1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Y học thường thức Sản phụ khoa

14 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 366,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Trong trường hợp người bệnh không muốn thụ thai: dùng thuốc ngừa thai để tái lập kinh nguyệt và ngừa chứng loãng xương.. Nếu thụ tinh không xảy ra, lượng estrogen và progesterone giảm

Trang 1

1 Rối Loạn Kinh Nguyệt,

Thiểu Kinh, Vô Kinh

BS Nguyễn Quyền Tài

Kinh nguyệt là hiện tượng chảy máu ở tử cung hằng tháng ở người

nữ, bắt đầu từ tuổi dậy thì Kinh nguyệt được điều hòa bởi hệ thống

nội tiết tố, gồm có não bộ, tuyến yên và buồng trứng Khi hệ thống

này bị xáo trộn, lượng các kích thích tố thay đổi bất thường, khiến

cho kinh nguyệt không đều, ít đi (thiểu kinh) và có khi mất hẳn (vô

kinh) Những rối loạn kinh nguyệt

 ảnh hưởng đến khả năng sinh sản,

 gây tình trạng loãng xương, khiến cho xương dễ gẫy (đặc biệt

xương cổ tay và xương háng),

 và có thể là biểu hiệu của những chứng bệnh trầm trọng

Tuổi bắt đầu có kinh nguyệt là khoảng 12-16 tuổi Các chu kỳ kinh

nguyệt lúc ban đầu có thể không đều, nhưng sau đó xảy ra đều đặn

và thường dài khoảng 28 ngày Khi

 chu kì kéo dài quá 35 ngày,

 hoặc không có kinh trong nhiều tháng liên tiếp,

 hoặc kinh nguyệt không xảy đến khi đã đến tuổi 16 (vô kinh từ

đầu), nguyên nhân cần được xác định và điều trị đúng mức

Kinh nguyệt cần được xem như là một biểu hiệu trọng yếu, tương

đương với Huyết Áp, trong việc khám nghiệm tình trạng sức khoẻ

của người đàn bà

Nguyên nhân

1 Thụ thai: thụ thai là nguyên nhân thường nhất gây vô kinh

2 Vấn đề cấu trúc ở tử cung hay âm đạo gây nghẽn đường thông

thương ra ngoài âm hộ (như trường hợp màng trinh không có lỗ,

tử cung hay âm đạo không phát triển, v.v.)

3 Rối loạn buồng trứng: do

 Ảnh hưởng của Xạ trị hay Hóa trị

 Viêm buồng trứng

 Bệnh Đa Nang Buồng Trứng

4 Rối loạn ở tuyến yên:

 U bướu ở tuyến yên

 Chảy máu nhiều sau khi sanh có thể gây hoại tử tuyến yên, khiến cho kinh nguyệt không trở lại và cũng có thể gây suy nhược tuyến thượng thận

5 Rối loạn ở não bộ: U bướu và bệnh Sắc-coi ở Phần Hạ Phòng của

não bộ

6 Suy nhược chức năng do:

 Kiêng cữ ăn quá độ (đặc biệt cữ ăn mỡ), đưa đến chứng Biếng

ăn Tâm thần

 Tình trạng Căng thẳng tinh thần trầm trọng

 Bệnh nhiễm sắc tố máu: mệt mỏi, sụt cân, thay đổi màu da

 Gầy ốm quá mức, giảm cân quá mau, hoặc mập phì, hay tăng cân quá mau

 Những bệnh tâm thần nặng, như bệnh Trầm Cảm, Tâm thần Phân liệt, Rối loạn Ám ảnh-Bức thúc Một số thuốc trị bệnh tâm thần cũng có thể gây chứng vô kinh

 Những bệnh tự miễn nhiễm như bệnh Cường Giáp, Thiểu Giáp, Viêm Tuyến Yên, v.v

 Vận động cơ thể quá độ như lối tập thể dục của các lực sĩ

 Dùng thuốc ngừa thai

 Dùng các chất trích từ thuốc phiện

 Bệnh Động Kinh và những thuốc dùng để trị bệnh Động Kinh

 Dùng thuốc Ngừa Thai hay những thứ kích thích tố khác

 Những bệnh dai dẳng như tình trạng thiếu dinh dưỡng và Xơ Gan do uống rượu quá nhiều

 Những bệnh do nhiễm HIV gây nên

 Những bệnh Ung Thư gây sụt cân trầm trọng

 Bệnh Tiểu Đường

 Bệnh Suy thận nặng

Triệu chứng

Ngoài việc mất kinh, những triệu chứng và biểu hiện kèm theo tùy vào nguyên nhân gây xáo trộn nội tiết tố Thí dụ:

 Rối loạn buồng trứng khiến âm đạo khô, cảm giác nóng bức trong người, đổ mồ hôi ban đêm, xáo trộn giấc ngủ

 U bướu ở não bộ và tuyến yên gây tiết sữa bất thường ở đầu vú, nhức đầu, xáo trộn thị giác

Trang 2

 Tình trạng gia tăng lượng kích thích tố nam testosterone gây

mọc lông nhiều ở mặt, nổi mụn, như trong bệnh Đa Nang

Buồng Trứng

 Trong trường hợp suy tuyến yên hay tuyến thượng thận, da bị

thâm đen, lông mu và lông nách thưa thớt

Định bệnh

 Khám cơ thể trực tiếp

 Xét nghiệm Thụ thai

 Đếm số huyết cầu trong máu

 Xét nghiệm nước tiểu

 Đo lượng các kích thích tố: prolactin, follicle-stimulating

hormone (FSH), luteinizing hormone (LH), estradiol,

testosterone (nếu có biểu hiệu mọc lông quá nhiều), thyrotropin

(TSH) và thyroxine (T4)

 Siêu âm vùng chậu

 Chụp hình não bộ

Điều trị

Việc điều trị chứng Vô Kinh tùy thuộc vào nguyên nhân

 Giải phẫu, trong trường hợp tắc nghẽn đường lưu thông ở tử

cung hay âm hộ, trong các trường hợp u bướu ở não, tuyến yên,

v.v

 Điều trị xáo trộn nội tiết tố trong các trường hợp lượng

prolactin cao, bệnh cường giáp, bệnh thiểu giáp, bệnh suy

nhược tuyến yên hay tuyến thượng thận, v.v

 Điều chỉnh chế độ vận động, ăn uống

 Điều trị các bệnh tâm thần

 Trong trường hợp không thể tái lập kinh nguyệt sau khi điều trị

nguyên nhân gây vô kinh: dùng một chất estrogen và một chất

progestin để thay thế các kích thích tố thiên nhiên

 Trong trường hợp người bệnh không muốn thụ thai: dùng thuốc

ngừa thai để tái lập kinh nguyệt và ngừa chứng loãng xương

Theo dõi

Người bị suy nhược buồng trứng được theo dõi trong việc điều trị

bằng kích thích tố, và những biến chứng có thể xảy ra Người bệnh

cũng có thể cần dùng thêm calcium và vitamin D để phòng ngừa

chứng loãng xương

2 Rong Kinh

BS Nguyễn Quyền Tài

Rong kinh hay rong huyết là từ ngữ thông thường dùng để chỉ tình trạng chảy máu nhiều hơn trong thời gian có kinh hay ngoài thời kỳ kinh nguyệt bình thường Chu kỳ kinh nguyệt bình thường là 28 ngày

Nếu chu kỳ ngắn dưới 21 ngày, thời gian có kinh kéo dàì trên 7 ngày, chảy máu quá 80ml, hoặc chảy máu ở giữa chu kỳ bình thường thì gọi là rong kinh

Rong kinh thường là do thiếu điều hoà giữa các kích thích tố Rong kinh cần được phân biệt với những nguyên do khác gây chảy máu ở

âm đạo, như viêm nhiễm, u bướu, v.v ở bộ phận sinh dục Rong kinh là một trong những vấn đề thường xảy ra nhất trong phụ khoa

Chu kỳ kinh nguyệt bình thường

Trong 14 ngày đầu của chu kỳ, nội mạc tử cung dầy lên do ảnh hưởng của kích thích tố estrogen Trong thời kỳ này, lượng kích thích tố FSH và LH tăng lên, khiến cho trứng rụng vào khoảng giữa chu kỳ Sau khi trứng rụng, lượng kích thích tố progesterone tăng lên, làm cho nội mạc tử cung sẵn sàng tiếp nhận phôi thai Nếu thụ tinh không xảy ra, lượng estrogen và progesterone giảm xuống đột ngột, khiến cho các động mạch nhỏ trong nội mạc tử cung teo lại, nội mạc bị hư đi và tróc ra, gây chảy máu: đó là hiện tượng kinh nguyệt hằng tháng

Những điều cần biết khi đến bác sĩ khám bệnh

Đa số các trường hợp Rong Kinh xảy ra ở phụ nữ lúc mới bắt đầu có kinh nguyệt hoặc trước và ngay sau khi mãn kinh Một số trường hợp Rong Kinh gây mất rất nhiều máu và có thể đưa đến trình trạng suy tim mạch, hoặc gây tình trạng thiếu hồng huyết cầu (thường gọi

là “thiếu máu”) và thiếu chất sắt Khi bị Rong Kinh, người bệnh cần

để ý đến các điều sau đây để trình bày với bác sĩ khi đi khám bệnh:

Trang 3

1 So sánh lượng máu mỗi lần Rong Kinh với lượng kinh nguyệt

bình thường

2 Cho biết ngày bắt đầu có vấn đề Rong kinh

3 Cho biết những ngày kinh nguyệt lần cuối

4 Có khi nào Hư Thai hay Phá Thai không?

5 Có khi nào chảy máu sau khi giao hợp hay không?

6 Đã từng thụ thai và sanh đẻ bao nhiều lần; đã có thụ thai ngoài

tử cung hay không?

7 Trước đó có nhiễm những bệnh nhiễm do quan hệ tình dục hay

không

8 Những thuốc đang dùng, đặc biệt những thuốc có thể làm loãng

máu, kể cả thuốc Tây, thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc gia truyền,

dược thảo

9 Những phương pháp ngừa thai đã dùng (thuốc, vòng ngừa thai,

v.v.)

10 Trước đó có bị bệnh tiểu đường, bệnh tuyến giáp, bệnh gan, sụt

cân, v.v., hay không

11 Trong vòng những người thân thuộc, có ai dễ chảy máu hay bị

tím bầm ở da, hoặc thường chảy máu cam, v.v hay không

Chẩn đoán

Bác sĩ sẽ làm một số xét nghiệm để định rõ căn nguyên gây Chảy

máu:

1 Thử nghiệm để biết có thụ thai hay không

2 Làm những thử nghiệm máu để biết có bị bệnh loãng máu hay

không

3 Dùng Siêu Âm để tìm u bướu và những bất thường khác ở các

bộ phận sinh dục, đặc biệt độ dầy của nội mạc tử cung

4 Nội soi tử cung và sinh thiết nội mạc tử cung

5 Chụp hình CT hay MR vùng chậu

Căn nguyên gây chảy máu tử cung

Ngoài tình trạng Rong kinh do Thiếu Điều hoà Kích thích tố (còn

gọi là “Chảy máu Tử cung do Xáo trộn Chức năng”), những trường

hợp chảy máu tử cung bất thường có thể do những bệnh sau đây:

1 Hư thai

2 Tróc nhau

3 Ung thư Tử cung và Ung thư Cổ Tử cung

4 Viêm Cổ Tử cung; Viêm Âm đạo

5 Lạc Nội mạc Tử cung

6 U xơ Tử cung

7 Pô-líp Cổ Tử cung

8 Chửa trứng

9 Nang buồng trứng

10 Bệnh Đa nang Buồng trứng

11 Thụ thai ngoài Tử cung

12 Bệnh Gan nặng

13 Bệnh Cường Tuyến giáp và bệnh Thiểu Tuyến Giáp

14 Những bệnh gây loãng máu

15 Những thuốc gây loãng máu

16 và một số bệnh khác

Điều trị

Tùy mức độ chảy máu nhiều hay ít và tình trạng mất máu nặng hay nhẹ, bác sĩ có thể cho người bệnh nhập viện để truyền máu và điều trị theo căn bệnh, hoặc có thể chỉ định thuốc để người bệnh dùng ở nhà Những trường hợp chảy máu nhiều có thể cần đến phương pháp giải phẫu Những thuốc dùng để trị chứng Rong kinh là những kích thích tố thuộc loại estrogen hay progesterone, dùng để điều hoà lại lượng kích thích tố thiên nhiên

Theo dõi

Sau khi dùng hết đợt thuốc, người bệnh cần trở lại bác sĩ để được tái khám, dù cho chứng chảy máu đã dứt, để làm lại các xét nghiệm đếm hồng huyết cầu và đo lượng sắt và để biết có cần tiếp tục dùng thêm thuốc hay không, hầu tránh bệnh tái phát

Trang 4

3 Bệnh Buồng Trứng

Đa Nang

BS Nguyễn Quyền Tài

Buồng Trứng Đa Nang là tình trạng hai buồng trứng chứa nhiều

nang bất thường (nang là những túi trống, có thành mỏng, đựng một

chất lỏng) Thông thường, buồng trứng có những cái túi đựng trứng

Hằng tháng, do ảnh hưởng của các kích thích tố, một cái nang di

chuyển đến bìa thành buồng trứng và vỡ ra, phóng xuất một cái

trứng Trứng này di chuyển đến ống dẫn trứng để có thể thụ thai

Trong trường hợp bệnh Đa Nang, nang ở buồng trứng không phóng

trứng ra khỏi buồng trứng mà lại ở mãi dưới thành buồng trứng Lâu

ngày, hai buồng trứng chứa đầy nhiều nang như thế Kinh nguyệt có

thể xuất hiện ở thời dậy thì, nhưng sau đó thưa dần và dứt hẳn Bệnh

Đa Nang Buồng Trứng đưa đến tình trạng vô sinh và những biến

chứng do việc bài tiết nhiều kính thích tố nam

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh BTĐN không được xác định, nhưng có thể

do di truyền Cơ chế gây tình trạng đa nang có thể là do sự thiếu cân bằng

trong việc sản xuất hai kích thích tố của tuyến yên là LH (luteinizing

hormone) và FSH (follicle-stimulating hormone), hai kích thích tố này có

nhiệm vụ kích thích buồng trứng hoạt động

Nếu không được điều trị, bệnh BTĐN có thể đưa đến ung thư tử

cung

Triệu chứng

 Nổi nhiều mụn

 Mọc nhiều lông ở mặt

 Không có kinh nguyệt, hoặc kinh nguyệt không điều

 Vô sinh

 Mập phì

 Có thể bị Bệnh Tiểu đường

Chẩn đoán: dựa vào

 Bệnh sử

 Khám vùng chậu

 Xét nghiệm máu để đo lượng LH, FSH, testosterone, và những kích thích tố khác

 Siêu âm

 Nội soi

Điều trị

 Những người muốn thụ thai có thể dùng một trong những thuốc kích thích trứng rụng

 Cắt bớt một phần buồng trứng có thể giúp cho trứng rụng

 Trị bệnh tiểu đường

 Những người không muốn có con có thể dùng thuốc ngừa thai

để giảm thiểu nguy cơ ung thư tử cung

Phòng ngừa

Không có phương pháp phòng ngừa bệnh BTĐN

Trang 5

4 U Xơ Tử Cung (Fibroid tumor of the uterus)

BS Nguyễn Quyền Tài

 U xơ tử cung là một bướu lành, thường mọc ở thành tử cung

trong thời kì người đàn bà có thể sinh sản

 U Xơ Tử cung không làm gia tăng nguy cơ bị bướu độc và hiếm

có trường hợp nào u biến thành bướu độc

 Nhiều phụ nữ có u xơ tử cung không được chẩn đoán, vì u không

gây triệu chứng hay biểu hiệu gì và chỉ được phát hiện khi được

siêu âm hay khám khi mang thai

 U mọc từ lớp cơ nhẵn ở thành tử cung, có thể to lớn dần, nhưng

một số có thể ngưng phát triển hoặc teo nhỏ lại

 Kích thước u có thể nhỏ hoặc to, cái nhỏ như hạt đậu và cái to có

thể lớn tới ngực

 U có thể chỉ có một cái hay nhiều cái

 U có thể mọc ở trong thành tử cưng, hoặc dưới nội mạc tử cung

và lòi vào trong lòng tử cung

 U cũng có thể mọc ở dưới lớp ngoài tử cung và lòi ra trong hốc

bụng

 Trong những trường hợp u có cuống, u có thể xoắn ở cuống, làm

tắc mạch máu nuôi u, gây đau bụng dữ dội Trong trường hợp

này cần được giải phẫu khẩn cấp

 Những u xơ to có thể làm hẹp lòng tử cung và gây hư thai hay vô

sinh

Nguyên nhân

 Nguyên nhân gây U Xơ Tử Cung chưa được biết rõ

 Nếu phụ nữ có mẹ hay chị em bi U Xơ thì có nhiều nguy cơ bị U

hơn

 Hai kích thích tố nữ estrogen và progesterone có nhiệm vụ điều hành chu kì kinh nguyệt cũng có ảnh hưởng trong sự tăng trưởng của U Xơ

 Những người có thai và sanh con ít có nguy cơ bị U Xơ hơn là những người không sinh sản

 Những người dùng thuốc ngừa thai hằng ngày cũng ít có nguy cơ

bị U Xơ hơn, đặc biệt những người dùng thuốc ngừa thai chỉ với progestin mà thôi Tuy nhiên, thuốc ngừa thai và tình trạng mang thai có thể kích thích U Xơ tăng trưởng

Triệu chứng

 Ra máu nhiều, khi có kinh

 Kinh nguyệt kéo dài hơn 7 ngày

 Nặng ở vùng bụng dưới

 Đau ở bụng dưới

 Đi tiểu thường xuyên

 Không thể đi tiểu hết

 Táo bón

 Đau lưng hay đau nhức ở chân

Định bệnh

U Xơ Tử Cung có thể được chẩn đoán bằng cách khám trực tiếp ở cửa mình, và có thể xác định bằng:

 Siêu âm

 Chụp hình CT

 Chụp hình MR

Điều trị

 Đa số các trường hợp u xơ tử cung chỉ cần được theo dõi nếu không gây đau nhức hay biểu hiệu gì bất thường

 U xơ có thể teo nhỏ lại sau khi mãn kinh một khi lượng kích thích tố nữ đã giảm xuống

 Những U xơ có cuống nên được cắt bỏ để tránh nguy cơ u bị xoắn

Trang 6

 Trong trường hợp chảy máu nhiều, khi có kinh nguyệt:

o Bác sĩ có thể cho dùng thuốc (*) để giảm thiểu lượng các kích

thích tố nữ và khiến cho U Xơ teo lại, gây nên tình trạng

tương tợ như ở thời kì tuyệt kinh

o Bác sĩ cũng có thể đặt vòng trong tử cung có chất Progestin

hoặc cho dùng thuốc ngừa thai, giúp giảm chảy máu và đau

bụng nhưng không làm U teo lại

 Trong những trường hợp cần đến giải phẫu, bác sĩ có thể:

o Cắt bỏ tử cung, khi người bệnh không còn muốn sinh sản nữa

o Bóc U và không cắt bỏ tử cung, trong những trường hợp u có

kích thước nhỏ, để người bệnh có thể thụ thai sau khi mổ

o Làm tắc nghẽn mạch máu nuôi U Xơ khiến u teo nhỏ lại

Phòng ngừa

 Hiện nay chưa có cách gì phòng ngừa được U Xơ Tử Cung

 Phụ nữ trên 18 tuổi hoặc một khi đã bắt đầu quan hệ tình dục nên

được khám vùng chậu hằng năm để tìm khám phá những gì bất

thường ở cơ quan sinh dục, đặc biệt những U Xơ không gây triệu

chứng gì

(*) Gonadotropin-releasing hormone (GnRH) agonists như Lupron

và Synarel

5 Viêm Âm Đạo

BS Nguyễn Quyền Tài

Nguyên nhân

Viêm âm đạo là tình trạng âm đạo bị nhiễm

 vi trùng (đa số các trường hợp do vi trùng Gardnerella), hoặc

 nấm Candida, hoặc

 Trichonomas

1 Viêm âm đạo do nhiễm vi trùng:

Triệu chứng và biểu hiệu:

 Viêm âm đạo do nhiễm trùng có thể không gây triệu chứng gì, hoặc gây:

 Ngứa

 Khí hư (huyết trắng) đặc, có bọt, màu trắng, không có mùi hôi, dính vào thành âm đạo

 Ít gây đau rát ở cửa mình (âm hộ)

Chẩn đoán:

 Soi tươi: cho thấy những tế bào từ thành âm đạo có dính vi

trùng (gọi là clue cells) Số vi trùng lactobacillus, thường có ở

âm đạo, bị giảm thiểu Thường không có bạch huyết cầu

 Thử nghiệm mùi hôi (Wiff test): Thử nghiệm này gây mùi tanh

cá trong trường hợp nhiễm vi trùng

 Đo pH của dịch âm đạo: pH bất thường, trên 4.5 (vào khoảng

5.0-6.0)

 Cấy dịch âm đạo: thường không cần thiết Nhuộm Gram dịch

âm đạo đã có thể nhận ra vi trùng gây bệnh

Điều trị: bằng một trong những thuốc kháng sinh Metronidazole

hoặc Clindamycin

2 Viêm âm đạo do nhiễm nấm candida:

Triệu chứng và biểu hiệu:

 Ngứa

 Khí hư (huyết trắng) không đặc, màu trắng

 Đau rát ở cửa mình, đau rát khi giao hợp, đau rát khi đi tiểu

Trang 7

 Có kèm vết nhiễm nấm ở cửa mình

Chẩn đoán:

 Soi tươi: cho thấy những sợi nấm

 Thử nghiệm mùi hôi (Wiff test): không gây mùi cá

 Đo pH của dịch âm đạo: pH bình thường, dưới 4.5

 Cấy dịch âm đạo: cần thiết trong những trường hợp bệnh tái

phát hay không trị dứt

Điều trị: bằng thuốc kháng nấm Butoconazole, Clotrimazole,

Miconazole, Nystatin, Terconazole

3 Viêm âm đạo do nhiễm Trichomonas:

Triệu chứng và biểu hiệu:

 Thường không gây triệu chứng ngứa hay rát

 Nhiều Khí hư (huyết trắng), có màu trắng, xám, vàng hay xanh

 Đi tiểu rát

 Đau rát khi giao hợp

Chẩn đoán:

 Soi tươi cho thấy có nhiều trichomonas

 Thử nghiệm mùi hôi (Wiff test): có thể gây mùi cá

 Đo pH của dịch âm đạo: pH bất thường, trên 4.5 (vào khoảng

5.0-7.0)

 Cấy dịch âm đạo: cần thiết khi không thể chẩn đoán bằng

những phương pháp kể trên

Điều trị: bằng một trong các thuốc Metronidazole hoặc

Tinidazole

Tiên lượng: Đa số các trường hợp viêm âm đạo có thể trị dứt

Phòng ngừa

Người bạn tình cũng cần được điều trị trong những trường hợp

nhiễm trichomonas hay nhiễm vi trùng thường tái phát Người bệnh

không nên quan hệ tình dục cho tới khi trị dứt bệnh Nên dùng bao

cao su mỗi khi giao hợp nếu quan hệ tình dục khi chưa thành hôn

Nên giữ kĩ vệ sinh mỗi khi quan hệ tình dục, tránh mang vi trùng từ

miệng và hậu môn vào âm đạo Không nên xịt nước hay dung dịch

vào âm đạo để rửa

Viêm âm đạo khi mang thai cần được điều trị sớm để tránh biến

chứng như sanh non, thai nhi thiếu cân Viêm âm đạo cũng có thể

gây Viêm Vùng Chậu và Viêm Nội mạc Tử cung nếu không được

điều trị sớm

6 Khám Thai

BS Đinh Đại-Kha

Đại cương

Trong lãnh vực y khoa, khám thai là danh từ thông thường ngắn gọn nhưng bao quát mọi chi tiết về việc săn sóc tiền sản Quá trình khám thai theo dõi tình trạng sức khỏe của phụ nữ mang thai và của bào thai trong suốt thời kỳ thai nghén

Y học đã áp dụng khám thai từ lâu rồi nhưng khoa này chỉ được

hệ thống hóa rõ ràng từ thập niên 1950 Tiếp tục sau đó, hệ thống khám thai ngày một kiện toàn hơn, dựa theo những tiến triển của kỹ thuật y khoa: các loại xét nghiệm mới, máy chiếu siêu âm, máy Doppler nghe nhịp tim bào thai

Mục đích

Mục đích chính khi khám thai là giữ gìn sức khỏe của phụ nữ mang thai cùng bào thai Rất nhiều sự kiện bất thường có thể xảy ra trong thời kỳ thai nghén cho nên khám thai là phương pháp giúp y học sớm phát hiện nguy cơ biến chứng để phòng ngừa chúng đừng xảy

ra và biết cách điều trị khi có biến chứng

Thành quả của việc khám thai hệ thống hóa là giảm thiểu tử vong phụ nữ mang thai và bào thai, phòng ngừa một số dị tật bẩm sinh và tránh sinh con quá nhỏ khó nuôi Những điều này được chứng minh rõ ràng qua nhiều bản thống kê của nhiều quốc gia

Hệ thống khám thai gồm khám lâm sàng, các thử nghiệm, chẩn đoán hình ảnh Ngoài ra còn một thành phần quan trọng khác của săn sóc tiền sản là chỉ dẫn cho phụ nữ mang thai về vệ sinh thời kỳ tiền sản: dinh dưỡng, dược phẩm, sinh hoạt trong mhà và ngoài xã hội

Thời biểu khám thai

Thông thường thì các bà bắt đầu đi khám thai khi biết chắc chắn hoặc nghi ngờ mình đã cấn thai Tiếp theo sau đó, lịch trình khám thai được sắp đặt như sau đây:

 Mỗi tháng khám thai một lần cho tới khi thai được 28 tuần lễ

Trang 8

 Kế đó, 2 tuần khám thai một lần cho tới khi thai được 36 tuần

lễ

 Tiếp theo, mỗi tuần khám thai một lần cho tới khi sinh con

Theo thống kê, thời kỳ mang thai trung bình là 40 tuần lễ (9 tháng

10 ngày của thời xưa) Sở dĩ lịch trình khám thai thay đổi như trên

đây, càng gần ngày sinh con càng cận ngày khám là vì nguy cơ biến

chứng cũng gia tăng theo thời gian thụ thai

Thể thức khám thai

Các thành phần của mỗi kỳ khám thai gồm có:

1) Khám lâm sàng:

a) Khám thể chất và ghi chú tiền sử: Khám thể chất từ đầu tới

chân tương tự như khi khám tổng quát Tiền sử cần ghi rõ

trong kỳ khám thai đầu tiên Thứ nhất là tiền sử gia đình,

chú trọng đến các bệnh có thể di truyền như bệnh tuyến giáp

trạng, một vài loại ung thư, bệnh nhồi máu cơ tim hay đột

quỵ xảy ra khi bệnh nhân còn trẻ, một vài loại dị tật bẩm

sinh Tiền sử cá nhân ghi chú các bệnh hoa liễu, viêm gan

B, viêm gan C, các tật nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện

ma túy

b) Đo huyết áp: Huyết áp của phụ nữ mang thai thường gia

tăng ít nhiều Nếu huyết áp tăng quá độ, các bà cần phải

uống thuốc giảm huyết áp Trong đa số các trường hợp này,

huyết áp sẽ trở lại bình thường sau khi các bà sinh con

c) Theo dõi trọng lượng cơ thể: Các phụ nữ mang thai lên cân

vì tác dụng kích thích tố khiến cơ thể họ giữ nước, đồng

thời bào thai và nhau cũng ngày một lớn và nặng hơn

Trong suốt thời kỳ thai nghén bình thường, phụ nữ mang

thai mạnh khỏe sẽ lên cân từ 10 tới 15Kg tùy thuộc khổ

người nhỏ bé hay cao lớn Lên cân không đúng mức trên

đây có thể có hại cho bào thai

d) Khám xương chậu: Khi các bà sinh con, tất nhiên thai nhi

phải chui qua xương chậu Vì vậy khi khám thai cũng phải

khám vùng xương chậu vì khi xương này có hình dạng bất

thường hoặc kích thước quá hẹp, phụ nữ mang thai không

sinh thường được mà phải mổ tử cung mang thai nhi ra

e) Theo dõi sự phát triển của tử cung: Khi thai được lối 4

tháng, bác sĩ khám bụng phụ nữ mang thai có thể nắn thấy

tử cung và đo từ đáy tử cung tới vành xương chậu để theo

dõi sự phát triển của tử cung Nếu tử cung không phát triển

như dự liệu là báo hiệu bào thai hoặc lượng nước ối có điều bất thường

f) Theo dõi nhịp tim bào thai: Hiện nay, máy Doppler nghe

tim bào thai giúp ta phát hiện và theo dõi nhịp tim này khi thai được lối 3 tháng Nếu dùng ống nghe không có bộ phận điện tử, phải tới lúc thai được 4 tháng rưỡi hay 5 tháng mới nghe được tim bào thai

g) Theo dõi vị thế bào thai: Trong 3 tháng đầu, bào thai nằm

trong xương chậu Khi phát triển lớn hơn, bào thai trồi lên trên và nằm ngang rồi tới gần ngày sinh nó sẽ xoay đầu trở xuống và chui vào trong xương chậu Tới lúc thai được 7 hoặc 8 tháng, nếu phát hiện sớm là bào thai xoay ngược, đầu trên chân dưới, bác sĩ có thể thử đẩy cho nó xoay theo đúng chiều hướng thông thường

2) Xét nghiệm:

a) Xét nghiệm máu: Ngoài những xét nghiệm máu tổng quát;

thông thường, phụ nữ mang thai sẽ được xét nghiệm thêm

về nhóm máu, bệnh giang mai, bệnh HIV, bệnh viêm gan B

và C Nếu phụ nữ mang thai không biết rõ khi trước mình

có bị bệnh thủy đậu và ban Đức (German measles) hay không thì phải xét nghiệm thêm về 2 bệnh này Tới khi bào thai được 3 tháng, dùng các xét nghiệm máu đặc biệt có thể phát hiện nguy cơ dị tật bẩm sinh: dị tật bộ thần kinh và bệnh Down (dáng người thấp bé, mặt tròn, mũi tẹt, mắt xếch, trí thức chậm phát triển=Down syndrome)

b) Xét nghiệm nước tiểu: Một số hóa chất do bào thai sản xuất

có thể làm tổn hại chức năng thận của phụ nữ mang thai Vì vậy, mỗi kỳ khám thai luôn luôn phải thử nước tiểu, xác định lượng đản bạch để kịp thời điều trị bệnh thận khi mang thai

Khi lượng đường trong nước tiểu gia tăng, cần xác định phụ

nữ mang thai có bị bệnh tiểu đường khi mang thai hay không Hiện có cách xét nghiệm máu để chẩn đoán bệnh này

c) Xét nghiệm nước ối, xét nghiệm nhau: Có một số trường

hợp đặc biệt cần lấy mẫu nước ối để xét nghiệm Có khi phải lấy mẫu sinh thiết (biopsy) nhau Vì 2 loại xét nghiệm này phải xâm nhập tử cung nên có nguy cơ nhẹ làm hư thai 3) Chiếu siêu âm:

Thông thường, phụ nữ mang thai có thể được chiếu siêu âm khoa sản khi thai được 20 tuần Mục đích chiếu siêu âm khoa sản là để:

Trang 9

 Chẩn đoán có thai,

 Xác định trường hợp có nhiều bào thai,

 Chẩn đoán thai bất thường: hư thai, thai ngoại tử cung, thai

trứng,

 Xác định bào thai chậm phát triển hoặc có dị tật,

 Khảo sát tình trạng nước ối, cuống rốn,

 Tính ngày lâm bồn, trong trường hợp không biết chắc chắn

ngày hành kinh cuối cùng trước khi mang thai

Chiếu siêu âm khoa sản đã được áp dụng từ nhiều thập niên và được

coi là tương đối an toàn Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng chiếu

nhiều lần vì có một nhóm nghiên cứu tại nước Anh nhận thấy đa số

con của các phụ nữ mang thai chiếu siêu âm khoa sản nhiều lần

chậm học nói hơn các trẻ khác

Vệ sinh thời kỳ tiền sản

Vệ sinh thời kỳ tiền sản bao gồm các điều chỉ dẫn về mọi chi tiết

sinh hoạt để giữ sức khỏe cho phụ nữ mang thai và bào thai

1) Dinh dưỡng:

Khi mang thai, các bà mẹ cần ăn nhiều hơn thường ngày để nuôi

bào thai Tuy nhiên nên nhớ là khẩu phần tăng lên khoảng gấp

rưỡi chứ không gấp đôi lúc bình thường Ngoài ra, phải bớt chất

mặn trong thực phẩm nghĩa là ăn lạt hơn thường ngày Rượu và

thuốc lá tuyệt đối không dùng

2) Dược phẩm:

Nói chung, các bà nên tránh uống thuốc trong thời kỳ mang

thai, ngoài những thuốc bệnh bắt buộc phải dùng Lý do là y học

không hiểu biết bao quát tất cả các loại thuốc có khả nảng gây

dị tật bẩm sinh Dùng các loại dược thảo (herbal medicines)

cũng có nguy cơ tác hại bào thai

Đối lại, trong suốt thời kỳ mang thai, các bà cần uống

acit fôlic (folic acid) tối thiểu là 400mcg mỗi ngày để phòng

ngừa dị tật bộ thần kinh bào thai Khi cần tới thuốc giảm đau

hoặc thuốc chống ói mửa, các phụ nữ mang thai có thể dùng

Tylenol và Gravol là những thuốc an toàn cho bào thai

3) Sinh hoạt:

Nên vận động cơ thể trong khi mang thai Các bà thường chơi

thể thao có thể tiếp tục môn thể thao đó miễn là đừng vận động

quá mạnh Tất nhiên nên tránh các môn thể thao cần chạy

nhanh, nhảy, đụng chạm cơ thể, dễ ngã

Phụ nữ mang thai hãy ngưng dùng đường hàng không khi thai được 8 tháng vì có triển vọng các bà sẽ sinh con trên máy bay

Quan hệ nam nữ giữa vợ chồng có thể tiếp tục nhưng cần chú ý hoạt động nhẹ nhàng hơn lúc bình thường, và cần đặc biệt giữ gìn khi thai được 4 tháng là lúc dễ hư hơn hết

Ngoài xã hội, phụ nữ mang thai có thể tiếp tục làm việc với điều kiện là:

 Một tuần lễ làm việc tối đa 36 giờ, một ngày làm việc tối đa

10 giờ, thời gian đứng để làm việc tối đa 4 giờ một ngày,

 Không được mang sách đồ vật nặng,

 Không làm việc những nơi quá ồn ào hoặc trong phòng lạnh, nơi phải tiếp xúc với nhiều hóa chất hay phóng xạ,

 Không làm những việc gây khẩn trương quá đáng

4) Tiêm chủng:

Trong thời kỳ mang thai, việc tiêm chủng ngừa phong đòn gánh, yết hầu, ho gà, cúm, , cần có ý kiến của bác sĩ gia đình, hay bác sĩ sản phụ khoa (xin đọc bài: Lịch Trình Chủng Ngừa, trong phần Một)

5) Coi chừng dấu hiệu bất thường khi có thai:

Thông thường, phụ nữ mang thai có thể cảm nhận thấy bào thai máy động khi thai được 4 tháng rưỡi Nên thường xuyên chú ý đến việc này

Các dấu hiệu thai bất thường là: băng huyết, đau bụng dưới từng cơn, bào thai không máy động trong 12 tiếng đồng hồ, chảy nước ối ở âm đạo

Kết luận

Tóm tắt lại, bộ môn khám thai đã được hệ thống hóa từ nhiều thập niên, chỉ dẫn rõ ràng từng giai đoạn và chi tiết, để cho bác sĩ cùng phụ nữ mang thai dễ dàng theo đó mà áp dụng Vậy muốn bảo đảm sức khỏe cho chính mình và cho bào thai, phụ nữ mang thai hãy tuân hành đúng đắn những chỉ dẫn của bác sĩ và nhân viên y tế khi

đi khám thai

Trang 10

7 Nguy Cơ Bệnh Lý Khi

Mang Thai

BS Đinh Đại-Kha

Đại cương

Nói chung mọi người chúng ta đều cho rằng mang thai rồi sinh con

là chuyện bình thường trong đời người phụ nữ Tuy nhiên kinh

nghiệm y khoa từ ngàn xưa truyền lại cho biết là có nhiều biến

chứng gây bệnh có thể xảy ra trong thai kỳ, kể từ lúc bà mẹ bắt đầu

cấn thai cho đến khi sinh con Nguy cơ này cũng còn bao gồm thời

kỳ hậu sản nữa

Bệnh lý khi mang thai nặng có, nhẹ có, thậm chí có khi gây tử

vong cho phụ nữ mang thai Theo thống kê thì con số tử vong do

biến chứng khi mang thai cho tới nay (2012) vẫn còn vào khoảng 1

phần 10 ngàn

Nguyên nhân bệnh lý khi mang thai có loại trực tiếp do cơ thể

phụ nữ mang thai bị biến đổi mà sinh ra và loại gián tiếp do ảnh

hưởng của bào thai bất bình thường, nhau bất bình thường, các biến

chứng khác khi sinh con

Nguy cơ bệnh lý trực tiếp

Trong thời kỳ phụ nữ mang thai, biến dưỡng cơ thể có rất nhiều thay

đổi Bệnh lý sẵn có của các bà mẹ thường bị ảnh hưởng của các thay

đổi biến dưỡng này mà thêm trầm trọng Ngay đối với phụ nữ vô

bệnh, thay đổi biến dưỡng khi mang thai cũng có thể tăng lên quá

mức chịu đựng của cơ thể mà gây bệnh

1 Huyết áp cao

Huyết áp cao là bệnh lý thông thường nhất trong khi mang thai

Huyết áp cao gây biến chứng cho 2-3% các phụ nữ mang thai

Huyết áp cao khi mang thai chia ra làm 2 loại: huyết áp cao mãn

tính và huyết áp cao do thai nghén gây ra

a) Huyết áp cao mãn tính

Đây là bệnh lý sẵn có của phụ nữ trước khi cấn thai Theo

định nghĩa, huyết áp cao mãn tính của phụ nữ mang thai là

huyết áp cao hơn số 140/90 hoặc sẵn có từ trước khi mang thai hoặc phát hiện trước khi thai được 20 tuần lễ Khoảng 1% các phụ nữ mang thai bị bệnh huyết áp cao mãn tính Một số nhỏ các trường hợp này tiến triển tới một tình trạng nguy hiểm cả cho người mẹ lẫn bào thai được gọi là tiền độc huyết sản (preeclampsia)

b) Huyết áp cao do thai nghén gây ra Các phụ nữ vô bệnh tới khi mang thai cũng có thể bị huyết áp cao Có khoảng 5-6% phụ nữ mang thai mắc phải bệnh lý này

Họ có huyết áp cao hơn 140/90, phát hiện khi thai được hơn

20 tuần lễ Thông thường các bà này không cảm thấy triệu chứng gì khác lạ

Khoảng 30% các phụ nữ này sẽ tiếp tục có huyết áp cao sau khi sinh con nghĩa là bị bệnh huyết áp cao mãn tính Số 70% kia sẽ trở lại vô bệnh sau khi sinh con Một số trường hợp huyết áp cao khi mang thai cũng tiến triển tới tình trạng tiền độc huyết sản

Tiền độc huyết sản là gi?

Khi người phụ nữ mang thai bị bệnh huyết áp cao trầm trọng, khởi đầu các biến chứng nguy hại cho cả người mẹ lẫn bào thai, thì gọi

là tiền độc huyết sản Bệnh lý này gây ra:

 Viêm nội mạc động mạch mọi nơi trong cơ thể nên hiệu năng tuần hoàn kém đi, nói chung các mô đều thiếu ô-xy hơn lúc thường

 Nhiều thay đổi biến dưỡng khiến phụ nữ mang thai bị mập phì, giảm hiệu năng in-su-lin, thử nghiệm chất béo trong máu thấy tăng lượng LDL (low density lipoprotein) và TG (triglyceride)

 Thay đổi hóa chất trong máu làm máu dễ đông đặc, gây nguy

cơ đọng cục máu tĩnh mạch

Tình trạng tiền độc huyết sản gây triệu chứng như sau:

 Hoa mắt: nhìn thấy những tia chớp sáng hoặc những điểm đen

 Nhức đầu đa dạng: đau nhức bất kỳ chỗ nào trên đầu, có khi đau nửa đầu

 Đau bụng trên hoặc ở giữa hoặc ở bên tay phải

 Sưng chi trên hoặc sưng mặt

 Lên cân mau

Ngày đăng: 12/11/2016, 11:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w