1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo tam dương vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh

73 676 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái sau điều trị bệnh viêm tử cung ..... Một trong những bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái là các bệnh về sinh sản đặc biệt

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐIỀU TRỊ BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016

THÁI NGUYÊN, 2015

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016 Giảng viên HD: ThS Hà Thị Hảo

THÁI NGUYÊN, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, trong thời gian qua bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn ThS Hà Thị Hảo đã quan tâm dìu dắt, tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt khóa luậnnày

Trước tiên, tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn ThS Hà Thị Hảo đã định hướng cho tôi hoàn thành tốt khóa luận của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Trang trại lợn nái của ông Đặng Đức Khang, đã giúp

đỡ về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình thực tập tại trang trại

Tôi xin cảm ơn đội ngũ kỹ thuật trại anh Nguyễn Hữu Phong, anh Vũ Văn Hưng

đã giúp đỡ , chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2015

Sinh viên

Bùi Thị Bích

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Phân loại các thể viêm tử cung 12

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung 31

Bảng 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh sát nhau 31

Bảng 3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh sảy thai 32

Bảng 4.1: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 40

Bảng 4.2: Lịch tiêm phòng cho đàn lợn con và lợn nái của trại lợn 40

Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 46

Bảng 4.4 Số lượng lợn của trại qua một số năm 47

Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản của đàn lợn nái 48

Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm bệnh sinh sản của đàn lợn nái các tháng 49

Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 51

Bảng 4.8: Tỷ lệ mắc bệnh một số bệnh sinh sản theo dãy chuồng 53

Bảng 4.9: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và bệnh sát nhau theo tình trạng đẻ 54

Bảng 4.10 Kết quả điều tri bệnh sinh sản theo hai phác đồ 55

Bảng 4.11 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái sau điều trị bệnh viêm tử cung 56

Bảng 4.12 Sơ bộ hạch toán chi phí thú y 57

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Cs: Cộng sự

ĐVT: Đơn vị tính

MMA: Mastitis Metritis Agalactia –

Hội chứng viêm vú, viêm tử cung và mất sữa

PRRS: Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

PTLC: Phân trắng lợn con

TT: Thể trọng

VTC: Vitamin

STT: Số thứ tự

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Cấu tạo, chức năng cơ quan sinh dục cái 3

2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 6

2.1.3 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn 8

2.1.4 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 23

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27

Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung nghiên cứu 30

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 30

3.3.2.Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu 31

3.4.1 Phương pháp bố trí điều trị 31

3.4.2 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu lâm sàng của nái khỏe và nái bị bệnh 32

Trang 7

Phần 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34

4.1.1 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 34

4.1.2 Công tác phòng và trị bệnh 38

4.2 Kết quả nghiên cứu chuyên đề khoa học 47

4.2.1 Kết quả điều tra tình hình phát triển đàn lợn của trại 47

4.2.2 Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của trại 47

4.2.3 Tình hình nhiễm bệnh sinh sản của đàn lợn nái qua các tháng theo dõi 49

4.2.4 Tình hình mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 50

4.2.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau và sảy thai theo dãy chuồng 52

4.2.6 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và bệnh sát nhau của lợn nái theo tình trạng đẻ54 4.2.7 Kết quả điều trị một số bệnh sinh sản theo hai phác đồ điều trị 55

4.2.8 Các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái sau điều trị 56

2.4.9 Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 56

Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Tồn tại 58

5.3 Đề nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

Ngành chăn nuôi ngày càng phát triển trong đó chăn nuôi lợn không thể thiếu Chăn nuôi lợn là một lĩnh vực quan trọng trong ngành chăn nuôi nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung, nó mang lại hiệu quả kinh tế cao và đáp ứng một lượng lớn thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước cũng như nước ngoài Ngoài ra còn cung cấp số lượng lớn lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần thiết

Để chăn nuôi đàn lợn ngoại đạt hiệu quả cao bên cạnh các yếu tố về thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cần được đảm bảo là khâu vệ sinh, phòng bệnh và trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại

Một trong những bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái là các bệnh về sinh sản đặc biệt là một số bệnh như: sảy thai, sát nhau, viêm tử cung,

… chiếm tỉ lệ cao Những bệnh này không những làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm tăng cao tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở đàn lợn con đang trong thời gian theo mẹ, do đó chất lượng của đàn giống bị ảnh hưởng Nếu không điều trị kịp thời có thể kế phát viêm vú, mất sữa, nặng có thể dẫn tới rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc…và có thể chết

Vì vậy để khắc phục hậu quả và hạn chế khả năng mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Được sự hướng dẫn của cô giáo Th.S Hà Thị Hảo và sự đồng ý của ban lãnh đạo trại Đặng Đức Khang ở xã Hướng Đạo, Tam Dương, Vĩnh Phúc tôi

Trang 9

tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản

trên đàn lợn nái nuôi tại trại Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo, Tam Dương, Vĩnh Phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh’’

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu đề tài

- Đánh giá tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái

- Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí sinh sản của lợn nái sau khi điều trị bệnh

- Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh

- Xác định hiệu lực và độ an toàn của phác đồ điều trị

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được một số bệnh sinh sản ở lợn nái, từ đó

đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả

- Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cấu tạo, chức năng cơ quan sinh dục cái

Cơ quan sinh dục của lợn nái bao gồm:

- Bộ phận sinh dục ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình

+ Âm môn: hay còn gọi là âm hộ (vuhvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài

âm môn có hai môi (labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima

vulae) Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như

tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)

+ Âm vật (clitoris):âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật

của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng Trên âm vật có các nếp

da tạo ra mũ âm, ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút dây thần kinh

+ Tiền đình (vestibulum): tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo

Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng

có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [9]

- Bộ phận sinh dục bên trong

+ Âm đạo: âm đạo có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung ra ngoài Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ có thành dày, phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh che lỗ âm đạo, âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn ở giữa và lớp niêm mạc ở trong Trên bề mặt niêm mạc có nhiều thượng bì gấp nếp dọc Âm đạo của lợn dài

10 - 12 cm

Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và thấp nhất ở các ngày 12-16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14

Trang 11

Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, tử cung và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối

+ Tử cung (dạ con): tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo nằm trong xoang chậu, hai sừng tử cung nằm ở trước xoang chậu, tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng Tử cung lợn thuộc loại tử cung hai sừng Gồm hai sừng thông với 1 thân và cổ tử cung

Sừng tử cung: dài 50 - 100cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng

Thân tử cung: dài 3 - 5 cm

Cổ tử cung: dài 10 - 18 cm, có thành dày hình trụ, có các cột thịt xếp theo kiểu cài răng lược thông với âm đạo

Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn và lớp nội mạc

Lớp tương mạc: là lớp màng sợi dai chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối tiếp

hệ thống các dây chằng

Lớp cơ trơn: gồm cơ vòng rất dầy ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài, giữa hai tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn, ngoài ra các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thành mạch vừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dày và khỏe nhất trên cơ thể

Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế bào biểu mô hình trụ xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung, khi lông nhung dung động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung

Trên niêm mạc có các nếp gấp Lớp niêm mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng Dưới sự ảnh hưởng của oestrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhầy xâm nhập vào lớp dưới màng nhầy và

Trang 12

cuộn lại tuy nhiên các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progensterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục

+ Buồng trứng: buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện

cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormon sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai, hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…

Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng

Miền vỏ bao gồm ba phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình

hạt Tế bào trứng nguyên thủy hay còn gọi là trứng non (fulliculloophoriprimari)

nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn nang chín, các tế bào nang bao

quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào hình hạt (Strarum glannulosum)

Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo thành xoang chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc,

ở ngoài có chỗ dầy lên để chứa trứng (ovum)

+ Ống dẫn trứng: ống dẫn trứng gồm có phễu phần rộng và phần eo Phễu

mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để ra tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo tiếp nối với sừng tử cung, nó có thành dầy hơn phần rộng và ít gấp nếp hơn Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn duy trì sự sống và ra tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong mấy ngày trước khi phôi

đi vào tử cung, nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di truyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di truyển của phôi vào

tử cung

Trang 13

2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

Sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống của vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố và hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu theo dõi các chỉ tiêu sau đây: tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] thì: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng tuổi, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn nái lai F1 lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6-7 tháng tuổi) khi khối lượng đạt 65- 80 kg

Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

Ngoài ra tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ Lợn nái hậu bị được sinh vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa Xuân (Nguyễn Tuấn Anh và cs, 1998) [1]

Theo Lê Xuân Thọ và cs (1979) [29] đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm huyết thanh ngựa chửa có thể gây động dục

+ Tuổi động dục lần đầu: là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục Các giống lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau

+ Tuổi phối giống lần đầu

Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1- 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống

Lợn nái nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 - 50 kg, lợn nái lai F1 phối giống lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới

65 - 70 kg, nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi

Trang 14

Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn

mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn

+ Tuổi đẻ lứa đầu: Theo Lê Hồng Mận (2004) [14], Lợn Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, nái ngoại vào 12 tháng tuổi

+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ:

Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại) (Nguyễn Văn Thiện, 1996) [26]

Lê Hồng Mận (2004) [14] cho biết: Thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày, lợn mẹ động dục trở lại

+ Đặc điểm động dục của lợn nái: ở lợn nái, thời gian động dục chia làm 3 giai đoạn: trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực

Trước chịu đực: lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác nhảy lên lưng Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40h ở lợn ngoại và lợn lai, 25 - 30h ở lợn nội

Chịu đực: lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng, mông, âm hộ giảm sưng, dịch nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30h ở lợn nội Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai

Sau chịu đực: lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng

+ Thời điểm phối giống thích hợp: đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3

Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [17] cho biết: Thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm thích hợp

+ Mang thai: thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 - 115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:

Trang 15

Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu

Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ

+ Năng suất sinh sản của lợn

Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/ năm Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: số con sơ sinh,

số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm

2.1.3 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn

2.1.3.1 Bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Hữu Phước (1992) [19] thì: Bệnh xảy ra trên cả ở lợn nội và lợn ngoại Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[7], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

 Nguyên nhân gây bệnh:

Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2] cho biết: bệnh thường xảy ra vào thời gian 1 - 10 ngày sau khi đẻ

Theo tác giả Đào Trọng Đạt và cs (2000)[8], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được

vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

Trang 16

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao gây viêm

- Do vệ sinh chuồng dành cho lợn nái đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực (vì lúc đó

cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Hồ Văn Nam và cs, 1997)[15]

Theo Madec và Neva (1995)[13], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong

âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra

Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung

Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs, (2002) [6] cho biết: nguyên nhân gây ra

bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng doi (Trecbomonas fortus) và do nấm Candda

Trang 17

Các kết quả nghiên cứu của Bilen (1994) [3] cho biết: viêm tử cung thường

xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli, Staphylococcus spp và Staphylococcus

aureus Đây là nguyên nhân chính gây bệnh

Lợn nái luôn mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh Chỉ khi

đẻ cổ tử cung mở, chất dịch tiết chảy ra, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển (Nguyễn Hữu Phước, 1992) [19]

 Triệu chứng

- Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [25] cho biết: khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và hai bên mông, gốc đuôi dính bết niêm dịch, khi niêm dịch khô đóng thành vảy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại khó khăn, giảm ăn

* Các thể viêm tử cung

Theo Đặng Đình Tín (1986)[22], bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

- Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)

Trong quá trình gia súc đẻ, nhất là những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị sây sát, tổn thương, vi khuẩn xâm nhập

và phát triển gây viêm nội mạc tử cung.Theo Nguyễn Văn Thanh (1999)[ 23] đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh của viêm tử cung Khi niêm

mạc tử cung bị tổn thương các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli,

Salmonella, Cl Pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus xâm nhập và

tác động lên lớp niêm mạc gây viêm

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000)[17], bệnh viêm nội mạc

tử cung có thể chia 2 loại:

Trang 18

+ Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung

+ Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử

- Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperal is)

Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000)[17] cho biết: Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm

mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường

kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc, ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

- Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperaỉi)

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung (Đặng Đình Tín (1986))[22] Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tê bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung (thể Parametritis), thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc

Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: Nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con

Trang 19

vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn.Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của

tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ và dẫn đến tình trạng mất khả năng sinh sản

Bảng 2.1 Phân loại các thể viêm tử cung Các thể viêm Viêm nội

mạc tử cung

Viêm cơ tử cung

Viêm tương mạc tử cung

Màu dịch viêm Trắng xám, trắng sữa Hồng nâu đỏ Nâu rỉ sắt

Phản ứng co cơ

Phản xạ ăn Bỏ ăn hoàn toàn hoặc

một phần

Bỏ ăn hoàn toàn

Bỏ ăn hoàn toàn

Hậu quả

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002)[7] và Trần Thị Dân (2004)[5] khi lợn nái

bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

Trang 20

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin, PGF2a gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của

vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2a giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được

và không thải trứng được

Theo F.Madec và C.Neva (1995)[13]cho biết : ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ

Trang 21

ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn

đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA,

từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

Theo Lê Thị Tài và cs (2002) [21] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản

Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của

cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng

và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [16]

Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn mang thai là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc ) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và tử cung nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường

 Chẩn đoán

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: lợn không yên tĩnh, luôn có biểu hiện rặn Kiểm tra đường sinh dục nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử cung, âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mù màu trắng đục mùi hôi khắm

Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thế ẩn khó phát hiện có thể chấn đoán lúc động dục thông qua số lượng dịch chảy ra nhiều đôi khi có những đám mủ chảy

từ cơ quan sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh thường khó thụ thai (A.V.Trekaxova và cs, 1983) [28]

Có thể tìm muxin trong dịch nhày từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch axít axetic 1%, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc bệnh và ngược lại (Lê Văn Năm, 1999) [16]

Trang 22

 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung

- Phòng bệnh

Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi

20 % sau đó rửa sạch bằng nước thường

Khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú, phun sát trùng bằng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000 lên mình gia súc

Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng rượu, cồn, bôi trơn vazolin hoặc dầu thực vật Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng thuốc sát trùng với nồng độ hợp lý Sau đó tiêm kháng sinh vetrimoxin để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực và lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,

- Biện pháp điều trị

Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: phục hồi nguyên vẹn niêm mạc

tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung

Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh- thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục bộ và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm, 1999) [16 ]

+ Điều trị cục bộ: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch nước muối 0,9% pha với 2ml Oxytocin

+ Điều trị toàn thân

Phác đồ điều trị 1

Vetrimoxin : 1ml/10 kg/ ngày Tiêm bắp Sau 48h tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn Sau 24 tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi Phác đồ điều trị 2

Pendistrep: 1ml/10kg/ngày Tiêm bắp Sau 72h tiêm nhắc lại Tiêm 2 mũi Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn Sau 24 tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi

Trang 23

2.1.3.2 Bệnh sảy thai

Theo NTT - (VCN) (2010)[40] thì Abortion hay embryoloss là thuật ngữ chuyên môn nói về bệnh sảy thai ở lợn Đây là căn bệnh thường diễn ra ngay sau khi thụ thai hoặc khi đang mang thai nhưng lại ít được quan tâm, tỷ lệ sảy thai khoảng 2% nhưng cũng có thể tăng lên tới 20% nên tổn thất về mặt kinh tế rất lớn

Ba giai đoạn thường gặp

- Trong giai đoạn thụ thai đến khi bám chắc được vào thành dạ con

- Trong giai đoạn bám vào thành dạ con sau 14 ngày thụ thai đến khi được 35 ngày tuổi

- Giai đoạn thuần thục của bào thai, điều này có nghĩa là sảy thai có thể xảy ra bất

kỳ khi nào, sau 14 ngày thụ thai cho đến hết giai đoạn 110 ngày mang thai ở lợn

Theo số liệu thống kê thì rủi ro sảy thai ở lợn còn có những nguyên nhân sau:

- Do tuổi thọ và sức khoẻ của lợn bố, mẹ

- Nhiệt độ chuồng trại quá nóng

- Tiết dịch, máu qua đường âm đạo

- Sự què quặt sức khoẻ quá yếu của bào thai

- Lợn mẹ hay mắc chứng viêm bầu vú, ít sữa, vú hay bị viêm nhiễm, sưng

- Có tiền sử hay bị sảy thai, con bị chết lưu hoặc chết sau khi sinh

- Điều kiện chăn nuôi ăn uống kém

- Lợn mẹ bị sa ruột, sa âm đạo

+ Thai và các màng bọc phát triển không bình thường; lợn mẹ bị viêm tử cung, rối loạn nội tiết tố trong quá trình mang thai hay mắc một số bệnh khi mang thai; tinh trùng yếu, thai tuy đậu nhưng không đủ sức phát triển tiếp tục và bị chết

Trang 24

+ Số lượng và chất lượng thức ăn, nước uống không tốt Độc tố nấm mốc zearalenone và zearaleno cản trở quá trình thụ thai và phôi bám vào tử cung gây vô sinh, chết phôi, lợn con sinh ra yếu Một loại độc tố nấm mốc khác, fumonisin gây viêm phù phổi cấp tính trên lợn, lợn nái khi khỏi bệnh cấp tính, thường bị sảy thai sau 2 – 3 ngày

+ Thức ăn thiếu 1 số vitamin và khoáng chất Thiếu vitamin B2 có thể gây sinh non 14 – 16 ngày Thiếu vitamin A, thường gây sảy thai ở tháng cuối của giai đoạn mang thai, lợn con sinh ra yếu Thiếu vitamin E ở giai đoạn đầu thì thai thường bị tiêu hoặc bị chết, ở tháng cuối thường sinh non Thiếu Ca, Fe, Mn, Iot có liên quan tới việc lợn chết lúc sinh và lợn con sinh ra yếu ớt

+ Điều kiện chuồng nuôi và chăm sóc kém: Chuồng nuôi nóng, lợn nái vận động quá mạnh, bị đánh đập, ngộ độc Nhiệt độ cao (>320

C) có liên quan với tăng

số lần lên giống giả, tăng tỷ lệ chết phôi, giảm tỷ lệ sinh và trọng lượng lợn con sơ sinh thấp Ảnh hưởng nặng nề nhất vào giai đoạn phôi bám vào tử cung hoặc khi lợn sinh sản

Sảy thai do bệnh truyền nhiễm: Các bệnh truyền nhiễm chính gây sảy thai ở lợn nái là PRRS, Parvovirus, giả dại, Brucellosis,…

+ Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) PRRS do Arterivirus gây

ra Hầu hết các chủng PRRS không đi qua nhau thai cho đến sau 90 ngày mang thai, nên các trường hợp sảy thai thường xảy ra vào cuối thai kì Lợn nái thường bỏ ăn, sốt vài ngày rồi sinh non khoảng 2 – 3 tuần trước khi đẻ, lợn con chết tươi hoặc chết khô, lợn con sinh ra yếu ớt, dễ mắc bệnh hô hấp Lợn nái chậm lên giống trở lại

+ Parvovirus Parvovirus do Porcine Parvovirus gây ra Lợn cảm nhiễm ở

giai đoạn bắt đầu của thời kỳ mang thai thì gây chết phôi và lợn nái chậm lên giống, giảm số lợn trong lứa đẻ do chết một phần phôi Khi cảm nhiễm phôi sau ngày 35 của kỳ có mang (lúc bắt đầu canxi hóa xương sườn) sự hóa gỗ có thể xảy ra ở một

số phôi thai hay toàn bộ, thai chết ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau nên kích thước thai gỗ cũng khác nhau Nếu cảm nhiễm chậm hơn sẽ sinh ra những lợn con chết lúc mới sinh

Trang 25

+ Bệnh giả dại Giả dại do virus Aujeszky gây ra Lợn nái bị nhiễm virus vào đầu thai kỳ có thể bị lên giống trở lại do thai chết và bị hấp thụ Nếu bị nhiễm vào giữa thai kỳ thì có thể bị sinh non và sinh ra thai khô, còn nhiễm vào giai đoạn cuối thì sẽ bị sinh non, lợn con chết non hoặc ốm yếu, còi cọc, run rẩy

+ Brucellosis Bệnh do nhiễm Brecella suis Nếu lây qua quá tình giao phối hay thụ tinh thì sẽ gây sảy thai Nếu nhiễm muộn hơn thì thường gây chết lưu thai,

đẻ non hoặc đẻ con tỷ lệ chết cao, khó nuôi Trước khi sảy thai lợn nái tiêu chảy, mệt mỏi, không ăn, âm hộ sưng có nhiều dịch màu vàng hoặc lẫn máu đỏ chảy ra từ

âm hộ, lợn nái nhiễm bệnh thường sảy thai từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12

 Triệu chứng

Sảy thai hoàn toàn: Toàn bộ thai được tống ra ngoài trước thời kỳ sinh đẻ, cũng có thể toàn bộ thai hoặc phôi bị tiêu hút, xác khô và nằm lại trong tử cung

Sảy thai không hoàn toàn:

Một số thai được đẩy ra ngoài trước lúc đến ngày đẻ còn các thai khác vẫn phát triển bình thường

Một số thai bị tiêu hút được đẩy ra hoặc nằm lại trong đường sinh dục, một

số thai khác vẫn phát triển bình thường

 Hậu quả

- Làm giảm số lợn con sinh ra còn sống

- Làm giảm năng suất sinh sản của nái làm cho lợn mẹ bị mất sữa

- Sức khỏe lợn nái bị giảm sút

- Gây ra bệnh đường sinh dục

Trang 26

Danh mục cần kiểm tra:

- Mức độ sảy thai nếu trên 1,5% thì cần phải can thiệp

- Kiểm tra lợn ốm, mắc bệnh

- Trường hợp lợn khoẻ không bị viêm nhiễm thì do các nguyên nhân khác

- Nguy cơ mắc hội chứng sảy thai theo mùa, đây là hiện tượng thường xảy ra vào mùa thu

- Nguy cơ sảy thai do môi trường, trường hợp này chỉ xảy ra ở một con trong

cả trang trại lớn

- Lợn sảy thai có hình hài Nguyên nhân do viêm nhiễm

- Lợn mẹ trong trạng thái khô ráo Nguyên nhân do môi trường

- Lợn mẹ trong trạng thái thiếu năng lượng Nguyên nhân do môi trường

- Lợn mẹ không đủ thức ăn, kiểm tra thức ăn và cung cấp đầy đủ đồ ăn thức uống

- Sảy thai do chuồng trại quá tối, cần điều chỉnh lại ánh sáng cho thích hợp

- Kiểm tra xem lợn mẹ có mắc bệnh hay không, có bị stress hay không

- Nên cho lợn mẹ thụ thai theo đúng lịch quy định, nếu quá giai đoạn thụ thao cũng không tốt và có thể làm gia tăng tỷ lệ sảy thai ở lợn mẹ

 Biện pháp phòng và trị bệnh sảy thai

Cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống cho lợn mẹ, loại bỏ độc tố nấm mốc trong thức ăn bằng các chất hấp phụ độc tố, bổ sung thêm vitamin và khoáng đặc biệt là vitamin A, D, E, B2…

Tiêm phòng vaccine như: PRRS, Parvovirus, giả dại…

Trang 27

Đối với lợn bị sảy thai cần nhanh chóng xác định nguyên nhân, cân nhắc giữa chi phí điều trị và giá trị kinh tế để có biện pháp xử lý thích hợp Đối với chẩn đoán nghi ngờ lợn mắc bệnh truyền nhiễm phải chú ý tới bảo hộ lao động; gửi thai, màng thai, các chất tiết của thai (không được mổ thai để tránh bệnh lây lan) đến phòng xét nghiệm, thực hiện vệ sinh sát trùng thật kỹ

- Điều trị bệnh sảy thai

+ Phác đồ điều trị 1

Vetrimoxin : 1ml/10 kgTT/ ngày Tiêm bắp Sau 48h tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn Sau 24 tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi + Phác đồ điều trị 2

Pendistrep: 1ml/10kgTT/ngày Tiêm bắp Sau 72h tiêm nhắc lại Tiêm 2 mũi Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn Sau 24 tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi

2.1.3.3 Bệnh sát nhau

Theo Nguyễn Văn Thanh (2003)[24] cho rằng:Trong quá trình sinh đẻ bình

thường sau khi sổ thai một thời gian nhất định phụ thuôc vào từng loài gia súc ngựa 20-60 phút, bò 2-4 giờ thường không quá 12 giờ, lợn 10-60 phút, dê cừu 30 phút đến 2 giờ nhau thai sẽ được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ, qua thời gian kể trên mà nhau thai không được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ thì gọi là bệnh sát nhau Tùy vào mức đô của bệnh người ta phân ra các thể sau:

+ Thể sát nhau hoàn toàn: toàn bộ hệ thống nhau thai con còn dính với niêm mạc tử cung cơ thể mẹ

+ Thể sát nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa bào thai ở gia súc đơn thai và phía sừng tử cung chứa ít bào thai ở gia súc đa thai nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung, phía còn lại nhau thai con còn dính chặt với niêm mạc tử cung cơ thể mẹ

+ Thể sát nhau từng phần: Một phần của màng nhung và một số ít núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần mang thai đã tách khỏi niêm mạc

tử cung cơ thể mẹ

Trang 28

 Nguyên nhân

Do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân sau:

- Sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian có thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất

là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

sẽ phát hiện lợn con có sát nhau hay không

 Chẩn đoán

- Dựa vào các triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh như: nhau thai ko ra hay chỉ ra một phần, từ cơ quan sinh dục của nái chảy dịch có màu như máu cá ươn, con vật có biểu hiện rặn

 Biện pháp phòng và trị bệnh sát nhau

- Biện pháp phòng bệnh sát nhau

Theo Bùi Văn Sơn (2007) [39] thì sát nhau rất thường gặp trong chăm nuôi lợn nái, nhất là ở những đàn có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng kém, điều kiện vệ sinh không tốt Sát nhau có thể là nguyên nhân gây nên hội chứng MMA rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến năng suất của đàn lợn con Muốn phòng ngừa sát nhau, người chăn nuôi nên chú ý ngay từ khi phối giống đến khi lợn đẻ, bao gồm một số công việc sau:

+ Khi lợn nái lên giống: chú ý đến điều kiện vệ sinh chuồng trại khi lợn nái

có biểu hiện lên giống, những chất dịch của âm hộ là môi trường tốt cho vi khuẩn phát triển và xâm nhiễm vào cơ quan sinh dục của lợn nái

Trang 29

+ Sau khi phối giống: theo dõi biểu hiện của nái và dịch tiết của âm hộ để can thiệp kịp thời khi có biểu hiện viêm nhiễm

+ Trong suốt thời gian mang thai: cần chú ý đến chất lượng của thức ăn, nhất là các khoáng vi lượng, trong đó khoáng Selenium và vitamin E đóng vai trò quan trọng cho việc phát triển và bảo vệ nhau thai Nên định kỳ bổ sung Selplex 50

và vitamin E cho lợn nái trong suốt thời gian mang thai

+ Khi nái đẻ:

Chú ý thật nhiều đến việc vệ sinh sát trùng chuồng trại và vệ sinh cơ thể lợn nái Có thể dùng thuốc sát trùng Virkon để tắm nái trước khi đẻ

Nên cho lợn con bú sau khi sinh khoảng 30 phút để kích thích nái đẻ nhanh

và điều hoà kích thích tố sinh dục trong cơ thể lợn nái

Không nên sử dụng thuốc dục đẻ (thuốc oxytocine) nếu thấy không cần thiết, vì khi sử dụng thuốc dục đẻ nhiều làm ảnh hưởng đến chu kỳ co bóp của tử cung lợn nái, cũng có thể góp phần gây nên sát nhau

Trong lúc đẻ cần thường xuyên kiểm tra số nhau của lợn nái (nếu như nhau

ra xen kẽ với lợn con) và kiểm tra sau khi lợn đẻ xong Nếu thấy số nhau ít hơn số lợn con thì cần phải kích thích cho lợn nái rặn hoặc có biện pháp phòng ngừa viêm nhiễm cho lợn nái, có thể sử dụng thuốc thụt rửa khi thấy nái bị sát nhau

- Điều trị bệnh

+ Phác đồ điều trị 1

Vetrimoxin : 1ml/10 kgTT/ ngày Tiêm bắp Sau 48h tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn Sau 24 tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi + Phác đồ điều trị 2

Pendistrep: 1ml/10kgTT/ngày Tiêm bắp Sau 72h tiêm nhắc lại Tiêm 2 mũi Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn Sau 24 tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi

+ Trường hợp nhau vẫn không ra sau khi đã sử dụng phương pháp bảo tồn

thì chúng ta phải tiến hành thủ thuật bóc tách Phương pháp này cần chú ý ngay đến việc hộ lý, cố định gia súc ở nơi sạch sẽ thoáng mát, rửa sạch bộ phận sinh dục bên ngoài bằng dung dịch sát trùng nhẹ, thụt nước muối ấm 3% 2-3 lít vào tử cung nhằm kích thích sự tách rời giữa núm nhau con và núm nhau mẹ Một tay nắm

Trang 30

cuống nhau kéo nhẹ, tay còn lại đưa trực tiếp vào tử cung tìm núm nhau mẹ, ngón tay trỏ và ngón giữa cố định núm nhau mẹ, ngón cái xoa nhẹ trên bề mặt núm nhau

mẹ lật núm nhau con ra, tiến hành bóc từ ngoài vào trong, từ rên xuống dưới, bóc xong tiến hành thụt rửa tử cung bằng dung dịch sát trùng, sau khi thụt rửa cần kích thích cho dung dịch sát trùng ra ngoài hết và tiêm cho nái kháng sinh Vetrimoxin hay Pendistrep

Lưu ý khi tiến hành bóc nhau phải hết sức cẩn thận tránh bóc nhầm núm nhau mẹ, phân biệt núm nhau mẹ và núm nhau con bằng cách thấy núm nhau mẹ mọc từ niêm mạc tử cung dày có chân đế, có thể kẹp tay được còn núm nhau con mọc từ màng thai, mỏng không kẹp tay được Phân biệt chỗ bóc rồi và chỗ chưa bóc thấy chỗ bóc rồi sờ thấy bề mặt núm nhau mẹ cảm giác nháp như sờ vào râu, chỗ chưa bóc sờ thấy màng ối có cảm giác nhẵn bóng

2.1.4 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài

Để giảm bớt thiệt hại do một số bệnh sinh sản ở lợn nái gây ra cho người chăn nuôi, nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng các loại kháng sinh khác nhau Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng hai loại thuốc là VETRIMOXIN.L.A và PENDISTREP để điều trị bệnh

* Pendistrep

- Thành phần: Trong 1ml Pendistrep có chứa

Procaine benzylpenillcin 120 000UI

Benzathine benzylpenicillin 80 000UI

Dihydrostreptomycin sulphate tương đương với 200 mg dạng base

Trang 31

Nếu cần thiết có thể lặp lại sau 3 ngày

- Thời gian ngưng sử dụng thuốc:

Giết thịt: 30 ngày

- Lấy sữa: 10 ngày

- Điều kiện bảo quản: Bảo quản nơi mát, tránh ánh sáng

Nhiễm trùng đường tiêu hóa

Nhiễm trùng đường hô hấp

Nhiễm trùng da và mô mềm

Nhiễm trùng đường sinh dục- tiết niệu

Nhiễm trùng sau khi phẫu thuật

- Liều lượng và cách dùng

Tiêm dưới da hoặc tiêm bắp thịt 1ml Vetrimoxin LA cho 10kg thể trọng, sau

2 ngày tiêm lặp lại

- Chống chỉ định

Không sử dụng với thú nhạy cảm với penicillin hay dùng trên thỏ, chuột lang, chuột hamster

- Thời gian ngưng sử dụng thuốc

Lấy sữa 2 ngày

Trang 32

Chống xuất huyết tử cung sau khi sinh

Kích sữa: Dùng cho thú cái vừa đẻ xong nhưng thiếu sữa

Các công dụng khác: Oxytocin dùng trị các chứng liệt ruột, chướng ruột,

- Cách dùng:

Tiêm bắp thịt, dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch

Liều dùng:

Trâu, bò, ngựa: 50 - 100 UI

Lợn, cừu, dê: 30 - 50 UI

Khi trị các chứng khác: Xuất huyết tử cung, liệt ruột… dùng liều gấp đôi Không dùng Oxytocin trong các trường hợp:

Gia súc bị các bệnh viêm thận, viêm cơ tim

Khi cổ tử cung chưa hoàn toàn giãn nở

- Trình bày : Chai 100ml

- Bảo quản: Nơi khô mát, tránh ánh sáng

Trang 33

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh viêm tử cung Nhưng những tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở lợn nái cũng còn rất ít

Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [10] thì: bệnh viêm tử cung do vi khuẩn

Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ do đẻ

khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2005) [2], cho biết: ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)

Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], khi gia súc bị bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ

Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [2], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau Nhưng thường xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ từ 1 - 10 ngày

Đồng thời cũng có nhiều tác giả có tổng kết về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung

ở lợn nái sau khi sinh:

Nguyễn Văn Thanh (2003) [24], lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhóm lợn nái thuần chiếm khoảng 25,48%, trên nhóm lợn nái lai chiếm 50,84% (trong tổng số 1.000 lợn nái khảo sát) Viêm tử cung thường xảy ra cao nhất ở lứa 1 và 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm

tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bị viêm tử cung

Trang 34

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7] cho biết: viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào

tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị

nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn

nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004 [15])

Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung

Do nhiễm vi khuẩn Staphylococcus, Streptococcus vì các nguyên nhân

như lợn con có răng nanh làm xây xát vú mẹ tạo điều kiện vi trùng xâm nhập Lợn nái nhiều sữa con bú không hết làm sữaứ đọng nhiều tạo môi trường cho vi trùng sinh sản gây viêm vú Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thê giới đang rất phát triển, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuy nhiên vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao

Trang 35

Theo Barbara E Straw và cs (2006) [31] đã nghiên cứu về vi sinh vâ ̣t trong di ̣ch viêm tử cung gồm : Escherichia coli, Streptococcus sp, Staphylococcus sp,

Arcanobacterium pyogenes, Proteus, Klebsiella và một số vi khuẩn khác

Theo Bilkei (1994) [32], viêm tử cung thường sảy ra trong lúc sinh do nhiễm vi khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương

Theo Urban (1983) [38], Bilkei (1994) [32], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu lợn nái sắp sinh thường có chứa các vi khuẩn E.coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus spp Tuy nhiên, các nghiên cứu của các tác giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Do đó theo Lerch (1987) [34], Gajecki (1990) [33], Martineau (1990) [35], Smith (1995) [36], Taylor (1995) [37], tăng cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh

Winson khi mổ khám những lợn vô sinh đã xác định được nguyên nhân do

cơ quan sinh sản là 52,5%, lợn nái đẻ lứa đầu là 32,1%, lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý: viêm vòi tử cung có mủ,

Theo A.I.Sobko và GaDenKo (1987)[20], nguyên nhân của bệnh viêm đường sinh dục là do đường sinh dục bị tổn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những dụng

cụ, những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ máy sinh dục

Theo F Madec, C Neva (1995) [13], viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài giờ khi đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài 48 đến 72 giờ

Trong bệnh viêm tử cung thì viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao Kaminski kiểm tra 1.000 lợn nái ở Liên Bang Đức cho kết quả là 16% bị viêm nội mạc tử cung

Trang 36

Theo F Madec và C Neva (1995) [13], qua kiểm tra vi thể xứ Brơ-ta-nhơ của miền Tây Bắc nước Pháp, thấy 26% số lợn nái có bệnh viêm tử cung Ngoài ra 2% số lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạc tử cung với đặc điểm thành tử cung có cấu tạo sợi fibrine

Popkov (Liên Xô cũ) đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, chữa viêm tử cung đạt kết quả cao

Diensiviridep dùng Rivanol 1% để thụt rửa đạt kết quả cao và không ảnh hưởng đến gia súc

Ớ Cuba, các bác sỹ thú y sử dụng dung dịch Lugol 0,5% điều trị viêm tử cung đạt kết quả cao và dùng thuốc Neometrina đặt trong tử cung đạt kết quả điều trị cao

I.E.Elistratop và A.I.Skurko dùng VTM E ở dạng dung dịch tocoferon Thuốc tiêm bắp 1 lần, tiêm lần thứ hai sau 5 ngày chỉ trong những trường hợp bệnh nặng Dùng VTM E theo kết luận của tác giả có thể bảo vệ hoàn toàn sức sinh sản cho lợn nái mắc bệnh viêm trong tử cung

Ngày đăng: 28/11/2016, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Duy Hoan (1998), Sinh lý sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
2. Nguyễn Xuân Bình (1996), Trị bệnh heo nái, heo con, heo thịt, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trị bệnh heo nái, heo con, heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1996
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh ỉ ý heo con, Nxb Nông nghiệp Thành phô HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh ỉ ý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Thành phô HCM
Năm: 2004
6. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái, để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái, để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
9. Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình truyền thống nhân tạo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền thống nhân tạo
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
10. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
11. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Trí (2000), Thuốc thú y và cách sử dụng, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
12. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2004
13. F.Madec và C.Neva (1995), "Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái", Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái
Tác giả: F.Madec và C.Neva
Năm: 1995
14. Lê Hồng Mận (2004), Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
15. Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh (1997), Kết quả nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng của trâu mắc bệnh viêm tử cung, Kết quả nghiên cứu KHKT khoa CNTY 1996 - 1998, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng của trâu mắc bệnh viêm tử cung
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
16. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
17. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), Bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
18. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong (2002), Bệnh sản khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
39. Bùi Văn Sơn (2007), Làm gì khi heo nái sát nhau trong khi sinh?, http://elib.dostquangtri.gov.vn/ntmn/Include/Index.asp?option=6&ID=118&IDhoi, [ Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2015] Link
40. NTT(VCN)(2010),Bệnhsảythaiởlợn,http://www.haiduongdost.gov.vn/nongnghiep/?menu=news&catid=4&itemid=1474&lang=vn&expand=news, [ Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2015] Link
41. Phòng Kỹ Thuật Công Ty NHÂN LỘC – ROVETCO (2009), Bệnh sảy thai, http://www.nhanloc.net/?act=news&detail=detail&news_id=880&cat_id=35&cat_item_id=242&lang=vn, [Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015] Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phân loại các thể viêm tử cung  Các thể viêm  Viêm nội - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 2.1. Phân loại các thể viêm tử cung Các thể viêm Viêm nội (Trang 19)
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung (Trang 38)
Bảng 3.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh sát nhau - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh sát nhau (Trang 38)
Bảng 3.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh sảy thai - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh sảy thai (Trang 39)
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi (Trang 47)
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 53)
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản của đàn lợn nái - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản của đàn lợn nái (Trang 55)
Bảng 4.6. Tỷ  lệ nhiễm bệnh sinh sản của đàn lợn nái các tháng - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.6. Tỷ lệ nhiễm bệnh sinh sản của đàn lợn nái các tháng (Trang 56)
Bảng 4.7. Tỷ lệ mắc bệnh sinh  sản theo lứa đẻ - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.7. Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ (Trang 58)
Bảng 4.8: Tỷ lệ mắc bệnh một số bệnh sinh sản theo dãy chuồng - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.8 Tỷ lệ mắc bệnh một số bệnh sinh sản theo dãy chuồng (Trang 60)
Bảng 4.9: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và bệnh sát nhau theo tình trạng đẻ - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.9 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và bệnh sát nhau theo tình trạng đẻ (Trang 61)
Bảng 4.10. Kết quả điều tri bệnh sinh sản theo hai phác đồ - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.10. Kết quả điều tri bệnh sinh sản theo hai phác đồ (Trang 62)
Bảng 4.11. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái sau điều trị bệnh - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.11. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái sau điều trị bệnh (Trang 63)
Bảng 4.12. Sơ bộ hạch toán chi phí thú y - Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại đặng đức khang xã hướng đạo   tam dương   vĩnh phúc và so sánh 2 phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.12. Sơ bộ hạch toán chi phí thú y (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm