Tiết dịch, máu qua đường âm đạo
- Sự què quặt sức khoẻ quá yếu của bào thai
- Lợn mẹ hay mắc chứng viêm bầu vú, ít sữa, vú hay bị viêm nhiễm, sưng
- Có tiền sử hay bị sẩy thai, con bị chết lưu hoặc chết sau khi sinh
- Điều kiện chăn nuôi ăn uống kém
- Lợn mẹ bị sa ruột, sa âm đạo
- Lợn mẹ hung dữ
* Nguyên nhân
Theo www.nhanloc.net[25] thì có rất nhiều nguyên nhân gây sảy thai, trong đó có 2 nguyên nhân chính:
Sảy thai không do bệnh truyền nhiễm: Do bản thân lợn nái và bào thai
phát triển không bình thường, điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng không tốt; thức ăn, nước uống không được cung cấp đầy đủ về chất và lượng
+ Thai và các màng bọc phát triển không bình thường; lợn mẹ bị viêm tử cung, rối loạn nội tiết tố trong quá trình mang thai hay mắc một số bệnh khi mang thai; tinh trùng yếu, thai tuy đậu nhưng không đủ sức phát triển tiếp tục
và bị chết
Trang 2416
+ Số lượng và chất lượng thức ăn, nước uống không tốt Độc tố nấm mốc
zearalenone và zearaleno cản trở quá trình thụ thai và phôi bám vào tử cung
gây vô sinh, chết phôi, lợn con sinh ra yếu Một loại độc tố nấm mốc khác,
fumonisin gây viêm phù phổi cấp tính trên heo, lợn nái khi khỏi bệnh cấp tính,
thường bị sảy thai sau 2 – 3 ngày
+ Thức ăn thiếu 1 số vitamin và khoáng chất Thiếu vitamin B2 có thể gây sinh non 14 – 16 ngày Thiếu vitamin A, thường gây sảy thai ở tháng cuối của giai đoạn mang thai, lợn con sinh ra yếu Thiếu vitamin E ở giai đoạn đầu thì thai thường bị tiêu hoặc bị chết, ở tháng cuối thường sinh non Thiếu Ca,
Fe, Mn, Iot có liên quan tới việc lợn chết lúc sinh và lợn con sinh ra yếu ớt + Điều kiện chuồng nuôi và chăm sóc kém: thiếu ánh sáng, nóng, vận động quá mạnh, bị đánh đập, ngộ độc Nhiệt độ cao (>320C) có liên quan với tăng số lần lên giống giả, tăng tỷ lệ chết phôi, giảm tỷ lệ sinh và trọng lượng lợn con sơ sinh thấp Ảnh hưởng nặng nề nhất vào giai đoạn phôi bám vào tử cung hoặc khi lợn sinh sản
Sảy thai do bệnh truyền nhiễm: Các bệnh truyền nhiễm chính gây sảy thai ở lợn nái là PRRS, Parvovirus, giả dại, Brucellosis,…
+ Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) PRRS do Arterivirus
gây ra Hầu hết các chủng PRRS không đi qua nhau thai cho đến sau 90 ngày mang thai, nên các trường hợp sảy thai thường xảy ra vào cuối thai kì lợn nái thường bỏ ăn, sốt vài ngày rồi sinh non khoảng 2 – 3 tuần trước khi đẻ, lợn con chết tươi hoặc chết khô, lợn con sinh ra yếu ớt, dễ mắc bệnh hô hấp lợn nái chậm lên giống trở lại
+ Parvovirus Parvovirus do Porcine Parvovirus gây ra lợn cảm nhiễm ở
giai đoạn bắt đầu của thời kỳ mang thai thì gây chết phôi và lợn nái chậm lên giống, giảm số lợn trong lứa đẻ do chết một phần phôi Khi cảm nhiễm phôi sau ngày 35 của kỳ có mang (lúc bắt đầu canxi hóa xương sườn) sự hóa gỗ có
Trang 2517
thể xảy ra ở một số phôi thai hay toàn bộ, thai chết ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau nên kích thước thai gỗ cũng khác nhau Nếu cảm nhiễm chậm hơn sẽ sinh ra những lợn con chết lúc mới sinh
+ Bệnh giả dại Giả dại do virus Aujeszky gây ra lợn nái bị nhiễm virus
vào đầu thai kỳ có thể bị lên giống trở lại do thai chết và bị hấp thụ Nếu bị nhiễm vào giữa thai kỳ thì có thể bị sinh non và sinh ra thai khô, còn nhiễm vào giai đoạn cuối thì sẽ bị sinh non, lợn con chết non hoặc ốm yếu, còi cọc, run rẩy
+ Brucellosis Bệnh do nhiễm Brucella suis Nếu lây qua quá tình giao
phối hay thụ tinh thì sẽ gây sẩy thai Nếu nhiễm muộn hơn thì thường gây chết lưu thai, đẻ non hoặc đẻ con tỷ lệ chết cao, khó nuôi Trước khi sảy thai lợn nái tiêu chảy, mệt mỏi, không ăn, âm hộ sưng có nhiều dịch màu vàng hoặc lẫn máu đỏ chảy ra từ âm hộ, lợn nái nhiễm bệnh thường sẩy thai từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12
* Triệu chứng
Sẩy thai hoàn toàn: Toàn bộ thai được tống ra ngoài trước thời kỳ sinh
đẻ, cũng có thể toàn bộ thai hoặc phôi bị tiêu hút, xác khô và nằm lại trong tử cung Sẩy thai không hoàn toàn:
Một số thai được đẩy ra ngoài trước lúc đến ngày đẻ còn các thai khác vẫn phát triển bình thường
Một số thai bị tiêu hút đươc đẩy ra hoặc nằm lại trong đường sinh dục, một số thai khác vẫn phát triển bình thường
* Hậu quả
- Làm giảm số lợn con sinh ra còn sống
- Làm giảm năng suất sinh sản của nái làm cho lợn mẹ bị mất sữa
- Sức khỏe lợn nái bị giảm sút
- Gây ra bệnh đường sinh dục
Trang 26do khuẩn, đồng thời tiến hành kiểm tra tiền sử của lợn và nghiên cứu các yếu
tố độc hại do môi trường, thức ăn gây ra
Danh mục cần kiểm tra:
- Mức độ sẩy thai nếu trên 1,5% thì cần phải can thiệp
- Lợn sẩy thai có hình hài Nguyên nhân do viêm nhiễm
- Lợn mẹ trong trạng thái khô ráo Nguyên nhân do môi trường
- Lợn mẹ trong trạng thái thiếu năng lượng Nguyên nhân do môi trường
- Lợn mẹ không đủ thức ăn, kiểm tra thức ăn và cung cấp đầy đủ đồ ăn thức uống
- Sẩy thai do chuồng trại quá tối, cần điều chỉnh lại ánh sáng cho thích hợp
- Kiểm tra xem lợn mẹ có mắc bệnh hay không, có bị stress hay không
- Nên cho lợn mẹ thụ thai theo đúng lịch quy định, nếu quá giai đoạn thụ thao cũng không tốt và có thể làm gia tăng tỷ lệ sẩy thai ở lợn mẹ
Trang 27Cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống cho lợn mẹ, loại bỏ độc tố nấm mốc trong thức ăn bằng các chất hấp phụ độc tố, bổ sung thêm vitamin và khoáng đặc biệt là vitamin A, D, E, B2…
Tiêm phòng vaccine như: PRRS, Parvovirus, giả dại…
Đối với lợn bị sảy thai cần nhanh chóng xác định nguyên nhân, cân nhắc giữa chi phí điều trị và giá trị kinh tế để có biện pháp xử lý thích hợp Đối với chẩn đoán nghi ngờ lợn mắc bệnh truyền nhiễm phải chú ý tới bảo hộ lao động; gởi thai, màng thai, các chất tiết của thai (không được mổ thai để tránh bệnh lây lan) đến phòng xét nghiệm, thực hiện vệ sinh sát trùng thật kỹ
* Điều trị bệnh sảy thai
+ Phác đồ điều trị 1
Vettrimocin : 1ml/10 kgTT/ ngày Tiêm bắp hiệu lực 48h Tiêm 3 mũi Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn.hiệu lục 24h Tiêm 3 mũi + Phác đồ điều trị 2
Pendistrep: 1ml/10kgTT/ngày Tiêm bắp hiệu lực 72h Tiêm 2 mũi
Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn hiệu lực 24h Tiêm 3 mũi
Trang 2820
2.1.3.2 Hiểu biết về một số loại thuốc dung trong điều trị bệnh sảy thai
Dùng T.Metrion để thụt rửa tử cung trong phòng và chống viêm tử cung Mỗi lần 50 – 100 ml T.Metrion/ nái, dùng 3 lần cách nhau 8 giờ Ngoài ra phải tiêm kháng sinh Vidan.T hoặc Linco-Gen LA hoặc T,entero vào mục đích ngừa bệnh thứ phát: 1ml/8 – 10kgP/ lần × 2 lần Dùng 3 ngày liên tục
Bệnh nổ ra phải tiêm ngay vacxin vào đàn nái Các vacxin thường dùng là: + Parvosin
+Sunlvaccin-Parvo
+ Nobi-Provac-Parvo của Hà Lan
+Parvovax của pháp do Rhone Marial sản xuất, đây là vacxin vô hoạt dạng đầu dùng cho lợn hậu bị
2.1.4 Bệnh sát nhau
Theo Nguyễn Văn Thanh (2003)[17] cho rằng:Trong quá trình sinh đẻ
bình thường sau khi sổ thai môt thời gian nhất định phụ thuôc vào từng loài gia súc ngựa 20-60 phút, bò 2-4 giờ thường không quá 12 giờ, lợn 10-60 phút,
dê cừu 30 phút đến 2 giờ nhau thai sẽ được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ, qua thời gian kể trên mà nhau thai không được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ thì gọi là bệnh sát nhau Tùy vào mức đô của bệnh người ta phân ra các thể sau:
+ Thể sát nhau hoàn toàn: toàn bộ hệ thống nhau thai con còn dính với
niêm mạc tử cung cơ thể mẹ
+ Thể sát nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa bào
thai ở gia súc đơn thai và phía sừng tử cung chứa ít bào thai ổ gia súc đa thai nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung, phía còn lại nhau thai con còn dính chặt với niêm mạc tử cung cơ thể mẹ
+ Thể sát nhau từng phần: Một phần của màng nhung và một số ít núm
nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần mang thai đã tách khỏi niêm mạc tử cung cở thể mẹ
Trang 2921
* Nguyên nhân
Do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
- Sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian có thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
- Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
- Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo của nhau
* Triệu chứng
Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
* Chẩn đoán
- Dựa vào các triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh như: nhau thai ko
ra hay chỉ ra một phần, từ cơ quan sinh dục của nái chảy dịch có màu như máu cá ươn, con vật có biểu hiện rặn
2.1.4.1 Biện pháp phòng và trị bệnh sát nhau
Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đúng quy trình kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu chuồng trại, vận động, thức ăn dinh dưỡng, can thiệp kịp thời và đúng kỹ thuật Tiêm thuốc Oxytocin dưới da để kích thích co bóp tử cung đẩy nhau ra hết Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ một phần nghìn hoặc nước muối 9 phần nghìn để thụt rửa tử cung trong ba ngày liên tục