Những người dưới 65 tuổi mà có bệnh phổi kinh niên suyễn, viêm phổi, tim mạch kinh niên, tiểu đường, suy thận kinh niên, hút thuốc lá, nghiện rượu kinh niên, chai gan, không còn lá lách
Trang 1Y Học Thường
Thức
Xuất Bản Tại Tiểu Bang Florida, Hoa Kỳ
Tháng Năm, 2013
Trang 2Vài Lời Giới Thiệu
Tôi rất hân hạnh đọc bản thảo quyển Y Học Thường Thức do Hội
Y Nha Dược Sĩ Việt Nam tại Florida thực hiện, nhằm phổ biến
những điều hiểu biết căn bản về sức khỏe
Nội dung quyển sách gồm 120 bài được chia làm nhiều phần, từ bảo
vệ sức khỏe nói chung đến triệu chứng các bệnh Các bài chuyên về
Sản Phụ Khoa, Nhi Khoa và Ung Thư được sắp riêng biệt giúp độc
giả dễ tìm
Các bài viết về các bệnh thường xẩy ra trong cộng đồng Việt Nam
được trình bày ngắn gọn dễ đọc Những lời khuyên giữ gìn sức khỏe
rất hữu dụng
Quyển Y Học Thường Thức được thành hình và xuất bản là do sự
đóng góp công lao và thì giờ của các Y Nha Dược Sĩ tại tiểu bang
Florida và nơi khác
Quyển sách nầy rất hữu ích cho độc giả trong cộng đồng Việt Nam
ở hải ngoại Mong Quý đồng nghiệp Y Nha Dược hưởng ứng phổ
biến rộng rãi cho bệnh nhân và gia đình
Thư của Trưởng Ban Biên Tập
Hội Y Nha Dược Sĩ Việt Nam tại Florida từ lâu vẫn ấp ủ hoài bão làm sao nâng cao sự hiểu biết về Y Học trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại Cuốn Y Học Thường Thức này được ra đời không ngoài mục đích trên
Nhờ sự hợp sức của Y Nha Duợc Sĩ trong và ngoài tiểu bang Florida, đóng góp nhiều bài vở rất giá trị, bao gồm tất cả địa hạt Y Học hiện đại, cùng với sự làm việc hăng say của các ban trình bày, ban ấn loát đã đem lại cho cuốn sách một nội dung súc tích, hình thức rõ ràng, gọn và đẹp Chúng tôi tin rằng cuốn sách sẽ giúp người đọc mở rộng tầm hiểu biết về nền Y Học tân tiến và áp dụng trong cuộc sống hàng ngày
Chúng tôi ước mong cộng đồng Việt Nam hải ngoại sẽ đón tiếp cuốn Y Học Thường Thức này một cách nồng nhiệt vì sự ứng dụng thiết thực trong mọi gia đình
Chúng tôi xin gửi lời cảm tạ chân thành nhất đến các Y Nha Dược
Sĩ đã đóng góp bài vở, các anh chị trong ban Tiếng Việt, ban Cổ Động, ban Ấn Loát, ban Phát Hành, và tất cả những Ân Nhân xa, gần, đã góp công, góp của, để thực hiện cuốn Y Học Thường Thức này
Trân trọng,
BS Vũ Trọng Hùng
Trang 3iv
Thư của Ban Phối Hợp
Cuốn Y Học Thường Thức, do Hội Y Nha Dược Sĩ Việt Nam tại
Florida thực hiện, nhằm phổ biến những điều căn bản về giữ gìn sức
khỏe, cách phòng bệnh, các chứng bệnh và các bệnh thường gặp ở
mọi lứa tuổi
Các bài được trình bày gọn gàng, mạch lạc bằng tiếng Việt để quí
Sách được đóng bằng bìa cứng Trong kỳ tái bản, chúng tôi dự trù
sách sẽ có thêm các bài mới và cập nhật các bài cũ khi cần
Cơ cấu thực hiện cuốn sách:
1 Điều Hành: Hội Đồng Quản Trị và Ban Chấp Hành Hội Y Nha
Dược Sĩ Việt Nam tại Florida
2 Trưởng Ban Biên Tập: BS Vũ Trọng Hùng
3 Trưởng Ban Phối Hợp: BS Hoàng Cầm
Bà Lê Cẩm Hoàng, Vật lý trị liệu
Bà Mai-Anh Hoàng, chuyên viên Y tế Công cộng
BS Đỗ Văn Hội
BS Vũ Trọng Hùng
BS Đinh Đại Kha
BS Nguyễn Tài Mai
v
BS Lê Quang Minh
BS Nguyễn Tương Phi-Yến
BS Nguyễn Quyền Qưới
BS Nguyền Quyền Tài
6 Ban Trình bày & Ấn loát
BS Nguyễn Mậu Hưng
BS Trần Mạnh Tung
Ô Hoàng Đinh Trọng Ân
Bà Lê Minh Hoàng
Bà ThủyTiên Adams
Bà Phan T Bích-Dung Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Hội Đồng Quản Trị và Ban Chấp Hành Hội Y Nha Dược Sĩ Việt Nam tại Florida, tất cả các đồng nghiệp, các bạn ngoài y giới, các vị mạnh thường quân, đã đóng góp tài năng, thiện chí, và tài chánh Nhờ vậy, cuốn Y Học Thường Thức với hình thức trang nhã và nội dung súc tích đã được ra mắt cộng đồng Người Việt
Chúng tôi rất mong được sự hợp tác rộng rãi để cuốn Y Học Thường Thức trong lần tái bản được đầy đủ hơn, thích ứng với sự tiến triển không ngừng của Y Học
Trân trọng,
BS Hoàng Cầm
Trang 4Mục Lục Phần I: Bảo Vệ Sức Khỏe
1 Lịch trình chủng ngừa 2
2 Dưỡng sinh .5
3 Thể dục cho người lớn tuổi 9
4 Thức ăn, thức uống 17
5 Sinh tố, muối khoáng 24
6 Khẩu phần hàng ngày .36
7 Rượu và sức khỏe 41
8 Thuốc lá và sức khỏe 45
9 Khai bệnh 48
10 Phản ứng phụ của thuốc 50
11 Những điều cần biết khi dùng thuốc 64
12 Những điều cần biết về da .66
13 Săn sóc da .70
14 Những điều cần biết về mắt 74
15 Săn sóc cấp cứu 82
16 Phục hồi chức năng cơ sàn chậu 90
17 Dụng cụ thích hợp giúp việc di chuyển 98
Phần II: Các Triệu Chứng và Biểu Hiệu 1 Chấn Thương Sọ Não .108
2 Chóng mặt 122
3 Da khô .138
4 Đau bụng 141
5 Đau lưng 146
6 Đau ngực 151
7 Đau nhức cánh tay .155
8 Đổ nhiều mồ hôi .160
9 Ho và số bệnh liên hệ 163
10 Hôi miệng 170
11 Hội chứng ruột kích thích .172
12 Mất ngủ 174
13 Nhức đầu 177
14 Phản phệ 180
15 Run tay 182
16 Rụng tóc 186
17 Sưng chân .190
18 Táo bón 195
19 Té 199
20 Tiêu chảy 203
21 Tiểu ra máu .207
22 Tiểu són .210
Phần III: Các Bệnh Bệnh dinh dưỡng 1 Bệnh béo phì .216
2 Bệnh mỡ cao .222
3 Bệnh tiểu đường 231
4 Xét nghiệm HA1C trong bệnh tiểu đường 238
Bệnh tim mạch 5 Bệnh cao huyết áp 240
6 Chứng đau ngực và nhồi máu cơ tim .245
7 Những biểu hiệu báo động tai biến mạch máu não 248
8 Bệnh giãn tĩnh mạch ở chân 251
Bệnh hô hấp 9 Bệnh viêm phổi 253
10 Bệnh nghẽn phế quản dai dẳng 255
11 Bệnh suyễn 257
Bệnh tiêu hóa 12 Bệnh loét bao tử và tá tràng .259
13 Bệnh dội ngược dịch vị 263
14 Viêm gan 265
15 Bệnh túi phình ruột già .271
16 Bệnh trĩ 275
Bệnh tiết niệu và sinh dục 17 Bệnh thận và đường tiểu 278
18 Nhiễm trùng đường tiểu 284
19 Bệnh phì đại tuyến tiền liệt 286
20 Viêm tuyến tiền liệt 290
21 Bệnh giang mai .292
Bệnh nội tiết 22 Bướu giáp trạng 295
23 Bệnh nhược tuyến giáp .298
24 Bệnh cường tuyến giáp .300
Bệnh cơ quan vận động 25 Bệnh thoái hóa khớp xương 302
Trang 5viii
26 Hẹp ống cột sống thắt lưng 305
27 Bệnh nhược cơ 308
Bệnh mắt 28 Viêm kết mạc 310
29 Mắt đỏ 312
30 Chứng sụp mí mắt 315
31 Chứng lé mắt 317
32 Mắt cườm 319
33 Bệnh mắt cườm ướt 321
Bệnh da 34 Mụn trứng cá 324
35 Bệnh trứng cá đỏ 327
36 Bệnh chàm .329
37 Bệnh dời ăn 331
38 Bệnh mồng gà .333
39 Mụt cóc .335
40 Bệnh vẩy nến 337
41 Bệnh nhiễm trùng da 339
42 Bệnh móng tay chân .348
Bệnh răng 43 Bệnh nha chu .358
44 Bệnh sâu răng 361
45 Cách giữ gìn răng giả 364
46 Răng khôn 366
47 Tẩy trắng răng 370
Phần IV: Sản Phụ Khoa 1 Rối loạn kinh nguyệt 374
2 Rong kinh 377
3 Bệnh trứng đa nang 380
4 U xơ tử cung .382
5 Viêm âm đạo 385
6 Khám thai 387
7 Nguy cơ bệnh lý khi mang thai 392
8 Thuốc ngừa thai và thuốc bổ túc kích thích tố khi mãn kinh .397
ix Phần V: Nhi Khoa 1 Bệnh mập phì của trẻ em .404
2 Cách cho trẻ em ăn từ lúc mới sanh tới một tuổi 407
3 Chứng hăm 411
4 Chứng đái dầm 413
5 Cơn phẫn nộ ở trẻ em 416
6 Màu sắc nước tiểu 419
7 Mất ngủ, khó ngủ 422
8 Răng đầu tiên của trẻ em 425
9 Tật mút tay .426
10 Viêm cấp tính tai giữa 428
11 Viêm dạ dày và ruột 432
12 Viêm tiểu phế quản 434
Phần VI: Ung Thư 1 Tổng quát về ung thư 438
2 Những việc cần làm để có thể giảm thiểu bướu độc 442
3 Ung thư phổi 445
4 Ung thư vú .449
5 Ung thư tuyến tiền liệt 452
6 Ung thư cổ tử cung 455
7 Ung thư ruột 458
8 Ung thư thực quản 463
9 Ung thư bao tử 466
10 Ung thư gan 468
11 Ung thư tuyến tụy 471
12 Ung thư bàng quang 474
13 Ung thư da 478
Phần VII: Tự V ựng
Trang 6Phần I Bảo Vệ Sức Khỏe
Trang 72
1 Lịch Trình Chích Ngừa của
Người Lớn
BS Vũ Trọng Hùng
Chúng ta ai cũng biết “phòng bệnh hơn là chữa bệnh” Có tất cả 14
chứng bệnh có thể được ngăn ngừa bằng thuốc chích cho tất cả
nam, nữ, từ 19 tuổi trở lên
Tất cả những người mang thai, bị AIDS, HIV (không có miễn
nhiễm): không được chủng ngừa Varicella, Zoster, Measles,
Mumps, Rubella
1) Tetanus, diphtheria, pertussis (Td/Tdap), phong đòn gánh,
yết hầu, ho gà
Ai chưa chích ngừa bao giờ: 1 liều Tdap (Tetanus, acellular
pertussis) Những người đã có chích ngừa trước: 1 liều nhắc lại
(booster) Td mỗi 10 năm
2) Human papillomavirus, chủng ngừa ung thư cổ tử cung
Thuốc mới phòng ngừa ung thư cổ tử cung dành cho phụ nữ từ 13
tuổi đến 28 tuổi, một số ít trẻ em gái từ 11 hay 12 tuổi nếu đã có liên
Thuốc chủng tương đối mới, dành cho những người lớn tuổi từ 60
tuổi trở lên Bệnh bắt đầu bằng nóng, sốt, mảng da đỏ, có những hạt
mọng nước li ti, dọc theo những đường giây thần kinh, nhất là ở
ngực, lưng Những hạt mọng nước lớn thêm và rất đau Nếu bệnh
Rất may, thuốc chủng ngừa mới có thể tránh hoặc giảm thiểu biến chứng của bệnh Zoster Thuốc chích một lần duy nhất mà thôi
5) Measles, mumps, rubella (ban đỏ, quai bị, rubella)
Những người sanh trước năm 1957: không cần chủng ngừa vì đã đựơc miễn nhiễm
Những người sanh năm 1957 và về sau: 1 liều
Một liều thứ 2 sau liều thứ nhất 1 tháng đặc biệt dành cho những người du lịch quốc tế, làm việc trong bệnh viện, nhà dưỡng lão, trong thời gian có dịch
6) Influenza (Bệnh cúm)
Hầu hết mọi người đều phải được chích ngừa bệnh cúm, mỗi năm một lần Có thể dùng thuốc nhỏ mũi (intranasal attenuated influenza vaccine, FluMist) hoặc Inactivated vaccine (thuốc làm từ siêu vi trùng đã chết) nếu không dùng được loại thuốc chủng ngừa thông thường
7) Pneumococcal (polysaccharide), Thuốc ngừa viêm phổi do vi trùng Pneumococcus gây ra
Tất cả những người trên 65 tuổi đều phải được chích ngừa một lần duy nhất mà thôi Những người dưới 65 tuổi mà có bệnh phổi kinh niên (suyễn, viêm phổi), tim mạch kinh niên, tiểu đường, suy thận kinh niên, hút thuốc lá, nghiện rượu kinh niên, chai gan, không còn
lá lách (asplenia), không có miễn nhiễm, cần được chích ngừa viêm phổi
Chích ngừa lại (Revaccination with Pneumococcal polysaccharide) Chích ngừa lại một lần duy nhất 5 năm sau liều thứ nhất, cho những bệnh nhân bị suy thận kinh niên, bệnh nhân không còn lá lách, bệnh nhân không có miễn nhiễm
Trang 8Chích ngừa lại một lần duy nhất cũng được áp dụng cho những bệnh
nhân bây giờ trên 65 tuổi, nhưng lúc được chích ngừa lần đầu tiên là
dưới 65 tuổi Hai kỳ chích ngừa này phải cách nhau 5 năm
8) Hepatitis A (Viêm gan siêu vi trùng A)
Những người bị bệnh gan kinh niên, nhân viên phòng thí nghiệm,
du lịch thế giới, người đồng tình luyến ái đều nên chủng ngừa
Chích 2 liều, liều thứ 2 cách liều thứ nhất 6 tới 12 tháng
Có thuốc gồm cả 2 siêu vi trùng A và B (Twinrix): chích 3 liều, liều
thứ 2 sau liều thứ nhất 1 tháng, liều thứ 3 cách liều thứ nhất 6 tháng
Hepatitis B (Viêm gan siêu vi trùng B)
Dành cho những bệnh nhân bị bệnh gan kinh niên, suy thận kinh
niên đang dùng máy lọc máu (hemodialysis), bệnh đồng tình luyến
ái, nhân viên y tế, AIDS, HIV, du lịch thế giới
Chích 3 liều, liều thứ 2 cách liều thứ nhất 1 tháng, liều thứ 3 cách
liều thứ nhất 4 tháng
9) Meningocococal (Viêm màng óc do vi trùng meningoccocus)
Viêm màng óc do vi khuẩn này (meningococcal meningitis) rất
nguy hiểm vì tỉ số tử vong rất cao
Thuốc chủng MCV4 (meningococcal conjugate vaccine): dành cho
những người dưới 55 tuổi làm trong phòng thí nghiệm, tân binh,
bệnh nhân không còn lá lách (asplenia), sinh viên năm thứ nhất ở
trong campus, hành hương Mecca
Thuốc chủng MPSV4 (meningococcal polysaccharide vaccine):
dành cho những người trên 56 tuổi
Ghi chú
Xin nhắc lại ở đây là những người đang mang thai, bị AIDS, HIV,
không được chích ngừa Varicella, Zoster, Measles, mumps, rubella
Những người không còn miễn nhiễm (AIDS, HIV) thì không được
dùng thuốc chủng có siêu vi trùng còn sống (live virus vaccine)
2 Bí Quyết Dưỡng Sinh
BS Đinh Đại-Kha
Đại cương
Làm cách nào để tăng tuổi thọ đồng thời tránh bệnh tật thông thường của tuổi lão niên (bệnh tim mạch và tiểu đường), đó tất nhiên là điều quan tâm hàng đầu của mọi người, mà khi chúng ta càng cao tuổi thì vấn đề này càng thêm khẩn thiết Thật không ai ngờ là đáp án của câu hỏi này lại rất giản dị và ở trong tầm tay chúng ta Sau đây là những thông tin từ năm 2008 về phương cách sửa đổi lề lối sinh hoạt để đạt mục tiêu nói trên
Nhiều nhóm nghiên cứu đề xuất ra một đường lối sinh hoạt bao gồm những quy luật đơn giản về dinh dưỡng, trọng lượng cơ thể, thể dục, uống rượu và hút thuốc, với dự kiến là “lề lối sinh hoạt lợi ích cho sức khỏe” (healthy lifestyle) này sẽ phòng ngừa được bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch Thể theo phương cách về y khoa chứng
cứ, các nhà khoa học áp dụng lối sinh hoạt này cho một nhóm rất đông người và theo dõi tình trạng sức khỏe của họ trong thời gian nhiều năm So sánh với một nhân số tương đương có cùng trình độ sức khỏe khởi đầu, quả nhiên sinh hoạt đúng cách đã làm giảm mạnh bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch Họ còn tìm ra được một kết quả ngoài dự toán là bệnh đột quỵ cũng giảm bớt rất nhiều Tường trình các thử nghiệm về sinh hoạt đúng đắn
“Lề lối sinh hoạt lợi ích cho sức khỏe” bao gồm 5 yếu tố:
1 Dinh dưỡng
Khẩu phần thường ngày phải “cân bằng”, nghĩa là có đủ loại thực phẩm: chất bột, chất đạm, rau, trái cây, sữa bò, và về số lượng phải
có nhiều rau, trái cây còn 3 loại thực phẩm kia dùng ít hơn Ngoài
ra, phải giảm ăn dầu, mỡ và chất mặn vì khẩu phần thông thường của chúng ta luôn luôn dư các chất này
Trang 96
2 Trọng lượng cơ thể
Theo thống kê, người khỏe mạnh có chỉ số trọng khối cơ thể (body
mass index) nhỏ hơn số 25 Cách tính chỉ số này là lấy con số về
trọng lượng cơ thể (kilogram) chia cho số bình phương của chiều
cao (mét) Thí dụ một người cao 1m,50 và nặng 50kg thì chỉ số
trọng khối cơ thể là: 50 chia cho (1,5x1,5) thành ra 50:2,25=22,2
Một cách giản dị hơn để xác định trọng lượng cơ thể trung bình là
con số về trọng lượng cơ thể (kg) không được lớn hơn con số về
chiều cao (cm) trừ đi 100 Thí dụ người cao 150cm không được
nặng hơn 150-100=50kg Người mập phải phối hợp bớt ăn và tăng
vận động để đạt trọng lượng cơ thể trung bình
3 Thể dục
Cần phải vận động trung bình 30 phút một ngày Hãy tập thể dục từ
nhẹ nhàng đến vừa phải tùy khả năng của mình Thanh niên có thể
tập các thể thao mạnh dạn hơn Nguyên tắc là tùy sức vì thể dục quá
sức có hại hơn là lợi Các loại vận động đều có thể sử dụng được:
thể dục dưỡng sinh thông thường, đi bộ, bơi lội, đánh tay, khiêu
vũ
4 Rượu
Hạn chế uống rượu, đàn ông dùng tối đa 30gram cồn mỗi ngày, đàn
bà dùng một nửa số này Như vậy lượng rượu tối đa cho đàn bà
trong một ngày là: hoặc một ly nhỏ rượu mạnh hoặc một ly trung
bình rượu vang (chát) hoặc một chai bia Đàn ông có thể uống gấp
đôi số lượng này So sánh các thứ rượu thì rượu vang đỏ có ít nhiều
lợi ích cho sức khỏe vì giúp cơ thể biến dưỡng cô-let-tê-rôn
5 Thuốc lá
Tuyệt đối không sử dụng mọi loại thuốc lá, dù là thuốc điếu, thuốc
lào, thuốc rê, thuốc xỉa, thuốc hút bằng ống điếu hay điếu bát
Hai nhóm nghiên cứu có tầm cỡ ở Mỹ là Nurses’ Health Study
(NHS) và Health Professional Follow-up Study (NPFS) đã áp dụng
sinh hoạt đúng cách trên đây cho những người tình nguyện NHS
vận động được hơn 70 ngàn người tình nguyện phái nữ và bên
NPFS có gần 44 ngàn đàn ông đăng ký Tình nguyện viên của mỗi
nhóm nghiên cứu lại chia làm hai chi, một bên chấp hành sinh hoạt
đúng cách, một bên sinh hoạt tùy thích Sau thời gian theo dõi hơn 6
năm, kết quả là chi chấp hành sinh hoạt đúng cách của cả bên NHS
và bên NPFS đều ít bệnh hơn chi kia:
7
1) Bệnh tiểu đường bớt 90%
2) Bệnh tim mạch bớt 80%
3) Bệnh đột quỵ bớt 80%
Nói theo cách dễ hiểu hơn thì khi bên nhóm sinh hoạt tùy thích có
100 người lâm bệnh tiểu đường, bên nhóm sinh hoạt đúng đắn chỉ
có 10 người bị bệnh này mà thôi Đối với bệnh tim mạch và đột quỵ thì tương quan là 100 người so với 20 người Những số liệu này thật
đã biện minh hùng hồn cho lợi ích của lề lối sinh hoạt mệnh danh là
“lợi ích cho sức khỏe”
Kết quả của hai cuộc thử nghiệm này còn cho biết là cả 5 yếu tố của
“lề lối sinh hoạt lợi ích cho sức khỏe” đều quan trọng tương đương như nhau Là vì trong nhóm sinh hoạt tùy thích, bất kể thiếu một thứ nào trong 5 yếu tố này đều làm tăng số người lâm bệnh
Để kết luận
Nếu ta suy diễn theo những thông tin trên đây thì phải công nhận là
lề lối sinh hoạt chung hiện nay có hại cho sức khỏe Vì vậy bí quyết dưỡng sinh đã có sẵn, ta phải chủ động thay đổi cách sống theo phác
đồ sau đây:
1 Dinh dưỡng Hiện nay, khẩu phần thông thường của chúng ta dư
chất đạm (thịt, cá, hải sản ) mà thiếu rau, trái cây Phải sửa đổi lại, bớt chất đạm và thêm rau, trái cây cho khẩu phần được cân bằng hơn Trong khẩu phần cân bằng có kể tới sữa, nhưng nếu bạn không uống sữa bò được (đau bụng) thì có thể thay thế bằng sữa đậu nành Các chất béo dù là mỡ động vật (kể cả bơ và phô-ma) hay dầu thực vật đều phải hạn chế Nói một cách đơn giản thì khẩu phần hàng ngày không được dùng hơn 30 phân khối chất béo, tính chung cả dầu mỡ dùng chiên, sào, trộn sà-lách, lẫn trong sữa, trong mì ăn liền, trong bánh ngọt Các chất mặn cũng cần hạn chế là vì khẩu phần trung bình của người Việt chứa tới 3 hay 4 lần lượng Nat-ri (muối, nước mắm, nước tương, bột ngọt) cần cho nhu cầu cơ thể
2 Trọng lượng cơ thể Cần giữ trọng lượng cơ thể trung bình
Người mập cần phối hợp bớt ăn và tăng vận động để đạt trọng lượng
cơ thể trung bình Ngoài ra, người mập cũng nên đặc biệt bớt các chất bột (cơm, bún, phở, mì ) vì ăn uống dư chất bột là một nguyên nhân của bệnh tiểu đường loại 2
Trang 103 Thể dục Kiên trì vận động thường xuyên cũng là một điều khó
thực hành Vì vậy, chúng ta nên tìm một thứ thể dục mình ưa thích
để có thể tiếp tục lâu dài (bơi lội, khiêu vũ ) Vận động cơ thể cần
phải đều hòa, nghĩa là ít nhất cũng phải tập thể dục 3 ngày trong 1
tuần Thể dục nhẹ như đi bộ, đi xe đạp chậm chậm cũng đủ ích lợi
cho sức khỏe Cho nên thí dụ như đánh quần vợt tuần lễ một lần
không ích lợi bằng đi bộ 4 ngày một tuần Tổng cộng thời gian vận
động mỗi tuần phải từ 3 tiếng rưỡi trở lên
4 Rượu Đã từ lâu, nhậu nhẹt gần như thành một truyền thống của
dân Việt Chúng ta cần từ bỏ thói xấu tác hại sức khỏe này, càng
sớm càng tốt Tuy không có thống kê chi tiết, nhưng số bệnh nhân
bị xơ gan (cả nam lẫn nữ) cần điều trị hiện nay mỗi năm mỗi tăng
nhiều Xin nhắc lại giới hạn cho nam giới là hai chai bia một ngày
(hoặc số lượng tương đương các thứ rượu khác) và cho nữ giới là
một nửa lượng rượu này mà thôi
5 Thuốc lá Đối với các loại sản phẩm do cây thuốc lá làm ra thì
không có giới hạn nào gọi được là an toàn cho nên phải cấm tuyệt
đối không sử dụng Ngoài những bệnh tim mạch, đột quỵ và tiểu
đường, thuốc lá còn là nguyên nhân bệnh nghẽn phế quản mãn, dãn
phổi (emphysema) và ung thư phổi Ý tưởng hút thuốc lào lọc qua
một lớp nước cho bớt độc hại là một điều sai lầm hoàn toàn vì thời
gian khói thuốc tiếp xúc với nước rất ngắn (ít giây đồng hồ), chỉ đủ
giữ lại một vài phần trăm các chất độc mà thôi
Tóm tắt
Nói tóm lại, bí quyết để sống khỏe và sống lâu đã được khoa học
nghiên cứu rõ ràng, chúng ta chỉ cần đem áp dụng cho chính bản
thân mình Tất nhiên việc gì cần tuân thủ thường xuyên cũng dễ
thành nhàm chán, bê trễ nhưng khi làm theo đúng rồi sẽ có phần
thưởng vô giá là sức khỏe lâu dài và tinh thần thoải mái Cũng xin
lưu ý bà con là lề lối sinh hoạt này càng áp dụng sớm càng tốt, giới
thanh niên không nên để đến tuổi già mới bắt đầu lo dưỡng sinh
3 Thể Dục ở Người Lớn Tuổi
BS Dương Hoàng Anh
I Cơ thể và cách sống của người lớn tuổi thường có những thay đổi như sau:
Tim và sự tuần hoàn huyết Khối cơ của tim giảm cùng với sợi đàn hồi của tim trở thành mô xơ khiến sức mạnh của tim và tính co dãn giảm Tim không đáp ứng thích hợp với nhu cầu của cơ thể
Phổi Phổi mất dần tính đàn hồi và dung tích chức năng Sự hô hấp trở nên khó khăn hơn và những đòi hỏi bất thần như khi chạy hay làm công việc nặng, có thể gây khó thở Ngoài ra, phổi cũng dễ bị nhiễm khuẩn
Hệ xương Các xương dài và các đốt xương sống mỏng đi, làm giảm chiều cao của cơ thể Lượng calcium trong xương giảm, nhất là ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh Các khớp xương kém đàn hồi, kém uyển chuyển Sự thay đổi cấu trúc của xương và khớp xương, cùng với những thay đổi tổng quát của sức khỏe khiến người lớn tuổi dễ
bị té, đưa đến thương tổn trầm trọng, nhất là gẫy xương hông Khối bắp thịt Khối bắp thịt giảm, một số được thay bằng mô xơ và chất mỡ Người lớn tuổi dễ bị béo phì, di chuyển khó khăn, nặng nề, gây vấn đề cho các khớp và huyết áp Cao huyết áp đưa đến tình trạng suy tim, bệnh động mạch vành tim, cơn đột quỵ Gần 50% cơn đột quỵ xảy ra ở những người có huyết áp cao
Sự thiếu vận động cơ thể Đa số người lớn tuổi thiếu vận động cơ thể, tỉ lệ cao hơn ở quí bà Thiếu vận động dễ đưa tới bệnh béo phì, bệnh tiểu đường loại 2 (không phụ thuộc insulin), bệnh cao mỡ cùng những biến chứng của các bệnh trên
II Ích lợi của họat động cơ thể và thể dục
Một cách tổng quát, thể dục là phương thức vận động cơ thể làm chậm trễ tình trạng thoái hóa sức khỏe khi về già: duy trì chức năng của cơ quan vận động (xương, bắp thịt, khớp xương), hô hấp, tuần
Trang 1110
hoàn, tiêu hóa, biến dưỡng Người năng vận động cũng dễ vui tính,
dễ hòa nhập với những người xung quanh, tránh được tính trầm
cảm
Hoạt động cơ thể như làm công việc lặt vặt trong nhà, lên xuống cầu
thang, làm vườn, đi bộ trong và ngoài nhà Những họat động này
tránh cho cơ thể tình trạng trì trệ, lười biếng
Thể dục là một dạng của hoạt động cơ thể được đặt theo kế hoạch,
cấu trúc, và lập đi lập lại như cử tạ, tài chi hoặc nhảy theo nhịp điệu
để phát triển hay duy trì sự thích ứng (fitness)
Có bốn lọai thể dục:
1 Thể dục tăng cường sức chịu đựng Loại thể dục này giúp bạn
được khỏe mạnh, gia tăng sự thích ứng, làm công việc hằng ngày dễ
dàng vì nó cải thiện chức năng của hệ tuần hoàn và hô hấp Nó có
thể ngừa một số bịnh thường thấy ở người lớn tuổi như tiểu đường,
ung thư vú và ruột già, bịnh tim
Leo cầu thang, lên đồi
2 Thể dục tăng cường sức mạnh Một sự tăng cường nhỏ sức mạnh
của bắp thịt cũng tạo nên một sự khác biệt lớn trong việc duy trì đời
sống độc lập bản thân
Cử tạ
Sử dụng một dải băng đối kháng (resistance band)
3 Thể dục cân bằng Giúp bạn tránh bị té ngã, thường thấy ở người
lớn tuổi
Đứng một chân
Đi bằng đầu ngón chân hay gót chân
Tài chi
4 Thể dục gia tăng tính linh hoạt (flexibility) Sự duỗi giãn giúp cơ
thể linh hoạt và uyển chuyển trong các hoạt động thường ngày hay
hoạt động thể dục
11
Duỗi giãn vai và chi trên
Duỗi giãn chi dưới
Có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại tràng (colon cancer) và bịnh tiểu đường
Tăng cường sức mạnh của bắp thịt, do đó có thể làm các công việc hằng ngày một cách tốt hơn
Làm giãn bắp thịt và các khớp xương do đó gia tăng tính linh động và ngừa sự tổn hại (injury)
Cử tạ làm mạnh xương và ngừa chứng loãng xương
Cải thiện chức năng và giảm đau ở những người bị viêm khớp Tuy nhiên nên tránh chạy bộ vì tạo căng thẳng trên khớp
Tăng mức endorphin trong cơ thể Endorphin là một hóa chất trong não làm giảm đau và tạo cảm giác thoải mái
Cải thiện tánh khí, nâng cao tinh thần và giảm nhẹ trầm cảm
Giúp nâng cao lòng tự tin qua sự cải thiện toàn bộ sức khỏe và dáng vẻ bên ngoài
Đặc biệt ở người lớn tuổi, thể dục gia tăng độc lập bằng sự cải thiện khả năng hoạt động, ngừa sự té ngã gãy xương, làm tăng sức mạnh cơ bắp
Thể dục làm ăn ngon, giảm táo bón, giúp giấc ngủ dễ dàng
Nên nhớ Những lợi ích kể trên mất dần trong vòng vài tháng sau khi ngưng tập Tình trạng này cũng xảy ra cho các lực sĩ sau khi ngưng tập luyện
Trước khi bắt đầu một chương trình thể dục
Tốt nhất bạn nên khám bác sĩ để loại trừ những bịnh thường thấy ở người lớn tuổi như: bịnh tim phổi, bịnh tiểu đường, bịnh cao huyết
áp, cao cholesterol
Nếu bạn đang dùng thuốc cho các bịnh kinh niên bạn cũng nên hỏi bác sĩ Một vài loại thuốc làm giới hạn khả năng tập luyện như
Trang 12thuốc phong bế beta làm chậm nhịp tim, và các thuốc an thần làm lơ
mơ buồn ngủ, dễ gây té ngã
Cách an toàn nhất khi khởi đầu một chương trình thể dục là tập nhẹ
trước để chân tay nhuần nhuyễn Nếu sau vài phút mà thấy bắp thịt
đau nhức, bạn có thể ngừng tập Khi sự thích ứng gia tăng bạn có
thể tập lâu hơn mà không bị đau nhức Theo thời gian ta có thể tăng
dần cường độ (intensity) và trường độ (duration)
Cường độ, Trường độ và Tính thường xuyên
Tập thể dục luôn phải giữ cân bằng giữa cường độ (bạn tập khó đến
đâu) và trường độ (tập được bao lâu) và tính thường xuyên (tập
thường xuyên được bao lâu)
Đối với đa số, cường độ gia tăng khi người tập mạnh hơn trong khi
trường độ và tính thường xuyên vẫn không thay đổi khi đạt tới một
mức độ nào đó
Muốn tăng sức mạnh của tim, thể dục phải được thực hiện với
cường độ tương đối cao Cường độ có thể thẩm định theo cách sau:
Cường độ đủ khi nhịp tim trong một phút tăng thêm 20 lần so
với nhịp tim lúc nghỉ ngơi
Một cách khác nữa là cường độ đủ khi nhịp tim ở trong khoảng
70% đến 85% của nhịp tim tối đa ở một người (nhịp tim tối đa
= 220 – số tuổi) Thí dụ một người 70 tuổi thì nhip tim tối đa là
220 – 70 = 150/1 phút
Một cách khác để cho cường độ đủ là thấy hơi thở nặng nề, đổ
mồ hôi (với điều kiện nhiệt độ bên ngoài không quá nóng)
Một cách khác nữa để cho cường độ đủ là khi không thể nào
làm hơn được nũa Thí dụ trường hợp người cử tạ không thể cử
lại một lần nữa
Lúc đầu khi mới tập, chỉ tập một vài phút là thấy mệt, sau đó mới
tiến tới tình trạng ổn định, có thể tập từ 30 phút đến 60 phút cho mỗi
lần tập Trường độ này đem đến lợi ích tốt nhứt cho các cơ bắp và
hệ tim mạch Tập lâu hơn nữa thì cũng không khá hơn bao nhiêu
Đa số đều không thấy lợi nếu tập hơn 3 đến 4 lần một tuần Mặc dù
cơ tim có thể được luyện tập nhiều lần trong ngày, nhưng cơ xương
lại dễ rách vỡ khi tập quá mạnh, nhiều lần hơn cách một ngày tập
một ngày nghỉ
Một ngày sau khi tập luyện đầy đủ, sẽ có xuất huyết và vỡ rách vi tế
ở sợi cơ khiến bắp thịt bị đau nhức Do đó cần nghỉ 48 giờ để bắp thịt hồi phục Sau mỗi lần tập luyện mạnh mẽ, nhóm bắp thịt cần nhiều ngày để hồi phục và trở nên mạnh mẽ hơn
Cách luyện tập khác nhau tạo sự căng cơ trên các nhóm bắp thịt khác nhau Thí dụ như trong thể dục háo khí, chạy bộ có tác dụng căng cơ trên các bắp thịt chi dưới ở cẳng chân Đạp xe đạp có tác dụng lên các bắp thịt đùi và hông Chèo thuyền hay bơi lội tác dụng lên bắp thịt ở thân trên và lưng Các luyện tập cần được luân phiên hằng ngày để tránh thương tổn
Trong thể dục không háo khí như cử tạ, cần thay đổi nhóm bắp thịt được luyện tập Một thời biểu lý tưởng là một ngày tập luyện cho thân trên tiếp theo là một ngày tập luyện cho thân dưới
Hơn nữa theo thời gian, người tập cũng phải thay đổi cách tập cho các bắp thịt Cơ thể thích ứng theo thông lệ, do đó tập cùng một bài tập trong lâu ngày thường ít có kết quả trong việc tạo sức mạnh và
sư thích ứng tim mạch Do đó người tập tạ cần đổi lối tập sau vài tuần lễ và thể dục háo khí cũng phải thay đổi cách tập như thế Thể dục háo khí
Lọai thể dục này đòi hỏi oxygen từ ngoài vào đến tận các cơ bắp, do
đó tim và phổi buộc phải làm việc nhiều hơn bình thường Chạy bộ, đạp xe đạp, bơi lội, trượt băng là những lọai thể dục háo khí Thể dục háo khí dùng nhiều năng lượng và làm tốt chức năng tim hơn là thể dục không háo khí, nhưng lại kém hiệu quả trong việc tạo sức mạnh và tăng khối lượng bắp thịt
Thể dục không háo khí
Lọai thể dục này đòi hỏi sự gắng sức mãnh liệt trong một thời gian ngắn như cử tạ và luyện tập giãn cơ (isometrics) Thể dục không háo khí dựa vào nguồn năng lượng được dự trữ trong bắp thịt và không phụ thuộc vào oxygen trong không khí Thể dục không háo khí đốt ít calories hơn thể dục háo khí do đó ít có lợi cho sự thích ứng tim mạch tuy nhiên nó lại tốt cho sự tạo tác sức mạnh và khối lượng bắp thịt nên vẫn có lợi cho tim và phổi Theo thời gian, sự gia tăng khối cơ giúp người tập giảm cân và trông gọn hơn vì bắp thịt
sử dụng một số lớn calories
Trang 1314
Phòng ngừa sự thương tổn
Trên 6/10 người mới bắt đầu chương trình thể dục, bỏ cuộc trong
vòng 6 tuần lễ đầu vì bị thương tổn Các thương tổn này có thể được
phòng ngừa bằng cách tập cách 48 giờ Hơn nữa người tập cần phải
ngừng ngay nếu thấy bị đau nhức Có hai loại đau nhức sau khi tập:
Đau nhức bắp thịt phát khởi chậm, nhiều giờ sau khi tập,
thường thấy ở hai bên thân và biến đi sau 48 giờ
Đau nhức bắp thịt sau khi tập và đau nhiều hơn ở một bên thân,
vẫn còn đau sau 48 giờ và cơn đau càng trầm trọng khi người
tập bắt đầu tập lại
Phòng ngừa thương tổn tốt nhứt bằng cách hâm nóng (warming up)
bắp thịt trước khi tập, tiếp theo là duỗi giãn ra (stretching) rồi làm
nguội lại (cooling down) sau khi tập
Khởi động hâm nóng Khởi đầu tập với cường độ thấp như đi thay
vì chạy, hoặc cử tạ nhẹ làm gia tăng lưu luợng huyết, tăng nhiệt độ
của bắp thịt Bắp thịt ấm thì dễ uốn nắn và ít bị rách hơn là bắp thịt
nguội, co rút một cách chậm chạp
Duỗi giãn Kéo dài bắp thịt và dây gân (tendon), do đó tăng tính
mềm dẻo Các bắp thịt dài hơn có thể sinh nhiều sức mạnh hơn
quanh khớp, giúp người tập nhảy cao hơn, cử tạ nặng hơn, chạy
nhanh hơn, ném xa hơn Tuy nhiên duỗi giãn không giống tập chống
lại sức đối kháng (như trong cử tạ) không làm bắp thịt mạnh hơn
Duỗi giãn không ngừa được thương tổn hoặc làm chậm lại sự đau
nhức bắp thịt gây ra do sự rách sợi cơ Duỗi giãn cơ sau khi khởi
động hâm nóng để tránh rách sợi cơ
Làm nguội lại Từ từ tập chậm lại khi sắp chấm dứt buổi tập, giúp
ngừa được sự choáng váng Khi các bắp thịt ở chi dưới thư giãn,
máu đọng lại trong các tĩnh mạch gần đó và bắp thịt cần co lại để
đẩy máu trở về tim Khi ngừng tập thình lình, máu đọng lại ở chi
dưới và máu đến não không đủ nên gây choáng váng chóng mặt Để
ngừa máu ứ đọng, cách tập làm nguội lại giúp dòng huyết lưu thải đi
lactic acid, một chất phế thải trong bắp thịt sau khi tập
Chọn đúng môn tập
Mỗi môn tập đều có ưu điểm và khuyết điểm của nó Thí dụ như đi
bộ thì tương đối dễ dàng cho các khớp vì trong khi đi, ít nhứt một
chân phải tựa trên mặt đất, do đó lực để nhấc chân khỏi mặt đất
15
không bao giờ lớn hơn sức nặng của người tập Tuy nhiên đi bộ đốt
ít calories hơn là chạy bộ Bơi lội thì hiếm khi gây rách cơ vì các cơ được nước nâng đỡ Tuy nhiên vì bơi lội không phải là môn thể dục mang sức nặng nên không ngừa được chứng loãng xương
Có người thích tập ở phòng tập thể dục hoặc ở tại nhà, có người thích tập ngoài trời Vấn đề là chọn được môn thể dục thích hợp, an toàn cho người tập
Sau đây là một số bộ môn thể dục để bạn chọn lựa:
Đi bộ Là môn thể dục rất thăng bằng thích hợp cho đa số người lớn tuổi Đi bộ chậm không giúp người tập thích ứng tốt Với đi bộ nhanh người tập bước những bước dài hơn và cử động chân nhanh hơn Cử động cánh tay nhanh cũng giúp bàn chân cử động nhanh theo
Bơi lội Vận động toàn thân nhưng không làm căng thẳng các khớp và bắp thịt, rất thích hợp cho những người có vấn đề với khớp và bắp thịt Người bơi có thể tập bơi dần dần đến 30 phút tùy theo ý của mình Tuy nhiên, bơi lội không làm mất cân nhiều
Đạp xe đạp Rất tốt cho sự thích ứng tim mạch, làm mạnh bắp thịt chi dưới Nếu người đạp xe ở trạng thái tỉnh, có thể bắt đầu đạp 60 vòng một phút rồi tăng dần lên 90 vòng một phút Đạp
xe đạp rất tốt cho người lớn tuổi
Nhảy nhịp điệu (aerobic dancing) Một loại thể dục phổ thông
ở nhiều cộng đồng, vận động toàn thân, có thể tập ở nhà theo phim ảnh
Bước nhịp điệu (step aerobics) Người tập bước lên xuống theo nhịp điệu nhạc Tập đến lúc thấy đau bắp thịt thì ngừng, và hôm sau tập tiếp
Thể dục nhịp điệu trong nước (water aerobics) Rất tốt cho người lớn tuổi vì tránh được té ngã trên sàn cứng và có sự nâng
đỡ cho thân, thường xử dụng cho người bị viêm khớp Thể dục này bao gồm nhiều loại cử động bắp thịt hoặc đơn giản hơn là
đi bộ trong nuớc đến hông hay vai
Chèo thuyền Làm tăng sức mạnh các bắp thịt ở chân, vai và lưng Có thể chèo trên máy hoặc chèo trên nước Tuy nhiên người có vấn đề ở lưng nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tập
Cử tạ Trước hết là xét có thể cử tạ nặng bao nhiêu, thế ngồi cùng cách thở trong lúc tập (thở ra lúc đẩy hay kéo, thở vào lúc thư giãn) Chọn tạ nặng thích hợp để có thể cử từ 10 đến 15 lần Tạ quá nặng có thể gây thương tổn bắp thịt
Trang 14 Yoga Luyện tập yoga cần có thầy chỉ dẫn các tư thế đặc biệt,
luyện hơi thở Yoga rất tốt cho hoạt động thích ứng cơ thể vì
giúp gia tăng sức mạnh, tính linh hoạt, sự tuần hoàn, tư thế của
thân
Tài chi-Khí công Tài chi bao gồm một loạt các cử động chậm,
khoan thai dịu dàng như nước chảy mây trôi, theo nhịp thở để
giải tỏa năng lượng bên trong, chạy theo đúng đường huyệt đạo
trong cơ thể, tạo thư giãn và sức khỏe Tài chi còn gọi là thiền
vận động (moving meditation) Khí công bao gồm các cử động
và vị thế đặc biệt cùng các phương thức giữ sức khỏe như xoa
nắn (massage) và thiền
Dịch cân kinh Đây là cách tập luyện của chùa Thiếu lâm dành
cho các đệ tử môn phái, cơ bản là tập đánh tay Tuy nhiên
muốn tập cho đúng cần có người kinh nghiệm chỉ dẫn thì tốt
hơn
Tóm tắt
Ở người lớn tuổi, thể dục cùng dinh dưỡng tốt là hai phương cách
duy trì sức khỏe căn bản Năng làm các công việc tay chân hằng
ngày Mỗi ngày độ 30 phút sẽ giúp cho người lớn tuổi có một đời
sống độc lập, không cần sự giúp đỡ của người nhà Nếu ai có bịnh
mãn tính thì nên chọn thể dục thích hợp để vừa bảo vệ sức khỏe vừa
trị bịnh Được sống một ngày khỏe mạnh, không bịnh tật, không cần
người giúp đỡ trong lúc đi đứng là một ngày hạnh phúc trong những
ngày tháng còn lại của cuộc đời
Thực phẩm dưới ba dạng chính: chất bột (carbohydrates), chất
béo (lipids) và chất đạm (proteins)
Những chất trên qua cơ quan tiêu hóa, được biến đổi thành những phần tử nhỏ, thích hợp cho việc hấp thụ vào máu, sau đó được chuyển tới các cơ quan, qua những phản ứng hóa học được kết nạp (assimilation) vào tế bào của cơ thể Tất cả những
diễn tiến trên đều cần những chất xúc tác, với lượng nhỏ như
sinh tố (vitamins), muối và chất khoáng (minerals)
Chất bột, chất đạm, chất dầu qua sự biến dưỡng cho chúng ta năng lượng Năng lượng được tính theo calo (calorie) Người
có hoạt động trung bình, cần khoảng 33 calo cho mỗi kilo trọng lượng cơ thể Người Việt mình nặng trung bình từ 50- 60 kilo, cần 1700-2000 calo
Lên cân khi ăn nhiều hơn cơ thể cần, xuống cân khi ăn ít hơn
cơ thể cần Ở Hoa Kỳ, trong vài thập niên qua, tỷ số người mập tăng, chiếm khoảng 30% dân số, hậu quả của cách sống thiếu hoạt động, ăn uống nhiều thức ăn dự trữ có nhiều muối, thức ăn chế biến làm sẵn tại các cửa hàng, ăn nhiều thịt, nhiều chất béo,
ăn ít rau trái Người Việt ở hải ngoại chịu ảnh hưởng lối sống
và cách ăn uống của người Âu Mỹ, nên cũng dễ bị mập
Ăn quá số năng lượng cơ thể cần, thức ăn dư được biến thành
mỡ, tích lũy ở trong bụng, ở dưới da Người mập có cơ thể nặng nề, đi lại khó khăn nên lại làm biếng di chuyển Mập đưa tới nhiều bệnh trong cơ thể: bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường, bệnh suy thoái khớp v v cùng với những biến chứng của những bệnh trên
Trang 1518
Nước uống, phần chính là nước trong thiên nhiên, phần phụ là
nước trái cây, nước có hơi ép trong chai hay hộp Một số người
nghiền rượu, uống rượu nhiều hơn ăn
Chất Bột
Khoa học gọi chung là Carbohydrates, dưới ba dạng: tinh bột,
đường, chất xơ 1 gam chất bột cho 4 calo (còn được gọi Kcalo)
Tinh bột có trong gạo, bánh mì, bắp, các loại khoai, sắn, v.v
Đường là dạng giản dị của tinh bột như fructose trong trái cây,
saccharose trong mía, củ cải đường, lactose trong sữa;
glycogen trong gan và thịt Glucose là hình thức giản dị nhất
Những thứ trên dễ tiêu hóa nên đường tăng nhanh trong máu,
sau khi ăn hay uống
Tinh bột có cấu tạo phức tạp Việc tiêu hóa bột trong bao tử và
ruột non lâu khoảng 2-3 giờ, qua nhiều giai đoạn để biến lần
lần thành đường glucose Vì vậy đường trong máu không tăng
nhanh sau khi ăn, tốt cho cả người bị bệnh tiểu đường và người
không bị tiểu đường
Thực phẩm từ nguyên hạt (whole grain), ngoài chất bột còn có
các sinh tố và chất khoáng chứa ở vỏ hạt cần thiết cho cơ thể
Ngoài ra, thực phẩm từ nguyên hạt không bị tiêu hóa hoàn
toàn, phần còn lại tăng chất bã trong phân, ngăn ngừa táo bón
Phương thức khoa học biến chế các hạt thực phẩm thành bột có
dạng thức giản dị hơn, dễ tiêu hóa và cho nhiều năng lượng, kết
quả làm đường trong máu lên cao sau bữa ăn, và dễ lên cân
Chất Xơ (fiber)
Chất xơ là loại carbohydrates có cấu tạo phức tạp hơn tinh bột
Nước tiêu hóa của người không phân hóa được
Chất xơ chỉ có trong thực vật: vỏ các hạt thực phẩm, cuống lá,
lá, rau, trái cây
Có hai loại chất xơ: chất xơ hòa tan trong nước (soluble fiber)
và không hòa tan
Chất xơ hòa tan có nhiều trong các loại trái cây (đu đủ, cà
chua), các loại đậu, đỗ, đậu Hòa lan, Chất xơ hòa tan, ở lâu
trong bao tử và ruột, cho ta cảm giác no bụng, làm chậm việc
tiêu hóa, chậm hấp thụ đường, giảm nguy cơ bị tiểu đường,
giúp ích trong việc trị bệnh tiểu đường, hạ thấp cholesterol
trong máu Chất xơ hòa tan bị phân hóa bởi vi trùng trong ruột
và sinh hơi, có thể gây chứng nhiều hơi trong bụng
19
Chất xơ không hòa tan giữ nước trong ruột, tăng lượng chất bã trong ruột già, giúp cho phân mềm di chuyển nhanh trong ruột già, chống bón, chống trĩ, chống bệnh túi phình (divertulosis & diverticulitis), chống chứng kích thích ruột (Irritible bowel syndromes), giảm mập
Đàn ông dưới 50 tuổi nên dùng 38 gam mỗi ngày; trên 50 tuổi dùng 30 gam mỗi ngày Đàn bà dùng ít hơn: dưới 50 tuổi, 30gam mỗi ngày; trên 50 tuổi, 20 gam mỗi ngày (Institute Of Medicine recommendation)
Nên nhớ: khẩu phần tốt cho sức khoẻ cần 60% năng luợng từ nguyên hạt, trái cây tươi và rau tươi
Chất Béo (lipids) Chất Béo gồm mỡ và dầu Một gam chất béo cho 9 calo
Mỡ của động vật: bò, heo, cừu, gà, vịt Mỡ thường dễ đông Dầu của hải sản: cá, nhất là cá thu Dầu của thực vật thường lấy
từ các quả, hạt: olive, bắp, lạc, đậu nành, mè Dầu thường ở thể lỏng
Phần khác của chất béo là cholesterol, có nhiều trong trứng, tôm, cua Cholesterol cần cho sự tái tạo màng của tế bào, yếu
tố tạo các hormones sinh dục: testosterone, estrogen, progesterone
Chất béo cần cho ruột hấp thụ các sinh tố (vitamin) tan trong mỡ: Viatimin A, D, E, K
Về cấu tạo, chất béo được phân chia thành: bão hòa (saturated
fat) và không bão hòa (unsaturated fat)
Loại bão hòa (b/h) thường là mỡ động vật Sào, chiên, nướng cho vị béo, ngậy, mùi thơm, thường được ưa thích hơn dầu
Loại bão hòa làm tăng cholesterol, tăng loại mỡ xấu: LDL-C
(Low-Density Lipoprotein Cholesterol), hạ thấp loại mỡ tốt HDL-C (High-Density Lipoprotein Cholesterol), gây ra những bệnh tim mạch
Loại không bão hòa (kb/h), thường là dầu cá, dầu thực vật Loại này làm hạ cholesterol, hạ LDL-C, tăng HDL-C, tốt cho sức khỏe Trong loại này, Omega 3 fatty acids, có nhiều trong dầu cá thu, vừng (mè), làm giảm nguy cơ bệnh mạch máu của tim, đột quị (stroke)
Trang 16Chất đạm (proteins)
Một gam chất đạm cho 4 calo
Chất đạm là tổng hợp các acid amine (phần tử nhỏ trong
proteins), là thành phần cấu tạo của tế bào, luôn được đổi mới
Phần chất đạm cũ bị loại bỏ (catabolism) thay bằng phần chất
đạm mới tương tự (anabolism) Loại bỏ cái cũ thay cái mới
được gọi là sự chuyển hóa (metabolism) Sự chuyển hóa làm
cho tế bào tiếp tục thực hiện tốt chức năng
Thực phẩm cung cấp chất đạm trong việc chuyển hóa chất đạm
hàng ngày Nếu ăn số lượng đạm nhiều hơn nhu cầu của sự
chuyển hóa, phần dư sẽ được chuyển thành glycogen và chất
béo, đóng góp vào tình trạng lên cân, mập Cơ thể không dự trữ
được chất đạm dư
Nhu cầu chất đạm hàng ngày khoảng 1g cho 1 kg trọng lượng
cơ thể Nhu cầu này cao hơn, khoảng gấp đôi, cho trẻ em đang
lớn và phụ nữ mang thai hay cho con bú
Nguồn chất đạm Chất đạm có trong thịt cá, sữa, trứng, rau,
đậu
Chất đạm trong thịt thường kết hợp với lipid thành hỗn hợp
lipoprotein Ăn nhiều thịt cũng là ăn nhiều chất béo đưa tới
tăng triglycerides, cholesterol, LDL-C trong máu, ảnh hưởng
xấu tới tim, mạch Ăn nhiều thịt, bài tiết urea trong nước tiểu
tăng, kéo theo tăng lượng calcium trong nước tiểu, gây nguy cơ
sạn thận Mất nhiều calcium đưa tới nguy cơ bệnh xốp xương
(osteoporosis)
Chất đạm trong cá rất tốt, làm chậm hiện tượng lão hóa Tùy
theo loại cá, trữ lượng protein từ 15-30% (catfish 15.6%, cá thu
18%, mullet: 24.8%) Cá có ít chất lipid hơn thịt, lipid trong cá
dưới dạng dầu, đa số là dầu không bão hòa, rất cần thiết cho cơ
thể Catfish: dầu b/h 0.6%, dầu kb/h:1.8%; Bass dầu b/h 0.6%,
kb/h 1.8% Cá có nhiều chất khoáng cần cho cơ thể
Chất đạm trong hạt Đậu nành, lạc và vừng là thực phẩm rất
thông thường của mọi tầng lớp người Việt Những hạt này có
trữ lượng chất đạm cao, chất dầu kb/h, nhiều sinh tố, nhiều chất
khoáng cần thiết cho cơ thể
- Đậu nành (soybean) Trữ luợng protein 36% (gồm 18 acid
anime cần cho cơ thể); trữ lượng dầu 20%, đa số là kb/h, trữ
luợng bột 30% dưới dạng đường Có nhiều chất xơ Đậu
nành có sinh tố A, B, C, K; muối sodium, potassium và các
chất magnesiun, sắt, kẽm, phosphorus
- Lạc (đậu phụng) Trữ luợng protein 25%, chứa nhiều acid
amine tốt cho cơ thể, dầu 48% (40g không bão hòa), chất xơ 9%, nhiều sinh tố, muối và chất khoáng
- Vừng (mè) Chất đạm 17%, dầu 49%, bột 23%, chất xơ
11% Các sinh tố A, E B, C Các khoáng Calci, đồng, sắt, manganese, magnesium, selenium, kẽm và muối sodium, potassium
Nước uống
Như thực phẩm, nước là yếu tố của sự sống
Nước uống, phần chính là nước trong thiên nhiên, phần phụ là nước trái cây, nước có hơi ép trong chai hay hộp được gọi chung là soft drinks, như Pepsi Coca Một số người nghiền rượu, uống rượu nhiều hơn ăn
Nước có trong tế bào, ở mọi cơ quan, che chở các cơ quan Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng toàn thân Người mập tỷ
số nước thấp hơn, khoảng 50% Nước điều hòa nhiệt độ cơ thể, mang thức ăn và oxygen tới tế bào, chở chất bã tới cơ quan bài tiết
Nước mất ra ngoài qua nước tiểu, mồ hôi, phân, hơi thở Phần nước mất cần được thay thế, nếu không thay thế đủ sẽ gây tình trạng thiếu nước (dehydration): da khô, huyết áp xuống
Ngoài phần nước có trong thực phẩm, trung bình một người cần uống 2 lít nước mỗi ngày Làm việc nặng nhọc, làm việc ngoài trời, mồ hôi ra nhiều, người bệnh sốt cao, cần uống nhiều nước hơn
Khát báo cho ta biết cần uống nước Nhưng người già và người bệnh ít nhạy cảm với khát nên thường quên uống nước Người trong nhà nên lưu ý tới những người này Để tránh quên, nên uống một ly nước lớn khoảng 200ml giữa các bữa ăn, sau ba bữa ăn Nên mang theo nước khi đi ra ngoài Có sẵn nước nơi làm việc Họp mặt bạn bè nên dùng nước có gas (sparkling water) thay thế rượu
Nước trái cây
Nước trái cây, ngoài chất đường, còn chứa nhiều sinh tố, muối, khoáng chất, rất tốt cho sức khỏe Khi uống không nên thêm đường vào nước trái cây
Trang 1722
Nước uống ép hơi (Soft Drinks: SD)
SD có ép hơi carbonic, rất phổ thông trong quần chúng từ lâu,
gồm loại có đường và không có đường Ở Hoa -Kỳ, trung bình
mỗi người uống khoảng 2- 3 lon mỗi ngày Mỗi năm dân Mỹ
tiêu thụ 40-60 tỷ lít SD
Loại không có đường được gọi là diet soft drink (DSD) cho
người có bệnh tiểu đường Nay vì sợ lên cân hay mập, cả người
không bị tiểu đường cũng hay dùng loại này Trên nhiều lon
nước uống có chữ zero (không có năng lượng), thay cho chữ
Diet Lon được trình bày rất mát mắt, lôi cuốn người tiêu thụ
DSD có phosphoric acid, làm tăng lượng Phosporus trong máu,
kéo theo tăng lượng calcium lấy từ xương, đưa tới chứng xốp
xương (osteoporosis), nhất là ở phụ nữ Lượng phosphorus cao
trong máu là một trong những yếu tố có thể đưa tới chứng đau
khớp kinh niên (osteoarthritis)
Đường và acit trong SD làm hại men răng
Uống một lon hay nhiều SD có đường như coke, sodas, dễ lên
cân, mập, tăng nguy cơ bị tiểu đường, hội chứng rối loạn sự
chuyển hóa (metabolic syndrome), tăng huyết áp, tăng
cholesterol, tăng chất béo (triglycerides) trong máu
Những hậu quả trên đã được minh chứng trong cuộc khảo cứu
của trường Y khoa Harvard thực hiện trên 8 ngàn người cả
nam và nữ ở tuổi trung bình, trong 4 năm Những người này
uống 1 hay trên một lon soda mỗi ngày Kết quả đã được phổ
biến trên Journal of the Americam Heart Association số July
31, 2007 (25% có luợng đường cao trước bữa ăn sáng, cao chất
béo triglycerides 31% lên cân hay mập 32% có lượng HDL-C
thấp 44% có triệu chúng rối loạn trong sự chuyển hóa)
Rượu
1 gam rượu cho 7 calo (xin đọc bài Rượu và sức khỏe) Rượu cho
năng lượng, nhưng không mang chất bổ dưỡng cho cơ thể Rượu là
đồ uống có hại nếu dùng nhiều Lượng rượu tối đa uống trong một
ngày là 12 ounces bia (330ml), hay 5 ounces rượu vang, hay 1.5
ounces rượu mạnh 80 proof
Tóm tắt
Thực phẩm dưới ba dạng: chất bột, chất béo, chất đạm
Chất bột, có trong gạo, bột mì, các củ Phần bột chính trong
thực phẩm của VN là gạo, phần phụ là bắp, các loại khoai:
khoai lang, khoai sọ, khoai mì (sắn)
23
Chất béo, mỡ động vật, dầu cá, dầu thực vật (bắp, lạc, đậu nành, vừng, olive) Dầu cá và dầu thực vật có trữ lượng chất béo không bão hòa cao, tốt cho sức khỏe Mỡ động vật thuộc loại bão hòa, nếu ăn nhiều có hại cho sức khoẻ
Chất đạm trong thịt bò, heo, cừu, trứng, sữa thường kết hợp với
chất béo, thành hỗn hợp lipoprotein Ăn nhiều thịt cũng là ăn nhiều chất béo, không tốt cho sức khỏe Chất đạm trong các hạt đậu nành, lạc, vừng có trữ lượng protein cao, bao gồm nhiều loại acid amine, rất cần cho sức khỏe
Cần ăn nhiều rau trái VN có nhiều loại rau, rất tốt về dinh
Trang 185 Sinh Tố, Muối Khoáng
BS Hoàng Cầm
Ngoài thực phẩm dưới dạng chất bột, chất béo và chất đạm đã được
trình bày, cơ thể chúng ta còn cần những chất với lượng rất nhỏ,
tính bằng milligram (mg), hay nhỏ hơn nữa, tính bằng microgram
(1mcg:1/1.000 mg) Đó là các sinh tố (vitamin) A, B, C, D , các
muối khoáng: natri (muối ăn), kali, calci, sắt, kẽm, đồng Các chất
này đóng vai trò quan trọng sinh hoạt của tế bào, trong chức năng
của các cơ quan
Bài này trình bày về sự cần thiết của sinh tố, muối khoáng trong
khẩu phần hàng ngày và điều hại của ít sinh tố và của vài muối
khoáng khi dùng quá nhu cầu
Phần I: Sinh Tố
Sinh tố (ST) cần cho cơ thể được phân thành
nhóm tan trong chất béo
nhóm tan trong nước
A Sinh tố tan trong chất béo: A, D, E, K, được hấp thụ, chuyên
chở và dự trữ cùng với chất béo Việc bài tiết các sinh tố này rất ít
và dự trữ lại nhiều nên thiếu (deficiency) sinh tố ít xảy ra Ngược
lại, dùng thường xuyên với lượng cao có thể gây chứng ngộ độc
(intoxication)
Nguồn
Sinh tố A và E có nhiều
trong lá rau màu xanh đậm như rau muống, rau rền, rau ngót,
mồng tơi, rau lang;
trong các quả có màu vàng hay đỏ như cam, chanh, đào, mơ,
đu đủ, xoài, dưa hấu, bí đỏ;
các củ: cà rốt, khoai, nghệ;
trong lòng đỏ trứng, sữa, phó mát, gan, dầu thực vật
Sinh tố D có
trong cá mòi, cá thu, mỡ cá, lòng đỏ trứng, sữa,
ngoài ra, da có thể tổng hợp được ST D dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời
Sinh tố K:
Trong rau xanh, bắp cải
Vi trùng trong ruột có thể tổng hợp sinh tố K
Giúp ruột hấp thụ Calcium, tạo xương
Duy trì lượng calcium và phosphorus trong và ngoài tế bào Sinh tố E
Antioxidant, tăng sức đề kháng (chống lại vi trùng và virus)
Bảo vệ màng tế bào
Sinh tố K
Cần trong việc đông máu
Thiếu sinh tố và triệu chứng Một khẩu phần đầy đủ và quân bình (xin đọc bài về khẩu phần)
thường cung cấp đầy đủ các sinh tố
Sinh tố A
Thiếu sinh tố A thường thấy ở trẻ em ở các nước nghèo
Ban đầu trẻ em không nhìn thấy về ban đêm, giác mạc khô, có điểm trắng nhỏ trên giác mạc Dần dần có những vết loét trên giác mạc cùng với hư võng mạc đưa tới mù
Thiếu sinh tố A cũng gây chứng hoá sừng, da cứng và dày
Trị liệu: Uống sinh tố A, liều 30.000 IU (intrenational unit) mỗi ngày, trong một tuần lễ Nếu không bớt, nên gặp bác sĩ
Trang 1926
Sinh tố D
Thiếu sinh tố D làm lượng Calcium và phophorus trong máu
thấp, mất xương, xốp xương
Ở người lớn, chứng xốp xương hay mất xương thường thấy ở
những đốt xương sống, xương hông, xương chân
Xương sống mòn làm giảm chiều cao Xương chân, dưới sức
nặng của cơ thể, cong dần
Sinh tố E
Thiếu sinh tố E thường là hậu quả của bệnh ruột không hấp thụ
được chất béo
Triệu chứng
Màng hồng huyết cầu mỏng manh, dễ bị bể, gây thiếu máu
Hư giây thần kinh mắt, giây thần kinh chân tay Nếu không trị
liệu sớm, giây thần kinh bị hư, khó phục hồi
Sinh tố K Thiếu sinh tố thường là do:
Bệnh ruột không hấp thụ được chất béo
Dùng thuốc kháng sinh lâu ngày, thuốc kháng sinh giết vi trùng
trong ruột có khả năng tổng hợp sinh tố K
Bệnh xơ gan và đường dẫn mật
Uống lượng cao sinh tố E
Triệu chứng:
Chảy máu mũi, nướu, ruột Chảy máu ruột thường trầm trọng
B Sinh tố tan trong nước:
B1, B2, B3, B6, B12, C, Folic Acid, Biotin và Cholin
Được hấp thụ qua ruột Lượng dư thừa được thận bài tiết ra ngoài
nên không gây chứng ngộ độc
Nguồn
Vỏ các hạt gạo và đậu, rau xanh, cam, chanh, thịt, cá, gan, trứng,
sữa
Chức Năng
Biến dưỡng các chất bột, chất đạm và chất béo
Hoạt động của não bộ, giây thần kinh, hệ cơ (bắp thịt và
xương), tim, mạch
Antioxidant
Bảo vệ hệ thống miễn nhiễm
Sự trưởng thành của Hồng huyết cầu (B12 & Folic Acid):
27
Triệu chứng và biểu hiện do thiếu các sinh tố trên
Thường là hậu quả của sự thiếu dinh dưỡng, thiếu nhiều sinh tố với
sự suy thoái tổng quát như: suy tim, phù, tê, hư não bộ, viêm miệng, viêm lưỡi, viêm nướu, lở mép, viêm da, da đậm màu, khô, nhiều vết nhăn, thiếu máu, dễ bị nhiễm trùng, cơ thể lâu phục hồi sau khi bị
bệnh
Ngộ độc sinh tố A, D, E
Sinh tố A Lượng ST A trung bình trong máu 20-50mcg/dl
Ngộ độc sinh tố A thường là mạn tính do dùng lượng sinh tố A trên 100,000 đơn vị hàng ngày, trong nhiều tháng hay thường ăn gan
Sinh tố D Ngộ độc xảy ra khi uống hàng ngày trong thời gian vài tháng lượng
sinh tố D 100,000 IU, Lượng Calcium trong máu tăng 12-16 mg (8,5-10,5mg/dl) Triệu chứng: ăn mất ngon, ói, mửa, khát nước, đái nhiều, mệt mỏi, thận suy, sạn thận
Sinh tố E
Làm giảm tác dụng của sinh tố K trong việc đông huyết
Uống sinh tố E lượng 800 IU hàng ngày có thể tăng nguy cơ xuất huyết não (hemorrhage stroke)
Trang 20Bảng những sinh tố chính
Sinh tố Nguồn Thiên
ngày (**)
đào, mơ, đu dủ,
xoài, dưa hấu,
vệ da và niêm
mạc
Khô cứng giác mạc, khô cứng da, không nhìn được khi trời tối, nhiễm giác mạc
Ông (Ô):
3.000IU hay 900mcg
Bà (B):
2.4000IU hay 700mcg
tế bào, hấp thụ Calcium trong
thức ăn,
yếu xương 10mcg
hay 400IU;
có thai, cho con
Beri beri: Tê giây thần kinh, suy tim
2mg
B3
niacin Gan, thịt cá, rau, đậu chuyển hóa chất bột
Giảm LDL, Cholesterol Tăng HDL
bệnh
Pellagra:
lưỡi viêm, nứt nẻ, viêm
da, viêm miệng,
Ô: 16mg B: 14mg
Folic acid Cam, chanh, lá rau xanh đậm,
các loại hạt đậu, gan,
tổng hợp DNA, thành lập Hồng huyết cầu
thiếu máu 400mcg
B12 Gan, thịt, trứng,
sữa
Tổng hợp DNA, tạo myelin, vỏ bọc giây thần kinh
thiếu máu, đau giây thần kinh
2-4mcg
Biotin Gan, trứng, rau,
đậu, hạt chuyển hóa chất béo, đạm Hiếm xảy ra 30mcg
C Chanh, cam, cà
chua, rau, bắp cải
tạo collagen antioxidants,
tăng hệ miễn nhiễm,
chảy máu lợi, viêm nướu
Ô: 120mg B: 90mg
** AHA dietary guidelines, revision 2000
Trang 2130
Phần II: Khoáng Chất
Các khoáng chất cơ thể cần (sodium, potasium, calcium,
Magnesium, sắt, đồng, kẽm iodine ) có nhiều trong đất, trong
nước (ở lòng đất, hồ, ao, sông, biển)
Cây, cỏ, rong, rêu trên mặt đất và dưới nước hút các chất
khoáng trong đất, trong nước, rồi chứa trong thân, lá, hoa, quả,
hạt
Động vật sống trên đất, trong nước, ăn những thứ trên, mang
muối khoáng vào cơ thể
Một khẩu phần quân bình (xin đọc bài khẩu phần) gồm thịt, cá,
các hạt, đậu, hoa, rau, trái cây, thường đem lại cho cơ thể đủ
những thứ cần thiết về năng lượng và chất dinh dưỡng
Bốn chất khoáng quan trọng: Natrium (Na), Kalium (K), Calcium
(Ca), Sắt (Fe), được trình bày sau đây
Nguồn
Natrium (Na) ngoài dưới dạng muối ăn (lấy từ nước biển) còn
có ở trong thịt, cá, tôm, sữa, rau xanh
Potassium (K) có trong chuối, cam, chanh, bưởi, mận, nho,
táo, cà chua, cà rốt, rau xanh, các hạt, sữa, thịt, trứng
Calcium trong hạt, đậu, rau xanh, trái cây, thịt, cá (cá sardine,
cá thu hộp có xương), trứng, sữa, cheese
Sắt có trong lá rau màu xanh đậm như rau ngót, rau muống,
rau cải xoong; hạt có dầu, ngũ cốc nguyên hạt (gạo lức), đậu
nành, đỗ; các loại thịt có màu đỏ như thịt bò, thịt nạc, tiết, gan,
trứng, cá, hải sản
Chức năng
Na và K Lượng trung bình trong máu
Na: 136-145 mEq/L: (đơn vị đo một số chất trong máu)
K: 3.5-5 mEq/L
Khoảng trung bình của Na, K hẹp nên sự thay đổi về ăn uống
dễ làm cho Na, K ra ngoài giới hạn trên
Na dưới dạng muối ăn, khoa học goị Clorua Natri (ClNa), Theo
cơ quan Thực Phẩm và Dinh Dưỡng Hoa Kỳ, nhu cầu về muối
ăn hàng ngày chỉ cần nửa gam (g), nhưng dân chúng thường
K Lượng K cần hàng ngày trong khoảng 2g-5g Khẩu phần có nhiều rau và trái cây cung ứng số lượng trên
Trong cơ thể, hai muối ClNa, ClK phân tách thành Na, K, Cl được gọi là Ion, Na và K mang điện tính dương, Cl mang điện tính âm Na, K, Cl là thành phần quan trọng trong máu, nước ở ngoài tế bào và trong tế bào Lượng Ion Na, K, Cl thường được
đo trong máu để biết lượng này có trong phạm vi trung bình hay không
Điện tính của Na, K cũng được ghi trên các Tâm Điện Đồ (Electrocardiogram) để định bệnh về tim
Ion Na, K luôn di chuyển qua màng tế bào để giữ nồng độ quân bình trong và ngoài tế bào
Lượng Na cao
o khi ăn nhiều đồ ăn mặn như thịt kho, cá khô, dưa muối.,
thực phẩm biến chế (potato chips, hams, thịt cá trong hộp), hay
o không uống đủ nước, hay
o thận suy không bài tiết hết lượng muối dư trong máu Muối dư trong máu sẽ giữ lại nước, làm huyết áp tăng
Nước nhiều trong máu, một phần sẽ ra ngoài mạch máu,
tích tụ ở chân, gây chứng phù Vì vậy trong việc trị liệu cao
huyết áp và chứng phù, bác sĩ luôn nhắc nhở người bệnh ăn lạt (khoảng 1gm muối một ngày)
Lượng Na thấp thường là
o do uống quá nhiều nước làm giảm nồng độ của Na, hay
o dùng thuốc lợi tiểu làm mất nhiều Na
Lượng Na trong máu quá thấp có thể đưa tới tình trạng trầm
trọng được gọi ngộ độc nước (water intoxication) làm bệnh
nhân mất tỉnh táo, hôn mê, co giựt toàn thân
Lượng K thấp thường do
o ói mửa, tiêu chảy,
o thường xuyên uống thuốc nhuận trường
o Một số thuốc lợi tiểu cũng làm mất K
K thấp làm giảm điện năng các sợi cơ của bắp thịt, tim, ống tiêu hóa, đưa tới tình trạng bắp thịt yếu, tim yếu, bón
Trang 22 Lượng K cao khi
o ăn nhiều thực phẩm có nhiều K như chuối, cam, bưởi, hay
o suy thận kinh niên giảm bài tiết K
o Một số thuốc chữa huyết áp cao thuộc loại ACE inhibitors
(angiotensin-converting enzyme inhibitors) như Catopril ,
thuốc chống đau thuộc nhóm NSAIDs như motrin,
naproxin
o K cao cũng gây nguy hiểm cho chức năng của tim
Tóm lại Na, K ở ngoài giới hạn trung bình đều có ảnh
hưởng xấu tới tim, hệ thần kinh và hệ vận động (bắp thịt)
Calcium
Nhu cầu hàng ngày: trước 50 tuổi 1g, sau 50, 1,2g Đàn bà có thai
hay cho con bú: 1,2-1,5g
Duy trì nồng độ Ca trong máu phụ thuộc vào Ca trong thức ăn
hàng ngày (0,5-1g), khả năng hấp thụ Ca của ống tiêu hóa, sự
bài tiết của thận và Ca trong xương của cơ thể
Một người lớn nặng trung bình có khoảng 1.000g Ca 99% Ca
ở trong xương 1% hay khoảng 10g dưới dạng tự do ở trong
máu, nước trong tế bào và giữa các tế bào Khoảng 50% Ca tự
do (# 5g) dưới dạng ion và mang điện tính dương
Sự chuyển hóa Ca trong cơ thể dưới sự điều động của sinh tố
D và kích thích tố của tuyến cận giáp (parathyroid), tuyến
này nằm cạnh tuyến giáp
Nhiệm vụ của Ca
Bảo vệ màng tế bào, cho tế bào tính thẩm thấu để các chất có
thể vào trong tế bào và ra ngoài tế bào
Giữ nhiệm vụ trong việc đông máu
Cấu tạo răng và xương
Tính co thắt của cơ (sợi thịt)
Tính dẫn điện của cơ tim (myocardial conduction), tính kích
thích của cơ thần kinh (neuromuscular irritability)
Calcium thấp (hypocalcemia) khi lượng Ca trong máu dưới
8.8mg/100ml
Nguyên nhân
Thiếu kích thích tố tuyến cận giáp (Parathyroid hormon)
Thực phẩm thiếu sinh tố D hay do ruột không hấp thụ được
sinh tố D, hay ít ra ngoài ánh nắng
Lạm dụng thuốc xổ
Thận suy kinh niên
Hấp thụ Ca trong thực phẩm suy giảm
Triệu chứng Thường thấy ở hệ thần kinh và cơ
Bắp thịt dễ bị kích thích
Cảm giác rần rần, tê ở ngón tay, ngón chân
Co cứng cơ (tetany) vọp bẻ (cramp) Ta có thể tạo tính co cứng
cơ ở bàn tay bằng cách dùng máy đo huyết áp, bơm khí tới áp suất 160, giữ trong 3 phút Cơ ở bàn tay người bệnh sẽ co cứng (spasm) Sau khi giảm áp suất, bàn tay vẫn còn co cứng trong khoảng 10-20 giây (biểu hiệu mang tên Trousseau) Ở người bình thường, tính co cơ biến mất ngay sau khi giảm áp suất
Thấp Ca lâu dài đưa tới cườm mắt (cataract)
Ca thấp có thể kích thích mạnh não bộ gây chứng co giật toàn thân (seizure)
Calcium cao (Hypercalcemia) khi lượng trên 10.5mg/dl
Nguyên nhân
Cường tuyến cận giáp (Parathyroid)
Uống lượng cao sinh tố D trong thời gian dài (ngộ độc)
Uống nhiều Ca và chất kiềm
Ung thư với di căn trong xương
Triệu chứng Lượng Calcium trong giới hạn trung bình rất quan trọng cho chức năng của nhiều cơ quan.Triệu chứng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào thời gian và độ cao của Ca Nếu Ca tăng ít, thường không có triệu chứng Người ta biết được Ca cao do thử nghiệm máu khi tìm một bệnh khác
Mệt, yếu, bắp thịt đau
Miệng khô, uống nhiều nước, nôn ói, đau bụng, bón, ăn mất ngon, xuống cân
Tiểu tiện nhiều, đau lưng (có thể do sạn thận)
Giảm trí nhớ, khó tập trung vào công việc, nhức đầu, thiếu tỉnh táo, lẫn lộn, co giật một phần hay toàn cơ thể, hôn mê
Mắt đỏ, huyết áp cao, da ngứa, do Ca đọng ở giác mạc, võng mạc của mắt, thành động mạch, trong da
Trang 2334
Sắt
Nhu cầu hàng ngày: đàn ông 10mg, đàn bà #20 mg, đàn bà mang
thai 50-80mg Đàn bà cho con bú cần #50mg một ngày trong ba
tháng đầu để lấy lại lượng sắt mất trong khi sanh, sau đó dùng luợng
20mg như đàn bà không có thai
Chức năng: thành phần sắc tố trong hồng huyết cầu (hemoglobin),
trong thịt (myoglobin), chở oxy trong máu, trong thịt, hệ miễn dịch,
Tăng nhu cầu Trẻ em đang lớn, đàn bà có thai, đàn bà cho con
bú Trong thời gian có thai (cung cấp sắt cho bào thai), mất
máu khi sanh và cho con bú, một bà mẹ cần khoảng 900mg sắt
Số lượng này, thực phẩm khó cung cấp được, vì vậy cần dùng
thêm thuốc chứa sắt (ferrous sulfate)
Mất máu do kinh kỳ, loét bao tử, ung thư bao tử, ung thư ruột,
trĩ, ký sinh trùng ở ruột
Triệu chứng:
Thiếu máu hay bần huyết (anemia) là dấu hiệu nổi bật của thiếu
sắt
Khởi đầu, thường không triệu chứng
Nhưng lâu ngày bần huyết trở nên trầm trọng với nhức đầu,
mệt mỏi, dễ nóng giận do thiếu oxy tới tế bào não
Da xanh, viêm miệng, chốc mép, chảy máu võng mạc (mắt)
Ở trẻ em, ngoài thiếu máu còn kèm theo rối loạn tính tình
(behavior disturbances), học kém
Sắt cao
Nguyên nhân
Ăn nhiều thực phẩm có lượng sắt cao Sắt trong thực phẩm
thường dưới dạng không tan trong nước, nên lượng sắt được
hấp thụ vào máu có giới hạn, không gây tình trạng ngộ độc
35
Truyền máu nhiều lần do bệnh về máu là nguyên nhân chính làm tăng chất sắt Một đơn vị máu truyền vào người chứa 200-240mg sắt
Bệnh di truyền về máu (Hemochromatosis): luợng hồng huyết cầu cao, sắc tố hemoglobine cao Lượng sắt cao đọng lại trong nhiều cơ quan, tác hại trên các cơ quan này: trong da làm da có màu xám, trong gan làm xơ gan, trong tim làm ngăn cản hoạt động của tim, trong tuyến tụy đưa tới tìểu đường, trong cơ quan sinh dục làm suy tình dục
Cách chữa là lấy bớt máu trong người theo định kỳ (khoảng 3-6 tháng)
Mang Thai, Sinh Tố và Muối Khoáng
Đàn bà mang thai cần nhiều chất nuôi dưỡng, sinh tố và muối khoáng
Phần nhiều trong khẩu phần không có đủ Folic acid, sắt, Calcium, nên cần chú ý tới trữ lượng các chất trên trong thức
ăn hàng ngày
Riêng Folic acid rất quan trọng trong việc cấu tạo và tăng trưởng của tế bào và tạo DNA (phần quan trọng của nhân tế
bào) Đàn bà mang thai cần 400mcg hàng ngày, nhất là trong
ba tháng đầu có thai Thiếu Folic acid gây nguy cơ bất toàn hệ thần kinh của bào thai
Nếu trù tính có thai, hay biết có mang thai, cần gặp bác sĩ để có những lời khuyên về ăn uống, dưỡng thai, uống thêm sinh tố và muối khoáng cần thiết
Trang 246 Khẩu Phần Hàng Ngày
BS Hoàng Cầm
Bài này trình bày về thức ăn và thức uống cần dùng hàng ngày để
làm việc và bảo vệ sức khỏe
Mỗi ngày, cơ thể cần một số năng lượng để hoạt động Năng lượng
này phần chính do chất bột, chất đạm và chất béo đem lại Ngoài ra
cơ thể cũng cần sinh tố và muối khoáng với lượng rất nhỏ Muốn
tránh cho đường tăng nhanh sau mỗi bữa ăn và ngăn ngừa táo bón,
khẩu phần cần có những chất xơ Chất xơ có nhiều trong rau, trái
cây và vỏ hạt
Một loại thực phẩm không thể cung cấp tất cả những thứ cơ thể cần
Một khẩu phần dinh dưỡng tốt là hỗn hợp của nguyên hạt, hạt khô,
rau, đậu, củ, trái cây, cá, thịt nạc, chất béo Nếu có thể được thêm
sữa, loại ít chất béo
Cần chú ý tới nguồn thực phẩm từ thực vật, nhất là dầu từ thực vật
cho chất béo không bão hoà và không có cholesterol, tránh cho cơ
thể chứng cao mỡ và những di hại về bệnh tim mạch
Ăn uống, ngoài việc cần cho cơ thể, còn là một cái thú của cuộc
sống Mùi vị thức ăn, màu sắc rau trái, mỗi thứ có sắc thái riêng,
kích thích thần kinh đem lại ưa thích riêng
Mỗi dân tộc, mỗi vùng, tùy theo điều kiện thiên nhiên, có tập tục ăn
uống khác nhau
Phần sau đây nói về khẩu phần của người Việt nói riêng và người Á
đông nói chung
Khẩu phần căn bản: tổng số năng lượng hàng ngày cho một người
VN có trọng lượng trung bình và làm việc trung bình khoảng 2.000
calo cho nam, khoảng 1.700 calo cho nữ Nguồn năng lượng phân
chia như sau: chất bột 65%, chất đạm 20%, chất béo 15%
Thành phần bữa ăn hàng ngày của VN thuộc 4 nhóm:
1 Tinh bột cung cấp khoảng 60% năng lượng (250-300 gm tinh bột cho 1.000-1.200 calo) Phần chính của bữa ăn là cơm hay những thứ thay thế như bắp, các loại khoai, mì, Chúng ta thường ăn gạo giã hay trà máy, mất phần vỏ ngoài có nhiều sinh tố Gạo không trà được gọi là gạo lức, cơm gạo lức cứng khó ăn
2 Các loại hạt, rau, quả, củ
Hạt Đậu phụng, đậu nành, vừng (mè) được chế biến làm thức
ăn dưới nhiều hình thức
Rau Rau muống, rau lang, rau rền, mồng tơi, rau ngót, nấm, bắp cải
Qủa Bí, mướp, cà chua, cà tím
Củ Củ cải, cà rốt, xu hào, hành, tỏi,
Những loại này cung cấp 25% năng lượng, bao gồm khoảng 20% chất đạm và chất béo, 5% chất bột
Ngoài ra còn cho chất xơ cả hoà tan lẫn không hoà tan, muối khoáng và các các sinh tố, trừ sinh tố B12
3 Thịt, cá, tôm, tép, cua, sò, hến, ốc, trứng, sữa, cung cấp khoảng 15% năng lương
VN có bờ biển dài, nhiều ao, hồ, sông, lạch nên thủy sản rất phong phú, thường có trong mọi bữa ăn của nhiều tầng lớp dân chúng
VN it đồng cỏ, ít trại chăn nuôi nên thịt, sữa, trứng hiếm hơn
Ở nước ngoài, thì những thứ này lại rất nhiều ở những cửa hàng bán thực phẩm
Về dinh dưỡng thì chất béo, chất đạm của thủy sản tốt hơn chất đạm, chất béo của bò, heo
4 Các loại trái cây: cam, bưởi, soài, mận, đu đủ, chuối rất phong phú, thường dùng sau bữa ăn Ngoài năng lượng và nước, trái cây cho nhiều chất khoáng, sinh tố và chất xơ
Về khoa dinh dưỡng, khẩu phần được biểu diễn trên hình tam giác Phía bên phải hình tam giác trình bày thức ăn hàng ngày, hàng tuần
và hàng tháng; phiá trái nói về thể dục, thức uống
Trang 2538
Trong hình tam giác, từ đáy lên trên
Thức ăn hằng ngày gồm:
o 50% tinh bột trong gạo bắp ngô, khoai,
o 15% tinh bột có trong các loại rau củ thường sào nấu làm
thức ăn với cá, tôm, mắm các loại hạt đậu, như đậu phụng
làm thành bánh, mè làm muối mè, lạc Các loại trái cây thay
đổi theo mùa trong năm như cam, bưởi, chuối, đu đủ Ở
thành thị, những gia đình khá giả, thường uống thêm sữa,
nước trái cây
Hàng tuần, tùy theo tình trạng tài chánh, thường ăn trứng hay
thịt gà một lần
Hàng tháng: thịt bò, heo, bánh ngọt, kẹo, đường
Thể dục
Tập thể dục vừa phải 30 phút mỗi ngày có thể giúp ta giảm
nguy cơ mắc bệnh kinh niên như bệnh tim mạch, đau khớp
Tập thể dục vừa phải hay mạnh (như chạy) trong 30-60 phút có
thể đem lại cho cơ thể sức dẻo giai và giữ không lên cân
Tập thể dục vừa phải hay mạnh trong 60-90 phút mỗi ngày
giúp xuống cân
Thức uống
Cần uống khoảng 2 lít nước mỗi ngày
Rượu cho năng lượng, nhưng rất ít chất bổ dưỡng Uống nhiều
có hại cho sức khỏe Có thể uống: 12 ounces bia một ngày hay
5 ounces rượu vang hay 1.5 ounces rượu mạnh (80- proof)
Khẩu phần thực vật (vegetarian diet)
Có một số người dùng thực phẩm hoàn toàn từ thực vật, không ăn
thịt cá, trứng Một số khác, ngoài khẩu phần thực vật, dùng thêm
sữa và sản phẩm của sữa (bơ, phó mát, kem) Dùng khẩu phần thực
vật cần chú ý tới
Sự quân bình của ba loại (mỗi thứ 1/3): chất bột từ toàn hạt, rau
và trái cây, các loại hạt đậu (đậu nành, đậu xanh)
Chất dầu và chất đạm: 1/3 dầu thực vật, 2/3 chất đạm từ các hạt
(các loại hạt đậu, đặc biệt là đậu nành có chứa hàm lượng cao
các chất đạm acid aminê)
Nếu không dùng sữa động vật và phó sản của sữa, nên uống
thêm sinh tố B12 (Cyanocobalamine) 1mg mỗi ngày Thuốc
mua không cần toa
39
Phụ Bản
Nhu Cầu Chất Đạm Hàng Ngày
(tính theo tuổi, trọng lượng cơ thể, phái tính)
Đàn bà có thai cần thêm 10gam mỗi ngày
Đàn bà cho con bú: cần thêm 15 gam trong 6 tháng đầu, 12 gm trong 6 tháng tiếp
Trọng Lượng Cơ Thể Theo Chiều Cao
Chiều cao
khoảng giới hạn
Trung bình khoảng giới
hạn
Trung bình
Trang 26Thể Dục
Năng lượng tiêu thụ (calo) trong 30 phút, theo trọng lượng cơ thể
Trọng lượng cơ thể Thể dục
205 calo 240 calo 275 calo 315 calo
100 calo 115 calo 125 calo 140 calo
BS Lê Quang Minh
Rượu được bào chế từ mấy ngàn năm trước đây và uống rượu phổ biến khắp nơi
Các rượu khác làm từ cây, gỗ gọi là methanol thì không uống được
vì loại rượu này rất độc Nhiều người chết vì uống nhầm loại rượu độc này
Trang 2742
Ảnh hưởng rượu ethanol trên cơ thể:
Rượu được hấp thụ từ bao tử, vô máu, chạy tới hệ thần kinh và có
tác dụng áp chế thần kinh Rượu được biến thành đường ở gan,
thành chất dinh dưỡng cho cơ thể Tuy nhiên khi uống nhiều thì số
rượu dư sẽ chạy khắp cơ thể và tác dụng lên các cơ quan khác
Ảnh hưởng rượu thay đổi tùy theo các yếu tố sau:
tốc độ uống nhanh hay chậm
có uống kèm theo thuốc gì khác hay không
gia đình
Dung tích hay lượng rượu nguyên chất thường uống là 13.5 gm hay
0.6 oz (18 ml) Số lượng này có trong:
12 oz bia
5 oz (150 ml) rượu vang = một ly
1.5 oz whiskey, voldka, rum (các người nhậu gọi là “shot”)
Như vậy thì uống 1 lon bia 12 oz hay 1 shot whiskey sẽ có tác dụng
như nhau, và uống bia không có “an toàn” hơn các rượu mạnh
Uống thế nào là vừa phải
Hiện nay các nhà khảo cứu cho rằng
khi đàn bà uống một ly rượu vang và
đàn ông uống hai ly vang mỗi ngày thì đó là một lối uống vừa
phải, ít nguy hiểm
Số ly này là cho mỗi ngày chớ không phải là trung bình của
nhiều ngày
Khác biệt giữa nghiện rượu (alcoholism) và lạm dụng rượu (alcohol
abuse)
Lạm dụng rượu là lối uống đưa đến nguy hại cho sức khỏe người
uống, tới công việc làm và nguy hại cho người chung quanh Triệu
bị liên hệ với luật pháp (vi phạm giao thông, ẩu đả …)
tiếp tục uống, bất chấp các điều trên
không công nhận mình có vấn đề về rượu (denial)
Nghiện rượu là một chứng bệnh kinh niên Ngoài các triệu chứng
nói trên, bệnh nhân luôn luôn thèm rượu và không kềm chế hay giới hạn được nhu cầu uống rượu Người nghiện thường hay uống lén lút
và cất giấu rượu nhiều nơi Khi không có rượu, người nghiện có triệu chứng thiếu rượu như bị nôn ói, đổ mồ hôi, run giật
Ảnh hưởng của rượu:
Khi uống nhiều hay say rượu thì:
chức năng óc và hệ thần kinh bị giảm, óc suy xét bị giảm, phản ứng chậm, giọng nói bị lè nhè
mạch máu giãn nở làm giảm nhiệt và áp suất máu, có thể đưa đến hôn mê và
chết
Ngoài ra, người uống rượu nhiều còn bị nguy cơ té ngã, chết chìm, tai nạn xe cộ, phỏng, tai nạn súng đạn, tự tử, giết người, bạo hành với người trong gia đình, kể cả trẻ con Có thể mất việc làm và làm rối loạn trong gia đình
Lâu dài thì người uống rượu nhiều sẽ bị ảnh hưởng lên nhiều cơ quan:
thần kinh: tai biến mạch máu não, loạn trí, buồn sầu, tự tử
gan: chai gan
viêm lá mía
viêm, loét bao tử
ung thư gan, miệng, yết hầu, cuống bao tử
cao huyết áp, nghẽn mạch máu tim
Trang 28những tác hại gây ra trong gia đình hay tại sở làm Có khi bị tòa bắt
buộc
Tùy theo trường hợp, chữa trị chứng nghiện hay lạm dụng rượu có
thể ngắn hay dài hạn, chữa ngoại chẩn hay trong một trung tâm cai
nghiện Sau đó thì bệnh nhân có thể tham gia vào các chương trình
hỗ trợ như AA (Alcoholics Anonymous)
Song song với việc cai rượu thì bệnh nhân cũng cần được chữa trị
các bệnh do rượu gây ra như chai gan, viêm bao tử v.v
Đối với trẻ còn vị thành niên thì việc phòng ngừa rất quan trọng
Khi một trẻ tự nhiên không chú ý đến các sinh hoạt bình thường, sở
thích riêng nữa, mắt hay đỏ, giọng nói lè nhè, hay quên, có khó khăn
với bạn bè, học hành sa sút, thay đổi tính tình, thì ta phải chú ý và
tìm hiểu xem có thể là em có vấn đề nghiện rượu không
Tóm tắt thì rượu có thể giúp ích cho sức khỏe nếu uống vừa phải
như một ly rượu vang mỗi ngày Nhưng nếu lạm dụng thì rượu sẽ
gây hại cho sức khoẻ và đời sống trong xã hội
8 Hút Thuốc Lá và Sức Khỏe
BS Lê Quang Minh
Hút thuốc lá rất tai hại cho sức khoẻ Thuốc lá có thể đưa đến ung thư, bệnh tim, phổi, tai biến mạch máu não Thuốc lá có chừng 250 chất độc, trong đó 50 chất có thể gây ung thư
Theo thống kê, hàng năm trên thế giới có 5 triệu người chết do thuốc lá và con số này càng ngày càng tăng.Tại Hoa Kỳ, năm 2009
có khoảng 46 triệu người hút thuốc lá (20% dân số) và mỗi ngày có khoảng 1,000 em dưới 18 tuổi bắt đầu hút thuốc lá Phí tổn hàng năm liên quan đến hút thuốc lá khoảng 193 tỷ đô la (96 tỷ do tổn phí
y khoa, cộng với 97 tỷ thiệt hại do giảm năng xuất làm việc)
Theo phúc trình của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh (Center for Disease Control and Prevention, gọi tắt là CDC) của chính phủ Hoa Kỳ:
Hút thuốc lá và số Tử Vong ở Hoa Kỳ:
Hàng năm có khoảng 443.000 người chết (1/5 tổng số người chết)
do ảnh hưởng tai hại của thuốc lá Số người chết vì thuốc lá nhiều hơn tổng số người chết vì tai nạn xe cộ, bệnh AIDS, rượu, tự tử, sử dụng ma túy và bị giết
Thuốc lá gây ra:
90% trường hợp chết vì ung thư phổi ở đàn ông
80% trường hợp chết vì ung thư phổi ở đàn bà
90% trường hợp chết vì bệnh nghẹt và phù thũng phổi kinh niên (COPD)
Trung bình thì người hút thuốc lá làm giảm tuổi thọ 13-14 năm
So sánh với người không hút thuốc lá, người hút thuốc lá có nguy
Trang 2946
Đàn bà bị Ung Thư phổi 13 lần
Chết vì chứng Nghẹt và Phù Thũng Phổi Kinh Niên 12-13 lần
Ảnh hưởng của thuốc lá trên tim và các mạch máu:
Hút thuốc lá gây ra chứng nghẽn mạch máu cơ tim (coronary
artery disease), là nguyên nhân số 1 gây tử vong ở Hoa Kỳ
Hút thuốc lá làm các động mạch nhỏ lại, và làm giảm lượng
máu đến tay chân và cơ quan khác trong người
Hút thuốc lá làm cho vách động-mạch-chủ yếu đi, phình ra và
có thể vỡ, đưa đến tử vong
Thuốc lá và bênh phổi:
Thuốc lá gây ung thư phổi
Thuốc lá gây ra các chứng viêm cuống phổi (bronchitis), phù
thũng phổi (emphysema), nghẽn cuống phổi kinh niên (chronic
airway obstruction)
Hút thuốc lá gây ra các ung thư khác:
Ung thư thận, bọng đái, miệng, lá mía, yết hầu, thanh quản,
cuống bao tử, bao tử, cổ tử cung, tử cung, ung thư máu
Các ảnh hưởng xấu khác:
Hiếm muộn, bào thai chết trong bụng mẹ, sanh thiếu tháng, trẻ
sơ sinh chết bất thình lình lúc đang ngủ (sudden infant death
syndrome), đàn bà dễ bị chứng rỗng xương (osteoporosis), dễ
bị gẫy xương hông
Hút thuốc lá thụ động là trường hợp không hút thuốc, nhưng hít
khói thuốc lá tỏa trong không khí Ở cùng nhà hay làm việc cùng
phòng với người hút thuốc lá Thường phải tới những nơi công cộng
có người hút thuốc lá như tiệm ăn, bến xe, trên xe bus, xe hơi…
Hút thuốc lá thụ động cũng gây nguy cơ bệnh tim, tai biến mạch
máu, ung thư phổi Trẻ em bị tiếp xúc với khóí thuốc lá thường
xuyên sẽ dễ bị ho, suyễn, sưng phổi, viêm tai, bị chứng SIDS (chết
bất thình lình khi đang ngủ)
Thuốc lá không khói (smokeless tobacco) là trường hợp không hút
hay hít khói thuốc lá nhưng nhai lá thuốc hay hít bột lá thuốc
(snuff) Người sử dụng thuốc lá cách này cũng dễ bị ung thư hàm,
miệng, cao áp huyết, sanh con thiếu tháng, bị hiếm muộn
47
Cai, ngưng thuốc lá
Hiểu biết tai hại của thuốc lá tới sức khỏe cá nhân và những người xung quanh, nên cần cai thuốc Trong việc cai điều quan trọng
Cần phải có quyết tâm và kiên trì
Nếu thất bại nên thử lại
Việc cai thuốc có thể đạt được kết quả tốt ở bất cứ lứa tuổi nào
Nên đi khám bác sĩ, hoặc cố vấn tâm lý (counselor)
có thể dùng kẹo cao su có nicotine, thuốc dán ngoài da, nicotine xịt mũi, uống các thuốc như zyban, chantix
Kết quả nói chung sẽ tốt hơn khi dùng thuốc (theo lời chỉ dẫn của Bác sĩ) và tham khảo cố vấn tâm lý cùng một lúc
Hút thuốc lá làm tốn kém cho xã hội, đồng thời gây nhiều ảnh hưởng tai hại cho sức khoẻ của người hút và những người sống bên cạnh Vì vậy mọi người có thể đóng góp và thực hiện các điều sau:
Người hút thuốc lá nên ngưng hút hoặc không hút ở trong nhà, trong xe, hay khi gần người khác
Cha mẹ và người không hút không cho phép người khác hút trong nhà, trong xe của mình Giáo dục con cái về hút thuốc lá
và thuốc lá không khói
Nhân viên y tế: khuyến cáo, giúp đỡ bệnh nhân, cha mẹ trẻ con
để họ ngưng sử dụng thuốc lá
Cấp lãnh đạo: làm sao cho thuốc lá khó mua, không tạo điều kiện dễ dàng cho người hút, bảo vệ người không hút
Trang 309 Khai bệnh
BS Nguyễn Quyền Tài
Mỗi khi đi khám bệnh, người bệnh cần nhớ lại những điều sau đây
4 Những xét nghiệm đã thực hiện trước đó (như hình chụp
X-quang, xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, hay nội soi dạ dầy,
sinh thiết hạch, v.v.)
5 Những phương pháp điều trị đã được thực hiện trước đó (như cắt
bỏ túi mật hay thông động mạch tim)
6 Những thuốc đã và đang dùng (kể cả thuốc Tây, thuốc Nam,
thuốc Bắc, thuốc gia truyền, dược thảo, v.v.)
7 Những thuốc, thực phẩm và tất cả những chất gì đã gây dị ứng, và
loại dị ứng đã xảy ra (như ngứa, nổi mề đai, hay khó thở, sụt huyết
áp, v.v.)
Những điều kể trên sẽ giúp bác sĩ định bệnh và chỉ định phương
pháp trị liệu đúng với tình trạng sức khỏe cá nhân của người bệnh
vào thời điểm đó, và giảm thiểu nguy cơ phản ứng độc hại giữa các
loại thuốc Khi kể những triệu chứng và biểu hiệu, người bệnh cần
cho bác sĩ biết khi nào chúng bắt đầu xuất hiện (nhớ rõ năm, tháng,
ngày, giờ thì càng tốt, hay ít ra cũng cho biết vào khoảng thời gian
nào), xuất hiện bao nhiêu lần một ngày, mỗi lần kéo dài bao lâu,
nặng nhẹ như thế nào, và tự nhiêu giảm bớt đi hay sau khi dùng thuốc gì, v.v
Người bệnh cần mang theo tờ ghi rõ tên các thứ thuốc đã và đang dùng, lượng của mỗi viên thuốc (thí dụ: mg), và cho biết dùng từ khi
nào, dùng mỗi ngày bao nhiêu lần, khi nào ngưng dùng, và dùng để
trị bệnh gì (Ngoài việc thông báo cho bác sĩ biết khi đi khám bệnh, người bệnh nên luôn luôn mang theo trong mình tờ giấy này, để phòng trường hợp bất tỉnh đột ngột ngoài đường thì các nhân viên cấp cứu có thể tìm thấy nó mà biết được người bệnh đang dùng những thuốc gì và đang bị những bệnh gì)
Trang 31
50
10 Những Phản Ứng Phụ Của
Thuốc Thường Dùng
BSDK Phạm Tân
Một số thuốc, ngoài dược tính dùng trong việc trị bệnh, còn có
những phản ứng phụ (side effects) hay phản ứng ngược (Adverse
reactions), bất lợi cho sức khỏe Bài này trình bầy một số thuốc
thường dùng có những phản ứng phụ thường thấy, để độc giả lưu ý
khi dùng thuốc
Phản ứng phụ của thuốc có thể xẩy ra ở bất cứ ai, không kể phái
tính, sắc dân, lứa tuổi Thông thường thì người trẻ ít có phản ứng
thuốc hơn trẻ em và người già Khi có điều nghi ngờ về phản ứng
của thuốc, nên hỏi dược sĩ hay bác sĩ gia đình
Phần I: Thuốc Không Cần Toa
(Over-The-Counter Drugs) Điều quan trọng khi dùng những thuốc mua tại dược phòng, không
cần toa của bác sĩ, cần chú ý tới những điều sau:
Đọc kỹ và theo đúng lời chỉ dẫn ghi trên giấy kèm theo thuốc
Không nên dùng quá liều
Không được cho trẻ em uống thuốc của người lớn
Chú ý tới những phản ứng phụ ghi trên giấy chỉ dẫn kèm theo
thuốc
Không nên dùng qúa 7 ngày Nếu thấy triệu chứng không giảm,
cần đi khám bệnh
Thuốc Giảm Đau: (Antalgic medications), làm bớt đau mình mẩy,
nhức đầu, đau khớp, đau lưng, đau bụng khi có kinh kỳ,
Tylenol: tên chung là acetaminophen, rất thông dụng
Dược tính: giảm đau, hạ sốt
Trường hợp dùng và liều lượng:
Thuốc viên 325 mg, 500mg Người lớn: uống 325mg-1000mg,
4 lần một ngày Phải cẩn thận đừng uống quá 4000mg trong
o Không nên dùng thường xuyên khi có bệnh gan và thận
o Đàn bà có thai: thuốc qua nhau vào máu thai nhi, nhưng có thể dùng theo liều luợng trên, trong thời gian ngắn
o Nếu dùng để giảm đau thì không nên dùng quá 10 ngày cho người lớn, quá 5 ngày cho trẻ em
o Nếu dùng cho hạ sốt thì đừng tự dùng quá 3 ngày Nên đi khám bác sĩ
Loại thuốc giảm viêm không chứa corticosteroids
1 Aspirin rất thông dụng
Dược tính: giảm đau, giảm sốt, giảm viêm, giảm độ đặc sệt máu trong cơ thể, thường gọi là làm loãng máu (blood thinner)
Trường hợp dùng và liều luợng:
Chống đau mình mẩy, nhức đầu, viêm khớp 325mg-650mg
3-4 lần mỗi ngày, trước bữa ăn, hoặc uống thuốc với nhiều nước Phòng ngừa chứng nghẽn mạch máu tim: 81 mg, uống 1-2 viên
mỗi ngày hay 325 mg mỗi ngày Nên hỏi bác sĩ trước khi dùng
Phản ứng phụ:
o Sau khi uống: có thể cảm thấy nóng ngực (heart burn), khó chịu ở bụng trên, buồn nôn, ói Khó thở ở những người có bệnh suyễn, nghẹt mũi khi có viêm mũi kinh niên
o Dùng thường xuyên, Aspirin gây loét bao tử, chẩy máu bao
tử, nguy hiểm tới tính mạng, thương tổn tới gan và thận nếu
có bệnh gan, bệnh thận Có loại coated aspirin, làm giảm tác hại của Aspirin trên bao tử
o Không được dùng cho trẻ em trong trường hợp cảm cúm, nổi mụn thủy đậu (chikenpox) Trong những trường hợp trên, Aspirin có thể làm hại gan, hại thận cấp tính, phù tế bào não, nguy hiểm tới sự sống Y học gọi biến chứng này là Reye’s syndrome
Trang 322 Các loại khác: Ibuprofen 200mg (Motrin, Advil, Midrol),
Naproxen 200mg (Aleve 220mg),
Dược tính: giảm đau, giảm sốt, giảm viêm
Trường hợp dùng và liều lượng: nhức đầu, đau răng, đau khớp,
đau khi có kinh kỳ, đau mình mẩy Ibuprofen 200mg,
Naproxen 220mg Uống trước bữa ăn, hoặc uống thuốc với
nhiều nước
Phản ứng phụ: ói mửa, đau bụng, nóng ngực, chóng mặt, loét
bao tử, thủng bao tử, chẩy máu bao tử, viêm gan, phù chân
Nên hỏi bác sĩ gia đình khi có bệnh gan, thận, cao máu, sưng
chân, tiểu đường, đàn bà mang thai, đàn bà cho con bú
Thuốc Chữa Tiêu Chảy
Tiêu chảy nhiều lần trong một ngày làm cơ thể mất nước và muối
khoáng
Loperamide (Imodium) 2mg/ mỗi viên
Dược tính: làm giảm tính co thắt thành ruột, do đó các chất
trong ruột như nuớc, muối khoáng, phân, di chuyển chậm
Trường hợp dùng và liều lượng: Chống tiêu chẩy cấp tính
Người lớn 4 mg Có thể uống thêm 2 mg sau mỗi lần tiêu chẩy
Không nên dùng quá 16 mg một ngày Cần đi khám bệnh khi
vẫn còn tiêu chẩy sau hai ngày dùng thuốc, hoặc khi tiêu chẩy
kèm theo sốt, máu lẫn trong phân
Phản ứng phụ thường nhẹ: buồn nôn, ói, khô miệng, chóng
mặt, buồn ngủ Tránh uống thuốc trước khi lái xe hay sử dụng
máy móc
Peptobismuth; bismuth subsalicylate
Trong cơ thể, Bismuth subsalicylate bị chuyển thành salicylate
acid (Aspirin), cho nên phải cẩn thận khi đang dùng aspirin
Cũng nên coi chừng những phản ứng như Aspirin
Dược tính: Chất salicylate ngăn cản ruột tiết nước, có tính chất
kháng sinh chống vi trùng, siêu vi trùng trong ruột, làm giảm
đau bụng Peptol-Bismol dưới dạng thuốc viên 262 mg/1 viên,
thuốc nước 262mg/15ml
Trường hợp dùng và liều luợng:
o Theo chỉ dẫn trên giấy kèm theo thuốc
o Ngưng thuốc nếu sau hai ngày tiêu chảy không bớt
o Cần phải đi khám bệnh khi tiêu chảy có kèm theo sốt
o Thuốc có thể gây chứng bón
Thuốc Chữa Bón
Bón là chứng rất thông thường, nhất là ở người lớn tuổi Người bị bón đi cầu khó khăn, một hay hai lần trong một tuần lễ, phân cứng Chứng bón thường do:
ăn ít rau trái,
ít hoạt động cơ thể,
uống ít nước trong ngày,
phản ứng phụ của một số thuốc thường dùng chữa bệnh
Thuốc trị bón gồm:
Chất Xơ (fiber) có nhiều trong rau, trái cây, hạt Metamucil, là chất
xơ đứng hàng đầu trong việc phòng bón và chữa bón Metamucil lấy
từ vỏ hạt của cây Psyllium, được nghiền thành bột Hoà với nước Metamucil hút nước rất mạnh, tạo thành một hỗn hợp sánh, sền sệt Metamucil không bị nước tiêu hóa làm thay đổi, tiếp tục giữ nước khi qua các phần của cơ quan tiêu hóa.Tới ruột già, metamucil đựơc nhào trộn với các chất bã, làm tăng số luợng phân, giữ cho phân mềm, trơn, dễ di chuyển Do những tính chất trên, metamucil cùng với Citrucel, Fibercon được xếp thành nhóm: nhuận trường làm tăng lượng phân (bulk-forming laxatives) Metamucil an toàn, có thể dùng hàng ngày Hòa một muỗng canh lớn vào một ly nước, uống trước mỗi bữa ăn Metamucil cũng như các chất xơ khác không bị nước tiêu hóa làm thay đổi, nhưng vi trùng trong ruột có thể tác
động trên metamucil, sinh ra hơi trong ruột, làm sình bụng
(Flatulence) Chứng này có thể giảm dần sau một thời gian dùng thuốc
Nhuận Trường Dầu (Lubricant laxatives):
Mineral Oil có tác dụng ngăn cản nước ở ruột già bị hấp thụ vào
máu, giữ cho phân lỏng, mềm, trơn, dễ di chuyển xuống đoạn cuối ruột già
Loại này chữa bón rất hiệu lực, nhưng chỉ nên dùng trong thời gian 1-2 ngày
Phải rất cẩn thận khi dùng cho người già, nhất là khi người già không được tỉnh táo Một lượng nhỏ chất dầu có thể đi lạc vào phổi gây ra bệnh viêm phổi (gọi là Lipid Pneumonia), có thể gây tử vong
Cũng không nên uống trước khi đi ngủ ban đêm
Không nên dùng lâu ngày, nhất là những phụ nữ mang thai: Mineral Oil ngăn cản ruột hấp thụ các sinh tố tan trong chất
Trang 3354
béo như sinh tố A, D, E, K, , gây ra chứng thiếu những sinh tố
trên
Thuốc Làm Phân Mềm (Stool Softeners):
Colace, Surfak thuộc nhóm Docusate, giữ nước ở ruột già nhào
trộn với chất bã làm cho phân mềm
Thuốc an toàn, có thể dùng trong thời gian dài Thuốc thường
có hiệu lực sau ít ngày Nếu dùng thuốc hơn một tuần mà
không có hiệu quả, phải đi khám bác sĩ
Không nên dùng chung với nhuận trường dầu, vì dầu có thể
được ruột hấp thụ gây biến chứng ở gan và hạch bạch huyết
Không nên dùng nếu nghi có chứng nghẽn đường tiêu hóa
Nhuận Trường Nồng Độ Cao (Hyperosmolar laxatives):
Lactulose, Miralax là hai thứ thường dùng
Thuốc không bị tác dụng của nước tiêu hóa, không bị hấp thụ
vào máu Thuốc ngăn cản nuớc ở ruột già vào máu, do đó phân
không bị khô cứng
Thuốc có thể gây: sình bụng, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy
Nhuận Trường Muối (Saline laxatives)
Thường chứa muối Magnesium như: Magnesium Citrate, Milk of
Magnesium (gọi tắt MOM), Epsom Sau khi uống, muối magnesium
ở nguyên trong ruột (không qua màng ruột vào máu), hút nước trong
máu vào ruột, làm phân lỏng, mềm
Thuốc có tác dụng vài giờ sau khi uống
Dùng trong thời gian 1-2 ngày, uống với nhiều nước
Thuốc hút nước ở máu vào ruột nên dễ gây ra triệu chứng mất
nước, hạ huyết áp
Nhuận Trường Kích Thích Ruột (Stimulant Laxatives)
Thứ thường dùng: Dulcolax, Senna, có tác dụng
Kích thích ruột co bóp làm di chuyển chất bã
Giữ nước có sẵn ở trong ruột
Hút nước ở máu vào ruột, giữ cho phân mềm
Thuốc có thể gây chứng đau bụng sau khi uống
Dùng thường xuyên, thuốc làm thương tổn các giây thần kinh
ruột trong nhiệm vụ kích thích ruột co bóp, làm cho ruột trở
nên “lười biếng” trong công việc bài tiết, khiến tình trạng bón
trở nên xấu
55
Thuốc Chữa Ợ Chua, Nóng Ngực
Ợ chua do ít nước và đồ ăn ở bao tử dội ngược lên thực quản gây cảm giác nóng phía trước ngực và vị chua gắt ở miệng 10-20% dân chúng Hoa kỳ có chứng này ít nhất một lần mỗi tháng
Người mập bị chứng này nhiều hơn người có trọng lượng cơ thể trung bình
Có hai loại thuốc chính, trị chứng trên
1 Thuốc Trung Hòa Acid
Thường có chất magnesium, aluminium, calcium, sodium dưới dạng thuốc viên, dung dịch lỏng, hay đặc (suspension) Thuốc nước có tác dụng nhanh hơn thuốc viên
Magnesium: Milk of magnesium Lowsium, Riopan
Aluminium: Aluminium Hydroxide (Basaljel)
Calcium carbonate: Tums, Amitone
Sodium bicarbonate
Thuốc có magnesium có thể làm tiêu chảy,
Thuốc chứa Aluminium (Maalox) có thể gây bón
Thuốc có Sodium có thể làm tăng huyết áp
Các loại thuốc trung hòa acit có thể ngăn cản việc hấp thụ các thuốc khác, vì thế chỉ nên uống các thuốc khác 1-2 giờ sau khi uống thuốc trung hoà acit
Không nên dùng quá hai tuần lễ, nếu không có ý kiến của bác
sĩ gia đình
2 Thuốc Ngăn Cản Bao Tử Tiết Acid Famotidine (Pepcid 10mg/viên), Ranitidine (Zantac 75mg/150mg),
Omeprazole (prilosec 20mg/viên) Những thuốc trên, ngăn cản bao
tử tiết ra acit Thuốc được dùng trị chứng loét bao tử, chứng loét thực quản, chứng dội ngược dịch vị lên thực quản (ợ chua)
Với liều luợng gấp đôi ở mỗi viên, các thuốc trên cần toa bác sĩ (như Prilosec 40mg/ một viên; Pepcid 20mg/một viên, Zantac: 300mg/viên) Vì vậy chỉ nên dùng một viên (thuốc không cần
toa) trong một ngày, uống trước bữa ăn ít nhất 30 phút, dùng
trong một tuần lễ Nếu ngừng thuốc, chứng ợ chua và nóng ngực tái phát, nên đi khám bệnh, để bác sĩ tìm nguyên nhân và trị liệu đúng cách
o Thuốc thường an toàn, nếu dùng theo liều luợng trong thời gian ngắn
Trang 34o Zantac, Pepcid có thể qua nhau vào máu bào thai, qua sữa
Đàn bà có thai, đàn bà cho con bú không nên dùng, nếu
không có ý kiến của bác sĩ
o Zantac, Pepcid phần lớn bị loại ra ngoài qua đường tiểu,
phần nhỏ bị biến dưỡng ở gan Khi có bệnh gan hay thận nên
có ý kiến của bác sĩ gia đình trước khi dùng
o Prilosec có thể gây: nhức đầu, chóng mặt
Thuốc Ho
Ho là triệu chứng thường xẩy ra vào mùa lạnh hay trong thời
gian có nhiều phấn hoa Ho thường kèm theo: đau nhức mình
mẩy, chẩy nước mắt mũi, ngứa mắt mũi, nghẹt mũi, nước mũi
chẩy xuống họng Ho có thể kèm theo đờm Ho không có đờm
gọi là ho khan
Để tiện dụng cho việc trị ho, thuốc ho duới dạng thuốc nước
hay viên thường là hỗn hợp của:
thuốc làm giảm đau: ylenol,
thuốc chống ho: dextromethorphan (thường viết tắt là DM),
thuốc làm loãng đờm, long đờm: guaifenesin hay robitussin,
thuốc chống dị ứng: chlropheniramine (chlor-trimeton),
diphenhydramine (benadryl),
thuốc làm khô đường dẫn khí: Phenylephrine, Pseudoephedrine
(sudafed)
Phản ứng phụ của thuốc ho là do phản ứng phụ của các chất
trong thuốc ho Cần chú ý
Thuốc chống dị ứng có thể làm buồn ngủ Không nên uống
thuốc ho trước khi lái xe, hay sử dụng máy móc
Dextromethorphan, ngăn cản ho Không nên dùng khi ho kèm
theo khó thở, sốt, có nhiều đờm Trong trường hợp này, cần đi
khám bệnh
Phenylephrine, Pseudoephedrine có thể làm tăng huyết áp Cẩn
thận khi có bệnh cao huyết áp
Nên nhớ là cần đọc kỹ thành phần của thuốc ho, dùng theo
đúng liều, lượng ghi trong giấy
Không dùng thuốc ho của người lớn cho trẻ em
Ho không bớt sau một tuần, nên đi khám bệnh
Thuốc Chống Dị Ứng
Dị ứng là phản ứng của cơ thể đối với môi sinh như: phấn hoa,
độ ẩm trong không khí, mùi nước hoa, mùi các chất hóa học dùng trong nhà
quần áo mặc, nữ trang, (bông tai, dây, vòng, nhẫn ), bao tay, thực phẩm, nước uống, thuốc chữa bệnh
Dị ứng có thể xẩy ra ở một cơ quan, một phần của cơ thể như: mũi hít phấn hoa, da tiếp xúc với hóa chất, lá cây, lá cỏ, bao tay , Dị ứng có thể xẩy ra ở nhiều phần trong cơ thể do thức
ăn, thuốc uống
Triệu chứng thông thường là chẩy nước mắt, nước mũi, nghẹt mũi, ngứa mắt ngứa mũi, khó thở; da ngứa, nổi mề đay ở vùng
bị phản ứng, ói mửa, tiêu chẩy Các phản ứng trên là do chất histamine Vì vậy thuốc chống dị ứng có tên là antihistamine, làm giảm các triệu chứng của dị ứng Các thuốc thuờng dùng được chia thành hai nhóm:
Bón
Buồn ngủ, chóng mặt, nguy hiểm trong việc lái xe,
sử dụng máy móc
Nhóm hai (second generation)
Zyrtec (Cetirizine 10mg/viên, thuốc nước uống 5mg/5ml, thuốc nhỏ mắt Eye).Allegra (Fexofenadine 30mg/viên, 30mg/5ml) Claritin (Loratidine 5mg/10mg)
Trên nguyên tắc, nhóm này ít gây buồn ngủ, nhưng cũng phải chú ý khi lái xe hay sử dụng máy móc
Trên 12 tuối: có thể có nhức đầu, đau lưng, chóng mặt
Từ 6 tuổi tới11 tuổi: có thể có sốt, ho, nhiễm trùng mũi tai họng
Từ 6 tháng tới 5 tuổi: ói, tiêu chẩy, sổ mũi
_
Trang 3558
Phần II: Thuốc Cần Toa Bác Sĩ
(Prescribed drugs) Thuốc cần toa có thể có nhiều phản ứng phụ và giữa các thuốc đang
dùng cũng có thể có ảnh hưởng trên nhau Vì vậy, bác sĩ điều trị
thường theo dõi hiệu lực của thuốc và phản ứng phụ của thuốc trên
các cơ quan, nhất là trên tim mạch, gan, thận và hệ thần kinh
Trong bài này, chúng tôi nói tới thuốc chữa: bệnh tiểu đường, bệnh
cao huyết áp và bệnh cao mỡ Ba bệnh này rất thông thường và liên
quan tới nhau Đây là những bệnh kinh niên, người bệnh phải dùng
thuốc suốt đời Thuốc không làm khỏi bệnh, chỉ ngăn cản hoặc làm
chậm việc tiến triển của bệnh và ngăn ngừa biến chứng của bệnh
Bệnh cần được theo dõi định kỳ để bác sĩ điều chỉnh thuốc dùng cho
thích hợp Thuốc chỉ có tác dụng trong một thời gian vài giờ tới một
hay hai ngày, vì vậy người bệnh cần đặc biệt chú ý:
Dùng thuốc đúng giờ, đúng liều ghi trên toa
Không được tự ý giảm thuốc hay ngưng thuốc
Nếu cơ thể có điều gì bất ổn nghi do thuốc, cần phải cho bác sĩ
điều trị biết ngay
Thuốc Chữa Bệnh Tiểu Đường
(xin đọc bài Bệnh Tiểu Đường trong sách này)
Người mắc bệnh tiểu đường luôn có lượng đường trong máu cao
hơn bình thường (70mg-100mg/dl) Cách chữa gồm cách ăn uống,
thể dục, thuốc uống và thuốc chích Insulin Thuốc uống và chích có
công dụng giữ mức độ đường ở máu luôn trong giới hạn bình
thường thấy là đường trong máu xuống quá thấp, nhất là trong
những tháng đầu mới dùng thuốc,
chóng đói, lên cân,
có ảnh hưởng xấu trên thận, gan
Precose, Glyset (Alpha-glucosidase Inhibitors):
Dược tính
Làm chậm việc tiêu hóa đồ ăn
Làm giảm đường tăng trong máu sau bữa ăn
Uống thuốc trước bữa ăn
cơ thể giữ nước, đưa tới phù chân, suy tim
Hại gan nếu sẵn có bệnh đau gan
Giảm hiệu lực của thuốc uống ngừa thai
Prandin Thuốc có tác dụng nhanh và ngắn, nên dùng trước bữa ăn, mục đích là làm giảm đường sau bữa ăn
Trang 36được pha sẵn với regular insulin hay novolog theo tỷ số 70/30
(số trên là NPH Insulin, số dưới là regular insulin Thường
chích trước bữa ăn sáng Levemir, tùy theo liều luợng, tác dụng
trong 12-24 giờ
Loại tác dụng lâu: Lantus tác dụng trong 24 giờ
Tóm tắt: Insulin cũng như thuốc uống làm giảm đường trong máu
Khi dùng thuốc, cần nhớ là có thể làm đường trong máu xuống quá
thấp, gây chóng mặt, toát mồ hôi, mất tỉnh táo, rất nguy hiểm trong
khi lái xe hay đang sử dụng máy móc Người mắc bệnh tiểu đường
nên luôn có sẵn đường glucose, kẹo đường, hay nước uống có
đường để dùng ngay khi cần
Thuốc Chữa Cao Huyết Áp
Mạch máu trong cơ thể ví như ống cao su mềm, giãn ra mỗi lần tim
bóp đẩy máu vào mạch Tính giãn nở của mạch máu là do những sợi
cơ nhỏ trong thành mạch máu Khi những sơi cơ này mất tính co
giãn, thành mạch máu trở nên cứng Mạch máu mất tính giãn nở đưa
tới cao huyết áp Các nguyên nhân làm tăng huyết áp như: tuổi cao,
tính gia truyền, ăn thức ăn chứa nhiều muối, mập, thận suy, tim bóp
mạnh đẩy nhiều máu vào mạch, rối loạn hệ thần kinh giao cảm
Thuốc chữa cao huyết áp mỗi thứ có một tác dụng riêng như: giảm
lượng nước trong cơ thể, giảm nhịp đập của tim, làm giãn nở mạch
máu qua tác dụng trên thần kinh hay cản trở calcium vào tế bào của
thành mạch máu
Để giảm phản ứng phụ, bác sĩ điều trị thường dùng liều trung bình
và kết hợp hai hay ba thứ thuốc Về phía người bệnh, nên có một
máy đo huyết áp để theo dõi hiệu quả của thuốc
Thuốc lợi tiểu (Diuretics)
Hydrochlorothiazide hay Thiazide (Esidrex, Hydrodiuril);
Furosemide (lasix), Triamterine, có tác dụng loại nước, muối trong
máu qua sự bài tiết nước tiểu
Phản ứng phụ, thường ít xảy ra:
Ù tai,
huyết áp xuống thấp, khi đứng dạy có cảm giác chóng mặt
Thiazide, lasix làm potassium xuống thấp
Triamterine, làm potassium tăng
Làm tăng độ cảm quang của da (photosensitive)
Thuốc kìm chế tim đập nhanh, nhóm Beta Blockers như Propranolol, Atenolol, Timolol (có phần cuối là ol), làm giảm nhịp tim Thuốc thường được dùng chung với thuốc lợi tiểu
có thể ảnh hưởng xấu tới gan
Co thắt phế quản (Bronchospam), nhất là ở người bị suyễn
Thuốc ngăn cản Calcium vào tế bào của mạch máu, nhóm
Calcium Chanel Blockers, như: Diltiazem (Cardizem), Nifedipine (Adalat, Procardia), Verapamil (Calan, Isoptin), Amlodipine (Norvasc) Có tác dụng làm nở mạch máu
Phản ứng phụ:
bón, buồn nôn
nhức đầu, chóng mặt, huyết áp thấp
sưng (phù) chân
giảm khả năng tình dục (sexual dysfunction)
Enalapril (vasotec), lisinopril (prinivil), Ramipril (altace) ,,
nhóm ACE inhibitors, làm giãn nở mạch máu
Phản ứng phụ:
ho, khó thở
chóng mặt, nhức đầu, huyết áp xuống thấp khi đứng dạy
tăng muối potassium trong máu
Đàn bà mang thai không được dùng
Losartan, Valsartan, nhóm Angiotensin II receptor antagonism,
tương tự như nhóm ACE inhibitors, làm giãn nở mạch máu, nhưng
ít gây ho Cả hai nhóm thường được dùng hạ huyết áp ở người bệnh
có bệnh suy tim, suy thận
Các thuốc khác:
Prazosin Phản ứng phụ: huyết áp xuống thấp khi ngồi dạy hay đứng lên, phù chân
Clonidine Phản ứng phụ: buồn ngủ, miệng khô, phù chân
Hydralazine, Minoxidil Phản ứng phụ: nhức đầu, phù chân
Trang 3762
Thuốc Chữa Cao Mỡ (xin đọc bài bệnh cao mỡ)
Ngoài việc thay đổi cách ăn và thể dục, thuốc chữa bệnh cao mỡ
gồm:
Niacin (Nicotinic Acid) Thuốc không cần toa Hiệu quả trong việc
trị liệu cao mỡ
Phản ứng phụ
Da mặt, da ngực bừng nóng, đỏ (flushing), kèm theo ngứa
Phản ứng thường xảy ra chừng một giờ sau khi uống
thuốc.Uống thuốc với nước nóng có thể dễ bị phản ứng này
Niacin là một acit nên có thể gây chứng loét bao tử, đau bụng
Tăng đường trong máu (hyperglycemia), nhất là ở những người
mắc bệnh tiểu đường
Tăng Uric acid trong máu ở những người có bệnh đau khớp
Gout
Hạ huyết áp, gây chứng chóng mặt
Làm hại gan (hepatotoxicity)
Không được dùng khi :
Có bệnh loét bao tử, đau gan, xuất huyết
Đàn bà có thai hay cho con bú
Mevacor (Lovastatin), Zocor (Simvastatin), Prevachol (Pravastatin),
Lescol (Fluvastatin), Lipitor (Atorvastatin), thuộc nhóm Statin
Đứng hàng đầu trong các thuốc trị cao mỡ
Phản ứng phụ:
Đau bắp thịt, đau khắp mình Cần cho bác sĩ điều trị biết
nhức đầu, mất ngủ
Có thể gây đau gan, đau thận
Không được dùng cho trẻ em, đàn bà có thai, đàn bà cho con
bú
Gemfibrozil, Lopids (Fibric Acid Derivatives)
Phản ứng phụ
Đau bụng, nôn, ói, tiêu chảy, viêm tuyến tụy
Đau bắp thịt, đau khớp, mệt, nhức đầu, chóng mặt Chứng này
tăng nếu dùng chung với Statin
Ngứa, nổi ban (rash), chàm (eczema)
Giảm khả năng tình dục
Gây sạn đường dẫn mật
Có thể làm suy thận, suy gan
Đàn bà có thai hoặc cho con bú không được dùng
Trang 3811 Những Điều Cần Biết
Khi Dùng Thuốc
BS Nguyễn Quyền Tài
Khi dùng thuốc, người bệnh nên để ý đến những điều sau đây:
1 Dùng đúng thuốc Một số thuốc có tên gần giống nhau, cho nên
cần đọc kỹ tên thuốc trước khi dùng Tên đặc hiệu (thí dụ: Motrin)
là tên riêng do các hãng bào chế đặt; tên gốc (generic name) là tên
được mọi hãng bào chế dùng để chỉ dược liệu dùng trong thuốc (thí
dụ: Ibuprofen là tên gốc của Motrin)
2 Dùng đúng liều lượng Khi mua thuốc, nên xem lượng thuốc và
thành phần dược liệu trong thuốc có đúng với thứ thuốc đã được bác
sĩ chỉ định dùng hay không Một thứ thuốc có thể được nhiều hãng
bào chế đặt tên khác nhau (tên đặc hiệu), và lượng thuốc trong một
viên cũng có thể khác nhau Nếu không tìm được đúng tên thuốc mà
bác sĩ chỉ định, thì nên xem kỹ để biết thành phần dược chất và
lượng thuốc của mỗi dược liệu có đúng hay không Nếu không đúng
thành phần dược liệu và liều lượng thì nên hỏi lại bác sĩ để biết có
nên dùng hay không
3 Dùng đúng cách Theo đúng lời dặn của bác sĩ, dùng trước hay
sau bữa ăn, dùng lúc nào trong ngày và dùng bao nhiêu lần trong
ngày
4 Dùng đúng thời gian được bác sĩ ấn định Không nên tự ý ngưng
dùng thuốc, dù cho bệnh có vẻ thuyên giảm Ngưng thuốc trước thời
hạn ấn định có thể khiến bệnh tái phát
5 Dùng thuốc còn hiệu nghiệm Khi mua thuốc, nên xem thuốc
còn ở trong thời hạn hiệu nghiệm hay không Trên hộp thuốc thường
có ghi thời gian chót có thể dùng thuốc, quá ngày tháng đó thì
không nên dùng Thuốc cũ có thể không còn hiệu nghiệm và gây
biến chứng Nên mua thuốc ở những nơi đáng tin cậy, tránh mua
thuốc giả
6 Khi ngưng dùng thuốc: một số thuốc cần được giảm liều lượng
từ từ, đặc biệt những thuốc được dùng lâu ngày Khi dùng những thuốc như các loại steroid, nên hỏi bác sĩ nên giảm liều lượng như thế nào
7 Phản ứng phụ của thuốc Ngoài tác dụng chánh, thuốc có thể gây
một số phản ứng phụ, như ngứa, nổi ban, tiêu chảy, v.v Trên tờ thông báo kèm theo hộp thuốc thường có liệt kê những phản ứng phụ có thể xảy ra Người dùng thuốc nên đọc bảng phản ứng phụ này trước khi dùng thuốc Nên báo cho bác sĩ biết ngay nếu bị một trong những phản ứng phụ của thuốc
8 Người mang thai (hoặc có thể đã thụ thai) Một số thuốc có thể
gây tai hại cho phôi thai Người đang mang thai (hoặc có thể mang thai mà chưa biết) nên cho bác sĩ biết trước khi dùng thuốc Nếu thuốc có nguy cơ gây tai hại cho phôi thai thì nên tránh Bác sĩ, tùy trường hợp, có thể cho dùng một thứ thuốc khác
9 Thuốc Tây, thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc gia truyền, dược thảo
Đa số thuốc Tây ở những quốc gia tân tiến đã qua những cuộc nghiên cứu khoa học, và đã được các cơ quan chánh phủ cho phép dùng, sau khi đã được chứng minh là an toàn và hữu hiệu trong việc điều trị một số bệnh nào đó Tuy nhiên, một số thuốc Tây không được xét nghiệm về mức độ an toàn và hữu hiệu; những thứ thuốc này thường được bán ở các tiệm thuốc mà không cần toa của bác sĩ Những thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc gia truyền và các loại dược thảo thường không được khảo sát theo phương pháp khoa học, cho nên mức độ an toàn và hữu hiệu của các thuốc này chưa được xác định Trước khi dùng thuốc, nên biết rõ thuốc có được chứng minh
là an toàn và hữu hiệu hay không
Trang 39
66
12 Những Điều Cần Biết
về Da
BS Hoàng Cầm
Da bao bọc và che chở cơ thể Bề dày của da trung bình là 2mm,
mỏng nhất ở mí mắt, dày ở bàn tay, bàn chân và gót chân
Cấu tạo Từ ngoài vào trong, da được chia thành ba lớp: biểu bì, bì
và dưới bì
Biểu bì và bì
Giữa biểu bì và bì có một lớp tế bào được gọi là: lớp tế bào đáy
(basal cell)
95% tế bào của lớp này có khả năng sinh những tế bào mới,
đẩy lớp tế bào cũ ra ngoài Lớp tế bào bị đẩy ra có tên là lớp tế
bào sừng (keratinocyte hay squamous cell) Ra phía ngoài, các
lớp tế bào sừng ít được nuôi dưỡng, mỏng dần, sau cùng chết,
tạo thành lớp keratin Keratin rất dễ bị bong khi cọ sát, khi tắm
5% tế bào của lớp tế bào đáy có khả năng sinh ra sắc-tố màu
đen (hắc tố), y học goị là melanin và tế bào sản xuất ra melanin
được gọi là hắc tế bào (melanocyte) Hắc tố từ hắc tế bào được
di chuyển tới các tế bào sừng phía ngoài, đem lại sắc da
Lượng hắc tố do hắc tế bào tạo ra theo tính di truyền của sắc
dân, làm cho mỗi sắc dân có màu da từ nhạt tới đậm Hắc tế
bào của dân da trắng sản xuất ít melanin; hắc tế bào của dân da
đen sản xuất nhiều melanin nhất
Ánh nắng mặt trời cũng kích thích hắc tế bào sản xuất nhiều
melanin, vì thế những người làm việc ngoài trời như làm nghề
đánh cá, người làm đường, người sống ở đảo có màu da sậm
Melanin có đặc tính làm giảm tác dụng xấu của tia tử ngoại
(ultraviolet light) trong ánh sáng mặt trời Tia tử ngoại làm da
sậm, nhăn, nhám, mất tính chất mịn màng, gây ra những vết tàn
nhang
67
Bì (Dermis) chiếm 90% chiều dày của da Về già, lớp bì mỏng đi
Bì có hai loại sợi chính:
Sợi trắng (collagen) chiếm phần lớn lớp bì, làm cho da chắc;
loại sợi vàng (elastic) đem lại cho da tính co giãn
Rải rác giữa các sợi là: mạch máu, mạch bạch huyết (lymph) sợi thịt nối với chân lông, đầu dây thần kinh, nang lông (hair follicle), tuyến,
Mô dưới da
Phần chính là lớp tế bào mỡ, trong đó có giây thần kinh, mạch máu, tuyến mồ hôi và tuyến dầu
Tuyến dầu (sebacious gland) có khắp cơ thể, nhưng nhiều nhất
ở đầu, mặt, giữa ngực, và vùng cơ quan sinh dục Mỗi tuyến đính với một nang lông, chất dầu theo lông tới mặt da Tuyến dầu làm da nhờn, chống khô da và che chở da
Tuyến mồ hôi ở khắp da, nhưng nhiều ở trán, lòng bàn tay, bàn chân và nách Tuyến mồ hôi tiết mồ hôi Mồ hôi có những muối khoáng như trong máu, nhưng nồng độ thấp hơn Nhiệt
độ cao ngoài trời và sốt là nguyên nhân chính ra nhiều mồ hôi
Ở lâu ngoài trời nắng, nóng, mồ hôi ra nhiều làm cơ thể mất nước, mất muối, có thể bị xỉu Cảm xúc mạnh như sợ hãi cũng kích thích tuyến mồ hôi, như ta thường nói: sợ toát mồ hôi Mồ
Trang 40hôi trên da bốc hơi làm giảm nhiệt độ của da và giảm nhiệt độ
trong người Tuyến mồ hôi giúp việc điều hòa nhiệt độ trong
người
Lông, Tóc
Tóc ở trên đầu, lông ở khắp bề ngoài cơ thể, trừ lòng bàn tay và bàn
chân Tóc, lông mọc từ những nang lông trong lớp dưới da Mạch
máu nhỏ mang tới nang lông chất dinh dưỡng Tuyến dầu ở bên
cạnh tóc và lông làm láng lông, tóc
Cũng như lớp ngoài của da, phần chính của lông, tóc là chất keratin
chứa hắc tố Lượng hắc tố trong tóc và lông cho màu sắc của tóc và
lông Lông, tóc có màu tương đương với màu da trên cùng cơ thể
Móng tay, móng chân
Là sản phẩm của lớp biểu bì, cấu tạo bởi keratin Keratin đem lại
cho móng tính nhẵn, láng Móng bị nhám, đổi màu có thể báo hiệu
bệnh của móng hay bệnh trong cơ thể
Cấu tạo của móng không có liên hệ tới cấu tạo của xương, nên việc
dùng calcium trong trường hợp móng yếu không đem lại kết quả
Rễ móng tay, móng chân, nằm dưới nếp gấp của da Vi trùng và
nấm thường ở nếp gấp xung quanh móng, dễ gây nhiễm trùng
Tránh làm thương tổn da ở vùng này, tránh cắt móng quá ngắn
Người bị bệnh tiểu đường dễ bị nấm xâm nhập móng, nhất là móng
chân
Móng tay mọc dài khoảng 4mm trong một tháng Móng tay mọc
nhanh hơn móng chân
Móng tay, móng chân mọc chậm khi về già
Loại màu da
Dựa vào nồng độ hắc tố và tác dụng tia tử ngoại của ánh sáng mặt
trời, da được phân thành 6 loại:
1 Da trắng, nhợt (white, pale): luôn bị cháy nắng (sunburn), không
bao giờ bị sậm (tan)
2 Da trắng (white): luôn dễ bị cháy nắng, sậm rất ít
3 Da nâu nhạt (light brown skin): Cháy nắng vừa phải, sậm đều
trên da
4 Da nâu trung bình (moderate brown skin): ít cháy nắng, luôn sậm tốt
5 Da nâu đậm (dark brown skin): hiếm bị cháy nắng, sậm nhiều
6 Da từ đậm sẫm tới đen: không bao giờ bị cháy nắng
Loại 1: dân Anh, Áí Nhĩ Lan có da trắng, mắt xanh, tóc đỏ hay vàng Nguy cơ da bị ảnh hưởng ánh mặt trời rất cao, kể cả ung thư
Loại 6: ảnh hưởng ánh mặt trời trên da rất nhỏ
Theo bảng phân loại trên, da của người VN thuộc loại 3 và 4 Khi ra ngoài nắng, nên đội mũ có vành, áo dài tay, bôi kem chống nắng phần cơ thể nhận ánh nắng Lái xe đường trường nên mang bao tay Những phương pháp này hy vọng giảm thiểu nguy cơ ung thư da, vết tàn nhang trên da, và làm chậm hiện tượng lão-hóa da