1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Y học thường thức Các bệnh

78 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 5,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh này cũng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và môi trường như ăn uống, vận động, ô nhiễm… Những mảng xơ cứng của động mạch có thể làm nghẹt hoặc làm vỡ động mạch, gây ra những

Trang 1

1 Bệnh Béo Phì

(Obesity)

BS Đỗ Văn Hội

Tổng quát

Theo thống kê năm 2005 của tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO), toàn

cầu có khoảng 1.6 tỉ người trên 15 tuổi bị dư cân (overweight),

trong đó có 400 triệu người béo phì (obesity)

Tại Hoa Kỳ, thống kê năm 2003-2004 của Trung Tâm Kiểm Soát

Và Đề Phòng Bệnh Tật (CDC) cho biết 66% người dân Mỹ dư cân,

trong đó 33% mắc bệnh phì Năm 1980 con số này là 14.5%, năm

1994 là 23% Khoảng 15% trẻ em ở tuổi vị thành niên (teenager) bị

bệnh béo Một điều đáng ngạc nhiên là nhóm sắc dân thiểu số

(minority) lại có tỷ lệ mắc bệnh béo phì cao hơn Phái nữ có khuynh

hướng mập hơn nam giới Ngoài ra, đa số người mắc bệnh béo

không hề nghĩ rằng mình đang có nhiều rủi ro gặp phải các chứng

bệnh nguy hiểm hiện tại cũng như tương lai

Như thế, bệnh béo phì ngày càng gia tăng tại Hoa Kỳ và trên thế

giới Đó cũng là bệnh của các nước nơi mà thực phẩm dư thừa (dư

thừa thực phẩm) Và béo phì cũng gây ra nhiều hậu quả nghiêm

trọng cho sức khỏe

Định nghĩa

Béo phì là một bệnh mà trọng lượng mỡ

trong cơ thể quá mức bình thường, vì thế mà

sức nặng của cơ thể cũng lên cao Khi một

người có trọng lượng cơ thể 20% cao hơn

trọng lượng bình thường, người đó được

xem như mắc bệnh béo phì Bệnh này còn

được gọi là mập phì, quá khổ, nặng cân v.v

Cơ quan Y Tế Quốc Tế (WHO) dùng chỉ số BMI (body mass index;

chỉ số khối lượng cơ thể) để xác dịnh tình trạng một người có bị béo

BMI là tỉ lệ giữa trọng lượng cơ thể (tính bằng kilogram kg) đối với bình phương của chiều cao (tính bằng mét m)2, công thức như sau:

BMI = Trọng lượng (kg) : (chiều cao mét) 2

Thí dụ: Một người cân nặng 70 kilogram, cao 1.50 m, BMI sẽ là: BMI= 70 : (1.5)2 = 70 : 2.25 = 31.1 (BMI = 31.1)

Cũng theo định nghĩa của WHO, nếu BMI bằng hoặc nhỏ hơn 25, bạn có cân lượng bình thường Tuy nhiên, nếu BMI nhỏ hơn 18.5, bạn được coi là thiếu cân (underweight)

Nếu BMI từ 25 đến 29.9, bạn được coi là “dư cân” hoặc “thừa cân” (overweight)

Nếu BMI lớn hơn 30, bạn coi như đã mắc bệnh “béo phì” (obesity) Béo phì được chia làm 3 loại:

Loại I: BMI từ 30 đến 34.9 Loại II: BMI từ 35 đến 39.9 Loại III: BMI từ 40 trở lên Muốn tính BMI tự động, xin vào xem website:

Nam giới > 40 inches (> 102 cm)

Nữ giới > 35 inches (> 88 cm) Một điều cần ghi nhớ là phương pháp này chỉ có giá trị khi chỉ số BMI nằm trong khoảng 25.5 và 34.9

Cách đo vòng bụng (nên có một người khác phụ giúp):

1- Đứng thẳng lưng

Trang 2

3- Dùng thước giây, quàng xung quanh bụng, ngang mép trên

của xương hông và dưới bờ xương sườn thấp nhất

4- Vòng tròn ngang bụng phải song song với mặt đất

5- Đừng siết dây quá chặt hoặc để quá lỏng

Nguyên nhân của bệnh béo phì

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra béo phì, ta có thể tóm thu vào 3

nguyên nhân chính:

1- Nguyên nhân di truyền

2- Chế độ dinh dưỡng

3- Thiếu sự năng động

1- Nguyên nhân di truyền

Yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến bệnh béo phì trong nhiều gia

đình Nếu cha mẹ béo phì, con cái dễ có khuynh hướng mắc bệnh

này

2- Chế độ dinh dưỡng

Thức ăn, thức uống hoặc cách ăn uống không lành mạnh dễ gây ra

bệnh: như thói hay ăn vặt; loại thức ăn nhanh (fast food); thức ăn có

nhiều chất béo (fat), tinh bột; nước ngọt (soda)…

3- Thiếu vận động cơ thể

Trong thời đại văn minh, người ta thường sử dụng phương tiện máy

móc thay cho chân tay, làm giảm tính năng động cơ thể Thiếu vận

động, thân thể không đốt hết năng lượng thu nhập nên được tích trữ

trong cơ thể dưới hình thức mỡ thừa, gây ra béo phì

Tóm lại, người ít hoạt động, ít thể dục thể thao dễ bị tăng cân và

béo

4- Các nguyên nhân khác:

Một số nguyên nhân khác cũng có thể gây ra béo phì như:

 Phụ nữ mang thai

 Một số dược phẩm như steroids (cortisone, prednisone,

prednisolone…), thuốc ngừa thai, kích thích tố nữ

 Một số bệnh tật làm cho cơ thể béo phì như bệnh giảm tuyến

giáp (hypothyroidism), bệnh Cushing (tăng tuyến thượng thận),

bệnh viêm khớp xương (cơ thể khó di động)

 Đổ nhiểu mồ hôi; luôn luôn cảm thấy nóng nực

 Buồn ngủ ban ngày

 Rất dễ mệt khi cơ thể hoạt động dù chỉ rất nhẹ

 Lở da, nhiễm trùng da nơi các nếp nhăn

 Tai biến mạch máu não

 Bệnh tiểu đường lọai II (loại tiểu đường khó điều trị bằng Insulin)

 Viêm xương, viêm khớp xương (cơ thể thiếu vận động)

 Gia tăng nguy cơ các bệnh ung thư (ruột già, vú, tử cung…)

 Bệnh sỏi túi mật

 Mất chủ động tiểu tiện (Stress incontinence)

 Rối loạn kinh nguyệt

Chữa trị

Mục tiêu chữa trị bệnh béo phì là làm giảm cân (weight loss) trong dài hạn Kết quả của sự giảm cân dù chỉ rất nhỏ đều làm lợi cho cơ thể và sức khỏe bệnh nhân Chỉ cần giảm đi 10 cân (pound, lbs), chúng ta đã giảm đi rất nhiều nguy cơ tác hại lên cơ thể Tuy nhiên, việc điều trị giảm cân rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi ý chí và quyết tâm cao của bệnh nhân

Nguyên tắc của điều trị giảm cân: Mỗi tuần người bệnh phải giảm tối thiểu từ 1 đến 2 cân (pound) Sau 6 tháng, trọng lượng cơ thể phải giảm ít nhất 10% trọng lượng ban đầu Việc giảm cân phải được tiến hành liên tục, không được ngừng, cho dù trọng lượng cơ thể đã trở lại bình thường Người bệnh phải tiếp tục điều trị bảo trì

Trang 3

Những phương cách làm giảm cân như sau:

1 Giảm năng lượng thu nhập hàng ngày Đa số năng lượng đều từ

thực phẩm, thức uống Đơn vị năng lượng được tính bằng calori

Tùy theo chỉ số BMI, mỗi ngày phải giảm từ 500 đến 1000 calori:

 Nếu BMI nằm trong khoảng 27-35, mỗi ngày cần giảm

300-500 calori

 Nếu BMI trên 35, cần giảm 500-1000 calori mỗi ngày

Phụ nữ ít hoạt động cần một năng lượng 1600 calori mỗi ngày Đàn

ông hoặc phụ nữ năng động cần 2500 calori mỗi ngày

Chú ý: trên nhãn của bao, hộp đựng thực phẩm trên thị trường đều

có ghi rõ số lượng calori, ta cần đọc cho kỹ để tính số năng lượng có

trong thực phẩm đó

2 Gia tăng hoạt động cơ thể:

 Đi bộ, thể dục, thể thao thường xuyên là phương pháp hữu hiệu

để giảm cân và phòng bệnh béo phì

 Theo cơ quan IOM (Institute Of Medicine), người lớn cần vận

động vừa phải (moderate activity) tối thiểu khoảng 1 giờ mỗi

ngày và dài hạn

3 Điều trị bằng dược phẩm:

Khi các phương pháp kể trên không kết quả, chúng ta mới phải dùng

dược phẩm Đa số dược phẩm điều trị bệnh béo phì có tác dụng làm

giảm sự thèm ăn mà ta gọi là thuốc “chống đói” hoặc “giảm đói”

(appetite suppressant), cần phải được bác sĩ cho toa và theo dõi vì

có nhiều tác dụng phụ Những người có các bệnh về hệ tim mạch

như bệnh cao máu, bệnh tim thì không nên dùng Tên một số dược

phẩm đó là: phentermine (Adipex-P), phendimetrazine (Bontril),

sibutamine (Meridia)

Một loại thuốc khác có tên thương mại Alli được bán tự do ngoài thị

trường, tên tổng quát là orlistat Tác dụng của thuốc là ngăn cản sự

hấp thụ mỡ trong thức ăn 1 viên Alli chứa 60 mg chất orlistat

Thuốc này uống sau các bữa ăn có mỡ, mỗi ngày tối đa 3 lần, mỗi

lần 1-2 viên Nếu bữa ăn không mỡ thì không cần uống Thuốc

Xenical trị béo mập có 120 mg orlistat cần phải có toa bác sĩ

Xin vào website dưới đây để biết thêm chi tiết

Sau khi ngưng thuốc, trọng lượng có thể gia tăng trở lại, do đó cần được điều trị bảo trì và đề phòng bệnh tái phát

4 Giải phẫu Nếu bệnh nhân có chỉ số BMI cao hơn 40, hoặc trên 35 kèm với nhiều nguy cơ bệnh như cao máu, cao mỡ, cao đường, nghẹt thở khi ngủ v.v., và khi mà các cách điều trị nói trên không kết quả, chúng

ta cần đến phương pháp giải phẫu Giải phẫu trị béo phì bao gồm cắt làm nhỏ bao tử, làm ống dẫn tắt tiêu hóa (gastric bypass) Dĩ nhiên phải có bác sĩ chuyên môn quyết định và thực hiện phẫu thuật

5 Điều trị bảo trì (maintenance) Sau khi sự giảm cân có kết quả, người bệnh cần phải điều trị bảo trì, nghĩa là tiếp tục phương pháp tránh tăng cân lượng bằng sự thay đổi lối sống, thay đổi về cách ăn uống, năng vận động cơ thể…

Phòng ngừa

Đề phòng là phương pháp tốt nhất để tránh bệnh dư cân hoặc béo phì và các nguy hại cho sức khỏe của nó Những phương pháp ngừa bệnh chính như sau:

 Áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh (ít mỡ, ít chất bột, ít chất ngọt ), nhiều rau, đậu, trái cây…

 Theo dõi lượng calori thu nhập mỗi ngày

 Năng vận động cơ thể, thể dục thể thao thường xuyên

 Giảm thì giờ ngồi trước màn ảnh (“screen time”) như bớt sử dụng TV, computer, chơi game, nhất là trẻ em

 Khám tổng quát hàng năm dù bên ngoài ta không thấy có bệnh

 Theo dõi trọng lượng cơ thể, chỉ số BMI của mình

 Săn sóc và theo dõi cẩn thận sức khỏe trẻ em, nhất là cho ăn thức ăn lành mạnh, hạn chế giờ chơi game, xem TV

Kết Luận

Bệnh dư cân và béo phì là hậu quả của sự ăn uống thực phẩm không lành mạnh, cơ thể thiếu hoạt động, không theo dõi tình trạng sức khỏe của mình

Bệnh này tạo nên nhiều nguy cơ các bệnh nguy hiểm khác cho cơ thể Đề phòng bệnh rất quan trọng, vì khi đã mắc bệnh, việc chữa trị rất khó khăn Việc điều trị phải được thực hiện đúng cách và liên

Trang 4

2 Bệnh Mỡ Cao

(Dyslipidemia)

BS Đỗ Văn Hội

Tổng quát *

Bệnh mỡ cao còn được gọi là bệnh rối loạn mỡ trong máu, một bệnh

thường thấy ở các nước mà trình độ phát triển cao như Âu Châu,

Hoa Kỳ và một số các quốc gia khác Bệnh này được xác định là

lượng mỡ trong máu cao hơn bình thường Ai trong chúng ta cũng

biết mỡ trong cơ thể có hai hình thức (hoặc hai loại): Cholesterol và

Triglyceride chi tiết sẽ được diễn tả ở phần dưới

Theo thống kê của Viện Quốc Gia Tim, Phổi và Máu Hoa Kỳ

(National Heart, Lung and Blood Institute):

- 98 triệu người Mỹ trên 20 tuổi có lượng cholesterol cao hơn mức

bình thường (bình thường là 200mg/deci-lít máu) (*)

- 34 triệu người có lượng cholesterol ở quá mức nguy hiểm

(240mg/dl) Được gọi là nguy hiểm vì có thể gây ra những chứng

bệnh chết người như bệnh tim mạch Được biết, bệnh tim mạch

chiếm 35% số tử vong tại Hoa Kỳ

Lượng mỡ cao trong máu sẽ tạo nên những mảng xơ cứng của động

mạch (atheroma), gây ra các bệnh tim mạch cũng như bệnh về

não-mạch (cerebro-vascular)

Bệnh xơ cứng động mạch là một bệnh kinh niên mãn tính tấn công

các động mạch có bán kính trung bình và lớn Bệnh này có thể bắt

đầu từ thuở tuổi trẻ em, tăng dần ở tuổi khôn lớn Bệnh này cũng

chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và môi trường như ăn uống,

vận động, ô nhiễm…

Những mảng xơ cứng của động mạch có thể làm nghẹt hoặc làm vỡ

động mạch, gây ra những tai biến nguy hiểm cho cơ thể như bệnh

nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não…

Dinh dưỡng là chế độ ăn uống nhằm cung cấp năng lượng cho cơ thể, để cơ thể có khả năng hoạt động và phát triển Chất dinh dưỡng (thức ăn) bao gồm 3 loại chính: Chất đạm (protein); đường (carbohydrate) và mỡ (hoặc chất béo, khoa học gọi là lipít: lipid) Khi chất lipit quá cao trong máu lâu ngày sẽ tạo nên những mảng xơ cứng mô tả ở trên

Ở các nước Âu Châu, lượng mỡ trong thực phẩm chiếm 30-40% năng lượng tiêu thụ hàng ngày; tại Hoa Kỳ tỷ lệ này cao hơn; ở các nước châu Á, lượng mỡ tiêu thụ ít hơn

Cấu tạo của mỡ

Mỡ được cấu tạo bởi chất lipoprotein không tan trong nước Mô mỡ

là nơi dự trữ năng lượng dư thừa của cơ thể

Mỡ là một trong những thức ăn cần thiết của cơ thể ngoài chất đạm (protein), chất đường (carbohydrates), các loại sinh tố Mỡ được thấy nhiều trong mỡ động vật, dầu thực vật, hoặc trong một số sinh

tố như sinh tố A, D, E, K Các sinh tố này tan trong mỡ và được dự trữ trong gan Do đó, một khi gan bị tổn thương, các sinh tố loại này

sẽ thiếu hụt gây nhiều chứng bệnh

Mỡ từ thức ăn được biến đổi tại ruột non, được hấp thụ vào máu dưới dạng “nhũ trấp” giống như sữa, tiếng Anh gọi là chylomicron Người có mỡ cao khi lấy máu xét nghiệm sẽ thấy một lớp màu trắng đục như sữa nổi lên trên

Mỡ trong cơ thể bao gồm hai loại chính: Cholesterol và

Triglycerides (phát âm tiếng Anh cô-lết-tê-rôn và trai-gly-xê-rai)

Mỡ được chuyên chở trong cơ thể dưới dạng “lipoprotein” vì mỡ không thể hòa tan trong nước, nhưng lipoprotein thì có thể

- Cholesterol được chia làm hai nhóm: LDL (Low Density Lipoprotein, tức lipoprotein có nồng độ thấp) còn được gọi là cholesterol xấu có nhiều trong mỡ động vật; và HDL (High Density Lipoprotein = lipoprotein có nồng độ cao) còn được gọi là cholesterol tốt Vận động cơ thể làm tăng mỡ tốt HDL

- Triglyceride còn được gọi là VLDL (Very Low Density Lipoproteine, lipoprotein với nổng độ rất thấp) Mỡ triglyceride từ thực phẩm xuống ruột non, được hấp thụ vào máu Triglyceride nếu

Trang 5

mỡ để làm dự trữ năng lượng cho cơ thể Triglyceride có thể được

chuyển hóa từ các chất carbohydrate (đường), protein trong cơ thể,

và rượu

Cao chất Triglyceride trong máu có thể làm nguy hại các mạch máu,

gây ra những chứng bệnh nguy hiểm

Cao mỡ LDL (cholesterol xấu) có thể gây ra các chứng bệnh nguy

hiểm về mạch máu, về tim, mạch máu não, mắt…

Cao mỡ HDL (cholesterol tốt)

có lợi cho sức khỏe nhất là

tim HDL có tác dụng như chất

chống oxy hóa, chống viêm,

giúp chuyên chở cholesterol

và LDL vào gan để được dự

trữ Giảm mỡ HDL làm gia

tăng nguy cơ mắc bệnh tim

Nguyên nhân cao mỡ

Có rất nhiều nguyên nhân gây

ra bệnh cao mỡ trong máu, sau

đây là những nguyên nhân

chính:

 Ăn nhiều chất béo: mỡ động vật, thịt đỏ (red meat như thịt heo,

thịt bò ), lòng đỏ trứng, các loại dầu chiên bằng trans fat

 Ít vận động cơ thể

 Một số dược phẩm như kích tố nữ (estrogen); steroid; thuốc lợi

tiểu (thiazide)

 Một số tình trạng sức khỏe có thể làm tăng LDL: thiếu

estrogen, giảm tuyến giáp, bệnh di truyền

 Nghiện rượu kinh niên làm tăng triglyceride

Các triệu chứng của bệnh mỡ cao

Bệnh mỡ cao thường không có triệu chứng thấy được cho đến khi

có các biến chứng như lên cân, béo phì, cao máu, các bệnh tim

mạch, bệnh tụy tạng (pancreas) v.v

Khi bệnh tiến triển lâu ngày có thể có một vài biểu hiện như: lên

gọi là xanthoma (xăng tô ma) thường thấy ở các khớp xương như cùi chỏ, gót chân, khớp ngón tay ngón chân; bệnh viêm tụy tạng cấp tính (pancreatitis); bệnh cao máu

Muốn xác định xem có cao mỡ hay không, bác sĩ cho thử nghiệm máu được gọi là lipid profile (nhóm lipid) hoặc lipid panel (bảng lipid) gồm: Triglyceride; cholesterol tổng hợp; LDL (cholesterol xấu); HDL (cholesterol tốt)

Những con số của lượng mỡ trong máu như sau (xem bảng lipít bên cạnh)

Biến chứng của bệnh mỡ cao

Lượng mỡ cao trong máu lâu ngày

sẽ tạo nên các mảng

xơ cứng động mạch, mạch máu trở nên cứng, dòn,

dễ vỡ, hoặc mạch máu bị tắc nghẽn

do các cục máu đông hoặc mảng xơ cứng bị tách ra, tạo nên những biến chứng nguy hiểm cho cơ thể Các biến chứng này tùy thuộc vào loại mỡ nào cao trong máu:

- Biến chứng do bệnh cao mỡ LDL (cholesterol xấu):

các bệnh tim mạch, bệnh tuần hoàn, bệnh mạch máu não (stroke)

Cơ chế sinh các biến chứng tim mạch được mô tả như sau: Lượng

Bảng Lipít Triglyceride:

Trang 6

mảng xơ cứng (atherosclerosis) trong thành mạch Các mảng này

ngày càng bị LDL làm cho biến đổi tính chất do sự bao bọc bởi

nhiều tế bào xốp (foam cells) khiến cho dễ vỡ, hoặc tạo nên các tế

bào chết (necrosis), làm hẹp hoặc tắc các động mạch Các hiện

tượng này tạo nên những biến chứng nguy hiểm cho cơ thể như xuất

huyết thận, chảy máu ở đáy mắt, các mạch máu não…; tắc mạch

máu trong tim tạo chứng nhồi máu cơ tim (heart attack); hoặc tắc

mạch máu trên não, gây ra bệnh tai biến mạch máu não (stroke)

Biến chứng do mỡ triglyceride

Cao mỡ triglyceride trong máu có thể gây ra các biến chứng như

sau:

 Viêm tụy tạng cấp tính (acute pancreatitis)

 Đóng cục màu vàng ngoài da ở các khớp xương như cùi chỏ,

gót chân, các khớp ngón tay…

 Bệnh ngứa ngáy ngoài da; béo phì, do mỡ tích trữ trong các mô

mỡ

Biến chứng do giảm mỡ HDL (cholesterol tốt) trong máu:

Giảm chất mỡ HDL trong máu làm gia tăng nguy cơ các bệnh về

tuần hoàn nhất là bệnh tim, tăng nguy cơ biến chứng của bệnh cao

mỡ LDL (cholesterol xấu)

Hội chứng chuyển hóa: Một biến chứng đi chung với mỡ cao trong

máu là “hội chứng chuyển hóa” (metabolic syndrome) khi có cùng

một lúc 3 trong những yếu tố sau đây:

 Béo phì ở bụng: vòng bụng đàn ông > 40 in (102 cm); phụ nữ

> 35 in (89 cm)

 Lượng Triglyceride trong mỡ khi đói cao hơn 150 mg/dl

 Lượng HDL cholesterol < 40 mg/dl ở nam giới và < 50 mg/dl ở

phụ nữ

 Huyết áp: > 130/85 mm/Hg

 Đường trong máu lúc đói: > 110 mg/dl

Chỉ cần có 3 trong các yếu tố kể trên ta có thể kết luận bệnh nhân có

hội chứng chuyển hóa, nghĩa là có nguy cơ cao các bệnh tuần hoàn,

bệnh tim mạch

Nói chung, những yếu tố rủi ro làm gia tăng các bệnh tim mạch do

cao mỡ trong máu gây ra là:

 Bệnh tiểu đường; bệnh huyết áp cao; hút thuốc lá

 Có người thân trong gia đình mắc bệnh tim mạch (CAD): đàn ông mắc bệnh trước 55 tuổi, đàn bà mắc bệnh trước 65 tuổi

Cách tìm bệnh

Phương pháp tìm bệnh tốt nhất là thử máu BS sẽ cho thử nghiệm hàng năm để tìm lượng lipid (gọi là lipid profile hoặc lipid panel) sẽ cho biết kết quả như thế nào

Bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc các chứng bệnh

về tim mạch hoặc bệnh về chuyển hóa (metabolism) hoặc bệnh nội tiết nên thử máu thường xuyên sau 30 tuổi Nếu không có tiền sử gia đình, nên thử máu thường xuyên kể từ tuổi 40 trở lên

* Thay đổi lối sống (life style)

 Giảm năng lượng (energy) tiêu thụ trong thức ăn: Năng lượng

từ mỡ (tối đa 25% năng lượng cơ thể cần hàng ngày, 7% từ mỡ bão hòa)

 Giảm mỡ trong thức ăn, nhất là các loại mỡ bão hòa (saturated fat) có trong mỡ thực vật, trong dầu chiên ở các tiệm ăn (như chiên khoai tây…)

 Thay thế bằng mỡ không bão hòa: dầu olive, dầu canola

Trang 7

 Thay thế các loại thực phẩm chế biến từ sữa nguyên chất bằng

sữa đã được khử mỡ (Skim milk, các loại yagourt)

 Ăn nhiều cá hơn là thịt (cá có nhiều Omega-3)

 Ăn nhiều thức ăn có chất sợi như rau tươi, trái cây, ngũ cốc thô

(còn nguyên vỏ) như gạo lức, bắp, mè; các loại đậu như đậu

xanh, đậu nành, đậu đen, đậu hũ…

 Ăn những loại hột (hạt): hột dẻ, hột điều, hột hạnh nhân, hột

hướng dương (sunflower)

 Hạn chế rượu al-côn: đàn ông uống 2 ly rượu (ly nhỏ) mỗi

ngày, đàn bà 1 ly Nên uống trong các bữa ăn

 Giảm ăn đường (ngọt) và muối

 Năng vận động cơ thể bằng cách đi bộ, thể thao, thể dục ít nhất

3 ngày trong tuần, mỗi ngày tối thiểu nữa giờ (xem bài mập

phì)

 Giữ gìn chỉ số trọng lượng cơ thể (BMI) trong khoảng bình

thường) từ 18.5 đến 25 (xem bài mập phì)

 Cần tham khảo với các chuyên viên dinh dưỡng hoặc bác sĩ

 Tránh hút thuốc

 Một số dược thảo (herbal) đã được chứng minh có thể giúp làm

giảm lượng mỡ trong cơ thể như: tỏi, gừng, lá cây olive, trà

xanh, trà đen… Những loại dược thảo này còn giúp cơ thể

tránh được nhiều bệnh khác như cao máu, tiểu đường v.v và

tốt cho tim Tuy nhiên, chúng ta rất cẩn thận vì nhiều dược thảo

thô (chưa được tinh chế) có chứa chất độc có thể làm hại cơ thể

như mã hoàng (Ephedrine), hoặc ảnh hưởng đến sự đông máu

(nhất là khi giải phẫu có thể bị chảy máu không cầm được) do

đó nên tham khảo những nhà chuyên môn trước

* Điều trị bằng thuốc

Chỉ khi nào các phương pháp kể trên không đem lại kết quả, ta mới

cần kết hợp với dược phẩm

Các loại dược phẩm bán tự do tại các tiệm thuốc tây:

 Niacin: còn được gọi là sinh tố B3 (Vitamin B3), có trong B

complex, củ cải đường, cá, thịt gà, các loại hột như đậu phọng,

hột cây hướng dương (sunflower) Niacin có khả năng điều trị

bệnh cao mỡ

 Sản phẩm chứa mỡ Omega-3: có thể làm giảm cholesterol xấu,

làm tăng cholesterol tốt, được bán tự do ở Hoa Kỳ Có loại

Tác dụng của Niacin là chuyển hóa chất mỡ, chất đường thành năng lượng dùng cho cơ thể Vitamin B Complex còn giúp cho da, tóc, mắt, hệ thần kinh, tiểu đường, ung thư, bệnh Alzheimer (quên), bệnh ngòai da (eczema)…

Dược phẩm cần có toa và sự theo dõi của bác sĩ:

 Statin: là chất có khả năng làm giảm mỡ trong máu, đặc biệt là

mỡ cholesterol, LDL, làm tăng HDL và làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não Trong thương mại, có rất nhiều loại statin, như Lipitor (atorvastatin), Zocor (simvastatin), Pravachol (pravastatin), Lescol (fluvastatin), Mevacor (lovastatin)… Các thuốc statin rất hiệu nghiệm, tuy nhiên có thể gây ra một số tác dụng phụ như đau nhức bắp thịp

 Ezetimibe: là một dược phẩm làm tăng thêm tác dụng của statin

 Nicotinic acid (Niacin) có khả năng tăng mỡ cholesterol tốt HDL như đã nói ở trên

 Các dược phẩm có chất sợi (fibrates): fenofibrate (Lofibra, TriCor) and gemfibrozil (Lopid) làm giảm mỡ Triglycerides

 Omega-3 fatty acids: thuốc Lovaza có thể làm giảm mỡ trong máu

 Uống rượu chừng mực: uống 1 ly mỗi ngày Rượu vang đỏ (red wine) có thể làm tan mỡ

 Năng vận động cơ thể, thể dục thể thao thường xuyên Giảm thì giờ ngồi trước màn ảnh (“screen time”) như bớt xử dụng TV, computer, chơi game, nhất là trẻ em

 Khám tổng quát hàng năm dù không thấy có bệnh

 Theo dõi trọng lượng cơ thể, chỉ số BMI của mình

Trang 8

 Săn sóc và theo dõi cẩn thận sức khỏe trẻ em, nhất là cho ăn

thức ăn lành mạnh, hạn chế giờ chơi game, xem TV

 Tránh hút thuốc

Kết luận

Tóm lại, bệnh mỡ cao trong máu là bệnh của dinh dưỡng, bệnh do

ăn quá nhiều chất béo, chất carbohydrate, nhưng lại ít vận động Có

thể nói đó là bệnh của các nước giàu, thức ăn thừa thãi, lại lười

biếng vận động cơ thể Mỡ cao trong máu gây nhiều biến chứng tai

hại cho các bệnh tim, mạch máu, gây tử vong cao

Đề phòng là phương pháp hữu hiệu nhất để tránh bệnh Nên di

khám bệnh định kỳ để thử lượng mỡ trong máu Nếu cao phải điều

trị ngay Việc điều trị phải được thực hiện đúng cách và liên tục

mg, vượt ra ngoài sự kiểm soát của thận, đường trong máu xuống bàng quang cùng với nước tiểu

Bệnh Tiểu Đường do Tuyến Tụy không tiết, hoặc tiết không đủ insulin cần thiết cho cơ thể dùng được đường glucose Tiểu đường chia làm hai loại:

- Tiểu đường loại I (TĐ1) Dưới 10% tổng số những người mắc bệnh tiểu đường thuộc loại Một TĐ1 thường xảy ra ở người trẻ Tế bào của tuyến tụy có nhiệm

vụ tiết ra Insulin tự hủy dần, khiến lượng insulin giảm dần rồi tắt hẳn Triệu chứng gồm: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, xuống cân Việc trị liệu TĐ1 hoàn toàn dựa vào chích Insulin Về ăn uống, thể dục và biến chứng giống như ở Tiểu Đường loại 2

- Tiểu đường loại I I (TĐ2) Chiếm trên 90%, thường xảy ra ở người lớn tuổi do tuyến tụy suy yếu dần theo tuổi, tiết ít Insulin, không đủ cho nhu cầu của cơ thể

Ai hay bị tiểu đường loại 2?

 Di truyền Nếu cha hay mẹ có TĐ2, các con dễ mắc bệnh này (40%), nếu cả cha lẫn mẹ mắc bệnh TĐ2, tỷ số cao hơn (70%)

 Sắc dân Khoảng 7% dân số Hoa Kỳ mắc bệnh tiểu đường Người gốc Á châu, Phi châu, Hispanic có tỷ số cao hơn người gốc da trắng

 Mập, cao mỡ trong máu Ngày nay tại HK, số người trẻ bị mắc chứng mập nhiều hơn Bệnh tiểu đường loại 2 đã thấy ở tuổi dưới 20

 Cao áp huyết

Trang 9

 Đàn bà có lượng đường trong máu cao khi mang thai

(Gestational diabetes)

Điều cần biết về TĐ2

Đường Glucose là năng lượng cần thiết cho tế bào của các cơ quan

trong cơ thể, như nhiên liệu (điện, xăng, dầu cặn ) cho các máy móc

dùng trong kỹ nghệ Lượng đường glucose bình thường trong 100

phân khối máu khoảng từ 70mg-120mg

Đường Glucose được cung cấp cho cơ thể qua những bữa ăn Trong

và sau khi ăn vài giờ, đường tăng lên rất nhanh Để điều hòa lượng

đường trong khoảng 70mg-120mg, tuyến tụy, thuộc bộ máy tiêu

hóa, tiết ra Insulin Insulin giữ hai vai trò: dự trữ đường và đưa

đường tới tế bào Insulin chuyển đường tới gan, dự trữ dưới hình

thức Glycogen Glycogen có cấu tạo hóa học gần như đường

Glucose Khoảng giữa các bữa ăn và ban đêm, Insulin laị chuyển

hóa Glycogen thành glucose và đưa vào máu, rồi tháp tùng glucose

vào trong các tế bào, nhờ vậy tế bào có năng luợng hoạt động liên

tục

Bệnh TĐ 2 xảy ra khi:

 Tuyến tụy bị suy yếu không tiết nhanh và đầy đủ Insulin dùng

vào việc trữ đường glucose trong gan, vì vậy đường glucose

trong máu lên cao, nhất là sau những bữa ăn

 Các tế bào của cơ thể không tiếp nhận Insulin Trên màng bọc

của mỗi tế bào có hàng chục ngàn những điểm tiếp nhận

Insulin (insulin receptors) Insulin dính vào những điểm này,

tạo ra những phản ứng hóa học, có tác dụng như “mở cửa” cho

glucose vào trong tế bào Trong trường hợp những điểm tiếp

nhận của tế bào giảm xuống, hoặc trở nên “nhờn” không tiếp

nhận Insulin nữa, glucose không vào được tế bào Hiện tượng

này y học gọi là kháng Insulin (Insulin Resistance) thường xảy

ra ở những người mập Vì vậy trị liệu người mập bị TĐ2

thường khó khăn

Khi nào biết bị tiểu đường 2?

Thường thường đường glucose trong máu cao dần, do sự suy thoái

dần dần của tuyến tụy qua nhiều năm, nên không có triệu chứng nào

rõ rệt Bệnh nhân có thể thấy hay khát nước và tiểu nhiều hơn bình

hay khi khám sức khỏe Yếu tố gia đình, mập, cao mỡ, cao máu khiến BS cho thử máu và tìm ra TĐ2

Nếu trong gia đình có cha, mẹ, hoặc anh chị em bị bệnh tiểu đường, hàng năm nên đi gặp bác sĩ để biết bệnh sớm

Biến Chứng Biến Chứng gồm 2 loại, biến chứng cấp thời (acute) và biến chứng

kinh niên (chronic)

1 Biến chứng cấp thời

a Đường glucose trong máu lên quá cao: trên

500mg-600mg/dl, đưa bệnh nhân vào tình trạng lẫn lộn, hôn mê, thở nhanh, huyết áp thấp (hypotension), da khô, môi và miệng khô

Nguyên do:

Bệnh nhân quên chích Insulin, quên dùng thuốc uống Đang bị bệnh nhiễm trùng

Uống rượu nhiều, ăn nhiều chất ngọt

Trị liệu: Cần chuyển gấp tới bệnh viện

b Lượng đường trong máu xuống quá thấp: dưới 40mg/dl

Bệnh nhân cảm thấy chóng mặt, trí nhớ lờ mờ hoặc rơi vào tình trạng hôn mê Da ẩm hoặc có mồ hôi hột Tim đập nhanh Có thể co giật chân tay (seizure)

Nguyên do:

Dùng quá liều Insulin, uống thuốc quá liều

Quên ăn, thể thao quá độ, làm việc nặng quá sức

Trị liệu: Đây cũng là trường hợp khẩn cấp, cần được trị liệu tại bệnh viện

2 Biến chứng kinh niên

Trong trường kỳ, bệnh tiểu đường gây ra những biến chứng tai hại cho những cơ quan khác, đặc biệt là mắt, tim, thận, mạch máu và hệ thần kinh

Trang 10

 Con ngươi (iris) phản xạ chậm chạp với ánh sáng

 Thuỷ tinh thể bị đục (cataract)

 Những biến chứng về mắt thường diễn tiến một cách trầm lặng,

không có triệu chứng qua nhiều năm Chỉ có bác sĩ chuyên

khoa về mắt có thể tìm ra những thay đổi của mắt, vì vậy khi

mắc bệnh tiểu đường cần được BS nhãn khoa khám mắt mỗi 6

tháng hay hàng năm

Tim

Mạch máu chính của tim (coronary arteries) bị xơ cứng, lượng máu

tới tim giảm, gây ra chứng nhồi máu cơ tim (heart attack) Chứng

này xảy ra sớm, có thể có triệu chứng báo hiệu như đau ngực, nóng

ngực (heart burn), cơn đau lan lên cổ, hàm, mặt Ở người mắc bệnh

tiểu đường, 15% trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra trầm lặng

(silent MI), không có triệu chứng đau như ở trên, do đó đã không

được trị liệu kịp thời, đưa tới số tử vong cao

Thận

Bệnh tiểu đường làm suy chức năng của thận rất sớm Mạch máu

trong thận bị xơ cứng khiến khối lượng máu qua thận giảm Thận

không loại hết chất độc u-rê, muối và nước dư trong máu ra nước

tiểu Một số tế bào của thận đóng vai trò lọc máu cũng bị hư, để lọt

ra nước tiểu chất bổ dưỡng albumin và protein Kết quả đưa tới việc

tăng chất độc u-rê trong máu và phù thũng

Hiện tượng suy thoái chức năng của thận diễn tiến từ từ và trầm

lặng trong nhiều năm, không để lộ triệu chứng Vì thế mỗi lần khám

bệnh, BS phải cho thử máu và nước tiểu để ước lượng chức năng bài

tiết của thận và xem thận có để lọt ra nước tiểu chất Albumin và

Protein không?

Khi chân phù thũng, người xanh xao vì thiếu máu, huyết áp cao, cơ

thể suy yếu là dấu hiệu suy thận vào giai đoạn chót Vào thời kỳ

này, để tạm giải quyết việc suy thận, ngoài việc chữa bệnh tiểu

đường, phải dùng phương pháp thường được gọi là lọc máu

(Hemodialysis) Mạch máu ở tay, qua giây dẫn được nối vào một

máy lọc máu Máy lọc sau khi giữ lại chất độc urea, phần nước và

muối dư, dẫn máu trở lại cơ thể Thường phải lọc máu 3 lần mỗi

tuần Lọc máu là phương pháp tạm thời trong khi chờ đợi được ghép

thận Bệnh tiểu đường là nguyên nhân đầu đưa tới suy thận, kế đó là

bệnh cao huyết áp

Tê dây thần kinh chân (Peripheral Neuropathy)

Bệnh tiểu đường làm cho dây thần kinh chân giảm nhạy cảm Người bệnh có cảm giác rần rần, nóng hay tê chân Thiếu cảm giác, chân

dễ bị thương tổn khi va vấp vào vật cứng

Xơ cứng mạch máu ở chân (Peripheral vascular disease) Cũng như mạch máu ở tim, mạch máu ở chân bị xơ cứng, lòng mạch máu nhỏ lại, không cung cấp đủ máu cho cẳng, bàn chân Người bệnh đi khập khễnh, đi một đoạn đường ngắn phải ngồi nghỉ Chân dễ bị nhiễm trùng, bị loét, da bầm tím

Trị Liệu

Mục tiêu chính của việc trị bệnh tiểu đường là:

 Tránh đường glucose tăng nhanh trong máu

 Giúp gan trữ được đường sau những bữa ăn và không đưa vào máu nhiều đường giữa các bữa ăn

 Kích thích tế bào của cơ thể, nhất là bắp thịt dùng được đường glucose

 Để đạt được 3 điều trên, việc trị liệu gồm: thuốc uống, insulin, cách ăn uống và thể dục

1 Thuốc uống gồm các loại:

 Làm chậm việc tiêu hóa thức ăn

 Tăng cường việc trữ đường trong gan, cản trở gan chuyển nhiều đường vào trong máu

 Kích thích tuyến tụy tiết ra Insulin

 Kích thích các tế bào dùng đường

2 Thuốc chích Insulin Nếu thuốc uống chưa đủ kiểm soát Tiểu Đường thì phải dùng thêm insulin Insulin gồm loại có tác động nhanh sau vài phút và kéo dài 3-4 giờ, loại tác động trung bình từ 2 giờ tới 12 giờ, loại tác động chậm kéo dài 24 giờ

3 Ăn uống và thể dục Phần này có thể đóng góp 50% kết quả việc trị liệu

Ăn ít chất tinh bột như cơm, khoai, bánh mì Ăn nhiều rau, dưa, đậu, trái cây Tránh ăn (có thể ăn một chút, nếu thích ăn) những trái cây có nhiều đường như nhãn, sầu riêng, chuối Không nên ăn hay uống những thức ăn đồ uống có thêm đường thường dùng như bánh ngọt, chè ngọt, nước ngọt

Trang 11

Khẩu phần tốt* đựơc khuyên là: rau đậu dưa một nửa bữa ăn

(1/2); tinh bột một phần tư (1/4); thịt, cá một phần tư (1/4)

Giữa các bữa ăn chính có bữa ăn phụ, nhẹ để tránh hiện tượng

đường xuống thấp Giờ ăn có thể phân phối như sau: ba bữa ăn

chính: 7 giờ sáng, 12 giờ trưa, 7 giờ tối bữa ăn phụ: 10 giờ sáng, 4

giờ chiều, 10 hay 11 giờ tối Càng theo được đúng lịch trình các bữa

ăn càng tốt

Thể dục kích thích các tế bào, nhất là bắp thịt dùng được đường,

tiêu chất mỡ Mỗi tuần nên tập thể dục nhẹ ít nhất 3 lần, mỗi lần từ

30-45 phút Không nên tập thể dục mạnh như chạy nhanh, cử tạ, vì

rất dễ bị đường glucose trong máu xuống thấp dưới 70mg, gây ra

chóng mặt, hoa mắt, ngất xỉu

Ngoài việc dùng thuốc theo đúng lời chỉ dẫn của Bác sĩ và ăn uống

như trình bày ở trên, cần ghi nhớ những điều sau:

 Giữ đúng kỳ hẹn thử máu và tái khám, thường mỗi 3 hoặc 6

tháng, để kiểm chứng kết quả việc trị liệu, phát hiện các biến

chứng, điều chỉnh việc trị liệu nếu cần

 Nếu BS yêu cầu tự thử máu lấy, một hay nhiều lần trong một

ngày, làm đúng như lời chỉ dẫn, ghi lại kết quả đường trong

máu, mang theo tờ ghi khi tái khám

 Người bị tiểu đường rất dễ bị đường xuống thấp

(hypo-glycemia) như đã trình bày trong phần biến chứng Trong

trường hợp cảm thấy chóng mặt, cần phải dùng đường ngay Vì

vậy phải có glucose trong túi, trong xe, cạnh chỗ ngồi, trên bàn

cạnh giường ngủ Nhai gấp 4-5 viên glucose (mỗi viên 4

gram) hoặc gel glucose (15 gram) Những loại đường này bán ở

phòng dược, không cần toa Cũng có thể uống một ly nước trái

cây ngọt, hoặc uống ly nước có pha hai muỗng canh đường

(30gm) Não bộ hồi phục rất nhanh khi lượng đường glucose

trong máu trở lại mức độ bình thường

 Người bị tiểu đường rất dễ bị viêm phổi, viêm đường tiểu Nên

nhớ chủng ngừa cúm hàng năm, chủng ngừa viêm phổi 2 lần,

lần thứ 2 cách lần đầu 5 năm Để ngăn cản vi trùng xâm nhập

cơ thể, vệ sinh tổng quát, vệ sinh răng miệng, da, chân và móng

_

* khẩu phần ăn đề nghị cho một người nặng trung bình (không mập)

130 lbs, cao 5’2”, không làm việc nặng nhọc

Bữa sáng: 6 ounces sữa 2% chất béo, một chén (ăn cơm) cháo oatmeal hay 50 gm bánh mì, ăn với thịt nạc kho nhạt hay hai lát turkey ham

Bữa trưa: một bát cơm vơi (#120 gm) ăn với canh thịt hay canh cá, thịt kho hay đậu chiên, hay cá chiên chất lượng tương đương với chén cơm (#120gm), rau và trái cây ít ngọt (cà rốt, cà chua, lê vỏ xanh, táo, dưa leo ) ăn tự do tới khi no

Bữa tối: nhiều hơn bữa trưa: một chén cơm đầy #150 gram Thịt cá

số luợng tuơng đương Rau và trái cây ít ngọt ăn tự do

Bữa ăn phụ sáng và chiều: hai lát bánh mì, hay 4 miếng crackers Bữa ăn phụ trước khi đi ngủ bằng nửa bữa ăn sáng: một ly sữa với cereal (½ serving)

** Cách tính trọng lượng trung bình của cơ thể theo chiều cao Đàn ông: chiều cao 5 feet, trong luợng: 106 pounds, thêm 6 lbs cho mỗi inch chiều cao

Người cao 5’2”, trọng lượng trung bình: 118 lbs Đàn bà : chiều cao 5 feet, trọng lượng 100 pounds, thêm 5 lbs cho mỗi inch chiều cao

Người cao 5’2”, trọng lượng trung bình 110 lbs

Trang 12

4 Xét Nghiệm HA1c Trong

Bệnh Tiểu Đường

BS Nguyễn Quyền Tài

Xét nghiệm HA1c - còn gọi là Hemoglobin A1c, HBA1c, Glycated

hemoglobin (A1C), Glycohemoglobin, Glycosylated hemoglobin- là

một xét nghiệm máu để biết mức đường trung bình trong máu trong

khoảng thời gian 2-3 tháng trước ngày thử

Hemoglobin là một chất đạm trong hồng huyết cầu, có chức năng

chuyên chở khí oxygen Hemoglobin có nhiều loại, đa số là

hemoglobin A Hemoglobin A còn được phân ra nhiều loại, trong đó

có loại A1c Khi các phân tử Đường lưu chuyển trong máu, một số

bám vào hemoglobin A1c Một khi bám vào hemoglobin A1c rồi thì

các phân tử Đường ở đó đến khi hồng huyết cầu bị tiêu diệt Lượng

đường trong máu càng cao thì lượng hemoglobin A1c có đường

bám vào càng cao

Xét nghiệm HA1c đo tỉ lệ đường trong máu bám vào huyết sắc tố

hemoglobin Lượng đường trong máu có thể lên xuống trong ngày

và từ ngày này sang ngày khác Nếu chỉ đo lượng đường trong máu

ở một thời điểm nào (như vào buổi sáng sau trước khi ăn), thì chúng

ta chỉ biết được lượng đường trong lúc đó và vào ngày đó, nhưng

không cho biết lượng đường trong những thời điểm khác trong ngày

và trong những ngày khác, vì vậy mức HA1c cho biết rõ hơn mức

đường trung bình trong một khoảng thời gian 2-3 tháng

Mức HA1c giúp bác sĩ theo dõi việc điều trị bệnh Tiểu Đường

Người bị bệnh tiểu đường cần được xét nghiệm mức HA1c ít nhất 2

lần mỗi năm

Năm 2009, các nhà chuyên khoa về bệnh Tiểu Đường khuyên dùng

xét nghiệm HA1c để định bệnh Tiểu Đường Mức HA1c giữa 6% và

6.5% được xem như báo hiệu tình trạng Tiền Tiểu Đường

(prediabetes) Mức 6.5% hay cao hơn trong 2 lần xét nghiệm là tiêu

chuẩn để chẩn đoán bệnh Tiểu Đường (diabetes mellitus) Mức

Kể từ năm 2010, HA1c là xét nghiệm thông thường dùng để định mức đường trong máu

Đối với những người bị bệnh Tiểu Đường, American Diabetes Association khuyên giữ HA1c ở mức 7% hay dưới 7%, và American Association of Clinical Endocrinologists khuyên giữ mức HA1c dưới 6.5% HA1c bằng 7% tương đương với lượng đường trong máu 170 mg/dl

Khi mức HA1c cao hơn 7%, người bệnh có nhiều nguy cơ bị những biến chứng của bệnh Tiểu Đường ở mắt, tim, thận và hệ thần kinh HA1c bằng 8 đến 12% tương đương với lượng đường 205 mg/dl and 345 mg/dl trong máu

Trang 13

5 Bệnh Cao Huyết Áp

(Hypertension)

BS Lê Quang Minh

Định nghĩa

Cao Huyết Áp (thường gọi là cao máu) xảy ra khi áp suất máu trong

các động mạch cao hơn bình thường Áp suất được xác định bởi

lượng máu khi tim co bóp đẩy đi và sức cản trở của mạch máu Tim

bơm máu càng nhiều và sức cản trở càng mạnh thì áp suất càng cao

Bệnh cao máu được xác định như sau:

 Bình thường: khi huyết áp là 120/80mmHg

 Tiền cao máu (prehypertension), khi áp suất co tim (systolic

pressure) từ 120–139 mm Hg và áp suất giãn tim (diastolic) từ

80-89 mm Hg Thường thì sau 4 năm ở thời kỳ tiền cao máu,

30% người lớn từ 35–64 tuổi sẽ bị bệnh cao máu và sau 65 tuổi

thì 50% sẽ bị bệnh cao máu

 Cao máu thời kỳ 1 khi áp suất co tim từ 140-159 mm Hg và áp

suất giãn tim từ 90-99 mm Hg

 Cao máu thời kỳ 2 khi áp suất co tim cao hơn 160mmHg và áp

suất giãn tim cao hơn 100mmHg

 Trường hợp người già trên 50 tuổi có khi chỉ có áp suất co tim

cao và áp suất giãn tim có thể bình thường (isolated systolic

hypertension)

Triệu chứng

Đa số bệnh nhân có chứng cao máu không có triệu chứng gì Một số

nhỏ có triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, chảy máu mũi Thường thì

chứng cao máu được phát hiện khi bịnh nhân đi khám tổng quát, đi

khám vì một lý do nào khác, hay đã bị biến chứng của bịnh cao máu

do nguyên nhân khác như đột quỵ, nhồi máu cơ tim

Nguyên do và phân loại

Bệnh Cao Máu được chia ra hai loại:

1- Cao máu nguyên thủy (primary hypertension), bao gồm 95% số bệnh cao máu ở người lớn, không có nguyên nhân

90-rõ rệt và thường phát hiện từ từ qua nhiều năm

2- Cao máu thứ phát (secondary hypertension) khoảng 5–10 %

số bệnh nhân cao máu và có nguyên nhân, thường xảy ra bất thình lình và có áp suất thật cao Nguyên nhân thường do:

Các yếu tố làm dễ bị cao máu mà ta không kiểm soát được:

 Tuổi, càng lớn tuổi càng dễ bị cao máu

 Chủng tộc, người da den dễ bị cao máu hơn người da trắng, thường xảy ra sớm hơn và thường dễ bị biến chứng hơn như chứng đột quỵ và nhồi máu cơ tim (heart attack)

 Gia đình, bệnh cao máu thường xảy ra cho nhiều người trong gia đình

Yếu tố làm dễ bị cao máu mà ta có thể thay đổi được:

 Chứng mập phì Khi ta cân nặng thì ta cần có nhiều máu hơn

để đưa oxygen đến các tế bào, làm cho áp suất trong mạch máu tăng cao

 Thiếu sinh tố D có thể làm cao máu

 Uống nhiều rượu

 Tình trạng tâm thần căng thẳng (stress)

 Các chứng bệnh như tiểu đường, cao mỡ, bịnh thận, ngừng thở khoảnh khắc khi đang ngủ đều làm cho ta dễ bị cao máu hơn

Trang 14

Biến chứng

Cao Huyết Áp có thể đưa đến các biến chứng sau:

 Vách động mạch bị cứng và dầy lên đưa đến suy tim, nhồi máu

cơ tim, đột quỵ

Khi đi khám bệnh nên đem theo tất cả thuốc đang uống, kể cả thuốc

mua tự do không cần toa Vì huyết áp thay đổi tùy lúc đo, nên phải

đo huyết áp nhiều lần, mới xác định là có bị chứng cao máu hay

chưa Khi cần thì cũng nên đo huyết áp tại nhà để tránh trường hợp

có áp suất cao vì lo lắng khi đến phòng mạch bác sĩ

Trị liệu

Thường sau khi làm các thử nghiệm và khám bệnh để xem ngoài

huyết áp cao người bệnh còn có những bệnh nào khác như bệnh tim,

bệnh phổi, bệnh thận, bệnh tiểu đường, cao mỡ , bác sĩ kê toa

thuốc và khuyên thay đổi nếp sống

1 Thuốc uống

Nếu người bệnh chỉ có bệnh cao huyết áp, cách trị liệu tương đối

giản dị, bắt đầu bằng một loại thuốc với liều lượng thấp, rồi tăng

dần khi cần Trong trường hợp bên cạnh bệnh cao huyết áp, bệnh

nhân có những bệnh như nói ở trên, bác sĩ phải chọn một hay hai, có

thể ba thứ thuốc, những thuốc này không có phản ứng phụ trên các

bệnh khác Mục tiêu chính của thuốc là làm cho mạch máu giãn,

nhịp tim trong giới hạn bình thường (60-80 nhịp trong một phút),

bảo vệ chức năng của thận trong việc duy trì áp suất máu bình

thường, giúp thận bài tiết nước và muối Sodium dư trong máu

Thuốc uống trị cao máu gồm các nhóm sau:

 Thuốc lợi tiểu (diuretics) có tác dụng làm đi tiểu nhiều, làm

giảm nước và muối trong cơ thể

 Beta Blockers làm tim đập chậm lại và làm mạch máu giãn ra

 ACE Inhibitors, Angiotensin I I Receptor Blockers là nhóm thuốc làm giãn nở mạch máu

 Calcium Channel Blocker làm giãn nở mạch máu và có thể làm nhịp tim đập chậm lại

 Renin Inhibitors thì ngăn chận việc sản xuất renin từ thận, và nhờ đó mà các chất làm co động mạch không được tạo ra

 Alpha Blockers là các thuốc tác dụng ngăn các giây thần kinh làm co mạch máu

 Alpha Beta Blockers vừa làm chậm nhịp tim vừa ngăn chận tác dụng giây thần kinh lên mạch máu

 Central Acting Agents ngăn chận, không cho óc điều khiển hệ thần kinh lên tim và mạch máu

 Vasodilators tác dụng trực tiếp lên vách động mạch, làm giãn

nở mạch máu

Trong trường hợp dùng tới 3 hay bốn loại thuốc, nhưng huyết áp vẫn cao, thì rất có thể bệnh cao huyết áp thuộc loại thứ phát như đã trình bày ở trên Phần trị liệu chính là chữa nguyên nhân

2 Thay đổi nếp sống là điều rất cần thiết trong việc trị liệu bệnh cao máu Dầu trong thời kỳ tiền cao-huyết-áp (huyết áp 120-139/80-89), người bệnh cũng cần:

 Giảm cân, nếu trọng lượng cơ thể cao hơn bình thường

 Kiêng ăn dưa muối, thịt cá kho mặn Hàng ngày nên ăn thức ăn lạt với lượng muối dưới nửa muỗng cà phê Ăn nhiều rau, trái cây và ăn ít chất béo

 Ngưng hút thuốc, giảm lượng rượu uống xuống 60ml một ngày

 Tăng vận động cơ thể, mỗi ngày nên tập thể dục 30 phút

 Thư giãn, giảm stress, thiền

Trị liệu bán chính thức (alternative medicine)

Ngoài các chữa trị đã nói trên, các hoá chất sau có thể giúp giảm máu cao và có thể mua tự do: Alpha-linolenic acid, Blond psyllium, Calcium, Cocoa, Cod liver oil (dầu cá thu) Coenzyme Q 10, Omega

3 fatty acids, Tỏi (garlic) Trước khi dùng nên tham khảo ý kiến bác

Trang 15

Tóm tắt

Bệnh cao huyết áp là bệnh rất thông thường, tuổi càng cao càng dễ

bị cao huyết áp Bệnh cao huyết áp có thể gây ra những biến chứng

nguy hiểm cho não như đột quỵ (stroke), và cho tim như nhồi máu

cơ tim (heart attack) Phần chính là cố gắng phòng ngừa bằng cách

có đời sống lành mạnh, chú ý tới việc ăn uống, không hút thuốc, thư

giãn tâm thần Khi có bệnh, cần theo đúng lời chỉ dẫn của bác sĩ

trong cách dùng thuốc và theo dõi bệnh

6 Chứng Đau Tức Ngực và

Nhồi Máu Cơ Tim

(Angina Pectoris & Myocardial Infarction

or Heart Attack)

BS Lê Quang Minh

Trong hai thập niên qua, nhờ phương thức phòng ngừa, hệ thống cấp cứu và phương pháp trị liệu, số người chết về bệnh nhồi máu cơ tim (NMCT) tại Hoa kỳ đã suy giảm nhiều Tuy vậy, mỗi năm khoảng 1 triệu ruởi người bị chứng nhồi máu cơ tim với số tử vong khoảng nửa triệu Trong nửa triệu này, gần một nửa chết trước khi tới phòng cấp cứu

Cơ nguyên Tim là trung tâm của việc tuần hoàn máu, làm việc liên tục Tim

nhận máu từ các nơi trong cơ thể, đẩy máu lên phổi Nơi đây sau khi máu nhả thán khí carbonic và nhận dưỡng khí Oxy, máu trở về tim Tim bơm máu mang theo dưỡng khí oxy và chất dinh dưỡng tới toàn cơ thể

Tim có hai động mạch chính cung cấp dưỡng khí oxygen và đường

glucose là động mạch vành bên phải và động mạch vành bên trái

Khi những động mạch tim bị xơ cứng, máu tới các cơ tim sẽ bị giảm

đi Máu tới cơ tim cũng bị ngăn cản khi có một cục mỡ cholesterol (atherosclerotic plaque) bị tách ra từ vách động mạch tim, hay do một cục máu đông chạy từ nơi khác tới làm tắc nghẽn sự luân chuyển máu trong động mạch vành

Thiếu Oxy cho cơ tim gây ra bệnh đau tim Tình trạng NMCT nặng nhiều hay ít tùy thuộc độ xơ cứng của mạch máu và độ lớn của cục

mỡ, cục máu, cản trở ít hay nhiều sự lưu thông của máu Khi nghẹt một phần thì cơ tim chưa hoàn toàn bị hư, nhưng khi mạch máu bị nghẹt hoàn toàn thì cơ tim bị suy sụp rất nhanh, không còn khả năng đẩy máu đi, đưa đến cái chết nếu không được định bịnh và chữa trị

Trang 16

Những yếu tố gây bệnh

 Thuốc hút số người nghiền thuốc hút bị bệnh đau tim gấp trên

2 lần người không hút

 Cao cholesterol, cao LLD (low-density lipoprotein) thường

được gọi loại mỡ xấu, chất này làm xơ cứng động mạch vành

 Cao máu Giữ được áp suất máu trong giới hạn bình thường

(120/70) sẽ làm giảm bệnh đau tim

 Ít vận động Người ít vận động, ít thể dục bị bệnh đau tim gấp

đôi người năng vận động

 Tiểu đường Người bị tiểu đường bị bệnh tim cao gấp trên 3 lần

người không bị tiểu đường

 Nghiền rượu làm tăng bệnh tim, nhưng chỉ dùng ít khoảng

60ml rượu nhẹ như rượu vang lại làm giảm bệnh tim

 Gia đình có người đã mắc bịnh tim

 Tuổi Đàn ông trên 45 tuổi, đàn bà trên 55 tuổi

Triệu chứng

 Chứng đau thắt ngực xảy ra khi mạch máu ở tim bị nghẽn một

phần, do xơ cứng động mạch vành Người bệnh cảm thấy như

ngực bị đè, khó thở trong khi làm công việc nặng, đi lên cầu

thang, hồi hộp, bị gió lạnh khi đi ngoài trời Đôi khi cơn đau

lan lên hàm, tay trái hay trầm trọng hơn: toát mồ hôi, buồn nôn

Ngồi nghỉ một chút, hay ngậm một viên Nitroglycerin, hay

nhai 160mg Aspirin, cơn đau diụ dần rồi qua đi Các triệu

chứng trên là do sự mất quân bình giữa cung và cầu Oxygen

Tim cần nhiều Oxygen trong những điều kiện trên, nhưng

mạch máu tim bị nghẽn không đáp ứng đầy đủ Oxygen theo

nhu cầu của tim

 Nhồi máu cơ tim Cơn đau như trên, nhưng trầm trọng hơn

Người bệnh cảm thấy đau mạnh ở giữa ngực Đau truyền lên

vai phải, vai trái, cổ, hàm, xuống phía giữa phần bụng trên,

kèm theo ói mửa, toát mồ hôi, choáng váng mặt mày, cơ thể

yếu, chân tay bủn rủn

 Các triệu chứng trên có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhất là ở

những bệnh nhân có thể đã có vài cơn đau tương tự trước đó,

nhưng nhẹ hơn Cơn đau nhiều xảy ra khi đang làm việc nặng

 Có trường hợp không có triệu chứng nào rõ rệt, gọi là NMCT

thầm lặng và cũng có khi bịnh nhân bị NMCT thật đột ngột, bị

xỉu, hôn mê và chết

Điều cần làm ngay khi bị đau ngực, tức ngực

Nếu có ít nhiều yếu tố gây bệnh trong đoạn 2, nên luôn mang theo aspirin loại nhai được (chewable) Khi bị đau ngực như tả ở trên,

phải coi như đang trong tình trạng cấp cứu về tim:

 Nhai (không nuốt) ngay aspirin 350mg, Aspirin sẽ được thấm qua niêm mạc vào các mạch máu ở miệng Bình thường Aspirin làm giảm cơn đau

 Gọi cấp cứu 911

Biến chứng

Khi bị NMCT/heart attack, phần cơ tim bị chết có thể gây ra biến chứng như rối loạn nhịp tim, suy tim, rách cơ tim, hư hỏng valve tim Các biến chứng trên có thể đưa đến tử vong

Định bịnh

Sau khi nghe và khám bịnh nhân thì bác sĩ thường cho đo tâm điện

đồ, thử máu, chụp hình phổi, siêu âm tim, nuclear scan, stress test

Có khi phải bơm thuốc và chụp hình mạch máu tim (heart catherization, angiography)

Trị liệu

 Chứng bịnh này cần được chữa trị mau chóng tại phòng cấp cứu và phòng săn sóc đặc biệt (ICU, CCU) Các thuốc thường dùng gồm có oxygen, thuốc làm loãng máu hay tan cục máu đông (aspirin, plavix, heparin, TPA, streptokinase), thuốc giảm đau (morphine), thuốc làm giãn nở mạch máu tim (nitroglycerine), thuốc trợ tim (beta blocker, ACE inhibitor), thuốc giảm mỡ (lipitor, zocor) Nhiều trường hợp có thể phải

mổ hoặc thông tim, đặt ống thông qua chỗ nghẹt (stent)

 Trị liệu ở nhà Sau khi về nhà thì việc chữa tri vẫn tiếp tục suốt đời Ngoài các thuốc, ăn uống kiêng cữ chất mỡ thì bịnh nhân cần phải giảm hoặc tránh các nguyên do có thể làm nghẹt mạch máu trở lại như thuốc lá, rượu, tình trạng tinh thần căng thẳng (stress) Bịnh nhân cũng cần tiếp tục phục hồi tim theo chương trình cardiac rehab và đi khám bác sĩ thường xuyên

Trang 17

7 Những Dấu Hiệu Báo Động

Tai Biến Mạch Máu Não

BS Nguyễn Quyền Tài

“Tai Biến Mạch Máu Não” (viết tắt: TBMMN) là từ ngữ thường

dùng để chỉ những hiện tượng bất thường ở não bộ khi hệ thống dẫn

máu đến não bị xáo trộn và có thể khiến não bộ bị hư hại vĩnh viễn

TBMMN còn được gọi là “Đột Quỵ” (tiếnh Anh là Stroke)

Tổ chức Y tế Thế Giới ước lượng có 15 triệu người trên thế giới bị

TBMMN hằng năm Một phần ba các trường hợp TBMNN đưa đến

tử vong, một phần ba bị tàn tật vĩnh viễn Ở các nước phát triển như

Hoa Kỳ, TBMMN là nguyên nhân hàng thứ ba gây tử vong

TBMMN là một tình trạng nguy ngập, cần được điều trị khẩn cấp để

giàm nguy cơ tử vong hay tàn tật vĩnh viễn

Triệu Chứng và Biểu Hiệu TBMMN

Nếu người bệnh hay thân nhân để ý có những triệu chứng hay biểu

hiệu sau đây thì nên gọi xe cấp cứu để đưa đến một bệnh viện lớn có

trung tâm điều trị các bệnh TBMMN Thời gian là yếu tố tối quan

trọng: nếu TBMMN được điều trị trong vòng 3 tiếng đồng hồ từ khi

TBMMN xuất phát, một số trường hợp có thể hồi phục

 Đi đứng khó khăn: Vấp ngã, chóng mặt, mất thăng bằng, bước

đi lộng cộng

 Nói không rõ hoặc không hiểu rõ lời nói: phát âm ngọng nghịu,

không tìm được từ ngữ để diễn tả ý nghĩ, không thể lập lại một

câu nói

 Bị mất cảm giác hay liệt một bên mặt hay một bên người: Một

cánh tay hay chân bỗng nhiên yếu đi hoặc mất cảm giác Thử

đưa hai cánh tay lên khỏi đầu, nếu một cánh tay tự động hạ

xuống thì đó là biểu hiện Đột quỵ Mặt bị méo đi khi nhe răng

hay khi cười

 Xáo trộn thị giác ở một hay cả hai mắt: Mắt bỗng nhiên bị mờ hay không còn trông thấy gì nữa, hoặc trông một thành hai

 Nhức đầu: Cơn nhức đầu dữ dội xuất phát thình lình, có thể kèm theo ói mửa, chóng mặt, tâm trí lờ mờ

Các loại TBMMN

TBMMN có thể do một trong những hiện tượng sau đây gây nên:

1 Teo hẹp hay tắc nghẽn động mạch não, đưa đến tình trạng não bị thiếu máu 90% các trường hợp TBMMN thuộc loại này

2 Chảy máu, do động mạch ở não bị vỡ

Điều Trị

Sau khi làm những khám nghiệm và chụp hình não bộ để xác định TBMMN thuộc loại nào, bác sĩ sẽ đề nghị phương pháp điều trị, tùy loại TBMMN và tùy tình trạng sức khoẻ tổng quát của người bệnh

2 Trong trường hợp Chảy máu trong não, và máu đóng thành cục lớn chèn ép lên não bộ, bác sĩ có thể đề nghị giãi phẫu sọ não để hút cục máu ra

Bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện trong nhiều ngày, và sau thời kỳ cấp tính, có thể được đưa đến một trung tâm phục hồi để luyện tập lại các chức năng thần kinh

Tiên lượng

1 TBMMN do tắcnghẽnđộng mạch não:

Chức năng thần kinh: 3 tháng sau khi điều trị bằng tPA, một phần

ba trường hợp hồi phục chức năng bình thường hay gần như bình

Trang 18

Sinh hoạt hằng ngày: 3 tháng sau khi điều trị bằng tPA, 50% các

bệnh nhân không còn cần được giúp đỡtrong những sinh hoạt hằng

ngày, 30% còn cần được giúp đỡít nhiều, và 20% đã tử vong

2 TBMMN do chảy máu trong não:

Những trường hợp TBMMN do chảy máu xấu hơn những trường

hợp do tắc nghẽn mạch máu Hơn 50% bị tử vong, thường xảy ra

trong vòng 48 tiếng đồng hồ sau khi tai biến Chỉ có 20% các trường

hợp có thể hồi phục chức năng và không cần giúp đỡtrong sinh hoạt

hằng ngày

Theo dõi

Sau khi bị TBMMN, người bệnh cần được bác sĩ theo dõi và làm

những xét nghiệm thường xuyên, để kiểm soát Huyết áp, lượng

đường và lượng mỡ trong máu Bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc

như aspirin, Plavix hay Aggrenox để giảm thiểu nguy cơ tái phát tắc

nghẽn động mạch não

8 Bệnh Giãn Tĩnh Mạch ở

Chân

BS Nguyễn Quyền Tài

Tĩnh mạch là mạch máu đưa máu từ các cơ quan trở về tim Tĩnh mạch có những cái van ở phiá trong thành tĩnh mạch, giúp máu lưu chuyển theo một chiều Trong những trường hợp van bị hư, hoặc máu đóng cục, máu lưu chuyển ngược chiều hoặc ứ đọng trong tĩnh mạch, khiến cho tĩnh mạch giãn ra Bệnh này thường xảy ra ở chân Bệnh Trĩ ở hậu môn cũng là một trường hợp tĩnh mạch bị giãn

 Chân bị nhức hay gây cảm giác nặng nề

 Ngứa ở trên vùng tĩnh mạch bị giãn

Trang 19

Điều trị

 Kê chân giường lên khoảng 5-10 cm, như thế khi nằm ngủ,

chân cao hơn đầu, giúp cho máu lưu thông từ chân được dễ

dàng hơn

 Mang vớ bó sát để tránh cho máu không bị ứ đọng ở chân

 Chích thuốc vào tĩnh mạch để tĩnh mạch bị xơ cứng và teo đi

 Cột những tĩnh mạch bị giãn và rút chúng ra khỏi chân (những

tĩnh mạch bình thường còn lại sẽ đảm nhiệm việc lưu chuyển

máu)

Phòng ngừa

 Tránh mập phì

 Tập thể dục nhẹ hằng ngày

 Tránh đứng hay ngồi quá lâu

 Gác chân lên khỏi háng vài lần trong ngày

 Tránh ngồi tréo chân

 Tránh mang giầy chật, giây lưng quần chật và quần quá chật

9 Bịnh Viêm Phổi

BS Lê Quang Minh

Bịnh Viêm Phổi xảy ra khi phổi bị nhiễm trùng, có thể nguy hiểm cho sức khỏe và sinh mạng của bịnh nhân Viêm phổi thường do vi trùng, siêu vi trùng, nấm hoặc ký sinh trùng gây ra Hàng năm tại Hoa Kỳ có khoảng 10 triệu người bị bệnh viêm phổi, trong số này 1 triệu người phải nằm bệnh viện và có khoảng gần nửa triệu người chết

Yếu tố làm cho ta dễ bị viêm phổi

 Tuổi: người già và con nít thường dễ bị viêm phổi hơn các lứa tuổi khác

 Người có bệnh kinh niên: hen suyễn, phù thũng phổi, yếu tim, tiểu đường, AIDS, ung thư

 Hút thuốc lá, uống rượu nhiều Thuốc lá làm hư cơ chế phòng

vệ của phổi chống lại bụi bặm, vi trùng Rượu thì làm giảm cơ chế ho, sặc khi có ngoại vật vào phổi (gag reflex)

 Bịnh nhân trong bịnh viện dùng máy thở

 Khi ta phải tiếp xúc nhiều với các chất hoá học, bụi bặm

 Khi bị tai nạn, mổ xẻ

Bịnh viêm phổi được phân loại

 Viêm phổi trong cộng đồng (community acquired pneumonia) xảy ra trong dân chúng đang sinh sống bình thường

 Viêm phổi trong bệnh viện (hospital pneumonia) xảy ra khi bệnh nhân đang nằm bệnh viện chữa bệnh khác Các trường hợp này thường nặng hơn vì cơ thể bịnh nhân đã bị suy yếu trước khi bị viêm phổi và vì các vi trùng gây bịnh trong nhà thương thường độc hơn

 Viêm phổi do hít vô phổi thức ăn hay chất lỏng (aspiration pneumonia) từ bao tử, như trong trường hợp bị tai nạn, say rượu, bất tỉnh, bị tai biến mạch máu não

Trang 20

Triệu chứng

Viêm phổi thường gây ra các triệu chứng như:

 Nóng sốt, cảm lạnh, nhức đầu, mệt mỏi

 Ho có đàm, khó thở, đau ngực

Các triệu chứng trên thay đổi, nặng nhẹ tùy theo tình trạng sức khỏe

của mỗi người và độc tính của vi trùng hay siêu vi trùng Nói chung

thì người già, người có bịnh kinh niên hay có hệ miễn nhiễm yếu, sẽ

có ít triệu chứng hơn nhưng bịnh lại nguy hiểm hơn

Biến chứng

Bịnh viêm phổi có thể tạo ra các chứng khác như: ung mủ / áp xe

phổi, ứ nước quanh phổi, suy phổi cấp tính (ARDS) Vi trùng từ

phổi cũng có thể lan qua và làm nhiễm các cơ quan khác trong cơ

thể

Chữa trị

 Ngoài phần hỏi và khám bịnh, bác sĩ có thể giới thiệu đi thử

máu, chụp hình phổi, thử nghiệm đàm để giúp định bịnh và

chữa trị cho chính xác

 Khi bị viêm phổi ta nên nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, nghỉ làm, ở nhà

cho đến khi hết sốt và bớt ho để tránh lây bịnh sang người

khác

 Nóng sốt thường làm cơ thể mất nước, nên nhớ uống nước đầy

đủ Uống thuốc theo toa bác sĩ Không nên tự ý ngưng thuốc

khi thấy bệnh bớt

Phòng ngừa

 Nên chích ngừa bịnh viêm phổi, chích ngừa cúm Trẻ em,

người già, người có nhiều bịnh kinh niên hoặc có bịnh làm

giảm sức đề kháng cơ thể phải đặc biệt lưu tâm tới việc chích

 Ho khan, dai dẳng (biểu hiệu của bệnh Khí Thũng)

 Trong những trường hợp nặng: Ho ra máu, đau ngực, da xanh tím

 Chân sưng phù, do tim bị suy yếu

4 Hoá chất trong không khí nhả ra từ các xưởng máy

5 Bệnh nhiễm vi trùng hay siêu vi trùng tái đi tái lại

6 Bệnh bẩm sinh thiếu diếu tố alpha-1-antitrypsin

7 Những nghề làm ở trong không khí chứa nhiều bụi bậm, hóa chất

8 Nghề phải vận dụng nhiều đến buồng phổi, như nghề thổi ve chai, thổi kèn

Trang 21

 Xét nghiệm chức năng hô hấp

 Xét nghiệm chức năng tim

Trị liệu

 Ngưng hút thuốc và tránh những nơi có khói thuốc

 Uống nhiều nước hằng ngày Cữ rượu và cà-phê (hai thứ này

khiến đi tiểu nhiều và vì vậy cơ thể thiếu nước)

 Gia tăng độ ẩm trong không khí

 Tránh ra khỏi nhà trong những ngày lạnh, hoặc khi không khí

bị ô nhiễm nặng

 Không nên dùng thuốc chống ho, vì ho giúp tống đàm ra khỏi

phế quản

 Tránh bị nhiễm bệnh cảm cúm Nên chích ngừa cúm hằng năm

và chích ngừa Bệnh Sưng Phổi

 Dùng thuốc giãn phế quản

 Dùng khí oxi trong những trường hợp nặng

 Dùng thuốc kháng sinh khi cần thiết theo chỉ định của bác sĩ

 Tập thở

Trường hợp khẩn cấp

Nếu bị khó thở càng lúc càng nặng và da bị xanh tím, nên gọi xe

cứu cấp đưa đến bệnh viện

11 Bệnh Suyễn

BS Nguyễn Quyền Tài

Bệnh Suyễn là trình trạng đường thở bị viêm và co thắt từng cơn, đồng thời tiết ra nhiều chất dịch, khiến cho người bệnh bị khó thở Những cơn suyễn kéo dài từ vài phút đến vài ngày Bệnh suyễn có thể bắt đầu vào bất kì lứa tuổi nào Một số trường hợp bệnh suyễn ở trẻ con tự nhiên thuyên giảm khi chúng lớn lên và kích thước phế quản cũng lớn hơn

 một vài loại thuốc như aspirin và một số thực phẩm,

 không khí lạnh hoặc khô,

 khói, không khí ô nhiễm,

Trang 22

 xét nghiệm chức năng phổi

 Người bệnh nên ghi vào một cuốn sổ hằng ngày những lần lên

cơn suyễn và mức độ nặng nhẹ như thế nào để giúp bác sĩ theo

dõi bệnh trạng

Điều trị

 Thuốc hít để làm giãn nở phế quản: nên luôn luôn có sẵn để

dùng khi lên cơn suyễn Tuy nhiên, không nên lạm dụng vì có

thể gây hại

 Thuốc hít corticosteroid (thuốc có tác dụng chống viêm) Dùng

thường xuyên để giảm thiểu hiện tượng viêm phế quản

 Nếu các cơn suyễn xảy đến liên tục, bác sĩ có thể cho uống

thuốc giãn phế quản (như theophylline) hoặc thuốc chống ảnh

hưởng của leukotriene (như zafirlukast)

 Nếu các xét nghiệm giúp nhận ra được chất gây dị ứng, bác sĩ

có thể chỉ định tiêm chất dị ứng đó ở liều thật nhỏ để giải cảm

ứng

Phòng ngừa

 Tìm biết chất gây nên dị ứng và tránh hoặc loại những thứ đó

ra khỏi môi trường

 Cữ hút thuốc Tránh hít phải khói thuốc

 Giảm thiểu lượng bụi bậm trong nhà, trong sở làm, bằng cách

hút bụi thường xuyên, giặt giũ mền, mùng, chiếu, gối, không

dùng những tấm thảm khó giữ sạch

 Tập thở mạnh mỗi sáng

 Dùng những thuốc do bác sĩ chỉ định

Trường hợp Khẩn cấp

Nếu cơn suyễn không giảm bớt sau 2 lần dùng thuốc giãn phế quản,

và người bệnh càng lúc càng bị khó thở, không nói được, bị mệt lả,

thì nên gọi ngay xe cấp cứu để đưa đến bệnh viện

Lúc ban đầu, chỗ loét nông, nếu không được chữa trị, chỗ loét có thể tiến sâu và lan rộng làm thủng bao tử, thủng tá tràng Thông thường chỉ có một chỗ loét ở bao tử hay tá tràng

Tại Hoa Kỳ, khoảng 10% đàn ông, 4% đàn bà mắc chứng loét này Bệnh có thể trở lại sau khi chữa lành

 H Pylori là vi trùng hình soắn, vào cơ thể theo thức ăn, đồ uống, sống và nẩy nở dưới lớp màng nhày của bao tử, của tá tràng

 Trên thế giới, ước chừng trên 50% loét BT và loét TT là do H.pyroli

 Tại Hoa Kỳ, dưới 30 tuổi có khoảng 10% dân số bị nhiễm H pylori; 60% ở những người trên 60 tuổi

 Ở những nơi dân chúng có mực sống thấp (nguồn nước uống thiếu tinh khiết, thực phẩm không được rửa sạch hay nấu chín,

Trang 23

vệ sinh cá nhân không tốt), tỷ số nhiễm trùng H.pylori từ

85%-95% dân số

 Trong những người bị nhiễm H.pyroli, có từ 10-20% bị chứng

loét bao tử hay tá tràng H.pylori làm hư lớp màng nhày, gây

tình trạng viêm kinh niên đưa tới loét H Pylori gây loét tá

tràng, nhiều hơn loét bao tử

 H.pylori truyền từ người này sang người khác qua sự tiếp xúc

H pylori có trong phân, nước bọt của người bị nhiễm H pylori

Thuốc chống đau không có Steroid (NSAIDs):

Naproxen, Ibuprofen, Celebrex, Aspirin

 Thử nghiệm chứng tỏ loại thuốc này làm hư lớp màng nhày của

bao tử, của ruột đưa tới loét

 Loét phụ thuộc vào liều lượng, liều cao tăng nguy cơ loét Loét

thường xẩy ra cao nhất trong tháng đầu dùng thuốc, có khi

ngay trong tuần lễ đầu

 Thuốc làm loét bao tử nhiều hơn loét tá tràng

 Nay nhiều thứ thuộc loại thuốc này mua không cần toa bác sĩ,

nhiều người thường dùng để chống đau nhức, nâng cao số bị

 Loét Cấp Tính (Acute Stress Ulcers) do tình trạng trầm trọng của bệnh nội khoa như nhiễm trùng trầm trọng, suy thoái thận cấp tính ; ngoại khoa như chấn thương nặng sọ não, phỏng nặng Biểu hiện chính là chảy máu bao tử từ nhiều chỗ loét

Triệu chứng

 Thường không có gì khác biệt giữa loét bao tử và tá tràng

 Đầy bụng, hơi khó chịu sau bữa ăn, ợ hơi, ợ chua

 Đau bụng nhẹ, lẩm nhẩm đau, hay có cảm giác nóng bỏng ở vùng trên bụng, dưới ngực Đau bụng cũng có thể xẩy ra ban đêm, làm ta tỉnh giấc Đau bụng có thể nhẹ bớt sau khi ăn chút thực phẩm, hay uống thuốc có chất kiềm (maalox, mylanta)

 Ói thường xuyên, báo hiệu nguy cơ nghẹt đường tiêu hóa

 Đau bụng dữ dội có thể xẩy ra, báo hiệu chảy máu bao tử hay

tá tràng, nhất là đang dùng thuốc chống đau không có steroid, hay aspirin, mặc dầu ở lượng thấp

 Triệu chứng khẩn cấp do chảy máu bao tử, tá tràng:

o Chóng mặt, muốn xỉu, da lạnh, mặt tái xanh, toát mồ hôi, tim đập nhanh (trên 100 nhịp trong một phút)

o Ói ra máu đỏ

o Đi cầu phân đen

Định Bệnh

 Hỏi để biết người bệnh có thường dùng: Aspirin, NSAIDs

 Thử nghiệm tìm H pylori trong phân, trong bao tử

 Nội soi bao tử và tá tràng Phương pháp định bệnh tốt nhất, xác định loét, lấy mẫu thử nghiệm để loại trừ ung thư và xác định

có H.pylori trên mẫu thử nghiệm hay không

Trị liệu nhằm 5 mục tiêu

 Trị H.pylori nếu có: gồm 2 thuốc kháng sinh: chlarithromycin, amoxicillin và omeprazole Omeprazole ngăn bao tử tiết acit Thời gian trị liệu: 10 ngày Nếu có dị ứng với penicillin, bác sĩ điều trị dùng Flagyl hay một kháng sinh khác thay thế

Trang 24

 Ngăn bao tử tiết ra acit bằng một trong những thuốc

omeprazole (prilosec), prevacid, zantac, pepcid

 Bảo vệ lớp màng nhày của bao tử và ruột bằng thuốc

sulcralfate (carafate), misoprostol (cytotec) hay thuốc không

cần toa bismuth subsalicylate (pepto-bismol)

 Thuốc trung hoà acit: maalox, mylanta, sodium bicarbonate,

calcium carbonate (tums)

 Ngưng dùng những thứ có nguy cơ làm tăng loét: rượu, thuốc

hút, thuốc chống đau như aspirin, motrin, naproxen

Loét trong hội chứng Zollinger-Ellison Cách trị liệu trên thường

không đem lại kết quả tốt Nếu còn trẻ và tình trạng sức khỏe cho

phép, phương pháp giải phẫu thường được chọn để lấy những bướu

Việc lấy hết các bướu cũng khó khăn, vì có nhiều bướu rất nhỏ

Trong trường hợp này, những thuốc ngăn tiết acit được dùng tối đa,

dùng suốt đời

Chảy máu bao tử, tá tràng phải được trị liệu khẩn cấp tại bệnh viện

Phòng bệnh

 Vệ sinh cá nhân: rửa tay sạch trước bữa ăn, uống nước trong

chai, hoặc nước đun sôi, để nguội, rửa kỹ rau, trái cây trước khi

ăn

 Thuốc chống đau Tylenol không gây loét ống tiêu hóa Các

thuốc khác không nên dùng thường xuyên Nếu cần dùng luôn,

phải có ý kiến của bác sĩ điều trị

 Chứng loét có thể tái phát, nên rất cẩn thận khi dùng thuốc

chống đau Cũng cần nhớ khai trong mục lịch sử bệnh, để bác

sĩ điều trị biết

13 Bịnh Dội Ngược Dịch Vị

(Gastroesophageal reflux disease - GERD)

BS Lê Quang Minh

Triệu chứng

Nước bao tử hay dịch vị có nồng độ acid cao, tác dụng lên thần kinh

và lớp màng tế bào của thực quản, thanh quản, cổ họng khiến bệnh nhân

 cảm thấy nóng ran ở ngực hay đau ngực như tim bị siết chặt

 nuốt khó

 ho khô, không có đàm

 đau cổ họng, khan tiếng

 nôn ói thức ăn, chất chua

Những triệu chứng trên thường xảy sau bữa ăn khi bệnh nhân cúi xuống hay nằm

Biến chứng

Việc dội ngược thường xuyên nước bao tử lên phần trên của bộ máy tiêu hóa có thể đưa tới những biến chứng sau:

 Loét thực quản, chảy máu thực quản

 Thẹo thực quản làm thực quản co nhỏ lại

 Ung thư thực quản (khoảng 10% khi bị chứng này trên 10 năm)

Định bịnh

Sau khi hỏi và khám, bác sĩ có thể định bịnh và chữa trị Nếu cần thì bác sĩ sẽ giới thiệu đi làm thêm các thử nghiêm như:

Trang 25

 Chụp hình quang tuyến thực quản, bao tử sau khi uống chất cản

quang tuyến barium

 Nội soi cuống bao tử, bao tử

 Đo áp suất hay acid ở đoạn cuối thực quản

Trị liệu

1 Có nhiều thuốc để chữa chứng bịnh này

 Antacids là nhóm thuốc có khả năng trung hòa acid: maalox,

mylanta, rolaids, tums Các thuốc này có tác dụng mau chóng

và có thể mua tự do

 Các thuốc sau đây có tác dụng làm bao tử giảm tiết acid

o Tagamet, pepcid, zantac, prilosec, prevacid có thể mua tự do

o Các thuốc khác như nexium, aciphex, protonix thì cần toa

bác sĩ

 Thuốc làm tăng sự co thắt bắp cơ thực quản

2 Ngoài thuốc, bịnh nhân cũng nên thay đổi lối sống để tự giúp

mình:

 giảm cân, ngưng thuốc lá

 tránh dùng nhiều thức ăn đồ uống làm tăng acid: chocolat,

rượu, cà phê, bạc hà, thức ăn chiên, soda

 tránh ăn thật no

 Không đi nằm sau khi ăn, mà nên chờ 2-3 giờ sau Không cúi

xuống trong khoảng 3 giờ sau bữa ăn

 kê đầu giường cao lên chừng 9-10 inches

3 Cuối cùng, nếu các biện pháp trên không có kết quả thì giải phẫu

có thể giúp chữa trị

14 Viêm Gan

BS Nguyễn Quyền Tài

Viêm Gan là bệnh nhiễm trùng Gan do một trong các siêu vi trùng (viết tắt svt) A, B, C, D và E

1.Siêu vi trùng Viêm Gan A lây truyền qua miệng khi ăn uống phải

đồ có dính phân người đang bị nhiễm bệnh Ăn sò, nghêu, v.v sống

từ những vùng nước bị ô nhiễm bởi svt cũng có thể bị nhiễm bệnh Những người bị Viêm Gan A thường hồi phục hoàn toàn và tạo được kháng thể chống lại svt nên sẽ không bị bệnh lần thứ hai

2 Siêu vi trùng Viêm Gan E tương tợ như Viêm Gan A, nhưng chỉ

có ở những vùng gần Ấn Độ Dương

3 Siêu vi trùng Viêm Gan D chỉ nhiễm những người đã bị nhiễm svt Viêm Gan B

4 Siêu vi trùng Viêm Gan B, C và D lây nhiễm qua đường máu,

 khi có vết trầy sướt ở da bị dính máu của người đã bị nhiễm,

 hoặc khi được truyền máu của người bị nhiễm,

 hoặc khi bị chích bởi kim vấy máu người đã bị nhiễm,

 hoặc khi quan hệ tình dục với người đã bị nhiễm,

 hoặc truyền từ mẹ sang con trong lúc sanh

Bệnh Viêm Gan A và Viêm Gan B có thể phòng ngừa được bằng thuốc chủng Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa Viêm Gan C Trong các loại viêm gan do siêu vi gây nên, bệnh Viêm Gan B xảy

ra nhiều nhất và gây nhiều biến chứng trầm trọng như xơ gan và ung thư gan, đặc biệt ở những nước như Việt Nam Bài này chỉ nói về bệnh Viêm Gan B

Trang 26

Những giai đoạn diễn tiến của Viêm Gan B

1 Giai đoạn mới nhiễm bệnh (cấp tính):

a Thời kỳ ủ bệnh, tức thời gian từ khi bị nhiễm svt cho đến khi

bệnh phát hiện, có thể kéo dài từ 1 đến 6 tháng, trung bình là 3

tháng

b Bệnh phát hiện dưới 1 trong 3 dạng:

Không vàng da: Đa số những người bị nhiễm bệnh ở trong thời

kỳ này không bị vàng da nhưng có thể có những triệu chứng

khác, giống như những người bị vàng da

Vàng da: Những triệu chứng và biểu hiện trong thời kỳ như

sau:

 Biếng ăn, dễ mệt mỏi

 Buồn nôn, ói mửa, đau bụng

Đa số (95%) những người nhiễm svt Viêm Gan B tạo ra kháng thể

và diệt được hết svt và hoàn toàn dứt bệnh Một số nhỏ (5%) tiến

sang thời kỳ Viêm Gan B mạn tính

2 Giai đoạn bệnh kéo dài lâu ngày (mạn tính): Người nhiễm siêu vi

Viêm Gan B trong thời kỳ này có thể:

 hoặc hoàn toàn khoẻ mạnh, không có triệu chứng bệnh, nhưng

còn mang mầm bệnh và có thể lây bệnh cho người khác

o Biểu hiệu Suy gan

Những người bị bệnh dai dẳng kéo dài sang thời kỳ mạn tính có thể trải qua những giai đoạn sau đây:

Giai đoạn Gan không bị hư hại: Trong giai đoạn này, người bệnh vẫn khoẻ mạnh và chức năng gan không bị xáo trộn

Giai đoạn Gan bị hư hại: Nhiều năm sau giai đoạn trên, gan có biểu hiệu bị viêm Những người bệnh này tiến sang một trong hai trường hợp sau:

 Bệnh không tiến triển nhưng mang mầm bệnh Gan không có biểu hiệu bị viêm, nhưng trong máu còn có svt và có thể lây bệnh cho người khác Trong một số trường hợp, svt có thể bị tiêu diệt hết Tuy nhiên, một số người tiếp tục ở giai đoạn viêm mạn tính và có một ít nguy cơ bị ung thư gan

 Bệnh khơi động lại Những người này có biểu hiệu gan bị viêm

và có những triệu chứng của thời kỳ viêm cấp tính

Giai đoạn Xơ Gan và Ung thư Gan: Một thiểu số (1%) những người

bị nhiễm svt Viêm Gan B tiến đến giai đoạn Xơ Gan và Ung thư Gan

3 Xét nghiệm lượng HBV DNA

4 Chụp hình MR gan

5 Sinh thiết gan

Những xét nghiệm này giúp chẩn đoán bệnh, cho biết người bệnh đang ở thời kỳ nào và giai đoạn nào, mức độ nặng nhẹ của bệnh trạng, và cho những dữ kiện cần thiết giúp bác sĩ và người bệnh trong việc quyết định khi nào cần điều trị bằng thuốc tiêu diệt svt,

và giúp theo dõi kết quả của việc trị liệu

Trang 27

Làm sao tránh nhiễm svt Viêm Gan B?

Viêm Gan B truyền qua đường máu, cho nên cần tránh bị máu

người đã bị nhiễm svt dính vào mình

1 Dùng những biện pháp phòng ngừa thông thường khi tiếp xúc

với người bệnh như mang bao tay khi chích người bệnh hay khi

cầm đến những vật dụng có máu người bệnh

2 Không dùng kim chích đã được sử dụng rồi

3 Không quan hệ tình dục với người mà mình không biết có mang

bệnh hay không

4 Khi quan hệ tình dục với người đã bị nhiễm svt, cần mang bao

cao su mỗi khi giao hợp, và tránh hôn sâu vào miệng

5 Phụ nữ bị nhiễm svt Viêm Gan B cần cho bác sĩ sản khoa biết, để

chuẩn bị

a tiêm huyết tương và

b tiêm thuốc chủng cho bé sơ sanh trong những giờ đầu sau khi

bé lọt lòng mẹ Sanh Mổ cũng có thể giảm thiểu nguy cơ

truyền bệnh cho bé sơ sanh

6 Những người chưa từng bị nhiễm svt Viêm Gan B nhưng có

nhiều nguy cơ bị lây bệnh thì nên chủng ngừa Viêm Gan B

Nên làm gì khi biết mình bị nhiễm Viêm Gan B?

Khi biết mình đã bị nhiễm svt Viêm Gan B, người bệnh cần đến bác

sĩ để được xét nghiệm xem mình

 đang ở thời kỳ nào và giai đoạn nào,

 đã dứt bệnh hay chưa,

 có thể lây bệnh cho người chung quanh hay không,

 tình trạng của gan ra sao,

 và có cần điều trị bằng thuốc diệt svt hay không

Nếu đang ở giai đoạn không cần điều trị, người bị nhiễm cũng cần

được theo dõi hằng năm bằng thử nghiệm để biết bệnh có tiến triển

hay không và có chuyển sang giai đoạn nặng hơn hay không

Dinh dưỡng

Trong thời kỳ chức năng gan suy yếu, người bệnh nên tuyệt đối cữ

uống rượu Nên uống nhiều nước và ăn đầy đủ các loại bổ dưỡng

Tránh vận động quá nhiều, nên đi bộ thong thả

Khi nào cần điều trị bằng thuốc chống svt Viêm Gan B?

Quyết định bắt đầu điều trị bằng thuốc chống svt Viêm Gan B dựa trên một số yếu tố:

1 Lượng men gan cho biết mức độ xáo trộn các chức năng gan;

2 Lượng HBV DNA;

3 Kết quả sinh thiết gan

Người bệnh cần thảo luận kỹ với bác sĩ trước khi bắt đầu trị liệu bằng thuốc chống svt Viêm Gan B Việc điều trị cần được tiếp tục trong nhiều tháng, có thể trong nhiều năm, và không nên ngưng nửa chừng vì svt có thể sanh sôi nhiều hơn một khi ngưng thuốc

Tóm lược

Người bị nhiễm svt Viêm Gan B trải qua 2 thời kỳ:

1 Thời kỳ 6 tháng đầu: Người bị nhiễm có thể không có triệu chứng gì và sức khoẻ vẫn bình thường, hoặc có thể bị một số triệu chứng bệnh trong một thời gian Đa số sẽ dứt bệnh và không còn svt trong người và không còn khả năng lây bệnh cho người khác

2 Một số nhỏ tiến sang Thời kỳ mạn tính:

a Một số không bị xáo trộn chức năng gan nhưng còn vi trùng trong người và có thể lây bệnh Trong số những người này, một

số tiêu diệt được hết svt và dứt bệnh, một số tiếp tục mang mầm bệnh

b Trong một số ít trường hợp, svt sinh sôi thêm từng chập, người bệnh có triệu chứng và biểu hiện bệnh gan và đi đến tình trạng Xơ Gan và Ung thư Gan

Phụ lục

Để giúp những độc giả muốn biết ý nghĩa và công dụng của những xét nghiệm trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh Viêm Gan B, chúng tôi giải thích một cách đơn giản những từ ngữ sau đây:

b Kháng thể: Kháng thể là những phân tử do cơ thể cấu tạo để

Trang 28

chống lại 3 kháng sinh HbsAg, HbcAg, HbeAg, cơ thể tạo 3

thứ Kháng thể: anti-HBs, anti-HBc và anti-Hbe

Những Kháng sinh và Kháng thể này xuất hiện trong máu và

có thể biến mất sau một thời gian trong những thời kỳ và giai

đoạn khác nhau của bệnh Viêm Gan B Kết quả xét nghiệm

dương tính (+) hay âm tính (-), tức có hay không có, về

những Kháng thể và Kháng sinh này cho biết người bệnh

đang ở thời điểm nào trong diễn tiến của bệnh Viêm Gan B

2 HBV DNA: DNA là một loại phân tử trong svt và mang

những đặc tánh di truyền của svt Đo lượng HBV DNA để

biết số lượng svt trong máu

3 Men Gan: ALP (Alkaline phosphatase), ALT (alanine

aminotransferase) và AST (aspartate aminotransferase) là 3

thứ men gan Lượng men gan tăng cao khi gan bị viêm và

chức năng gan bị xáo trộn

4 Sinh thiết Gan: Khi kết quả của những xét nghiệm kể trên

chưa đủ để xác định mức độ nặng nhẹ của bệnh trạng, bác sĩ

có thể đề nghị làm sinh thiết gan để có thêm dữ kiện cho

việc quyết định phương pháp và thời điểm trị liệu với thuốc

chống svt

15 Túi Phình Ruột Già & Bệnh Túi Phình Ruột Già

(Diverticulosis & Diverticular Diseases)

BS Nguyễn Quyền Qưới

Tổng quát

 Túi phình ruột già là tình trạng thành ruột già có một hay nhiều túi lồi ra ở những nơi mà thành ruột già tương đối bị yếu, so với những nơi khác Những điểm yếu là nơi các động mạch (vasa recta) xuyên qua lớp cơ, để đến lớp niêm mạc (mucosa)

và dưới niêm mạc (submucosa) Đa số túi phình thường nhỏ, đường kính từ 0.5 -1cm, trong ít trường hợp, đường kính có thể tới 2 cm Bệnh túi phình ruột già, thường ít thấy ở người trẻ, càng lớn tuổi càng có nguy cơ bị bệnh này Khoảng 50% người trên 60 tuổi bị túi phình ruột già Một số nghiên cứu cho thấy tỉ

lệ nầy lên đến 60% ở những người trên 80 tuổi, không phân biệt nam nữ

 Ở dân Hoa kỳ và dân tây phương, 95% túi phình thường thấy ở đoạn cuối ruột già (y học gọi là đoạn sigmoid), phía trái bụng dưới Ở người Á đông và người dưới 60 tuổi, túi phình thường thấy ở đoạn bên phải hơn

 Bệnh túi phình ruột già (diverticular diseases) chỉ biến chứng của túi phình như viêm (diverticulitis), chảy máu Số bị viêm hay chảy máy khoảng 10-30%

Nguyên nhân

 Mặc dầu cơ chế sinh bệnh lý (pathogenic mechanism) không được biết tường tận, nhưng có sự liên quan phức tạp giữa cấu trúc của ruột già, nhu động của ruột, chế độ ăn uống và di truyền

 Bệnh thường thấy ở những quốc gia đã phát triển, có mực sống cao, nên có từ ngữ “bệnh của nền văn minh Tây phương” để chỉ hậu quả của chế độ ăn nhiều thịt, ít chất xơ hay sợi (fiber)

và ít vận động cơ thể Người Việt chúng ta ngày nay ăn thịt nhiều hơn, nhất là người Việt ở hải ngoại, có khuynh hướng ăn

Trang 29

theo cách của người Âu Mỹ nên cũng dễ bị bệnh túi phình ruột

già hơn

 Ăn ít chất xơ dễ bị táo bón, khi đi cầu phải gắng sức rặn, làm

tăng áp lực lên thành ruột, tạo ra các túi phình Chất xơ có

nhiều trong rau cải, trái cây, các loại đậu, hạt nguyên (whole

grain)

Triệu chứng

 80% -85% không có triệu chứng

 10-15% có triệu chứng đau bụng Đau bụng thường xảy ra khi

ăn, không đặc thù, nên có thể lầm với một số các bệnh khác của

ruột Đau có thể co thắt từng cơn hay đau đều đặn Đau nhẹ

bớt khi trung tiện (flatus) hay sau khi đi cầu

 Bụng đầy hơi (bloating)

 Thay đổi thói quen đi cầu, với bón thường hơn là tiêu chảy

 Cảm giác đầy bụng và đau ở vùng bụng duới bên trái

 Đôi khi có thể sờ thấy cục đau ở phía trái bụng dưới (khúc ruột

sigmoid)

 Nóng sốt, đau bụng dữ dội (thường ở vùng bụng duới bên trái),

báo hiệu Viêm Túi Phình

Chẩn đoán túi phình ruột gìa

 Đa số không có triệu chứng, nên túi phình ruột già chỉ được chẩn đoán nhân khi làm những thử nghiệm vì những nguyên nhân khác như: nghi ung thư ruột, đi cầu ra máu, bướu trong ruột

 Thử nghiệm thường dùng là nội soi ruột già (colonoscopy), X- ray ruột già với chất cản quang (Barium)

Chẩn đoán viêm túi phình

 Bác sĩ dựa vào bệnh sử, triệu chứng và khám lâm sàng: khám bụng, vùng xương chậu (pelvis), khám hậu môn

 Thử máu

 CT bụng xác định viêm túi phình ruột

Biến chứng của viêm túi phình ruột già Biến chứng thường rất nghiêm trọng

 Nghẹt ruột

 Chảy máu ruột

 Lỗ dò (fistula), thông ruột già với cơ quan kế cận

 Túi mủ (abscess) xung quanh nơi bị viêm

ăn lỏng, nhẹ Hẹn tái khám sau 2-3 ngày

 Nếu không thuyên giảm, người bệnh được nhập viện

 Nếu tình trạng thuyên giảm, bác sĩ cho bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc và theo dõi sau một tuần lễ

2 Nhập bệnh viện

 Khi người bệnh có sốt cao độ, ói mửa, bụng đau cứng, rất có nguy cơ có biến chứng kể trên

 Truyền nước và trụ sinh qua tĩnh mạch

 Giải phẫu, cắt đoạn ruột già bị viêm, nếu cần

Trang 30

Phòng ngừa túi phình ruột già

Bón là nguyên nhân chính sinh túi phình ở ruột già, vì vậy cần

phòng ngừa bón (xin đọc bài Bón) Hai điều căn bản phòng ngừa

bón là

 Tăng số lượng nước uống hàng ngày

 Tăng chất sợi trong khẩu phần hàng ngày Số lượng trung bình

là 30 gam Chất sợi hấp thụ nước, giúp cho phân được mềm và

di chuyển nhẹ nhàng qua ruột già

 Cũng có thể dùng các loại thuốc giúp phân mềm thành khối

(stool- bulking agents), mua không cần toa như Metamucil,

Citrucel Bắt đầu dùng các thuốc nầy với phân luợng thấp, sau

đó tăng dần để tránh bụng có nhiều hơi do tác dụng của vi

khuẩn trên metamucil

 Để tránh bị táo bón cũng cần năng vận động, tập thể dục

thường xuyên Có lý thuyết cho là người bị túí phình ruột già

không nên ăn các loại hạt (seeds), đậu (nut), bắp (corn) vì các

hạt nầy có thể đi vào các túi phình và bị nghẽn trong đó gây

biến chứng như viêm túi phình với các biến chứng khác Tuy

nhiên không có những nghiên cứu rõ rệt hỗ trợ ý kiến nầy, dầu

sao cũng nên nhai thật kỹ khi ăn các thức ăn nầy

Phòng ngừa tái phát Viêm Túi Phình

Viêm túi phình, sau khi chữa tại nhà hay tại bệnh viện đều có thể tái

phát, sau thời gian ngắn hay sau nhiều năm Vì vậy cần phòng ngừa

tái phát

 Dùng thức ăn có nhiều chất sợi (50%) trong rau, ít thịt đỏ, mỡ

 Tập thể dục

 Cần xuống cân, nếu mập hay quá trọng lượng trung bình

 Không dùng các loại thuốc chống đau (motrin, celebrex) nếu

không có lời khuyên của bác sĩ gia đình

 Bác sĩ cũng có thể cho uống thuốc kháng sinh (rifaximin,

mesalamin)

Tóm tắt

 Túi phình ruột già, chứng rất thường thấy, tăng với số tuổi

 Nguyên nhân chính là táo bón

 80-85% không có triệu chứng

 Biến chứng chính là viêm, cùng với hậu quả của viêm

 Viêm nhẹ, bác sĩ có thể cho thuốc chữa tại nhà

 Viêm nặng, rất nguy hiểm, cần chữa tại bệnh viện

 Cần chú trọng tới việc phòng ngừa: tránh mập, ăn ít thịt, ít mỡ,

16 Trĩ

(Hemorrhoids)

BS Nuyễn Quyền Qưới

Trĩ là tình trạng các tĩnh mạch xung quanh hậu môn hoặc phần dưới của ruột cùng bị phình to, tạo thành những khối lồi gọi là búi trĩ Tĩnh mạch bị phình do có sự tăng áp lực (pressure) lên các tĩnh mạch Nguyên nhân của sự tăng áp lực thường là:

 Gắng sức (rặn) khi đi cầu do bị táo bón

 Tiêu chảy kinh niên do một số bệnh

 Ngồi quá lâu trên bàn cầu

 Mập phì

 Phụ nữ có thai Nhất là vào 3 tháng cuối của thai kỳ, người mang thai di chuyển chậm chạp, ít hoạt động; thêm vào đó, bào thai tăng sức ép lên các tĩnh mạch vùng chậu (pelvic), đè lên ruột già, gây táo bón

 Giao hợp qua hậu môn

 Trĩ cũng có thể do di truyền và tuổi tác Càng lớn tuổi các mô nâng đỡ tĩnh mạch ở hậu môn và ruột yếu dần và giãn ra, đưa dến tình trạng phình trướng tĩnh mạch

Phân loại Trĩ

Có 2 loại trĩ:

 trĩ ngoại, nằm phía ngoài hậu môn

 trĩ nội, nằm phía trong hậu môn

Triệu chứng

 Trĩ ngoại: đau, ngứa, sưng là các triệu chứng thường nhất Đau

dữ dội khi búi trĩ bị thắt nghẽn hay bị máu đông Ít khi chảy máu, trừ khi bị trầy sướt do chùi

 Trĩ nội: Ít gây đau, nhưng thường làm chảy máu Máu đỏ tươi,

ra sau phân, có thể thấy máu ở giấy chùi, trên phân hay trong bồn cầu

Trang 31

Biến chứng

 Thiếu máu Trĩ có thể gây chảy máu, lâu ngày đưa đến tình

trạng thiếu máu

 Thắt nghẽn (strangulated), khi mạch máu tới Trĩ nội bị tắc

nghẽn Tế bào của trĩ bị chết, người bệnh cảm thấy đau dữ dội

 Máu đông cục (clot) thường ở Trĩ ngoại đưa đến tắc nghẽn các

tĩnh mạch, tạo nên một khối (lump) cứng, đau

Chẩn đoán

 Khám trực tiếp Trĩ ngoại có thể nhìn thấy từ bên ngoài Đối

với Trĩ nội bác sĩ phải dùng ngón tay đưa vào hậu môn để sờ

Nhiều khi bác sĩ phải dùng các dụng cụ để soi hậu môn

(anuscopy), soi đoạn cuối của ruột già (proctoscopy)

 Bác sĩ cũng có thể cần làm nội soi ruột già (colonoscopy) nếu

có dấu chứng hay triệu chứng nghi ngờ có thêm bệnh khác của

ruột già hoặc có yếu tố nghi ung thư ruột, cụ thể như người trên

50 chưa từng làm nội soi ruột già 10 năm trước đó

Điều trị

Không giải phẫu

Nếu Trĩ nhỏ, chỉ có ít triệu chứng như ngứa, đau, có thể điều trị

bằng cách:

 Dùng thuốc thoa như Preparation H, Anusol, Anusol HC (có

chất corticosteroid, giúp chống ngứa, viêm), Anusert HC-1,

Proctocort, Proctocream-HC, Proctosol H v v sau mỗi lần đi

cầu

 Ngâm hậu môn vào chậu chứa nước ấm (gọi là sitz bath) từ

15-20 phút sau mỗi lần đi cầu, hoặc ngày 3 lần Cách chữa này

giảm ngứa, đau, cảm giác khó chịu ở hậu môn

 Dùng giấy thấm nước, vắt ráo hoặc làm lấy hoặc mua ở chợ

(moisturized papers) chùi hậu môn sau khi đi cầu

 Nếu Trĩ nhỏ hay kích thước trung bình thường làm khó chịu thì

có thể dùng các phương pháp như:

o Cột (ligation) bằng dây thung (rubber bands) làm cho Trĩ

rụng

o Đốt bằng tia sáng mạnh (infrared light), sức nóng cắt đứt

đường tiếp tế máu đến Trĩ và Trĩ sẽ chết Phương pháp này

chỉ làm 1 lần cho mỗi búi Trĩ, nếu có nhiều búi Trĩ cần làm

nhiều lần, mỗi lần cách nhau 10 đến 14 ngày

o Chích chất làm đông cứng (sclerosant) các mạch máu tiếp tế cho Trĩ làm Trĩ bị chết đi Thường làm ở người lớn tuổi với các mạch máu yếu dễ bể Cách này có thể làm nhiều lần

o Tia Laser, hay đốt điện (electric cauterization) cũng có mục đích ngăn chặn máu tiếp tế đến búi Trĩ

Giải phẫu Nếu Trĩ to, lồi ra nhiều, gây nhiều triệu chứng, không hết với những phương pháp trị liệu nói trên hoặc Trĩ tái phát lại sau khi được điều trị bằng các phương pháp kể trên thì cần giải phẫu cắt bỏ

Điều trị bằng giải phẫu có kết quả lâu dài hơn nhưng tốn kém, cần nằm lại bệnh viện và thời gian hồi phục dài hơn Giải phẫu cũng gây đau nhức sau khi giải phẫu và cũng có thể bị nhiều biến chứng hơn Phương pháp không giải phẫu thường được dùng đối với ngườì trên

70 hoặc tình trạng sức khỏe yếu kém

Phòng bệnh Phần quan trọng là tránh bị bón

 Nên ăn nhiều rau cải tươi, trái cây như chuối, cam, táo (apples)

lê, nho v…v Các loại hạt, cereals để có nhiều chất xơ (fiber)

Ăn ít thịt đỏ, uống ít nước ngọt có hơi Nên uống nhiều nước hàng ngày 6, 7 ly to

 Năng vận động, tập thể dục hàng ngày, chơi thể thao

 Tránh ngồi 1 chổ quá lâu Nếu vì công việc phải ngồi lâu thì sau mỗi giờ nên đứng dậy đi lại, làm động tác thể dục, hít thở

 Nên đi cầu mỗi ngày, tập đi vào những giờ giấc không bị bận rộn

 Nếu mắc đi cầu thì đi ngay, không nên hoãn lại vì sẽ thành thói quen, dễ bị táo bón

Tóm lại

 Trĩ là tình trạng thường xảy ra, tuy không nguy hiểm đến tánh mạng nhưng gây nhiều khó chịu, trở ngại cho sinh hoạt hàng ngày

 Phòng ngừa vẫn tốt hơn là điều trị

 Ở người lớn tuổi, trước khi chẩn đoán Trĩ cần loại các bệnh nguy hiểm hơn như viêm loét, ung thư ruột già

Trang 32

17 Bệnh Thận Và Đường Tiểu

BS Lê Quang Minh

Hệ thống bài tiết chất cặn bã trong cơ thể gồm có hai thận, hai niệu

quản dẫn nước tiểu từ thận vô bàng quang và niệu đạo dẫn nước tiểu

từ bàng quang ra ngoài

Thận có nhiệm vụ:

 giữ gìn sự cân bằng nước và các muối khoáng của cơ thể;

 lọc và thải các cặn bã, chất độc;

 điều chỉnh huyết áp bằng cách thải bớt muối sodium;

 tiết erythroprotein giúp tạo tế bào máu;

 điều chỉnh chất calcium và phosphorus cần thiết cho việc bồi

bổ xương

Bàng quang và các ống dẫn tiểu giúp chứa nước tiểu và đưa nước

tiểu ra ngoài Ngoài ra, còn có động mạch đưa máu đến thận và tĩnh

mạch đưa máu từ thận về tim Mỗi cơ cấu của hệ thống bài tiết đều

có thể bị trục trặc và gây bệnh

Triệu chứng

Nhiều bệnh thận và đường tiểu có thể không cho triệu chứng đặc

biệt liên quan đến hệ thống bài tiết, cho đến khi bệnh đã nặng Thí

dụ chứng suy thận kinh niên thường làm bệnh nhân cảm thấy mệt

mỏi, biếng ăn, buồn nôn, ngứa ngáy trong người Người già thì

nhiều khi chỉ bị lẫn lộn tinh thần

Khi có triệu chứng thì bệnh nhân có thể cảm thấy đau bên hông,

chân bị phù, hay có các triệu chứng như đi tiểu đau, đi tiểu nhiều, đi

tiểu ban đêm, tiểu lắt nhắt, mắc tiểu khẩn cấp, són tiểu, tiểu ra máu,

nước tiểu có hơi (triệu chứng có mạch thông từ ruột qua đường

tiểu), nước tiểu thay đổi màu sắc và mùi

Định bệnh

Bác sĩ khám bệnh có thể biết được thận to hơn bình thường, khi có

bướu; bọng đái bị phình to, khi nghẹt đường thoát tiểu

Sau đó thì có thể

 xác nghiệm nước tiểu,

 cấy nước tiểu tìm bệnh nhiễm trùng,

 cho thực hiện siêu âm,

 chụp hình CT scan, MRI, chụp X quang đường tiểu sau khi chích thuốc cản quang,

 soi bọng đái,

 chụp X quang mạch máu

Bệnh liên quan đến mạch máu của thận

1 Nghẹt động mạch thận do: cục máu đông hay cục mỡ từ nơi khác theo máu chạy đến Thận có thể suy cấp tính Bịnh nhân cảm thấy mệt mỏi, đi tiểu ít, biếng ăn, ngứa ngáy trong người

2 Nghẹt tĩnh mạch thận Thường xảy ra trong các trường hợp ung thư thận, bệnh tiểu đường, bệnh hồng cầu hình liềm, uống thuốc ngừa thai (làm máu dễ đông), người dùng cocaine

3 Huyết áp cao ác tính Ác tính ở đây không có nghĩa là ung thư, xảy ra khi huyết áp lên quá cao và nhanh làm hư các mạch máu nhỏ trong thận Triệu chứng gồm có nhức đầu, mờ mắt, ói mửa, hôn mê, kinh giật, mệt mỏi và suy thận, suy tim

4 Thoái hoá vỏ ngoài thận khi phần vỏ ngoài thận bị thoái hóa vì thiếu máu Xảy ra khi huyết áp cơ thể xuống quá thấp hay khi các mạch máu nhỏ trong thận bị nghẹt

Ung thư thận và đường tiểu

1 Ung thư thận làm đau lưng hay đau bên hông, đi tiểu có máu Định bệnh bằng cách chụp CT vùng bụng Tỷ lệ khoảng 3% các ung thư ở người lớn, đa số là đàn ông, người hút thuốc lá và tuổi từ 50 đến 70

2 Ung thư bàng quang, niệu đạo hay niệu quản: thường gây chảy máu trong đường tiểu Đàn ông dễ bị hơn đàn bà Người hút thuốc

lá hay người bị nhiễm hóa chất trong kỹ nghệ Định bệnh bằng cách tìm tế bào ung thư trong nước tiểu và chụp CT scan

Chấn thương hệ thống đường tiểu

Trường hợp tai nạn xe, té ngã, thương tích vì súng đạn, dao đâm Có khi bị thương tích trong lúc được giải phẫu tử cung hay ruột

Trang 33

Suy thận

Có thể cấp tính hay kinh niên làm giảm khả năng lọc chất cặn bã,

giảm khả năng điều hòa nước và các muối khoáng Ngoài ra, suy

thận cũng làm huyết áp lên cao, thiếu máu, làm trẻ em chậm lớn và

xương bị yếu đi

1 Suy thận cấp tính

 Nguyên do có thể do máu đến thận bị giảm, mô thận bị hư hại

vì chất độc, thuốc men, chất cản quang dùng để chụp CT scan

hay MRI, hay đường tiểu bị nghẽn

 Triệu chứng gồm có nôn ói, mệt mỏi, ngứa ngáy, khó thở

 Biến chứng thường là suy tim, potassium trong máu cao

 Định bệnh qua thử nghiệm máu, nước tiểu, chụp hình quang

 Nguyên nhân chánh là do bệnh tiểu đường và cao huyết áp

Máu trở nên acid hơn, bệnh nhân sẽ bị thiếu máu, dây thần kinh

bị hư, xương bị xốp và nguy cơ bị chai cứng động mạch máu

tăng lên

 Triệu chứng: mệt mỏi, nôn ói, ngứa ngáy, bắp cơ bị co thắt bất

thường, khó thở, vàng da, giảm hoặc mất cảm giác, tinh thần bị

lẫn lộn

 Định bệnh bằng cách thử máu và nước tiểu

 Chữa trị nhằm vào sự giới hạn uống nước, giảm muối sodium

và potassium trong thức ăn; dùng các thuốc để điều chỉnh huyết

áp, đường trong máu, điều chỉnh muối khoáng

 Khi cần thì sẽ phải dùng phương cách lọc máu hay giải phẫu

thay thận

Bệnh liên quan đến cơ cấu lọc của thận

Mỗi quả thận có độ 1 triệu đơn vị lọc (glomeruli) Mỗi đơn vị có

nhiều chùm mạch máu nhỏ li ti, các mạch nhỏ lại có nhiều lỗ nhỏ

cho nước từ máu chảy qua vô một hệ thống ống nhỏ li ti hay tiểu

quản thận (tubule) và trở thành nước tiểu Bình thường thì chỉ có

nước và vài phân tử nhỏ mới bị lọc qua Protein và tế bào trong máu

không thể lọt qua

Các bệnh liên quan đến cơ cấu lọc của thận gồm có 3 nhóm chính, tùy theo phần nào của thận bị ảnh hưởng nhiều nhất

1 Viêm tiểu cầu thận là trường hợp các tiểu cầu bị viêm và để cho

tế bào máu và protein lọt vào nước tiểu Chứng viêm thường do một phản ứng miễn nhiễm bất thường Khi có nhiều tiểu cầu bị viêm và hư hại thì chức năng của thận bị giảm Khi đó chất độc

Nguyên do là đường tiểu bị nghẽn vì sạn, cục máu đông, bướu, niệu quản bị teo do bẩm sinh hay nhiễm trùng, giải phẫu hay bị ảnh hưởng của trị liệu bằng X quang, tiền liệt tuyến to ra Cũng

có khi xảy ra lúc đàn bà mang thai

Triệu chứng có thể là đau lưng, đau bên hông, đau bụng

Định bệnh bằng siêu âm, chụp CT scan hoặc thông đường tiểu

2 Sạn đường tiểu xảy ra khi nước tiểu có quá nhiều chất muối, có thể đóng sạn hay thiếu chất cản sạn như citrate Sạn thường xảy

ra trong trường hợp cường tuyến cận giáp, chứng ruột ngắn, thức ăn nhiều protein, sinh tố C hay uống ít nước Triệu chứng thường là đau thình lình vùng lưng hay hông, có thể kèm theo nôn ói, máu trong nước tiểu

Đi tiểu són

Đi tiểu són là trường hợp đi tiểu mà không kiểm soát được Thường xảy ra ở người già, nhưng cũng có thể xảy ra ở giới trẻ khi bị nhiễm trùng đường tiểu hay khi bị bệnh về hệ thần kinh và óc Bệnh nhân thường hay mắc cở và không đi khám mặc dù chứng này có nhiều cách để chữa trị

Trang 34

Nhiễm trùng đường tiểu

Nhiễm trùng đường tiểu có thể xảy ra ở thận, bọng đái hay ở niệu

đạo

 Nhiễm trùng có thể do vi trùng, siêu vi trùng, nấm, ký sinh

trùng Thường thì có triệu chứng như tiểu luôn, buốt khi tiểu

 Trong trường hợp thử nước tiểu có vi trùng nhưng không có

triệu chứng bệnh thì không cần chữa, ngoại trừ trường hợp phụ

nữ có thai, bệnh nhân được thay thận, hoặc có bệnh làm giảm

hệ miễn nhiễm (như ung thư, AIDS/SIDA)

Bệnh liên quan đến chức năng các niệu quản (tubule)

Sau khi máu đi qua cơ cấu lọc thận (glomeruli) thì phần nước và

muối khoáng lọc được đưa vào các niệu quản Khi chức năng các tế

bào của niệu quản bị trục trặc thì có thể gây ra bệnh

 Hội chứng Bartter

Bệnh di truyền, khi thận thải ra quá nhiều sodium, potassium,

chloride, đưa đến tình trạng mất nước, rối loạn các chất điện

phân Triệu chứng thường là mệt mỏi, khát nước, đi tiểu nhiều,

huyết áp có thể thấp

 Chứng xistin niệu (cystinuria)

Di truyền, thận tiết ra nhiều cystine, gây sạn thận

 Hội chứng Fanconi

Thận tiết ra quá nhiều đường glucose, sodium, potassium

chloride và vài axit amin Chứng này do di truyền hay nhiễm

độc bởi kim khí nặng, thiếu sinh tố D, chứng Đau Tuỷ

(mulptiple myeloma), chứng Thoái Hoá Dạng Tinh Bột

(amyloidosis) hay sau khi thay thận

Triệu chứng là đi tiểu nhiều, đau nhức xương và yếu mệt

 Bệnh Hartnup

Bệnh di truyền, khi thận và ruột không hấp thụ chất tryptophan

và vài axít amin Triệu chứng gồm có nổi phong ngoài da, nhức

đầu, chậm tâm thần, dáng đi loạng choạng, có chứng hoang

tưởng

 Bệnh nhuyễn xương

Do thiếu phosphate (hypophosphatemic rickets) Bệnh di

truyền, khi thận thải nhiều phosphate đưa đến thiếu phosphate

làm cho xương bi mềm và đau nhức

 Hội chứng Liddle

Bệnh di truyền thận thải nhiều potassium nhưng giữ lại nhiều

sodium và nước gây ra chứng cao huyết áp

 Chứng xốp tủy thận

Thường do di truyền Các tiểu quản thận bị giãn nở có thể không gây triệu chứng gì hay có khi gây ra sạn thận, nhiễm trùng và chảy máu trong đường tiểu

 Chứng nhiễm axít ống thận khi tiểu quản thận mất khả năng

lọc acid từ máu vô nước tiểu Triệu chứng thường là yếu kém

và chậm phản xạ

Tóm tắt

Hệ Thống Bài Tiết của cơ thể có nhiều chứng bệnh, đa số trường hợp có triệu chứng liên quan đến thận và đường tiểu nhưng có một vài trường hợp không có triệu chứng rõ ràng Vì vậy khi ta cảm thấy

có điều gì khác thường trong cơ thể thì nên đi khám để được định bệnh và chữa trị sớm

Trang 35

18 Nhiễm Trùng Đường Tiểu

(Urinary Tract Infection)

BS Lê Quang Minh

Định nghĩa

Nhiễm trùng đường tiểu bắt nguồn từ hệ thống bài tiết gồm có hai

thận, bọng đái (bàng quang), hai niệu quản (ureter) và niệu đạo

(urethra) Riêng ở đàn ông thì có thêm chứng nhiễm trùng tiền liệt

tuyến (prostatitis) Tiền liệt tuyến là một phần của bộ phận sinh dục

nhưng vì vị trí ở ngay dưới bọng đái và có liên hệ với đường tiểu

nên có triệu chứng tương tự như nhiễm trùng đường tiểu

Nguyên do

Nhiễm trùng thường xảy ra khi vi trùng từ ruột già, hậu môn như

E.Coli, Klebsiella đi vào niệu đạo (urethra), bọng đái Một số vi

khuẩn khác như Herpes, Chlamydia, vi trùng bệnh lậu (gonorrhea)

thường gây nhiễm trùng ở niệu đạo

Triệu chứng

 Mắc tiểu nhiều, đau buốt khi đi tiểu

 Đi tiểu lắt nhắt, từng tí một

 Nước tiểu thấy đục hay có màu đỏ hay nâu (triệu chứng có máu)

 Nước tiểu có mùi hôi

 Đau vùng chậu (đàn bà), đau vùng hậu môn (đàn ông) Có thể đau

lưng khi nhiễm trùng thận

 Sốt, ói mửa

 Người già nhiều khi không có triệu chứng đường tiểu mà chỉ có

mệt, biếng ăn, bị lẫn (confusion) hay mất phương hướng

(disorientation)

Điều kiện làm đường tiểu dễ bị nhiễm trùng

 Phụ nữ, vì lý do niệu đạo ngắn

 Có liên hệ tình dục

 Dùng kem diệt tinh trùng (spermicide) hay vòng chắn

 Thiếu kích thích tố estrogen như các bà sau khi tắt kinh

 Có dị tật đường tiểu

 Nghẹt đường tiểu do sạn, bướu, hay tiền liệt tuyến bị sưng to

 Có bệnh tiểu đường, hay các bệnh làm giảm hệ miễn nhiễm

 Trường hợp người phải đặt ống thông tiểu (catheter)

Biến chứng

Thường thì các chứng nhiễm trùng đường tiểu được chữa khỏi và không để lại biến chứng Vài trường hợp nhiễm trùng thận nặng có thể đưa đến suy thận Đàn bà có thai mà bị nhiễm trùng đường tiểu

có tỷ lệ sanh con thiếu tháng cao

Chữa trị

 Kháng sinh, trụ sinh (antibiotic) dùng để diệt vi trùng như ampicillin, sulfonamide, nitrofurantoin, ciprofloxacin Nên uống hết toa thuốc và đừng để dành, tránh tình trạng chữa lưng chừng, làm dễ tái phát và vi trùng quen thuốc

 Có thể uống thuốc giảm đau Nhớ là thuốc pyridium hay azo standard làm nước tiểu có màu cam hay đỏ

 Nên uống nhiều nước

Phòng ngừa

Các biện pháp dưới đây có thể giúp giảm nguy cơ bị nhiễm trùng đường tiểu:

 Uống nước nhiều

 Sau khi đi tiêu thì đàn bà nên chùi từ trước ra sau (tránh kéo vi trùng từ hậu môn về phiá âm đạo)

 Đi tiểu sau khi giao hợp

Trang 36

19 Chứng Phì Đại Tuyến

Tiền Liệt

BS Lê Quang Minh

Định Nghĩa

Phì Đại Tuyến Tiền Liệt là sự tăng kích thước của tuyến tiền liệt

(TTL) Chứng có tên khác như U Xơ TTL, Phì Đại Lành Tính TTL

(Benign Prostate Hypertrophy)

Tuyến tiền liệt (TTL) thuộc bộ phận sinh dục của đàn ông nằm ở

dưới bọng đái, có chức năng bài tiết tinh dịch để chuyên chở tinh

trùng trong niệu đạo Vì niệu đạo dẫn nước tiểu ra ngoài đi xuyên

qua tuyến tiền liệt nên khi tuyến sưng to, hay phì đại thì niệu đạo sẽ

bị ép lại và cản trở nước tiểu lưu thông

Chứng Phì Đại Tuyến Tiền Liệt

 Thường xảy ra ở đàn ông cao niên (thường 50 tuổi trở lên)

 Tại Hoa Kỳ trên 50% đàn ông từ 60-70 tuổi và 90% đàn ông từ

70-90 tuổi bị chứng này

 Có thể gây nghẹt đường tiểu, nhiễm trùng đường tiểu, ảnh

hưởng xấu cho thận

 Không có liên hệ giữa chứng Phì Đại và Ung Thư TTL

Triệu Chứng

Thay đổi tùy người Nhiều người có tuyến to nhưng ít triệu chứng

Có người có tuyến nhỏ nhưng triệu chứng nặng Nói chung, các triệu chứng sẽ tăng dần theo thời gian

 Dòng nước tiểu yếu

 Khó khăn khi bắt đầu đi tiểu

 Khi tiểu thì lúc chảy lúc ngưng

 Tiểu xong vẫn còn nhỏ giọt

 Đi tiểu nhiều lần

 Cảm giác đi tiểu không hết

 Hay đi tiểu ban đêm

 Đi tiểu xong, bọng đái không hết nước tiểu

 Nước tiểu có máu

 Hay bị nhiễm trùng đường tiểu

 Vách bọng đái bị suy yếu

 Suy thận khi nước tiểu bị ứ đọng trong bọng đái lâu ngày

 Đo sức mạnh dòng nước tiểu

 Đo lượng nuớc tiểu sót lại trong bọng đái sau khi đi tiểu

 Siêu âm tuyến xuyên qua hậu môn

 Sinh thiết tuyến

 Đo áp suất trong bọng đái

Trang 37

 Soi bọng đái

 Chụp hình quang tuyến đường tiểu

Chữa trị

1 Thuốc: Tuỳ theo triệu chứng nặng hay nhẹ, khối lượng tuyến, tuổi

và sức khoẻ của bệnh nhân

 Thuốc loại Ức Chế Thực Thể (alpha1 adrenergic blocker) làm

giảm co thắt cơ cổ bọng đái, có tác dụng sớm như Hytrin,

Flomax, Uroxatral, Rapaflo

 Thuốc loại Ức Chế Men 5 Alpha Reductase (5

Alpha-Reductase Inhibitor) làm teo tuyến tiền liệt, có tác dụng chậm

hơn như Proscar, Avodart

2 Giải phẫu thông thường, có nhiều kỹ thuật tùy theo trường hợp:

 Giải phẫu cắt tuyến tiền liệt xuyên niệu đạo (TURP,

transurethral resection of the prostate)

 Giải phẫu rạch tuyến tiền liệt xuyên niệu đạo (TUIP hay TIP

,trans urethral incision of prostate)

 Giải phẫu cắt tuyến tiền liệt qua vùng chậu

3 Giải phẫu nhỏ, ít xâm lấn:

 Giải phẫu dùng tia Laser đốt tuyến tiền liệt Có nhiều kỹ thuật

như HOLAP, VLAP, HOLEP, PVP

 Giải phẫu dùng sóng vi ba đốt tuyến (TUMT, transurethral

 Giới hạn nuớc uống buổi tối trước khi đi ngủ

 Tránh uống cà phê và rượu

 Tránh, hay giảm liều thuốc lợi tiểu (hỏi lại bác sĩ trước khi thực

hiện)

 Tránh thuốc cảm cúm, sổ mũi có thể làm co thắt cơ quanh niệu

đạo

 Đi tiểu ngay khi mới cảm thấy mắc tiểu

 Đi tiểu định kỳ mỗi 3-4 tiếng đồng hồ

5 Chữa trị thay thế chữa trị thông thường Các thảo mộc sau có thể giúp làm TTL teo lại nhưng có thể gây biến chứng Nên hỏi lại bác

sĩ trước khi dùng

 Trái từ cây Saw Palmetto

 Beta-sistosterol lấy từ vài loại cỏ

 Pygeum lấy từ vỏ cây mận Phi Châu (African Prune)

 Rye Grass extract từ cỏ Rye

 Stinging Nettle extract từ rễ cây Stinging Nettle

Trang 38

20 Viêm Tuyến Tiền Liệt

BS Nguyễn Quyền Tài

Tuyến Tiền Liệt (TTL) ở ngay dưới bọng đái đàn ông và bao chung

quanh phần đầu của niệu đạo Chất dịch do TTL tiết vào niệu đạo

hợp với chất dịch và tinh trùng tiết từ tinh hoàn hợp thành tinh dịch

Viêm TTL có thể do:

 nhiễm vi trùng,

 nhưng cũng có trường hợp viêm không do vi trùng

Viêm TTL có 2 trạng thái: cấp tính, mạn tính

Viêm TTL mạn tính không do vi trùng, có thể gây nên:

 Hội chứng Đau nhức Mạn tính Vùng Chậu,

 hoặc không gây triệu chứng nào

Triệu chứng

Viêm TTL cấp tính do vi trùng gây:

 Nóng sốt, ớn lạnh, khó chịu trong người

 Đau nhức khớp xương, đau thắt lưng, đau nhức bắp thịt

 Đi tiểu rát, đi tiểu khó (đi tiểu lắt nhắt, mắc tiểu khó nín, đi tiểu

nhiều lần ban đêm, nước tiểu ra rồi ngừng từng chập, dòng

nước tiểu yếu, đi tiểu không ra hết)

 Dịch rỉ ra ở miệng niệu đạo

Viêm TTL mạn tính do vi trùng, gây ra:

 những cơn đi tiểu khó,

 những cơn bí tiểu,

 những cơn nhiễm trùng đường tiểu tái đi tái lại

Hội Chứng Đau Nhức Mạn Tính Vùng Chậu, không do vi trùng

gây:

 Những triệu chứng đau ở vùng hố chậu, ở phía trên mu, ở vùng

xương cùng, vùng hậu môn, vùng niệu đạo, vùng tinh hoàn và

bìu dái Những cơn đau xảy ra, trong khi xét nghiệm không cho

thấy có nhiễm trùng đường tiểu

 Bị đau khi xuất tinh

 Xáo trộn cường dương

Định bệnh

Định bệnh dựa vào:

 các triệu chứng,

 khám cơ thể trực tiếp,

 xét nghiệm phân tích chất dịch do TTL tiết ra,

 siêu âm với đầu dò trong hậu môn, và chụp hình CT, trong các trường hợp mưng mủ (áp-xe)

Viêm TTL cần được phân biệt với:

Trang 39

21 Bệnh Giang Mai

BS Nguyễn Quyền Tài

Giang Mai là một bệnh do quan hệ tình dục, rất dễ lây truyền Nếu

không được điều trị, bệnh Giang Mai tiến triển qua 3 thời kì:

1 Thời kì thứ nhất: từ 3 đến 4 tuần sau khi nhiễm vi trùng

2 Thời kì thứ hai: 4 đến 8 tuần sau đó

3 Thời kì thứ ba: 1 đến 30 năm sau

Giữa thời kì thứ 2 và thời kì thứ 3 là Thời kì Tiềm ẩn: người nhiễm

vi trùng trong thời kì này không có triệu chứng hay biểu hiệu gì

Thời kì này có thể kéo dài 1 năm đến vài chục năm

Những thương tổn ở da trong thời kì 1 và 2 tự nhiên lành sau vài

tuần hay vài tháng Bệnh rất dễ lây nhưng cũng có thể trị dứt trong 2

thời kì này Trong thời kì thứ 3, bệnh gây tổn hại đến tim, não, tủy

sống, mắt và những cơ quan khác, thuốc kháng sinh không còn có

thể trị dứt được và người bệnh có thể mạng vong

Nguyên nhân

 Bệnh do nhiễm vi trùng Treponema Pallidum do quan hệ tình

dục, cả âm đạo, miệng và hậu môn

 Người mẹ bị nhiễm khi mang thai có thể truyền bệnh cho thai

nhi

Triệu chứng

1 Thời kì thứ nhất: vết lở ở nơi vi trùng xâm nhập vào cơ thể,

ở chỗ da bị trầy sướt, thường ở dương vật, âm đạo, cổ tử

cung, vùng hậu môn hay miệng

2 Thời kì thứ hai: nổi ban ở lòng bàn tay, bàn chân, nổi về xám

ở miệng, nóng sốt nhẹ, nhức đầu, đau họng, nổi hạch ở cổ,

nách, bẹn (háng)

3 Thời kì thứ ba: mất thăng bằng, mất kiểm soát bọng đái, đau

nhức dữ dội xảy đến đột ngột, mất cảm giác ở chân, tê liệt,

liệt dương, thay đổi tánh tình, giảm trí nhớ, điên loạn, mù

mắt, suy tim, sung huyết

Định bệnh

Định bệnh dựa vào

 Bệnh sử và khám cơ thể trực tiếp

 Xét nghiệm máu để tìm kháng thể chống lại vi trùng

 Xem với kính hiển vi chất dịch ở những vết tổn thương ở da

 Xét dịch não tủy để định bệnh ở hệ thần kinh trong thời kì thứ 3

Những xét nghiệm để định bệnh Giang Mai

 Xét nghiệm VDRL (Venereal Disease Research Laboratory) là một xét nghiệm sàng lọc VDRL trở nên (+) 1-2 tuần sau khi vết lở lóet ở da phát hiện Nếu (+) thì cần làm thêm xét nghiệm FTA-ABS để xác định bệnh Giang Mai Xét nghiệm VDRL có thể (-) trong giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của bệnh Giang Mai Xét nghiệm này trở nên (-) một thời gian sau khi trị dứt bệnh Tuy nhiên, trong một số trường hợp, VDRL (+) có thể tồn tại suốt đời

 Xét nghiệm RPR (Rrapid Plasma Reagin) cũng là một xét

nghiệm sàng lọc, để tìm kháng thể trong máu của người nhiễm

vi trùng Giang Mai RPR và VDRL có thể (+) trong 78-86%

các trường hợp bệnh Giang Mai ở Thời kì 1, 100% trong Thời

kì 2 và 95-98% trong Thời kì 3 Nếu xét nghiệm RPR (+) thì cần làm thêm xét nghiệm FTA-ABS để phân biệt bệnh Giang Mai với những bệnh khác (như HIV, bệnh Lyme, một số bệnh

Viêm Phổi, bệnh Sốt Rét, bệnh Lupus) Xét nghiệm RPR cũng

được dùng để theo dõi kết quả của việc trị liệu bệnh Giang Mai Sau khi điều trị, lượng kháng thể chống Giang Mai sẽ giảm xuống Nếu lượng kháng thể không giảm hoặc gia tăng thì có nghĩa là bệnh vẫn tồn tại

 Xét nghiệm FTA-ABS (Fluorescent Treponemal Antibody

ABSorption test) FTA-ABS dùng để xác định bệnh Giang Mai sau khi xét nghiệm RPR hoặc VDRL có kết quả dương (+) hoặc nếu RPR hay VDRL có kết quả âm (-) nhưng bác sĩ còn nghi ngờ bệnh Giang Mai ở trong thời kì 1 hay 3 Kết quả FTA-ABS (-) có nghĩa là không bị nhiễm vi trùng Giang Mai

và chưa từng bị bệnh Giang Mai Kết quả FTA-ABS (+) có nghĩa là bị nhiễm bệnh Giang Mai FTA-ABS có thể (+) trong một số trường hợp bệnh Ghẻ Cóc (yaws) hay bệnh Lupus

Ngày đăng: 12/11/2016, 11:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Lipít - Y học thường thức Các bệnh
ng Lipít (Trang 5)
Hình thể đặc thù. - Y học thường thức Các bệnh
Hình th ể đặc thù (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN