Khi lợn con bị bệnh điều trị lâu ngày không khỏi sẽ gây ra chi phí điều trị cao, lợn con bị còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng đối với các bệnh khác, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN THANH BÌNH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI TRANG TRẠI ĐẶNG ĐỨC KHANG XÃ HƯỚNG ĐẠO,
HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016
THÁI NGUYÊN, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN THANH BÌNH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI TRANG TRẠI ĐẶNG ĐỨC KHANG XÃ HƯỚNG ĐẠO,
HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016 Giảng viên HD : ThS Hà Thị Hảo
THÁI NGUYÊN, 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y và Ban lãnh đạo trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản tại tỉnh Vĩnh Phúc Tôi cũng nhận được
sự cộng tác nhiệt tình của các bạn sinh viên, đội ngũ kỹ sư, công nhân trong trang trại, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS
Hà Thị Hảo đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành công khóa luận này
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Trang trại lợn nái của ông Đặng Đức Khang, đã giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình thực tập tại trang trại
Tôi xin cảm ơn đội ngũ kỹ thuật trại anh Nguyễn Hữu Phong, anh
Vũ Văn Hưng, anh Nguyễn Đắc Trọng đã giúp đỡ , chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu cho tôi
Cuối cùng, tôi xin dành lòng biết ơn tới người thân, gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt thời gian tiến hành thực tập và hoàn thành khóa luận này
Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thanh Bình
Trang 4ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh phân trắng lợn con 27
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 39
Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng cho đàn lợn con và lợn nái của trại lợn 40
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 47
Bảng 4.4 Số lượng lợn của trại qua một số năm 48
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại 49
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 50
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi 52
Bảng 4.8 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 54
Bảng 4.9 Triệu chứng, bệnh tích lợn con mắc bệnh phân trắng lợn con 55
Bảng 4.10 Kết quả điều trị phân trắng lợn con 57
Bảng 4.11 Sơ bộ hạch toán chi phí thú y 58
Trang 6
iv
MỤC LỤC
Trang
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 4
2.1.2 Bệnh phân trắng lợn con 8
2.1.3 Một số loại thuốc để điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trang trại 19
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 26
3.3.1 Nội dung 26
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26
3.4.2 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 27
4.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
Trang 7v
Phần 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 30
4.1.1 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 30
4.1.2 Công tác phòng và trị bệnh 36
4.2 Kết quả nghiên cứu 48
4.2.1 Kết quả điều tra tình hình phát triển và cơ cấu đàn lợn của trại 48
4.2.2 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại 49
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
Kết luận 60
Tồn tại Error! Bookmark not defined Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nói đến ngành chăn nuôi, trước tiên phải nói đến ngành chăn nuôi lợn, bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đến đời sống, kinh tế xã hội của con người Thịt lợn là loại thực phẩm rất phổ biến, giá trị dinh dưỡng cao, có thể chế biến thành nhiều món ngon, khi chế biến lại ít làm giảm phẩm chất thịt do đó rất được ưa chuộng Ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp các sản phẩm phụ khác cho ngành công nghiệp chế biến như: Da, lông, mỡ, xương,… Bên cạnh đó còn cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt hay tận dụng xây hầm Biogas để làm khí đốt, thắp sáng Ngoài ra ngành chăn nuôi lợn
đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập
và là cơ hội làm giàu cho người dân
Trong những năm gần đây, nhờ việc áp thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất đã thúc đẩy: Tổng đàn lợn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng, khả năng phòng bệnh tốt, làm cho năng suất chăn nuôi ngày càng tăng lên, thời gian nuôi được rút ngắn, lợi nhuận chăn nuôi ngày càng cao Bên cạnh
đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách, biện pháp cụ thể nhằm phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Theo Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 [45], “ Về chăn nuôi lợn: phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một
số vùng Tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp chiếm 37%.”
Trang 9Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, ngành chăn nuôi lợn nước ta đang chuyển mình từ chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi hộ gia đình sang chăn nuôi tập trung với quy mô vừa, lớn và chăn nuôi chủ yếu là các giống lợn ngoại Những giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh và chống chịu bệnh tật còn kém Đây là vấn đề khó khăn mà các trang trại chăn nuôi thường gặp phải
Đối với các trang trại chăn nuôi lợn nái,vấn đề thường gặp và cũng là vấn đề nan giải hiện nay vẫn là bệnh phân trắng lợn con ở lợn con theo mẹ Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tùy vào sự thay đổi ít, nhiều của các yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng và sự thay đổi của thời tiết khí hậu, với tỷ lệ mắc bệnh cao 70 – 80%, có nơi 100%, tỷ lệ chết có thể 18 – 20% (Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [3] Khi lợn con bị bệnh điều trị lâu ngày không khỏi sẽ gây ra chi phí điều trị cao, lợn con bị còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng đối với các bệnh khác, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa của đàn lợn giống, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn lợn con sau này Chính vì vậy mà bệnh phân trắng lợn con đã được nghiên cứu từ rất lâu, để từ đó tìm ra nguyên nhân, biện pháp phòng và trị hiệu quả sao cho đạt kết quả tốt nhất
Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất cũng như góp phần tư liệu
về quy trình tiêm phòng, vệ sinh phòng bệnh, điều trị bệnh phân trắng lợn con
tại trại lợn giống có hiệu quả, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi và biện pháp phòng trị tại trang trại Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại chăn nuôi
- Nắm được thực trạng bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi
Trang 10- Ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con có hiệu quả
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài là cơ sở để áp dụng quy trình phòng, trị bệnh phân trắng lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.1.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng phát dục
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [5], Sau sơ sinh, lợn con trong thời
kỳ này phát triển với tốc độ rất nhanh thể hiện thông qua sự tăng khối lượng của cơ thể Thông thường, khối lượng lợn con ở 7 đến 10 ngày tuổi đã gấp 2 lần khối lượng sơ sinh và đến 60 ngày tuổi gấp 10 – 15 lần khối lượng sơ sinh Sự sinh trưởng của lợn con không hoàn toàn tuân theo quy luật sinh trưởng chung của gia súc Ở giai đoạn 3 hoặc 4 tuần tuổi tốc độ tăng khối lượng tuyệt đối của lợn con có chiều hướng giảm đi là do nguồn sữa mẹ cung cấp cho lợn con bắt đầu giảm, liên quan đến quy luật tiết sữa của lợn nái Mỗi ngày, mỗi lợn con bú từ 300 – 1000 gam sữa với giá trị dinh dưỡng cũng như khả năng tiêu hóa rất cao Lúc 1 tháng tuổi lợn con bú 3,8 kg sữa thì tăng được 1 kg khối lượng cơ thể, trong khi bê cần tới 10 lít sữa Mỗi ngày lợn con
bú từ 10 – 20 lần Ở thời kỳ lợn con theo mẹ lợn con tích lũy lượng protein hằng ngày rất cao so với các thời kỳ khác Trung bình mỗi kg khối lượng cơ thể tích lũy 9 – 14 gam protein trên ngày trong khi đó ở các giai đoạn sau chỉ đạt 0,3 – 0,4 gam protein trên ngày
2.1.1.2 Đặc điểm về tiêu hóa
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [5], đặc điểm nổi bật của lợn con đó chính là sự phát triển rất nhanh của bộ máy tiêu hóa song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Dạ dày lợn con khi mới sơ sinh chỉ có dung tích 2,5 ml đã tăng lên đến 1815 ml vào lúc 70 ngày tuổi Như vậy, dung tích đã tăng lên đến trên 70 lần Tương tự như vậy với dung tích ở ruột cũng tăng lên ở mức 50 – 60 lần
Trang 12Sự phát triển của bộ máy tiêu hóa đã tạo thuận lợi cho thu nhận thức ăn, làm cho lợn con phát triển nhanh Tuy nhiên, khả năng tiêu hóa thức ăn (trừ sữa) của lợn con rất hạn chế nhất là vào thời kỳ đầu sau khi đẻ Sở dĩ khả năng tiêu hóa bị hạn chế là do hệ thống men chưa phát triển đầy đủ Một số men chính liên quan đến quá trình tiêu hóa như men tiêu hóa tinh bột, tiêu hóa protein đều có số lượng cũng như hoạt lực kém ở giai đoạn lợn con theo mẹ
Men pepsin (có chức năng tiêu hóa protein), men này có ngay từ khi lợn con sơ sinh và tăng dần tới 5 – 6 tuần tuổi, song không có chức năng tiêu hóa protein bởi vì ở dạng pepsinogen Pepsinogen cần có axit clohydric (HCl)
ở dạng tự do để hoạt hóa nó biến thành dạng hoạt động
Theo (A Henning,1984) [38].Trong dịch vị dạ dày, HCl có vai trò đảm bảo 1 trị số pH thích hợp cho men Pepsin hoạt động
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [8], lợn con dưới 1 tháng tuổi thì dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do Lúc này lượng axit ít và
nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch Hiện tượng này gọi là Hypoclohydric
và là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá ở dạ dày lợn con Vì thiếu HCl
tự do trong dạ dày nên vi sinh vật có điều kiện phát triển gây ra bệnh ở đường tiêu hoá cho lợn con
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [5],cho rằng: “Nếu nuôi lợn trong điều kiện bình thường thì phải sau 25 – 30 ngày sau đẻ mới có HCl tự do Nếu tiến hành cho lợn con tập ăn sớm từ 7 – 10 ngày tuổi bằng thức ăn hạt thì đến ngày thứ 14 đã thấy có HCl ở dạng tự do”
Mặt khác, do sản lượng sữa mẹ tăng dần đến 3 tuần sau khi đẻ, sau đó giảm đi cả về số lượng và chất lượng Nhưng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng cao do tốc độ sinh trưởng nhanh Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Đây là cơ sở cho việc bổ sung thức ăn sớm và cai sữa sớm cho lợn con, vì nó rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl
Trang 132.1.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [5], Lợn con mới sơ sinh có sự thay đổi rất lớn về điều kiện sống đang ở trong cơ thể mẹ với nhiệt độ ổn định 38,50C ra bên ngoài với điều kiện nhiệt độ rất thay đổi tùy theo từng mùa khác nhau
Có điều này do một số vấn đề sau:
- Lông lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng nên khả năng giữ nhiệt hạn chế
- Lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế
- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở
cả hai giai đoạn trong và ngoài thai
- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1996) [3]
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng toả nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá
2.1.1.4 Đặc điểm về hệ miễn dịch
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [5], Lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng lên rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu Cho nên người ta nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động Nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa mẹ
Trang 14Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein rất cao, những giờ đầu sau khi đẻ trong sữa có tới 18 – 19% protein Trong đó lượng γ globulin chiếm số lượng rất lớn (34 – 45%) cho nên nó có vai trò miễn dịch ở lợn con
Theo Phùng Ứng Lân (1996) [16], Lợn con mới đẻ trong máu không có
γ globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng γ globulin sẽ giảm sau 3 – 4 tuần ở lợn con sau khi sinh, rồi đến tuần thứ 5 – 6 lại tăng lên và đạt giá trị trung bình là 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là bệnh phân trắng lợn con
Theo Trần Cừ ( 1972) [1], máu thực hiện chức năng sinh lý quan trọng như: hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, duy trì cân bằng nước, điều hoà thân nhiệt, bảo vệ máu có chức năng lưu thông nên phản ánh đúng và kịp thời mọi biến đổi sinh lý xảy ra trong cơ thể
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm ( 1995) [8], nhất thiết lợn con
sơ sinh phải được bú sữa đầu để có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là nhân tố chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu
và đảm bảo toàn bộ số con trong đàn được bú sữa đầu của lợn mẹ Trong điều kiện bình thường, nếu không cho lợn con bú sữa đầu thì rất khó nuôi
2.1.1.5 Đặc điểm về hệ vi sinh vật đường ruột
Hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:
- Nhóm vi khuẩn đường ruột – vi khuẩn bắt buộc gồm: E coli,
Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus Trong nhóm vi khuẩn này, người
ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất
hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng
Trang 15E coli trở lên cường độc gây bệnh, cấu trúc kháng nguyên của E coli rất
phức tạp Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 80 kháng nguyên K, 86 kháng nguyên H và kháng nguyên F
- Nhóm vi khuẩn vãng lai: Chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước
uống vào hệ tiêu hóa gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus
subtilis Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn còn có các trực khuẩn yếm
khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus
asobacterium…
Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E coli là phổ biến nhất và
chúng xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [24]
Tiêu chảy ở lợn còn do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện
ở 2 dạng là bại huyết và thần kinh Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn trước trực tràng phình to
Lợn con mắc bệnh có tỷ lệ chết từ 7 – 10%, nếu không can thiệp kịp thời thì con vật chết rất nhanh và tỷ lệ chết rất cao 80 – 90% (Phạm Sỹ Lăng
và cs, 2003) [15] Trường hợp lợn con bị nhiễm ghép với các vi khuẩn gây
Trang 16bệnh khác như: Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn (Salmonella) lợn con có
thể chết 100% (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2006) [29]
Bệnh PTLC thường xảy ra quanh năm, không theo mùa vụ (Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [3]
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bệnh đã được khống chế phần nào song việc loại trừ nó ra khỏi chăn nuôi tập trung thì còn gặp rất nhiều khó khăn không những ở nước ta mà cả những nước có trình độ khoa học tiên tiến trên thế giới
2.1.2.1 Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
* Nguyên nhân nội tại
Do đặc điểm sinh lý lợn con, tất cả cơ quan bộ phận đều phát triển chưa hoàn thiện Hơn nữa, lợn con lại có nhu cầu dinh dưỡng và khoáng chất rất lớn, nếu không được bổ sung đầy đủ thì lợn con sẽ bị suy dinh dưỡng, ăn bẩn gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [17], Khi mới sinh, cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch Trong dạ dày lợn con thiếu HCl, do đó pepsinozen tiết ra không được hoạt hóa để chuyển thành pepsin Khi thiếu men pepsin sữa bị kết tủa dưới dạng cazein không tiêu hóa được bị đẩy xuống ruột già gây rối loạn tiêu hóa, từ đó dẫn tới bệnh và phân
có màu trắng là màu của cazein chưa được tiêu hóa
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], thì một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt.Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc bệnh phân trắng
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [30], Sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và khả năng chống đỡ bệnh tật Ở động vật, 1/2 lượng sắt trong cơ thể nằm ở Hemoglobin, một lượng ít hơn nằm ở Myoglobin và một
Trang 17số Enzyme Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, cơ thể suy nhược, không hấp thụ được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh
Theo Phạm Ngọc Thạch, Đỗ Thị Nga (2006) [20], Bệnh phân trắng lợn con đã có từ rất lâu và ngày càng phổ biến ở các trạng chăn nuôi tập trung và các nông hộ, lợn từ 5 – 25 ngày tuổi dễ mắc bệnh nhất
* Do gia súc mẹ
Lợn mẹ không được nuôi dưỡng đầy đủ khi mang thai cũng như trong giai đoạn đang nuôi con Nhưng khi cho mẹ ăn quá nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng cũng làm ảnh hưởng tới lợn con
Trong thời gian mang thai, lợn nái không tiêm phòng vắc xin chống các bệnh như: dịch tả, phó thương hàn, Parvovirus thì lợn con sinh ra dễ mắc hội chứng tiêu chảy hơn
Trong thời gian nuôi con gia súc mẹ bị mắc một số bệnh như: Viêm vú, viêm tử cung, kém sữa sau khi sinh sẽ lây nhiễm vi khuẩn vào đường tiêu hóa lợn con
Khi nuôi con mà con mẹ động dục trở lại sớm là một nguyên nhân làm
số lượng và chất lượng sữa giảm vì thế bệnh sẽ dễ xảy ra
* Nguyên nhân ngoại cảnh
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có nhận định bệnh phân trắng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng loạt yếu tố
Qua tài liệu của nhiều tác giả có thể chia thành những nguyên nhân sau:
+ Do điều kiện thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của lợn
Đặc biệt ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo, chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định và hoàn thiện Hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng
Trang 18phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy, lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [9], cũng cho rằng các yếu tố stress lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng là nhiệt
độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn là từ 75 – 85%, việc làm khô và giữ
ấm chuồng nuôi là vô cùng quan trọng
Theo Sử An Ninh (1993) [20], lợn con khi còn ở trong bụng mẹ thì được bảo vệ rất tốt, nhưng khi mới đẻ ra đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tốt bên ngoài đặc biệt là thời tiết như nóng, lạnh, mưa, ẩm ướt kinh nghiệm thực tế chứng minh rằng thời tiết thay đổi đột ngột cụ thể là yếu tố nóng, lạnh, khô, ẩm không ổn định hoặc không thích hợp với yêu cầu sinh lý của lợn con đều là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh lợn con ỉa phân trắng
Nếu trong chuồng nuôi không đảm bảo thoáng khí, độ ẩm, tồn đọng nhiều phân, rác, nước tiểu, nhiệt độ trong chuồng tăng cao sẽ sinh ra nhiều khí có hại như: NH3, H2S… làm lợn con trúng độc thần kinh nặng gây trạng thái stress cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy
* Do chăm sóc, quản lý
Bên cạnh đó việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn không tốt cũng ảnh hưởng lớn tới sự xuất hiện của bệnh như lợn con không được bú sữa đầu, cắt rốn không đúng kỹ thuật, úm lợn không đảm bảo nhiệt bộ, bổ sung sắt không được thực hiện đầy đủ và đúng kỹ thuật cũng dẫn đến tiêu chảy
Theo Cù Xuân Dần (1996) [4], do sức đề kháng của lợn con là rất yếu
vì vậy rất dễ bị tác động nếu lợn con theo mẹ mà không được nuôi dưỡng tốt
có chế độ ăn uống thích hợp thì chúng rất hay mắc bệnh và đặc biệt là bệnh phân trắng Muốn biết chế độ nuôi dưỡng của lợn con có thích hợp hay không
Trang 19thì cần phải xét hai mặt chủ yếu: Lợn con có được tập cho ăn sớm hay không
và thức ăn bổ sung của lợn có đủ thành phần dinh dưỡng (đạm, khoáng, vitamin ) theo yêu cầu phát triển của lợn con hay không
Theo Nguyễn Thiện và cs (1996) [27], Cơ chế vận động chăn thả đều đặn và hợp lí sẽ làm tăng cường quá trình trao đổi chất của cơ thể động vật nói chung Đối với lợn con nó làm tăng sức sống và sức chống đỡ bệnh tật và
bộ máy tiêu hoá cũng hoạt động tốt hơn Mặt khác hoạt động ngoài trời nhờ
có tác dụng của các tia sáng tự nhiên của mặt trời sự tổng hợp vitamin D tiến hành thuận lợi, xương cốt của lợn con phát triển tốt từ đó làm cho sự phát triển chung của cơ thể cũng tốt.Thực tế nhiều nơi đã chứng minh sự vận động
và chăn thả có tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn bệnh phân trắng lợn con phát sinh Ở nhiều nơi đã thấy có những đàn lợn con đang bị ỉa phân trắng chỉ cần đem thả ra ngoài cho vận động thì bệnh cũng đã giảm đi rõ rệt còn nếu vừa cho chăn thả vừa dùng thuốc chữa bệnh thì thu được kết quả rất tốt
và nhanh hơn hẳn so với chỉ nhốt trong chuồng rồi đơn thuần chạy chữa Nhưng phải đảm bảo môi trường vận động sạch sẽ không có mầm bệnh truyền nhiễm
* Do rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột
Bình thường trong đường tiêu hóa của lợn nói riêng và động vật nói chung luôn có một số lượng vi khuẩn nhất định và chúng không gây bệnh Nhưng khi hàng rào bảo vệ bị phá vỡ số lượng vi khuẩn tăng lên, làm thay đổi
tỷ lệ các vi khuẩn có trong đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa và bệnh xảy ra
+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E coli) hay còn được gọi là
vi khuẩn đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú) Vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của
khuẩn lạc ruột Sự có mặt của E coli trong nước ngầm là một chỉ thị thường gặp cho ô nhiễm phân E coli thuộc họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và
thường được sử dụng làm sinh vật mô hình cho các nghiên cứu về vi khuẩn
Trang 20- Hình thái: E coli là một trực khuẩn Gram âm, hình gậy ngắn, kích
thước 2 – 3 x 0,6µm Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông xung quanh thân nên có thể di động được, không hình thành nha bào, có thể có giáp mô
- Độc tố: vi khuẩn E coli tạo ra 2 loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố
Ngoại độc tố: là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá hủy ở 560C trong vòng 10 – 30 phút Dưới tác dụng của formon và nhiệt ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính thần kinh và gây hoại tử
Nội độc tố: là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi khuẩn và gắn với tế bào vi khuẩn rất chặt Nội độc tố có tính kháng nguyên hoàn toàn, chịu nhiệt
và có khả năng sinh choáng mạch máu
+ Salmonella
Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae Các loại gây bệnh có thể kể
đến như: Salmonella typhimurium, Salmonella cholera và Salmonella
ententidis Đây là những trực khuẩn Gram âm, hiếu khí tùy ý, hầu hết các Salmonella đều có lông xung quanh thân (trừ Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum) vì vậy có khả năng di động, không sinh nha bào kích
thước khoảng 0,4 – 0,6 x 2 – 3 µm
- Salmonella lên men glucose có sinh hơi (trừ Salmonella typhi lên
men glucose không sinh hơi) không lên men lactose, indol âm tính, đỏ methylen dương tính, VP âm tính, citrat thay đổi, urease âm tính, H2S dương
tính( trừ Salmonella paratyphi A: H2S âm tính)
- Dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường
- Nhiệt độ phát triển từ 5 – 450C, thích hợp ở 370C, pH thích hợp = 7,6 nhưng nó có thể phát triển được ở pH từ 6 – 9 Với pH >9 hoặc < 4,5 vi khuẩn có thể bị tiêu diệt, khả năng chịu nhiệt của vi khuẩn kém: ở 500C trong
1 giờ, ở 700C trong 15 phút và 1000C trong 5 phút
Trang 21- Ớ nồng độ muối 6 – 8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối là 8 – 19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại (Nguyễn Như Thanh
và cs, 2001) [24]
Hồ Văn Nam và cs (1997) [18] cho rằng: Lợn bị tiêu chảy thì số lượng
E coli và Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm Khi các vi khuẩn gây
bệnh phát triển quá mạnh thì sẽ gây mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột gây ra hiện tượng loạn khuẩn
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], cho biết khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1 gam phân tăng lên so với lợn không bị tiêu chảy
Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [24], ở bệnh phân trắng lợn con tác
nhân gây bệnh chủ yếu là E coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và thứ yếu là Proteus, Streptococcus
2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [9], Bệnh có liên quan đến trạng thái stress như thời tiết lạnh ẩm hay nóng ẩm đột ngột, thức ăn cho lợn mẹ thay đổi bất thường về lượng đạm, chất béo, chất khoáng và vitamin
Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [25], Cơ chế sinh bệnh: đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể hết
Trang 22Hồ Văn Nam và cs (1997) [17], cho biết: quá trình rối loạn càng trầm trọng hơn khi vi sinh vật trong ống tiêu hóa ở trạng thái mất cân bằng Những
vi khuẩn có hại phát triển mạnh, vi khuẩn lên men gây thối rữa phát triển nhanh chóng Song song với sự phát triển về số lượng vi khuẩn thì lượng độc
tố tiết ra cũng tăng hơn nhiều Độc tố này vào máu quá nhiều sẽ làm rối loạn
cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc thải của thận
Đào Trọng Đạt (1996) [3], khi lợn con tiêu chảy nhiều sẽ bị mất nước, rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc thải của thận
2.1.2.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh
* Triệu chứng
Theo Hoàng Văn Tuấn (1998) [33], Bệnh xảy ra ở tất cả các lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là ở lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa Lợn con có thể mắc bệnh rất sớm, ngay ngày đầu tiên sau khi sinh, thường mắc nhiều nhất là sau khi sinh vài ngày
Triệu chứng điển hình: Con vật khát nước, tính đàn hồi của da giảm, mắt lõm sâu, thở nhanh, sâu, nhịp tim nhanh, ít đái Theo Phạm Ngọc Thạch
và cs (2006) [26], trong 1 – 2 ngày đầu mắc bệnh, lợn vẫn bú và chạy nhảy như thường Phân táo như hạt đậu xanh, nhạt màu Sau đó phân lỏng dần, có màu vàng hoặc hơi trắng, có bọt và chất nhầy, mùi tanh khắm Con vật có bú hoặc bỏ bú, lông xù và dựng, da nhăn nheo, nhợt nhạt, đuôi khoeo dính đầy phân
Bệnh thường gặp 3 thể:
- Thể quá cấp tính: Lợn tiêu chảy rất mạnh và có thể chết sau 6 – 20 giờ kể từ khi bỏ bú Lợn bỏ bú hoàn toàn, đi đứng siêu vẹo, loạng choạng, hay nằm bẹp một chỗ, co giật rồi chết Thể này rất ít gặp
- Thể cấp tính: Lợn ỉa chảy nặng, mất nước, mất điện giải rồi chết sau vài ngày mắc bệnh Thể cấp tính hay gặp trong thực tế
Trang 23- Thể mãn tính: Thường gặp ở lợn từ tập ăn đến lúc cai sữa Con vật ỉa chảy liên miên, phân lúc lỏng, lúc sền sệt, có mùi rất khó chịu, lợn gầy còm, lông xù Nếu bệnh kéo dài không được cứu chữa hiệu quả thường dẫn tới bị viêm dạ dày, ruột rồi chết
* Bệnh tích:
Theo Tạ Thi Vịnh (1996) [36]: Khi lợn chết, xác gầy, thân sau bê bết phân Mổ khám thấy bên trong dạ dày giãn rộng, chứa đầy sữa đông vón không tiêu Ruột non căng phồng chứa đầy hơi với những đám xuất huyết ở thành ruột Chất chứa trong ruột lẫn máu, hạch lâm ba ruột tụ huyết Các cơ quan khác như phổi, gan, thận ít biến đổi
Theo dõi trên đàn lợn thực nghiệm quan sát được: Lợn chết ở thể cấp tính và mãn tính khi mổ khám thấy dạ dày tích thức ăn không tiêu hóa, lổn nhổn bọt khí Phổi có viêm dưới thùy hoành, niêm mạc dạ dày lác đác có đám sung huyết, sưng, dễ bong tróc, có nốt loét Niêm mạc ruột non sưng dày có nhiều đám xuất huyết Hạch lâm ba sưng, mềm, có hoại tử, gan có nốt hoại tử, túi mật căng
Là dùng các vi khuẩn có lợi để phòng trị bệnh Các nhóm vi khuẩn
thường dùng là Bacillus subtilis, Colibacterium, Lactobacillus Các vi khuẩn
này khi được đưa vào đường tiêu hóa của lợn sẽ có vai trò cải thiện tiêu hóa thức ăn, lập lại cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột ức chế và khống chế vi sinh vật có hại
Trang 24Xí nghiệp thuốc thú y đã sản xuất sản phẩm Subtillis, Viện Thú y quốc gia đã chế thành công chế phẩm men tiêu hóa Biolacty cho hiệu quả tốt
* Phòng bệnh bằng thuốc hóa học trị liệu
Trần Minh Hùng và cs (1983 – 1993) [10] đã nghiên cứu chế phẩm Dextran – Fe bổ sung cho lợn con, phòng bệnh thiếu máu suy dinh dưỡng và các bệnh đường tiêu hóa tăng sức đề kháng cho con vật
* Phòng bằng vắc xin
Phòng bệnh bằng vắc xin được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng
hầu hết các bệnh hiện nay Nhưng theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], do E
coli có nhiều type kháng nguyên khác nhau nên việc chế vắc xin E coli gặp
những khó khăn nhất định và việc chế một loại vắc xin E coli để phòng cho
lợn ở nhiều địa phương đem lại hiệu quả phòng bệnh không cao
* Phòng bệnh bằng biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý
Bệnh PTLC chịu ảnh hưởng rất lớn của ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý vì vậy việc cải thiện tình hình chăn nuôi sẽ góp phần không nhỏ trong việc phòng bệnh
Có một trong số tác giả cho rằng việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín
ấm vào mùa đông, xuân đồng thời khô ráo, chống ẩm ướt sẽ phòng bệnh hiệu quả cao
Cần chăm sóc cho lợn mẹ đầy đủ chất dinh dưỡng, tiêm phòng đầy đủ đảm bảo cho con sinh ra khỏe mạnh, sức đề kháng cao Cần chú ý cho lợn con tập ăn sớm, có bổ sung đầy đủ các loại khoáng vi lượng để lợn thích nghi dần với điều kiện mới
2.1.2.5 Điều trị bệnh
* Điều trị bằng kháng sinh:
Kháng sinh có vai trò quan trọng thú y Tuy nhiên trong nhừng năm gần đây, việc sử dụng kháng sinh điều trị bệnh PTLC tỏ ra kém hiệu lực do vi
khuẩn E coli và Salmonella có tỷ lệ kháng thuốc cao (Bùi Thị Tho, 1996)
[31] Cũng theo tác giả, kháng sinh dùng trong điều trị bệnh cho kết quả rất
Trang 25khác nhau ở các địa phương khác nhau Tại một địa phương nếu một loại kháng sinh nào đó được dùng một thời gian dài thì hiệu lực điều trị sẽ giảm dần theo thời gian
Theo kết quả nghiên cứu của Tô Thị Phượng (2006) [21], kháng sinh Enrofloxacine dùng điều trị tiêu chảy ở lợn cho kết quả cao 85,16% và 81,03% ở lợn 1 – 21 ngày tuổi Khi kết hợp hai loại kháng sinh này với chế phẩm sinh học Microcin để điều trị cho tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn 93,33% và 91,94%
* Điều trị bằng đông dược
Bùi Thị Tho và cs (2009) [32], trong dân gian còn có một số bài thuốc trị tiêu chảy cho lợn có hiệu quả đó là:
Lá cây sài đất (200g) + lá ổi (l00g) cho vào 1 lít nước, sắc lấy 300ml, cho uống ngày 2 lần
Búp ổi, lá bạc thau, cây cỏ sước, lá Bách bệnh (Hoàng Ngọc), lá mơ Chọn 1 trong các thứ trên, lấy 1 – 3 nắm (150 – 200g) cho ăn sống hoặc giã nước cho uống
Một nắm búp ổi (50 – 60g) sao vàng hạ thổ sắc cho uống 2 lần trong
ngày, mỗi lần Vi – 1 bát
Nước chè xanh (chè búp) đặc 1 lít + 8 thìa đường + 1 thìa muối (thìa canh) mỗi lần cho 100 – 200 ml Có thể lấy 1 – 2 quả hồng xiêm xanh thái mỏng, sao vàng hạ thổ, sắc nước cho uống 2 – 3 lần trong ngày
* Điều trị bằng các chế phẩm sinh học
Các chế phẩm sinh học không chỉ được dùng để phòng bệnh mà còn được sử dụng để điều trị bệnh cho hiệu quả tốt Các chế phẩm sinh học đã được sử dụng điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn như: Sử dụng chế phẩm E.M1 30% điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con có tác dụng điều trị tương đương điều trị kháng sinh (Nguyễn Thị Hồng Lan, 2007) [12]
Trang 262.1.3 Một số loại thuốc dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trang trại
Trong các cơ chế tác động của kháng sinh lên vi khuẩn thì cơ chế tác động của fluoroquinolone là ức chế tổng hợp axit nucleic Sự nhân đôi DNA bắt đầu bằng phản ứng tách chuỗi DNA ra làm hai, mỗi bên là một khuôn để gắn nucleotid thích hợp theo nguyên tắt bổ sung
Enzyme DNA polymerase xúc tác sự tổng hợp các liên kết giữa các nucleotid; enzyme DNA gyrase nối các DNA trong quá trình tổng hợp và tạo thành các vòng xoắn Quinolone (axit nalidixic và các fluoroquinolone) ức chế mạnh sự tổng hợp DNA trong giai đoạn nhân đôi do ức chế enzyme DNA gyrase Cơ chế tác động này hiệu quả trên cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm Nhưng cũng có thể do cơ chế ức chế tổng hợp axit nucleic này mà kháng sinh nhóm fluoroquinolone được cho là có nguy cơ gây
Trang 27đột biến gene, gây sẩy thai khi sử dụng cho động vật mang thai, và khuyến cáo là không nên sử dụng kháng sinh nhóm fluoroquinolone cho động vật mang thai, động vật sinh sản và làm giống
- Công dụng:
Điều trị cho lợn mắc bệnh tiêu chảy, thương hàn và phó thương hàn
- Cách dùng:
Tiêm bắp thịt Dùng liên tục trong 3 – 5 ngày Lợn con, chó mèo: 1ml/ 5 – 7kgTT/ ngày
Lợn, trâu, bò: 1ml/8 – 10kg TT/ngày
2.1.3.2 Nova – Amcoli
- Thành phần mỗi ml chứa: Ampicillin 10mg
- Cơ chế tác dụng:
Ampicillin (Anh ngữ: Ampicillin; Pháp ngữ: Ampicilline) là kháng
sinh phổ rộng thuộc nhóm Betalactam, tức là nhóm kháng sinh có cấu trúc phân tử gồm khung Beta – lactame, trên đó có các nhóm trí hoán Cùng trong nhóm Betalactam với Ampicillin, còn có các loại thuốc kháng sinh khác là: Penicillin, Amoxycillin, Augmentin, Unacyl, Cloxacillin, Oxacillin,
Ampicillin thực chất là một penicillin bán tổng hợp nhóm A có hoạt phổ rộng với nhiều chủng vi khuẩn gram (+) và vi khuẩn gram (-) Ampicillin có tác dụng chống lại những vi khuẩn mẫn cảm gây nhiễm khuẩn đường hô hấp, dẫn mật, tiêu hoá, tiết niệu, một số bệnh ngoài da như viêm bì
có mủ, áp – xe, đầu đinh, viêm tai giữa, bàng quang và thận
Ampicilin là một kháng sinh tương tự Penicilin tác động vào quá
trình nhân lên của vi khuẩn, ức chế sự tổng hợp mucopeptid của thành tế bào vi khuẩn
Trang 28Để đạt được hiệu quả, Ampicilin phải thấm qua thành tế bào và gắn
với các protein Các protein gắn Ampicilin chịu trách nhiệm nhiều bước trong quá trình sinh tổng hợp của thành tế bào và có mặt trong hàng trǎm đến hàng nghìn phân tử trên một tế bào vi khuẩn Các protein gắn Ampicilin rất khác nhau giữa các chủng vi khuẩn Các kháng sinh Beta – lactam cản trở việc tổng hợp thành tế bào qua trung gian PBP, cuối cùng dẫn đến ly giải tế bào Sự ly giải diễn ra qua trung gian là các enzym tự ly giải thành tế bào vi khuẩn (ví dụ: các autolysin) kháng sinh Beta – lactam gây cản trở bằng một chất ức chế autolysin
Tính kháng với các Ampicilin có được phần lớn là nhờ sản sinh
Betalactam Để khắc phục điều này, người ta đã tạo ra một số chất ức chế Betalactamase: axit clavulanic và sulbactam Các hợp chất này cũng là các phân tử Beta – lactam nhưng bản thân chúng ít hoặc không có hoạt tính kháng khuẩn
Chúng làm bất hoạt enzym Beta – lactam bằng cách gắn vào vị trí hoạt động của enzym Trong quá trình đó, chúng bị phá huỷ ; vì vậy, chúng còn được gọi là các ức chế "tự sát" Việc bổ sung chất ức chế, như: axit Clavulanic hoặc Sulbactam, sẽ tái lập hoạt tính của Ampicilin chống lại vi sinh vật sản sinh Beta – lactamase Tuy nhiên, các cơ chế khác với sản sinh
Beta – lactam có vẻ là trung gian tạo ra tính kháng của Staphylococcus aureus
Lợn, trâu, bò: 1ml/5 – 10kg TT/ngày
Trang 292.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Bệnh phân trắng lợn con là bệnh phổ biến ở lợn con theo mẹ, nó gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng đàn lợn và gây thiệt hại không nhỏ
về kinh tế Bệnh có mặt ở mọi nơi trên thế giới, từ chăn nuôi hộ gia đình đến chăn nuôi trang trại lớn Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài về bệnh phân trắng lợn con
Theo Purvis G.M và cs (1985) [34], cho rằng: Phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn
Theo Pensaert M.B de Bouck P.A (1978) [43], Nguyên nhân chủ yếu
là do stress lạnh ẩm Khi các tác nhân stress tác động vào cơ thể dễ gây ra cơ chế bệnh lý làm mất thăng bằng, giảm khả năng thích nghi của cơ thể với điều kiện ngoại cảnh, tạo điều kiện phát sinh bệnh
Niconxki V.V (1971) [41], đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”
Theo Dor Ercherich (1857 – 1901) [46], đã phát hiện ra: vi khuẩn E
coli thuộc họ Enterrobacteriaceae là vi khuẩn có mặt thường xuyên trong
đường ruột của động vật nhưng nó cũng là một trong những tác nhân gây bệnh phân trắng lợn con
Theo Jones (1976) [40], khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện bước đầu của quá trình gây bệnh Trong quá trình liên kết đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động
Pairbrother J.M và cs (1992) [39], cho biết độc tố Enterotoxin do E
coli sinh ra Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm
trọng cho lợn con sơ sinh từ 1 – 4 ngày tuổi
Trang 30Salmon và Smith (1885) [47], đã phát hiện ra: vi khuẩn Salmonella, nó
có nhiều type khác nhau, nhiều biến chủng gây bệnh cho lợn và gia súc ở các thể khác nhau đặc biệt là lợn con bị bệnh đường tiêu hóa, trong đó phải kể đến
vai trò của Salmonella cholerae suis gây bệnh thể cấp tính
Nghiên cứu của Smith.R.A và cs (1996) [44], cho thấy: sản xuất vắc
xin E coli phòng bệnh phân trắng cho lợn tốt nhất được phân lập từ bệnh
phẩm của lợn bệnh ở tuổi dưới 14 ngày
Akita E M và cs (1993) [37], đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy ở lợn con
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, nước ta cũng có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con như:
Theo tác giả Trương Lăng (2000) [13], cho biết: Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng từ 25 – 100%, tỷ lệ chết trên 70%
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [24], thì bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân
gây bệnh chủ yếu là E coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus
Lê Văn Năm và cs (1998) [19], cho rằng: Bệnh tiêu chảy ở lợn con chủ
yếu là do trực khuẩn E coli gây ra Ngoài ra, còn một số yếu tố khác như thiết
lợn chuồng trại bẩn, sữa đầu ít, chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa không đúng kỹ thuật, bất lợi về thời tiết
Theo Trần Văn Tường, Nguyễn Quang Tuyên (2000) [35], cho rằng: Tác
nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn E coli Dựa vào cấu trúc kháng nguyên người ta xác định được vi khuẩn E coli gồm 28 type, trong đó có 8 chủng hay
gây bệnh là O55B5, O111B4, O86B5, O26B6, O127B8, O128B12, 145 và 408
Trang 31Phạm Thế Sơn và cs (2008) [22] đã nghiên cứu hệ vi khuẩn đường ruột
ở lợn khỏe và tiêu chảy cho thấy lợn cả hai trạng thái đều có 6 loại vi khuẩn
thường gặp E coli, Salmonella, Klebsiella, Staphylococcus, Bacillus,
Subtilisvaf, Chlostridium perfringens
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2001) [7], gia súc mắc hội chứng tiêu
chảy, số lượng của 3 loại vi khuẩn: Salmonella, E coli, Clostridium
perfringens tăng lên từ 2 – 10 lần so với số lượng của chúng ở gia súc khỏe
mạnh Hơn nữa tỷ lệ của các chủng mang yếu tố gây bệnh và sản sinh độc tố cũng tăng cao
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], cho rằng E coli có mặt thường xuyên
trong đường ruột của lợn Bình thường chúng không gây bệnh nhưng khi có
cơ hội sẽ nhân lên một cách nhanh chóng, tăng cường động lực, làm rối loạn
hệ vi khuẩn đường ruột và gây ra bệnh
Theo Lý Thị Liên Khai (2001) [11], đã phân lập và xác định độc tố ruột
của các chủng E coli gây bệnh tiêu chảy ở lợn Tác giả cho rằng các chủng
K88 sinh độc tố ruột LT và ST; K99 và 987P sinh độc tố ruột ST trở nên rất độc khi sức đề kháng của vật chủ giảm; gây tiêu chảy ở lợn con đang bú mẹ, phổ biến ở 1 đến 2 tuần tuổi
Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2002) [6], đã công bố: Lợn con
theo mẹ phân lập được E coli và Cl.perfringens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong đó sự có mặt của E coli luôn chiếm một tỷ lệ cao và rất phổ biến,
vi khuẩn yếm khí Cl.Perfringens chỉ được phát hiện ở gan và ruột non với một tỷ lệ khá cao Khi sử dụng các chế phẩm E coli – sữa Cl.Perfringens –
toxid trong quy trình phòng bệnh tiêu chảy lợn con, kết quả bước đầu cho
thấy có tác dụng và hiệu quả rất rõ rệt
Trịnh Quang Tuyên (2005) [34], qua nghiên cứu cho rằng: Tỷ lệ nhiễm
vi khuẩn môi sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao và liên quan đến tình
Trang 32hình dịch bệnh của đàn lợn Trong đó E coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44,1%, Staphylococcus spp 29,8% đến 38,9%, Streptococcus spp từ 24,3%
đến 41,3% Giảm xuống khi cơ sở chăn nuôi được cải tạo chuồng trại và nguồn nước cấp
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [23], đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh
của các chủng E coli gây bệnh, chọn chủng E coli để chế tạo vắc xin chết
dưới dạng cho uống Vắc xin dùng cho lợn con đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3 – 5 ngày Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con từ 30 – 35% so với đối chứng
Theo kết quả nghiên cứu của Viện thú y quốc gia cho thấy: Bệnh tiêu chảy tập chung chủ yếu ở vụ đông xuân, các lứa đều có thể mắc bệnh đặc biệt
là lợn con, bệnh mang tính lây lan nhưng không mạnh, thời gian mang bệnh chưa được xác định
Trang 33Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
- Phạm vi nghiên cứu: Bệnh phân trắng lợn con
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Tại trang trại chăn nuôi lợn nái Đặng Đức Khang xã Hướng
Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
- Thời gian: Từ ngày 25/5/2015 – 18/11/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
3.3.1.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi
3.3.1.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi
3.3.1.3 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt
3.3.1.4 Những triệu chứng và bệnh tích của lợn con khi mắc bệnh phân
trắng lợn con
3.3.1.5 Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con
3.3.1.6 Sơ bộ hạch toán chi phí thú y
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Trang 34Với mỗi ô lợn mắc bệnh, những lợn con mắc bệnh phân trắng lợn con được đánh dấu, ghi chép Số lợn theo dõi được phân làm 2 lô tương ứng với 2
phác đồ điều trị
Mỗi phác đồ điều trị sử dụng liệu trình từ 3 – 5 ngày, nếu sau 5 ngày những lợn điều trị không khỏi bệnh được thay thế thuốc khác để tránh hiện tượng kháng thuốc và đảm bảo hiệu quả kinh tế khi điều trị
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh phân trắng lợn con
2
Kháng sinh sử dung Nor – 100 Nova – Amcoli
Liều lượng 1ml/10kgTT/ngày 1ml/10kgTT/ngày
Cách sử dụng
Tiêm bắp, 1 lần/ngày, dùng liên tục trong
3 – 5 ngày
Tiêm bắp, 1 lần/ngày, dùng liên tục trong
3 – 5 ngày
3
Thuốc trợ lực MD Electrolyte MD Electrolyte
Liều lượng 5g/1lít H2O, 5g/1 kg
thức ăn
5g/1lít H2O, 5g/1 kg
thức ăn Cách sử dụng
Trộn thức ăn, nước uống dùng liên tục đến
khi khỏi
Trộn thức ăn, nước uống dùng liên tục đến khi khỏi
3.4.2 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin
Trang 35- Hàng ngày theo dõi sức khỏe đàn lợn con, phát hiện những con mắc bệnh phân trắng lợn con, quan sát triệu chứng lâm sàng trên đàn lợn con mắc bệnh, chẩn đoán, ghi chép số liệu
- Xác định bệnh tích của lợn con mắc bệnh theo phương pháp mổ khám, quan sát, ghi chép số liệu
- Xác định hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của 2 loại thuốc Nor – 100 và Nova – Amcoli bằng phương pháp phân lô thí nghiệm
∑ thời gian điều trị lần 1 (ngày)
∑ số con điều trị lần 1(con)
Tỷ lệ tái nhiễm (%) = ∑ số con tái nhiễm
∑ thời gian điều trị lần 2 (ngày)
∑ con điều trị lần 2 (con)
Trang 36Tỷ lệ khỏi bệnh (%) = ∑ số con khỏi bệnh sau 2 lần điều trị
- Các số liệu thu thập được trong quá trình theo dõi thí nghiệm được xử
lý theo phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện (2003) [28]
- Trên phần mềm Minitab 14.0 và Excel 2003
Trang 37Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
4.1.1 Công tác chăn nuôi tại cơ sở
Trong thời gian thực tập tại trại, được sự giúp đỡ của ban lãnh đạo và đội ngũ cán bộ công nhân viên trong trang trại cùng với sự cố gắng của bản
thân, chúng tôi đã thu được các kết quả sau:
4.1.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Trong quá trình thực tập tại trại, chúng tôi đã tham gia kiểm tra phát hiện lợn nái động dục, thụ tinh nhân tạo cho lợn nái, khai thác tinh dịch lợn đực giống, chăm sóc lợn nái chửa, lợn nái đẻ, tham gia đỡ đẻ cho lợn, chăm sóc và điều trị cho đàn lợn con theo mẹ đến cai sữa Trực tiếp vệ sinh, chăm sóc, theo dõi đàn lợn thí nghiệm
Quy trình chăm sóc lợn nái chửa, lợn nái đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa như sau:
* Đối với lợn nái chửa:
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng dành riêng cho lợn nái có chửa Hàng ngày vào tiến hành kiểm tra lợn bỏ ăn, lợn mắc bệnh, vệ sinh sạch
sẽ, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, cho lợn ăn thức ăn hỗn hợp, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, vệ sinh gầm, cuối giờ buổi chiều chuyển phân ra kho phân Lợn nái chửa được ăn 2 loại thức ăn hỗn hợp ký hiệu là 566SF và 567SF với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa
đẻ như sau:
Đối với lợn nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 14 sử dụng thức ăn hỗn hợp 566SF, khẩu phần 2 – 2,5 kg/con/ngày (nái gầy cho ăn tăng lên 3 kg), cho ăn 1 lần trong ngày vào buổi sáng Lợn nái hậu bị mang thai cho ăn 2 kg/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày vào buổi sáng
Trang 38Đối với lợn nái chửa từ tuần 14 đến tuần chửa 16 sử dụng thức ăn hỗn hợp 567SF, khẩu phần 2,5 – 3kg/con/ngày (tùy theo thể trạng lợn), cho ăn 1 lần trong ngày vào buổi sáng Lợn nái hậu bị mang thai từ tuần 14 – 16 sử dụng thức ăn hỗn hợp 567SF, khẩu phần 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày vào buổi sáng
* Đối với lợn nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng dành cho lợn nái đẻ trước ngày
đẻ dự kiến 5 – 7 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng dành cho lợn nái đẻ phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ, để khô Lợn chuyển lên phải được ghi đầy
đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng
Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với khẩu phần ăn 1,5 – 3 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng và chiều
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm thức ăn hỗn hợp để phân trong trực tràng không quá lớn, tạo điều kiện cho lợn nái đẻ dễ, tránh được lợn con bị chết ngạt do ở trong tử cung quá lâu Mỗi ngày giảm 0,5 kg thức ăn hỗn hợp đến ngày đẻ dự kiến còn khẩu phần ăn là 1 kg/con/ngày Đối với lợn nái quá gầy thì khẩu phần ăn là 1,5 kg/con/ngày
Khi lợn nái đẻ được 2 ngày, khẩu phần ăn tăng dần từ 2 – 5 kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng và chiều Điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp nhu cầu của lợn nái
* Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:
Lợn con sau khi đẻ 1 ngày tiến hành bấm bấm nanh, cho uống Amoxicol liều 2ml/con, cắt đuôi, tiêm sắt MD FeB12 liều 2ml/con + kháng sinh Nova – Amcoli liều 1ml/con, bấm số tai theo mã trại và tuần đẻ (Ví dụ:
3142 trong đó 31 là mã trại, 42 là tuần lợn con được đẻ ra)
Lợn con 2 – 3 ngày tuổi cho uống thuốc Totrazuril 5% liều 1ml/con hoặc DIACOXIN 5% liều 1ml/con phòng bệnh cầu trùng