Khuyến khích hoạt động cơ thể Tuổi trẻ, cũng như người lớn, cần 60 phút vận động thân thể, nhưng không nhất thiết phải tập một lần 60 phút, mà có thể chia ra làm nhiều lần trong ngày th
Trang 1404
1 Chứng Béo Phì ở Tuổi
Thiếu Niên
BS Deanna Hieu Tran
Tại Hoa kỳ, trên 97 triệu người lớn có trọng luợng cơ thể quá mức
trung bình (overweight) và cứ năm người thì có 1 người bị chứng
béo phì Hơn 15 phần trăm trẻ từ 6 tuổi đến 20 tuổi có trọng lượng
cơ thể quá mức trung bình (xin đọc thêm bài bệnh Béo Phì ở người
lớn) Chứng béo phì ở thiếu niên càng ngày càng trầm trọng và trở
nên nguy hiểm vì có thể gây chứng cao huyết áp, mất thở khi ngủ
(sleep apnea), bệnh khớp xương, bệnh gan, tim, tiểu đường cùng
những rối rắm về tình cảm và xã hội
Cân nặng và hình thái cơ thể có thể là vấn đề nhạy cảm, nhất là
đối với thiếu nữ Vấn đề xuống cân đối với tuổi trẻ không phải là
việc đơn giản Số cân thích hợp cho người này chưa phải là con số
tốt đẹp cho người khác Chương trình sụt cân phải là một cam kết
trọn đời Chế độ ăn uống theo thời (fad diet) có thể làm các bạn trẻ
mất chất sắt, chất vôi cùng những chất khoáng khác và không giải
quyết tận gốc vấn đề
Khuyến khích hoạt động cơ thể
Tuổi trẻ, cũng như người lớn, cần 60 phút vận động thân thể, nhưng
không nhất thiết phải tập một lần 60 phút, mà có thể chia ra làm
nhiều lần trong ngày (thí dụ như 6 lần, mỗi lần 10 phút)
Tham gia đội thể thao trong trường hay cộng đồng là cách tốt
nhất để vận động Dù bạn trẻ này không muốn làm lực sĩ, chúng ta
có thể khuyến khích bạn đi bộ, đạp xe đạp, chơi skate, hay đi bộ vài
vòng trên hành lang trước khi vào lớp học
Đề nghị với bạn trẻ sau giờ tan học, thay một giờ coi TV bằng
một giờ ném banh, nhảy dây, dắt chó đi dạo, bơi lội, hay hút bụi
trong nhà, rửa xe…
Ăn sáng
Thức dậy sớm để ăn sáng là một khó khăn cho nhiều bạn trẻ,
nhưng phải nhớ rằng ăn sáng rất quan trọng Một buổi ăn sáng
405
đầy đủ chất dinh dưỡng giúp cho bạn trẻ “mở máy” dễ hơn và cho đủ sinh lực để sinh hoạt trọn ngày Bạn trẻ có thể ăn ngũ cốc với nhiều chất sợi (high fiber), bánh mì nâu (còn lứt) với mứt, trứng, dao ua …
Ăn vặt lành mạnh
Thay vì mua lon nước ngọt và gói khoai tây chiên ở máy bán bánh nước, bạn trẻ có thể mang theo những thức ăn vặt lành mạnh từ nhà như:
1 Trái cây: cam, chuối, táo, dâu tây…
2 Củ cải đỏ nhỏ
3 Dao ua ít chất béo
4 Bánh lạt
5 Phô mai
6 Ngũ cốc còn lứt
7 Nho, mơ khô
8 Bắp rang lạt, không bơ
Canh chừng kích thước phần ăn
20 năm trước đây, một khẩu phần bán tại quán ăn “ba lẹ” là một cái burger nhỏ, một nhúm khoai chiên và một ly nhỏ nước ngọt (độ một xị) Ngày nay, khẩu phần tại các quán này hơn gấp 2 hay hơn nữa
Làm sao bạn có thể kiểm soát khẩu phần ăn, nhất là khi đi ăn ngoài?
1 Bỏ lại 1/3 hay phân nửa dĩa ăn
2 Đừng nghĩ rằng nếu bạn không ăn bánh mì, bạn có thể ăn bù nhiều thịt
3 Giảm bớt ăn cái gì hay cái nấy, như bớt chất dressing vào dĩa rau của bạn Làm như vậy bạn có thể sụt 10 cân trong một năm
4 Thay đổi chế độ ăn sao cho có tác dụng lâu dài
5 Nếu bạn cần phải ăn nhiều thì thêm rau, trái, đậu vào dĩa
6 Kích thước một bộ bài tây bằng lối 3 lạng thịt, kích thước bằng quả banh baseball bằng một chén Nhớ những hình ảnh này giúp bạn giúp bạn kiêng khem dễ hơn
7 Đừng để một thời kỳ thiếu thốn đưa bạn đến giai đoạn ăn thả giàn Với một phần ăn nhỏ, bạn có thể chất nhiều rau vào dĩa của bạn
8 Bạn có thể ngạc nhiên là bạn ăn nhiều tinh bột
Trang 29 Đọc nhãn dán trên thức ăn, bạn sẽ học và biết số calori, số
lượng chất dinh dưỡng bạn ăn
10 Coi chừng những phần ăn giá đặc biệt, có thể lợi cho cái
bóp (tiền), nhưng không tốt cho cái bụng (sẽ bự ra.)
Nước Ngọt
Một lon nước ngọt (12 oz, hơn 1/3 lít) có 150 calori và 10 muỗng
đường Rồi đường trong nước trái cây, cà phê cộng thêm vào Nên
uống nước lã thì hơn
Hướng dẫn ẩm thực
1 Số lượng calori trong khẩu phần ăn rất quan trọng để tăng
trưởng và phát triển đến trọng lượng cơ thể như ý
2 Ăn thức ăn có ít chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa,
cholesterol, muối và đường
3 Giữ tổng số lượng chất béo 30-35% calori ở trẻ 2-3 tuổi,
25-35% ở thiếu nhi Nên dùng chất béo từ cá, hạt và dầu thảo mộc
vì chất béo này không bão hòa
4 Chọn thức ăn khác nhau để có đủ tinh bột, chất đạm và các chất
dinh dưỡng
5 Ăn vừa đủ cho sức khỏe của mình, đủ cho cân nặng, chiều cao
và thể chất Tập thể dục ít nhất 60 phút mỗi ngày
6 Ăn bánh mì hay cơm gạo lứt Tìm chữ “whole grain” mà mua
7 Ăn các loại trái cây khác nhau mỗi ngày, giới hạn nước trái cây
Bữa ăn nên có rau trái 2 cups trái cây và 3 cups rau mỗi ngày
cho tuổi “teen”
8 Nên ăn cá vào buổi ăn chánh Tránh cá chiên
9 Uống sữa ít chất béo: 2-3 cups mỗi ngày
10 Đừng ăn quá nhiều Trẻ 1 tuổi cần 900 calori Từ 14-18 tuổi,
con gái cần 1800 calori, con trai cần 2200 calori
2 Cách Cho Trẻ Em Ăn Từ Lúc Mới Sanh Đến MộT Tuổi
BS Phi-Yến Nguyễn Tương
Lúc Mới Sanh
Cho bú sữa mẹ hoặc bú sữa bình (như Enfamil Lipil/ Similac hoặc Nestlé Carnation)
Để em bé sơ sanh có thể xuất viện 24 đến 48 tiếng sau khi sanh, em
bé cần uống một số lượng sữa tối thiểu tương đương với 80 ml/kg/mỗi ngày Thí dụ:
Em bé cân 3 kgs hoặc 3000 gms 80ml x 3kg = 240 ml một ngày Chia 240 ml cho 8 bữa ăn: 240/8 = 30 ml cho mỗi bữa ăn Khoảng 3 tiếng cho ăn một lần
Như vậy nhìn cân lượng của bé bằng GRAMS (3000gms): lấy 2 số đầu (30), đó là số ml tối thiểu em bé cần ăn mỗi 3 tiếng để em bé có thể thở, tiêu và tiểu …trong 24-30 tiếng đầu tiên của cuộc đời Nếu em bé không uống được 80ml/kg/mỗi ngày thì không nên xuất viện
Mỗi ngày sau đó cần cộng thêm 20 ml/kg mỗi ngày thí dụ
24 tiếng đầu: 80ml/kg/mỗi ngày ngày thứ 2: 100ml/kg/mỗi ngày ngày thứ 3: 120 ml/kg/mỗi ngày
Em bé bắt đầu lên cân lúc bé uống 150-180 ml/kg/mỗi ngày
Từ lúc mới sanh đến khi em bé được 4 tháng không nên cho ăn một thứ nào khác, ngoài sữa
Trang 3408
4 tháng
Hàn Lâm Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics
khuyên nên bắt đầu cho em bé ăn rau, trái cây, cereals vào lúc 6
tháng nhưng phải bắt đầu từng thứ một
Như vậy, để cha mẹ và em bé có thì giờ thử và ăn mỗi thức ăn, quý
vị có thể từ từ bắt đầu cho em bé ăn RAU lúc em bé đã được 4 tháng
(bắt đầu qua tháng thứ năm)
Rau
Những thứ rau này không thay thế một bữa sữa Nên cho ăn thử rau
giữa 2 bữa sữa Nói chung, các em bé không thích ăn thức ăn, nên
bé sẽ nhổ thức ăn ra liên tục đến 20 lần Nhổ thì bình thường chứ ói
thì không bình thường Nếu bé ói, phải ngừng thức ăn đó ngay đến
khi cha mẹ có dịp nói chuyện với bác sĩ Có thể mua rau trong hũ
nhỏ (3oz) hiệu Gerber
Chỉ cần chú tâm vào 4 thứ rau: như đậu que xanh (green bean), đậu
pea, cà rốt và khoai lang Bắt đầu bằng những thứ rau xanh và tiến
đến những thứ ngọt hơn Nếu làm ngược lại, em bé không thích
hoặc không chịu ăn rau xanh
Lúc nào bắt đầu một thức ăn mới, nên
Cho ăn vào buổi sáng và ngày thường để nếu bị ói, dễ liên lạc
với bác sĩ
Mỗi hũ thức ăn, chỉ dùng trong ngày, sau đó phải bỏ
Không pha lẫn một thức ăn mới với bất cứ thức ăn nào khác,
như vậy lúc em bé ói, mẹ biết ngay thức nào làm bé ói
Mỗi thức ăn mới phải thử ít nhất 3 đến 5 ngày
Trái cây
Trong năm đầu, tất cả các trái cây phải được nấu Có thể dùng trái
cây nấu sẵn trong hũ hiệu Gerber Bắt đầu bằng những trái như
chuối, trái táo (apple sauce) rồi từ từ tiến đến trái đào v.v…
Lúc nào bắt đầu một thức ăn mới, nên:
Cho ăn vào buổi sáng và ngày thường, nếu bị ói, dễ liên lạc với
bác sĩ
Mỗi hũ thức ăn, chỉ dùng trong ngày sau đó phải bỏ
Không pha lẫn một thức ăn mới với bất cứ thức ăn nào khác,
như vậy lúc em bé ói, mẹ biết ngay thức nào làm bé ói
Mỗi thức ăn mới phải thử ít nhất 3 đến 5 ngày
409
6 tháng
Nước trái cây Khi em bé tới 6 tháng cho uống thêm nước táo Trong các nước trái cây nên dùng nước táo từ 6 đến 12 tháng
Nước táo pha với phân nửa nước: cho uống một ngày 4 oz chia
ra làm 2 lần
Sau vài ngày, không có vấn đề, nếu muốn cho bé uống nước táo nguyên chất cũng được, tổng cộng một ngày 4oz Uống nhiều hơn có thể bị tiêu chẩy
Từ 6 tháng đến 1 tuổi, cho uống nhiều nhất 4 oz nước trái cây mỗi ngày
Uống nhiều nước trái cây sẽ làm trẻ em mập hoặc gầy và lùn
Bột gạo (Rice cereal):
Từ 6 đến 12 tháng chỉ được ăn bột gạo mà thôi
Không cho ăn những thứ bột khác như oat, wheat v.v…
Pha vài muỗng cà phê bột gạo với sữa cho bú bình hoặc pha
bột với vài muỗng cà phê sữa
Có thể đút bé ăn bằng thìa lúc nào cổ bé vững chắc, thẳng đứng
7 tháng
Bắt đầu cho ăn thịt Chỉ một thứ thịt, không pha lẫn với rau, quả hay những thịt khác trong 5-7 ngày
Một khi bé ăn được một thứ thịt mà không bị vấn đề trong 5-7 ngày thì có thể mua thứ thịt này trộn với rau như cà rốt, khoai lang v.v… Thịt trong hũ thường nhạt nhẽo, ít mùi vị không hợp khẩu vị các em
Đến 9 tháng
Có thể cho bé ăn thịt và rau quả, thứ lổn nhổn to bản hơn (giai đoạn 2) và cứ từ từ tiến đến giai đọan 3 lúc em bé được 10-11 tháng
Trang 4Một tuổi
Chuyển từ sữa bầu (formula) qua sữa bò (whole milk hay 2%) tùy
theo bé mập tròn hay trung bình: mập thì cho sữa 2%, gầy hay trung
bình thì cho whole milk
Không nên trộn whole milk hoặc 2% milk với formula vì có thể gây
chứng tiêu chẩy
Nếu còn vài hộp/lon formula nên cho bé bú hết rồi sẽ chuyển sang
whole hoặc 2% milk Nên cho bú 24 oz sữa mỗi ngày còn để cho em
bé ăn thức ăn
Cho bé một tuổi trở lên cho ăn thức ăn bình thường của người lớn
(table food) Chọn các thức mềm, cắt nhỏ cho dễ nhai
Sinh tố (Vitamins)
Nếu bú sữa mẹ, kể cả những trường hợp có bú thêm sữa bò, em bé
cần uống thêm vitamin D Vit D có bán ở các tiệm như Wal Mart,
Walgreens, Publix v.v…
Polyvisol hay Trivisol hay D Visol 1 ml mỗi ngày đến lúc em bé bú
sữa bò 1 quart (~ 1 lít) mỗi ngày thì ngừng Vit D
Nên lựa Polyvisol vì là multivitamins và cùng giá với D Visol hoặc
Trivisol
Nếu tiếp tục bú sữa mẹ, lúc 4 tháng phải mua loại vitamin D có chất
sắt (Iron) Cho bé uống “Polyvisol with Iron” 1ml mỗi ngày đến lúc
em bé bú 1 quart sữa bò mỗi ngày Các thứ sữa bán ở tiệm như
Enfamil, Similac, Nestlé v.v… hoặc sữa đậu nành soy formula như
Prosobee hoặc Isomil đã có vitamin D và Sắt
3 Chứng Hăm ở Trẻ Em
Bác sĩ Deanna Hiếu Trần
Quá nửa số trẻ em từ 4-15 tháng bị hăm ít nhất hai tháng một lần
Nguyên nhân
1 Da bị ẩm ướt quá
2 Da bị chà sát
3 Da bị dính nước tiểu hay phân thời gian lâu
4 Da bị nhiễm nấm
5 Da bị nhiễm trùng
6 Da bị dị ứng với tã lót
Chứng Hăm xẩy ra thường hơn khi
1 Trẻ em ở tuổi từ 8 tới 10 tháng
2 Da không được giữ sạch và khô
3 Đi cầu nhiều lần, nhất là khi phân giữ lại trong tã thâu đêm
4 Đi cầu chẩy
5 Khi bắt đầu ăn đồ ăn đặc
6 Uống thuốc trụ sinh, hoặc bú sữa của mẹ đang uống trụ sinh
Khi nào cần tới Bác sĩ Nhi khoa
1 Chứng Hăm không bớt hoặc trở nên nặng hơn sau 2-3 ngày chữa trị
2 Có mụn nước hoặc mụn mủ nổi lên
3 Em nhỏ đang uống thuốc trụ sinh, nổi hăm đỏ với những mụn đỏ ở ngoại biên
4 Đồng thời với chứng hăm, em nhỏ bị sốt
5 Đau nhiều ở những nơi bị hăm
Chữa trị
1 Nhẹ nhàng lau vùng quấn tã bằng mảnh vải mềm nhúng nước
a Có thể dùng loại khăn lau “chỉ dùng một lần”
b Tránh dùng khăn có thấm rượu hay nước thơm
c Chỉ dùng sà bông khi cần, để rửa sạch phân
Trang 5412
d Nếu chỗ bị hăm đau nhiều, dùng một bình sịt nước
để rửa, để khỏi phải kỳ cọ
2 THẤM KHÔ, Không CHÙI Để cho chỗ đau hoàn toàn khô
3 Thoa một lớp dầy loại kem có oxit kẽm hay petroleum jelly
Những loại kem này thường đặc quánh và không cần phải
rửa sạch hết khi thay tã
4 Đừng quấn tã quá chật, nhất là qua đêm Quấn tã lỏng để
tránh phân và nước tiểu cọ sát vào da
413
4 Chứng Đái Dầm ở Trẻ Em
BS Trần Chính Trực
Dẫn nhập
Chứng đái dầm ở trẻ em rất thường thấy Đến nay chúng ta vẫn chưa biết rõ nguyên do chính nào gây ra chứng đái dầm Có rất nhiều yếu
tố tạo ra chứng đái dầm, có thể về tâm lý hay về thể lý hay có thể cả hai
1 Tỉ lệ: Tại Hoa kỳ, có từ 5 đến 7 triệu trẻ em bị chứng đái dầm Thông thường thì 75% trẻ em ở tuổi 3 đến 4 đã tự kiểm soát được vấn đề đi tiểu cả đêm lẫn ngày.Tỉ lệ đái dầm giảm đi vào khoảng 15% cho mỗi năm tuổi do đó các em 5-6 tuổi, vẫn còn độ 10% đến 15% và đến tuổi 15 vẫn còn độ 1% trẻ em bị đái dầm về đêm
2 Trẻ em trai thường bị nhiều hơn trẻ em gái
3 Yếu tố gia truyền đóng một vai trò khá quan trọng trong chứng đái dầm: nếu chỉ có cha hoặc mẹ bị đái dầm thì 44% con cái sẽ bị cùng triệu chứng Nếu cả hai cha mẹ đều bị thì 77% con cái sẽ bị
4 Ngủ say (deep sleep) không phải là lý do của đái dầm, nhưng các trẻ bị chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường hô hấp (obstructive sleep apnea) thường hay bị chứng đái dầm và chứng đái dầm sẽ giảm đi rất nhiều sau khi các cục thịt dư (tonsil) và adenoids được cắt bỏ đi
5 Các yếu tố về tâm lý (psychological factors) cho thấy 30% các trẻ
bị chứng ADHD (attention deficit/hyperactive disorder) bị chứng đái dầm nhiều hơn các trẻ bình thường
Phân loại
Đái dầm có thể phân ra làm đái dầm đêm hay đái dầm ngày và đái dầm tiên khởi hay thứ yếu Các bậc cha mẹ thường quan tâm nhiều hơn về chứng đái dầm đêm
1 Chứng đái dầm tiên khởi (Primary nocturnal enuresis): trẻ em đêm nào cũng bị “ướt”, liên tiếp trong vòng 6 tháng
2 Chứng đái dầm thứ yếu (Secondary enuresis): trẻ em ít nhất 6 tháng sau thời kỳ “khô” nay bắt đầu “ướt“ mỗi đêm Đối với các
em này, yếu tố tâm lý là yếu tố chính gây ra chứng đái dầm
Trang 6Nguyên nhân
1 Chậm phát triển (developmental delay): do sự chậm trễ trong
việc phát triển, bọng đái của các em này chưa đủ “trưởng thành”
nên không thể giữ nước tiểu nhiều và lâu được
2 Yếu tố tâm lý (psychogenic factors) :
a) Vấn đề tập luyện về vệ sinh (toilet training): vấn đề tập luyện
không đúng lúc, hay không đúng cách, thường vì cha mẹ quá
cứng rắn hay không đủ kiên trì trong lúc tập luyện
b) Emotional stress: nhiều trường hợp như cha mẹ ly dị, có
người thân trong gia đình qua đời, hay có sự ra đời của một
em bé mới trong nhà, đã ảnh hưởng rất nhiều đến vấn đề
kiểm soát bọng đái hay kiểm soát sự đi tiểu của các em này
c) Rối loạn tâm lý (psychological disturbances)
3 Các bất thường về thể lý :
a) Tắc nghẽn (obstruction) biện mạc niệu đạo (urethral valves),
niệu đạo nằm sai chỗ (ectopic ureters), niệu đạo bị teo lại
(urethral stricture), hẹp bao quy đầu (phimosis),
b) Các rối loạn về thần kinh (neurogenic disorders): thoái vị
tủy-màng tủy (myelomeningocele)
Xương cùng không phát triển (sacral agenesis), động kinh
(seizures), chấn thương tủy sống (spinal cord injuries), bướu
cột tủy sống (spinal cord tumors),
c) Nhiễm trùng: nhiễm trùng đường tiểu (UTI), viêm tủy xương
cột sống (osteomyelitis of vertebral body)
d) Tiểu đường/đái tháo đường (diabetes mellitus), đái tháo nhạt
(diabetes insipidus),
4 Dị ứng (allergies), phì mập (obesity) cũng có thể làm cho trẻ em
đái dầm
Chữa trị
Tuỳ theo nguyên nhân, chữa trị chứng đái dầm bao gồm hai phần:
thay đổi các tập tục cũ (behavioral) và trị liệu y khoa
1 Ngưng uống các dung chất (fluid) ít nhất 2 giờ trước khi đi ngủ
Không cho uống sữa 4 giờ trước khi đi ngủ và đi tiểu trước khi
lên giường ngủ
2 Các máy báo động (bedwetting alarm system): các máy này rất
hữu hiệu (60% đến 70%) trong việc điều trị chứng đái dầm
nhưng cũng là phương pháp khó thực hiện nhất Các máy này
phải dùng mỗi đêm và phải dùng ít nhất là 3 đến 4 tháng mới
thấy hiệu quả và đòi hỏi sự trợ giúp của cha mẹ
3 Dược liệu: dược liệu chỉ là phương pháp giúp trị (treat) chứ không chữa (cure) chứng đái dầm trong khi chờ cho chứng này giảm đi một cách tự nhiên (natural resolution)
Desmopressin : thuốc viên uống hay thuốc xịt mũi (nhiều
biến chứng hơn), hiệu nghiệm trong vòng 1 giờ và hết hiệu nghiệm sau 9 giờ do đó phải dùng mỗi đêm
Anticholiergic agents: tốt cho các em bị đái dầm đêm lẫn
ngày Nếu dùng chung với desmopressin thì hiệu quả hơn
Imipramine: hiệu nghiệm nhưng rất nguy hiểm nếu dùng quá
liều: loạn nhịp tim (cardiac arrhythmias), động kinh, huyết áp sụt (hypotension) hay hôn mê (coma)
Trang 7416
5 Cơn Phẫn Nộ ở Trẻ Em
(Temper Tantrums)
Deanna Tran, DO, MPH
Trẻ em khó giữ được ở trong lòng những xúc động mạnh Khi cảm
thấy bị thất bại, bực bội, hay thất vọng, trẻ em thường phản ứng
bằng cách kêu, khóc, hoặc dậm chân Sự phẫn nộ này là bình
thường trong phần phát triển của trẻ em trong khi các em tập tính tự
chủ Phần lớn các em có tính phẫn nộ trong khoảng từ 1 tới 3 tuổi
Rất may là tới 4 tuổi phần lớn tính phẫn nộ chấm dứt
Trẻ em luôn bận bịu, học hỏi nhiều điều từ thế giới xung quanh và
muốn tự lập Các em muốn được tự chủ và có thể thử làm những
việc quá khả năng của mình Trẻ em muốn được tự mình chọn lựa
và thường phản ứng không hay nếu không được như ý Kiềm chế
được tính phẫn nộ của các em là một trong những bài học khó khăn
Vì sao trẻ em có tính phẫn nộ?
Phẫn nộ là một cách để trẻ em giải tỏa bực bội Một số lý do làm
cho các em phẫn nộ là:
1 Không hiểu khi người lớn nói gì hoặc hỏi gì
2 Bực bội khi người khác không hiểu các em nói gì
3 Không đủ chữ để tự diễn tả điều mình muốn nói
4 Chưa học để tự giải quyết khó khăn và đễ bị thất vọng
5 Có thể bị bệnh hoặc có vấn đề về cơ thể khiến trẻ em không tự
diễn tả được
6 Có thể trẻ em đói, mệt hay thiếu ngủ, lo lắng hoặc không thoải
mái trong người
7 Ganh tị với bạn hoặc với anh chị em, muốn mình được mọi
người chú ý tới
Làm sao để tránh phẫn nộ của trẻ em?
Đôi khi ta có thể đoán cơn phẫn nộ sắp xẩy ra Em nhỏ có thể buồn
rầu, càu nhàu, gắt gỏng, rền rĩ, rồi cuối cùng bắt đầu khóc, la hét, đá,
lăn ra đất hay nín thở
417
Đừng ngạc nhiên thấy trẻ em chỉ nổi cơn phẫn nộ khi có mặt cha
mẹ Nhiều trẻ em không tỏ thái độ trước mặt người lạ Chúng cảm thấy yên tâm hơn khi tỏ thái độ với những người chúng tin cậy Ta không thể phòng ngừa hết những cơn phẫn nộ của trẻ em nhưng có thể làm giảm bớt bằng những cách sau đây:
1 Khuyến khích trẻ em dùng những danh từ để diễn tả cảm nghĩ của mình và cố gắng tìm hiểu khi các em diễn tả
2 Định một giới hạn hợp lý và đừng mong đợi các em hoàn hảo Nêu những lý lẽ giản dị cho những nguyên tắc mình đặt ra, và Đừng thay đổi nguyên tắc
3 Giữ sinh hoạt đều hằng ngày
4 Tránh những tình huống làm cho trẻ em nản lòng, thí dụ như chơi với trẻ em khác hoặc chơi những đồ chơi vượt quá khả
năng của mình
5 Tránh những cuộc đi chơi hoặc thăm viếng dài mà trẻ em phải
ngồi yên, không được chơi đùa trong thời gian dài Mang theo
sách hoặc đồ chơi mà các em ưa thích để giúp vui cho các em
6 Sẵn sàng có đồ ăn vặt lành mạnh khi các em đói bụng
7 Cho các em nghỉ ngơi đầy đủ, nhất là trước một ngày bận bịu, hoặc có những hoạt động căng thẳng
8 Tránh cho trẻ em những hoạt động có thể đưa tới “cơn phẫn nộ”
9 Hãy chọn lựa câu trả lời “không” Nếu ta trả lời không cho tất
cả những điều trẻ em xin hay đòi hỏi, các em sẽ thất vọng Hãy nghe kỹ những điều các em đòi hỏi Với một đòi hỏi không quá
vô lý hoặc không quá bất tiện, ta nên trả lời “được”
10 Cho trẻ em chọn lựa khi nào có thể được Nếu em nhỏ không
chịu đi tắm, cho em biết là em sẽ phải đi tắm, nhưng em có thể
có một quyết định nho nhỏ Thí dụ ta sẽ nói: “Tới giờ đi tắm rồi
Bây giờ con muốn đi vào nhà tắm, hay muốn mẹ bồng vào?”
11 Làm gương tốt cho các em Tránh cãi lộn hoặc la lối trước mặt trẻ em
Phải làm gì khi trẻ em nổi cơn phẫn nộ?
1 Làm cho trẻ em chú ý tới chuyện khác, thí dụ một trò chơi mới, sách hay đồ chơi Đôi khi, chỉ cần vuốt ve hay vỗ về, em nhỏ sẽ bình tĩnh lại
2 Ta phải giữ bình tĩnh Nếu la lối hay tức giận, ta sẽ làm cho tình trạng xấu hơn Nên nhớ là ta càng chú ý tới tình trạng này thì nó càng dễ tái diễn
3 Nếu chỉ phẫn nộ nhẹ như la, khóc, đá, ta có thể lờ đi Cũng có thể đứng gần đó, hoặc bế trẻ lên, mà không nói gì, cho tới khi
Trang 8trẻ bình tĩnh lại Nếu người lớn không thể giữ bình tĩnh được thì
nên rời khỏi phòng
4 Có những cơn phẫn nộ của trẻ em mà chúng ta không thể lờ đi
được, thí dụ như:
Đánh, đá cha mẹ hay những người xung quanh
Ném đồ đạc, gây nguy hiểm
Kêu gào thật lâu
Những thái độ này không thể chấp nhận được và cần phải có
“time-out” (một hình phạt nhẹ như bắt trẻ em ngưng chơi, đứng yên một
chỗ, hay quay mặt vào tường), để đưa trẻ ra khỏi cơn phẫn nộ Với
trẻ em đã đủ khôn lớn để hiểu, theo kinh nghiệm thì nên áp dụng 1
phút “time out” cho mỗi năm tuổi của trẻ em
6 Màu Sắc Của Nước Tiểu
BS Trần Chính Trực
Nước tiểu thường trong, có màu vàng nhạt hay màu hổ phách (amber) Các đồ ăn, lượng nước uống và thuốc men có ảnh hưởng rất nhiều đến màu sắc của nước tiểu Ngoài ra các chất phẩm (dye) trong thực phẩm cũng như một số bệnh tật cũng làm nước tiểu biến sắc
I Nước tiểu màu đỏ
A Heme:
1 Chứng tiểu ra máu (hematuria)
2 Hemoglobinuria : một số bệnh trong đó có sự hoại huyết xảy ra trong các mạch máu mà hậu quả là nước tiểu có màu hồng hay màu đỏ rượu chát
B Myoglobinuria:
Đây là trường hợp các bắp thịt bị hoại tử (necrosis) như bị chấn thương,, chứng huyết đọng
(ischemia), tập luyện quá độ (intense exercise) hay tiêu thụ quá nhiều alcohol hay thuốc có chất barbiturates Người bị chứng này thường thấy các bắp thịt bị yếu, đau và xưng phù
C Urate crystals:
Thường thấy ở các trẻ sơ sinh, nhưng cũng có thể xảy ra trong trường hợp nước tiểu mẫu để quá lâu trong tủ lạnh
D Các sắc tố trong thực phẩm:
1 Củ cải tía (beets) : 10% những người ăn củ cải tía sẽ có nước tiểu màu đỏ Tỉ lệ này sẽ tăng lên nếu các trẻ lại bị thiếu máu vì thiếu chất sắt (iron deficiency anemia)
2 Black berries: thường chứa chất antocyanine gây ra nước tiểu đỏ
E Chất phẩm (dyes):
Thường thấy trong kẹo (aniline), nước uống hay phẩm màu trong đồ ăn (rhodamine B, congo red, )
F Thuốc:
Các thuốc như Pyrvinium pamoate, phenothiazine, desferal, methyldopa (aldomet) làm nước tiểu có màu đỏ
Trang 9420
G Ngoài ra còn một số trường hợp khác như porphyrins, biliuria
(nước tiểu có màu hồng pha lẫn màu vàng của mật) cũng có
nước tiểu có màu đỏ hay hồng
II Nước tiểu màu xanh lá cây (green)
A Chất phẩm trong thực phẩm: nhất là các thực phẩm có chứa
chất chlorophyll
B Biliverdin: là một thành phần của mật đã không được hấp thụ
trọn vẹn như trong trường hợp bị bệnh vàng da do sự tắc nghẽn
ống dẫn mật kinh niên,
C Thuốc:
Các thuốc như Elavil (amitryptylin hydrochloride) , Robaxin
(methocarbamol)
Phenol, resorcinol, methylene blue
D Nhiễm trùng :nhiễm trùng do Pseudomonas
III Nước tiểu màu xanh nước biển/ xanh dương (blue)
Methylene blue là chất thông thường nhất gây ra nước tiểu có màu
xanh dương
Blue diaper syndrome: trong trường hợp sự hấp thụ chất tryptophan
bị khuyết , chất phẩm Indigotin trong tã sẽ làm cho tã (diaper) có
màu xanh dương
IV Nước tiểu có màu nâu đậm hay đen
A Chứng tiểu ra máu (hematuria): sự thoái hư của hemoglobin sẽ
làm cho nước tiểu có màu như coca-cola
B Thuốc:
Flagyl (metronidazol), Nitrofurantoins, Robaxin
(methocarbamol), Quinine, Phenacetin, là những thuốc có thể
làm cho nước tiểu có màu nâu đậm hay đen
C Chất phẩm chứa chất aniline trong kẹo
Các chất chứa nitrate, naphthol, phenols,cascara,carotene,
vitamine B complex
V Nước tiểu màu vàng (yellow)
Thấy trong bệnh vàng da (jaundice) hay trong trường hợp dung
riboflavin, piric acid
421
VI Nước tiểu màu cam (orange)
Trong trường hợp dùng sulfisoxazole-phenazopyridine, pyridium, rifampin (trong việc chữa lao)
VII Nước tiểu trắng đục như sữa (milky white)
Do mủ (pus) , dưỡng trấp (chyle) hay phosphate crystals
VIII Nước tiểu màu tím (purple)
Do chất phenolphthalein
Tóm lại, màu sắc của nước tiểu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: lượng nước uống, thuốc men, thực phẩm, tập luyện cũng như các bệnh tật hay bệnh tật bẩm sinh
Trang 107 Mất Ngủ, Khó Ngủ
ở Trẻ Em
BS Trần Chính Trực
Có khoảng từ 10% đến 15% các bậc cha mẹ than phiền là con cái
của mình bị trở ngại hay khó khăn khi đi ngủ
Giấc ngủ và thời gian ngủ ở trẻ em rất khó ước lượng vì nó không
có giờ giấc nhất định nhưng một điều gần như chắc chắn là các trẻ
em ngày nay đã không ngủ đủ số giờ cần thiết cho sức khỏe của
chúng:
các em ấu nhi (toddlers) đáng lẽ phải ngủ từ 12 đến 14 giờ một
ngày thì thống kê cho thấy các bé này trung bình chỉ ngủ có
11.7 giờ,
các em thiếu nhi (pre-schoolers) chỉ ngủ 10.4 trên số 11-13 giờ,
và
các em lớn hơn (school-age) chỉ ngủ có 9.5 trên số giờ 10-11
Còn các em lớn hơn thì vấn đề ngủ không đủ càng gia tăng
Nếu vậy thì lý do nào đưa đến việc “khó ngủ” ở trẻ em? Có rất
nhiều lý do gây ra chứng khó ngủ ở trẻ em, nhất là ở trẻ em khỏe
mạnh
Thông thường nhất là do sự “sai lầm” hoặc từ cha mẹ hoặc từ
đứa trẻ trong việc sửa soạn cho giấc ngủ: thức quá khuya, môi
trường xung quanh không yên tĩnh, ăn uống trước khi ngủ
Thuốc men và bệnh tật (suyễn, động kinh, ngứa, đau nhức)
cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ của đứa trẻ
Ngoài ra còn một số trường hợp như:
o chứng kinh hãi ban đêm (night terror),
o chứng mộng du (sleep-walking),
o chứng ác mộng (nightmare),
o chứng ngừng thở trong khi ngủ (sleep apnea),
o chứng không tập trung hay quá năng động (attention
deficit/hyperactive disorder – ADHD),
o chứng phát triển chậm (developmental delays) cũng làm cho
Việc nhận định chứng khó ngủ ở trẻ em thường không khó khăn lắm Đa số chứng mất ngủ, khó ngủ hay ngủ không yên giấc đều từ những “lỗi lầm” (behavior issues) từ cha mẹ như cứ phải ru bồng,
ôm ấp đứa trẻ trước khi ngủ hay từ đứa trẻ “đòi hỏi” phải có chỗ ngủ, giờ giấc ngủ theo ý mình hay đòi ăn đêm, hay vì bất cứ một lý
do nào đó như sợ bóng đêm, sợ ma,
Như vậy thì giải quyết vấn đề khó ngủ ra sao?
Thuốc men hầu như không được dùng để giải quyết chứng khó ngủ ở trẻ em, vì sự hiệu quả cũng như sự an toàn của chúng,
ngoại trừ nếu chứng này gây ra bởi bệnh tật như suyễn, chứng
ợ chua (GE reflux), hay một số bệnh về tâm thần hay các bệnh kinh niên
Bốn điều đề nghị dưới đây cho việc đem lại cho các em giấc ngủ tốt (Good sleep hygiene):
1 Đây là vấn đề mà TOÀN gia đình phải chung nhau giải quyết: cha mẹ và các thành viên trong gia đình phải biết về sự quan trọng của giấc ngủ và số giờ ngủ mà đứa trẻ cần
2 Tập cho đứa trẻ một thói quen:
Sửa soạn giấc ngủ bằng cách đọc truyện, kể chuyện trước khi trẻ đi ngủ Tạo một môi trường yên tĩnh và phải giữ cho đúng giờ
Ngưng tất cả các phương tiện giải trí như TV, video games, điện thoại, máy vi tính (computer), Tốt nhất là đừng bao giờ
để computer, nhất là TV trong phòng của đứa trẻ vì thống kê cho thấy là 30-40% trẻ sẽ bị thiếu ngủ với TV ở trong phòng ngủ
Tuyệt đối không ăn hay uống những gì có chứa caffeine 70% trẻ sẽ ngủ ít hơn nếu uống dung dịch chứa chất caffeine
Đứa trẻ vào giường trong lúc còn thức: không bao giờ bế, ru ngủ rồi đặt vào giường Nếu trẻ còn quá nhỏ, cha mẹ đặt các
em vào nôi hay vào giường lúc các em hãy còn thức, đứng cạnh nôi hay giường của các em một lúc đến khi các em thiu thiu ngủ rồi hãy đi ra Chớ nên bồng các em giữa đêm nếu các
em khóc, ngoại trừ khi các em bị “dơ”, chỉ cần vào xoa đầu và trấn an các em mà thôi
Không bao giờ ngủ chung với đứa trẻ hay để trẻ ngủ cùng giường với cha mẹ hay với anh em