Nếu không điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết..
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THU HIỀN
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ THEO DÕI BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI BÙI HUY HẠNH, HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THU HIỀN
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ THEO DÕI BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI BÙI HUY HẠNH, HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp: K45 CNTYN02 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Thị Hồng Duyên
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, học hỏi, rèn luyện nâng cao tay nghề, em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo và bạn bè Đến nay, em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy
cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ
em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS Dương Thị Hồng Duyên, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ kỹ thuật, công nhân viên tại trại Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, cũng như học tập rèn luyện nâng cao tay nghề
Một lần nữa, em xin chúc toàn thể các thầy, cô giáo, sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Đinh Thu Hiền
Trang 4ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Lịch sát trùng chuồng trại của trại lợn Bùi Huy Hạnh 34
Bảng 4.2 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của trang trại 35
Bảng 4.3 Kết quả công tác phu ̣c vu ̣ sản xuất 41
Bảng 4.4 Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm 42
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh viêm tử cungtại trại theo tháng 43
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 45
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn 46
Trang 5iii
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung tại trại theo tháng 44 Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung tại trại theo lứa đẻ 46
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 5
2.2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái 5
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 7
2.2.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản 20
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 24
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28
3.1 Đối tượng 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung thực hiện 28
Trang 8vi
3.3.1 Công tác phục vụ sản xuất 28
3.3.2 Theo dõi tình hình mắc mô ̣t số bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại 28
3.3.3 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bê ̣nh trong thời gian thực tập 28
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 28
3.4.1 Xác định tình hình chăn nuôi và thú y của trại 28
3.4.2 Xác định tỷ lệ mắc bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái nuôi ta ̣i tra ̣i 28
3.4.3 Xác định hiệu quả điều trị bệnh cu ̉ a 2 phác đồ 29
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 30
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Áp dụng tiến bộ Khoa học kỹ thuật vào sản xuất tại trại 31
4.1.1 Thực hiện công ta ́c chăn nuôi của tra ̣i 31
4.1.2 Công ta ́c thú y của tra ̣i 33
4.2 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại 42
4.2.1 Cơ cấu của trại trong 3 năm (2014 – 10/2016) 42
4.2.2 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung tại trại theo tháng 42
4.2.3 Tình hình bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 44
4.3 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn 46
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9là việc làm cần thiết
Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản
là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như nuôi ở hộ gia đình Đối với lợn nái, nhất là lợn nái ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị
các loại vi khuẩn như Streptococcus, Staphylococcus, E coli… xâm nhập và
gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm môn,… đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung, đây là bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ Nếu không điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh,
vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết Vì vậy, các bệnh viêm đường sinh dục, đặc biệt là bệnh viêm tử cung ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói riêng, đồng thời ảnh hưởng đến
năng suất, chất lượng và hiệu quả toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung
Trang 102
Để góp phần vào việc phòng và điều trị bệnh viêm tử cung cho lợn, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương - Thử nghiệm phác đồ điều trị”.
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Áp dụng quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại
trại Bùi Huy Hạnh
- Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi t ại trang trại
- Xác định hiệu lực của một số phác đồ điều trị bệnh
1.2.2 Yêu cầu
- Thành thạo quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái
- Xác định được tình hình m ắc một số b ệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại
- Xác định được phác đồ điều tri ̣ bê ̣nh có hiê ̣u quả và an toàn với lợn
Trang 113
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh là một đơn vị chăn nuôi gia công của công ty cổ phần chăn nuôi Charoen Pokphand Việt Nam Trang trại chăn nuôi lợn giống của ông Bùi Huy Hạnh được thành lập và đi vào sản xuất lợn giống theo hướng chăn nuôi công nghiệp từ năm 2007 tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
Tứ Kỳ là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, phía Đông bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình); phía Tây bắc giáp thành phố Hải Dương; phía Tây giáp huyện Gia Lộc; phía Tây nam giáp huyện Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương Phía Đông nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc); phía Đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình)
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, đất đai của Huyện được hình thành nhờ sự bồi đắp của hệ thống sông này Đất đai ở đây chủ yếu được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, thuận lợi cho việc canh tác của nhân dân, mặt khác cơ cấu đất đa dạng nên rất thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn thuộc xã Tái Sơn có địa hình khá bằng phẳng với diện tích là 3 ha, trong đó ông Hạnh xây dựng 1ha khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và 2 ha trồng cây xanh và ao hồ
Trang 12- Khí hậu: Là xã nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa đông, nóng ẩm về mùa hè Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%
- Nhiệt độ trung bình trong năm là 21C - 23C, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc và gió mùa Đông nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa
- Về chế độ gió: Gió mùa Đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 12
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
- 01 chủ trại
- 01 quản lý trại
- 01 kĩ sư của công ty
- 02 tổ trưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ)
- 01 bảo vệ
- Hơn 10 công nhân
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại
- Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ, mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m
Trang 135
× 1,6m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng bầu 2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [9], cơ quan sinh dục của lợn nái được chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong
2.2.1.1 Bộ phận sinh dục ngoài (âm môn, âm vật và tiền đình)
* Âm môn, hay còn gọi là âm hộ (Vulva), nằm dưới hậu môn Bên
ngoài có hai môi (Labia vulvae) Nối liền hai môi bằng hai mép (Bima
Trang 146
vulvae) Bờ trên hai môi của âm môn có sắc tố đen, nhiều tuyến tiết chất nhờn
và tuyến tiết mồ hôi
* Âm vật (Clitoris), giống như dương vật được thu nhỏ lại Bên trong
có các thể hổng Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (Praepatium clitoridis)
* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis), là giới hạn
giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo Màng trinh có các sợi đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Sau màng trinh có lỗ niệu đạo
2.2.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng và ống dẫn trứng)
* Âm đạo (Vagina), trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng
trinh (Hymen) che lỗ âm đạo Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quan sinh
dục khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ
Cấu tạo âm đạo chia ba lớp:
Tử cung (Uterus): Ở lợn, tử cung thuộc loại hình sừng kép, các sừng
gấp nếp hoặc quấn lại và có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn lại Độ dài này thích hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được đính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng
- Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2
Trang 157
sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 40 - 65cm Thân tử cung dài 5cm Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều dài răng lược thông với âm đạo
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung
và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản Gồm:
- Chuyển vận tinh trùng
- Làm tổ, chửa và đẻ
* Buồng trứng (Ovarium), gồm một đôi Bên ngoài là một lớp màng
liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn, bên trong chia làm hai miền: miền
vỏ và miền tủy, hai miền đó được cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi xốp tạo ra
cho buồng trứng một chất đệm (Stromaovaris) Ở miền tủy có nhiều mạch
máu và tổ chức xốp cũng dày hơn Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng
Ống dẫn trứng (vòi Fallop): Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
- Tua diềm: có hình giống như tua diềm
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm
- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
2.2.2.1 Sự thành thục về tính
Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có bao noãn chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung biến đổi theo, đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung Những dấu
Trang 16Mặt khác, tuổi thành thục tính sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy để đảm bảo sự sinh trưởng và phẩm chất giống ở thế hệ sau nên cho gia súc giao phối sau khi đã hoàn toàn thành thục về tính và trước thời gian thành thục về thể vóc Tuy nhiên, không nên cho lợn phối giống quá muộn vì nó ảnh hưởng đến thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4] thì tuổi phối giống lần đầu cho lợn cái tốt nhất là lúc 8 tháng tuổi
và khối lượng là ≥ 70 kg hoặc ở 9 tháng tuổi với khối lượng là 80 – 90 kg
Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục tính:
* Giống: các giống gia súc khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng
khác nhau, sự thành thục về tính ở những gia súc có tầm vóc nhỏ thường sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn Các giống lợn nội tuổi thành thục về tính là 4 – 5 tháng, các giống lợn Landrace, Yorkshire tuổi thành thục về tính là 6 -7 tháng
Theo Phạm Hữu Doanh (1985) [3] cho rằng, các giống lợn nội có độ tuổi thành thục về tính 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Trong khi đó tuổi động dục ở lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội × ngoại) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
* Dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng:
Nguyễn Tấn Anh (1998) [1], cho biết kinh nghiệm từ thực tiễn chăn nuôi Hoa Kỳ, để duy trì năng suất sinh sản cao thì cần chú ý tới nhu cầu dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 - 90
kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc
Trang 179
thứ 3) Hoặc có thể điều chỉnh để khối lượng cơ thể đạt 120 – 140 kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và cho phối giống Trước phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn từ 1 – 1,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố chỉ trong 14 ngày, sẽ giúp lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 – 2,1 trứng/ lần động dục/ nái
* Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của lợn cái hậu bị:
Cách ly lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làm chậm trễ sự thành thục so với những lợn cái hậu bị cùng độ tuổi được tiếp xúc với con đực Nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ ngày với thời gian từ 15 – 20 phút/ lần thì 83% lợn nái (ngoài 90kg thể trọng) động dục lúc
165 ngày tuổi
2.2.2.2 Chu kỳ động dục (chu kỳ tính)
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có sự biến đổi, đồng thời có rụng trứng, trứng phát triển nhờ quá trình điều khiển của hocmon thùy trước tuyến yên, làm trứng chín và rụng một cách có chu kỳ, con vật biểu hiện bằng những triệu trứng động dục theo chu
kỳ được gọi là chu kỳ tính
Chu kỳ tính có sự khác nhau giữa các loài, thời gian kéo dài chu kỳ giữa các loài cũng có sự khác nhau Ở thời gian đầu, do mới có sự thành thục
về tính nên chu kỳ chưa ổn định, phải sau 2 – 3 chu kỳ tiếp sau mới có được
Trang 1810
Chu kỳ động dục là khoảng thời gian giữa 2 lần động dục và nó được chia làm 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn trước động dục (Preoestrus)
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, nó xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý, tính thành thục trong đó sự phát triển của noãn bao thành thục nổi rõ lên bề mặt buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường, các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng sinh, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng, mạch quản trong màng nhầy tử cung tăng, các dịch nhày ở âm đạo nhiều, niêm dịch cổ tử cung tiết ra, kích thích cho cổ tử cung hé mở, bộ phận sinh dục phù thũng, niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Giai đoạn này ở lợn dài từ 1 – 2 ngày
Tất cả những biến đổi đó tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vào đường sinh dục cái để thụ tinh với tế bào trứng
Giai đoạn động dục (Oestrus)
Là giai đoạn tiếp theo thường kéo dài từ 2 – 3 ngày Trong giai đoạn này những biến đổi về sinh lý so với giai đoạn trước động dục càng rõ hơn Bên ngoài
âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết, niêm dịch trong suốt từ âm đạo chảy ra nhiều Cuối giai đoạn này tính hưng phấn của con vật cao độ, gia súc ở trạng thái không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ, kêu rống, phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác hay để con khác nhảy lên lưng, đái rắt, thích gần con đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối Sau đó khoảng 20h thì trứng mới bắt đầu rụng, thời gian trứng rụng kéo dài từ 4 – 6h, số trứng rụng mỗi lần từ 8 –
Trang 1911
Trường hợp tế bào trứng không được thụ thai thì nó sẽ chuyển sang giai đoạn sau của chu kỳ
Giai đoạn yên tĩnh (Dioestrus)
Là giai đoạn dài nhất chiếm phần lớn chu kỳ động dục, bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không được thụ tinh, kết thúc sau khi thể vàng tiêu hủy không còn biểu hiện gì về hành vi sinh dục Đây là giai đoạn chuyển giao giữa hai lần động dục Trong quá trình động dục, nếu trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại suốt 2/3 thời gian mang thai và tiết ra progesteron có tác dụng an thai, ức chế quá trình rụng trứng, kích thích tuyến vú phát triển Thời
kỳ yên tĩnh lúc này chính là giai đoạn mang thai và thời kỳ sau đẻ Ở giai đoạn nuôi con dưới tác dụng của prolactin, oxytoxin, progesteron… làm cho quá trình rụng trứng bị đình trệ, hiện tượng động dục không xảy ra Thường sau khi cai sữa thì chu kỳ tính dần được khôi phục và xuất hiện trở lại sau cai sữa 4 – 8 ngày
Nếu trong quá trình động dục, trứng rụng không được thụ tinh thì thể vàng chỉ tồn tại được 3 – 10 ngày, sau đó teo đi làm ngừng tiết progesteron,
do đó trứng tiếp tục chín và rụng, xuất hiện chu kỳ tính tiếp theo
Các yếu tố ảnh hưởng tới chu kỳ động dục:
Vũ Duy Giảng và cs (1999) [8], trong điều kiện thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng, chu kỳ tính kéo dài, bao noãn thành thục chậm, thậm chí có bao noãn quắt lại
Trang 2012
* Yếu tố thần kinh – thể dịch:
Quy luật và đặc điểm của chu kỳ sinh dục chịu sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như: khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nuôi dưỡng quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tình trạng cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh - Thể dịch
2.2.2.3 Sinh lý quá trình mang thai
khái niệm hiện tượng có thai
Có thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi sinh đẻ xong
Thời gian có thai
Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính ngay từ ngày phối giống lần cuối Thời gian có thai phụ thuộc vào những điều kiện và các yếu tố khác nhau Nó dài hay ngắn tùy theo loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa sinh sản, trạng thái dinh dưỡng, sức khỏe…
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], thời gian mang thai ở lợn giao động, trung bình là 110 – 118 ngày, thời gian có thai trung bình là 114 ngày
Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển của bào thai có thể chia ra làm ba thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất – thời kỳ trứng: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tế bà
trứng được thụ tinh đến khi hình thành nang phôi – túi phôi
- Thời kỳ thứ hai – thời kỳ phôi thai: Là thời kỳ hình thành nhau thai,
hình thành các tế bào và các cơ quan hệ thống của cơ thể Ở gia súc lớn từ ngày thứ 11 – 40
- Thời kỳ thứ ba – thời kỳ bào thai: Là thời kỳ cuối phôi thai cho đến khi sinh đẻ Là giai đoạn phân hóa những kết cấu cực tiểu của tế bào và cơ quan, là thời kỳ bào thai phát triển nhanh
Trang 2113
Sự điều hòa thần khinh – thể dịch ở thời kỳ mang thai
Điều hòa sự phát triển của bào thai và đảm bảo sự thống nhất trong các hoạt động chức năng giữa cơ thể mẹ và bào thai là một quá trình phức tạp do
sự điều tiết thần kinh – thể dịch
Điều tiết thần kinh: bắt đầu từ lúc thụ thai thì trong vỏ não xuất hiện
vùng hưng phấn trội để tiếp nhận những biến đổi hóa học và cơ học từ các điểm thụ cảm ở tử cung, do đó đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của phôi thai như: niêm mạc tử cung phát triển, mạch máu đến nhiều, tiết dịch tăng Hưng phấn tăng cường mạnh nhất ở tháng thứ hai, là một trong các yếu tố dễ gây sẩy thai ở thời điểm này
Điều tiết thể dịch: có sự tham gia tích cực của hệ nội tiết Progesteron là
hocmon an thai, duy trì quá trình mang thai, được sản sinh ở thể vàng và nhau thai Ở lợn progesteron chủ yếu do thể vàng cung cấp, vai trò của nhau thai là thứ yếu (Nguyễn Xuân Tịnh (1996) [19] )
Những biến đổi sinh lý chủ yếu khi có thai
- Sự biến đổi toàn thân của cơ thể mẹ khi có thai:
Khi gia súc có thai, kích tố của hoàng thể và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Vì vậy hiện tượng ăn uống, trạng thái dinh dưỡng, quá trình trao đổi chất… của con mẹ được nâng cao cho nên thời kỳ đầu gia súc có thai thường béo hơn khi chưa có thai
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1999) [8], trong thời kỳ có chửa, lợn nái tăng từ 15 – 25 kg (không kể các sản phẩm thai, trong đó khoảng 3 – 4 kg là protein) Nói chung trong thời gian có chửa, lợn mẹ tăng từ 1,2 – 1,3 lần so với trước khi phối giống
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1999) [8], quan trọng đối với gia súc có thai
là vitamin A Nếu thiếu vitamin A con mẹ có hiện tượng thoái hóa thượng bì
âm đạo và dạ con, làm cho khả năng thụ thai kém hoặc nếu con mẹ có thai thì
Trang 22Vũ Duy Giảng và cs (1999) [8], canxi và photpho là 2 nguyên tố không thể thiếu được đối với gia súc có thai Nhu cầu canxi là 0,6%, photpho là 0,5% so với khối lượng vật chất khô khẩu phần
Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục
- Buồng trứng:
Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau Buồng trứng phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia Trên mặt ngoài buồng trứng xuất hiện thể vàng
- Tử cung:
Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích… dây chằng tử cung dài ra nên đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa vị trí cũ Hệ tuần hoàn ở cơ quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên Các tuyến tử cung cũng phát triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ
Theo Trần Tiến Dũng (2002) [6], mức độ phát triển và tăng sinh của tử cung ở lợn phụ thuộc vào số lượng của bào thai và thường là phát triển ở cả hai sừng Cuối thời kỳ có thai, khối lượng tử cung (không kể thai) nặng tới 2,5 – 6kg, còn tử cung bình thường không có thai nặng 0,2 – 0,5kg
Vũ Duy Giảng và cs (1999) [8], tử cung bình thường chỉ nặng 0,2
– 0,3kg, khi có thai tử cung lợn mẹ nặng tới 3 – 4kg
Trang 2315
Những thay đổi hocmon sinh dục
Bào thai được phát triển bình thường dưới tác dụng điều hòa của các hocmon buồng trứng, nhau thai và tuyến yên
- Nửa thời kỳ đầu có thai: Nhau thai được hình thành và phát triển, tiết
ra Prolan B Chất này có tính chất giống như LH của thùy trước tuyến yên
Nó kích thích thể vàng phát triển và tăng tiết progesteron, làm cho niêm mạc
tử cung phát triển và dày thêm Nhau thai ngoài việc tiết ra prolan B, còn tiết
ra progesteron và folliculin
- Nửa thời kỳ sau có thai: Hàm lượng progesteron giảm dần trong máu
Ngược lại follicilin tăng dần đến mức tối đa
Cuối thời kỳ có thai, progesteron giảm rất thấp trong máu Progesteron
có tác dụng ức chế tử cung co bóp và follicilin kích thích co thắt tử cung, thuận lợi cho quá trình sinh đẻ Trong thời kỳ có thai, nhau thai đã dần thay thế chức năng nội tiết của thùy trước tuyến yên, tiết ra prolan A và prolan B Mặt khác, nó còn thay thế buồng trứng tiết ra progesteron trong nửa thời kỳ đầu và folliculin được tiết liên tục càng về sau càng nhiều
2.2.2.4 Sinh lý quá trình đẻ
Khái niệm đẻ
Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định, khi bào thai đã phát triển đầy đủ, gia súc mẹ đẩy thai ra ngoài cùng với màng nhau, dịch thai Quá trình đó gọi là đẻ
Thời gian đẻ của gia súc
Thời gian đẻ của gia súc được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi thai ra khỏi cơ thể mẹ và số lượng bào thai ra hết ở những loài gia súc đa thai
Theo Trần Tiến Dũng (2002 [6], thời gian đẻ của lợn kéo dài từ 2 - 6h
Những biểu hiện của cơ thể mẹ trong thời gian gần sinh đẻ
Quá trình sinh đẻ của gia súc là một quá trình sinh lý bình thường Cho
Trang 2416
nên cuối thời kỳ mang thai gia súc cái có những biểu hiện của quá trình sinh
đẻ, chủ yếu là ở đường sinh dục và bầu vú
Nhưng chỉ nhờ vào sức co bóp của tử cung thì không đủ đẩy thai ra ngoài mà phải nhờ vào sự co bóp của cơ ở bụng, hoành cách mô và toàn thân
Đó mới là “rặn” đẻ, mặt khác còn dựa vào sự co bóp của cơ âm đạo, chậu hông, sức Khi có triệu chứng đẻ thì tử cung bắt đầu co bóp, ban đầu yếu sau
Trang 2517
cung mở ra hoàn toàn Tùy từng giống mà biểu hiện bên ngoài không giống nhau Ở lợn thường hay đứng nằm không yên, đi đi lại lại trong chuồng và có triệu chứng cắn ổ
Động lực thúc đẩy cho quá trình sinh đẻ là sự co bóp của cơ quan sinh dục được bắt đầu từ mút sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung và đến âm đạo, thời gian co bóp có những khoảng cách nên gọi là những cơn rặn
Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong thời kỳ 1 nhưng nói chung cơn rặn này yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn lại dài từ 20 – 30 phút, mỗi cơn rặn thường từ 2 – 3 giây Nếu con mẹ rặn liên tục thì mạch máu của bào thai bị chèn ép, tuần hoàn đình trệ, dưỡng khí cung cấp cho thai thiếu, thai ra chậm có thể bị ngạt
Cường độ co bóp chuyển từ sừng tử cung xuống thân tử cung, đến cổ tử cung ra ngoài âm đạo Nước ở trong tử cung và màng thai dồn ép ra ngoài, cổ
tử cung lúc này đã mở, màng thai đã một phần lọt ra ngoài Cùng với sức co bóp của tử cung tăng lên, màng thai tiếp tục chui ra, ép vào cổ tử cung làm cho cổ tử cung càng mở rộng Khi cổ tử cung đã mở rộng thì một phần của thai chui ra, lúc này giữa cổ tử cung và âm đạo không còn ranh giới nữa Cùng lúc thai ra ngoài có hiện tượng vỡ ối, màng ối và màng niệu vỡ ra Thứ
tự màng niệu vỡ trước, màng ối vỡ sau, nước ối và nước niệu đều ra cùng với màng ối, màng niệu cũng góp phần cho cổ tử cung mở rộng hoàn toàn đồng thời làm trơn đường sinh dục, cho thai đi ra ngoài dễ dàng
Thời kỳ đẻ hay còn gọi là sổ thai
Thời kỳ này bắt đàu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Ở thời kỳ này thai qua cổ tử cung và đi vào âm đạo Nếu đẻ bình thường, bộ phận ra trước nhất là đầu và chân Lúc này gia súc cái bồn chồn, đứng nằm không yên, có con chân sau đá vào bụng, lưng cong lên mà rặn
Khi đầu của thai đã đi vào hố chậu, gia súc cái lại nằm xuống Đặc
Trang 2618
điểm là sức co bóp của tử cung trong thời kỳ này mạnh vì thân của thai tiếp xúc niêm mạc âm đạo, gây ra một ma sát lớn Trong lúc này gia súc thường kêu do bị đau vì dịch ối, dịch niệu chảy ra hết, thân thai lại tiếp giáp vào niêm mạc âm đạo
Bào thai đã đi ra đường sinh dục thì tăng kích thích cho cơ co bóp, lực
co bóp lúc này là tổng hợp giữa co bóp của đường sinh dục, sự co bóp của cơ thành bụng, cơ hoành thành một lực mạnh và được kéo dài
Trần Tiến Dũng (2002) [6], lợn rặn đẻ khác với loài gia súc khác, tử cung co bóp đẩy thai theo chiều dọc và co bóp theo từng đoạn Sự co bóp bắt đầu từ gốc sừng tử cung, lan dần đến đầu nhọn của sừng tử cung Hai sừng tử cung thay nhau co bóp Trong cơn rặn đẻ lợn thường nằm nghiêng, cũng có khi đứng lên nhưng lại nằm xuống ngay, màng thai của lợn không lòi ra ngoài
âm hộ, nước ối ít, thai lợn ra từng con một, sau mỗi lần rặn thường thai lợn ra
dễ dàng
Thời kỳ sổ nhau (hay gọi là bong nhau)
Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục của gia súc mẹ một thời gian, con mẹ trở lên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co bóp từ 1,5 – 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ lúc này yếu hơn
Sau khi sổ thai khoảng 2 – 3h tử cung co nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau Cơn rặn lúc này của gia súc cái chủ yếu là đưa nhau thai ra ngoài
Trong thời gian này tuần hoàn của núm nhau mẹ và núm nhau con đã giảm nên nhau thai có thể tách ra được Các nhung mao teo lại, tách núm nhau mẹ ra khỏi nhau thai Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ lại dần thể tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung đẩy ra ngoài
Trang 2719
Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra ngoài, do đặc tính của tử cung
co bóp từ mút sừng tử cung tới thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước, sau đó bong dần xuống sừng
tử cung, thân tử cung và ra ngoài
Thời gian bong nhau thai của gia súc có khác nhau do đặc điểm cấu tạo của núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung
Theo Trần Tiến Dũng (2002) [6], sau khi thai ra hết toàn bộ, khoảng 10 – 50 phút sau nhau thai mới ra Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chứa trong một sừng tử cung
Trong sừng tử cung lợn có ít thai thì nhau thai không dính lại như vậy,
mà ra từng cái một, thai sau có thể đẩy nhau thai của thai trước ra Nếu trong sừng tử cung lợn có xen kẽ nhiều thai bình thường và thai bị chết khô thì nhau thai cũng ra thành nhiều đống Thường những thai chết khô trong sừng tử cung sẽ ra cùng với nhau thai
2.2.2.5 Giai đoạn tiết sữa và nuôi con
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng, thức
ăn, giống lợn, số lượng lợn con Lượng sữa tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ
2-3 Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích của bầu vú gây ra, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa Khi lợn con thúc vú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại truyền xuống vùng hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên, tuyến yên tiết ra kích tố oxytocin
Sau đẻ để lợn con có đủ kháng thể trong ngày đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng
Trần Văn Phùng và cs (2004) [15] cho biết, quá trình sinh trưởng của lợn con từ khi mới đẻ đến khi cai sữa gặp phải thời kỳ khủng hoảng lúc sau 3
Trang 2820
tuần tuổi Khối lượng hầu như tăng theo tuần tuổi, nhưng tỷ lệ tăng có sự biến đổi khá rõ rệt Vào 4 tuần tuổi tăng khối lượng giảm xuống vì giai đoạn đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con tăng nhưng do lượng sữa mẹ giảm cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, muốn đảm bảo cho lợn sinh trưởng tốt cần bổ sung thức ăn sớm
2.2.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Bệnh viêm tử cung thường xảy ra ở lợn nái sau khi đẻ, có thể xảy ra ở lợn nái sau khi giao phối Đây là một trong những tổn thương ở đường sinh dục ở lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng và chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh mất khả năng sinh sản (http://www.Irc.ctu.edu.vn) [24]
Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [2], bệnh thường xảy ra vào thời gian
1 - 10 ngày sau khi đẻ
Các nguyên nhân bao gồm: Dụng cụ truyền tinh gây xây xát âm đạo, tử cung, tinh dịch bị mắc khuẩn, dụng cụ thụ tinh không được vô trùng hoặc do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [13]
Khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây xát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền mắc như: Sảy thai truyền mắc, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo
Lợn nái luôn mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh Chỉ khi đẻ cổ tử cung mở, chất dịch tiết đọng lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây bệnh
- Triệu chứng:
Theo Nguyễn Văn Thanh (2002) [18], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: Sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C Con vật kém ăn, sản lượng
Trang 2921
sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy
ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu
đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn, trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
- Hậu quả:
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa Lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản (http://www.pkh-vcn.org) [25]
Lê Thị Tài (2002) [17] cho rằng: Đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [12]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
Trang 3022
- Chẩn đoán:
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: Lợn nái luôn ở tư thế như rặn đái Kiểm tra đường sinh dục lợn nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử cung,
âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mủ màu trắng đục, mùi thối khắm…
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Nếu sức khỏe lợn nái giảm sút, bệnh không được can thiệp sớm, vi trùng có thể vào máu đến tuyến
vú gây viêm toàn bộ tuyến vú hoặc gây mắc trùng máu tạo nên thể điển hình của hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa Để chẩn đoán người ta dựa vào các triệu chứng lâm sàng
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn khó phát hiện có thể chẩn đoán lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiều, đôi khi có những đám mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh thường khó thụ thai (Trekaxova A.V 1983) [20]
Có thể tìm muxin trong dịch nhầy từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch axit axetic 1%, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc bệnh và ngược lại (Lê Văn Năm, 1999) [12]
Trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu và được bôi trơn bằng vazolin hoặc dầu lạc Trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải sạch sẽ và phải được vô trùng
Trang 3123
Can thiệp đẻ khó, thao tác phải nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật
Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9% để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: penicillin 2 - 3 triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 2
- 5g, hoặc clorazol 4 - 6 viên (2 - 3g) vào tử cung để chống viêm
Nên tiêm một mũi oxytocin liều 2 - 4 ml/con sau khi đẻ xong để kích thích tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo Đồng thời tiêm cho lợn nái một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như: Tetramycin Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc
bổ trợ như: vitamin B1, B - complex, vitamin B12, gluconatcanxi để trợ sức, kích thích lợn nái ăn khỏe để có sữa cho con bú
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được tiệt trùng trước và sau khi sử dụng
Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo
Phòng các bệnh truyền mắc cho lợn nái thông qua công tác tiêm phòng vaccine theo định kỳ và thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y
Có thể phòng bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái bằng quy trình phòng bệnh tổng hợp có bổ sung chế phẩm biomin - PHD vào thức ăn
- Điều trị:
Bệnh do vi khuẩn gây ra nên cần phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh, sự mẫn cảm của chúng với kháng sinh và hóa dược trong điều trị nhằm tiêu diệt kịp thời và triệt để vi khuẩn gây bệnh, tránh sự lây lan của chúng Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: Phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh - thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục
bộ và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm, 1999) [12]