Trong trường hợp người bệnh không muốn thụ thai: dùng thuốc ngừa thai để tái lập kinh nguyệt và ngừa chứng loãng xương.. Nếu thụ tinh không xảy ra, lượng estrogen và progesterone giảm
Trang 11 Rối Loạn Kinh Nguyệt,
Thiểu Kinh, Vô Kinh
BS Nguyễn Quyền Tài
Kinh nguyệt là hiện tượng chảy máu ở tử cung hằng tháng ở người
nữ, bắt đầu từ tuổi dậy thì Kinh nguyệt được điều hòa bởi hệ thống
nội tiết tố, gồm có não bộ, tuyến yên và buồng trứng Khi hệ thống
này bị xáo trộn, lượng các kích thích tố thay đổi bất thường, khiến
cho kinh nguyệt không đều, ít đi (thiểu kinh) và có khi mất hẳn (vô
kinh) Những rối loạn kinh nguyệt
ảnh hưởng đến khả năng sinh sản,
gây tình trạng loãng xương, khiến cho xương dễ gẫy (đặc biệt
xương cổ tay và xương háng),
và có thể là biểu hiệu của những chứng bệnh trầm trọng
Tuổi bắt đầu có kinh nguyệt là khoảng 12-16 tuổi Các chu kỳ kinh
nguyệt lúc ban đầu có thể không đều, nhưng sau đó xảy ra đều đặn
và thường dài khoảng 28 ngày Khi
chu kì kéo dài quá 35 ngày,
hoặc không có kinh trong nhiều tháng liên tiếp,
hoặc kinh nguyệt không xảy đến khi đã đến tuổi 16 (vô kinh từ
đầu), nguyên nhân cần được xác định và điều trị đúng mức
Kinh nguyệt cần được xem như là một biểu hiệu trọng yếu, tương
đương với Huyết Áp, trong việc khám nghiệm tình trạng sức khoẻ
của người đàn bà
Nguyên nhân
1 Thụ thai: thụ thai là nguyên nhân thường nhất gây vô kinh
2 Vấn đề cấu trúc ở tử cung hay âm đạo gây nghẽn đường thông
thương ra ngoài âm hộ (như trường hợp màng trinh không có lỗ,
tử cung hay âm đạo không phát triển, v.v.)
3 Rối loạn buồng trứng: do
Ảnh hưởng của Xạ trị hay Hóa trị
Viêm buồng trứng
Bệnh Đa Nang Buồng Trứng
4 Rối loạn ở tuyến yên:
U bướu ở tuyến yên
Chảy máu nhiều sau khi sanh có thể gây hoại tử tuyến yên, khiến cho kinh nguyệt không trở lại và cũng có thể gây suy nhược tuyến thượng thận
5 Rối loạn ở não bộ: U bướu và bệnh Sắc-coi ở Phần Hạ Phòng của
não bộ
6 Suy nhược chức năng do:
Kiêng cữ ăn quá độ (đặc biệt cữ ăn mỡ), đưa đến chứng Biếng
ăn Tâm thần
Tình trạng Căng thẳng tinh thần trầm trọng
Bệnh nhiễm sắc tố máu: mệt mỏi, sụt cân, thay đổi màu da
Gầy ốm quá mức, giảm cân quá mau, hoặc mập phì, hay tăng cân quá mau
Những bệnh tâm thần nặng, như bệnh Trầm Cảm, Tâm thần Phân liệt, Rối loạn Ám ảnh-Bức thúc Một số thuốc trị bệnh tâm thần cũng có thể gây chứng vô kinh
Những bệnh tự miễn nhiễm như bệnh Cường Giáp, Thiểu Giáp, Viêm Tuyến Yên, v.v
Vận động cơ thể quá độ như lối tập thể dục của các lực sĩ
Dùng thuốc ngừa thai
Dùng các chất trích từ thuốc phiện
Bệnh Động Kinh và những thuốc dùng để trị bệnh Động Kinh
Dùng thuốc Ngừa Thai hay những thứ kích thích tố khác
Những bệnh dai dẳng như tình trạng thiếu dinh dưỡng và Xơ Gan do uống rượu quá nhiều
Những bệnh do nhiễm HIV gây nên
Những bệnh Ung Thư gây sụt cân trầm trọng
Bệnh Tiểu Đường
Bệnh Suy thận nặng
Triệu chứng
Ngoài việc mất kinh, những triệu chứng và biểu hiện kèm theo tùy vào nguyên nhân gây xáo trộn nội tiết tố Thí dụ:
Rối loạn buồng trứng khiến âm đạo khô, cảm giác nóng bức trong người, đổ mồ hôi ban đêm, xáo trộn giấc ngủ
U bướu ở não bộ và tuyến yên gây tiết sữa bất thường ở đầu vú, nhức đầu, xáo trộn thị giác
Trang 2 Tình trạng gia tăng lượng kích thích tố nam testosterone gây
mọc lông nhiều ở mặt, nổi mụn, như trong bệnh Đa Nang
Buồng Trứng
Trong trường hợp suy tuyến yên hay tuyến thượng thận, da bị
thâm đen, lông mu và lông nách thưa thớt
Định bệnh
Khám cơ thể trực tiếp
Xét nghiệm Thụ thai
Đếm số huyết cầu trong máu
Xét nghiệm nước tiểu
Đo lượng các kích thích tố: prolactin, follicle-stimulating
hormone (FSH), luteinizing hormone (LH), estradiol,
testosterone (nếu có biểu hiệu mọc lông quá nhiều), thyrotropin
(TSH) và thyroxine (T4)
Siêu âm vùng chậu
Chụp hình não bộ
Điều trị
Việc điều trị chứng Vô Kinh tùy thuộc vào nguyên nhân
Giải phẫu, trong trường hợp tắc nghẽn đường lưu thông ở tử
cung hay âm hộ, trong các trường hợp u bướu ở não, tuyến yên,
v.v
Điều trị xáo trộn nội tiết tố trong các trường hợp lượng
prolactin cao, bệnh cường giáp, bệnh thiểu giáp, bệnh suy
nhược tuyến yên hay tuyến thượng thận, v.v
Điều chỉnh chế độ vận động, ăn uống
Điều trị các bệnh tâm thần
Trong trường hợp không thể tái lập kinh nguyệt sau khi điều trị
nguyên nhân gây vô kinh: dùng một chất estrogen và một chất
progestin để thay thế các kích thích tố thiên nhiên
Trong trường hợp người bệnh không muốn thụ thai: dùng thuốc
ngừa thai để tái lập kinh nguyệt và ngừa chứng loãng xương
Theo dõi
Người bị suy nhược buồng trứng được theo dõi trong việc điều trị
bằng kích thích tố, và những biến chứng có thể xảy ra Người bệnh
cũng có thể cần dùng thêm calcium và vitamin D để phòng ngừa
chứng loãng xương
2 Rong Kinh
BS Nguyễn Quyền Tài
Rong kinh hay rong huyết là từ ngữ thông thường dùng để chỉ tình trạng chảy máu nhiều hơn trong thời gian có kinh hay ngoài thời kỳ kinh nguyệt bình thường Chu kỳ kinh nguyệt bình thường là 28 ngày
Nếu chu kỳ ngắn dưới 21 ngày, thời gian có kinh kéo dàì trên 7 ngày, chảy máu quá 80ml, hoặc chảy máu ở giữa chu kỳ bình thường thì gọi là rong kinh
Rong kinh thường là do thiếu điều hoà giữa các kích thích tố Rong kinh cần được phân biệt với những nguyên do khác gây chảy máu ở
âm đạo, như viêm nhiễm, u bướu, v.v ở bộ phận sinh dục Rong kinh là một trong những vấn đề thường xảy ra nhất trong phụ khoa
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường
Trong 14 ngày đầu của chu kỳ, nội mạc tử cung dầy lên do ảnh hưởng của kích thích tố estrogen Trong thời kỳ này, lượng kích thích tố FSH và LH tăng lên, khiến cho trứng rụng vào khoảng giữa chu kỳ Sau khi trứng rụng, lượng kích thích tố progesterone tăng lên, làm cho nội mạc tử cung sẵn sàng tiếp nhận phôi thai Nếu thụ tinh không xảy ra, lượng estrogen và progesterone giảm xuống đột ngột, khiến cho các động mạch nhỏ trong nội mạc tử cung teo lại, nội mạc bị hư đi và tróc ra, gây chảy máu: đó là hiện tượng kinh nguyệt hằng tháng
Những điều cần biết khi đến bác sĩ khám bệnh
Đa số các trường hợp Rong Kinh xảy ra ở phụ nữ lúc mới bắt đầu có kinh nguyệt hoặc trước và ngay sau khi mãn kinh Một số trường hợp Rong Kinh gây mất rất nhiều máu và có thể đưa đến trình trạng suy tim mạch, hoặc gây tình trạng thiếu hồng huyết cầu (thường gọi
là “thiếu máu”) và thiếu chất sắt Khi bị Rong Kinh, người bệnh cần
để ý đến các điều sau đây để trình bày với bác sĩ khi đi khám bệnh:
Trang 31 So sánh lượng máu mỗi lần Rong Kinh với lượng kinh nguyệt
bình thường
2 Cho biết ngày bắt đầu có vấn đề Rong kinh
3 Cho biết những ngày kinh nguyệt lần cuối
4 Có khi nào Hư Thai hay Phá Thai không?
5 Có khi nào chảy máu sau khi giao hợp hay không?
6 Đã từng thụ thai và sanh đẻ bao nhiều lần; đã có thụ thai ngoài
tử cung hay không?
7 Trước đó có nhiễm những bệnh nhiễm do quan hệ tình dục hay
không
8 Những thuốc đang dùng, đặc biệt những thuốc có thể làm loãng
máu, kể cả thuốc Tây, thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc gia truyền,
dược thảo
9 Những phương pháp ngừa thai đã dùng (thuốc, vòng ngừa thai,
v.v.)
10 Trước đó có bị bệnh tiểu đường, bệnh tuyến giáp, bệnh gan, sụt
cân, v.v., hay không
11 Trong vòng những người thân thuộc, có ai dễ chảy máu hay bị
tím bầm ở da, hoặc thường chảy máu cam, v.v hay không
Chẩn đoán
Bác sĩ sẽ làm một số xét nghiệm để định rõ căn nguyên gây Chảy
máu:
1 Thử nghiệm để biết có thụ thai hay không
2 Làm những thử nghiệm máu để biết có bị bệnh loãng máu hay
không
3 Dùng Siêu Âm để tìm u bướu và những bất thường khác ở các
bộ phận sinh dục, đặc biệt độ dầy của nội mạc tử cung
4 Nội soi tử cung và sinh thiết nội mạc tử cung
5 Chụp hình CT hay MR vùng chậu
Căn nguyên gây chảy máu tử cung
Ngoài tình trạng Rong kinh do Thiếu Điều hoà Kích thích tố (còn
gọi là “Chảy máu Tử cung do Xáo trộn Chức năng”), những trường
hợp chảy máu tử cung bất thường có thể do những bệnh sau đây:
1 Hư thai
2 Tróc nhau
3 Ung thư Tử cung và Ung thư Cổ Tử cung
4 Viêm Cổ Tử cung; Viêm Âm đạo
5 Lạc Nội mạc Tử cung
6 U xơ Tử cung
7 Pô-líp Cổ Tử cung
8 Chửa trứng
9 Nang buồng trứng
10 Bệnh Đa nang Buồng trứng
11 Thụ thai ngoài Tử cung
12 Bệnh Gan nặng
13 Bệnh Cường Tuyến giáp và bệnh Thiểu Tuyến Giáp
14 Những bệnh gây loãng máu
15 Những thuốc gây loãng máu
16 và một số bệnh khác
Điều trị
Tùy mức độ chảy máu nhiều hay ít và tình trạng mất máu nặng hay nhẹ, bác sĩ có thể cho người bệnh nhập viện để truyền máu và điều trị theo căn bệnh, hoặc có thể chỉ định thuốc để người bệnh dùng ở nhà Những trường hợp chảy máu nhiều có thể cần đến phương pháp giải phẫu Những thuốc dùng để trị chứng Rong kinh là những kích thích tố thuộc loại estrogen hay progesterone, dùng để điều hoà lại lượng kích thích tố thiên nhiên
Theo dõi
Sau khi dùng hết đợt thuốc, người bệnh cần trở lại bác sĩ để được tái khám, dù cho chứng chảy máu đã dứt, để làm lại các xét nghiệm đếm hồng huyết cầu và đo lượng sắt và để biết có cần tiếp tục dùng thêm thuốc hay không, hầu tránh bệnh tái phát
Trang 43 Bệnh Buồng Trứng
Đa Nang
BS Nguyễn Quyền Tài
Buồng Trứng Đa Nang là tình trạng hai buồng trứng chứa nhiều
nang bất thường (nang là những túi trống, có thành mỏng, đựng một
chất lỏng) Thông thường, buồng trứng có những cái túi đựng trứng
Hằng tháng, do ảnh hưởng của các kích thích tố, một cái nang di
chuyển đến bìa thành buồng trứng và vỡ ra, phóng xuất một cái
trứng Trứng này di chuyển đến ống dẫn trứng để có thể thụ thai
Trong trường hợp bệnh Đa Nang, nang ở buồng trứng không phóng
trứng ra khỏi buồng trứng mà lại ở mãi dưới thành buồng trứng Lâu
ngày, hai buồng trứng chứa đầy nhiều nang như thế Kinh nguyệt có
thể xuất hiện ở thời dậy thì, nhưng sau đó thưa dần và dứt hẳn Bệnh
Đa Nang Buồng Trứng đưa đến tình trạng vô sinh và những biến
chứng do việc bài tiết nhiều kính thích tố nam
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây bệnh BTĐN không được xác định, nhưng có thể
do di truyền Cơ chế gây tình trạng đa nang có thể là do sự thiếu cân bằng
trong việc sản xuất hai kích thích tố của tuyến yên là LH (luteinizing
hormone) và FSH (follicle-stimulating hormone), hai kích thích tố này có
nhiệm vụ kích thích buồng trứng hoạt động
Nếu không được điều trị, bệnh BTĐN có thể đưa đến ung thư tử
cung
Triệu chứng
Nổi nhiều mụn
Mọc nhiều lông ở mặt
Không có kinh nguyệt, hoặc kinh nguyệt không điều
Vô sinh
Mập phì
Có thể bị Bệnh Tiểu đường
Chẩn đoán: dựa vào
Bệnh sử
Khám vùng chậu
Xét nghiệm máu để đo lượng LH, FSH, testosterone, và những kích thích tố khác
Siêu âm
Nội soi
Điều trị
Những người muốn thụ thai có thể dùng một trong những thuốc kích thích trứng rụng
Cắt bớt một phần buồng trứng có thể giúp cho trứng rụng
Trị bệnh tiểu đường
Những người không muốn có con có thể dùng thuốc ngừa thai
để giảm thiểu nguy cơ ung thư tử cung
Phòng ngừa
Không có phương pháp phòng ngừa bệnh BTĐN
Trang 54 U Xơ Tử Cung (Fibroid tumor of the uterus)
BS Nguyễn Quyền Tài
U xơ tử cung là một bướu lành, thường mọc ở thành tử cung
trong thời kì người đàn bà có thể sinh sản
U Xơ Tử cung không làm gia tăng nguy cơ bị bướu độc và hiếm
có trường hợp nào u biến thành bướu độc
Nhiều phụ nữ có u xơ tử cung không được chẩn đoán, vì u không
gây triệu chứng hay biểu hiệu gì và chỉ được phát hiện khi được
siêu âm hay khám khi mang thai
U mọc từ lớp cơ nhẵn ở thành tử cung, có thể to lớn dần, nhưng
một số có thể ngưng phát triển hoặc teo nhỏ lại
Kích thước u có thể nhỏ hoặc to, cái nhỏ như hạt đậu và cái to có
thể lớn tới ngực
U có thể chỉ có một cái hay nhiều cái
U có thể mọc ở trong thành tử cưng, hoặc dưới nội mạc tử cung
và lòi vào trong lòng tử cung
U cũng có thể mọc ở dưới lớp ngoài tử cung và lòi ra trong hốc
bụng
Trong những trường hợp u có cuống, u có thể xoắn ở cuống, làm
tắc mạch máu nuôi u, gây đau bụng dữ dội Trong trường hợp
này cần được giải phẫu khẩn cấp
Những u xơ to có thể làm hẹp lòng tử cung và gây hư thai hay vô
sinh
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây U Xơ Tử Cung chưa được biết rõ
Nếu phụ nữ có mẹ hay chị em bi U Xơ thì có nhiều nguy cơ bị U
hơn
Hai kích thích tố nữ estrogen và progesterone có nhiệm vụ điều hành chu kì kinh nguyệt cũng có ảnh hưởng trong sự tăng trưởng của U Xơ
Những người có thai và sanh con ít có nguy cơ bị U Xơ hơn là những người không sinh sản
Những người dùng thuốc ngừa thai hằng ngày cũng ít có nguy cơ
bị U Xơ hơn, đặc biệt những người dùng thuốc ngừa thai chỉ với progestin mà thôi Tuy nhiên, thuốc ngừa thai và tình trạng mang thai có thể kích thích U Xơ tăng trưởng
Triệu chứng
Ra máu nhiều, khi có kinh
Kinh nguyệt kéo dài hơn 7 ngày
Nặng ở vùng bụng dưới
Đau ở bụng dưới
Đi tiểu thường xuyên
Không thể đi tiểu hết
Táo bón
Đau lưng hay đau nhức ở chân
Định bệnh
U Xơ Tử Cung có thể được chẩn đoán bằng cách khám trực tiếp ở cửa mình, và có thể xác định bằng:
Siêu âm
Chụp hình CT
Chụp hình MR
Điều trị
Đa số các trường hợp u xơ tử cung chỉ cần được theo dõi nếu không gây đau nhức hay biểu hiệu gì bất thường
U xơ có thể teo nhỏ lại sau khi mãn kinh một khi lượng kích thích tố nữ đã giảm xuống
Những U xơ có cuống nên được cắt bỏ để tránh nguy cơ u bị xoắn
Trang 6 Trong trường hợp chảy máu nhiều, khi có kinh nguyệt:
o Bác sĩ có thể cho dùng thuốc (*) để giảm thiểu lượng các kích
thích tố nữ và khiến cho U Xơ teo lại, gây nên tình trạng
tương tợ như ở thời kì tuyệt kinh
o Bác sĩ cũng có thể đặt vòng trong tử cung có chất Progestin
hoặc cho dùng thuốc ngừa thai, giúp giảm chảy máu và đau
bụng nhưng không làm U teo lại
Trong những trường hợp cần đến giải phẫu, bác sĩ có thể:
o Cắt bỏ tử cung, khi người bệnh không còn muốn sinh sản nữa
o Bóc U và không cắt bỏ tử cung, trong những trường hợp u có
kích thước nhỏ, để người bệnh có thể thụ thai sau khi mổ
o Làm tắc nghẽn mạch máu nuôi U Xơ khiến u teo nhỏ lại
Phòng ngừa
Hiện nay chưa có cách gì phòng ngừa được U Xơ Tử Cung
Phụ nữ trên 18 tuổi hoặc một khi đã bắt đầu quan hệ tình dục nên
được khám vùng chậu hằng năm để tìm khám phá những gì bất
thường ở cơ quan sinh dục, đặc biệt những U Xơ không gây triệu
chứng gì
(*) Gonadotropin-releasing hormone (GnRH) agonists như Lupron
và Synarel
5 Viêm Âm Đạo
BS Nguyễn Quyền Tài
Nguyên nhân
Viêm âm đạo là tình trạng âm đạo bị nhiễm
vi trùng (đa số các trường hợp do vi trùng Gardnerella), hoặc
nấm Candida, hoặc
Trichonomas
1 Viêm âm đạo do nhiễm vi trùng:
Triệu chứng và biểu hiệu:
Viêm âm đạo do nhiễm trùng có thể không gây triệu chứng gì, hoặc gây:
Ngứa
Khí hư (huyết trắng) đặc, có bọt, màu trắng, không có mùi hôi, dính vào thành âm đạo
Ít gây đau rát ở cửa mình (âm hộ)
Chẩn đoán:
Soi tươi: cho thấy những tế bào từ thành âm đạo có dính vi
trùng (gọi là clue cells) Số vi trùng lactobacillus, thường có ở
âm đạo, bị giảm thiểu Thường không có bạch huyết cầu
Thử nghiệm mùi hôi (Wiff test): Thử nghiệm này gây mùi tanh
cá trong trường hợp nhiễm vi trùng
Đo pH của dịch âm đạo: pH bất thường, trên 4.5 (vào khoảng
5.0-6.0)
Cấy dịch âm đạo: thường không cần thiết Nhuộm Gram dịch
âm đạo đã có thể nhận ra vi trùng gây bệnh
Điều trị: bằng một trong những thuốc kháng sinh Metronidazole
hoặc Clindamycin
2 Viêm âm đạo do nhiễm nấm candida:
Triệu chứng và biểu hiệu:
Ngứa
Khí hư (huyết trắng) không đặc, màu trắng
Đau rát ở cửa mình, đau rát khi giao hợp, đau rát khi đi tiểu
Trang 7 Có kèm vết nhiễm nấm ở cửa mình
Chẩn đoán:
Soi tươi: cho thấy những sợi nấm
Thử nghiệm mùi hôi (Wiff test): không gây mùi cá
Đo pH của dịch âm đạo: pH bình thường, dưới 4.5
Cấy dịch âm đạo: cần thiết trong những trường hợp bệnh tái
phát hay không trị dứt
Điều trị: bằng thuốc kháng nấm Butoconazole, Clotrimazole,
Miconazole, Nystatin, Terconazole
3 Viêm âm đạo do nhiễm Trichomonas:
Triệu chứng và biểu hiệu:
Thường không gây triệu chứng ngứa hay rát
Nhiều Khí hư (huyết trắng), có màu trắng, xám, vàng hay xanh
Đi tiểu rát
Đau rát khi giao hợp
Chẩn đoán:
Soi tươi cho thấy có nhiều trichomonas
Thử nghiệm mùi hôi (Wiff test): có thể gây mùi cá
Đo pH của dịch âm đạo: pH bất thường, trên 4.5 (vào khoảng
5.0-7.0)
Cấy dịch âm đạo: cần thiết khi không thể chẩn đoán bằng
những phương pháp kể trên
Điều trị: bằng một trong các thuốc Metronidazole hoặc
Tinidazole
Tiên lượng: Đa số các trường hợp viêm âm đạo có thể trị dứt
Phòng ngừa
Người bạn tình cũng cần được điều trị trong những trường hợp
nhiễm trichomonas hay nhiễm vi trùng thường tái phát Người bệnh
không nên quan hệ tình dục cho tới khi trị dứt bệnh Nên dùng bao
cao su mỗi khi giao hợp nếu quan hệ tình dục khi chưa thành hôn
Nên giữ kĩ vệ sinh mỗi khi quan hệ tình dục, tránh mang vi trùng từ
miệng và hậu môn vào âm đạo Không nên xịt nước hay dung dịch
vào âm đạo để rửa
Viêm âm đạo khi mang thai cần được điều trị sớm để tránh biến
chứng như sanh non, thai nhi thiếu cân Viêm âm đạo cũng có thể
gây Viêm Vùng Chậu và Viêm Nội mạc Tử cung nếu không được
điều trị sớm
6 Khám Thai
BS Đinh Đại-Kha
Đại cương
Trong lãnh vực y khoa, khám thai là danh từ thông thường ngắn gọn nhưng bao quát mọi chi tiết về việc săn sóc tiền sản Quá trình khám thai theo dõi tình trạng sức khỏe của phụ nữ mang thai và của bào thai trong suốt thời kỳ thai nghén
Y học đã áp dụng khám thai từ lâu rồi nhưng khoa này chỉ được
hệ thống hóa rõ ràng từ thập niên 1950 Tiếp tục sau đó, hệ thống khám thai ngày một kiện toàn hơn, dựa theo những tiến triển của kỹ thuật y khoa: các loại xét nghiệm mới, máy chiếu siêu âm, máy Doppler nghe nhịp tim bào thai
Mục đích
Mục đích chính khi khám thai là giữ gìn sức khỏe của phụ nữ mang thai cùng bào thai Rất nhiều sự kiện bất thường có thể xảy ra trong thời kỳ thai nghén cho nên khám thai là phương pháp giúp y học sớm phát hiện nguy cơ biến chứng để phòng ngừa chúng đừng xảy
ra và biết cách điều trị khi có biến chứng
Thành quả của việc khám thai hệ thống hóa là giảm thiểu tử vong phụ nữ mang thai và bào thai, phòng ngừa một số dị tật bẩm sinh và tránh sinh con quá nhỏ khó nuôi Những điều này được chứng minh rõ ràng qua nhiều bản thống kê của nhiều quốc gia
Hệ thống khám thai gồm khám lâm sàng, các thử nghiệm, chẩn đoán hình ảnh Ngoài ra còn một thành phần quan trọng khác của săn sóc tiền sản là chỉ dẫn cho phụ nữ mang thai về vệ sinh thời kỳ tiền sản: dinh dưỡng, dược phẩm, sinh hoạt trong mhà và ngoài xã hội
Thời biểu khám thai
Thông thường thì các bà bắt đầu đi khám thai khi biết chắc chắn hoặc nghi ngờ mình đã cấn thai Tiếp theo sau đó, lịch trình khám thai được sắp đặt như sau đây:
Mỗi tháng khám thai một lần cho tới khi thai được 28 tuần lễ
Trang 8 Kế đó, 2 tuần khám thai một lần cho tới khi thai được 36 tuần
lễ
Tiếp theo, mỗi tuần khám thai một lần cho tới khi sinh con
Theo thống kê, thời kỳ mang thai trung bình là 40 tuần lễ (9 tháng
10 ngày của thời xưa) Sở dĩ lịch trình khám thai thay đổi như trên
đây, càng gần ngày sinh con càng cận ngày khám là vì nguy cơ biến
chứng cũng gia tăng theo thời gian thụ thai
Thể thức khám thai
Các thành phần của mỗi kỳ khám thai gồm có:
1) Khám lâm sàng:
a) Khám thể chất và ghi chú tiền sử: Khám thể chất từ đầu tới
chân tương tự như khi khám tổng quát Tiền sử cần ghi rõ
trong kỳ khám thai đầu tiên Thứ nhất là tiền sử gia đình,
chú trọng đến các bệnh có thể di truyền như bệnh tuyến giáp
trạng, một vài loại ung thư, bệnh nhồi máu cơ tim hay đột
quỵ xảy ra khi bệnh nhân còn trẻ, một vài loại dị tật bẩm
sinh Tiền sử cá nhân ghi chú các bệnh hoa liễu, viêm gan
B, viêm gan C, các tật nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện
ma túy
b) Đo huyết áp: Huyết áp của phụ nữ mang thai thường gia
tăng ít nhiều Nếu huyết áp tăng quá độ, các bà cần phải
uống thuốc giảm huyết áp Trong đa số các trường hợp này,
huyết áp sẽ trở lại bình thường sau khi các bà sinh con
c) Theo dõi trọng lượng cơ thể: Các phụ nữ mang thai lên cân
vì tác dụng kích thích tố khiến cơ thể họ giữ nước, đồng
thời bào thai và nhau cũng ngày một lớn và nặng hơn
Trong suốt thời kỳ thai nghén bình thường, phụ nữ mang
thai mạnh khỏe sẽ lên cân từ 10 tới 15Kg tùy thuộc khổ
người nhỏ bé hay cao lớn Lên cân không đúng mức trên
đây có thể có hại cho bào thai
d) Khám xương chậu: Khi các bà sinh con, tất nhiên thai nhi
phải chui qua xương chậu Vì vậy khi khám thai cũng phải
khám vùng xương chậu vì khi xương này có hình dạng bất
thường hoặc kích thước quá hẹp, phụ nữ mang thai không
sinh thường được mà phải mổ tử cung mang thai nhi ra
e) Theo dõi sự phát triển của tử cung: Khi thai được lối 4
tháng, bác sĩ khám bụng phụ nữ mang thai có thể nắn thấy
tử cung và đo từ đáy tử cung tới vành xương chậu để theo
dõi sự phát triển của tử cung Nếu tử cung không phát triển
như dự liệu là báo hiệu bào thai hoặc lượng nước ối có điều bất thường
f) Theo dõi nhịp tim bào thai: Hiện nay, máy Doppler nghe
tim bào thai giúp ta phát hiện và theo dõi nhịp tim này khi thai được lối 3 tháng Nếu dùng ống nghe không có bộ phận điện tử, phải tới lúc thai được 4 tháng rưỡi hay 5 tháng mới nghe được tim bào thai
g) Theo dõi vị thế bào thai: Trong 3 tháng đầu, bào thai nằm
trong xương chậu Khi phát triển lớn hơn, bào thai trồi lên trên và nằm ngang rồi tới gần ngày sinh nó sẽ xoay đầu trở xuống và chui vào trong xương chậu Tới lúc thai được 7 hoặc 8 tháng, nếu phát hiện sớm là bào thai xoay ngược, đầu trên chân dưới, bác sĩ có thể thử đẩy cho nó xoay theo đúng chiều hướng thông thường
2) Xét nghiệm:
a) Xét nghiệm máu: Ngoài những xét nghiệm máu tổng quát;
thông thường, phụ nữ mang thai sẽ được xét nghiệm thêm
về nhóm máu, bệnh giang mai, bệnh HIV, bệnh viêm gan B
và C Nếu phụ nữ mang thai không biết rõ khi trước mình
có bị bệnh thủy đậu và ban Đức (German measles) hay không thì phải xét nghiệm thêm về 2 bệnh này Tới khi bào thai được 3 tháng, dùng các xét nghiệm máu đặc biệt có thể phát hiện nguy cơ dị tật bẩm sinh: dị tật bộ thần kinh và bệnh Down (dáng người thấp bé, mặt tròn, mũi tẹt, mắt xếch, trí thức chậm phát triển=Down syndrome)
b) Xét nghiệm nước tiểu: Một số hóa chất do bào thai sản xuất
có thể làm tổn hại chức năng thận của phụ nữ mang thai Vì vậy, mỗi kỳ khám thai luôn luôn phải thử nước tiểu, xác định lượng đản bạch để kịp thời điều trị bệnh thận khi mang thai
Khi lượng đường trong nước tiểu gia tăng, cần xác định phụ
nữ mang thai có bị bệnh tiểu đường khi mang thai hay không Hiện có cách xét nghiệm máu để chẩn đoán bệnh này
c) Xét nghiệm nước ối, xét nghiệm nhau: Có một số trường
hợp đặc biệt cần lấy mẫu nước ối để xét nghiệm Có khi phải lấy mẫu sinh thiết (biopsy) nhau Vì 2 loại xét nghiệm này phải xâm nhập tử cung nên có nguy cơ nhẹ làm hư thai 3) Chiếu siêu âm:
Thông thường, phụ nữ mang thai có thể được chiếu siêu âm khoa sản khi thai được 20 tuần Mục đích chiếu siêu âm khoa sản là để:
Trang 9 Chẩn đoán có thai,
Xác định trường hợp có nhiều bào thai,
Chẩn đoán thai bất thường: hư thai, thai ngoại tử cung, thai
trứng,
Xác định bào thai chậm phát triển hoặc có dị tật,
Khảo sát tình trạng nước ối, cuống rốn,
Tính ngày lâm bồn, trong trường hợp không biết chắc chắn
ngày hành kinh cuối cùng trước khi mang thai
Chiếu siêu âm khoa sản đã được áp dụng từ nhiều thập niên và được
coi là tương đối an toàn Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng chiếu
nhiều lần vì có một nhóm nghiên cứu tại nước Anh nhận thấy đa số
con của các phụ nữ mang thai chiếu siêu âm khoa sản nhiều lần
chậm học nói hơn các trẻ khác
Vệ sinh thời kỳ tiền sản
Vệ sinh thời kỳ tiền sản bao gồm các điều chỉ dẫn về mọi chi tiết
sinh hoạt để giữ sức khỏe cho phụ nữ mang thai và bào thai
1) Dinh dưỡng:
Khi mang thai, các bà mẹ cần ăn nhiều hơn thường ngày để nuôi
bào thai Tuy nhiên nên nhớ là khẩu phần tăng lên khoảng gấp
rưỡi chứ không gấp đôi lúc bình thường Ngoài ra, phải bớt chất
mặn trong thực phẩm nghĩa là ăn lạt hơn thường ngày Rượu và
thuốc lá tuyệt đối không dùng
2) Dược phẩm:
Nói chung, các bà nên tránh uống thuốc trong thời kỳ mang
thai, ngoài những thuốc bệnh bắt buộc phải dùng Lý do là y học
không hiểu biết bao quát tất cả các loại thuốc có khả nảng gây
dị tật bẩm sinh Dùng các loại dược thảo (herbal medicines)
cũng có nguy cơ tác hại bào thai
Đối lại, trong suốt thời kỳ mang thai, các bà cần uống
acit fôlic (folic acid) tối thiểu là 400mcg mỗi ngày để phòng
ngừa dị tật bộ thần kinh bào thai Khi cần tới thuốc giảm đau
hoặc thuốc chống ói mửa, các phụ nữ mang thai có thể dùng
Tylenol và Gravol là những thuốc an toàn cho bào thai
3) Sinh hoạt:
Nên vận động cơ thể trong khi mang thai Các bà thường chơi
thể thao có thể tiếp tục môn thể thao đó miễn là đừng vận động
quá mạnh Tất nhiên nên tránh các môn thể thao cần chạy
nhanh, nhảy, đụng chạm cơ thể, dễ ngã
Phụ nữ mang thai hãy ngưng dùng đường hàng không khi thai được 8 tháng vì có triển vọng các bà sẽ sinh con trên máy bay
Quan hệ nam nữ giữa vợ chồng có thể tiếp tục nhưng cần chú ý hoạt động nhẹ nhàng hơn lúc bình thường, và cần đặc biệt giữ gìn khi thai được 4 tháng là lúc dễ hư hơn hết
Ngoài xã hội, phụ nữ mang thai có thể tiếp tục làm việc với điều kiện là:
Một tuần lễ làm việc tối đa 36 giờ, một ngày làm việc tối đa
10 giờ, thời gian đứng để làm việc tối đa 4 giờ một ngày,
Không được mang sách đồ vật nặng,
Không làm việc những nơi quá ồn ào hoặc trong phòng lạnh, nơi phải tiếp xúc với nhiều hóa chất hay phóng xạ,
Không làm những việc gây khẩn trương quá đáng
4) Tiêm chủng:
Trong thời kỳ mang thai, việc tiêm chủng ngừa phong đòn gánh, yết hầu, ho gà, cúm, , cần có ý kiến của bác sĩ gia đình, hay bác sĩ sản phụ khoa (xin đọc bài: Lịch Trình Chủng Ngừa, trong phần Một)
5) Coi chừng dấu hiệu bất thường khi có thai:
Thông thường, phụ nữ mang thai có thể cảm nhận thấy bào thai máy động khi thai được 4 tháng rưỡi Nên thường xuyên chú ý đến việc này
Các dấu hiệu thai bất thường là: băng huyết, đau bụng dưới từng cơn, bào thai không máy động trong 12 tiếng đồng hồ, chảy nước ối ở âm đạo
Kết luận
Tóm tắt lại, bộ môn khám thai đã được hệ thống hóa từ nhiều thập niên, chỉ dẫn rõ ràng từng giai đoạn và chi tiết, để cho bác sĩ cùng phụ nữ mang thai dễ dàng theo đó mà áp dụng Vậy muốn bảo đảm sức khỏe cho chính mình và cho bào thai, phụ nữ mang thai hãy tuân hành đúng đắn những chỉ dẫn của bác sĩ và nhân viên y tế khi
đi khám thai
Trang 107 Nguy Cơ Bệnh Lý Khi
Mang Thai
BS Đinh Đại-Kha
Đại cương
Nói chung mọi người chúng ta đều cho rằng mang thai rồi sinh con
là chuyện bình thường trong đời người phụ nữ Tuy nhiên kinh
nghiệm y khoa từ ngàn xưa truyền lại cho biết là có nhiều biến
chứng gây bệnh có thể xảy ra trong thai kỳ, kể từ lúc bà mẹ bắt đầu
cấn thai cho đến khi sinh con Nguy cơ này cũng còn bao gồm thời
kỳ hậu sản nữa
Bệnh lý khi mang thai nặng có, nhẹ có, thậm chí có khi gây tử
vong cho phụ nữ mang thai Theo thống kê thì con số tử vong do
biến chứng khi mang thai cho tới nay (2012) vẫn còn vào khoảng 1
phần 10 ngàn
Nguyên nhân bệnh lý khi mang thai có loại trực tiếp do cơ thể
phụ nữ mang thai bị biến đổi mà sinh ra và loại gián tiếp do ảnh
hưởng của bào thai bất bình thường, nhau bất bình thường, các biến
chứng khác khi sinh con
Nguy cơ bệnh lý trực tiếp
Trong thời kỳ phụ nữ mang thai, biến dưỡng cơ thể có rất nhiều thay
đổi Bệnh lý sẵn có của các bà mẹ thường bị ảnh hưởng của các thay
đổi biến dưỡng này mà thêm trầm trọng Ngay đối với phụ nữ vô
bệnh, thay đổi biến dưỡng khi mang thai cũng có thể tăng lên quá
mức chịu đựng của cơ thể mà gây bệnh
1 Huyết áp cao
Huyết áp cao là bệnh lý thông thường nhất trong khi mang thai
Huyết áp cao gây biến chứng cho 2-3% các phụ nữ mang thai
Huyết áp cao khi mang thai chia ra làm 2 loại: huyết áp cao mãn
tính và huyết áp cao do thai nghén gây ra
a) Huyết áp cao mãn tính
Đây là bệnh lý sẵn có của phụ nữ trước khi cấn thai Theo
định nghĩa, huyết áp cao mãn tính của phụ nữ mang thai là
huyết áp cao hơn số 140/90 hoặc sẵn có từ trước khi mang thai hoặc phát hiện trước khi thai được 20 tuần lễ Khoảng 1% các phụ nữ mang thai bị bệnh huyết áp cao mãn tính Một số nhỏ các trường hợp này tiến triển tới một tình trạng nguy hiểm cả cho người mẹ lẫn bào thai được gọi là tiền độc huyết sản (preeclampsia)
b) Huyết áp cao do thai nghén gây ra Các phụ nữ vô bệnh tới khi mang thai cũng có thể bị huyết áp cao Có khoảng 5-6% phụ nữ mang thai mắc phải bệnh lý này
Họ có huyết áp cao hơn 140/90, phát hiện khi thai được hơn
20 tuần lễ Thông thường các bà này không cảm thấy triệu chứng gì khác lạ
Khoảng 30% các phụ nữ này sẽ tiếp tục có huyết áp cao sau khi sinh con nghĩa là bị bệnh huyết áp cao mãn tính Số 70% kia sẽ trở lại vô bệnh sau khi sinh con Một số trường hợp huyết áp cao khi mang thai cũng tiến triển tới tình trạng tiền độc huyết sản
Tiền độc huyết sản là gi?
Khi người phụ nữ mang thai bị bệnh huyết áp cao trầm trọng, khởi đầu các biến chứng nguy hại cho cả người mẹ lẫn bào thai, thì gọi
là tiền độc huyết sản Bệnh lý này gây ra:
Viêm nội mạc động mạch mọi nơi trong cơ thể nên hiệu năng tuần hoàn kém đi, nói chung các mô đều thiếu ô-xy hơn lúc thường
Nhiều thay đổi biến dưỡng khiến phụ nữ mang thai bị mập phì, giảm hiệu năng in-su-lin, thử nghiệm chất béo trong máu thấy tăng lượng LDL (low density lipoprotein) và TG (triglyceride)
Thay đổi hóa chất trong máu làm máu dễ đông đặc, gây nguy
cơ đọng cục máu tĩnh mạch
Tình trạng tiền độc huyết sản gây triệu chứng như sau:
Hoa mắt: nhìn thấy những tia chớp sáng hoặc những điểm đen
Nhức đầu đa dạng: đau nhức bất kỳ chỗ nào trên đầu, có khi đau nửa đầu
Đau bụng trên hoặc ở giữa hoặc ở bên tay phải
Sưng chi trên hoặc sưng mặt
Lên cân mau