Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ, trong đó ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng và đem lại nhiều lợi ích cho con người, không những
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TỈNH HOÀ BÌNH VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 - 2016
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TỈNH HOÀ BÌNH VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 - 2016
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Quang Tính
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Quang Tính đã tận
tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y, đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Dược lý và Vệ sinh an toàn thực phẩm đã giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn ông Đặng Đình Dũng cùng toàn thể anh em
kỹ thuật, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực tập
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của tôi ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2016
Sinh viên
Hoàng Xuân Khôi
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây 5
Bảng 4.1: Lịch sát trùng trại lợn nái 31
Bảng 4.2: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 32
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33
Bảng 4.4: Tình hình mắc bệnh sinh sản của đàn lợn nái 34
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của yếu tố giống lợn đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản 35
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản 36
của lợn nái 36
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ chuồng nuôi trong 6 tháng theo dõi đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái 39
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của các yếu tố tháng nuôi đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản trên lợn nái 41
Bảng 4.9: Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái mắc một số bệnh sinh sản 43
Bảng 4.10: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 44
Bảng 4.11: Kết quả điều trị bệnh viêm vú 45
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 4
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất 4
2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây 4
2.2 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 5
2.2.1 Cơ sở khoa học 5
2.2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái 5
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 9
2.2.1.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn 12
Trang 72.2.2 Chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái 15
2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 19
2.4 Một số thuốc phòng và trị bệnh sinh sản của lợn nái 21
2.4.1 Oxytetracyclin 21
2.4.2 Vetrimoxin LA 21
2.4.3 Dipafenac 22
2.4.4 Oxytocin 23
PHẦN 3 24
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.1 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 25
3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 25
3.4.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
PHẦN 4 28
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 28
4.1.1 Công tác chăn nuôi 28
4.1.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 28
4.1.1.2 Phát hiện lợn nái động dục 29
4.1.1.3 Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 30
4.1.2 Công tác thú y 30
4.1.2.1 Công tác vệ sinh 30
Trang 84.1.2.2 Công tác phòng bệnh bằng vaccine 31
4.1.3 Công tác khác 33
4.2 Tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái 34
4.3 Ảnh hưởng của yếu tố giống lợn đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của đàn lợn nái 35
4.4 Ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái 36
4.5 Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ chuồng nuôi đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái 39
4.6 Ảnh hưởng của yếu tố tháng nuôi đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái 40
4.7 Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng chính của lợn nái mắc một số bệnh sinh sản 42
4.8 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 44
4.9 Kết quả điều trị bệnh viêm vú 45
PHẦN 5 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
I Tài liệu tiếng Việt 48
II Tai liệu dịch 49
III Tài liệu Internet 49
PHỤ LỤC 1
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh
mẽ, trong đó ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng và đem lại nhiều lợi ích cho con người, không những cung cấp thực phẩm hàng ngày,
có tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, mà còn là nguồn cung cấp sản phẩm phụ như da, mỡ cho các ngành công nghiệp chế biến, đồng thời với thực tế nước ta là nước nông nghiệp thì chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt
Xã hội ngày nay càng phát triển thì đòi hỏi đời sống người dân ngày càng cao Đặc biệt là nhu cầu về nguồn thực phẩm có chất lượng cao, an toàn cho sức khỏe hợp với giá cả thị trường Trên thực tế thịt lợn là mặt hàng có giá cả ổn định tương đối cao và được tiêu thụ trên toàn thế giới Điều này chứng tỏ tính ưu Việt cho ngành chăn nuôi lợn trong phát triển kinh tế và ổn định thị trường Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tư phát triển đàn lợn để tăng cả chất lượng và số lượng nhằm cung cấp cho thị trường khối lượng sản phẩm lớn chất lượng cao Tuy nhiên việc phát triển đàn lợn gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không phù hợp, thiếu cán bộ hay người có chuyên môn điều trị không kịp thời Làm gia tăng dịch bệnh, thiệt hại lớn đến người chăn nuôi đặc biệt là những thiệt hại do bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng trong đó gây ảnh hưởng lớn nhất là các bệnh sản khoa Các bệnh này sảy ra phổ biến ở tất cả các lứa đẻ làm giảm khả năng sinh sản tỷ lệ thụ thai, chết thai, lưu thai, nếu nặng hơn còn có thể làm mất khả năng sinh sản của lợn Do đó ảnh hưởng tới việc phát triển cơ cấu đàn lợn, giảm sự phát triển ngành chăn nuôi lợn nói chung và gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi
Trang 10Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải quyết phù hợp trong vấn đề phòng và trị một số bệnh sinh sản cho đàn lợn nái một cách có hiệu quả, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình và biện pháp điều trị”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và xác định được tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn
lợn nái và điều trị bệnh hiệu quả
- Theo dõi tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại Đặng Đình Dũng,
huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
1.3 Mục tiêu của đề tài
- Nắm được tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình và các yếu tố ảnh hưởng
- Chẩn đoán, phòng và đưa ra một số phác đồ điều trị bệnh sinh sản
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp một phần vào nguồn tư liệu
về một số bệnh sinh sản trong chăn nuôi lợn nái
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh khi sử dụng các phác đồ từ đó đưa
ra những liệu trình điều trị hiệu quả, kinh tế để áp dụng rộng rãi trong thực
tiễn chăn nuôi
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng nằm độc lập trên một quả đồi, nằm xa các khu dân cư, thuộc huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Đây
là một trong những trang trại có quy mô lớn Trang trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 ha, trong đó diện tích hơn 1 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và gần 1 ha trồng cây xanh và ao hồ xung quanh Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2005 với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn nái sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi CP Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 3 giống lợn Landrace - Yorkshine và Duroc Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ và 2 dãy chuồng bầu, 2 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái, 30 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng 2500 lợn con đã tách mẹ Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 25.000 con lợn giống
Trang trại áp dụng quy trình chăn nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại khác nhau Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế độ dinh dưỡng khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ Quá trình cho lợn ăn, uống nước được điều khiển theo
hệ thống hoàn toàn tự động bằng dây chuyền được nhập từ nước ngoài do công ty hỗ trợ cung cấp
Trang 12Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 2 kỹ sư chính, 2 tổ trưởng và 15 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là Landrace - Yorkshire và Duroc Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng
2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một trong những trang trại có quy mô lớn Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:
Trang 13Bảng 2.1: Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Chỉ tiêu
Số lợn qua các năm Năm
2014
Năm
2015
Năm 2016 (5 tháng đầu năm)
Tổng số lợn con sinh ra (con) 22.725 23.615 12.324
Tổng số lợn con sinh sống (con) 21.958 22.886 11.944
Số lợn con chết, loại sau sinh (con) 767 729 380
Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 21.151 22.096 11.489
Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: số lợn nái hậu bị từ năm 2014 là 120 nái, tới năm 2015 tăng lên
130 nái, tăng 108% Tỷ lệ phối đậu thai từ 91,85% (năm 2014) tăng lên 93,25% (năm 2016) Số lợn con sinh ra, sống tới lúc cai sữa tăng lên, từ năm 2014 là 21.151 con tới năm 2015 là 22.096 con
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một gương sáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay
2.2 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
* Bộ phận sinh dục bên trong
- Buồng trứng (ovanrium) còn gọi là noãn bào, gồm một đôi nằm dưới hông, trước cửa vào xoang chậu và được giữ bởi dây chằng rộng, trên
bề mặt buồng trứng sần sùi
Khác với dịch hoàn, buồng trứng của động vật có vú lưu lại trong xoang
Trang 14bụng, phát triển thành một cặp Nó thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết là sản sinh ra tế bào trứng và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) có ảnh hưởng tới giới tính, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái)
+ Cấu tạo buồng trứng được bao bọc ở ngoài một lớp màng liên kết sợi chắc tựa như màng bọc của dịch hoàn Bên trong được chia thành hai phần, cả hai phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm
+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ bao gồm ba phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào bào hình hạt
+ Miền tủy chứa nhiều mạnh máu và bạch huyết
Ở lợn buồng trứng nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên Buồng trứng dài 1,5 - 2
cm, khối lượng 3 - 5 gam
- Ống dẫn trứng (oviductus): ống dẫn trứng ở lợn dài 15 - 20 cm uốn khúc nằm cạnh dây chằng rộng, ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung được chia làm 2 phần
Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bao trứng chín rụng, đầu này mở ra trong xoang phúc mạc
Phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3 cm nối với sừng tử cung
Tử cung (dạ con) (uterus)
+ Cấu tạo giải phẫu tử cung
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái, là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai đồng thời là
cơ quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ
Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung Ở lợn
tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1 m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai
Trang 15Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung
Âm đạo (vagina)
Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái,
nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh
Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai Chiều dài của âm đạo của lợn: 10 - 12 cm
Ở lợn biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và giảm xuống điểm thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô
âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm
lý tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối
Bộ phận sinh dục bên ngoài: là phần người ta có thể nhìn thấy, sờ
thấy và quan sát được, bao gồm: âm hộ, âm vật, tiền đình
Âm hộ (vulvae): đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau
âm đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh Âm hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ
Trang 16còn có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (bartholin) và khí quan cương cứng gọi là âm vật (clitoris)
Âm vật (clitoris):
Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn Là tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh nên tính cảm giác tập trung ở đây cao, tương
tự như bao quy đầu dương vật
Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt vào vận động bình thường
Tiền đình (vestibulum):
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong màng trinh là âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi
cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy
Cấu tạo giải phẫu tuyến vú
Tuyến vú chỉ có ở động vật có vú, tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính (dậy thì) và nó phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ Thời kỳ con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc con còn non
+ Cấu tạo: tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất
cả động vật có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú Song chỉ ở con cái cùng với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hoà của các hoocmone sinh sản mới được phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên Ở lợn có 6 - 10 đôi vú, thường là 6 đôi phân bố thành hai hàng
Trang 17từ vùng ngực tới vùng bẹn, đối xứng nhau qua đường trắng bụng Vú gồm
có bầu vú và núm vú
Bầu vú: là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thuỳ nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi,
từ túi đó sữa theo 3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa
ở đáy tuyến và thông ra đỉnh ở đầu vú Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua tuyến vú, vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc
Núm vú: một bầu có một núm vú, cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa Lợn có từ 2 -3 ống dẫn sữa Ở đầu núm vú sợi cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
Sự phát triển của tuyến vú:
Động vật còn non tuyến vú chưa phát triển, khi đến tuổi thành thục,
hệ thống ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ phân nhánh phức tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến chưa có xoang tiết
Đến thời kỳ chửa, nuôi con, bao tuyến có xoang tiết, ống dẫn tăng lên không ngừng, thể tích bầu vú lớn Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ dần, ống dẫn teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
Sự thành thục về tính
Một số cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng
Trang 18* Hiện tượng rụng trứng
Noãn bào dần dần lớn lên, nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng, dưới tác dụng của thần kinh, hormones, áp suất thì noãn bào vỡ ra giải phóng tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loại gia súc là khác nhau Ở lợn có 20 - 30 tế bào trứng trong 1 lần rụng
* Sự hình thành về thể vàng
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại nằm ở nửa xoang trứng, tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang, dịch và máu đông lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh (trong tế bào hạt có chứa lipoit của
tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone Trong thời gian vài ngày thể vàng sẽ ở đầu xoang của tế bào trứng đó và nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ
* Niêm dịch
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng, sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
* Tính dục
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở
Trang 19trong máu nên có một loạt biến đổi về bề ngoài khác với bình thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh Gặp con đực không kháng cự, tăng lên về cường độ cho đến khi trứng rụng
* Tính hưng phấn
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loại biến đổi
về bên ngoài thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém
ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối Cao độ nhất là lúc tế bào trứng rụng Khi đã rụng tế bào trứng thì hưng phấn giảm
co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy
ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
* Giai đoạn động dục
Lúc này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục có biểu hiện biến đổi sinh
lý, bên trong âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết, niêm dịch trong suốt
từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại, gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
Trang 20* Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn mất dần hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
* Giai đoạn nghỉ ngơi
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian ở lại ống trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng thì hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút trong 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục, trước ngày đẻ progesterone giảm đột ngột, estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân
là 114 ngày
2.2.1.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn
Bệnh sản khoa được thể hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Khi con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sâu trong đường sinh dục mở ra, máu và sản dịch ra nhiều điều đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập Sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng Dinh dưỡng không những về mặt vật chất mà về cả mặt lượng cũng rất quan trọng, việc sử dụng thức ăn thích hợp theo nhu cầu của lứa tuổi có ảnh
Trang 21hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển bình thường của chúng Cho
ăn thiếu chất dinh dưỡng làm giảm sức đề kháng của cơ thể
Bệnh viêm tử cung
Viêm tử cung là một bệnh sinh sản thường gặp trong chăn nuôi lợn nái, có thể xuất hiện ở nhiều giai đoạn nhưng thường xảy ra ở giai đoạn sau khi sinh, đặc biệt là trên lợn nái ngoại (siêu nạc), sau đó đến lợn nái lai, thấp nhất ở lợn nái nội
Viêm tử cung dẫn đến lợn nái mệt mỏi, sốt, bỏ ăn, mất sữa, có thể kế phát sang viêm vú Lợn nái viêm tử cung dẫn tới làm thay đổi số lượng và chất lượng sữa, lợn con bị tiêu chảy sớm và chữa không khỏi dứt điểm nếu không chữa khỏi cho con mẹ
- Nguyên nhân mắc bệnh
Bệnh xảy ra do nhiều nguyên nhân như:
+ Can thiệp không đúng kỹ thuật khi lợn đẻ khó, lợn bị nhiễm trùng
từ chuồng trại do chuồng trại kém vệ sinh
+ Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng lên nếu trong khẩu phần thức ăn bị thiếu vitamin A, D, E gây khô niêm mạc, dễ xây xước, nhiễm khuẩn
+ Cơ quan sinh dục ngoài bẩn
+ Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp
+ Bệnh xảy ra do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát, hoặc không sạch đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục
- Triệu chứng
Bệnh thể hiện ở dạng điển hình như lợn có biểu hiện mệt mỏi, sốt, hay nằm úp bầu vú, bỏ ăn, ăn kém, âm hộ sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ âm đạo chảy ra trắng đục nếu nặng dịch có máu, đứng nằm, bứt rứt không yên, lợn con thường thiếu sữa, kêu nhiều Trong trường hợp bệnh nhẹ, lợn không sốt, âm hộ không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhày, trắng đục tiết ra từ âm đạo dịch nhày thường không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt từ vài ngày
Trang 22đến một tuần Lợn nái thường không đậu thai hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu
đi vì quá trình viêm nhiễm từ niêm mạc âm đạo, tử cung lan sang thai
- Hậu quả
Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục, viêm xảy ra trong thời gian
có chửa thì do biến đổi trong cấu trúc niêm mạc như: teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ thai Qua chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm bào thai phát triển không bình thường Nếu không phát hiện và điều trị triệt để sẽ làm tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi
Bệnh viêm vú
Bệnh viêm vú trên lợn nái thường gặp trong giai đoạn nuôi con, vú bị viêm dẫn đến sốt, kém ăn hoặc bỏ ăn, từ đó lượng sữa giảm, hoặc mất hẳn sữa Lợn con không được bú sữa đầu, hoặc bú sữa lợn mẹ viêm sẽ bị tiêu chảy, không thể chữa khỏi hoàn toàn
- Nguyên nhân
Do lợn mẹ bị viêm tử cung, vi khuẩn theo máu đến tuyến vú gây viêm vú, lợn con có răng nanh, hoặc chuồng trại có nhiều cạnh sắc làm xây
xát vú mẹ tạo điều kiện vi trùng Staphylococcus, Streptococcus xâm nhập
Lợn nái nhiều sữa con bú không hết làm sữa ứ đọng nhiều tạo môi trường cho vi trùng sinh sản gây viêm vú Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm
- Hậu quả
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể lợn mẹ, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái sẽ bị chết Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng,
vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 23Bệnh đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian ra thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy
ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả mẹ lẫn con có thể chết Do đó đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho ngành chăn nuôi
- Hậu quả
Nếu không can thiệp kịp thời thì thai ngạt và chết, nái mẹ kiệt sức Biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây sát niêm mạc tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh như: viêm tử cung, viêm vú, xảy thai truyền nhiễm khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến xảy thai, đẻ non thậm trí là vô sinh
2.2.2 Chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái
a/Phương pháp quan sát
- Quan sát (Inspectio)
Quan sát là phương pháp khám bệnh đầu tiên, đơn giản nhưng rất có hiệu quả, phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong thú y Quan sát trạng thái gia súc, cách đi lại, tình trạng niêm mạc, da, lông và các triệu
Trang 24chứng bệnh Quan sát để đánh giá chất lượng đàn gia súc tốt hay xấu, phát hiện những con bệnh hoặc con xấu trong đàn để điều trị hoặc loại thải
Đây là phương pháp khám bệnh đơn giản nhưng hiệu quả cao, được
sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán lâm sàng Bằng phương pháp quan sát này
có thể xác định được trạng thái vật nuôi, cách đi đứng, màu sắc và tình trạng lông, da, niêm mạc, các triệu chứng bệnh Đồng thời quan sát cũng giúp chúng ta đánh giá chất lượng đàn vật nuôi, sàng lọc những con có nghi vấn mắc bệnh Khi quan sát tùy theo mục đích, vị trí nhìn, cần đứng xa hay gần con vật Tuy nhiên, nên quan sát từ xa tới gần, từ tổng quát tới bộ phận
Quan sát toàn thân là quan sát trạng thái, cử chỉ, cử động, tình trạng dinh dưỡng, dáng điệu,… của vật bệnh
Quan sát cục bộ là quan sát lần lượt từ trước ra sau, từ trái qua phải, lần lượt các cơ quan bộ phận để phát hiện những thay đổi bất thường nếu
có Nên quan sát khi đủ ánh sáng Nếu thiếu ánh sáng có thể sử dụng ánh sáng đèn điện hay đèn chiếu cần quan sát đối chiếu, so sánh giữa 2 bộ phận tương ứng của con vật và cần so sánh giữa cơ quan tổ chức bệnh với cơ quan tổ chức lành để thấy được những biến đổi bất thường
b/Phương pháp sờ nắn
- Sờ nắn (Palpatio)
Người khám dùng tay sờ nắn vào các bộ phận cơ thể gia súc bị bệnh
để biết nhiệt độ, độ ẩm, độ cứng và độ mẫn cảm của tổ chức cơ thể gia súc
Sờ nắn để bắt mạch, đo huyết áp, khám trực tràng là phương pháp thường dùng trong thú y
Sờ nắn là phương pháp dùng cảm giác của ngón tay, bàn tay để kiểm tra chỗ khám, xác định thân nhiệt, độ ẩm, trạng thái,… và sự mẫn cảm của
cơ thể vật nuôi Sờ nắn cũng biết được cảm giác đau của con vật Qua sờ nắn người khám còn xác định được tình trạng mạch của gia súc, khám qua trực tràng Sờ nắn có 2 cách:
Trang 25Sờ nắn nông là việc sờ nắn những cơ quan bộ phận nông để biết được nhiệt độ, độ ẩm của da, lực căng cơ,…
Sờ nắn sâu là để khám các khí quan, tổ chức sâu bên trong cơ thể vật nuôi Khi sờ nắn kiểm tra các cơ quan, tổ chức cơ thể vật nuôi, có thể nhận biết các trạng thái sau:
- Dạng khí thủng: sờ vào có cảm giác mềm, chứa đầy khí
Tuy nhiên, để sờ nắn có hiệu quả cao đòi hỏi người khám phải nắm vững vị trí giải phẫu và có kinh nghiệm trong chẩn đoán
c/Phương pháp gõ
Các khí quan, tổ chức trong cơ thể động vật có cấu tạo về mặt giải phẫu và tổ chức khác nhau Vì vậy khi gõ vào các cơ quan tổ chức đó âm hưởng thu được cũng khác nhau Lúc có bệnh, tính chất của tổ chức thay đổi thì âm hưởng phát ra lúc gõ cũng thay đổi Gõ là phương pháp khám bệnh dựa trên cơ sở là âm hưởng, âm thanh do các vật thể chấn động tạo ra Các vật thể khác nhau, ở trong các trạng thái khác nhau, khi gõ sẽ cho các
âm thanh khác nhau Các cơ quan, tổ chức trong cơ thể có cấu tạo và tính chất khác nhau nên khi gõ sẽ phát ra các âm thanh khác nhau Trong trạng thái bệnh lý, các cơ quan tổ chức cũng thay đổi về tính chất, do đó âm phát
ra khi gõ cũng thay đổi
* Kỹ thuật gõ
Gõ trực tiếp: dùng ngón trỏ và ngón giữa của tay thuận gõ theo phương vuông góc với bề mặt của cơ quan, tổ chức cần khám Với cách gõ này lực gõ không lớn, âm phát ra nhỏ, thường áp dụng với gia súc nhỏ
Trang 26Gõ gián tiếp: là phương pháp gõ qua một vật trung gian Gõ qua ngón tay: dùng ngón giữa và ngón trỏ tay trái đặt sát lên bề mặt cơ quan, tổ chức cần khám, ngón giữa và ngón trỏ của tay phải gõ lên vuông góc với 2 ngón của tay trái Phương pháp này thường áp dụng để khám cho các loài gia súc nhỏ như dê, cừu, chó, mèo Gõ bằng búa gõ qua bản gõ: búa gõ có khối lượng và kích thước khác nhau tùy theo vóc dáng của gia súc Gia súc nhỏ dùng loại búa có trọng lượng từ 60 - 75 gam, gia súc lớn dùng loại búa 120
- 160 gam Bản gõ và búa gõ được làm cùng loại vật liệu, có thể bằng gỗ, sừng, nhựa hay kim loại Bản gõ có dạng hình vuông, hình bầu dục hay hình chữ nhật,… sao cho thuận tiện, dễ thao tác, áp sát được vào thân con vật Cách gõ: tay trái cầm bản gõ, đặt sát lên bề mặt của cơ quan, tổ chức cần khám Tay phải cầm búa gõ, gõ dứt khoát từng tiếng một lực gõ mạnh hay nhẹ phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức gõ lớn hay bé, ở nông hay sâu Khi
gõ mạnh các chấn động có thể lan 4 - 6 cm và sâu đến 7 cm còn nếu gõ nhẹ các chấn động lan 2 - 3 cm và sâu 4 cm Khi gõ nên để gia súc nơi yên tĩnh, không có tạp âm bên ngoài để tránh làm lẫn tạp với âm gõ
Trang 27cơ thể như tim, phổi, dạ dày, ruột để biết được hoạt động của các tổ chức trên Có hai phương pháp nghe là nghe trực tiếp và nghe gián tiếp
Nghe là phương pháp dùng tai hoặc dụng cụ chuyên dùng để nghe
âm phát ra từ các cơ quan, bộ phận của cơ thể để biết được trạng thái và sự hoạt động của các cơ quan, bộ phận đó Có 2 phương pháp nghe:
- Nghe trực tiếp là dùng tai áp sát vào cơ thể vật nuôi để nghe Người nghe có thể dùng miếng vải hoặc miếng khăn sạch phủ lên vùng cần nghe
để giữ vệ sinh Khi nghe phần ngực vật nuôi thì người khám quay mặt về phía đầu vật nuôi Còn khi nghe phần bụng của vật nuôi thì người nghe quay mặt về phía sau của con vật Khi nghe tay phía bên trong của người nghe đặt lên sống lưng của con vật
- Nghe gián tiếp là phương pháp nghe qua ống nghe Hiện nay người
ta thường dùng ống nghe 2 loa, có độ phóng đại âm thanh lớn, sử dụng thuận lợi nhưng dễ lẫn tạp âm, làm tính chất âm thay đổi
* Điều kiện nghe
Để vật nuôi nơi yên tĩnh, tránh gió to, con vật phải đứng ở tư thế thoải mái Nghe từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, ở mỗi vị trí nghe đủ lâu để xác định rõ âm thanh nghe được Khi nghe phải có sự so sánh đối chiếu giữa 2 bên
2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Ở Cuba các bác sĩ thú y sử dụng dung dịch lugol 5% và dùng thuốc neometrina đặt trong tử cung điều trị kết quả cao
- Ở Pháp các tác giả Pierre Branillet và Beruard Faralt (2003) [25], đã nghiên cứu và kết luận: điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú
- Dixensivi Ridep (1997) [24], dùng rivanol 1% để thụt rửa tử cung đạt kết quả cao và không ảnh hưởng tới gia súc
Trang 282.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Theo Trần Minh Châu (1996) [2], điều trị bệnh bằng oxytocin và kháng sinh ampicillin 25mg/1kg TT/ngày hoặc tetracyclin 30 - 50mg/kg TT/ngày cho kết quả điều trị tốt
- Theo Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2001) [4], thụt rửa tử cung bằng rivanol 0,1% mỗi ngày rửa một lần, mỗi lần 50 - 100ml Sau đó dùng loại thuốc sau:
+ Tiêm bắp kanamycin liều 10mg/kg TT/ngày, ngày 2 lần
+ Tiêm bắp gentamycin 4 UI/kg TT/ngày
+ Kanamycin bôi ngày 1 - 2 lần, kết hợp với uống 1 - 2 g/30 - 50 kg Uống liên tục trong 3 - 5 ngày Đồng thời kết hợp với thuốc bổ trợ vitamin
C, B cafein cho kết quả tốt
- Theo Lê Tuấn Hùng, Phạm Chí Thành (1997) [5], dùng lugol 5% kháng điều trị cho trâu bò đạt hiệu quả cao
- Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [6], điều trị viêm vú nên kết hợp với các biện pháp:
+ Điều trị toàn thân: Tiêm bắp streptomycin 1ml/15kg TT/ngày Dùng liên tục từ 3 - 5 ngày
+ Trị tại viêm vú: Tiêm vào giữa hai gốc vú 100.000 UI penicillin cho một vú bằng kim tiêm nhỏ cho kết quả nhanh
Theo Lê Văn Năm (1997) [11], thụt rửa tử cung bằng dung dịch nước muối 1 - 2 % hay streptocid 1 %, thuốc tím KMnO4 0,05% (các loại thuốc hòa tan trong nước ấm 45 - 500C) sau khi thụt rửa có thể dùng một số cách sau
+ Tiêm bắp canxifort liều 10 ml/ngày/2 lần/ngày
+ Bơm vào tử cung 1 triệu UI penicillin hòa tan với 50ml nước cất, ngày một lần cho kết quả tốt
- Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) [13], cho biết: + Benzin penicillin: 1.000.000 UI
+ Gentamycin: 200.000 UI
Trang 29Điều trị viêm tử cung ở lợn, bò đạt hiệu quả cao
+ Dùng viên nén chlotetracylin: 1 viên đặt vào tử cung
Điều trị nhiễm trùng đường sinh dục sau đẻ, viêm tử cung, lộn tử cung, sót nhau
2.4 Một số thuốc phòng và trị bệnh sinh sản của lợn nái
2.4.1 Oxytetracyclin
Cấu tạo
Oxytetracyclin bình thường có tác dụng với các vi khuẩn ưa khí và
kỵ khí gram dương và gram âm, với Rickettsia, Mycoplasma và Chlamydia
Pseudomonas aeruginosa, Providencia và phần lớn Proteus có tính kháng
Trang 30Corynebacteria, Clostridium, Erysipelothrix và vi khuẩn gram âm như E coli, Salmonella, Pasteurella và các vi khuẩn gần giống Pasteurella (pasteurella-like germs), Bordetella, Actinobacillus, Haemophilus, Bacillus anthracis, Moraxella, Proteus mirabilis Sau đó, amoxicillin xâm nhập
nhanh chóng vào các mô, cũng như vào hệ thống mạch máu Trong đó, quan trọng nhất là khả năng phân bố khắp phổi Khả năng chuyển hóa của amoxicillin yếu nên phần lớn bị thận thải trừ qua đường tiểu dưới dạng còn hoạt tính Tác động vào giai đoạn rất sớm của tiến trình nhân lên của vi khuẩn, vì thế amoxicillin thường được sử dụng trong các trường hợp cấp tính như một giải pháp điều trị hàng đầu Hiệu lực của vetrimoxin LA kéo dài đến 48 giờ, sử dụng cho lợn, gia súc và các thú nhai lại nhỏ
Nhiễm trùng đường tiêu hóa
Nhiễm trùng đường hô hấp (như các bệnh do Pasteurella gây ra)
Tiêm bắp hoặc tiêm dưới da, 1 ml của vetrimoxin LA cho mỗi 10 kg
thể trọng và lặp lại trong vòng ba ngày khi cần thiết Tỉ lệ này tương đương
với 15 mg amoxicillin cho mỗi kg thể trọng
Nếu liều lượng vượt quá 20 ml, nên chia ra thành hai lần tiêm