1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị

59 558 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 515,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi đã tiến hành đề tài: “Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Lăng Trung Kiên thuộc xã Khánh Long, Tràng Định, Lạng Sơn và sử dụng một số phác đồ điều

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-  -

HỒ THỊ THU

Tên đề tài:

"TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI LỢN LĂNG TRUNG KIÊN THUỘC

XÃ KHÁNH LONG, TRÀNG ĐỊNH, LẠNG SƠN VÀ SỬ DỤNG

MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2009 - 2013

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Minh Thuận

Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2013

Trang 2

là khoảng thời gian mà mỗi sinh viên đều mong đợi Đây là khoảng thời gian

để cho chúng ta có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất

Sau hơn 5 tháng thực tập tốt nghiệp, tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn

bè Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

Cô giáo Th.S Nguyễn Thị Minh Thuận đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo trại

lợn Lăng Trung Kiên, UBND xã Khánh Long, Tràng Định, Lạng Sơn đã tiếp

nhận và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp Xin cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi

để tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013

Sinh viên

Hồ Thị Thu

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên tiếp cận với thực tiễn sản xuất, có điều kiện áp dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất nhằm hệ thống, củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường Từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, rèn luyện cho sinh viên kỹ năng tổ chức, triển khai các hoạt động, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất Tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo

để sau này ra trường trở thành một cán bộ giỏi về chuyên môn, vững về tay nghề, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xây dựng vào sự nghiệp phát triển của đất nước

Với mục tiêu đó được sự quan tâm đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa CNTY, được sự hướng dẫn của cô giáo và sự tiếp nhận của cơ sở, tôi được về thực tập tốt nghiệp tại trại lợn Lăng Trung Kiên thuộc xã Kháng Long, Tràng Định, Lạng Sơn Tôi đã tiến

hành đề tài: “Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Lăng Trung Kiên thuộc xã Khánh Long, Tràng Định, Lạng Sơn và

sử dụng một số phác đồ điều trị’’

Tuy nhiên với thời gian thực tập có hạn, cho nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để em hoàn thành bản khóa luận này

tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013

Sinh viên

Hồ Thị Thu

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Lịch tiêm phòng của Trại lợn Lăng Trung Kiên 10

Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 14

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 37

Bảng 2.2 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại Lăng Trung Kiên 40

Bảng 2.3 Tình hình mắc các bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại Lăng Trung Kiên 42

Bảng 2.4 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo giống 43

Bảng 2.5 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo lứa đẻ 43

Bảng 2.6 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái được nuôi ở các dãy chuồng khác nhau 44

Bảng 2.7 Kết quả điều trị một số bệnh sinh sản bằng 2 phác đồ………46

Bảng 2.8 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị……… 47

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐVT : Đơn vị tính LMLM : Lở mồm long móng

Nxb : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự

TT : Thể trọng TNHH : Trách nhiệm hữu hạn VTM : Vitamin

Gr (-) : Gram âm

Gr (-) : Gram dương

HTNC : Huyết thanh ngựa chửa

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1

1.1 Điều tra cơ bản 1

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1

1.1.1.1 Vị trí địa lý 1

1.1.1.2 Địa hình, đất đai 1

1.1.1.3 Khí hậu thuỷ văn 1

1.1.1.4 Nguồn nước 1

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 2

1.1.2.1 Điều kiện xã hội 2

1.1.2.2 Điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất 2

1.1.2.3 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của trại 3

1.1.3 Tình hình sản xuất của trại 4

1.1.3.1 Về chăn nuôi 4

1.1.3.2 Về trồng trọt 4

1.1.4 Đánh giá chung 4

1.1.4.1 Thuận lợi 5

1.1.4.2 Khó khăn 5

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 5

1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 5

1.2.1.1 Công tác giống 5

1.2.1.2 Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc 5

1.2.1.3 Công tác thú y 5

1.2.1.4 Công tác khác 6

1.2.2 Biện pháp thực hiện 6

1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 6

1.3.1 Công tác giống 6

1.3.2 Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 6

1.3.3 Công tác thú y 8

1.3.3.1 Công tác vệ sinh 9

1.3.3.2 Công tác phòng bệnh 9

Trang 7

1.3.3.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 10

1.3.3.4 Các công tác khác 13

1.4 Kết luận và đề nghị 14

1.4.1 Kết luận 14

1.4.2 Tồn tại 15

1.4.3 Đề nghị 15

Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 16

2.1 Đặt vấn đề 16

2.2 Tổng quan tài liệu 17

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 17

2.2.1.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái 17

2.2.1.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn 21

2.2.1.3 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài 30

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 31

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 34

2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 35

2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35

2.3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35

2.3.3 Nội dung nghiên cứu 35

2.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 36

2.3.4.1 Cơ cấu của đàn lợn nái của trại trong mấy năm gần đây 36

2.3.4.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh sinh sản toàn đàn nái của trại 36

2.3.4.3 Chỉ tiêu theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh sinh sản bằng các phác đồ điều trị sử dụng trong đề tài 36

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.5.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản 36

2.3.5.2 Phương pháp nghiên cứu biểu hiện lâm sàng của bệnh sinh sản trên đàn lợn nái 36

2.3.5.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả điều trị bệnh sinh sản ở đàn lợn nái qua các phác đồ điều trị 37

2.3.6 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu và xử lý số liệu 39

Trang 8

2.3.6.1 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 39

2.3.6.2 Phương pháp xử lý số liệu 39

2.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40

2.4.1 Kết quả điều tra sự biến động về số lượng và cơ cấu đàn lợn nái

của trại 40

2.4.2 Kết quả theo dõi tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại Lăng Trung Kiên 41

2.4.2.1 Tình hình chung về một số bệnh sinh sản ở trại 41

2.4.2.2 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản theo giống lợn 42

2.4.2.3 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo lứa đẻ 43

2.4.2.4 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo dãy chuồng 44

2.4.3 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị 45

2.4.3.1 Kết quả thử nghiệm hiệu lực của 2 phác đồ điều trị 46

2.4.3.2 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị 47

2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 48

2.5.1 Kết luận 48

2.5.2 Tồn tại 48

2.5.3 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 51

II TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI 53

Trang 9

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1 Điều tra cơ bản

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại lợn Lăng Trung Kiên nằm trên địa bàn xã Khánh Long, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, cách thị trấn Thất Khê khoảng 20km về phía Đông Bắc Trại cách xa khu vực dân cư khoảng 2km, nằm cuối xã Khánh Long Với vị trí địa lý như trên, trại có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, kinh doanh, thuận tiện trong việc vận chuyển thức ăn, xuất bán sản phẩm

1.1.1.3 Khí hậu thuỷ văn

Trại lợn Lăng Trung Kiên nằm trong tiểu vùng khí hậu Đông Bắc Bộ Chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,4 - 24,60C Thời tiết mát mẻ nhiệt độ thấp nhất trong năm là 3 - 100C, cao nhất 34 - 380C Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1.431 giờ, tháng có số giờ nắng nhiều nhất là tháng 7 (217 giờ) tháng 2 có số giờ nắng ít nhất (49 giờ) Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.400 – 1.700mm, tháng 6 có lượng mưa cao nhất có thể đạt được 200 mm thường xảy ra, lũ quét Độ ẩm trung bình năm là 70 - 80%

1.1.1.4 Nguồn nước

Nước dùng trong chăn nuôi được lấy từ giếng khoan được kiểm tra thường xuyên, đảm bảo vệ sinh, nước dùng cho cây trồng được lấy từ ao cá và tận dụng nguồn nước tự nhiên

Trang 10

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.2.1 Điều kiện xã hội

Trại lợn Lăng Trung Kiên nằm trên địa bàn xã Khánh Long Dân cư quanh khu vực này chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, một số ít kinh doanh buôn bán và công nhân viên chức nhà nước Tuy trình độ dân trí ở đây không cao, nhưng người dân sống đoàn kết, tình hình an ninh trật tự ổn định, ít tệ nạn xã hội Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trại

1.1.2.2 Điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất

Kinh tế của trại là sự tổng hợp kết quả của chăn nuôi, trồng trọt và thuỷ sản, trong đó chăn nuôi là lĩnh vực sản xuất chính của trại

- Về chăn nuôi

Chăn nuôi là nhiệm vụ quan trọng, đóng vai trò quyết định vào sự phát triển của trại Vì vậy, chăn nuôi ngày càng được mở rộng về quy mô và đầu tư khá cao về trang thiết bị kỹ thuật

Khu sản xuất của trại được đặt trên khu đất khá cao, dễ thoát nước, được tách biệt với khu hành chính và nhà ở Xung quanh khu sản xuất có hàng rào bao bọc và có cổng ra vào riêng

Chuồng được xây dựng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông

Trại đang có kế hoạch mở rộng quy mô, xây dựng nâng cấp hệ thống chuồng trại để sản xuất ngày càng phát triển

Chuồng nuôi lợn được chia làm 2 khu vực: Khu nuôi lợn nái và khu nuôi lợn hậu bị

Hệ thống chuồng trại ở đây khá hoàn chỉnh, phù hợp với từng loại lợn Khu nuôi lợn nái gồm:

+ Chuồng dành cho lợn nái nuôi con hay còn gọi là chuồng đẻ gồm 4 dãy, mỗi dãy có 18 ô với kích thước 2,4m x 1,6m/ô Chuồng khá hiện đại, sử dụng sàn nhựa cao cấp với hệ thống nước tự động

+ Chuồng dành cho lợn nái hậu bị, nái chờ phối và nái chửa hay còn gọi

là chuồng mang thai có 214 ô với kích thước 2,4m x 0,65m/ô Khu chuồng sàn này sử dụng nền sàn bê tông

Khu nuôi lợn hậu bị gồm 3 dãy chuồng, mỗi chuồng 10 ô, mỗi ô nuôi 8 con

Trang 11

Ngoài ra, ở cả hai khu vực chuồng còn có một hệ thống chuồng cách ly nằm cuối hướng gió chính và cách xa khu chăn nuôi chính, được dùng để cách ly lợn ốm, lợn mới nhập về trại đảm bảo an toàn dịch bệnh cho trại

Trại có hệ thống cấp, thoát nước được bố trí hợp lý theo từng dãy chuồng thuận tiện cho việc sản xuất cũng như công tác vệ sinh, thoát nước thải

Ở mỗi khu sản xuất của trại có 1 phòng sát trùng là nơi để cán bộ kỹ thuật và công nhân của trại sát trùng mỗi khi lên chuồng đi làm

Trong khu sản xuất, mỗi khu trại có phòng kỹ thuật với đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho công tác chăn nuôi, thú y; kho chứa thức ăn; kho chứa thuốc thú y và các dụng cụ như: Xi lanh, panh, dao mổ, kìm bấm số tai, kéo, bình phun thuốc sát trùng, máy mài nanh …

Nhà kho được xây dựng ở đầu mỗi dãy chuồng, là nơi để thức ăn, thuốc thú y

Để phục vụ cho sản xuất, trại đã xây dựng 2 giếng khoan, trang bị 7 téc chứa nước, 9 máy bơm và các công trình phục vụ cho sinh hoạt của công nhân viên

Khu hành chính của trại gồm: Phòng làm việc của Ban lãnh đạo, phòng làm việc của cán bộ hành chính, phòng bảo vệ và hội trường lớn là nơi họp, học tập của cán bộ công nhân viên

- Về trồng trọt

Trại có khu vườn cây ăn quả phát triển tốt, đang ở độ tuổi cho thu hoạch, có chất lượng khá tốt cho thu nhập tương đối cao góp phần vào sự phát triển kinh tế của trại Ngoài ra, trại còn trồng thêm cây mỡ xung quanh khu vực chuồng nuôi nhằm tạo bóng mát, cải thiện bầu không khí

- Về thuỷ sản

Với diện tích ao trung bình (10.122m2), trại đã tổ chức phát triển nuôi trồng thủy sản như các loại cá trê lai, cá chép , tạo nên nguồn thu nhập tương đối khá, đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế của trại

1.1.2.3 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của trại

* Cơ cấu tổ chức của trại

Do trại là trại của tư nhân nên còn thiếu cán bộ kỹ thuật có tay nghề cao Phần lớn là nhân viên có trình độ trung cấp hoặc cao đẳng nên trại còn gặp nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật

Trang 12

Toàn trại có 19 người, trong đó:

- Lao động gián tiếp: 5 người: gồm 1 chủ trại, 1 quản lý, 1 kế toán, 1 thủ kho và 1 bảo vệ

- Lao động trực tiếp: 14 người, gồm 1 kỹ sư và 13 công nhân

* Chức năng, nhiệm vụ của trại

Là cơ sở sản xuất lợn giống cung cấp cho các trại nuôi lợn thịt và lợn thịt của công ty

Sản phẩm chăn nuôi của trại là: Lợn con và lợn thịt

Ngoài việc cung cấp sản phẩm chăn nuôi, trại còn có nhiệm vụ chuyển giao khoa học kỹ thuật tới người chăn nuôi, hướng dẫn người chăn nuôi về các khâu kỹ thuật: Nuôi dưỡng, chăm sóc và vệ sinh thú y

1.1.3 Tình hình sản xuất của trại

1.1.3.1 Về chăn nuôi

Chăn nuôi của trại trong thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực + Về cơ sở vật chất: Hệ thống chuồng trại được dần hiện đại hóa Hệ thống điện, nước, xử lý nước thải dần được nâng cấp

+ Tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng nhanh vào sản xuất Trại thường xuyên mở các lớp tập huấn để phổ biến về kỹ thuật chăn nuôi nhằm nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong trại

Ngoài lĩnh vực sản xuất chính là chăn nuôi lợn, trại còn sử dụng diện tích ao hồ để chăn nuôi cá thịt, vịt đẻ để tận dụng thức ăn dư thừa và nguồn chất thải từ chăn nuôi lợn, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, đồng thời giảm ô nhiễm do chăn nuôi gây ra

Trang 13

1.1.4.1 Thuận lợi

Trại nhận được sự quan tâm của Trạm thú y huyện Tràng Định, Uỷ ban nhân dân xã Khánh Long và toàn thể nhân dân trong xã Lãnh đạo trại có năng lực, nhiệt tình, năng động trong công việc Đội ngũ cán bộ kỹ thuật rất chuyên tâm với công việc, không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ Công nhân có kinh nghiệm, yêu nghề và nhiệt tình với công việc

Toàn thể cán bộ công nhân viên trong trại là một tập thể đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm cao

Nguồn con giống, thức ăn và thuốc thú y được kiểm tra trước khi nhập nên đảm bảo chất lượng

1.1.4.2 Khó khăn

Trại nằm trên địa hình cao và có nhiều đồi núi nên việc vận chuyển còn gặp nhiều khó khăn, thời tiết những năm gần đây thay đổi thất thường nên tình hình dịch bệnh rất phức tạp, chi phí phòng và trị bệnh cao, gây nhiều trở ngại cho sản xuất

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất

1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất

Căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, trên cơ sở phân tích những khó khăn, thuận lợi của trại, chúng tôi đã đề ra kế hoạch công tác phục vụ sản xuất như sau:

1.2.1.1 Công tác giống

- Tham gia chọn lọc lợn giống để giữ lại sản xuất

- Tiến hành lập hồ sơ theo dõi từng cá thể, ghi chép các biểu hiện sinh

lý sinh dục, tiến hành phối giống phù hợp

1.2.1.2 Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc

- Tham gia công tác vệ sinh chuồng trại

- Tham gia nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn tại trại

1.2.1.3 Công tác thú y

- Tham gia tiêm phòng vaccine cho đàn lợn theo quy trình của trại

- Phun thuốc sát trùng chuồng trại, rắc vôi bột, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi theo quy trình vệ sinh thú y

- Chẩn đoán và điều trị một số bệnh ở đàn lợn trong thời gian thực tập

Trang 14

1.2.1.4 Công tác khác

- Tham gia công tác thụ tinh nhân tạo

- Tham gia công tác đỡ đẻ, mài nanh, thiến lợn đực, bấm số tai, tiêm sắt cho đàn lợn con

- Kết hợp giữa phục vụ sản xuất và chuyên đề nghiên cứu khoa học nhằm không ngừng nâng cao tay nghề và củng cố kiến thức cho bản thân

và đàn lợn con đẻ ra, tiến hành loại thải những cá thể không đủ tiêu chuẩn

1.3.2 Công tác nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn

Việc nuôi dưỡng, chăm sóc giữ vai trò rất quan trọng quyết định sức khỏe, sinh trưởng và khả năng sản xuất của đàn lợn

Trang 15

Chúng tôi đã tham gia công tác nuôi dưỡng chăm sóc các loại lợn đang được nuôi tại trại

- Nuôi dưỡng lợn nái hậu bị

Sau khi nhận lợn hậu bị từ trại giống của công ty, chúng tôi thực hiện nghiêm túc quy trình chăn nuôi, đảm bảo lợn hậu bị sinh trưởng theo đúng yêu cầu, có thể trạng tốt, không quá béo hoặc quá gầy Khi lợn đến tuổi phối giống, chúng tôi tiến hành phối giống cho lợn hậu bị vào lần động dục thứ hai Trước khi phối giống 10 ngày, cho lợn ăn theo khẩu phần tăng lên, sau khi phối giống, cho ăn theo chế độ lợn nái chửa

- Nuôi dưỡng lợn nái chửa

Để lợn con sinh ra có khối lượng sơ sinh cao, khoẻ mạnh, việc nuôi dưỡng, chăm sóc lợn mẹ ở giai đoạn mang thai có vai trò hết sức quan trọng Lợn nái mang thai được chia làm hai giai đoạn

+ Nái chửa kỳ I: (từ ngày thứ 1 - ngày thứ 84): Đây là giai đoạn trứng được thụ tinh, phôi làm tổ ở tử cung, bào thai phát triển chậm nên thức ăn cung cấp cho lợn giai đoạn này cần thoả mãn nhu cầu duy trì cơ thể và một phần nhỏ nuôi bào thai Đảm bảo có 13% protein thô và 2.800 kcal năng lượng trao đổi/kg

+ Nái chửa kỳ II (từ ngày thứ 85 đến khi đẻ): Đây là giai đoạn cuối của quá trình mang thai, thai phát triển nhanh, khối lượng sơ sinh của lợn con được quyết định trong giai đoạn này Do vậy, thức ăn cung cấp cần phải thoả mãn nhu cầu duy trì cơ thể, đồng thời đảm bảo cho bào thai phát triển nhanh

Thức ăn cho lợn ở giai đoạn này có tỷ lệ protein là 15% và NLTĐ là 3.000 kcal/kg

- Nuôi dưỡng lợn nái nuôi con

+ Chế độ ăn của nái đẻ là:

Ngày đẻ không cho ăn, cho uống nước tự do, bổ xung điện giải

Ngày thứ nhất sau đẻ cho ăn 1kg / con

Ngày thứ 2 sau đẻ cho ăn 2kg / con

Ngày thứ 3 sau đẻ cho ăn 3kg / con

Ngày thứ 4 sau đẻ cho ăn 4kg /con

Trang 16

Từ ngày thứ 7 trở đi cho đến khi cai sữa có thể dùng công thức sau để tính lượng thức ăn cho một nái trong một ngày

Thức ăn / nái / ngày = 2kg + (0,3 x số con theo mẹ)

Tùy theo thể trạng của lợn nái mà ta có sự điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, với những lợn nái gầy ta có thể tăng thêm lượng thức ăn và ngược lại

Một ngày trước khi cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

Ngoài ra trong chuồng nái đẻ cần có ô úm và tập cho lợn con ăn sớm Trực đẻ khi lợn gần đẻ cần chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ như kéo, chỉ buộc rốn, kìm bấm nanh, bột Mistral, đèn sưởi, ô úm, khăn lau sạch và mềm, thuốc thú y, thuốc sát trùng

Đỡ đẻ: Khi lợn con đẻ ra được lau khô bằng khăn sạch theo trình tự mũi - miệng - mình - bốn chân,sau đó thoa bột Mistral, rồi thắt và cắt rốn (cắt cách cuống rốn khoảng 3cm), sau đó cho lợn con vào ô úm Khi lợn nái đẻ được khoảng 5 - 6 con thì cho lợn con bú Khi nái đã đẻ xong ta cố định đầu

vú cho lợn con bú, những con nhỏ cho bú những vú đầu vì những vú ngực của nái thường tiết sữa rất tốt Làm được như vậy sẽ tránh được sự phát triển tụt hậu đối với những lợn con có khối lượng sơ sinh thấp và không bị loại thải hoặc còi cọc

- Nuôi dưỡng lợn con

Chăm sóc và nuôi dưỡng lợn con theo mẹ là khâu quan trọng vì nó quyết định đến sinh trưởng của lợn con

Tập ăn sớm cho lợn con: Cho lợn con tập ăn khi được 4 - 5 ngày tuổi Thức ăn cho lợn con phải giàu đạm và năng lượng

Chuồng trại được vệ sinh thường xuyên sạch sẽ, chuồng nuôi luôn khô ráo thoáng mát nhưng tránh gió lùa đảm bảo giữ ấm cho lợn con

1.3.3 Công tác thú y

Trong chăn nuôi, công tác thú y đóng vai trò hết sức quan trọng Đặc biệt phải lấy việc phòng bệnh là chủ yếu, nhằm tránh những tổn thất về kinh tế

Trang 17

Thường xuyên ngâm, cọ, rửa sàn nhựa của lợn nái đẻ và lợn con

Sau mỗi lần xuất lợn, để trống chuồng trại và tiến hành rửa sàn, quét vôi, khơi thông cống rãnh thoát nước nhằm tiêu diệt mầm bệnh

1.3.3.2 Công tác phòng bệnh

Trại lợn Lăng Trung Kiên là một cơ sở chăn nuôi có quy mô nhỏ, tuy vậy công tác phòng bệnh cũng hết sức quan trọng Việc phòng bệnh được thực hiện thường xuyên và nghiêm ngặt Trại luôn xác định phương châm

‘‘phòng bệnh hơn chữa bệnh”qua đó ta thấy được tiêm phòng là biện pháp tích cực và bắt buộc trong quy trình chăn nuôi của trại

Trong quá trình thực tập tại cơ sở tôi đã tham gia công tác tiêm phòng cho đàn lợn con và lợn nái Đối với lợn con tôi đã tiêm phòng các bệnh như lở mồm long móng, dịch tả, suyễn…

Việc phòng bệnh được thực hiện một cách thường xuyên và nghiêm ngặt Tiêm phòng là biện pháp tích cực và bắt buộc trong quy trình chăn nuôi

của trại Lịch tiêm phòng và sử dụng vaccine được quán triệt chỉ đạo và giám

sát chặt chẽ Trong thời gian thực tập tại trại, tôi đã tham gia công tác tiêm phòng cho đàn lợn theo lịch được áp dụng được trình bày qua bảng 1.2

Trang 18

Bảng 1.1 Lịch tiêm phòng của Trại lợn Lăng Trung Kiên

Vì vậy, hàng ngày chúng tôi đã cùng các cán bộ kỹ thuật của trại tiến hành theo dõi lợn ở tất cả các ô chuồng nhằm phát hiện lợn ốm Khi mới mắc bệnh lợn thường không có biểu hiện triệu chứng điển hình Triệu chứng của lợn ốm thường thấy: ủ rũ, bỏ ăn, mệt mỏi, kém linh hoạt, thân nhiệt tăng

Vì vậy, để chẩn đoán đúng bệnh thì ngoài triệu chứng lâm sàng qua quan sát, còn phải dựa vào kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật Đối với lợn chết cấp tính chưa có triệu chứng bên ngoài thì chúng tôi tiến hành mổ khám quan sát bệnh tích bên trong

- Công tác điều trị bệnh

Trong thời gian thực tập tại trại, tôi đã tiến hành điều trị một số bệnh gặp ở đàn lợn Cụ thể như sau:

+ Bệnh tiêu chảy lợn con

Nguyên nhân: Có thể là do thay đổi thức ăn đột ngột, môi trường sống

thay đổi, chất lượng thức ăn kém

Triệu chứng: Khi mới mắc bệnh lợn con ỉa chảy phân có màu vàng hay

vàng nhạt Lợn con bỏ ăn mệt mỏi, ủ rũ, cơ thể gầy yếu, phân dính bết quanh hậu môn cạnh đuôi, ỉa vọt cần câu, xù lông Lợn bệnh thường mất nước nên

cơ thể gầy yếu, nhiệt độ cơ thể không tăng Bệnh xảy ra ở lợn con sau cai sữa

Trang 19

Điều trị: Chúng tôi sử dụng phác đồ sau:

Triệu chứng: Lợn mẹ ỉa chảy bỏ ăn, cơ thể gầy yếu, phân dính bết

quanh hậu môn cạnh đuôi

Điều trị: Chúng tôi sử dụng phác đồ sau:

Nguyên nhân: Bệnh do trực khuẩn E.coli, Gr (-) gây nên, thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae gây ra

Triệu chứng: Bệnh xảy ra ở thể quá cấp, cấp tính, mãn tính Lợn bị

bệnh thường kém ăn, mắt, miệng, hậu môn nhợt nhạt, lợn ỉa chảy phân lỏng màu trắng có mùi hôi tanh khó chịu, sau chuyển sang hơi vàng, phân bết sau hậu môn, lợn đi lại không vững, gầy sút nhanh Lợn bị bệnh nếu không chữa kịp thời sau 3 - 5 ngày sẽ chết

Điều trị: Chúng tôi điều trị như sau:

Hộ lý: Vệ sinh chuồng trại, thu dọn sạch sẽ phân, giữ sạch nền sàn, chuồng phải luôn khô ráo, sưởi ấm cho lợn bằng đèn hồng ngoại

Dùng thuốc: Cho lợn con uống COLISTIN, liên tục 2 - 3 ngày

Hoặc dùng phác đồ sau:

AMPISUR: 0,5ml/con

ADE-BCOMPLEX: 1ml/con Điều trị liên tục 2 - 3 ngày

Trang 20

+ Bệnh viêm tử cung

Nguyên nhân: Trong quá trình chửa, lợn nái ăn uống thiếu dinh dưỡng,

vận động ít, hoặc bị nhiễm một số bệnh làm cho cơ thể lợn nái yếu dần, dẫn đến việc đẻ khó, sảy thai hay thai chết lưu

Lợn mẹ đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản làm xây xát tổn thương tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm

Lợn nái không được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi đẻ

Do quá trình thụ tinh nhân tạo làm xây xát tử cung

Triệu chứng: Âm hộ sưng đỏ, thân nhiệt tăng cao trên 40oC, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, đi tiểu khó, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên Từ

cơ quan sinh dục chảy ra chất dịch màu trắng đục, mùi hôi tanh, dịch dính bết

ra xung quanh mông, gốc đuôi

Nguyên nhân: Bệnh do cầu khuẩn Steptococcus gây viêm khớp cấp và

mãn tính ở lợn các lứa tuổi Tuy nhiên bệnh thường xảy ra ở lợn con 1 - 6 tuần tuổi, bệnh được phân loại như một phần của hội chứng “yếu khớp”kết hợp với viêm rốn

Thông thường ở lợn khoẻ, vi khuẩn Streptococcus cư trú ở hạch

Amidal Khi thời tiết lạnh làm cho sức đề kháng của bệnh giảm thì bệnh dễ phát sinh Tỷ lệ lợn mắc bệnh thấp thường nhỏ hơn 5%

Trang 21

Triệu chứng: Lợn thường bị viêm khớp gối, khớp bàn và khớp ngón,

lúc đầu con vật thường đi khập khiễng, sau nặng dần và bị què, ngại vận động, đứng dậy khó khăn Tại chỗ viêm thấy sưng đỏ, sờ vào con vật có biểu hiện đau

Điều trị:

Tiêm VETRIMOXIN.L.A: 1ml/10kg TT

ADE-BCOMPLEX: 1ml/10kg TT

+ Bệnh ghẻ

Đây là bệnh kí sinh trùng dưới da của lợn

Nguyên nhân: Do cái ghẻ Sarcoptes scabiei gây nên thường đào hang ở

biểu bì lợn Chúng đục khoét lớp biểu bì da, gây rụng lông, lở loét, ngứa ngáy Lợn mắc bệnh ở mọi lứa tuổi

Triệu chứng: Trên da xuất hiện những mụn ghẻ màu đỏ sau đó tróc ra

thành các vảy màu nâu hay xám, lợn kém ăn, gầy còm, rụng lông, lở loét

Điều trị: Dùng HANMECTIN-25: 1ml/10kg TT Kết hợp tắm chải cho

lợn, chuồng trại sạch sẽ

+ Bệnh viêm vú

Triệu chứng: Lợn sốt cao, bỏ ăn, vú sưng đỏ, khi sờ nắn bầu vú thấy

cứng

Điều trị: Chúng tôi tiến hành điều trị cả cục bộ và toàn thân

Cục bộ: Dùng đá lạnh chườm bầu vú viêm 1 - 2 lần/ngày, vắt sữa ở bầu

Trang 22

- Tiêm sắt cho lợn con

- Thiến lợn đực

- Bấm số tai

- Thụ tinh nhân tạo

Trong thời gian thực tập tại trại lợn Lăng Trung Kiên, bằng những kiến thức đã học ở nhà trường, cùng với sự giúp đỡ của cán bộ kỹ thuật tại trại, chúng tôi đã tham gia công tác phục vụ sản xuất và đã tiến hành chẩn đoán, điều trị một số bệnh gặp trên đàn lợn và thu được những kết quả nhất định

Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

(con)

Kết quả (con)

Tỷ lệ (%)

Vaccine dịch tả lợn 70 70 100,00

Vaccine tai xanh lợn 95 95 100,00

Vaccine giả dại lợn 142 142 100,00

Trang 23

- Trại lợn Lăng Trung Kiên có cơ sở vật chất tương đối hiện đại và sản xuất ngày càng phát triển

- Con giống do trại sản xuất luôn đảm bảo chất lượng, phục vụ cho việc phát triển chăn nuôi trong khu vực

Trong thời gian thực tập tại trại lợn Lăng Trung Kiên, được sự giúp đỡ của ban lãnh đạo trại cũng như cán bộ, công nhân của trại, sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn và sự cố gắng của bản thân, tôi đã mạnh dạn áp dụng các kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và thu được một số kết quả nhất định Mặc

dù kết quả đó còn ít ỏi, song đã giúp chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, nâng cao tay nghề và tiếp cận với thực tiễn sản xuất

Qua đó chúng tôi cảm thấy mạnh dạn, tự tin hơn vào khả năng của mình, phấn đấu hoàn thành tốt công việc được giao Cũng từ đó, chúng tôi cảm thấy yêu ngành, yêu nghề hơn, tích cực học hỏi kinh nghiệm của thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đi trước để củng cố kiến thức, nâng cao tay nghề Chúng tôi cho rằng: Việc thực tập tại các cơ sở sản xuất thực sự cần thiết đối với bản thân tôi cũng như tất cả các sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường

1.4.2 Tồn tại

Trong công tác phục vụ sản xuất, kết quả đạt được còn hạn chế do chưa

có kinh nghiệm về nghề nghiệp, chưa thật mạnh dạn trong việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tế, do vậy bản thân cần nỗ lực hơn nữa

1.4.3 Đề nghị

Qua quá trình thực tập tại trại lợn Lăng Trung Kiên tôi có một số đề nghị sau:

- Trại cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền đưa tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời đẩy mạnh công tác chuyển giao công nghệ đến tận người chăn nuôi

- Có kế hoạch đào tạo và nâng cao tay nghề cho công nhân viên trong trại

- Đẩy mạnh hơn nữa công tác vệ sinh thú y trong khu vực chăn nuôi Đặc biệt, cần kiểm soát chặt chẽ việc sát trùng của công nhân mỗi khi ra vào trại và khu vực chuồng nuôi

Trang 24

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài: “Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Lăng Trung Kiên thuộc xã Khánh Long, Tràng Định, Lạng Sơn và

sử dụng một số phác đồ điều trị"

2.1 Đặt vấn đề

Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới kinh tế Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc và đạt được những thành tựu to lớn đưa đất nước ngày càng phát triển, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Vì vậy mà nhu cầu về thực phẩm được người dân quan tâm từ số lượng đến chất lượng

Những năm gần đây, do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ngành chăn nuôi gia súc nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng ngày càng phát triển Đàn lợn nước ta đã và đang ngày càng tăng nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, không những cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho tiêu dùng trong nước và ngoài nước Chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt

Bên cạnh những tiến bộ mới về cải tạo giống, nâng cao chất lượng thức

ăn, việc mở rộng quy mô sản xuất tập trung với cường độ ngày càng cao thì đồng thời cũng làm tăng nguy cơ bệnh tật, ảnh hưởng đến tăng trọng và có thể tăng tỷ lệ chết trong chăn nuôi lợn, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng sức khoẻ của người tiêu dùng

Trong chăn nuôi lợn, đàn lợn nái có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc làm tăng số lượng cũng như nâng cao chất lượng đàn lợn Tuy nhiên, lợn nái thường hay mắc một số bệnh về đường sinh sản làm giảm năng suất sinh sản và chất lượng đàn con Đây là loại biến chứng rất hay xảy ra và để lại hậu quả lâu dài, trường hợp nặng có thể gây mất khả năng sinh sản

Để góp phần giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải quyết phù hợp trong vấn đề phòng và trị một số bệnh sinh sản cho đàn lợn nái một cách có

hiệu quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Lăng Trung Kiên thuộc xã Khánh Long, Tràng Định, Lạng Sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị”

Trang 25

- Mục tiêu của đề tài

- Xác định tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái đã sinh sản và

- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học

- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho lợn từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái

* Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái

Cơ quan sinh dục của lợn nái bao gồm:

- Buồng trứng

Buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện cả hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai hoặc vào lúc con vật mới sinh ra Hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…

Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng

Trang 26

Miền vỏ bao gồm ba phần: Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào

hình hạt Tế bào trứng non (Fullicullooophoriprimari) hay còn gọi là trứng

nguyên thủy nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn nang chín, các tế bào

nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào có hình hạt (Strarum glannulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo

thành xoang chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên trên tạo thành một

lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dầy lên để chứa trứng (Ovum)

- Ống dẫn trứng

Ông dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, được chia thành bốn đoạn: Tua diềm, phễu, phần rộng và eo

- Tử cung (dạ con)

Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung

Ở lợn, tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có

độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống chúng tiết ra dịch và đổ vào bề mặt nội mạc tử cung

Cổ tử cung là tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự

có mặt của một ít cơ trơn

- Âm đạo

Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ Âm đạo lợn dài 10-12cm

Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14

Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối

Dịch âm đạo gồm chủ yếu là chất thấm qua thành âm đạo, hỗn hợp với các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi, lẫn với dịch nhầy của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và các tế bào bong ra từ biểu mô âm đạo

Trang 27

- Bộ phận sinh dục ngoài

Bộ phận sinh dục bên ngoài bao gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình

+ Âm môn: hay còn gọi là âm hộ (Vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (Labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (Rima vulae) Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có

nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)

+ Âm vật (Clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,

giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng

có các thể hổng như con đực

+ Tiền đình (Vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo

Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [7]

* Sinh lý sinh sản của lợn

- Sinh lý sinh dục của lợn nái

Sinh lý sinh dục của lợn nái được biểu hiện ở các chỉ tiêu: Tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại…

+ Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục Các giống lợn khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn nái lai F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 - 7 tháng) khi đạt 65 - 80 kg

Trần Văn Phùng và cs (2004) [18] cho biết: Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [29]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 - 70kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55 kg

Trang 28

Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn nái hậu bị được sinh vào mùa thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]

Theo Lê Xuân Thọ và cs (1979) [27], đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm HTNC có thể gây động dục

+ Tuổi phối giống lần đầu

Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5] cho rằng: Không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh

Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống

Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 - 50kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg, nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi

Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn

mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn (Nguyễn Khánh Quắc và cs, 1995) [20]

+ Tuổi đẻ lứa đầu: Theo Lê Hồng Mận cs (2004) [14], Lợn Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi

+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ

Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại) (Nguyễn Thiện và cs, 1993) [25]

Lê Hồng Mận và cs (2004) [14] cho biết: Thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày, lợn mẹ động dục trở lại

+ Đặc điểm động dục của lợn nái: Ở lợn nái, thời gian động dục chia làm 3 giai đoạn: Trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực

Trước chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác nhảy lên lưng Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40 giờ ở lợn ngoại và lợn lai, 25 - 30 giờ ở lợn nội

Chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm hộ giảm sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho

Trang 29

đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30 giờ ở lợn nội Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai

Sau chịu đực: Lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng

+ Thời điểm phối giống thích hợp: Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [17], thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

+ Mang thai: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 -

115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:

Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ

- Năng suất sinh sản của lợn

Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/năm Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: Số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ

lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm…

2.2.1.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn

Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [19], bệnh sản khoa xuất hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Tỷ lệ mắc còn phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường Khi con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sâu trong đường sinh dục mở, máu, sản dịch ra nhiều điều đó tạo nhiều khả năng cho vi khuẩn xâm nhập Kỹ thuật đỡ đẻ cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng mắc bệnh

Bệnh mắc ở lợn nái có nhiều nguyên nhân khác nhau

- Từ bản thân

+ Lợn là loài động vật đa thai, năng suất sinh sản ngày càng cao, cơ quan sinh dục hoạt động nhiều, thời gian đẻ kéo dài

Ngày đăng: 27/04/2016, 22:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Lịch tiêm phòng của Trại lợn Lăng Trung Kiên - Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị
Bảng 1.1. Lịch tiêm phòng của Trại lợn Lăng Trung Kiên (Trang 18)
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 22)
Bảng 2.2. Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại Lăng Trung Kiên  STT  Loại nái  ĐVT - Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị
Bảng 2.2. Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại Lăng Trung Kiên STT Loại nái ĐVT (Trang 48)
Bảng 2.3. Tình hình mắc các bệnh viêm tử cung và viêm vú ở đàn lợn nái - Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị
Bảng 2.3. Tình hình mắc các bệnh viêm tử cung và viêm vú ở đàn lợn nái (Trang 49)
Bảng 2.4. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái theo - Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị
Bảng 2.4. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái theo (Trang 50)
Bảng 2.5. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái theo lứa - Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị
Bảng 2.5. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái theo lứa (Trang 51)
Bảng 2.6. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái được - Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị
Bảng 2.6. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái được (Trang 52)
Bảng 2.8. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị - Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn lăng trung kiên thuộc xã khánh long, tràng định, lạng sơn và sử dụng một số phác đồ điều trị
Bảng 2.8. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị (Trang 54)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm