1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Y học thường thức Các triệu chứng và biểu hiện bệnh thường gặp

53 379 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài này giúp cho những người bị chấn động sọ não, hoặc có người thân bị chấn thương,  biết nhận ra những triệu chứng và biểu hiệu có biến chứng do chấn động sọ não gây nên,  biết khi n

Trang 1

1 Chấn Thương Sọ Não

BS Nguyễn Quyền Tài

Não bộ (bộ óc) được xương sọ cứng rắn che chở Tuy nhiên, khi sọ

bị va chạm, dù nhẹ hay nặng, não bộ bị chấn động, khiến cho các

chức năng của não bộ bị xáo trộn, từ những choáng váng trong vài

giây hoặc bất tỉnh trong một thời gian ngắn hay dài, đến tình trạng

hôn mê vĩnh viễn hay tử vong Bài này giúp cho những người bị

chấn động sọ não, hoặc có người thân bị chấn thương,

 biết nhận ra những triệu chứng và biểu hiệu có biến chứng do

chấn động sọ não gây nên,

 biết khi nào cần đến bệnh viện để được khám nghiệm,

 biết khi nào cần chụp hình CT sọ não,

 hiểu được những phương pháp thường được sử dụng để ước

lượng mức độ nặng nhẹ,

 các phương pháp theo dõi và điều trị,

 và những hậu quả của chấn thương

Nguyên nhân

Chấn thương sọ não (CTSN) thường do những nguyên nhân sau đây

gây nên:

 Té: té vì mất thăng bằng, vì trượt chân, hay té khi leo cây, leo

thang, khi leo lên nóc nhà để sửa chữa, v.v

 Tai nạn lưu thông: do té xe hay bị xe đụng

 Tai nạn nghề nghiệp: do va chạm, té từ trên cao hay đồ nặng

rơi trúng đầu

 Tai nạn thể thao: những cuộc tỷ đấu thể thao tạo nhiều nguy cơ

gây CTSN, đặc biệt là những cuộc đấu quyền Anh (boxing), đá

bóng tròn, football, rugby, đấu võ, v.v

 Bị đánh: trong những cuộc ấu đả, hay khi bị thù địch cố tình

làm hại

 Va chạm đầu: đụng đầu khi bước vào xe hơi, khi đi vào những

nơi chật hẹp, sau khi khóm xuống ở dưới một cái quầy thấp và

vô ý khi đứng lên, v.v

 Bài này không viết về những CTSN do đạn hay những vậy nhọn xuyên sọ đâm vào não

giữa những người sử dụng khác nhau Bảng sau đây dùng cho người

từ 4 tuổi trở lên Phương pháp này ước lượng mức độ ý thức của người bị CTSN bằng cách khảo sát 3 chức năng: Mở mắt, Nói năng

và Vận động, và chấm điểm cho mỗi chức năng rồi cộng lại cả ba

A Mở mắt: chấm điểm từ 1 đến 4

1 Không mở mắt

2 Mở mắt khi bị nhéo đau

3 Mở mắt khi được gọi

4 Tự động mở mắt

B Nói năng: chấm điểm từ 1 đến 5

1 Không nói năng gì cả

2 Nói gì không hiểu được

3 Nói năng không thích nghi (inappropriate)

4 Nói năng lẫn lộn (confused)

5 Có thể cho biết mình đang ở đâu, vào ngày nào, người đối thoại là ai (oriented)

C Vận động: chấm điểm từ 1 đến 6

1 Không cử động gì cả

2 Chân tay duỗi thẳng ra

3 Cánh tay co rút lại

4 Rút chân tay lại khi bị nhéo đau

5 Định được vị trí đau ở nơi nào

6 Cử động theo lời chỉ bảo

Số điểm cao nhất (tốt nhất) cho GCS là 15 và thấp nhất (xấu nhất) là

3 GCS 15 là tình trạng ý thức bình thường, và GCS dưới hoặc bằng

8 là tình trạng hôn mê Dựa vào điểm GCS, CTSN được phân loại là:

A Nhẹ: khi GCS = 14 hay 15

B Không nặng lắm: khi GCS = 9 đến 13

C Nặng: khi GCS = 8 hay dưới 8

Trang 2

Theo dõi bệnh trạng

1 Theo dõi các chức năng thần kinh

Sau lần khám đầu tiên, ngoài việc tiếp tục theo dõi bằng GCS để

ước lượng mức độ ý thức của bệnh nhân về 3 phương diện:

a Mở mắt

b Vận động

c Nói năng

bác sĩ cũng sẽ tiếp tục khám lại những chức năng thần kinh để nhận

ra những biến chứng có thể xảy ra

2 Đo Áp Suất trong sọ

Những CTSN nặng thường làm cho não sưng phù, và vì vậy, áp

suất trong sọ tăng lên Khi áp suất trong sọ tăng thì lượng máu

đến nuôi dưỡng não bộ giảm xuống, khiến cho não không thể

nhận đủ lượng máu và do đó, não càng bị tổn thương thêm và

chứng sưng phù não càng gia tăng Để đo áp suất trong sọ hầu

biết khi nào áp suất tăng lên và cần điều trị, và cũng để theo dõi

hiệu quả của việc điều trị, các bác sĩ có thể dùng một trong hai

phương pháp sau:

a bằng cách gắn một bù-lon vào sọ: phẫu thuật như sau: rạch

một đường nhỏ ở da, soi một lỗ nhỏ ở sọ và bắt một cái

bù-lon nhỏ vào xương sọ Bù-bù-lon này thông thương với dịch não

tủy bao chung quanh vỏ não và bác sĩ có thể đo áp suất trong

sọ qua dịch não tủy Bù-lon này cũng có thể dùng để đặt một

cọng dây nhỏ có gắn dụng cụ đo áp suất vào trong vỏ não

b bằng cách đút ống vào não thất: bác sĩ cũng có thể đặt một

ống nhỏ vào trong não thất (xuyên qua một lỗ nhỏ khoét

trong sọ), và nhờ đó, đo áp suất trong não thất, và cũng do

ống này, bác sĩ có thể để cho dịch não tủy trong não thất

thoát ra ngoài để giảm bớt áp suất trong sọ, trong trường hợp

áp suất lên cao

Bảng chỉ dẫn để theo dõi người bị CTSN

Trong trường hợp có người thân bị CTSN,người nhà cần theo dõi những điều sau đây và đưa người bệnh đến bệnh viên:

 Không còn tỉnh táo

 Có hành vi bất thường

 Chứng nhức đầu gia tăng

 Nói năng không rõ

 Yếu hay mất cảm giác (tê) ở tay hay chân

 Ói mửa không ngừng

 Một hay cả hai đồng tử nở to

 Bị động kinh

 Da nơi bị chấn thương sưng to lên Người bị CTSN không nên dùng những thuốc gây buồn ngủ và không nên dùng thuốc giảm đau gì khác ngoài acetaminophen (paracetamol, Tylenol), và không nên dùng aspirin và những thuốc chống viêm không có steroid (vì những thuốc này có thể làm cho những nơi bị tổn thương dễ chảy máu)

Tiêu chuẩn cho phép theo dõi ở nhà

Trong những trường hợp CTSN nhẹ, sau khi làm những xét nghiệm đầy đủ, bác sĩ có thể cho người bị thương về nhà khi hội đủ những tiêu chuẩn sau đây:

1 Kết quả hình CT sọ não bình thường;

2 GCS trên 14;

3 Không bị xáo trộn thần kinh;

4 Bệnh nhân có thân nhân đáng tin cậy trông chừng;

5 Có phương tiện đưa bệnh nhân trở lại bệnh viện ngay nếu cần;

6 Không có điều gì khiến bác sĩ nghi ngờ là người bị CTSN là vì bị đánh đập ở nhà

Nếu không hội đủ những điều kiện kể trên thì bệnh nhân được nhập viện để bác sĩ theo dõi

Trang 3

Chẩn đoán

Người bị CTSN cần được khám nghiệm từ đầu đến chân, vì nguyên

nhân CTSN cũng có thể gây chấn thương đến các bộ phận khác của

cơ thể:

1 Khám tổng quát: bác sĩ khám trực tiếp để biết bệnh nhân bị

những tổn thương nào ngoài CTSN, và nếu cần sẽ cho làm thêm

những xét nghiệm cần thiết như chụp hình Tia X, chụp hình CT

hoặc chụp hình mạch máu

2 Khám hệ thần kinh: Ngoài việc khám tổng quát, bác sĩ đặc biệt

khám hệ thần kinh để biết những chức năng gì bị xáo trộn Bác sĩ

và các y tá sẽ làm lại nhiều lần các xét nghiệm thần kinh hầu

định lượng mức độ nặng nhẹ của CTSN và biết được tình trạng

biến chuyển như thế nào từ khi mới bị chấn thương

3 Chụp hình CT sọ não: đây là xét nghiệm thường dùng nhất để

biết não bộ bị tổn thương hay không và tổn thương nặng nhẹ như

thế nào Bác sĩ thường chỉ định chụp hình CT sọ não trong những

trường hợp sau đây:

 GCS bằng hay dưới 14;

 Không tỉnh dậy mặc dù bị lay động mạnh;

 Bị xáo trộn thần kinh, như yếu tay chân hay mất cảm giác;

 Không nhớ những gì đã xảy ra khi bị chấn thương;

 Không tỉnh táo (kể cả tình trạng say rượu);

 Kém tỉnh táo hơn lúc trước đó;

 Có biểu hiệu nứt vòm sọ hay đáy sọ

Những Tổn thương có thể do CTSN gây nên

1 Da

a Bầm da đầu: da đầu có thể sưng lên khi bị bầm dập, nổi thành

u

b Rách da đầu: da đầu có thể bị rách, đường rách có thể nông

hay sâu, dài hay ngắn, thẳng hay quằn quèo Chổ rách sâu có

thể để lộ ra xương sọ

c Chảy máu dưới da đầu: mạch máu (ở dưới lớp da bầm dập) có

thể vỡ và máu chảy ra dưới da đầu, đóng thành cục to hay nhỏ

tùy lượng máu chảy

2 Xương Sọ: xương sọ có thể bị nứt hay bị lõm vào

a Nứt sọ: xương sọ có thể bị nứt ở vòm sọ hay ở đáy sọ, hay ở cả hai phần, vòm và đáy

 Nứt vòm sọ:

o Nứt đỉnh sọ: đường nứt ở vòm sọ nếu đi ngang qua một

tĩnh mạch lớn (sinus) ở màng cứng có thể gây chảy máu, và trong trường hợp này, tình trạng của thương nhân cần được

theo dõi kĩ

o Nứt xương màng tang: nứt xương sọ ở vùng màng tang

cũng có nguy cơ làm rách động mạch màng não và gây chảy máu ở bên ngoài màng cứng, tạo nên cục máu đè lên trên não, khiến bệnh trạng biến chuyển nhanh chóng

o Nứt xương ở hố sau: nứt xương sọ ở hố sau cũng tạo nguy

cơ gây chảy máu ở tĩnh mạch màng cứng, khiến cho tiểu não và trục não bị chèn ép, làm cho bệnh nhân bị hôn mê

nhanh chóng

 Nứt đáy sọ: nứt xương ở đáy sọ tạo nên một số nguy cơ biến

chứng nặng, đặc biệt là làm rách màng cứng, khiến cho nước não tủy rỉ xuống hốc và xoang mũi, tạo thêm nguy cơ nhiễm

trùng màng não rất nguy hiểm

o Nứt phần trước đáy sọ: nứt xương ở phần trước đáy sọ có thể làm tổn thương đến dây thần kinh khứu giác Đây là biến chứng thường xảy ra do CTSN, người bị tổn thương dây thần kinh khứu giác mất đi khứu giác (không ngửi biết

iii) tổn thương đến dây thần kinh số 7, khiến cho mặt bị

méo, mắt không thể nhắm lại được

iv) rách màng cứng, khiến cho dịch não tủy rỉ ra từ lỗ tai

Trang 4

3 Chảy máu trong sọ: máu có thể chảy và tạo thành cục máu ở bất

cứ nơi nào có mạch máu bị rách

a Chảy máu ngoài màng cứng: đa số các trường hợp chảy máu

ngoài màng cứng xảy ra khi động mạch màng não bị rách ở vùng

màng tang, máu tụ lại và đè lên não

 Chảy máu nhanh: khi động mạch bị vỡ, máu chảy ra nhanh và

cục máu tăng trưởng nhanh, khiến những xáo trộn thần kinh

biến chuyển rất nhanh

 Chảy máu chậm: cũng có những trường hợp máu chảy ra

chậm, nên bệnh nhân vẫn tỉnh táo sau khi bị chấn thương

(hoặc bị bất tỉnh ngay sau khi bị chấn thương, sau đó tỉnh lại),

nhưng sau vài tiếng đồng hồ, chứng nhức đầu gia tăng dữ dội,

thương nhân mất tỉnh táo và dần dần đi đến hôn mê “Khoảng

cách tỉnh táo” này dễ khiến cho người nhà thương nhân tưởng

nhầm là chấn thương không nặng

b Chảy máu dưới màng cứng: những tĩnh mạch đi từ màng cứng

đến vỏ não, hoặc những mạch máu ở vỏ não bị tổn thương và gây

chảy máu dưới màng cứng Tùy theo tổn thương mạch máu nhiều

hay ít, máu có thể tụ lại nhanh hay chậm, khiến cho tình trạng tri

giác của bệnh nhân biến chuyển nhanh hay chậm Trong những

trường hợp tĩnh mạch không bị tổn thương nặng, máu không chảy

ra nhiều và ngưng chảy

c Chảy máu dưới màng nhện: máu chảy dưới màng nhện là do vỏ

não bị bầm dập Trong những trường hợp này, máu thường không

chảy nhiều nhưng có thể gây chứng nhức đầu dai dẳng vì màng

não bị kích thích

d Chảy máu trong não bộ: trong những CTSN, não bộ chảy máu

ở vùng vỏ não bị bầm dập, thường là ở vỏ não

e Chảy máu trong não thất: não thất là nơi bài tiết dịch não tủy

Trong những trường hợp tổn thương nặng, máu có thể chảy vào

trong não thất và đóng cục trong não thất

4 Bầm não: Tùy theo nguyên nhân gây chấn thương, não bộ có thể

bị bầm dập từng nơi, hoặc bị hư tổn khắp nơi Chức năng thần kinh

khác nhau tùy vùng não bị hư

A Tổn thương từng nơi: Khi não bị tổn thương từng nơi, hình CT

não bộ cho thấy vùng nào bị bầm dập

B Tổn thương lan tỏa: Trong loại tổn thương lan tỏa, hình CT có

thể không cho thấy những tổn thương li ti, nhưng những xáo

trộn thần kinh có thể trầm trọng, kéo dài lâu hoặc vĩnh viễn

5 Tổn thương những Dây Thần Kinh sọ: một hay nhiều dây thần

kinh có thể bị tổn thương trong CTSN Trong một số trường hợp, chỉ có dây thần kinh bị tổn thương, trong khi não bộ không bị ảnh

hưởng gì quan trọng

a Dây thần kinh Khứu giác: Đây là dây thần kinh thường bị tổn

thương nhất trong CTSN, khiến cho thương nhân mất khứu giác Lúc vừa bị chấn thương, khi trình trạng bệnh nhân chưa quân bình và bệnh nhân còn chưa tỉnh táo, việc mất khứu giác thường không được phát hiện ngay

b Dây thần kinh di động mắt (dây thần kinh số 3, 4 và 6): Những

tổn thương dây này khiến cho mắt bị lé và người bị chấn thương trông một thành hai Tổn thương dây thần kinh số 3 có

thể khiến cho đồng tử không còn phản xạ với ánh sáng

c Dây thần kinh Thị giác: Tổn thương dây thần kinh Thị giác thường do gẫy xương ở hốc mắt Những tổn thương này khó điều trị và thương nhân có thể bị mù vĩnh viễn ở bên bị tổn thương

d Dây thần kinh Mặt: Tổn thương dây thần kinh số 7 thường do gẫy xương ở phần giữa đáy sọ và làm cho mặt bị méo ở một

bên, và bệnh nhân không nhắm mắt lại được ở cùng bên

e Dây thần kinh Thính giác: Tổn thương ở vùng tai có thể gây

tổn thương cho dây thần kinh số 8, và khiến cho thương nhân

bị mất thính giác, bị ù tai và mất thăng bằng

f Những dây thần kinh sọ khác: Tổn thương những dây thần kinh sọ số 5, 9, 10, 11 và 12 cũng có thể xảy ra trong CTSN

nhưng hiếm thấy hơn

6 Rỉ dịch não tủy: do nứt xương đáy sọ và rách màng cứng Dịch

não tủy có thể rỉ ra từ lỗ tai hoặc từ lỗ mũi Trong da số các trường hợp, dịch tự ngưng rỉ khi vết tổn thương lành lặn Tuy nhiên, trong thời gian vết thương còn hở, vi trùng ở hốc mũi hay tai có thể xâm nhập vào dịch não tủy và gây nhiễm trùng màng não, rất nguy hiểm

7 Nhiễm trùng màng não: do nứt xương đáy sọ (như vừa kể trên)

hoặc do tổn thương sâu ở da đầu, xương sọ bị bể, màng cứng bị rách

8 Xáo trộn thần kinh:

a Hôn mê: Người bị CTSN có thể bất tỉnh ngay và sau một thời

gian ngắn hay dài -tùy trường hợp chấn thương nặng hay nhẹ-

từ vài giây đến vài ngày và người bị thương có thể tỉnh dậy

Trang 5

Trong những trường hợp chấn thương nặng, tình trạng hôn mê

có thể kéo dài vĩnh viễn

b Yếu tay chân: Khi não bộ bị bầm dập ở một bán cầu, hay bị

chèn ép bởi một cục máu, thương nhân có thể bị yếu tay chân ở

một bên người, thường ở phía bên đối diện với bán cầu bị

thương tổn

c Nói không được: Nếu phần não liên quan đến việc phát âm bị

tổn thương, người bị thương không nói được, mặc dù tỉnh táo,

biết mình muốn nói gì và có ý muốn nói

d Nghe không hiểu: Nếu vùng liên quan đến việc nghe hiểu tiếng

nói (thường là bán cầu trái) bị tổn thương, thương nhân có thể

nghe nhưng không hiểu tiếng nói, mặc dù vẫn còn có thể phát

biểu được ý tưởng của mình

e Kém trí nhớ: Các CTSN thường làm giảm trí nhớ, trí suy xét,

tính toán Những xáo trộn này có thể nhẹ hay nặng, có thể phục

hồi lại sau một thời gian ngắn hay dài, và cũng có thể kéo dài

vĩnh viễn, tùy mức độ chấn thương nặng hay nhẹ

f Thay đổi tâm tánh: Trong một số trường hợp CTSN, tâm tánh

người bị thương có thể thay đổi, như hay cau có, dễ tức giận,

không kềm chế được hành vi khi nóng giận, hoặc không còn tề

chỉnh, làm việc cẩu thả, không để ý đến vệ sinh hay lối ăn mặc

và lời nói

g Kém khéo léo tay chân: Chấn thương đến tiểu não có thể khiến

cho tay chân vụng về, thiếu khéo léo, hoặc run rẩy khi làm một

động tác cần chính xác

h Đi đứng không vững: Chấn thương đến tiểu não cũng có thể

khiến đi đứng không vững và đi lệch về một bên

i Động kinh: Chứng động kinh xảy ra sau khi bị CTSN được

phân làm hai loại:

 Loại xảy ra sớm: trong vòng 7 ngày sau khi bị chấn thương

 Loại xảy ra trễ: trên 7 ngày sau khi bị chấn thương

Dùng thuốc phenytoin trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi bị

chấn thương có thể ngăn ngừa được chứng Động kinh xảy

trong vòng 7 ngày đầu, nhưng thuốc không phòng ngừa được

chứng động kinh xảy ra trong thời gian sau đó Vì vậy, thuốc

phenytoin chỉ được sử dụng trong 7 ngày đầu sau khi bị chấn

thương Sau đó, nếu chứng động kinh xảy ra thì sẽ được điều

trị để phòng ngừa tái phát

j Nhức đầu, chóng mặt: Người bị CTSN có thể bị nhức đầu và

chóng mặt trong một thời gian Thời gian này dài hay ngắn

không tùy thuộc vào mức độ nặng hay nhẹ của chấn thương, vì

có thể có nhiều yếu tố khác nhau gây cho những triệu chứng

này kéo dài, trong đó có yếu tố tâm lí và ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình và nghề nghiệp

Nhửng chấn thương có thể xảy ra cùng lúc với CTSN

Người bị CTSN có thể còn bị thêm những chấn thương sau đây:

1 Chấn thương Cột Sống: đặc biệt chấn thương cột sống cổ, vì cột sống bị cong vẹo quá độ khi đầu bị đẩy khỏi vị thế bình thường

2 Chấn thương Tủy Sống: Khi cột sống bị tổn thương thì tủy sống

cũng có thể bị tổn thương theo vì bị xương đốt sống hay đĩa sụn chèn ép, hoặc tủy sống bị kéo giãn ra quá độ khi cột sống bị

cong vẹo ra khỏi mức bình thường

3 Chấn thương Mạch Máu: các mạch máu ở đầu, cổ, ngực, bụng

và tứ chi đều có thể bị chấn thương cùng với CTSN, khiến cho thương nhân mất máu nhanh chóng, hoặc gây cho những cơ

quan cạnh nơi bị chảy máu bị chèn ép

4 Chấn thương Nội Tạng (ở ngực, ở bụng): các cơ quan ở ngực

như phổi, tim, và ở bụng (đặc biệt là gan, lá lách và ruột) cũng

có thể bị chấn thương, gây nên xuất huyết trầm trọng

5 Chấn thương Xương (xương sườn, xương chậu, xương tứ chi):

Gẫy xương sườn có thể làm thủng phổi, gây biến chứng tràn khí màng phổi Gẫy xương chậu và xương tứ chi, đặc biệt là xương

đùi, có thể gây xuất huyết trầm trọng

6 Chấn thương Tứ Chi: Ngoài tổn thương ở xương, bắp thịt ở tứ chi có thể bị bầm dập, bị chảy máu và sưng phù, khiến cho máu không thể lưu thông bình thường Biến chứng này cần được nhận thấy và chữa trị cấp thời (bằng cách rọc lớp gân bao bọc

bắp thịt) để tránh cho cánh tay hay chân không bị hư thối

Điều trị

Tùy mức độ CTSN nhẹ hay nặng

A Nhẹ: Những CTSN nhẹ chỉ cần được theo dõi trong một thời

gian ngắn ở nhà, hoặc ở bệnh viện khi có gì bất thường tìm thấy trong hình CT sọ não Những triệu chứng như nhức đầu có thể

điều trị bằng thuốc giảm đau

B Nặng: Những trường hợp nặng cần được nhập viện và điều trị

tùy theo tổn thương Trong những trường hợp thương nhân bị hôn mê và hình CT cho thấy có những tổn thương có nguy cơ gây tăng áp suất trong sọ, bác sĩ thường làm những phẫu thuật

kể ở phần trên để đo và theo dõi áp suất Ngoài ra, tùy trường hợp, bác sĩ cần làm những phẫu thuật sau đây:

Trang 6

1 Khâu tổn thương da đầu: những tổn thương da dầu cần được

rửa sạch và khâu lại, và bác sĩ cho dùng thuốc kháng sinh để

tránh nhiễm trùng Trong trường hợp mảnh da đầu bị tróc đi ở

một khoảnh lớn, vết thương cần được ghép da

2 Nâng xương sọ bị lõm: xương sọ bị lõm cần được nâng lên để

 hút bỏ những phần não bị hư tổn hoàn toàn;

 đặt ống thoát dịch não tủy và dụng cụ đo áp suất trong sọ

4 Kiểm soát Áp suất trong sọ: Trong những trường hợp áp suất

trong sọ gia tăng vì não bị sưng phù, bác sĩ có thể dùng một

hay hỗn hợp những biện pháp sau đây để làm giảm áp suất:

a Đặt đầu cao: việc đầu tiên và giản dị nhất để giảm áp suất

trong sọ là để bệnh nhân nằm ở vị thế đầu cao hơn ngực,

với đầu giường ở góc độ khoảng 300 đối với chân giường

(sau khi đã kiểm soát là cột sống không bị tổn thương gì

có thể gây cho cột sống bị vẹo cong thêm) Vị thế này

giúp cho máu tĩnh mạch trong sọ trở xuống tim dễ dàng

và giúp dịch não tủy trong sọ lưu chuyển xuống cột sống

b Thoát dịch não tủy: sau khi đặt ống thông vào não thất,

bác sĩ có thể để cho dịch não tủy tự nhiên thoát ra bên

ngoài và chảy vào trong một đồ dùng để đo lượng dịch đã

thoát ra

c Làm cho thương nhân thở nhanh: khi thở nhanh hơn bình

thường, lượng CO2 trong máu giảm xuống, và do đó, các

động mạch trong sọ teo hẹp lại, làm cho lượng máu trong

sọ giảm đi, và nhờ vậy, áp suất trong sọ cũng giảm xuống

Phương pháp này được dùng trong những lúc áp suất lên

cao và những biện pháp vừa kể không đủ để làm cho áp

suất trở xuống mức cần thiết, và chỉ có thể dùng trong

một thời gian ngắn (vì khi lượng máu đến não giảm thì

não không nhận đủ lượng máu nuôi dưỡng)

d Truyền vào tĩnh mạch Mannitol hay Nước có Nồng độ

Muối Cao (hypertonic Saline): Một trong hai chất này, khi

được truyền nhanh vào tĩnh mạch, có thể rút bớt lượng

nước ở trong não bộ và nhờ vậy, áp suất trong não cũng

giảm xuống

e Cắt một khoảnh lớn xương sọ: trong những trường hợp

các biện pháp kể trên không đủ để làm giảm áp suất trong

sọ, bác sĩ có thể dùng phẫu thuật để cắt một khoảng lớn trong vòm xương sọ (có thể nguyên cả một bên vòm sọ, hoặc ở cả hai bên vùng trán) để tạo cho não có thêm chỗ

thoát ra khỏi sự chèn ép do chứng sưng phù tạo nên

f Dùng thuốc barbiturate với liều lượng cao: biện pháp cuối cùng khi tất cả mọi phương pháp kể trên không còn hữu hiệu là cho truyền thuốc barbiturate ở liều lượng cao, để mạch máu ở não bộ teo bớt lại và làm giảm đi những nhu cầu biến dưỡng của não Barbiturate ở liều lượng cao thường khiến cho huyết áp sụt xuống, và vì vậy, bác sĩ

cần dùng những thuốc giúp giữ huyết áp ở mức cần thiết

Tiên liệu

Nếu não chỉ bị chèn ép thì một khi được giải phẫu và không còn bị chèn ép nữa, các xáo trộn chức năng của não bộ (như tình trạng yếu bắp thịt ở một bên) sẽ thuyên giảm nhanh chóng Nếu não bị bầm dập thì việc phục hồi có thể mất nhiều thời gian và chức năng có thể không thể phục hồi lại hoàn toàn Trong những trường hợp tình trạng hôn mê kéo dài trong nhiều ngày, các chức năng của não bộ có

Trang 7

 Không chịu được ánh sáng chói hay tiếng ồn

 Thường hay bất tỉnh

 Xáo trộn vị giác

Phòng ngừa

1 Té:

 Tránh nơi trơn trợt, đất lồi lõm

 Tránh đi nơi thiếu ánh sáng

 Tránh leo trèo

2 Tai nạn lưu thông:

a Khi đi đường: tôn trọng luật lệ đi đường, chỉ băng qua

đường ở những nơi được chỉ định và chờ cho đến khi được

phép Khi đi bộ dọc đường ở nơi thiếu ánh sáng, cần cẩn

thận hơn, vì người lái xe có thể không trông thấy người đi

bộ

b Khi lái xe đạp hay xe gắn máy:

1 Tôn trọng luật lưu thông

 Không dùng điện thoại di động

 Không đánh chữ (texting) trên máy điện thoại di động khi

lái xe

 Không đùa giỡn trong xe

 Chú ý đến việc lái xe

4 Tai nạn thể thao: mọi cuộc đấu thể thao đều có ít nhiều nguy cơ

gây CTSN khi các đấu thủ va chạm mạnh với nhau, đặc biệt

trong các môn Bóng Dẹp (Football và Rugby) CTSN xảy ra

thường xuyên trong các trận đấu Quyền Anh (boxing) vì mục

tiêu của trận đấu là đánh trúng vào đầu đối thủ, và trong các trận

đấu Đá Bóng Tròn (gọi theo người Hoa Kỳ là soccer), vì người

chơi dùng đầu để đón banh Nếu chơi những môn thể thao kể

trên thì khó tránh được CTSN

5 Bị đánh:

a tránh ấu đả;

b tránh gây thù hận;

c tránh đánh vào đầu để dạy con cháu hay học sinh

6 Va chạm đầu: cẩn thận khi đi vào nơi thiếu ánh sáng, khi bước

vào trong xe hơi, khi đi vào nơi chật hẹp

Trang 8

2 Chóng Mặt

BS Nguyễn Quyền Tài

Chóng mặt là cảm giác thân mình xoay vòng vòng hoặc cảm thấy

cảnh vật chung quanh mình xoay vòng, và có thể kèm theo cảm

Chóng mặt là một trong những triệu chứng của bệnh ở Tai Tai có 3

phần: Tai Ngoài, Tai Giữa và Tai Trong Tai có 2 nhiệm vụ chính:

Thính giác và Điều chỉnh thăng bằng Phần điều chỉnh thăng bằng

do Tai Trong đảm trách Phần hốc xương của Tai trong được gọi là

Mê Cung; phần giữa của Mê Cung là Tiền Đình Những bệnh ảnh

hưởng đến chức năng của hệ thần kinh ở trong Mê Cung và Tiền

Đình gây nên chứng chóng mặt

Chóng mặt cần phân biệt với một số triệu chứng tương tợ do những

nguyên nhân khác, như:

 Choáng váng

 Cảm giác Lâng lâng

 Cảm giác Lắc lư

 Cảm giác như sắp ngất xỉu

Những bệnh sau đây thường gây chứng chóng mặt:

1) Cơn Chóng Mặt Đột ngột do đầu thay đổi vị trí

2) Viêm Mê Cung

3) Nhiễm trùng ở Tai Trong

4) Cơn Thiếu Máu Não Thoáng qua

5) Buớu Dây Thần kinh Thính giác

6) Giảm số Hồng Huyết cầu (“Thiếu Máu”)

7) Rối loạn Nhịp Tim

8) Yếu Cơ Tim

9) Chấn động Sọ Não

10) Cao Huyết áp

11) Xơ cứng Tai

12) Rối loạn Hoảng sợ

13) Căng thẳng Tinh Thần sau khi bị Chấn Thương

Triệu chứng:

Chứng chóng mặt xảy ra đột ngột khi đầu thay đổi vị trí, như khi ngước mặt lên, hay khi ngồi dậy, hoặc lúc trở mình khi nằm trên giường Những cơn chóng mặt này thường không kéo dài hơn 1 phút, nhưng có thể khiến người bệnh mất thăng bằng và buồn nôn,

ói mửa, và có thể xảy ra nhiều lần trong một ngày

Chẩn đoán:

 Dựa vào triệu chứng

 Khám lâm sàng và chụp hình sọ não để loại những nguyên nhân khác

Điều trị:

 Khi bị chóng mặt, nên nằm xuống cho tới khi hết chóng mặt

 Những thuốc như diphenhydramine hay scopolamine có thể giảm những cơn chóng mặt

 Người bị bệnh này có thể được chỉ dẫn để áp dụng một trong 2 phương pháp sau:

1 Bác sĩ sẽ xoay đầu bệnh nhân sang một bên (làm như thế này sẽ gây chóng mặt), và giữ vị trí đó trong vài phút, rồi xoay đầu sang phía bên kia Xong, người bệnh cần ngồi ngay thẳng trong 48 tiếng đồng hồ (kể cả khi ngủ) Người bệnh có thể mang một cái vòng cổ để giữ cho đầu và cổ được thẳng

2 Bệnh nhân tự xoay đầu để gây cơn chóng mặt Làm như thế nhiều lần mỗi ngày trong vài tuần lễ

Trang 9

Hai phương pháp này thường có hiệu quả tốt trong đa số các

trường hợp

Phòng ngừa:

Tránh những cử động gây chóng mặt cho đến khi được điều trị dứt

2 Viêm Mê cung

Mê cung là một phần của Tai Trong Các cấu trúc thần kinh trong

Mê cung có nhiệm vụ giữ thăng bằng cho cơ thể Khi Tai Giữa bị

viêm, người bệnh có những triệu chứng và biểu hiệu xáo trộn chức

năng của Tai Trong, đặc biệt là chứng chóng mặt

 Bệnh thường tự nhiên thuyên giảm sau vài tuần

 Nếu bệnh do nhiễm trùng thì cần dùng đến thuốc kháng sinh

 Những thuốc giảm buồn nôn, chóng mặt, như meclizine,

procloperazine, scopolamine và thuốc an thần như diazepam có

thể làm giảm các triệu chứng gây khó chịu

 Nếu nhiễm trùng mưng mủ thì cần đến giải phẫu để mủ thoát ra

ngoài Nếu bệnh do bướu bã mật thì cần đến giải phẫu để cắt

 Nhiễm trùng xuất phát từ mũi, họng

 Nhiễm siêu vi trùng hay nhiễm vi trùng ở phần trên của bộ phận hô hấp

 Viêm mũi do dị ứng ở trẻ con có thể làm tắc nghẽn Ống thông giữa Tai và Mũi Họng, khiến cho Tai bị nhiễm trùng

 Nhiễm trùng do Viêm họng hạch ở trẻ em

 Thuốc giảm đau hay thuốc chống viêm không có steroid

 Thuốc trị sổ mũi, trị nghẹt mũi

 Chọc thông màng nhĩ để mủ thoát ra ngoài lỗ tai

 Cắt bỏ adenoid

 Nạo xương chũm

Trang 10

Phòng ngừa:

 Giữ kĩ vệ sinh cho trẻ em bằng cách bắt chúng rửa tay thường

xuyên với xà-bông

 Giặt giũ mùng, mền, chiếu, gối thường xuyên

4 Cơn Thiếu Máu Não Thoáng qua

Khi não không nhận đủ lượng máu nuôi dưỡng thì chức năng bị xáo

trộn, gây những triệu chứng hay biểu hiệu đặc biệt của vùng não bị

thiếu máu Khi lượng máu được tái lập thì các triệu chứng và biểu

hiệu sẽ biến mất và não không bị tổn thương vĩnh viễn Đa số các

triệu chứng và biểu hiệu bất thường thuyên giảm trong vòng vài

phút đến 1 tiếng đồng hồ và các chức năng thần kinh trở lại bình

thường trong vòng 24 tiếng đồng hồ

Nguyên nhân:

 Trong đa số các trường hợp, cơn thiếu máu đến não là do thành

động mạch bị Vữa Sơ, khiến cho động mạch bị tắc nghẽn và

máu không lưu thông đến não được

 Động mạch não cũng có thể bị tắc nghẽn bởi một cục máu xuất

phát từ tim hay một mảnh xơ cứng từ thành một động mạch

 Một số yếu tố làm gia tăng nguy cơ thiếu máu não: huyết áp

cao, bệnh tim, bệnh tiểu đường, hút thuốc, tuổi già

Triệu chứng:

 Yếu và tê rần chân tay một cách đột ngột, thường chỉ ở một bên

thân mình

 Trông một thành hai, hay mất hoàn toàn thị giác ở một mắt

(một mắt không thấy đường)

 Nói ngọng nghịu, hay không nói được

Chẩn đoán: dựa vào

 Triệu chứng và biểu hiệu như kể trên

 Chụp hình não bộ

 Chụp hình mạch máu não sau khi tiêm chất cản quang

Điều trị: Để tránh những cơn thiếu máu não, bác sĩ có thể cho dùng:

 Thuốc giảm đông máu: như aspirin, hoặc trong những trường hợp có bệnh khiến máu đóng cục lại ở tim thì có thể cần đến thuốc warfarin và heparin để làm loãng máu

 Kiểm soát huyết áp

 Kiểm soát lượng mỡ trong máu

 Trong trường hợp động mạch cổ bị vữa sơ nặng khiến cho lòng động mạch bị hẹp trên 70%, bác sĩ có thể đề nghị Giải phẫu động mạch cổ hoặc đặt ống nong động mạch, để làm tăng lượng máu đến não

Phòng ngừa:

 Giữ huyết áp ở mức bình thường

 Giữ lượng mỡ và lượng đường trong máu ở mức bình thường

5 Bướu Dây Thần kinh Thính giác

Bướu này khá hiếm và trong đa số các trường hợp, xảy đến ở người khoảng 30-50 tuổi

Triệu chứng:

 Bướu này thường là bướu lành, xuất phát từ bao của dây thần kinh thính giác, tăng trưởng chậm, và khi ảnh hưởng đến những dây thần kinh hay trục não ở gần bên thì có thể gây

 giảm và mất thính giác (điếc),

 chứng chóng mặt,

 mất thăng bằng,

 đau nhức hay mất cảm giác ở một bên mặt

Nguyên nhân: Nguyên nhân gây bướu thường không được biết rõ Chẩn đoán: Chụp hình CT hoặc MR cho thấy bướu ở vị trị của dây thần kinh thính giác ở vùng gần tai trong

Điều trị: Cắt bỏ bướu bằng phương pháp giải phẫu hay xạ trị Phòng ngừa: Không có cách ngừa bướu dây thần kinh thính giác

6 Giảm số Hồng Huyết cầu (“Thiếu Máu”)

Nguyên nhân:

Tình trạng giảm số hồng huyết cầu (thường được gọi là “thiếu máu)

có thể do một trong nhiều nguyên nhân khác nhau, như:

 Độc tố (như một số hoá chất dùng trong kỹ nghệ)

 Dược liệu (như một số thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm)

Trang 11

 Xạ trị

 Nhiễm trùng, như bệnh Viêm Gan

 Bướu Tuyến ức

 Thiếu Folic acid, thiếu Vitamin B12, thiếu chất Sắt

 Chảy máu nhiều, đột xuất hay dai dẳng, trong đường tiêu hoá

hay tiết niệu

 Bệnh sử có thể cung cấp những dữ kiện cần thiết để định bệnh

 Xét nghiệm máu để đếm số hồng huyết cầu, đo lượng huyết sắc

tố hemoglobin, đo lượng sắt, folic acid, vitamin B12, v.v

 Sinh thiết tủy xương

Điều trị:

 Điều trị chứng thiếu máu bằng cách điều trị nguyên nhân

Phòng ngừa:

 Tránh những độc tố làm giảm số Hồng Huyết cầu

 Dinh dưỡng có đầy đủ các loại vitamin cần thiết

 Điều trị sớm những bệnh gây giảm số Hồng Huyết cầu

7 Rối loạn Nhịp Tim

Chứng rối loạn nhịp tim có 3 loại: loại đập quá nhanh, loại đập quá

chậm, loại nhịp không đều Những cơn rối loạn nhịp tim nhẹ có thể

gây cảm giác phập phòng, hồi hộp thoáng qua; những cơn nặng có

thể nguy hiểm đến tánh mạng

Nguyên nhân:

 Những bệnh gây tổn thương ở tim, như viêm màng trong tim,

viêm cơ tim, sốt thấp khớp

 Thuốc trị rối loạn nhịp tim

 Dùng máy khử rung tim

 Thuốc giảm đông máu

 Thuốc giảm nhịp tim

 Máy điều nhịp tim

 Phẫu thuật

Điều cần làm ngay: Gọi xe cấp cứu nếu bị đau tức ngực dữ dội,

khó thở, nếu cơn hồi hộp, đánh trống ngực kéo dai dẳng

Phòng ngừa:

 Tập thể dục hằng ngày Thư giãn để giảm bớt căng thẳng thần kinh

 Kiêng cữ thuốc lá Giảm bớt rượu và cà phê

 Cẩn thận khi dùng các loại dược phẩm

8 Yếu Cơ Tim

Yếu Cơ Tim là tình trạng tim không còn khả năng bơm máu đầy đủ Nguyên nhân:

 Nhiễm siêu vi trùng (viêm cơ tim)

 Bệnh nghẽn mạch máu nuôi tim

 Một số tình trạng có thể làm gia tăng nguy cơ bị Yếu Cơ Tim:

-Uống nhiều rượu

-Dinh dưỡng thiếu chất thiamine

-Xáo trộn nội tiết tố

-Hút thuốc

-Mập phì

-Huyết áp cao

Trang 12

Triệu chứng:

 Bệnh nhẹ có thể không gây triệu chứng gì, nhưng trong những

trường hợp nặng, người bệnh có thể bị rối loạn nhịp tim, biểu

hiệu suy tim và tim ngưng đập thình lình

 Buồn nôn, ói mữa

 Quên những gì xảy ra ngay trước khi và ngay sau khi bị chấn thương

 Cài dây nịt an toàn khi lái xe

 Đội mũ bảo vệ đầu khi ngồi xe đạp hay xe gắn máy

 Đội mũ bảo vệ đầu khi chơi thể thao

10 Cao Huyết áp

Huyết áp (HA) là áp lực của máu trên thành các động mạch HA được ghi bằng 2 con số: con số đầu gọi là HA tâm thu, tức HA khi tim bóp vào để đẩy máu ra khỏi tim đến các bộ phận trong cơ thể Con số thứ hai gọi là HA tâm trương, tức lúc tim không bóp nữa (vì vậy, HA tâm trương lúc nào cũng thấp hơn HA tâm thu) HA bình thường là dưới 120/80 HA cao là khi HA tâm thu trên 140 và HA tâm trương trên 90

Trang 13

 Đánh trống ngực

 Chảy máu cam

 Cảm giác tê rần ở bàn tay, bàn chân

 Trí óc lờ mờ

Trong đa số các trường hợp, HA cao không có nguyên nhân rõ rệt,

những vấn đề sau đây có thể đưa đến bệnh HA cao:

 Ăn đồ có nhiều muối

Ngoài ra những bệnh sau đây cũng có thể gây HA cao:

 Bệnh gây suy thận

 Bướu tuyến thượng thận

 Mang thai

Chẩn đoán:

 Có người chỉ bị HA cao mỗi khi đi đến bác sĩ Có người lúc bị

HA cao, lúc không Đo HA cho thấy HA cao trong ít nhất 3 lần

trong thời gian ít nhất 1 tuần

 Xét nghiệm máu và đo Điện Tim để suy tìm biến chứng HA

cao

Điều trị:

 Thay đổi lối sống:

-vận động cơ thể hằng ngày,

-giảm trọng lượng cơ thể,

-giảm bớt muối trong thức ăn uống

âm thanh bị cản trở và làm cho người bệnh bị lãng tai Bệnh này xảy

ra lứa tuổi từ 15 đến 30, đa số ở phái nữ, và có tánh cách di truyền Định bệnh:

 Khảo sát thính giác

Điều trị:

 Phẫu thuật mổ xương bàn đạp

 Mang máy trợ thính

Phòng ngừa: Không có cách phòng ngừa bệnh Xơ cứng Tai

12 Rối loạn hoảng sợ

Tình trạng lo lắng, bồn chồn đưa đến những cơn sợ hãi dữ dội khi không bị vấn đề gì thật sự đe doạ Những cơn hoảng sợ gia tăng trong khoảng 10 phút và thường chấm dứt trong khoảng 30 phút Người bệnh luôn luôn lo ngại bị những cơ sợ hãi tái phát

Triệu chứng:

 Cơn hoảng sợ thình lình xảy đến

 Thở nhanh, cảm giác khó thở, hơi thở ngắn

Trang 14

 Cảm giác tê rần ở chân tay

 Sợ sắp phải chết hay sợ bị mất trí

Ngoài những cơn sợ hãi, người bệnh luôn luôn lo sợ không thể ngăn

chận những cơn hoảng sợ xảy đến, đưa đến chứng sợ phải ra đường

trước đám đông, và khiến cho người bệnh bị chứng trầm cảm nặng,

bị nghiện rượu, nghiện ma túy và có ý nghĩ tự tử

 Trị liệu sớm có thể giảm bớt những cơn hoảng sợ

 Kiêng cử rượu, cà phê, cocaine

13 Những Xáo trộn do Căng thẳng Tinh Thần sau khi bị Chấn

Thương

Nguyên nhân:

Một số người, sau khi trải qua hay chứng kiến một tai biến hiểm

nghèo đe dọa đến tánh mạng, hay có nguy cơ bị thương tích trầm

trọng, có thể bị chứng lo âu, sợ hãi kéo dài dai dẳng Họ sống lại

những cảnh hãi hùng trong những cơn ác mộng hay những lúc hồi

tưởng, và cố tránh những cảnh huống gợi lại biến cố đã gây chấn

động Những người đã có sẵn một vấn đề tâm lý, như bệnh trầm

cảm, lo âu, hay không được thân hữu nâng đỡ, dễ lâm vào tình trạng

này

Triệu chứng:

 Cảm giác sợ hãi, kinh hoàng, bất lực

 Hồi tưởng hay ác mộng gợi lại cảnh đã gây chấn động

 Tránh những cảnh huống gợi lại biến cố gây chấn động, và

 Gìn giữ sức khoẻ tốt, yên bề gia thất, không thiếu hụt tài chánh

là những yếu tố giúp tránh Chứng Căng thẳng Tinh thần sau khi bị Chấn thương nặng

 Trị liệu sớm giảm thiểu nguy cơ Chứng xáo trộn tinh thần kéo dài dai dẳng

14 Chứng “Nhức Nửa Đầu”

Chứng “Nhức Nửa Đầu” thường bắt đầu ở lứa tuổi thanh thiếu niên,

và ở người đàn bà hay xảy ra vừa trước hay trong lúc hành kinh Cơ chế gây chứng nhức đầu này là sự co thắt rồi giãn nở ở các mạch

máu não và da đầu

Triệu chứng:

 Cơn nhức đầu dữ dội, bắt đầu ở một bên đầu, kéo dài đến 1-2 ngày

 Buồn nôn, ói mửa

 Không chịu được ánh sáng

Trang 15

-làm việc quá nhiều,

-ngưng uống cà phê,

-kinh nguyệt,

-Dùng thuốc ngừa thai,

-Hoá chất trong thức ăn uống: nitrite, tyramine

 Những thuốc như verapamil, propanolol, amitriptyline,

divalproex, v.v cũng có thể làm các cơn nhức đầu ít tái phát

 Cảm giác xoay vòng vòng thường xảy đến thình lình và gây

buồn nôn, ói mửa

 Giảm hay mất thính giác (lãng tai)

 Nghe tiếng ù tù trong tai

 Cảm giác lỗ tai bị bít hay có ứ nước

 Chảy mồ hôi

Những cơn xoay vòng có thể kéo dài trong vài phút đồng hồ, hoặc trong nhiều ngày và có thể tái diễn, thường thì cứ vài tuần lại xảy ra, hiếm thì vài năm Trong đa số các trường hợp, bệnh này không nặng lắm và tự nhiên khỏi Tuy nhiên, một số ít xảy ra càng ngày càng nhiều, đưa đến chứng mất thính giác hoàn toàn ở cả hai tai Bệnh này thường xảy ra ở trong lứa tuổi 30 đến 60

Phòng ngừa:

Không có cách phòng ngừa bệnh này Các triệu chứng có thể giảm thiểu khi người bệnh dùng ít muối, tránh mập phì, và vận động cơ thể đều đặn

Định bệnh:

Các triệu chứng đặc thù kể trên giúp chẩn đoán bệnh này

Điều trị:

1 Nằm yên khi cơn xoay vòng xảy ra

2 Thuốc atropine có thể làm giảm buồn nôn, ói mửa và cảm giác xoay vòng

3 Thuốc như diphenhydramine có thể làm giảm thiểu các triệu chứng

4 Dùng thuốc lợi tiểu

5 Giảm lượng muối trong thức ăn

6 Trong những trường hợp nặng hoặc hay tái phát, giải phẫu để cắt bỏ dây thần kinh thính giác hoặc phần mê-cung bị bệnh Những phương pháp giải phẫu có thể trị dứt chứng bệnh nhưng gây điếc vĩnh viễn

Trang 16

3 Da Khô

BS Hoàng Cầm

Da hay bị khô vào mùa đông khi thời tiết lạnh, và độ ẩm không khí

thấp Da khô mất tính mịn màng, kèm theo ngứa và tăng tình trạng

trầm trọng những bệnh có sẵn của da

Nguyên nhân

 Khí hậu Trời lạnh thường làm da khô, gây nứt nẻ ở gót chân,

lòng bàn tay

 Máy sưởi, máy điều hòa không khí, lò sưởi , đều làm giảm độ

ẩm không khí trong nhà và làm da khô

 Tắm Nước dùng trong nhà thường có chất Clo để khử trùng

Khi tắm hay rửa tay, clo làm mất chất nhờn trên da, làm da

khô Rửa tay thường xuyên, tắm nhiều lần trong ngày, tắm với

nước nóng, tắm lâu trong bồn, hay trong hồ bơi đều làm da

khô

 Xà bông và chất tẩy quần áo (detergent) Nhiều loại xà bông

tắm, giặt, gội đầu và các chất thuốc tẩy dùng chung với xà

bông, thuốc sát trùng trong xà bông làm mất chất dầu trên da,

làm mất nước trong da

 Ánh nắng và tia tử ngoại Nhiệt của ánh nắng làm khô mặt da

Tia tử-ngoại trong ánh mặt trời không những làm cháy biểu bì,

còn xâm nhập sâu vào lớp dưới, làm đứt các sợi trắng

(collagen) và sợi vàng (elastic) gây những vết nhăn trên da, làm

da nhám, mất mịn màng

 Bệnh thiểu tuyến giáp (Hypothyroidism):Tuyến giáp tiết ra

không đủ hoc-môn (hormone), làm giảm chức năng của tuyến

mồ hôi và tuyến dầu

 Bệnh của da: Bệnh chàm (eczema).Có tính di truyền, xảy ra ở

những người trong gia đình Triệu chứng: ngứa, da khô, sưng

đỏ với những vết nứt rịn nước, đóng vảy Bệnh vảy nến

(psoriasis)

 Tuổi già: Cấu tạo của da thay đổi, các sợi trắng (collagen) và

vàng (elastic) bị đứt, lớp mỡ dưới da mỏng, lớp keratin bên

ngoài dễ bong thành những vảy nhỏ, hắc tế bào và tuyến dầu

giảm hoạt động Tất cả những thay đổi trên làm da khô, nhạt màu, nhám, nhăn

Triệu chứng & biểu hiệu

 Ngứa là triệu chứng thường nhất Ngứa từ nhẹ tới trầm trọng

 Cảm giác da căng, nhất là sau khi tắm

 Lớp biểu bì dễ bong thành những vảy thật mỏng, nhỏ như bụi

 Da co lại, nhám, mất tính mịn màng

 Vết nứt từ nhỏ, nông tới lớn, sâu Vết nứt có thể chảy máu và

có thể bị nhiễm trùng Vết nứt sâu thường thấy ở gót chân

Biến chứng Mất chất nhờn, da mất khả năng che chở, dễ đưa tới

Giảm thiểu tác dụng xấu của ánh mặt trời

 Tắm: Tránh tắm nhiều lần trong ngày Tắm trong thời gian ngắn (tối đa 15 phút khi tắm trong bồn hay trong hồ) Dùng nước ấm Dùng loại xà bông nước có nhiều dầu (Dove, Basis ), chỉ cần thoa xà bông trên mặt, nách, vùng cơ quan sinh dục, chân, tay Tắm trong bồn nên thêm dầu tắm (bath oils) Tắm xong, lau khô cơ thể, thoa ngay kem hay dung dịch làm ẩm da (moisturizing lotion)

 Kem và các dung dịch (lotion) có chứa acit lactic, urea, petrolium, lanolin, , như lubiderm, nivea skin, neutrogena body, olay lotion Các loại này giữ da ẩm, mềm và cũng làm giảm ngứa

 Tránh rửa tay luôn Nếu làm công việc cần phải rửa tay luôn, nên dùng bao tay

 Giữ không khí trong nhà mát, nếu có thể được nên có máy làm

ẩm không khí trong mùa lạnh

 Ra ngoài trời: đội mũ rộng vành, mặc quần dài, áo dài tay, bôi kem chống nắng trên những phần da tiếp xúc với ánh nắng

Trang 17

Trị liệu

 Những phương pháp trình bày trong phần phòng ngừa cũng có

công dụng trị da khô Thoa kem hay dung dịch làm ẩm da 2-3

lần mỗi ngày

 Trong trường hợp da khô kèm theo những bệnh khác về da, cần

đến bác sĩ gia đình hay bác sĩ chuyên khoa da

4 Chứng Đau Bụng

BS Hoàng Cầm

Chứng đau bụng rất thông thường, ai cũng ít nhất một lần cảm thấy đau bụng Đau bụng có thể nhẹ, ngắn, tới rồi qua đi không cần chữa trị, nhưng cũng có thể là dấu hiệu báo những bệnh nguy hiểm của cơ quan trong bụng, hay tim phổi trong lồng ngực, gần gan và bao tử Đau bụng có những tính chung, nhưng cũng có những đặc tính riêng, tùy theo cơ quan, nơi phần bụng đau, mức độ đau và những triệu chứng kèm theo, khiến chúng ta hiểu biết ít nhiều tầm quan trọng liên quan tới sức khỏe mỗi khi chúng ta cảm thấy đau bụng Phần chi tiết của mỗi bệnh được trình bầy trong những bài riêng Bài này trình bày về chứng đau bụng ở người lớn Chứng đau bụng có thể xảy ra ở một phần bụng hay toàn bụng Bụng được chia thành ba phần: bụng trên, bụng dưới và vùng chậu (Pubis)

 Đau bụng hay có cảm giác khó chịu ở vùng gan

 Ăn mất ngon, nôn, mửa

 Có thể kèm theo đau khớp

Loét Bao Tử (Peptic ulcer disease):

 Đau ê ẩm ở giữa bụng trên, thường đau nhiều vào đêm khuya khi bao tử không còn đồ ăn Ăn ít đồ ăn có thể làm giảm cơn đau

 Đau có thể lan ra phía lưng, lên ngực gây cảm giác nóng giữa ngực (heart burn)

Trang 18

 Đau kèm theo buồn nôn hay ói mửa, bụng đầy

 Cần tới bệnh viện gấp khi đau kèm theo chóng mặt, buồn nôn,

rịn mồ hôi có thể do máu chảy nhiều từ chỗ bao tử loét

Viêm Tuyến Tụy (Pancreatitis)

 Bụng đau có thể vừa hay dữ

 Đau có thể lan khắp bụng trên, lan lên ngực, lưng

 Đau có thể kèm theo ói, mửa, sốt, da rịn mồ hôi

 Ngồi gập lưng về phía trước có thể làm giảm cơn đau; nằm

xuống làm tăng cơn đau

 Đau bụng có thể kéo dài vài giờ tới vài ngày

 Phân thường có chất nhờn và nặng mùi

Nên nhớ, tim và phổi ở ngay phần trên của bụng, nên đau bụng trên

rất có thể báo hiệu đau tim hay phổi, cần được định bệnh và chữa

kịp thời

2 Đau Bụng Dưới

Viêm Ruột Dư (appendicitis)

 Khởi đầu, thường đau ở xung quanh rốn, rồi chuyển xuống

phía phải bụng dưới

 Tay ấn vào vùng này gây đau

 Sốt, có thể kèm theo ói mửa

 Cần tới bệnh viện để kịp giải phẫu

Viêm Túi Ở Ruột Già (Diverticulitis)

 Ở những người lớn tuổi, chứng táo bón kinh niên có thể tạo ra

những túi phình nhỏ trên thành của ruột già 90% ở đoạn ruột

già bên trái vì thế đau bụng thường ở phía trái bụng dưới, kèm

theo táo bón hay tiêu chảy Khởi đầu đau quặn từng cơn

 Sau, trở nên thường xuyên

 Đau giảm khi đi cầu hay hơi thoát qua hậu môn

 Có thể có sốt nhẹ

 Những túi nhỏ này có thể phình ra phía ngoài và dễ bị thủng,

gây viêm màng bụng Cần phải tới bệnh viện gấp

Chứng Ruột Nhạy Cảm (Irritable Bowel Syndrome)

 Thấy ở mọi lứa tuổi

 Cảm giác khó chịu trong bụng, đầy hơi, đau giữa bụng, bên

phải hoặc bên trái

 Những cảm giác trên nhẹ bớt sau khi đi cầu Tuy vậy, lại muốn

đi cầu nữa vì có cảm giác như việc đi cầu chưa xong

 Phân có thể lỏng hoăc cứng, lẫn với chất nhờn

3 Đau Toàn Bụng, Đau Lưng

Nhiễm Trùng Đường Tiêu Hóa (Gastroenteritis):

 Siêu vi trùng (Virus), vi trùng, ký sinh trùng (parasites) xâm nhập đường tiêu hóa qua thức ăn, đồ uống, gây ra đau bụng ê

ẩm hoặc quặn đau, tiêu chảy

 Một số vi trùng có thể bám vào màng ruột, làm màng ruột chảy máu Vi trùng cũng có thể tiết ra những chất độc, làm rối loạn chức năng của màng ruột, tạo ra tiêu chảy

 Ký sinh trùng Amib gây ra chứng kiết lỵ Kiết lỵ do Amib thường thấy ở VN và các quốc gia vùng nhiệt đới Những nơi này từ 50-80% dân số có ký sinh trùng Amib trong ruột Amib theo phân ra bên ngoài làm ô nhiễm nguồn nước, thức ăn, đồ uống Chỉ có 10% người có ký sinh trùng Amib trong ruột có triệu chứng kiết lỵ Bụng quặn đau, đi cầu rất nhiều lần, mỗi lần chỉ có chút phân, lẫn chất nhày và máu đỏ Ký sinh trùng bám vào thành ruột, xâm nhập màng ruột, có thể tạo những vết loét ở thành ruột, làm rách những mạch máu trong thành ruột,

từ đó Amib xâm nhập gan, phổi bên phải, tạo ra những túi mủ

ở gan và phổi Khi đau bụng, tiêu chảy, phân có máu hay không, cũng cần tới bác sĩ để điều trị

Sạn Thận

 Quặn đau từng cơn sau lưng, lan xuống bụng dưới và háng, do sạn di chuyển trong đường tiểu Nôn mửa, cần tiểu gấp, nhưng tiểu rất ít Nước tiểu có thể đỏ do máu

Trang 19

Nhiễm Trùng Thận

 Đau bụng và lưng

 Sốt thình lình, ớn lạnh, run toàn thân (shaking chills)

 Tiểu luôn và đau, cảm giác như nóng bỏng đường tiểu

 Nuớc tiểu ít, đục có thể đỏ do máu

4 Đau vùng chậu (Pelvis)

Viêm Bọng Đái (Cystitis)

 Đau phía dưới bụng Tiểu nhiều lần với cảm giác đau hay nóng

bỏng khi nước tiểu qua đường tiểu Không kìm được tiểu khi

muốn tiểu Có thể có máu trong nước tiểu

 Sốt

Sạn Trong Bọng Đái

 Tiểu khó khăn hay không tiểu được

 Đau bụng dưới, đau phía dưới lưng

Nhiễm Trùng Vùng Chậu (Pelvic Inflamatory Disease)

 1-3% phụ nữ trong lứa tuổi 15-44 có chứng này

 Đau nhiều, cứng ở bụng dưới, vùng chậu Ấn bụng đau

 40% trường hợp có sốt tới nhiệt độ 103F Tim đập nhanh, ói

mửa

 Âm đạo có mùi nặng, hôi

 Kinh nguyệt không đều, khó thụ thai, đau khi giao cấu

Lạc Màng Tử Cung (Endometriosis) Màng tử cung ở nơi khác trong

 Sờ vùng này thấy một cục cứng, đau

Chửa Ngoài Dạ Con

 Đau quặn bụng khi đang có thai,

 kèm theo xuất huyết từ âm đạo

Tóm Tắt

Phần chính ở trong bụng là cơ quan tiêu hóa, phía sau của bụng là thận và ống dẫn nước tiểu xuống bọng đái, ở phần giữa vùng chậu Vùng chậu chứa cơ quan sinh dục của phụ nữ Sát phía trên bụng là tim và phổi

Chứng đau bụng báo hiệu bệnh của những bộ phận trên Đau bụng

có thể đau dữ, quặn đau, đau ê ẩm, hay chỉ có cảm giác khó chịu, ì ạch trong bụng Đau có thể trong chốc lát hay lâu Tuy vậy, chúng ta không nên bỏ qua, cần chú ý, vì sau cái đau bụng, có những bệnh nguy hiểm như trình bày ở trên Nhiều trường hợp ung thư bao tử, ung thư gan, ruột già khi biết được thì đã quá trễ, chỉ vì bệnh nhân

đã không quan tâm tới chứng đau bụng ê ẩm ngắn, nhưng thỉnh thoảng lại tái diễn Với đà tiến triển của y học, nhiều bệnh có thể chữa được, nhưng biết được bệnh sớm, chữa sớm vẫn là yếu tố quyết định sinh mệnh của người bệnh

Trang 20

5 Đau lưng

BS Nguyễn Quyền Tài

Đau lưng, hay nói rõ hơn, đau thắt lưng, là chứng đau nhức ở vùng

lưng từ phiá dưới xương sườn đến phiá trên mông Chứng Đau lưng

rất thường xảy ra Đa số các trường hợp đau lưng tự nhiên thuyên

giảm trong vòng 1 tháng, nhưng một số vẫn còn đau sau 1 năm, gây

trở ngại cho cuộc sống và công việc làm Đau lưng là triệu chứng

của nhiều bệnh khác nhau Tùy theo căn bệnh, những trường hợp

đau lưng có thể được chia ra làm 3 loại:

1 Đau lưng không có đặc điểm gì, tức không có những triệu

chứng hay biểu hiệu của loại 2 và 3 sau đây Đa số các trường

hợp đau lưng thuộc loại này

2 Đau lưng có triệu chứng hay biểu hiệu dây thần kinh rễ bị

chèn ép hay hẹp ống tủy sống, tức có triệu chứng đau nhức

chạy xuống chân, hoặc cơn đau nhức gia tăng khi đi bộ được một

khoảng ngắn rồi phải dừng lại

3 Đau lưng do một bệnh nào đó như u bướu, nhiễm trùng, gãy

xương, v.v

Việc điều trị chứng đau lưng tùy vào căn bệnh Khi đến bác sĩ để

khám bệnh, người bệnh cần cho bác sĩ biết những điều cần thiết như

đã nêu trong bài “Những điều cần nhớ khi đi khám bệnh” (xem

trang …), đặc biệt những điều sau đây:

1 Có bị tai nạn hay vận động gì gây chấn thương hay không, như tai

nạn xe cộ, té, khuân vác nặng, v.v

2 Chứng đau nhức có chạy dài xuống chân (triệu chứng dây thần

kinh rễ trong ống cột sống bị chèn ép) hay không

3 Có mất cảm giác, bị tê rần, yếu bắp cơ hoặc teo bắp cơ ở chân

(tức những triệu chứng và biểu hiệu dây thần kinh rễ trong ống

cột sống bị chèn ép) hay không

4 Có phải dừng lại sau khi đi bộ một khoảng ngắn, vì chứng đau

nhức ở lưng chạy dài xuống chân gia tăng quá nhiều đến đỗi

không thể tiếp tục bước đi nữa (biểu hiệu của ống cột sống bị teo hẹp)

5 Có bị khó khăn khi đi tiểu tiện hay đại tiện (biểu hiệu chùm dây thần kinh trong ống cột sống bị chèn ép) hay không

6 Có bị nóng sốt (triệu chứng do bệnh nhiễm trùng) hay không

7 Có bị sụt cân nhiều (biểu hiệu của bệnh Ung thư, bệnh Lao, v.v.) hay không

8 Ước lượng mức độ đau nhức, từ 1 đến 10 (1 là đau nhẹ, 10 là đau kinh khủng) để giúp bác sĩ biết rõ hơn những cơn đau nhức nhiều

ít thể nào

Nguyên nhân

1 Những trường hợp Đau lưng không có đặc điểm gì thường do một chấn thương nhẹ ở các cấu trúc chung quanh cột sống thắt lưng (như gân hay bắp cơ, dây chằng, v.v.), do vận động quá sức

2 Những trường hợp Đau lưng kèm theo chứng đau nhức chạy

dài xuống chân có thể do dây thần kinh bị chèn ép bởi đĩa sụn lồi

hay gai xương do thoái hoá cột sống Những trường hợp Đau lưng kèm theo những cơn đau nhức gia tăng đến đỗi khi đi bộ được một khoảng ngắn rồi phải dừng lại Những trường hợp này là do ống cột sống bị teo hẹp do hiện tượng thoái hóa ở người lớn tuổi, khiến cho những dây thần kinh ở trong ống cột sống bị chèn ép

 Đau dây thần kinh rễ Khi dây thần kinh rễ trong ống cột

sống bị viêm hay bị chèn ép, người bệnh bị mất cảm giác, bị tê rần, và bị yếu hay/và teo bắp cơ ở chân Dây thần kinh có thể bị chèn ép bởi đĩa sụn lồi hoặc bởi gai xương

o Đĩa sụn ở giữa hai đốt sống có thể bị vỡ và lồi ra về phiá ống cột sống và đè lên dây thần kinh ở gần đó

o Gai xương là nơi xương mọc dầy lên khi đĩa sụn bị dẹp xuống (trong trường hợp đĩa sụn bị thoái hoá hay bị chấn thương) Chỗ xương mọc dầy lên (trông giống như cái gai)

có thể chèn ép lên dây thần kinh ở cạnh đó

 Chứng Đau nhức gia tăng đến đỗi chỉ đi bộ được một

khoảng ngắn rồi phải dừng lại Khi ống cột sống bị hẹp lại vì

Trang 21

những hiện tượng thoái hóa của cột sống, chùm dây thần kinh ở

trong đó bị chèn ép Trong những trường hợp này, người bệnh

chỉ có thể đi bộ được một khoảng ngắn rồi phải dừng lại trước

khi có thể tiếp tục đi, vì cơn đau nhức ở lưng chạy dài xuống

chân gia tăng dữ dội

3 Ngoài những bệnh nêu trên, Đau Lưng còn có thể do một số bệnh

 U bướu của cột sống, u bướu ở trong ống cột sống hay ở những

cấu trúc chung quanh cột sống U bướu có thể lành tính hay ác

tính (tức ung thư)

Chẩn đoán căn nguyên

Những trường hợp đau lưng kéo dài hơn một tháng, hoặc có

kèm theo những triệu chứng hay biểu hiện dây thần kinh bị chèn

ép, hoặc khi nghi ngờ là do một trong những bệnh nêu ở phần

trên, như nhiễm trùng, u bướu, v.v., bác sĩ có thể chỉ định chụp

hình bằng X-quang, CT hay MR, hoặc làm thêm những xét

nghiệm khác, như Rà Xương với chất đồng vị phóng xạ, hoặc

chụp hình tủy sống sau khi tiêm chất cản quang vào cột sống

Điều trị

Việc điều trị chứng Đau Lưng tùy thuộc vào căn bệnh

1 Trong trường hợp chứng đau lưng không kéo dài quá một tháng

và không kèm theo triệu chứng hay biểu hiệu nào khác, thì

người bệnh chỉ cần giảm thiểu những công việc nặng và có

thể dùng một trong những thứ thuốc giảm đau như

acetaminophen hay thuốc chống viêm không có chất steroid

như ibuprofen, naproxen, v.v trong vài ngày hoặc 1-2 tuần,

cho đến đi chứng đau nhức thuyên giảm

2 Trong trường hợp chứng đau lưng kéo dài quá 1 tháng, hoặc kèm theo một hay nhiều triệu chứng hay biểu hiệu khác nêu ở phiá trên, thì người bệnh nên đến bác sĩ để được khám nghiệm

và điều trị đúng với căn bệnh

Những phương pháp điều trị chứng Đau Lưng:

1 Dùng thuốc giảm đau và thuốc chống viêm trong những

trường hợp đau nhức nhẹ Nếu chứng đau nhức có kèm theo chứng co thắt bắp cơ thì có thể dùng thêm thuốc giảm co thắt

cơ như tizanidine, cyclobenzaprine, methacarbamol

2 Vật lý trị liệu Khi có biểu hiệu bắp cơ bị co thắt, hoặc cột sống lưng không thể co duỗi bình thường thì có thể dùng những phương pháp Vật lý Trị liệu (như xoa nắn, đắp khăn

ấm, tập cử động, v.v.) để giúp tái lập lại những cử động bình thường cho cột sống

3 Những phương pháp trị liệu khác, như Châm cứu, Nắn bóp, tập Yoga, tập Thể dục có thể giúp giảm thiểu phần nào chứng đau nhức nhưng không phải là phương pháp có thể trị dứt căn nguyên

4 Giải phẫu Trong những trường hợp đau lưng do Nhiễm trùng,

U Bướu, và những trường hợp dây thần kinh trong ống cột sống bị chèn ép nặng, bác sĩ có thể đề nghị dùng một trong những phương pháp giải phẫu để trị căn bệnh, cùng với những

phương pháp trị liệu khác, tùy căn bệnh, như dùng thuốc kháng sinh khi có bệnh nhiễm trùng, xạ trị và hóa trị khi có

ung thư, và kết nối các đốt sống lại với nhau, trong những trường hợp cột sống không vững khi bị thoái hóa hay bị gãy

Theo dõi

Khi chứng đau lưng không thuyên giảm và kéo dài quá 1 tháng, hoặc có kèm theo những triệu chứng hay biểu hiện của một bệnh gì (như u bướu, bệnh nhiễm trùng, v.v.), bác sĩ có thể cho chụp hình để tìm biết rõ nguyên do Nếu xét nghiệm cho biết chứng đau lưng do một bệnh cần được giải phẫu thì bác sĩ sẽ giới thiệu người bệnh đến bác sĩ giãi phẫu (bác sĩ Giải phẫu Thần kinh hay bác sĩ Chỉnh hình chuyên khoa Cột sống) Nếu bệnh không cần giải phẫu ngay thì bác

sĩ có thể chỉ định chương trình trị liệu bằng thuốc và những phương pháp khác Trong trường hợp bệnh không thuyên giảm sau 6 tháng

Trang 22

điều trị thì bác sĩ có thể giới thiệu người bệnh đến bác sĩ giải phẫu

để tư vấn

Sau khi chứng đau lưng đã dứt, người bệnh cần tiếp tục chương

trình vận động cơ thể, tập thể dục thường xuyên và tránh những

công việc khuân vác nặng để giảm thiểu nguy cơ bị tái phát

6 Chứng Đau Ngực

BS Lê Quang Minh

Trong bài này chứng đau ở ngực được trình bày một cách tổng quát liên quan tới tim, phổi, các thành phần của ngực và phần sát dưới ngực Các bệnh quan trọng có chứng đau ngực sẽ được trình bày chi tiết trong các bài riêng

Tim và phổi là hai cơ quan thường có chứng đau ngực đột khởi, báo hiệu sự nguy hiểm tới sức khỏe và tính mệnh

A.Tim

1 Nhồi máu cơ tim (Myocardial Infarction) Cơn đau tim đột biến (Heart attack)

Đau liên quan đến tim thường:

 Xuất phát nhanh thình lình từ ngực trái, lan ra lưng, lên cổ, hàm răng hay cánh tay trái

 Gây cảm giác như có sức ép lên ngực hay như tim bị bóp chặt

 Cơn đau thường lâu hơn 10 phút, có kèm theo khó thở, chóng mặt, buồn nôn, đổ mồ hôi

Chứng đau này do mạch máu nuôi cơ tim (coronary artery) bị nghẹt hoàn toàn, ngăn cản dưỡng khí (Oxygen) và chất nuôi dưỡng tới cơ tim, khiến cơ tim suy nhược rất nhanh

Tình trạng đau nhẹ hơn khi mạch máu nuôi cơ tim không bị nghẹt hẳn, một phần máu vẫn tới được cơ tim

2 Rách động mạch chủ (Aortic dissection) khi vách động mạch chủ

bị rách, hay tách ra Cơn đau dữ xảy ra rất nhanh

3 Viêm màng bao tim (pericarditis) Đau nhói nơi ngực, kèm theo sốt Cơn đau có thể giảm khi ngồi và đưa thân về phía trước

4 Viêm cơ tim (myocarditis) Đau ngực kèm theo mệt, sốt, thở nhanh, nhịp tim nhanh

Trang 23

5 Ứ nước quanh cơ tim (cardiac tamponade) Đau bên ngực trái, độ

đau có thể thay đổi theo nhịp thở

B Phổi

Bịnh phổi làm đau ngực trong các trường hợp sau:

1 Nghẽn mạch phổi (Pulmonary embolism) Máu đông trong mạch

máu ở phổi, làm nghẹt mạch máu Cơn đau tăng khi hít mạnh, kèm

theo khó thở, thở nhanh, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi

2 Viêm phổi (Pneumonia) Phổi bị sưng hay nhiễm trùng Đau ngực

kèm theo: sốt cao, ho, mệt, thở ngắn

3 Thoát khí vào lồng ngực, màng phổi (Pneumothorax); thoát máu

vào lồng ngực (Hemothorax) Trường hợp này khó thở nhiều hơn

đau Thở khó, ho khan

4 Bướu, ung thư phổi Đau ngực kèm theo: thở khò khè, ho lâu

ngày, thở ngắn, mệt, xuống cân

5 Viêm màng phổi (Pleurysi) Ngực đau nhói, cơn đau tăng khi hít

mạnh, có thể lan lên cổ và bụng, kèm theo: thở nhanh, sốt, ho

C Đau ngực có nguyên nhân từ các cấu tạo lồng ngực và ngoài

lồng ngực (xin xem hình phía dưới)

Đau ngực không liên quan đến tim có thể có đặc điểm sau:

 cảm thấy nóng sau xương mỏ ác (breast bone hay sternum)

 cảm thấy có chất chua hay hơi chạy từ bao tử lên

 có thể khó nuốt thức ăn

 cơn đau có thay đổi theo vị trí cơ thể

 đau nhiều hơn khi ho hay hít thở sâu

 đau khi bị nhấn vào lồng ngực

Nhiều khi các đặc tính cơn đau không rõ ràng làm cho ta không biết

được cơn đau có nguyên do nguy hiểm hay không

1 Đau xuất phát từ xương sống

2 Đau khi các bắp thịt, gân quanh lồng ngực bị sưng

3 Viêm xương sườn (Costochondritis) Đau ngực tăng khi thở

mạnh, khi cử động lồng ngực

4 Viêm giây thần kinh ở ngực (Radiculopathy, Neuropathy)

5 Các chứng bịnh từ vú như buớu, ung thư, nhiễm trùng

6 Viêm giây thần kinh của lồng ngực do siêu vi trùng Herpes Zoster Bệnh này dễ nhận nhờ vị trí các mụn trên da

7 Chấn thương lồng ngực

8 Đau ngực do căn bịnh ngay dưới lồng ngực:

a Loét bao tử, ung thư bao tử Đau ê ẩm, quặn đau từng cơn phía dưới lồng ngực Cơn đau có thể giảm khi ăn hay uống thuốc chống chất chua (antacids) Ăn mất ngon, xuống cân

b Chứng ợ chua (Gastroesophageal reflux disease GERD) Thức ăn và nuớc bao tử ứa lên thực quản, đôi khi lên miệng, khi nằm hoặc cúi, gây cảm giác nóng phía sau xương ngực (Sternum)

c Viêm tụy (pancreatitis): Đau dữ phía trên bụng, sốt, ói mửa

d Sạn và viêm túi mật (cholecystitis) Đau ở phía trên, bên phải bụng, lan lên ngực, vai bên phải, sau lưng, kéo dài ít phút tới vài giờ; có thể kèm theo sốt, ói mửa

Tóm lại, có nhiều nguyên nhân làm ta đau ngực Bác sĩ thường phải

hỏi bịnh kỹ lưỡng và khám bịnh cẩn thận để tìm căn bịnh Thường thì bịnh nhân cần được nhập viện để việc định bịnh và chữa trị được tiến hành mau chóng Chứng đau ngực có thể liên quan đến nhiều chứng bịnh nguy hiểm đến tính mạng trong thời gian vài giờ nên ta không nên chần chờ mỗi khi bị đau ngực

Trang 24

7 Đau Nhức Cánh Tay

BS Nguyễn Quyền Tài

Những thành phần của cánh tay, từ vai đến bàn tay, gồm có:

1 Xương

2 Các bắp thịt

3 Gân Gân là lớp mô xơ ở dưới da hoặc bao quanh các bắp thịt

4 Dây chằng Dây chằng là những sợi dây xơ từ các bắp thịt bám dính vào các xương, dự phần vào việc cử động

5 Túi thanh mạc Túi thanh mạc là một cấu trúc nằm ở giữa xương

và dây chằng, làm giảm bớt sự ma xát ở xương khi bắp thịt co giãn

6 Dây thần kinh Những dây thần kinh ở cánh tay xuất phát từ cột sống cổ, dẫn luồng thần kinh vận động đến các bắp thịt và truyền cảm giác từ cánh tay lên não bộ

Nguyên nhân

A Bệnh, hay Chấn thương ở Khớp xương Khớp xương có thể bị

 Nhiễm trùng Nhiễm vi trùng, nhiễm siêu vi trùng, nhiễm vi khuẩn hay nhiễm nấm

 Viêm, như bệnh Viêm Khớp dạng Thấp, Viêm Khớp do Bệnh

Vẩy Nến, Bệnh Sốt Thấp Khớp, v.v

 Thoái hóa Ở người trẻ, khớp có thể thoái hóa sau khi bị chấn

thương Khớp cũng có thể tự nhiên bị thoái hóa ở tuổi già Hiện tượng thoái hóa gây tổn hại cho các cấu trúc của khớp

Trang 25

 Chấn thương Chấn thương ở khớp có thể làm hư hại những

cấu trúc của khớp (như rách dây chằng của bắp thịt) khiến cho

khớp bị viêm

Khi khớp bị viêm vì bất cứ nguyên nhân nào, chứng đau nhức gia

tăng khi khớp vận chuyển và tầm vận chuyển của khớp bị giới hạn

Bệnh nhiễm trùng thường gây nóng sốt Gãy xương thường gây đau

nhức dữ dội sau khi xương bị chấn thương Ung thư thường xuất

phát từ những xương dài ở cánh tay Khi u bướu bắt đầu xuất phát ở

xương, người bệnh có thể chỉ bị chứng đau nhức và không có biểu

hiệu nào khác Bướu xương có thể xuất phát từ xương, hay từ một

bướu độc (ung thư) ở một cơ quan khác di căn đến Chụp hình

X-quang, CT hay MR trong thời kỳ này mới có thể chẩn đoán được

bướu xương

C Bệnh hay Chấn thương ở Bắp thịt, Dây chằng, Gân bao chung

quanh bắp thịt Bắp thịt, dây chằng và gân có thể bị

D Viêm Túi Thanh Mạc Túi thanh mạc có thể bị viêm và gây đau

nhức Khi lấy tay đè ngay vào túi bị viêm thì chứng đau nhức

gia tăng gấp bội

E Bệnh, hay Chèn ép Dây thần kinh

1 Dây thần kinh rễ ở cột sống cổ Khi dây thần kinh bị chèn ép

(như trong trường hợp thoái hóa cột sống, gai xương, lồi điã

sụn, v.v.), người bị có thể bị đau nhức ở cổ, vai và chứng đau

nhức chạy dài xuống cánh tay Chứng đau nhức thường kèm

theo chứng tê, rần, giảm sức lực và có thể teo bắp thịt

2 Đám Dây thần kinh ở vai Những dây thần kinh xuất phát từ

cột sống cổ tụ hợp lại với nhau rồi chia ra thành nhiều dây thần kinh đặc biệt đi đến các vùng ở cánh tay Ở vùng vai, đám dây thần kinh này có thể bị viêm hoặc bị chèn ép, và do

đó gây chứng đau nhức ở vai và cánh tay

3 Dây thần kinh ở cánh tay, cổ tay, bàn tay Những dây thần

kinh chạy dọc theo cánh tay và bàn tay có thể bị viêm hoặc

bị chèn ép Đặc biệt là dây thần kinh Trụ ở cùi chỏ, dây thần kinh Giữa ở cổ tay thường bị kẹt và bị chèn ép, khiến cho bàn tay bị tê, rần, yếu và đau nhức “Hội chứng Đường hầm

Cổ tay” là từ ngữ thường dùng đế chỉ chứng chèn ép dây thần kinh Giữa ở cổ tay

4 Đau dây thần kinh do bệnh Tiểu Đường Bệnh Tiểu đường có

thể gây tổn thương cho dây thần kinh, khiến cho tay chân bị đau nhức

F Bệnh Mạch máu

1 Động mạch Một số bệnh có thể gây cho các động mạch ở tay

bị teo hẹp hay tắc nghẽn, gây giảm thiểu lưu thông máu ở cánh tay và bàn tay Ngoài chứng đau nhức, cánh tay và bàn tay còn có thể bị tê, lạnh và da bị tái, tím

2 Tĩnh mạch Tĩnh mạch ở cánh tay có thể bị đóng máu cục,

khiến cho cánh tay bị sưng và đau nhức Hiện tượng này thường xảy ra ở chân, nhưng cũng có thể ở cánh tay, trong những trường hợp tĩnh mạch bị chấn thương hay trong một

số bệnh đông máu

G Hệ thống bạch huyết Khi hệ thống bạch huyết bị tắc nghẽn, cánh

tay bị sưng lên và đau nhức Hiện tượng này có thể xảy ra trong những bệnh ung thư hay sau khi xạ trị

H Cơn Đau tim do tắc nghẽn mạch máu tim Một số trường hợp tắc

nghẽn mạch máu tim gây đau nhức ở cổ, vai và cánh tay, nhưng lại không gây đau nhói ở vùng tim Vì thế, khi những người có nguy cơ bị bệnh tắc nghẽn mạch máu tim bị đau nhức ở vai và

Trang 26

cánh tay, bác sĩ thường làm những khám nghiệm để biết có phải

do nghẽn mạch máu tim hay không

Chẩn đoán

Việc chẩn đoán để biết chứng đau nhức do phần nào của cánh tay

gây nên và do bệnh gì, cần đến khám lâm sàng (bằng cách quan sát,

sờ, nắn, bóp, v.v.) và có thể cũng cần đến một số xét nghiệm như

chụp hình, đo Điện Cơ đồ, v.v

1 Phương pháp Lâm sàng Khi bóp nhẹ vào cấu trúc bị viêm,

chứng đau nhức sẽ gia tăng Phương pháp khám bằng cách

nắn, bóp có thể giúp định được cấu trúc nào bị bệnh trong

nhiều trường hợp Khi người bệnh co, duỗi cánh tay hay bàn

tay, những bắp thịt, dây chằng hay gân bị viêm sẽ bị chuyển

động và sẽ làm cho chứng đau nhức gia tăng Khớp xương

bị viêm hay chấn thương thường bị giới hạn trong tầm vận

động và sẽ đau nhiều hơn nếu vận động quá mức chịu đựng

2 Chụp hình Chụp X-quang có thể cho thấy chỗ xương bị

gãy Chụp hình MR có thể cho thấy những nơi trong khớp

xương bị hư hại hay thoái hóa

3 Điện cơ ký và Đo tốc độ vận chuyển dây thần kinh Khi dây

thần kinh bị tổn thương hay bị chèn ép, những xét nghiệm

này cho thấy những thay đổi bất thường ở bắp thịt và ở dây

thần kinh Hai phương pháp này có thể giúp biết khá chính

xác dây thần kinh nào bị tổn thương

4 Siêu âm, Động mạch ký và Tĩnh mạch ký Những phương

pháp này giúp chẩn đoán bệnh mạch máu và hệ bạch huyết

5 Xét nghiệm máu Một số bệnh Viêm cần đến những xét

nghiệm máu đặc biệt để định bệnh

6 Xét nghiệm dịch khớp xương Bệnh Viêm khớp Gút cần đến

xét nghiệm dịch khớp xương để chẩn đoán chính xác Bệnh

nhiễm trùng cũng có thể cần đến rút dịch hay mủ để xét

nghiệm dưới kính hiển vi và cấy vi trùng

7 Sinh thiết giúp phân loại những bệnh u bướu và một số

trường hợp thoái hóa/viêm khớp xương

8 Điện Tâm ký, Động mạch ký, đo lượng Men tim Những xét

nghiệm này cần thiết để chẩn đoán bệnh tắc nghẽn mạch

máu tim

Điều trị

1 Những trường hợp chấn thương hay viêm gây đau nhức nhẹ

có thể thuyên giảm sau khi dùng thuốc giảm đau như acetaminophen (gọi là paracetamol ở Việt Nam), hoặc thuốc chống viêm không có chất steroid, như ibuprofen, naproxen, aspirin, v.v

2 Viêm ở dây chằng, ở khớp, nếu không do nhiễm trùng, có thể được điều trị hữu hiệu bằng cách tiêm thuốc steroid ở chỗ bị viêm

3 Những bệnh Viêm như Gút, Viêm Khớp dạng Thấp, v.v cần đến những thứ thuốc đặc biệt để điều trị tuỳ theo loại bệnh

4 Giải phẫu:

a Xương gãy cần được giữ bất động cho đến khi lành Những trường hợp gãy thành nhiều mảnh có thể cần được giải phẫu Chấn thương hay thoái hoá nặng ở khớp có thể cần được giải phẫu

b Những trường hợp dây thần kinh bị chèn ép có thể trị bằng thuốc chống viêm và vật lý trị pháp Nếu bệnh không thuyên giảm, cơn đau trầm trọng khiến người bệnh không thể làm việc và không thể ngủ được, và nhất là nếu có thêm những triệu chứng chèn ép dây thần kinh, như yếu vận động bắp thịt và mất cảm giác, giải phẫu cần được thực hiện đến

để dây thần kinh không còn bị chèn ép

c Những bệnh u bướu thường cần đến giải phẫu và cũng

có thể cần đến xạ trị và hoá trị

5 Những bệnh tắc nghẽn mạch máu và hệ bạch huyết cần đến những phương pháp điều trị đặc biệt để gia tăng sự lưu thông của máu và bạch huyết

6 Bệnh tắc nghẽn mạch máu tim cần dùng đến thuốc giúp giãn động mạch tim để máu lưu thông trở lại và có thể cần đến thông tim hoặc giải phẫu tim

Ngày đăng: 12/11/2016, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w