Để góp phần giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải quyết phù hợp trong vấn đề phòng và trị một số bệnh sinh sản cho đàn lợn nái một cách có hiệu quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
Trang 1MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRI ̣ BỆNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên – 2015
Trang 2MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRI ̣ BỆNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Suốt bốn năm học tập trên giảng đường đại học, thời gian thực tập là khoảng thời gian mà mỗi sinh viên đều mong đợi Đây là khoảng thời gian để cho chúng ta có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
Sau gần 6 tháng thực tập tốt nghiệp, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình cuả nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Thầy giáo PGS TS Nguyễn Duy Hoan đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo trại lợn
đã tiếp nhận và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi
để tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Hoàng Thị Gấm
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 30
Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng của Trại lợn Trần Văn Tuyên 36
Bảng 4.2 Kết quả phục vụ sản xuất 42
Bảng 4.3 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 43
Bảng 4.4 Tình hình mắc các bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại 44
Bảng 4.5 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo giống 45
Bảng 4.6 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo lứa đẻ 47
Bảng 4.7 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo tháng 48
Bảng 4.8 Kết quả điều trị một số bệnh sinh sản bằng 2 phác đồ 49
Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị 51
Bảng 4.10 Kết quả hạch toán chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 53
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái 3
2.1.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn 7
2.1.3 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài 21
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 28
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu và xử lý số liệu 32
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33
4.1.1 Công tác giống 33
Trang 74.1.2 Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 33
4.1.3 Công tác thú y 35
4.2 Kết quả nghiên cứu chuyên đề khoa học 43
4.2.1 Kết quả điều tra sự biến động về số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 43
4.2.2 Kết quả theo dõi tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại Trần Văn Tuyên 43
4.2.3 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị 49
4.2.3.3 Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 52
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghi ̣ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp, cuộc sống của người nông dân gắn liền với trồng trọt và chăn nuôi Trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân thì chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn Đây là ngành đã có truyền thống từ lâu đời, nhiều kinh nghiệm quý báu đã được tích lũy, lưu truyền và luôn được khuyến khích phát triển ở nước ta Những năm gần đây, do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thật ngành chăn nuôi gia súc nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng ngày càng phát triển Đàn lợn nước ta đã và đang ngày càng tăng nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, không những cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho tiêu dùng trong nước và ngoài nước, ngoài ra chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt
Bên cạnh những tiến bộ mới về cải tạo giống, nâng cao chất lượng thức
ăn, việc mở rộng quy mô sản xuất tập trung với cường độ ngày càng cao thì đồng thời cũng làm tăng nguy cơ bệnh tật, ảnh hưởng đến tăng trọng và có thể tăng tỷ lệ chết trong chăn nuôi lợn, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng sức khỏe của người tiêu dùng
Trong chăn nuôi lợn, đàn lợn nái có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc làm tăng số lượng cũng như nâng cao chất lượng đàn lợn Tuy nhiên lợn nái thường hay mắc một số bệnh về sinh sản làm giảm năng suất sinh sản và chất lượng đàn con Các bệnh sinh sản trên đàn lợn nái rất hay xảy ra và để lại hậu quả lâu dài, trường hợp nặng có thể gây mất khả năng sinh sản
Để góp phần giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải quyết phù hợp trong vấn đề phòng và trị một số bệnh sinh sản cho đàn lợn nái một cách có
hiệu quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình mắc
một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết – Yên Thủy – Hòa Bình và sử dụng một số phác đồ điều trị bệnh”
Trang 91.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Đánh giá tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái
- Xác định được hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh sinh sản, từ đó chọn ra được phác đồ điều trị hiệu quả nhất
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Các kết quả nghiên cứu một số bệnh sinh sản là những tư liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo ở các trại gia công của Công ty CP nói chung và trại Trần Văn Tuyên nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh của một số phác đồ từ đó đưa ra nhưng liệu trình điều trị hiệu quả, kinh tế để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn chăn nuôi
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho lợn từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái
Cơ qua sinh dục của lợn nái bao gồm:
- Buồng trứng
Buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện cả hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormon sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai hoặc vào lúc con vật mới sinh ra Hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng
Miền vỏ bao gồm ba phần: Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non
(fullicullooophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn
nang chín, các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế
bào có hình hạt (strarum glannulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các
tế bào nang tiêu tan tạo thành xoang chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dầy lên để
chứa trứng (ovum)
- Ống dẫn trứng
Ông dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, được chia thành bốn đoạn: Tua diềm, phễu, phòng ống dẫn trứng và eo
Trang 11- Tử cung (dạ con)
Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung
Ở lợn, tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có
độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống chúng tiết ra dịch và đổ vào bề mặt nội mạc tử cung
Cổ tử cung là tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự
có mặt của một ít cơ trơn
- Âm đạo
Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ Âm đạo lợn dài 10-12 cm
Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối
Dịch âm đạo gồm chủ yếu là chất thấm qua thành âm đạo, hỗn hợp với các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi, lẫn với dịch nhầy của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và các tế bào bong ra từ biểu mô âm đạo
- Bộ phận sinh dục ngoài
Bộ phận sinh dục bên ngoài bao gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình
+ Âm môn: hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulae) Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có
nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)
Trang 12+ Âm vật (clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,
giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng
có các thể hổng như con đực
+ Tiền đình (vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo
Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [7]
* Sinh lý sinh sản của lợn
- Sinh lý sinh dục của lợn nái
Sinh lý sinh dục của lợn nái được biểu hiện ở các chỉ tiêu: Tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại…
+ Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục Các giống lợn khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn nái lai F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 - 7 tháng) khi đạt 65 - 80 kg
Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] cho biết: Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 -
158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 -
8 tháng tuổi
Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [30]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 - 70kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55 kg
Trang 13Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn cái hậu bị được sinh vào mùa thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]
Theo Lê Xuân Thọ và cs (1979) [28], đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm HTNC có thể gây động dục
+ Tuổi phối giống lần đầu
Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5] cho rằng: Không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh
Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống
Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 - 50kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg, nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn
mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn
+ Tuổi đẻ lứa đầu: Theo Lê Hồng Mận và cs (2004) [16], Lợn Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi
+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ
Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại) (Nguyễn Thiện và cs, 1993) [26]
Lê Hồng Mận và cs (2004) [16] cho biết: Thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày, lợn mẹ động dục trở lại
+ Đặc điểm động dục của lợn nái: Ở lợn nái, thời gian động dục chia làm 3 giai đoạn: Trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực
Trang 14Trước chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác nhảy lên lưng Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40 giờ ở lợn ngoại và lợn lai, 25 – 30 giờ ở lợn nội
Chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm hộ giảm sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30 giờ ở lợn nội Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai
Sau chịu đực: Lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng
+ Thời điểm phối giống thích hợp: Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [19], thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
+ Mang thai: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 -
115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
- Năng suất sinh sản của lợn
Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/năm Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: Số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ
lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm…
2.1.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [21], bệnh sản khoa xuất hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Tỷ lệ mắc còn phụ thuộc vào điều kiện vệ
Trang 15sinh môi trường Khi con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sâu trong đường sinh dục mở, máu, sản dịch ra nhiều điều đó tạo nhiều khả năng cho vi khuẩn xâm nhập Kỹ thuật đỡ đẻ cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng mắc bệnh
Bệnh mắc ở lợn nái có nhiều nguyên nhân khác nhau
Bệnh còn xảy ra khi điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý kém, lợn nái chửa ít vận động, thời tiết thay đổi đột ngột
Theo Nguyễn Quang Tính (2004) [29], sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng Dinh dưỡng cần đảm bảo đủ cả về lượng và về chất
Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung thường xảy ra ở lợn nái sau khi đẻ, có thể xảy ra ở lợn nái sau khi giao phối Đây là một trong những tổn thương ở đường sinh dục ở lợn nái sau khi sinh,ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản,làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng và chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh mất khả năng sinh sản (http://www.Irc.ctu.edu.vn) [36]
Trang 16Nguyễn Hữu Phước (1982) [21], cho biết lợn xảy ra trên cả đàn lợn nội
và ngoại Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y
- Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], bệnh thường xảy ra vào thời gian 1-10 ngày sau khi đẻ
Các nguyên nhân bao gồm: Dụng cụ truyền tinh gây xây xát âm đạo, tử cung, tinh dịch bị nhiễm khuẩn, dụng cụ thụ tinh không được vô trùng hoặc
do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [11]
Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [6] cho biết: Nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vuglgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus) và
Trang 17- Triệu chứng:
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [23], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: Sáng sốt nhẹ 39-39,50C, chiều 40-410C Con vật kém ăn, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dụng chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu
đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn, Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
Viêm tử cung ở lợn có các thể sau:
+ Thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn: Thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39-39,50
C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ 12-72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sơi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt cao 39,5-400C Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xen lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
+ Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao 39,5-400C Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7-8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng đến sản lượng sữa
Trang 18- Hậu quả:
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa Lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản (http://www.pkh-vcn.org) [37]
Lê Thị Tài và cs (2006) [22] cho rằng: Đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời hì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs 1999) [17]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: Lợn nái luôn ở tư thế như rặn đái Kiểm tra đường sinh duc lợn nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử cung, âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mủ màu trắng đục, mùi hôi khắm…
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn khó phát hiện có thể chẩn đoán lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiêu đôi khi có những đám mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh thường khó thụ thai (A.V Trekaxova và cs, 1983) [33]
Trang 19Có thể tìm muxin trong dịch nhầy từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch axit axetic 1%, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc bệnh và ngược lại (Lê Văn Năm và cs, 1999) [17]
Trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu và được bôi trơn bằng Vazoline hoặc dầu lạc Trong trường hợp đẻ khó hải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải sạch sẽ và phải được vô trùng
Can thiệp đẻ khó, thao tác phải nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật
Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch thuốc tím 1% hay nước muối sinh
lý 0,9% để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: Penicillin 2-3 triệu UI, Tetramycin hay Sulfanilamid 2-5g, hoặc Clorazol 4-6 viên (2-3g) vào tử cung để chống viêm
Nên tiêm một mũi Oxytocin liều 2-4 ml/con sau khi đẻ xong để kích thích tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo Đồng thời tiêm cho lợn nái một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như: Tetramycin Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc
bổ trợ như: Vitamin B1, B-complex, Vitamin B12, Gluconatcanxi để trợ sức, kích thích lợn nái ăn khỏe để có sữa cho con bú
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được tiệt trùng trước và sau khi sử dụng
Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo
Trang 20Phòng các bệnh truyền nhiễm cho lợn nái thông qua công tác tiêm phòng vaccine theo định kỳ và thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y
Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [25] cho biết có thể phòng bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái bằng quy trình phòng bệnh tổng hợp có bổ sung chế phẩm Biomin-pHD vào thức ăn
bộ và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm và cs, 1999) [17]
Điều trị cục bộ: Thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối 0,9%, KMnO4 0,01% hoặc rivanol 0,1%, sau đó thụt 1 trong các loại kháng sinh sau: penicillin, streptomycin, tetramycin…
Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như: ampisep, genorfcoli, gentamycin, lincomycin, hanoxylin 10%, ampicillin…kết hợp với thuốc trợ lực: vitamin C, B-complex
Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân:
Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết: Khi lợn nái đẻ, nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn, thì các vi khuẩn, mycoplasma, các cầu khuẩn, vi
khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp, không giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ, lợn con không
bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm như:
E.coli, Streptococcus, Staphylococcus, Klebsiella spp
Trang 21Lợn con mới đẻ có răng nanh, nếu không bấm, khi bú làm xây xát vú
mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết Sữa ứ đọng là môi trường cho vi trùng phát triển (Trương Lăng 2000) [12]
Lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm
Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
Theo Phạm Tiến Dân (1998) [4] nghiên cứu, xác định vi khuẩn gây viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm:
vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn bị đau
Trang 22Lợn giảm ăn, nếu bị nặng bỏ ăn, sốt cao 40,5-420C Lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, ỉa chảy, xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 đến 100% (Lê Hồng Mận, 2004) [16 ] Vắt sữa
ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu
Theo Đỗ Quốc Tuấn (1999) [31], viêm vú được chia thành các thể sau: + Thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch tiết ra nhiều, nước viêm thải ra thấm các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và lâm ba
bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú Lúc đầu sữa biến đổi không rõ sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm
+ Thể cata: Trong nang sữa chứa nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng
+ Thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng fibrinogen và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành Fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fibrin và cục casein
bị đông vón Nhiệt độ cơ thể lên tới 40-420C, vú viêm sưng, sờ thấy đau
+ Thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Con vật có triệu chứng toàn thân: sốt cao, hô hấp và tuần hoàn tăng
+ Thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ ở dưới da Vật ngừng tiết sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein
+ Thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá
vú Thường do kế phát từ viêm gan cata và viêm có mủ Lượng sữa ít, có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, nhịp tim và mạch rối loạn
Trang 23+ Thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hay viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa
bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng, màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40-410C
mủ thì bệnh khó chữa, con vật có thể chết (Vũ Đình Vượng và cs, 1999) [33]
Nguyễn Xuân Bình (1996) [2] cũng khẳng định: Lợn nái mất sữa sau khi đẻ con kế phát từ viêm vú, viêm tử cung do khi viêm cơ thể mẹ thường hay sốt liên tục 2-3 ngày, mất nước, nước trong tế bào và mô bào bị giảm, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm, dần dẫn đến mất sữa Khả năng phục hồi chức năng tiết sữa bị hạn chế thường xảy ra ở các lứa đẻ tiếp theo
Ngoài những ảnh hưởng trên nái, bệnh còn ảnh hưởng đến đàn lợn con theo mẹ như: lợn con đói do không đủ sữa bú, giảm tăng trưởng và tăng tỷ lệ chết (http://agriviet.com) [35]
- Chẩn đoán:
Dựa vào triệu chứng lâm sàng: Bằng mắt thường quan sát thấy bầu vú sưng đỏ, khi xoa bầu vú thấy có cảm giác nóng và hơi cứng, khi vắt sữa thấy không có sữa, lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữa đặc như bã đậu Một số trường hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguy hiểm cho con vật, vì đó là viêm thối rữa rất khó điều trị Lợn nái thường nằm
úp và cho con bú ít, lợn con bú ít kêu la, gầy yếu, ỉa chảy…
Kiểm tra qua kính hiển vi để tìm vi khuẩn: Nếu trong sữa có nhiều liên cầu, tụ cầu trùng và các vi trùng khác có thể xác định là bệnh viêm vú cata có
Trang 24mủ Chuỗi vi trùng dài hay ngắn phụ thuộc vào thời kỳ bệnh: Bệnh cấp tính thì chuỗi vi trùng ngắn, bệnh mãn tính chuỗi vi trùng dài (Nguyễn Hữu Ninh
và cs, 2002) [19]
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] thì công tác phòng bệnh cần phải tiến hành: Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước khi đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau rửa sạch bằng nước thường Tắm cho lợn nái trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú
Cho nái chửa ăn đúng khẩu phần, đủ dinh dưỡng và dễ tiêu hóa Một tuần trước khi đẻ phải giảm dần khối lượng thức ăn, để tránh hiện tượng sữa quá nhiều, lợn con bú không hết dẫn đến chua tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây bệnh Lợn nái ăn nhiều thức ăn còn làm cho thai to chèn ép gây đẻ khó Trước khi đẻ một ngày phải cho lợn nái nhịn ăn nhưng cho uống nước đầy đủ
Sau khi đẻ lợn con phải được bấm nanh để tránh gây xây sát bầu vú và cho lợn con bú ngay, để giảm sức căng của bầu vú Đồng thời cố định bầu vú cho lợn con để tránh hiện tượng có bầu vú không được bú sẽ gây viêm vú
- Điều trị:
+ Điều trị cục bộ: Phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh để giảm sưng, giảm đau hoặc phong bế bầu vú bằng novocain 0,25-0,5%, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4-5 lần tránh lây sang vú khác
+ Điều trị toàn thân: Sử dụng một số loại kháng sinh như penicillin, ampicillin, lincomycin, tetramycin…đều đạt kết quả tốt
Bệnh bại liệt sau đẻ
- Nguyên nhân:
Bệnh thường xuất hiện do thai quá to, tư thế chiều hướng của thai không bình thường hoặc do quá trình thủ thuật kéo dài làm cho lợn nái bị tổn thương thần kinh tọa làm ảnh hưởng đến đám rối hông khum
Trang 25Một phần do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém dẫn đến lợn mẹ gầy yếu gây bại liệt
- Triệu chứng:
Ban đầu lợn nái không có triệu chứng toàn thân, không thấy vết thương cục bộ, nhưng đi lại khó khăn, hay nằm bẹp một chỗ Nếu bệnh kéo dài thì lợn mẹ không đứng dậy được rất có thể bị loét da do tiếp xúc với nền chuồng, nếu kéo dài 3-4 tuần lợn gầy dần rồi chết
- Hậu quả:
Làm cho lợn nái hoạt động đi lại khó khăn hoặc mất khả năngvận động, nếu bệnh kéo dài có thể bị loét từng mảng da do tiếp xúc lâu với nền chuồng Bệnh có khả năng gây chết lợn (Đỗ Quốc Tuấn, 1999) [31]
- Nguyên nhân:
+ Đẻ khó do cơ thể mẹ:
Do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém, lợn mẹ bị suy nhược, sức khỏe yếu, nên lợn rặn đẻ yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy được thai ra ngoài
Trang 26Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó
Do cấu tạo các tổ chức phần mềm như: cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có những chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn
Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn
nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được
Ở thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, làm tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây khó đẻ
Do rối loạn hormone sinh dục cái: Kích tố nhau thai Relaxin lúc đẻ tiết
ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây chằng xương chậu (không sụt mông) hoăc prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp
tử cung nên không tống thai ra ngoài được
+ Đẻ khó do nguyên nhân bào thai:
Chiều, hướng, tư thế thai lúc đẻ không bình thường Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [9], các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế cũng là nguyên nhân dẫn đến đẻ khó
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ
Thai bị dị hình hay quái thai
Hiện tượng đẻ khó do bào thai thường chiếm 3/4 Những nguyên nhân
và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hay kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế của thai không bình thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra ngoài được
- Triệu chứng:
Lợn nái đến ngày đẻ, ối vỡ, nước chảy ra, nước nhờn có cứt su, có lẫn máu nhưng thời gian đẻ kéo dài, dịch ra hết làm thai bị khô, lực ma sát lớn làm thai khó ra
Trang 27Tư thế nằm đẻ của lợn nái không thoải mái, lợn nái nín thở, chân co đạp xuống nền làm điểm tựa, rặn tích cực nhiều lần thai vẫn không ra Khi lợn
đã mệt, thở yếu, tần số co bóp giảm, tốc độ rặn đẻ chậm, khoảng cách giữa thời gian con ra trước và ra sau kéo dài Một số con kêu rống lên, đứng lên nằm xuống không yên, thường thay đổi tư thế nằm
Đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai ở tư thế không bình thường
- Hậu quả:
Tử cung co bóp mạnh, thai bị chèn dẫn đến lợn con bị chết
Nếu mổ để thấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết
Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, không gây xây xát niêmmạc tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh: Viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… Khi niêm mạc có có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ…dẫn đến sảy thai, đẻ non thậm chí là vô sinh
- Biện pháp can thiệp:
Cần phải chẩn đoán chính xác, can thiệp sớm và can thiệp kịp thời Đối với lợn, nếu được can thiệp kịp thời, sau khi kéo thai bị đẻ khó ra, các khai thác có thể được đẻ bình thường Nếu để chậm, không những thai bị
Trang 28Theo Trương Lăng và cs (2002) [13] có thể can thiệp khi lợn nái đẻ khó bằng cách tiêm oxytoxin 10-15 đơn vị/lần sau 30 phút tiêm lần 2 nếu thai vẫn chưa ra thì bơm vào tử cung 100ml dầu nhờn Cần thiết cho tay vào tử cung kéo thai ra cùng lúc với đợt rặn đẻ của con mẹ
2.1.3 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài
Để giảm bớt thiệt hại do bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái gây ra cho người chăn nuôi, nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng các loại kháng sinh khác nhau Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng hai loại thuốc Vetrimoxin.L.A
và MD Peni strep để điều trị hai bệnh viêm tử cung và viêm vú
* Vetrimoxin.L.A
Thuốc do công ty của pháp sản xuất
Thành phần: Trong 1ml dung dich Vetrimoxin.L.A có 150mg Amoxycillin (dạng muối trihydrate)
Cơ chế tác dụng: Amoxycillin là kháng sinh thuộc nhóm β- lactamin nên cócơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm Amoxycillin có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ngăn cản sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, phá vỡ tình trạng nguyên vẹn của vách tế bào, nó gắn vào enzym ái penicillin tham gia vào giai đoạn cuối trong tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, làm cho sự tạo thành vách tế bào vi khuẩn không đầy đủ, không ổn định về tính thẩm thấu, tế bào vi khuẩn thường bị chết do sự tự phân hủy
Amoxycillin tác động trên cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) như: E.coli, Salmonella, Staphylococcus, Streptococcus, Clostridium, Erysipelothiix…
Khi vào cơ thể động vật, , Amoxycillin phân bố rộng và nhanh chóng vào các mô (Tissue), kể cả những vùng máu ít đến như khớp
Amoxycillin ít bị biến hoá, nên khi bài thải qua thận vẫn còn ở dạng hoạt chất
Vetrimoxin.L.A có tác dụng kéo dài đến 48 giờ
Trang 29* MD peni strep
Thuốc do công ty TNHH thuốc Thú y - Thuỷ sản Minh Dũng sản xuất Địa chỉ: Thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Thành phần trong 1ml gồm: Procaine Penicillin G, Streptomycin
Sulphate, tá dược vừa đủ
Penicillin G có tác dụng chủ yếu trên các loại vi khuẩn Gram (+) Do được chế dưới dạng Procaine Penicillin G nên thời gian bán thải của thuốc kéo dài hơn trong khoảng từ 24 - 48 giờ Khi khi tiêm vài phút thuốc đã xuất hiện trong máu và giữ nồng độ cao trong máu từ 2 - 3 giờ Khoảng 20% lượng thuốc được kết hợp với protein huyết tương Khoảng 50% - 90% thuốc được bài thải ra ngoài dưới dạng còn nguyên hoạt lực
Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid Thuốc có tác dụng chủ yếu trên các loại vi khuẩn Gram (-) Thường hay sử dụng thuốc dưới dạng Streptomycin Sulphate Thuốc sau khi hấp thu được phân bố hầu như khắp các dịch tố chức 1/3 thuốc được kết hợp với protein huyết thanh Khi tiêm có khoảng 50 - 60% lượng thuốc được thải ra ngoài qua nước tiểu dưới dạng nguyên vẹn sau 24 giờ Streptomycin có tác dụng tốt trong điều trị các bệnh viêm nhiễm do vi khuẩn gây ra
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Barbara E Straw và cs (2006) [36] đã nghiên cứu về vi sinh vâ ̣t trong di ̣ch
viêm tử cung gồm : Escherichia coli, Streptococcus sp, Staphylococcus sp, Arcanobacterium pyogenes, Proteus, Klebsiella và một số vi khuẩn khác
Popkov (Liên Xô cũ) đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, chữa viêm tử cung đạt kết quả cao
Streptomycin: 0,25 g
Penicillin: 500.000 UI
Dung dịch MgSO4 1% 40 ml + VTM C
Trang 30Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, N.Mikhailov đã dùng rửa không sâu (qua ống thông) trong âm đạo bằng dung dịch nước Etacridin 1/1.000 và 1/5.000, Furazolidon 1/1.000
Diensiviridep dùng Rivanol 1% để thụt rửa đạt kết quả cao và không ảnh hưởng đến gia súc
I.E.Elistratopvaf A.I.Skurko dùng VTM E ở dạng dung dịch tocoferon Thuốc tiêm bắp 1 lần, tiêm lần thứ hai sau 5 ngày chỉ trong những trường hợp bệnh nặng Dùng VTM E theo kết luận của tác giả có thể bảo vệ hoàn toàn sức sinh sản cho lợn nái mắc bệnh viêm trong tử cung
axetat-α-Ở Pháp các tác giải Pierre brouillt và Bernarrd faroult đã kết luận: Điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lực học và dược động học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị
Các nghiên cứu của A.V.Trekaxova (1983) [33] về chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng Novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch Novocain 0,5% liều từ
30 - 40ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 8 - 10cm Dung dịch Novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị Penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong Novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Trần Minh Châu (1996) [3], điều trị viêm vú, viêm tử cung và cạn sữa điều trị bằng tiêm oxytoxin 5 - 10 UI cho lợn nái đến 200kg và dùng kháng sinh ampicillin 25 mg/1kg/ngày hoặc tetracycllin 30 - 80 mg/kg/ngày cho kết quả điều trị tốt
Trang 31Theo Trương Lăng (2003) [14] cho rằng: bơm thụt rửa tử cung sau khi
đẻ xong bằng thuốc tím 1‰, hay rivanol 1‰ Bơm vào tử cung furazolidol hoặc đặt vào tử cung 4 viên chloranol/ngày
Tiêm streptomycin hoặc penicillin 1 - 2 vạn đơn vị/kg TT
Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [11], dùng phác đồ điều trị tiêm bắp thịt để điều trị bệnh viêm tử cung: Streptomycin 15 - 20 mg/kgTT dùng liên tục 3 - 4 ngày (cấp tính), 6 - 8 ngày (mãn tính)
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [19]:
Dùng benzyl penicillin (procaine ) 1.000.000 UI
Dùng gentamycin (sulfate) 200.000 UI
Tá dược vừa đủ trong 1 ống 2 gram
Điều trị viêm tử cung ở lợn, bò cho kết quả cao
Dùng viên nén chloteracilin (chcorlidrata) 1gram điều trị nhiễm trùng đường sinh dục sau đẻ như viêm tử cung, lộn tử cung, sát nhau, viêm âm đạo
Đoàn Thị Kim Dung và cs (2006) [6] cho biết: Thụt rửa tử cung, âm đạo bằng rivanol 0,1% hay chloramphenicol 4% mỗi ngày rửa một lần, mỗi lần 50 - 100ml (các loại hoà tan trong nước ấm 40 - 450C) sau đó dùng một số loại thuốc sau:
Tiêm bắp thịt kanamycin liều 10mg/kg/ngày, chia làm hai lần /ngày, tiêm bắp thịt gentamycin 4 UI /kg/ngày
Ketomycin bôi ngày 1 - 2 lần kết hợp uống 1 - 2 gram cho 30 - 50 kgTT liên tục trong 3 - 5 ngày, dùng một trong những thuốc trên đồng thời kết hợp với thuốc bổ trợ VTM C, B, cafein cho kết quả tốt
Văn Lệ Hằng và cs (2008) [8] sử dụng phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung: Oxytoxin 6ml/con/lần tiêm dưới da, sau đó dùng dung dịch lugol 2/1000 + 200mg neomycin/con/lần/ngày thụt rửa tử cung Dùng ampicilin 3 - 5g/kgTT/lần/ngày tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch điều trị liên tục 3 - 5 ngày
Trang 32Lê Thị Tài và cs (2006) [23] cho biết, trong dân gian thường sử dụng một số bài thuốc nam trong điều trị bệnh viêm tử cung như sau:
Bài 1: Dùng để rửa tử cung, âm đạo chống dịch nhầy, nhớt và viêm
Vỏ, rễ cây dâm bụt rửa sạch, tráng qua nước muối loãng Cho thêm nước vào đun sôi, chắt lấy nước rửa tử cung, âm đạo Sau khi rửa xong thì lau khô, ngày rửa 2 lần
Bài 2: Dùng để thụt rửa tử cung kết hợp với thuốc uống trong
Tỏi ta (đã bóc vỏ, rửa sạch, giã nhuyễn) 50g
Khuấy đều lọc bỏ bã, chắt lấy nước, bơm vào tử cung, âm đạo ngày 1 lần Thụt rửa liên tục 4 - 5 ngày
Thuốc uống trong:
Trang 33Bằng châm cứu:
Đơn huyệt: Bách Hội, Dương Minh, Vĩ Căn, Hội Âm, Túc Tam Lý, Hải Môn, Khai Phong
Châm theo phương pháp tả
Thời gian điều trị 7 - 10 ngày liên tục, nghỉ 2 - 3 ngày sau đó tiếp tục điều trị
Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm
Tiêm thuốc chống viêm như prednizolon, hydro-cortizone
Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn có tiêm nhắc lại sau 1 ngày
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin, liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5], trước khi đẻ lau, xoa vú và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con
Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt