1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Giá trị của tập truyện ngắn Đảo

72 625 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,09 MB
File đính kèm LUAN VAN - DAO.zip (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đạt điểm B+

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

So với các nền văn học của khu vực khác trong nước như miền bắc, tây nguyên,… thì văn học Đồng bằng sông Cửu Long ra đời và khẳng định vị trí của mình khá muộn Tuy nhiên gần đây văn học phía Nam cũng đã có những sự phát triển đáng

kể Sự chuyển mình rõ rệt ấy là nhờ vào sự nỗ lực cũng như tài nghệ của những cây bút dám đổi mới, dám đương đầu với thời cuộc Trong số đó không thể không kể đến những đóng góp của những nữ nhà văn cá tính và đầy sáng tạo Trong ba mươi năm gần đây vị trí của họ ngày càng được khẳng định, họ đã tạo nên những tiếng vang lớn trên văn đàn Đồng bằng sông Cửu Long Những trang viết mang tính thời sự, phản ánh hiện thực về đề tài gia đình, xã hội trong thời kỳ mới đã tạo được sức ảnh hưởng mạnh

mẽ Những cái tên đã khá quen thuộc với đọc giả như: Dạ Ngân, Lâm Thị Mỹ Dạ, Đinh Thị Thu Vân,… và gần đây nhất là Nguyễn Ngọc Tư – một cái tên làm nên hiện tượng

Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ tuổi, chỉ mới xuất hiện trong khoảng 15 năm trở lại đây Tuy vậy ngay từ những bước đi đầu tiên nhà văn đã định hình cho mình một phong cách riêng, khó nhầm lẫn Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Ngọc

Tư ra đời đều được mọi người đón nhận, quan tâm và thậm chí tạo nên những làn sóng tranh luận trên văn đàn Gắn liền với làn sóng dư luận suốt một thời gian dài, truyện

ngắn Cánh đồng bất tận có thể xem là một tác phẩm đáng chú ý, từng được đánh giá là

thiếu tính tư tưởng, giáo dục xã hội, giáo dục con người và những câu từ phản ánh nặng nề Nhưng về sau lại được chấp nhận, bởi sự nhìn nhận của độc giả về giá trị thật

sự của tác phẩm Những điều tác giả đưa lên trang sách không phải là sự hư cấu thái quá mà là sự trăn trở của tác giả về hiện thực xã hội đời thường Dường như, chính cuộc tranh luận trái chiều này đã tạo một nên một sự thay đổi đáng kể cho văn chương đồng bằng sông Cửu Long

Văn của cây bút trẻ này rất “thật”, nó dễ đọc, dễ hiểu, dễ cảm nhận và không hề kén người đọc Nó không chỉ là cảm hứng của riêng Nguyễn Ngọc Tư mà dường như khi soi vào đó người đọc phát hiện thấy mình đang ẩn khuất ở góc nào đó trong những

Trang 2

trang viết Với một bút lực dồi dào cùng tinh thần nỗ lực không ngừng Nguyễn Ngọc

Tư viết rất đều đặn, liên tục cho ra đời những đứa con tinh thần mang nhiều giá trị

Năm 2014, tập truyện ngắn Đảo ra đời, tuy không tạo được sức ảnh hưởng như

Cánh đồng bất tận, nhưng đã khẳng định được cái mới trong tư duy sáng tác của mình

Về mặt nội dung, mười bảy câu chuyện trong Đảo là mười bảy bức tranh xã hội hiện

đại về con người, những thân phận nhỏ bé nhưng lại có sức tác động mạnh mẽ đến tâm

tư, tình cảm và những góc khuất trong lòng mỗi con người Đảo quả thật là một nơi

khiến người ta cô độc, bởi sự thật tàn nhẫn mà Nguyễn Ngọc Tư đã dám nhìn nhận và phơi bày

Việc nghiên cứu giá trị tập truyện ngắn Đảo này cũng là cách để chúng tôi có

thể nhìn nhận lại những giá trị thật của cuộc sống, những triết lí nhân sinh về cách sống và tồn tại Có thể nói, là một đọc giả trung thành của Nguyễn Ngọc Tư, khi đến

với Đảo tôi thật sự đã bị cuốn vào những trang viết Với phương ngữ Nam bộ thân

quen, mộc mạc và sức gợi của ngôn ngữ như vẽ ra những bức tranh cuộc sống Có thể khẳng định với lòng yêu mến văn chương và con người Nguyễn Ngọc Tư, cùng sự khâm phục tài năng thiên phú mà chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu trong

luận văn là “Đặc điểm tập truyện ngắn Đảo của Nguyễn Ngọc Tư ” Qua đó, chúng

tôi hi vọng sẽ khám phá thêm những cái nhìn mới và sâu sắc hơn về giá trị mà tập truyện ngắn mang lại cũng như có cái nhìn toàn diện về quan niệm sáng tác của tác

giả Hơn nữa, tập truyện Đảo là một ấn phẩm mới xuất bản gần đây, nên chưa có sự

quan tâm, nghiên cứu một cách đầy đủ Thế nên, thiết nghĩ nghiên cứu về tập truyện này là vấn đề cần thiết

2 Lịch sử vấn đề

Được nhìn nhận là một cây bút trẻ, Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành một hiện tượng trong đời sống văn học Việt Nam kể từ năm 2000 và trở thành cái tên quen thuộc cho những đầu đề trong các cuộc tranh luận về văn chương Có thể thấy, những bài viết về Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện với tần suất cao trên các trang từ báo viết đến

báo mạng Từ khi Ngọn đèn không tắt ra mắt độc giả, Nguyễn Ngọc Tư đã chiếm được

tình cảm của đọc giả bởi giọng văn mượt mà nhẹ nhàng, mộc mạc của vùng sông nước Cửu Long Để rồi tiếp tục thành công với những truyện ngắn tiếp theo, tuy đề tài

Trang 3

không mới nhưng lại thu hút bởi lòng nhân hậu và yêu thương con người của Dường

như Cánh đồng bất tận đã để lại ấn tượng quá sâu đậm, bởi đây là tác phẩm để lại

nhiều ý kiến trái chiều nhất Chính sự kiện này đã khoấy động văn đàn Việt Nam bấy giờ, cũng như mở ra nhiều hướng đi mới cho sự nghiệp sáng tác văn chương Việt Nam

Dường như, Nguyễn Ngọc Tư được xem là hiện tượng nên rất được quan tâm

từ nhiều phía Những bài viết về tác giả có thể xuất phát từ nhiều cấp độ khác nhau người viết có thể là nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học, cũng có thể là một độc giả yêu thích văn của Nguyễn Ngọc Tư Thế nhưng, ý kiến thì rất đa dạng, có người khen

và cũng có những người phản đối kịch liệt quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc

Tư Lướt qua một số bài viết về Nguyễn Ngọc Tư để hiểu thêm về tình hình nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tư, rõ ràng việc nghiên cứu về nhà văn trẻ này hiện nay còn ít ỏi và chưa có hệ thống Đa phần các bài viết đều được đăng tải trên các báo, chưa có một công trình nghiên cứu chính thức được in thành sách Ngoài ra, đa phần các bài viết đều trên tinh thần giới thiệu một tập truyện của Nguyễn Ngọc Tư vừa xuất bản, hay phê bình một truyện ngắn cụ thể nào đó Thế nên việc xác định chất lượng nội dung và

độ tin cậy khá khó khăn trong quá trình nghiên cứu Các bài viết gần như là khá cũ, không thể bắt kịp thông tin mới, những bài viết về tập truyện ngắn “Đảo” dường như

là vô vọng Ngay cả trang website “Nguyễn Ngọc Tư – Đặc sản miền Nam” gần như tổng hợp đầy đủ các bài viết về Nguyễn Ngọc Tư do Giáo sư Trần Hữu Dũng thiết kế, nay cũng đã đóng cửa không sử dụng được

Tuy nhiên, với luận văn này trong quá trình khảo sát tài liệu tham khảo, chúng tôi sẽ có sự lựa chọn một cách hệ thống, thấu đáo để làm rõ vấn đề Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ đi sâu vào khám phá những khía cạnh mới của của tập truyện để tiếp tục khẳng định những đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư cho nền văn học Việt Nam

Trên trang Đại Đoàn Kết phóng viên Hoàng Thu Phố có phỏng vấn Nguyễn

Ngọc Tư về tập truyện mới xuất bản: “Trong "Đảo”, toàn những truyện ngắn trên

dưới 2.000 chữ được ví như "những bài thơ viết bằng văn xuôi” Cố tình viết ngắn, nén chặt là cách Nguyễn Ngọc Tư đang muốn thể nghiệm mình, hay tìm độc giả giữa thời bận rộn? Nguyễn Ngọc Tư trả lời: - Là một bài tập nén và căng, cố gắng không

Trang 4

để chữ thừa thãi, sao cho mỗi dòng, mỗi câu đều có thông tin Tôi hơi sợ loại văn

"thím Hai đi đâu đó?/ Tôi đi cắt cỏ cho bò/ Bãi cỏ trên đồi đó hả?/ Ừ, dạo này có mưa nên cỏ tốt quá chừng?”, cứ vậy mà hết trang Hồi mới bắt đầu bài tập, tôi vẫn còn nhớ những truyện ấy làm tôi hào hứng như thế nào, đến nỗi còn tuyên bố với bạn bè, sau này không viết tản văn nữa (cười) Dĩ nhiên, viết ngắn cũng là con dao hai lưỡi, chém nhanh quá sẽ có người đọc không kịp đau.” [37]

Theo dõi những tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư để rồi nhận thấy nét buồn có ngay cả trong giọng văn, sư bi quan lan tỏa trong từng câu chuyện Bởi chính

Nguyễn Ngọc Tư cũng cho rằng “Chỉ cần ba chữ là ra tui rồi Đó là đen, buồn và hơi

khùng!” [35] Xuất hiện trong tập truyện ngắn Đảo lần này, hơi thở của Nguyễn Ngọc

Tư trở nên mới mẻ Bởi lẽ, Nguyễn Ngọc Tư đã không đi vào “Cánh đồng bất tận” ấy,

đã không lạc mình ở mãi nơi đó, Nguyễn Ngọc Tư đã từ bỏ “Cánh đồng” để đến

“Sông” rồi ra tận “Đảo” Nguyễn Ngọc Tư tâm sự : “Tôi đã bỏ lại cánh đồng rồi Bi

kịch của tôi là khi nghĩ đến Nguyễn Ngọc Tư, người ta cứ nghĩ đến “Cánh đồng bất tận”, mặc dù tôi đã “bỏ” chỗ đó và đã đi rất xa rồi, tôi đã viết những cái khác Nhưng bạn đọc thì cứ ngồi ở đấy mong chờ tôi, người ta cứ muốn tôi phải viết giống như

“Cánh đồng bất tận” Điều này cũng làm tôi hơi buồn, như một dòng sông mà không chảy được Cây đến mùa thì thay lá, quả đến mùa thì chín, rụng Mà mọi người cứ muốn tôi là thứ quả nhựa xanh mãi, treo lúc lỉu trên cành thì cũng khổ tâm Đối với nhà văn, cái lớn nhất là vận động và đi tới, bỏ hào quang lại sau lưng và tìm kiếm những điều mới mẻ với mình.” [34]

Có thể thấy rằng, dù viết thể loại nào, để tài nào thì Nguyễn Ngọc Tư vẫn luôn đặt cảm xúc lên hàng đầu, đó là cách mà Nguyễn Ngọc Tư làm cho tác phẩm của mình luôn chân thực và giàu hiện thực Mà có được cảm xúc thật nào phải dễ, nó chỉ có thể xuất phát từ thực tiễn và phải thật sự hòa nhập với đời sống Thế nên, cảm xúc của Nguyễn Ngọc Tư là lấy từ cuộc sống

Từ khi tập truyện ngắn Đảo ra đời cho đến nay, tác phẩm đã được đón nhận như

một sáng tạo bằng sự dày công khổ luyện của tác giả Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có những ý kiến, đóng góp từ nhiều phía nhằm giúp đọc giả có cái nhìn tòan diện hơn về

tác phẩm Có người cho rằng:”Ngôn ngữ địa phương, đậm chất Nam Bộ là một thế

Trang 5

mạnh của Ngọc Tư Tuy nhiên ở các truyện xuất bản trước đây, cũng như trong tập truyện Đảo, Ngọc Tư đã không ý thức được rằng thế mạnh ấy luôn là con dao hai lưỡi, nếu không biết tiết chế sẽ có khi cứa vào tay mình và cứa lan sang cả người khác, làm người đọc cảm thấy rất khó Nguyễn Ngọc Tư, nhất là đối với người miền Bắc, khi phần lớn tiếng địa phương đã được Việt hóa từ hàng chục năm nay Cũng vì thế mà sự hấp dẫn của những câu chuyện trong Đảo của Ngọc Tư giảm đi đáng kể.” [29]

Nói về nội dung của tập truyện, ta có thể nhận thấy độ sâu của nó Không chỉ được trau chuốt về hình thức mà nội dung từng truyện ngắn cũng được người viết đặt

cái tâm của vào Thế nên, có ý kiến “tập truyện này số chữ ít đến mức không thể ít hơn

được nữa, nhưng dường như tiếng vọng của hồn cốt câu truyện lại dài rộng ra trông thấy”[29]

Như vậy, với những luồng ý kiến khác nhau, chúng tôi cần có những nhận định tỉnh táo, tìm hiểu khai thác tác phẩm một cách cặn kẽ hơn Mặc dù, những tập hợp về Nguyễn Ngọc Tư còn ít ỏi nhưng chúng tôi tin tưởng sẽ có được những hướng đi đúng

đắn và cái nhìn toàn diện vể tập truyện ngắn Đảo Từ đó, rút ra được những giá trị của

tác phẩm và những đóng góp của tác giả cho văn chương Việt Nam

sẽ đóng góp thêm những hiểu biết của mình về thành tựu sáng tác của Nguyễn Ngọc

Tư ở thể loại truyện ngắn

Trang 6

tập truyện ngắn của tác giả Nguyễn Ngọc Tư như: tập truyện Cánh đồng bất tận, tập truyện Gió lẻ và 9 câu chuyện khác nhằm so sánh đối chiếu một số vấn đề để tìm ra nét mới trong tập truyện Đảo

5 Phương pháp nghiên cứu

Bằng việc đặt tác phẩm làm trọng tâm nghiên cứu, chúng tôi đi vào khảo sát toàn bộ các tác phẩm trong tập truyện ngắn Để rút ra những vấn đề cốt lõi, chúng tôi

đã ghi nhận những thông tin, đặc điểm, dữ liệu cần thiết Tìm hiểu những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tập truyện, từ những đặc điểm cơ bản trên chúng tôi sẽ rút

ra được giá trị tạo nên cho toàn bộ tập truyện

Nhằm giúp cho bài viết có sức thuyết phục, chúng tôi sử dụng các phương pháp: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh

Vận dụng phương pháp phân tích tổng hợp vào nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát từng tác phẩm, chú ý đến các yếu tố chính để nêu bật nội dung và nghệ thuật của các truyện ngắn Rồi từ đó, chúng tôi rút ra những luận điểm chính và nhận định chung

Bằng phương pháp thống kê chúng tôi khảo sát và xử lý các số liệu trong quá trình nghiên cứu tác phẩm Nhằm khái quát hóa lên thành những đặc điểm riêng trong

hệ thống các tác phẩm

Bên cạnh đó còn sử sụng phương pháp so sánh, để có thể làm nổi bặc phong cách sáng tác của tác giả Ở một mức độ nhất định, phương pháp này sẽ hổ trợ nhấm mạnh và tạo nên sự nỗi bật ở một số đặc điểm nào đó trong bài nghiên cứu Người viết

Trang 7

sẽ có sự so sánh giữa tác giả với một số tác giả khác như: Dạ Ngân, Nguyễn Kim Châu,…ở từng vấn đề có liên quan để thấy rõ đặc tính riêng của Nguyễn Ngọc Tư

Song song, chúng tôi còn sử dụng các thao tác bình giảng, chứng minh, trích dẫn, một cách thường xuyên, hợp lý trong suốt quá trình giải quyết vấn đề Từ đó, rút ra được vấn đề cần nhật xét, khái quát và có sự đúc kết các giá trị của tập truyện,

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Truyện ngắn

1.1.1 Khái niệm

Có ý kiến cho rằng truyện ngắn là thể loại văn học "một lời mà thiên cổ, một

gợi mà trăm suy"[32] Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương

diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa Về mặt thể loại, truyện ngắn phải có tính cô đọng cao như nhà văn

X Antônốp cho rằng: “Trước mắt nhà văn viết truyện ngắn là vấn đề rất phức tạp

Mọi câu chuyện càng phức tạp hơn, bởi lẽ truyện ngắn phải …ngắn ! Chính việc truyện ngắn phải ngắn khiến nó tự phân biệt một cách dứt khoát và rành rọt bên cạnh truyện vừa và tiểu thuyết”[43]

Trong lịch sử văn học, truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn Truyện ngắn hiện đại mang dáng vấp một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng, thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người

Nguyễn Thanh Hùng cho rằng: “Truyện ngắn là sự phá vỡ chiều hướng êm ả và sự cân

bằng vốn đang trở thành vô nghĩa Nó đẹp như một tiếng nổ của ánh sáng”[32]

Có nhiều quan điểm của cả trong và ngoài nước nhìn nhận về thể loại truyện

ngắn, theo K Pauxtopxki: “Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn,

trong đó cái không bình và cái bình thường hiện ra như một cái không bình thường”[12]

Theo Lại Nguyên Ân biên soạn trong 150 thuật ngữ văn học nhận định:

“Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cở nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết đến các phương diện của đời sống con người và xã hội, Nét nổi bậc của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền mạc không nghỉ”[1; ]

Bên cạnh đó Trần Đình Sử cũng cho rằng: “Truyện ngắn là hình thức ngắn của

tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức

Trang 9

truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần với những bài kí ngắn Nhưng thực ra không phải Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung của thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự, hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể kể cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời.”[15; ]

Truyện ngắn không chỉ nhắc để tái hiện cuộc sống xã hội mà những vấn đề chính trị, triết học đến đạo đức làm người đều được tái hiện lên với cái dáng vẻ chân thực và sinh động Hơn cả tiểu thuyết, truyện ngắn có khả năng sống và chớp lấy sự thật, những sự kiện đặc biệt, độc đáo nổi lên như một hiện tượng trong đời sống Chính

vì thế truyện ngắn đã giảm thiểu tối đa sự lòng thòng, dong dài của luật nhân quả Giáo

sư văn học người Pháp D Grônôpxki trong sách Đọc truyện ngắn viết: “Truyện ngắn

là một thể loại muôn hình nghìn vẻ biến đổi không cùng Nó là một vật biến hoá như quả chanh của Lọ Lem Biến hoá về khuôn khổ ba dòng hoặc ba mươi trang Biến hoá

về kiểu loại, tình cảm, trào phúng, kỳ ảo, hướng về biến cố có thật hoặc tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng túng Biến hoá về nội dung thay đổi vô cùng tận… Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu quả, vì nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt.” [23;79] Cũng vì lẽ đó

mà trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Truyện ngắn thường gây cho người đọc một cái nút, một khúc mắc cần giải đáp Cái nút đó càng ngày càng thắt lại đến đỉnh điểm thì đột ngột cởi tung ra, khiến người đọc hả hê, hết băn khoăn

Mỗi truyện ngắn là một số phận, một trường hợp khác nhau về những nhân vật

mà tác giả tạo nên Như truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn của Dạ Ngân nói đến sự bế

tắc của một hạnh phúc gia đình tan vỡ, họ đã từng yêu giữa hai nhân vật Đoan và

Nhiêu Còn trong truyện ngắn Cải ơi của Nguyễn Ngọc Tư chỉ vỏn vẹn ba nhân vật

cũng tạo nên một tình huống truyện Ông Tư lầm lũi, bất chấp mọi thứ để đi tìm đứa con riêng của vợ tên Cải, anh Thàn và Diễm Thương yêu thương nhau nhưng vì chữ nghèo, chỉ vì môn đăng hộ đối mà đành tan tác Sự yêu thương của những tấm lòng đơn giản mà chân thật, đùm bọc, dắt díu nhau… Để rồi mọi thứ chẳng đi về đâu, vỡ

òa trong một chữ nghẹn Hoặc như truyện ngắn Gió trên đồng của Nguyễn Kim Châu,

Trang 10

hai nhân vật không tên tuổi “y” và “thị” cũng đã tạo nên cả một câu chuyện đời “Thị” thì muốn thoát khỏi sự đánh đập của tên chồng vũ phu, cô cũng chẳng cần gì ngoài một hạnh phúc thật sự Hai con người đau khổ, bó buộc trong cái vòng xoay gia đình tan vỡ, dường như muốn thoát ra để đi tìm hạnh phúc cá nhân nhưng không thể

Có thể thấy rằng, với nhiều những định nghĩa khác nhau về thể loại truyện ngắn, thế nhưng chung quy lại thì truyện ngắn vẫn mang một số điểm cơ bản Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, diễn tả một khoảng thời gian nhất định, có khi là một khoảnh khắc nhưng cũng có khi cả một cuộc đời nhân vật Với đặc trưng ngắn gọn nên truyện ngắn thường chỉ xoay quanh một chủ đề nhất định, không gian, thời gian nghệ thuật được chắ lọc, thu gọn mà vẫn liền mạch Mặc dù ngắn gọn nhưng truyện ngắn vẫn truyền tải được những giá trị, vấn đề ý nghĩa mang tầm xã hội Bên cạnh đó, cùng với sự biến đổi của của xã hội, truyện ngắn cũng có những sự phát triển và thay đổi để phù hợp với nhu cầu đọc giả theo từng giai đọan

1.1.2 Đặc điểm của truyện ngắn:

Truyện ngắn là thể loại không kén đề tài, gần như bất cứ phạm vi nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành đề tài cho những cây bút biết nhìn bằng đôi mắt của người nghệ sĩ Có thể nói, người viết có thể viết những gì họ trăn trở, muốn giải tỏa và hơn hết là truyền đạt đến mọi người quan điểm riêng nào đó của tác giả

Theo Nguyên Ngọc “Sở dĩ truyện ngắn ngắn, sỡ dĩ người ta có thể viết ngắn, là

vì người ta đã biết quá nhiều Quá nhiều đến mức có thể tướt bỏ những gì phù phiếm, không cốt lõi, không quan trọng nhất Phải có rất nhiều nguyên liệu thì mới có thể chưng cất Truyện ngắn vì nó là tác phẩm nghệ thuật chưng cất, chứ không phải là nguyên liệu thô.”[14;14] Thế nên truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình

huống, một chủ đề nhất định và mang tính chủ chốt Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết

Nghiên cứu về truyện ngắn các nhà nghiên cứu thường xoáy vào các bình diện chính : dung lượng, tình huống truyện, nhân vật, ngôn ngữ… để khái quát thành đặc trưng cơ bản

Trang 11

Maugham cho rằng: “truyện ngắn cần phải viết sao cho người ta không thể bổ

sung thêm vào đó chút gì cũng không thể rút bớt ra chút gì”[27] Như vậy, rõ ràng

dung lượng là một thành tố quyết định nhân dạng cho thể loại truyện ngắn Truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, chủ yếu được viết bằng văn xuôi Tự nó đã hàm chứa và truyền tải một lượng thông tin vừa phải nhưng sâu sắc trong một hình thức nhỏ xinh, gọn ghẽ Rõ ràng ta có thể phân biệt đặc trưng về dung lượng giữa truyện ngắn và tiểu thuyết thông qua số lượng chữ trong tác phẩm Tuy nhiên, vẫn có thể so sánh ngang bằng hai thể loại này về mặt nội dung, bởi khả năng truyên tải và phản ánh vấn đề là như nhau Nếu tiểu thuyết diễn tả cả một quá trình thì truyện ngắn

đi sâu vào một khoảnh khắc Có thể nói truyện ngắn như một vi mạch điện tử, nó có thể dồn nén mọi thứ trong một vài trang giấy, nhưng ở đó là cả một cuộc đời, một số phận, có khi là cả một thời đại Những dẫn chứng cơ bản cho quan điểm này có thể thấy ở những tác giả nổi tiếng về truyện ngắn của nước ta như Nguyễn Công Hoan, Nam, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Trang Thế Hy,…

Về mặt tình huống truyện, được xem là hạt nhân của một truyện ngắn Có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của tác phẩm, mất tình huống truyện thì nó có thể trở thành tùy bút, tản văn, bút ký,… hay thứ gì khác nhưng ắt hẳn không còn là truyện

ngắn Theo Chuyên đề Truyện ngắn của Chu Văn Sơn: “Về tính chất, có thể thấy

truyện ngắn có ba dạng chính, bởi chứa đựng ba dạng tình huống truyện căn bản: tình huống hành động, tình huống tâm trạng, tình huống nhận thức” [38].Do truyện ngắn

có một thời gian, không gian hạn chế, kết cấu của truyện ngắn không thể chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà phải hình thành theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng để đảm bảo độ sâu của tác phẩm

Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Các nhân vật có thể xem như

là hiện thân của tác giả, ở đó toát lên được phong cách riêng và cả quan điểm sáng tác của người viết

Trang 12

1.2 Vài nét về Nguyễn Ngọc Tư

1.2.1 Cuộc đời

Nguyễn Ngọc Tư, bút danh là Hoài An Sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Nguyễn Ngọc Tư sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, cả gia đình bên nội, ngoại đều tham gia kháng chiến chống

Mĩ Cha là ông Nguyễn Thái Thuận, hiện là một cán độ công đoàn Mẹ là bà Mạc Thị Anh, một nông dân cần cù, Nguyễn Ngọc Tưu khó xuất thân từ dòng dõi họ Mạc ở Hà Tiên và có quan hệ họ hàng với Mạc Cửu

Tuổi thơ của Nguyễn Ngọc Tư gắn với những điều mộc mạc, bình dị của thôn quê Nam Bộ Tan trường, về đến nhà thì Nguyễn Ngọc Tư phải ra luống cần, mồng tơi

để hái rau đem ra chợ bán, là những cuộc đánh nhau với bọn con trai chỉ vì dành mấy trái xoài Nguyễn Ngọc Tư xin mang về cho ngoại Ở độ tuổi ăn học vui chơi mà Nguyễn Ngọc Tư sớm tối lặn hụp với đám rau, hầu như lúc nào trên tay cũng có dấu xước vì đi cắt rau

Năm Nguyễn Ngọc Tư học lớp chín, gia đình ngày càng khó khăn, ông ngoại bị bệnh liệt giường Thế nên, Nguyễn Ngọc Tư phải nghỉ học để để phụ giúp gia đình trong cuộc mưu sinh Dường như, chính khoảng thời gian nghèo khó, chật vật lại chính

là cơ hội để Nguyễn Ngọc Tư được tiếp xúc, được trải nghiệm cuộc sống Để rồi những dư vị đời thường ấy lại bước vào trong những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư Thế là ngày xuống ao, ra liếp rẫy, tối về Nguyễn Ngọc Tư lại viết say sưa Cha mẹ Nguyễn Ngọc Tư luôn là nguồn cổ động Nguyễn Ngọc Tư trên con đường viết lách,

cha Nguyễn Ngọc Tư động viên: “Nghĩ gì viết nấy, viết điều gì con đã trải qua” Năm

1997, Nguyễn Ngọc Tư nộp hồ sơ vào tạp chí Văn Nghệ Bán Đảo Cà Mau thử việc Năm ấy, Minh Hải tách thành hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau, đơn vị thiếu nhân sự, Nguyễn Ngọc Tư được chọn vào làm văn thư và học việc phóng viên Như cá về với nước, Nguyễn Ngọc Tư lại viết từ viết tin, viết bài, đến viết truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư lăn lộn trên các mật trận tin tức, xông xáo đi thực tế đến từng nơi xa xôi dù là bão

lũ Chính những chuyến đi ấy, Nguyễn Ngọc Tư đã thấy và thấu hiểu nhiều hơn Dường như nghị lực tiềm tàng trong con người đã đưa Nguyễn Ngọc Tư trở thành một nhà văn trẻ ở vùng đất mũi cuối cùng của Tổ quốc

Trang 13

Nguyễn Ngọc Tư đang sống và làm việc tại Cà Mau cùng chồng là một thợ kim hoàn và hai đứa con trai Hoàn cảnh sống đã hình thành trong Nguyễn Ngọc Tư một tư duy sáng tác nghệ thuật và gia đình bé nhỏ hiện tại đã tạo cho Nguyễn Ngọc Tư một nền tảng vững chắc về tinh thần và điều kiện vật chất giúp cho con đường văn chương của Nguyễn Ngọc Tư ngày càng đi xa và phát triển Hiện tại Nguyễn Ngọc Tư là thành viên Hội nhà văn tỉnh Cà Mau, nhà báo, cộng tác viên của thời báo Kinh tế Sài Gòn

1.2.2 Sự nghiệp văn chương

Nguyễn Ngọc Tư chỉ mới xuất hiện trên văn đàn từ năm 1996 Có thể nói Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn khá trẻ về tuổi đời và cả tuổi nghề Bén duyên với văn chương như một cái duyên, nhìn vẻ bên ngoài của Nguyễn Ngọc Tư, khó có ai mà đoán được những gì Nguyễn Ngọc Tư viết Nguyễn Ngọc Tư là một con người đơn

giản về ngoại hình, tính cách lẫn cách hành văn Đối với Nguyễn Ngọc Tư “viết là

viết, bất kỳ lúc nào, không sắp đặt, không bố cục, cứ thế đoạn sau cuốn theo đoạn trước”[46] Thế nên, dõi theo từng trang văn của Nguyễn Ngọc Tư là sự gần gũi như

chính đời thường ăn nói, đi đứng thô thô kệch kệch của Nguyễn Ngọc Tư - một người

phụ nữ trẻ, dung dị nhưng đầy bản lĩnh Nguyễn Ngọc Tư tâm sự: “Cái mà tôi cảm

nhận rõ nhất là tôi dã vượt qua được chính mình, sau một hai năm è ạch, đứng một chỗ Thấy mình cũng có lúc lóe lên trên nền trời cũng có nhiều ngôi sao chợt lóe sáng Nhưng không hề gì, những vì sao không thay thế được cho nhau Và tôi hài lòng với chỗ đứng khiêm tốn của mình Còn văn học đồng bằng sông Cửu Long đi, giống như xưa nay chín dòng sông vẫn bền bỉ chảy…”[26;171] Nguyễn Ngọc Tư sống bình lặng

với gia đình nhỏ, và sống với nghiệp văn chương trong tiếng ồn ào của chợ búa, của tàu thuyền, của tiếng đời Chính nơi đây cũng đã cho Nguyễn Ngọc Tư những lời văn ngọt ngào nhưng thấm đẫm những vất vả của mọi kiếp người

Nguyễn Ngọc Tư vào nghề với tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Đổi thay được

đăng trên tờ báo tỉnh, đã tạo cho Nguyễn Ngọc Tư một cú hích, dẫn bước Nguyễn Ngọc Tư vào con đường cầm bút, mà ngay cả Nguyễn Ngọc Tư cũng không hề hay

biết Đến năm 2000, với truyện ngắn Ngọn đèn không tắt Nguyễn Ngọc tư đã đoạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II, do NXB Trẻ, báo Tuổi Trẻ và Hội

Nhà văn TP Hồ Chí Minh phát động Tác phẩm này tiếp tục nhận được Giải B của Hội

Trang 14

nhà văn Việt Nam năm 2001, Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn Học- Nghệ Thuật Việt Nam, năm 2001 Đặc biệt, năm 2003, Nguyễn Ngọc Tư

vinh dự được Trung Ương Đoàn tặng giải thưởng “Mười nhà văn trẻ xuất sắc tiêu biểu

của năm 2002” Ba năm sau, với truyện ngắn Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã

nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (2003) Tháng 10/2008 tập truyện ngắn

mang tên Cánh đồng bất tận và truyện ngắn Cuối mùa nhan sắc do Hội Nhà văn Việt

Nam đề cử, đã được dịch sang tiếng Anh và nhận Giải thưởng văn học ASEAN tại Thái Lan Với những thành công mà Nguyễn Ngọc Tư đạt được, đã để lại ấn tượng sâu sắc cho bạn đọc trong và ngoài nước

Hiện tại, nhà văn đang thử sức ở lĩnh vực thơ, bài thơ đầu tiên được in trên báo Đà Nẵng, đến chùm thơ Nguyễn Ngọc Tư in trên tạp chí thơ của Hội nhà văn Năm 2013,

Nguyễn Ngọc Tư cho ra đời tập thơ Chấm đánh dấu một chặn đường

Các tác phẩm chính của Nguyễn Ngọc Tư:

Ngọn đèn không tắt (2000)

Ông ngoại (2001)

Biển người mênh mông (2003)

Giao thừa (tập truyện ngắn, 2003, tái bản 2012)

Nước chảy mây trôi (tập truyện ngắn và ký, 2004)

Cái nhìn khắc khoải

Sống chậm thời @ (tản văn, 2006) - đồng tác giả với Lê Thiếu Nhơn

Sầu trên đỉnh Puvan (2007)

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện ngắn, 2005)

Cánh đồng bất tận (tập truyện ngắn, 2005)

Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (tạp bút, 2005)

Ngày mai của những ngày mai (tạp bút, 2007)

Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn, 2008)

Biển của mỗi người (tạp bút, 2008)

Yêu người ngóng núi (tản văn, 2009)

Khói trời lộng lẫy (tập truyện ngắn, 2010)

Gáy người thì lạnh (tản văn, 2012)

Trang 15

Bánh trái mùa xưa (2012)

Sông (tiểu thuyết, 2012)

Gần đây, tác giả cho ra mắt hai tập truyện Đảo và Trầm Tích (cùng 3 tác giả khác)

Vẫn giọng văn buồn, đầy khắc khoải, gần gũi với đời sống thường ngày Nguyễn Ngọc

Tư sáng tác khá đều tay, lúc nào cũng là giọng văn đầy cảm xúc, ngôn ngữ chân chất, không lẫn vào đâu được Những mảnh đời trong từng câu chuyện của Nguyễn Ngọc

Tư, cứ như nỗi ám ảnh cho người đọc, họ cứ hiện hữu đâu đó trong đời sống thường ngày Mỗi trang sách của Nguyễn Ngọc Tư rất thật, đến nỗi người ta nghe được, thấy được và cảm được những gì xảy ra qua từng con chữ quê mùa, đặc sệt Nam Bộ chân phương

1.3 Sơ lược về tập truyện ngắn Đảo của Nguyễn Ngọc Tư

Xuất bản vào tháng 3 năm 2014, Đảo như một làn gió lướt qua văn đàn Nam Bộ và

để lại nhiều ấn tượng trong lòng đọc giả Tập chưa đến 150 trang, gồm 17 truyện (vì kiêng con số 17, mất hên, nên Nguyễn Ngọc Tư chỉ ghi ở bìa 4 cuốn sách có 16 truyện), phần lớn là những truyện khá ngắn, khoảng trên dưới 2.000 chữ, thậm chí có truyện chỉ trên dưới 1.000 chữ

Như lời giới thiệu của NXB Trẻ về tập truyện là “những truyện ngắn cho thấy

dường như Nguyễn Ngọc Tư đang ra khỏi hiện thực của những cánh đồng để tìm đến vùng hỗn mang tâm trí con người”[36] Đảo là một nỗi ám ảnh Người đọc sẽ phải đau

vì nỗi đau của những cuộc sống không lối thoát, sẽ đau vì thấy đó những "số phận"

Trang 16

không thể thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của cuộc đời Mỗi câu chuyện luôn là những dấu chấm hỏi, những ẩn số hững hờ về số phận, cuộc đời con người, họ sẽ đi về đâu giữa lênh đênh dòng đời

Biến mất ở thư Viên, Xác bụi, Mùa mặt rụng, Đảo, Áo đỏ bắt đèn, Bâng quơ khói nắng, Sổ lồng, Coi tay vào sáng mưa, Đánh mất cô dâu, Đường về Xẻo Đắng, Mưa qua trảng gió, Chụp ảnh gia đình,Vị của lời câm, Lưu lạc, Đi bụi, Củi mục trôi về, Tro tàn rực rỡ Là tên những câu chuyện mà nội dung của nó xoay quanh sự mất mát, tổn

thương và những cuộc tìm kiếm trong cuộc sống về tình thương, tình người, thỏa mãn những mong ước và khát khao được tỏa sáng Thật sự, những mẫu truyện của Nguyễn Ngọc Tư, tuy ngắn nhưng lại đầy sức nặng Từng con chữ tưởng chừng như nhẹ nhàng, buông lơi nhưng lại ẩn chứa đằng sau đấy là mớ hỗn độn tâm trạng con người đang chiến đấu, trong những khao khát tự do nhưng rồi lại bị trói buộc trong tư tưởng

và tuyệt vọng có khi là tận cùng “Số phận” là hai từ mà Nguyễn Ngọc Tư đã vẽ nên xuyên suốt những câu chuyện Chuyến đi vòng quanh những mảnh đời, họ với những giấc mơ muốn tự mở cánh cửa cho cuộc đời mình nhưng lại không có cách nào thoát

ra được Họ vùng vẫy để rồi tuyệt vọng, như cách họ kết thúc sự mòn mỏi, mệt nhọc

ấy

Trang 17

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TẬP TRUYỆN NGẮN ĐẢO

2.1 Nam Bộ qua góc nhìn tinh tế của Nguyễn Ngọc Tư

2.1.1 Nét đẹp của thiên nhiên và văn hóa Nam Bộ

2.1.1.1 Phong cảnh thiên nhiên

Nguyễn Ngọc Tư sinh ra và lớn lên tại Cà Mau, mảnh đất cuối trời của Tổ quốc

Vì lẽ đó mà hình ảnh vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành một phần máu thịt, ăn sâu vào tâm hồn tác giả Có thể nói, hầu hết trong các tác phẩm của tác giả đều mang âm hưởng tự hào về những giá trị văn hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long Vùng đất Nam bộ hiền hòa với hệ thống sông ngòi chằng chịt, một bộ phận lớn con người nơi đây sống dựa vào yếu tố tự nhiên này Những hình ảnh về quê hương miền Tây đã in sâu vào tâm trí mỗi người, từ cái thuở biết nhận thức thì dòng kênh trước nhà đã lặng lờ trôi, hình ảnh lớn dần theo tuổi thơ ra đồng bắt cua, ốc khi mùa mưa tới Sông nước chẳng thể tách rời người dân nơi đây, mọi hoạt động đều có thể diễn ra trên mặt sông: những chiếc xuồng êm đềm khua máy chèo, những chiếc ghe tấp nập mua bán và những ngôi nhà cất trên sông như minh chứng cho sự gắn bó máu thịt với sông

mẹ yêu thương Có lẽ vậy, mà Nguyễn Ngọc Tư lúc nào cũng mang trong mình một tâm thế viết cho sông và về sông Đọc truyện cứ ngỡ rằng Nguyễn Ngọc Tư đã thuộc làu từng dòng kênh, con rạch, những ngã năm, ngã bảy trên con sông quê hương và những mùa nước lớn ròng Từ những gì bình dị nhất như cánh đồng lúa mênh mông đến những con sông, bờ kinh, kênh rạch cũng đi vào văn chương như một lẽ tự nhiên

Trong truyện ngắn Nhớ sông phần đề từ có đoạn: “Tôi thường đứng trên Gành

Hào, nhìn về chợ nổi, ở đó có thể trông thấy một dãy ghe rập rờn xao động cả mặt sông, những cái chân vịt gác chổng lên loang loáng dưới mặt trời …Những chiều tà, chợ nổi đìu hiu bập bềnh đâu hết một vạt áo nắng vàng hoe hoe, đỏ hoe hoe”[22;118]

Đó là những gì đơn sơ mộc mạc nhất gắn liền với con người Nam bộ Tưởng chừng theo năm tháng, những hình ảnh ấy đã nhạt nhòa đi, nhưng qua lời văn nó lại tràn về

trong tâm khảm người đọc Đến với tập truyện Đảo những hình ảnh ấy cũng lại ngập

tràn những trang viết Vốn sống giữ mênh mông sóng nước nên những hình ảnh về

sông ngòi cũng hiện hữu một cách thường nhật Có khi, đó chỉ là những khúc sông im

ắng hay những dòng nước thao thiết chảy nhưng cũng khắc họa phần nào những

Trang 18

khung cảnh sông nước nên thơ Trên những dòng sông quê hương ấy, thấp thoáng hình

ảnh chiếc ghe câu, chiếc xuồng ba lá, xuống máy mang nét chân quê mộc mạc Trong truyện ngắn Đảo có đoạn miêu tả “Tiếng máy nổ của chiếc ghe câu chìm dần giữa bao

đợt sóng rã rời”[21;39] hay cách suy nghĩ của con người miền Tây dù làm gì cũng nghĩ đến

những phương tiện sông nước “Nghĩ Quý không thoải mái ở chổ đông người, nên chị lấy

xuồng máy cũ ở nhà”[21;80]

Bên cạnh đó, hình ảnh những cây cối đặc trưng của miền sông nước cũng được

chị nhắc đến Trong truyện Đường về Xẻo Đắng Nguyễn Ngọc Tư viết “Xế chiều nắng

xéo, hàng cây tràm nước đổ bóng dài xuống bãi sông”[21;80], ở đây cây tràm tác giả

nhắc tới như một thứ chẳng thể thiếu của cuộc sống, nó hiện hữu từ bao đời Ngoài cây

tràm còn lắm những thứ cây đước, cây trà, cây mắm… nó đã sống, gắn bó với cuộc

sống người dân từ bao đời nay Bao cây ngã xuống thì những mầm sống khác lại nẩy lên, vững bền, gắn bó như chính con người nơi đây Hình ảnh những loài cây thân

quen ấy còn được Nguyễn Ngọc Tư tái hiện thông qua những miền ký ức , trong Xác

Bụi có đoạn “Mấy trái vú sữa chín cây rụng…”, “ Mùi bông bần ngát con đường xóm”

gợi lại trong ta tuổi thơ với những cây bần, mà bọn con nít đu nhau giành những quả to nhất, tuy chát ngằm chẳng ngon lành như quả táo, quả lê mà cứ tranh nhau như món ngon khó bỏ Hay hình ảnh quả vú sữa chín cây ngọt lịm bị bầy chim tham mồi mổ rụng đầy quanh góc cây Cũng hình ảnh đó, Nguyễn Ngọc Tư đã biến hóa thành nỗi

ám ảnh trong cô gái quê với tình yêu chung thủy, những thứ quà thiên nhiên gần gũi cũng chính là hồi ức một thời con gái khó quên

Dường như, những cây cối ở xứ miền Nam này đều được nhớ đến và đưa vào

những câu chuyện một cách tự nhiên nhất Từ đọt dừa, ngọn trúc đến bờ cỏ dại, đám

bông lau trắng xốp hay bờ chuối cũ, có khi lại là bông son nào đó nở hoa trắng xóa mà

chẳng ai biết đó là loài hoa gì Dường như những cây cỏ, những sinh linh nhỏ bé ấy

cũng biết thân phận “Gối rơm theo phận gối rơm” như những con người nghèo khổ ở mảnh đất miền Tây này Những hình ảnh được nhắc đến thật nhỏ nhoi là cúc dại mọc

liếm lên thềm, là bậu lục bình trôi lênh đênh trên những con kênh quê mình hay đọt

muống dại cằn cõi nào đó “Rau muống đỏ eng lả ngọn trong thúng Má nói là của chị

Chiều hôm qua chị ghé nhà má mượn gạo, đội theo thúng rau muống ốm o hái dọc

Trang 19

theo những đáy mương đã cạn trơ lòng Rau mùa nắng cọng cứng đanh, hôi mủ”

[21;61]

2.1.1.2 Nét văn hóa và phong tục, tập quán Nam Bộ

Theo Lý Tùng Hiếu: “Nam Bộ hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước

và trên một vùng đất đa tộc người, văn hoá Nam Bộ có hai đặc trưng chủ đạo là đặc trưng đồng bằng sông nước và sự tiếp biến các yếu tố văn hoá của người Chăm, người Khmer, người Hoa vào văn hoá Việt trong vùng”[31] Thế nên, những nét bản sắc đẹp

về văn hóa, phong tục, của người Nam bộ xưa nay vẫn luôn gắn liền với sông nước, tín ngưỡng,… Không gian văn hóa của Nguyễn Ngọc Tư rất riêng và chẳng cầu kỳ hoa

mỹ

Từ xưa, ông cha ta có câu:

"Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm, Trời yên, bể lặng mới yên tấm lòng"

(Ca dao) Dường như, để đối phó với thiên nhiên thời tiết khắc và bảo vệ vụ mùa, sự sống của con người mà người xưa đã biết cách nhìn, nghe những thứ xung quanh để đoán

biết được hôm nay mưa nắng ra sao Anh Sáng trong truyện Đảo sống giữa hòn Trống

hoang vu không một bóng người, thế nhưng anh lại có biệt tài đoán được thời tiết mưa

gió Ngư dân đi biển tin lời anh hơn cả đài báo Người “có tật ắt có tài”, quả thế, anh

Sáng với đôi mắt mù lòa nhưng lại có cái khả năng đặc biệt phải chăng là do thiên phú

hay là kinh nghiệm sống một mình nơi đảo hoang này: “Như có một thỏa hiệp với

bóng tối, Sáng nhận từ nó những thứ cảm giác mà ông chỉ đơn giản gọi là “đánh hơi”[21;32] Chính vì thế mà không biết bao nhiêu lần anh đã cứu giúp những chiếc

ghe đi biển thoát khỏi cuộc sinh tử, thế nên mỗi tháng có tận hàng chục chiếc ghe ghé hỏi giông gió ra sao và gửi tặng anh những món quà báo đáp Và dường như việc trả

ơn người giúp đỡ mình đã trở thành một nét văn hóa truyền thống của con người nơi đây

Trang 20

Có thể thấy, trong truyện ngắn của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã đề cập nhiều đến phong tục, tập quán ở miền quê Nam bộ Nhà văn mô tả mọi thứ một cách thoáng qua,

nhẹ nhàng nhưng lại đầy đủ Đó là tục thờ cúng với “cái bàn ông thiên nằm giữa bụi

bông trang đỏ” trong truyện Sổ lồng, cái hình ảnh mà chỉ nói thôi, ta cũng tưởng ngay

đến chỗ thờ phụng ở ngoài trời, với một cây trụ có bàn để lư hương, thường đặt trong sân nhìn thẳng vào chính giữa nhà Quanh bàn thờ là những bụi bông trang đỏ rực, một loại bông chỉ dành để thờ cúng vào ngày rằm, ngày lễ Ngoài ra chị còn nói về cái đám

cưới quê trong truyện Đánh mất cô dâu: “cái rạp cưới thơm phức nhựa cây, cổng vòng

nguyệt giắt đầy trái và lá đủng đỉnh mà lát nữa cô dâu chú rể sẽ đứng đó cười toe chụp ảnh Ngang qua vài mâm nhậu họ đang là đà ca vọng cổ, mình đi vô gian bếp oi khói cùng với tiếng nói cười, mùi hành tỏi”[21;72] Dường như, chỉ có miền Tây mới

có cái cổng rạp cưới làm bằng đủng đỉnh – một thứ quà thiên nhiên Chỉ có nơi đây tiếng vọng cổ ngọt ngào cất lên nghe mới da diết, xót xa và “mùi” mẫn Và những

phong tục rước dâu, đám đãi bạn, như những hồi ức nhẹ nhàng về mùa cưới miền

“Con người có tổ, có tông

Như cây có cội, như sông có nguồn”

(Ca dao)

Trong truyện ngắn Bâng quơ khói nắng, bữa giỗ cúng “bà già” tuy chẳng có

anh em trong gia đình nhưng ông vẫn chuẩn bị năm, sáu mâm cơm, với hi vọng gia đình sum họp Nguyễn Ngọc Tư chăm chút từng chi tiết nhỏ, hình ảnh ông Hai châm rượu cúng trên bàn thờ má cũng được chú ý Những ly rượu cúng rót ra, cùng những

Trang 21

lời khấn vái mời tổ tiên ông bà về ăn mâm cơm và phù hộ cũng như mang tới điều may cho con cháu, mọi thứ trông thật linh thiêng trong ngày kỷ niệm người đã khuất

Vấn đề tâm linh đối với người miền Nam đã quá quen thuộc và được xuất hiện trong các tác phẩm khá dày Có thể nói, tính ngưỡng dân gian từ lâu đã có tác động phần nào đó vào suy nghĩ của con người Ngay cả bản thân là một nhà văn còn tin vào vận số may rủi mà thay con số 16 ở bìa truyện vì nghĩ số 17 không may mắn mặc dù

đó mới là con số chính xác của tập truyện Bàn về khái niệm linh hồn đã có một sự tồn tại, kẻ tin người không nhưng vẫn luôn hiện hữu trong tâm thức mỗi người về một thế

giới vô hình nào đó: “Trong quan niệm người Việt Nam, chết chưa phải là chết hẳn,

thể xác tiêu tan nhưng linh hồn bất diệt Thế nên, người sống thường đốt nhang để làm ấm lòng người chết, để linh hồn bớt lạnh lẽo và siêu thoát Trong ý nghĩa đầy đủ, thờ cúng được thể hiện ở nghĩa cử với người thân đã chết Khi đó nén hương được thắp lên với mọi ý nghĩa: tôn kính, yêu thương, biết ơn, xót xa, hối hận,…” [8;48]

Nguyễn Ngọc Tư nhắc đến linh hồn như một lẽ thường trong cuộc sống, trong Bâng

quơ khói nắng về linh hồn người mẹ quá cố khi có đến hai cai giỗ “Cứ nghĩ cái linh hồn đó cứ chạy tới chạy lui giữa bày con, cũng cực” [21;53] hay cái suy nghĩ những

linh hồn có thể báo điềm: “Mỗi tối anh thường nhìn thân nhang cháy, mong nó uốn

cong thành một tín hiệu gì đó, để chứng minh được thân phận của mình”[21;52]

Và linh hồn còn xuất hiện trong những giấc mơ, theo quan niệm những linh hồn người chết về báo mộng để cho người sống biết những điều họ chưa kịp trăng trối hay

oan ức Trong Xác bụi, Dịu thường mơ thấy Nhu với hình dạng lúc trẻ dù đã nhiều năm trôi qua, Dịu đã là bà mẹ hai con “Nhu thường về trong giấc mơ của em” hay

“Lần gần nhất Nhu lẻn vô chiêm bao khoe cánh tay xâm ba chữ “hận mụt măng”” Đôi

khi, người sống còn mong người chết về báo mộng, để giải tỏa những nỗi niềm chưa tỏ

lúc họ còn sống, như nhân vật anh Hai trong Bâng quơ khói nắng, anh mong ước tía hiện về và nói anh là con trai ruột “Đám em chắc cũng không nhận được cuộc báo

mộng nào” Trong truyện ngắn Đường về Xẻo Đắng, Nguyễn Ngọc Tư lại nhắc đến

một nét văn hóa khác về người chết, suốt đoạn đường về nhà chị cứ kêu “Quý, đi theo

chị”, thực chất là gọi hồn, chị đang gọi linh hồn Quý về nhà, đó là tập tục của ngươi

Việt ta “mỗi khi chở người chết về nhà, người thân phải gọi hồn theo” Hay như nhân vật ngoại trong truyện Đi bụi vẫn tin có thể gặp lại ông – người mà bà yêu thương, dù

Trang 22

ông đã qua đời, ngoại tin có cái ngày gặp gỡ giữa người cõi trần và cõi âm “Ngoại

muốn tra coi chợ Ngâu họp phiên vào ngày nào sau tết Hình như mùng bốn, phiên ấy người dương sẽ gặp người âm”[21;124]

Không biết có phải vì người dân Nam Bộ chân chất, thật thà và sống tâm linh hay không? Mà sự xuất hiện của những người thay thế thần linh như thầy, bà coi bói, lên đồng,… lại như một phần trong cuộc sống con người nơi đây Vai trò của những thầy bói toán, cô đồng khá quan trọng, người ta xây nhà, dựng vợ, gả chồng cũng tìm đến thầy nhằm củng cố lòng tin về những điều may mắn Trong truyện Nguyễn Ngọc

Tư cũng đôi lần nhắc đến, như truyện “Xác bụi” có đoạn “Em đi tìm những ông thầy

Ba cốt cô Bảy, nhờ họ vẽ cho một con đường tìm Nhu”, như vậy người sống muốn gặp

hay cần thông tin gì đó phải thông qua những ông thầy, bà thầy Còn trong truyện Coi

tay vào sáng mưa nhân vật chính là cô Năm Nguyệt, một thầy coi bói bằng chỉ tay

Những đường chỉ trên bàn tay con người, tưởng chừng vô nghĩa nhưng theo người Việt Nam, chỉ tay chính là những đường chỉ vận mệnh về gia đạo, sức khỏe, tình duyên, tiền tài,… Chính vì vậy, vai trò của thầy bói, thầy tướng số là cần thiết trong đời sống, dường như trong họ có một sức mạnh về tâm linh lạ thường, như cái kiểu

“Con bé mười sáu tuổi nhận ra mọi bộ phận trên cơ thể đều biết nói, đều có ý nghĩa

trong cuộc đời Rủi hay may, suôn sẻ hay truân chuyên đều hiện lên ở từng chi tiết Tóc nói mũi nói đuôi mày nói, vành tai nói, nếu ta biết cách đọc Bàn tay không chỉ nắm mà còn phơi bày số mệnh.”[21;67]

2.1.2 Những mảng tối về vấn đề nhân sinh

Theo Stehdal cho rằng “Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội”, còn với Balzac thì “Nhà văn là thư ký của thời đại”[39] Như vậy, một tác phẩm văn

học tạo nên phải có được giá trị và có tầm ảnh hưởng đến người đọc Văn học phải phản ánh hiện thực, phản ánh sự kiện, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm của con người thông qua tác phẩm Vì lẽ đó, quan điểm của nhà văn trong sáng tác cũng là một yếu tố quan trọng, người viết phải có cái nhìn toàn diện sâu sát đến từng sự kiện đời sống, có cách đánh giá khách quan về mọi vấn đề Có thể thấy, những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư luôn nhìn thẳng vào hiện thực để phản ánh những bi kịch khốc liệt của đời sống con người

Trang 23

Khi đặt bút viết, một hòn đảo nhỏ trong tâm hồn tác giả cũng đầy những sóng gió, những cơn bão như đang đón chờ cuốn phăng đi tất cả Trên hòn đảo ấy, chứa đầy những vấn đề nổi cộm và chua chát: ngoại tình, ly hôn, tù tội, anh em chối bỏ nhau,… Phải chăng trong văn của Nguyễn Ngọc Tư chỉ toàn những u tối, những nỗi buồn không tên được góp nhặt thành câu chuyện Một vấn đề dễ nhận ra trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là đã vẽ nên những bức tranh với nhiều mảng sắc màu khác nhau về

sự tha hóa của xã hội hiện đại Đó là khi đồng tiền lên ngôi, che mờ mọi luân thường đạo lý, là khi con người chỉ biết sống cho cá nhân, bỏ qua mọi giá trị tình cảm thiêng liêng khác

Tính dục được xem là bản chất tự nhiên, là điều tất yếu trong cuộc sống, sự cám

dỗ của nhục dục đã phần nào thiêu rụi tâm hồn của con người Bên cạnh đó, là ma lực của đồn tiền vạn năng, nó đã mua được hạnh phúc vật chất và làm mờ đi hạnh phúc thật của cuộc sống Từ bức tranh gia đình nhỏ bé, đã được khắc họa lên cả một xã hội con người đầy bi kịch Những mái nhà trở nên lạnh lẽo, những mối quan hệ cha con,

vợ chồng, anh em trở nên xa lạ Tất cả đều khởi nguồn bởi những cuộc ngoại tình,

vụng trộm “Chán cơm, thèm phở” đã trở thành một vấn đề đáng lên án xuyên suốt trong những câu chuyện Trong Mùa mặt rụng, người đàn ông đi tìm hạnh phúc cho

riêng mình với một người đàn bà khác đẹp hơn, ngọt ngào hơn và cho ông đứa con trai

mơ ước, đó là những giây phút dối lừa, là những giờ nghỉ trưa trốn bữa cơm gia đình

để tìm vui khác Để rồi những giây phút yêu thương gia đình vụt mất Còn đâu ký ức

một thời “đứa bé con gầy cắt tóc búp bê, mũi chảy lòng thòng đứng dán vào cửa lớp

mầm non để chờ anh tới đón…một con nhỏ chừng mười bốn tuổi đen nhẻm tóc buộc nhỏng mặt đầm đìa mồ hôi lả vào tay anh ngay sau vạch đích một cuộc chạy việt dã Một con nhỏ hơ hải méc ba ơi có thằng lớp kế bên cứ viết thơ nói nhớ con hoài”[21;24] Dường như lòng tin càng đánh mất khi những lời hứa hẹn, khẳng định

“ba không giống họ…” và giờ đây sự giống hay khác cũng chẳng còn quan trọng khi

chính mắt con bé nhìn thấy sự thật ba nó đã có thêm một gia đình mới Cuộc đời thật tàn nhẫn khi con người ta cứ sống trong những lừa dối, những bộ mặt giỏi che đậy

Như Hội trong truyện ngắn Đường về Xẻo Đắng, người đàn ông có học thức,

làm công chức ở huyện nhưng lại phản bội vợ, ngoại tình với người phụ nữ khác Càng

đau đớn hơn khi chính vợ anh là người nhìn thấy cảnh ấy “Xõa trên bắp tay anh là

Trang 24

mái tóc đẫm mồ hôi khác Nghĩ anh cũng không phải của mình, chị bỏ về” Câu

chuyện ngỡ chừng đơn giản, kết thúc bởi sự đau khổ của người phụ nữ bị chồng phụ bạc Ấy vậy mà, sự thật còn khiến người ta phải ngỡ ngàng khi mối quan hệ che giấu, phức tạp giữa chị dâu và em chồng được phơi bày Để lại những nỗi day dứt cho kẻ ở người đi, kẻ sống người chết

Trong Tự sự học Trần Đình Sử viết: “ Tác phẩm văn chương không giả bộ miêu

tả, trình bày hoặc khẳng định và vì vậy nó không chân lý, không giả ngụy cũng không

na ná như thật” [14; ] Như vậy, một tác phẩm nhất thiết phải tôn trọng sự thật, viết

đúng cái nhìn của tác giả với sự kiện diễn ra Nó phải là thật chứ không thể na ná như thật Với góc nhìn trần trụi, Nguyễn Ngọc Tư đã không vùi lấp hay che giấu bất cứ một góc khuất của cuộc sống, những câu chuyện đời thường đi vào truyện với những cách gọi khác nhau Cuộc sống dần hiện lên với những gam màu đen tối chứa đầy sự

đau khổ và bất hạnh Trong Cách đồng bất tận, mẹ của Nương và Điền đã bước theo

tiếng gọi của kim tiền, bởi tình yêu thương gia đình không đủ lớn để bà vượt qua sức mạnh của ánh sáng dục vọng Cuộc sống bế tắt đã đè nén lên Nương và Điền, cũng như sự tuyệt vọng mất lòng tin ở Út Vũ về lòng chung thủy

Cho thấy rằng đồng tiền và những mối quan hệ xã hội đã dần làm cho con

người ta biến chất về tính cách Qua cuộc sống của ba mẹ Phước trong truyện ngắn Áo

đỏ bắt đèn ta thấy vợ chồng đầu ấp tay gối ấy vậy mà không thể có thời gian chung

cho nhau, dù chỉ là một ánh nhìn “Lâu rồi cha mẹ không nhìn nhau, ngay cả cùng nhìn

vào một điểm cũng hiếm Cái ảnh chụp chung duy nhất của hai người, cha ngó cụp xuống còn mẹ đảo tròng trắng sang phải”[21;42] Bởi lẽ, cơm áo gạo tiền đã tạo ra

giữa họ một sự hối hả, ngày càng cách xa nhau, vợ làm xong ca ngày, chồng lại bước vào ca đêm Giữa thời buổi kinh tế thị trường, xã hội lao nhao cho cái sự kiếm tiền thì những con người lao động chẳng thể ngồi yên phó mặc cho số trời Vì lẽ đó mà cái

việc làm tưởng chừng thiêng liêng, hạnh phúc lại hóa ra vội vã, lợt lạt “ cha quáng

quàng chạy vào ca đêm Mẹ thì làm ca ngày Họ chỉ có thể ôm nhau lúc trời vừa rạng sáng Trong khoảng thời gian chóng mặt đó, nếu cha thích mẹ từ phía sau thì cũng có thể nhìn về một hướng, nhưng mẹ phải ngó cái đồng hồ treo trên vách, miệng kêu ối ứ

ư sao lâu vậy Gương mặt của gã quản đốc xưởng xốn trong đầu mẹ, trong lúc cha héo

rũ trên người Mẹ không thể thích đến quên trời đất, vì bị ám ảnh bởi thằng cha chấm

Trang 25

công re rắt từng giây”[21;43] Để rồi bản chất tha hóa của con người dần lộ rõ, họ

sống vì cá nhân mình, người làm cha làm mẹ đã đạt được dục vọng cá nhân, tiền bạc

vật chất để sống để bước lên những niềm đau, nỗi buồn của con trẻ “cha dọn tới ở

cùng một cô cùng làm ca ngày, để tỉ tê nuốt hơi thở của nhau kệ cha cái kim đồng hồ nhúc nhích Và mẹ thì lấy gã quản đốc mắt hí rị người Đài Loan, thoát khỏi nỗi ám ảnh mười lăm phần trăm giây xén bớt miếng ăn.[21;43]

Sách xưa có dạy: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”, như vậy con người khi sinh ra

tính vốn lương thiện, thế nhưng tác động của cuộc sống đã làm biến chất con người, giữa xã hội có biết bao người làm điều gian ác làm những chuyện khiến người đời chê trách Có thể nói cái thói vô tâm, tàn nhẫn đã làm tha hóa một bộ phận con người, đó

là hiện thực không thể nào chối bỏ được Hiện nay, trên các phương tiện truyền thông

đã hình thành một luồng dư luận lớn về vấn đề đạo đức của con người Nguyễn Ngọc

Tư từng nói: “Cái ác, sự tàn nhẫn, thói vô tâm luôn làm tôi ghê sợ”[45] Thế nên, trên

trang viết cũng đã dũng cảm phơi bày những mảng đen của tội ác xã hội Trước đây,

trong truyện Cánh đồng bất tận tác giả đã bước lên dư luận để viết nên những trang

sách đầy sức nặng Mà chua chát nhất là hình ảnh cuối truyện, Nương vô tội lại rơi vào

bi kịch thê lương, bị bọn “mất dại” vô lương tâm hại đời con gái Đến với Đảo, tác giả cũng phơi bày sự thật tàn khốc ấy một lần nữa trong Củi mục trôi về Tàn nhẫn cho cả nạn nhân lẫn người hãm hại, cái tuổi mười bảy của hắn bắt đầu bằng “những ly rượu

đầu đời, những bộ phim tục tĩu đầu đời”, xã hội nuôi dưỡng tâm hồn con người ta

bằng sự sa đọa Thiết nghĩ rằng, nếu không có những thứ kích thích đó thì đứa trẻ mới lớn đã không dại dột làm cái chuyện tài trời ấy Đứa bé mỏng manh vô tội đã chết dưới

tay kẻ “tha hóa dã man” , cái thân xác còn đây nhưng tâm hồn đã tàn rụi

Chuyện giới tính, ngoại tình, hãm hiếp, tù tội,… là những lát cắt của nhà văn ghi lại từ cái nhìn cuộc sống, nỗi trăn trở trước sự thật về một xã hội mà tình người đã chớm lụi tàn Bằng cách lựa chọn cho mỗi nhân vật một hướng đi, một con đường Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện nỗi đau đáu, ám ảnh khôn nguôi trong cái nhìn về hiện thực đời sống

Trang 26

2.2 Cái nhìn “buồn nhưng không chán” về thân phận con người Nam Bộ

2.2.1 Sự dở dang và những vết thương khó lành của người phụ nữ

Khi ai đó nhắc đến đảo, người ta sẽ thường nghĩ về những gì hoang vu, trơ trọi Nơi đó chỉ có đá hòn, đá tảng và quanh năm chỉ có âm thanh sóng vỗ đá ghềnh Rồi bạn sẽ rơi vào cảm giác một mình lọt tỏm giữa đảo hoang, xung quanh không một bóng người, và rồi sự cô độc bao trùm tất cả những xúc cảm, giác quan Lối thoát tưởng chừng như mơ hồ, một chiếc phao cứu sinh cũng xa tầm với, khiến con người ta hụt hẫng Dường như khi đặt tên là Đảo, Nguyễn Ngọc Tư cũng đang nói về những bế tắt, khó khăn chưa bao giờ chịu buông tha cho dù họ cố vươn lên Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư không còn đơn thuần phản ánh hiện thực cuộc sống nữa, mà còn là

sự yêu thương, chia sẻ và hơn hết là thái độ trân trọng con người:“Tôi thường nhìn

thấy quanh mình những đứa trẻ khao khát tình thương, những người phụ nữ khao khát cuộc sống yên bình, được che chở Nếu chú ý một chút, người ta sẽ nhận ra ai cũng có nhu cầu được ấm áp, thương yêu, ngay cả những người mạnh mẽ tàn nhẫn nhất cũng mong muốn có một ngày được hoàn lương, một mái nhà yên ấm” [45]

Là một người phụ nữ hiện đại, Nguyễn Ngọc Tư đã có cái nhìn và cách suy nghĩ khác về người phụ nữ Theo Nguyễn Ngọc Tư phụ nữ đã thoát khỏi cái bóng của người đàn ông, họ phải là người biết sống chủ động, biết bản thân mình là ai và đang đứng ở đâu Vì vậy, trong những trang viết về hình ảnh người phụ nữ, đặc biệt là người phụ nữ Nam Bộ luôn mang tiếng nói cảm thương, bởi trắc trở giữa cuộc sống

đời thường mà họ phải gánh lấy Từng nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn: “Tôi

không hiểu sao mình đã cố chì thiết, nhất là những người phụ nữ thụ động và cam chịu, mụ mị vì yêu, nhưng trong chữ lại thành ra thương cảm Có một điều chắc chắn tôi đã không đứng về họ, cổ xúy cho thái độ sống đó, mà chỉ diễn tả đúng những thân phận”[30] Như vậy bên cạnh những cảm thông và sẻ chia, tác giả đã đặt vào những

câu chuyện sự phê phán, lên án người phụ nữ sống lụy tình, thiếu lý trí và chính kiến

Có thể nói khi đọc những truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, có thể thấy thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ, với cái dáng hình liêu xiêu, mỏng manh ở chốn quê nghèo ma cảm thấy nao lòng

Trang 27

Dân gian có câu:

Lênh đênh một chiếc thuyền tình Mười hai bến nước biết mình về đâu

(Ca dao) Câu ca dao như là lời bộc bạch về số phận con người, mà hơn hết là người phụ

nữ “Mười hai bến nước”, cũng chính là những khổ đau mà họ sẽ phải trải qua, chẳng

định được những gì sẽ xảy ra Họ sẽ về đâu khi số phận không ai định trước, họ không thể làm chủ chính cuộc đời mình Nhân vật trong truyện là những cô gái quê mùa, ít học, họ nhìn nhận vấn đề bằng đôi mắt giản đơn nhưng lại chất chứa tình cảm Họ yêu hết lòng, yêu bằng cả trái tim, trong họ là cả sự hi sinh và đôi khi là sự bồng bột, dại khờ của đứa con gái mới lớn thiếu học thức Trong tình yêu, họ phải chịu sự đánh đổi không chỉ là một phút giây mà là cả cuộc đời đầy ám ảnh Trong lời đề từ truyện ngắn

Nhà cổ tác giả viết: “Tôi thích những mối tình câm, tình thầm Tôi tưởng tượng đó là những mối tình da diết, sâu sắc Mãi mãi chẳng dám nói thật lòng, cho đến cuối đời, tình ấy vẫn bàng bạc, rập rờn và mỗi khi có dịp đi qua chỗ ngồi cũ, con đường cũ, gương mặt cũ… ta bỗng thấy nhói ran Chắc là khó chịu lắm, khi yêu mà giả bộ không yêu, khi buồn cố diễn mặt vui, khi đau tình phải tỏ ra vô tình”[22;66]

Trước hết, đó là hình ảnh những người phụ nữ luôn tưởng nhớ, mong ngóng về

người mình yêu Đó là Dịu trong Xác bụi với tình yêu không bao giờ thành nhưng vẫn nhớ, vẫn chờ, vẫn mong về mối tình đầu tiên ấy Tất cả bởi chữ “nghèo” mà anh người

yêu của cô phải đi làm ăn xa, lúc thì là công nhân đồn điền cao su, khi thì đào vàng ngoài bãi để rồi chết không tìm thấy xác Những ký ức về cái đêm chia tay hai tâm hồn

hòa quyện vào nhau “cứ đay đi đay lại thời con gái”của Dịu, nó cứ lặng câm nhưng

day dứt không nguôi Nỗi ám ảnh trở về thường trực trong những giấc mơ, trong

những hiện vật kỷ niệm và cả khi cô ở bên chồng, con của mình: “Nhưng em đâu có

quên Nhu dễ dàng như vậy Có thể vì Nhu không để em quên Từ Nhu chết, em nghĩ mọi thứ quanh mình không có gì là bâng quơ hết, lá xóc nóc nhà xào xạc cũng là bước chân của anh bồ cũ Những mùi hương phảng phất nửa đêm Một đóm sáng nhói lên trong đêm tối, tan nhanh như một thứ ảo ảnh Những giấc mơ mang bóng dáng Nhu buồn rượi Những hình ảnh quen thuộc trong góc nhà xuồng như đóng cọc vào lòng

Trang 28

mỗi khi em bước vào đó lấy trứng gà trên ổ Cái cảm giác Nhu ở quanh đây làm em cười giòn cũng ngại Chồng em đã quen việc nửa đêm vợ tự dưng ngồi dậy ngó quanh, thuộc cái nỗi ám ảnh của thằng bạn cùng xóm tên Nhu, nhận ra nỗi đắn đo hổn hển hay không hổn hển của vợ” [21;17] Chẳng hiểu sao cô cứ nhớ mãi con người ấy, dù

thời gian qua, đã làm phai nhạt đi những ký ức, ngay cả gương mặt anh cô sắp chẳng

còn nhớ nổi Nhân vật Hảo trong truyện Biến mất ở thư Viên, rõ ràng là Hảo bị Sinh

phụ bạc ra đi không một lời từ biệt, không một dòng tin tức Bảy năm trôi qua, chờ đợi vẫn là công việc mà Hảo làm hằng ngày, chính tại cái nhà sách mà Sinh đã biến mất như một hạt bụi bay đi hay như một phép màu không tưởng Cái cách họ chờ đợi,

họ hi vọng, tìm kiếm thứ tình cảm xa vời cũng khiến người đọc phải xót xa Một lẽ hiển nhiên của thứ gọi là tình yêu, làm sao mà có thể giải thích được cái tình cảm đã khắc sâu vào con người Dịu thì đi tìm kiếm xác người yêu như một sự giải thoát tâm hồn, còn Hảo thì luôn hi vọng chờ đợi hay đơn giản là tìm ra cái cách mà Sinh rời khỏi

mình bằng những câu hỏi vô hồn, vô nghĩa “ Bữa đó có mưa không ta? Bữa đó mà

nắng thì tụi này về nhà luôn, biết đâu Sinh không đi mất…”, “Có khi nào Sinh đi vô mấy cuốn sách kia không ta?”[21;8] Nhớ làm gì cái con người vô tình ấy, bỏ lại chị

với đứa con chưa thành hài đã trôi tuột đi khỏi người chị tự lúc nào Chắc Hảo nhớ để

mà hận mà đau, chẳng hiểu sao chị cứ đi tìm hoài… Nguyễn Ngọc Tư viết: “Người ta

buồn nhất, cô đơn nhất là khi ngủ dậy Và khi ngoài trời nắng ráo, mà không biết phải

đi đâu, về đâu”[22;111]

Dường như nhân vật nữ trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư đều trải qua cái cảm giác bàng hoàng như vừa trải qua cơn ác mộng Một chị Lý cũng vừa qua cơn mộng, chị tỉnh giấc nhưng cũng lại mơ màng, chị cứ mãi miết đi tìm, nhưng không phải tìm

người mà tìm lại quá khứ đắng cay Trong Sổ lồng, Lý như đánh rơi mất một mảng ký

ức cuộc đời, chị mang trên mình một “cái chỗ hỗng trống hoác của vùng nhớ”, lúc

tỉnh lúc mê, lúc nhớ lúc quên Nhưng phải chi quên ký ức xưa thì chắc chị chẳng như bây giờ, chị nợ anh – chồng chị bây giờ nên chăng là phải trả Chị chửa hoang với một

tên sở khanh nào đó, cấp bách quá chị lấy một anh chồng buộc anh vào thế “đổ vỡ” để

rồi chị bắt đầu cuộc trả nợ đời, với anh chồng ngày càng cọc cằn vì bị lừa dối Chuỗi

ngày chị sống mà những cơn “khùng” có khi là lang thang, có khi nghĩ sẽ bỏ trốn theo

người đàn ông khác lại thôi Những con người trong chị cứ sổ lồng đuổi theo cái thứ

Trang 29

vô định trên mặt sông để rồi thốt ra “đuổi làm sao kịp thứ đã mất lâu rồi” Chị mất thứ

gì? Chị mất đời con gái khi chưa tận hưởng hết cái tuổi xuân, chị mất khoảnh khắc thật

sự của một mái ấm gia đình, chỉ cũng chẳng còn cái gọi là hạnh phúc Họa chăng chị đồng ý trốn đi cùng anh bán kem thầm thương yêu chị chắc đời chị sẽ khác, nhưng có khác không hay chị lại bất chấp “sổ lồng”, lại điên dại trong cái vòng lẩn quẩn cuộc đời mình

Trong cuộc sống đầy khó khăn, người phụ nữ đôi lúc không còn sự lựa chọn nào khác là phải chấp nhận đánh đổi để tồn tại Chẳng hạn như Sương, người đàn bà

làm cái nghề mà chẳng mấy ai xem trọng trong Cánh đồng bất tận, đã phải nếm trải

nỗi đau bởi việc kiếm sống bằng thân xác chính mình Chị bị Út Vũ xem thường, coi chị như món hàng mua vui sao một đêm thỏa mãn dù bao cố gắng yêu thương chân

thành chị dành cho cái gia đình đổ vỡ tan tác kia Hay trong Cải ơi, Diễm Thương làm cái nghề mua vui ở quán “nhậu ôm” cũng đáng thương biết mấy với số phận không

cha không mẹ, bị bỏ rơi gần hai mươi năm trời không lần tìm kiếm Nghe mà thương cảm, bởi họ không chỉ buồn cho phận mình mà họ còn sống khát khao, cả Sương và Diễm Thương đều mong muốn có một gia đình thật sự với tình yêu thương Sương nhịn nhục, hi sinh bản thân để bảo vệ cái gia đình nhỏ và bầy vịt với những ước vọng mong manh để rồi bị phá tan vì trái tim sắt đá không bao giờ nhỏ giọt yêu thương của

Út Vũ Diễm Thương không ngại ngần phô mặt mình ra để mong ba mẹ nhận ra đứa

con lưu lạc dù đó là vụ bắt tệ nạn xã hội “tui lên ti vi để cha mẹ nhìn mà họ không biết

tui là ai, còn người dưng liếc ngang là nhớ liền” [21;12]

Họ đang sống như một sự trả đũa, bởi cuộc sống đã quá bất công với họ Có những nỗi đau không thể kể thành lời, có những sự thật mà con người ta muốn chối bỏ

Đó là khi họ chưa hề có một lai lịch thật sự, họ ảo tưởng cuộc sống bằng cách này,

cách khác cho đỡ sầu, đỡ đau Hình ảnh “quà” người phụ nữ không tên trong truyện

Đảo càng làm xót xa người đọc Con người chứ nào phải đồ vật mà người ta đem tặng,

đem biếu, ấy vậy mà người đàn bà ấy lại hiển nhiên trở thành một món quà trả ơn cho

một gã mù mắt tên Sáng sống một mình ngoài đảo hoang Sự xuất hiện của “quà” như một làn gió mới cho Sáng, dù chỉ một ngày ít ỏi nhưng “quà” đã làm Sáng sống dây những giác quan con người “Quà” như một Thị Nở thứ hai xuất hiện mang liều thuốc trái tim cứu rỗi tâm hồn của Sáng Ngay cả cái cách mà “quà” kể về “vết sẹo như con

Trang 30

sâu róm nằm vắt ngang cổ tay” cũng khiến người ta nao lòng Những câu chuyện

không quá dài nhưng lại đi hết cả một đời con người và đó là những kiếp người phụ nữ truân chuyên đầy những vết sẹo trong tâm hồn Con bé Đào có má là ca chính trong đội ca tài tử chết cháy trong ụ rơm, ba nó đi bước nữa với người đàn bà khác, và cái vết sẹo để đời đó là do vá xắn chuột nhầm vào tay, máu người lẫn vào máu con chuột lìa đôi Đó là con bé Phượng bị ba dượng xâm hại, ba má cãi nhau, vát dao chém nhau,

nó lấy tay đỡ một nhát mà thành sẹo Hay là cô bé mười sáu tuổi Mỵ Châu bị lừa làm

vợ lẻ thứ mười ba của chủ ghe hàng xáo, buồn tình cắt cổ tay Rồi “quà” còn biến tấu

thêm con Út Hên ham đóng phim, bỏ nhà theo đoàn chỉ để đóng những vai chạy xẹt màn ảnh, để rồi hết mình với vai diễn cô cave tự tử trốn khỏi đầu gấu, cô cắt tay mình

thật Cái chuyện về Mỹ Nhân nghe có vẻ buồn nhất “một lần bị liềm cứa đứt cổ tay tức

tối nghĩ mình là mỹ nhân mà, sao lại suốt ngày phơi dưới nắng, máu trộn mồ hôi, thôi

đi làm gái cho mát mẻ mà lại nhiều tiền”[21;38] Nghe những câu chuyện về những

vết cắt nó “nhẹ hều”, chẳng đau đớn, mà chắc là vết thương trong lòng nó đã đau hơn

nhiều so với vết thương ngoài da thịt Chẳng biết cái nào thật giả ra sao, nhưng qua lời

kể của “quà” thì những cô gái chưa có một kết cục, chẳng biết họ sống chết, ăn ở thế

nào, hay lại lang thang rày đây mai đó, làm cái nghề bạc bẽo mưu sinh Về phần

“quà”, có hay không đứa con cô sẽ đặt tên Xoài mà cô mong ước Cô cũng đang thầm

hi vọng về tương lai, dù con đường cô đi còn quá mù mịt…

“Như mọi đàn ông ở cái xó quê này, họ thường không nhìn thấy vợ mình sau

đám cưới vài ba tháng, nhiều lắm là vài ba năm”[21;140] đó là những gì mà Nguyễn

Ngọc Tư phản ánh cuộc đời những nhân vật trong tác phẩm của chính mình Ở đây, học vấn con người còn hạn hẹp, nhận thức về đạo đức và quan niệm sống còn lờ mờ, tuột hậu Qua trang viết, ta có thể thấy những nhân vật có cuộc sống hẩm hiu và duyên

phận éo le Trong Tro tàn rực rỡ hai nhân vật Nhàn và nhân vật xưng “em” đều mang

những nỗi buồn trong cuộc sống vợ chồng Nếu nhân vật xưng “em” chỉ bị chồng hành

hạ về mặt tinh thần, thì nhân vật Nhàn lại bị Tam hành hạ về mặt thể xác lẫn tinh thần Hai người phụ nữ thầm lặng sống, hết lòng vì người chồng và những đứa con Thế nhưng, điều họ nhận lại thì thật phũ phàng Giữa Nhàn và Tam cũng như nhân vật

“em” và chồng chưa từng có một tình yêu thật sự, qua những câu chuyện đứt đoạn về những đám cháy nhà Nhàn của nhân vật “em”, cuộc sống của Nhàn hiện lên như một

Trang 31

bức tranh đầy bóng tối, chỉ toàn khói, lửa, tro, bụi Có những lời Nhàn buông ra nghe

mà xót lòng, chắc vì nó nhẹ tênh như tàn tro bụi sao đám cháy: “trước sau gì ảnh cũng

đốt, làm tử tế chi cho uổng công Tụi này cũng đâu khá giả gì” hay: “Con bỏ đi ai sẽ cất nhà cho ảnh đốt, lỡ đốt nhà hàng xóm mang tội” Nhàn sống cam chịu trong cảnh

chồng say xỉn quanh năm, Tam chẳng khác gì một Chí Phèo của cái xứ Thơm Rơm Khi nhà cháy, Nhàn chỉ ngồi thu lu một góc ngồi nhìn Tam, chị chỉ mong Tam nhìn chị, nhưng anh chỉ có đám cháy trong đôi mắt mình Chắc vì thế mà chị đã ngồi lại

trong đám cháy “Nhàn đã không chạy ra khỏi đống lửa như mọi khi, anh à! Không

biết chị thấy mệt rồi hay vì nghĩ chỉ ở giữa đám cháy Tam mới nhìn thấy chị”[21;144]

Những câu chuyện về Nhàn được cô vợ thuật lại cho anh chồng nghe như một thói quen mỗi khi chồng đi xa về Cô cũng là một người vợ đầy cam chịu sống lam lũ nơi

xó bếp, góc vườn và một tình thương dành cho chồng nhưng chưa từng được đáp lại Bởi họ đến với nhau nào phải bằng tình yêu, chỉ là phút giây chếnh choáng say của anh chồng đau khổ khi người yêu sang sông, rồi để lại trong cô vợ bấy giờ một giọt máu Cô vợ sống một cuộc đời lầm lũi, không chút đòi hỏi mong chờ, cũng như cái

đêm định mệnh ấy:“lo anh bẽ bàng, em chỉ tự gỡ mấy cọng rơm trên tóc, tự cài cúc áo

và lặng lẽ về”[21;142] và cái lặng lẽ ấy theo cô suốt cuộc đời làm vợ Trong từng suy

nghĩ cô chỉ muốn níu kéo con người anh ở lại bằng những câu chuyện về người anh yêu thương, để trong ngôi nhà có chút hơi ấm gia đình Nhưng rồi cái cách mà cô vợ

nghĩ đã rõ một điều, Nhàn chết là hết, là chồng chắc cũng chẳng còn về “Em cố giấu

tiếc nuối với cái ý nghĩ, từ giờ mình chẳng còn vụ nhà cháy để kể Điều đó có nghĩa chồng không về nữa, biết đâu”[21;144] Bốn con người họ là những mảng ghép cuộc

sống không trùng khớp nhưng lại cố gán ghép vào nhau, để rồi càng cố ghép lại càng sai

Nguyễn Ngọc Tư hay dành cho phụ nữ những trang viết với tấm lòng đôn hậu, thấu hiểu và chan chứa yêu thương Dường như khi viết truyện Nguyễn Ngọc Tư thường để những nhân vật người phụ nữ phải vỡ lỡ chuyện tình duyên hoặc cuộc sống

vợ chồng hạnh phúc thật mong manh Cũng như câu chuyện về bà nội chồng của Dịu

trong Xác bụi, bà đã trải qua những tháng ngày xa chồng bởi chiến tranh, cũng đi tìm

mảnh hài cốt người chồng sao nhiều năm chinh chiến Thời chiến có biết bao cảnh vợ chồng như thế, cưới nhau xong là chồng lại lên đường ra chiến trường, chẳng hay ngày

Trang 32

trở về Có những câu chuyện đáng thương nhưng cũng có những câu chuyện nghe

cũng buồn cười đầy thương cảm “Bà nội chồng kể hồi đi lấy cốt chồng, bà cứ khăng

khăng với đám thợ đào bới là mất khúc xương giữa hai đùi, “tôi đếm kỹ rồi, còn thiếu khúc đó” Em cười đến chảy nước mắt Bà nội lấy ông khi mới mười sáu tuổi, khờ căm, vẫn nghĩ sinh con từ bên hông Ông nội bị pháo dập ở miệt Trảng Bom, cô vợ chưa kịp gần gũi đàn ông khác, nên không biết cái đoạn xương ấy chỉ là đoạn sụn thỉnh thoảng huênh hoang ta đây dũng mãnh”.[21;18]

Phảng phất trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư là dáng hình phụ nữ nhỏ nhoi, dù

chỉ xuất hiện như một vai phụ hay chính Như trong truyện Lưu lạc, nhân vật Diệu bị

thất lạc từ nhỏ, cô trải qua những ngày tháng sống bươn chải một mình Cô trở thành một bà mẹ đơn thân với đứa con gái với cái tên Lỳ, đứa con mà cô từng có ý định bỏ

đi “Đứa nhỏ kể hồi có bầu, cứ leo cây me nhảy xuống đất cho máu huyết tuôn ra, mà

cái thai lỳ quá” Hay chị Tư của Diệu trong câu chuyện, dù xuất hiện qua một lời kể

nhưng cũng thấy cuộc đời chẳng vui vẻ “chị Tư lấy chồng sau – một anh người Lào”

Họ còn bị phủ lấp bởi sự lừa dối như cô vợ trong Mùa mặt rụng, chồng ngoại tình có

hẳn con riêng ấy vậy mà chị chẳng hay biết, bởi những cuộc sống mưu sinh đời thường

và sức khỏe bản thân đã khiến chị chẳng thể quan tâm tới mọi thứ xung quanh kể cả

việc quan tâm con cái “Chị vật lộn với đám học trò, với những cơn hen cấp từ trước

khi sinh, không hay gần gũi với con bé vì mệt mỏi”

Có thể nói Nguyễn Ngọc Tư như một chứng nhân cuộc sống với sự tinh tế và đôi mắt nhìn thấu hiện thực đời sống Những thân phận trong truyện phải chịu nhiều đau khổ nhưng họ dám trải lòng mình ra để sẻ chia với những khổ đau, bất trắc với mọi người xung quanh Bằng cái nhìn rất riêng và đầy hiện thực tác giả đã thể hiện tính nhân văn trong các tác phẩm của mình

2.2.2 Niềm tin của con người giữa những nỗi buồn chôn kín

Giữa những bộn bề cuộc sống, có những đoạn buồn, những khúc chông chênh nhưng vẫn thấp thoáng đâu đó những hạnh phúc, niềm tin của con người vào cuộc sống Đôi khi chỉ là những niềm vui thoáng qua nhưng cũng đủ để con người có thêm chút lòng tin vào cuộc sống Văn của Nguyễn Ngọc Tư là thế không chỉ có nỗi buồn

về những câu chuyện dở dang mà còn có những hạnh phúc nhỏ nhoi, những nghị lực

Trang 33

sống vì tình yêu thương Bởi nó là thứ lớn hơn tất cả, dù kết quả dành cho những con người đó chỉ là sự mỏi mòn hay chẳng bao giờ có kết quả như ý muốn

Hạnh phúc nhỏ nhoi ấy được thể hiện trước hết thông qua những giấc mơ Chắc

vì đôi khi chiêm bao sẽ làm người ta nhẹ lòng hơn so với cái sự thật trần trụi đầy khổ

đau ở đời thường Giấc mơ của Phước trong Áo đỏ bắt đèn được xem là hoang đường

Nhưng sự xuất hiện của giấc mơ và những điều trong quá khứ làm sống dậy trong nó những hồi ức khó quên, từ lâu nó đã chấp nhận cái sự thật ba mẹ chẳng còn là gì của nhau Ấy vậy mà, nó lại mơ ba mẹ nó hì hụi chỉnh sữa quần áo cho nó tham gia thi

nhảy ở cuộc thi “Khỏa bụi tìm sao” “Cảnh này đúng là chiêm bao Hoang đường đến

day dứt” Phước sống lạc quan hơn bao giờ hết, nó hưởng thụ từng góc của cuộc sống

dù chỉ là những giấc mơ hoang, nó mơ cảnh ngồi cầu vồng ăn mây, mơ cái cảnh có cây sữa bò, lá thịt bò nướng,… Nghe thật hồn nhiên với cái suy nghĩ của một đứa trẻ mới lớn mười sáu, mười bảy tuổi Những điều trong mơ thật thi vị, về cuộc thi, về cuộc sống đi bán kẹo kéo của hai đứa Phước, Giàu như nhạo cái nghèo Hai đứa trẻ đầy

nghị lực, bước lên những nỗi đau của bản thân để cùng nhau đi về phía trước “phải để

cho họ nhìn thấy mình” Họ là ai? Phải chăng là cha mẹ, là những người ven đường

mua kẹo của chúng nó

Tưởng chừng những giấc mơ về cuộc sống gia đình chỉ dành cho những đứa trẻ, nhưng truyện của Nguyễn Ngọc Tư cũng dành cho một người mẹ Người mẹ vô tình

để thất lạc đứa con để vô hình thành nỗi hận phía trái tim bên kia và cuộc tìm kiếm vô

tận Coi tay vào sáng mưa với người mẹ trông chờ nhìn thấy bàn tay đứa con thân yêu

Cô Năm Nguyệt hành nghề bói tay, không phải vì miếng ăn mà vì hi vọng tìm con Cô mong được cầm nắm một bàn tay với những nét riêng mà chỉ cô nhớ rõ hơn ai hết

“Cái bớt đỏ ở cổ tay, và lóng cuối của ngón út bị gù do lần nọ bị đứt sâu…”[21;66]

nhưng bàn tay nhỏ nhắn của đứa trẻ thích vẽ tranh nay đã không còn nữa Thời gian đã làm mọi thứ thay đổi đứa trẻ ngày nào đã trở thành một đàn anh giang hồ, đặc biệt là

bàn tay với “Những vết chai trên ấy rắn đanh như đá…Nó có khổ rộng gấp ba, chi chít

sẹo Nó cất tiếng nói bà ơi tôi đã chịu nhìu cơ cực lắm, từ hồi bà rời bỏ”[21;69] Con

của cô vẫn giữ trong lòng nỗi hận về người mẹ nhẫn tâm, bởi hai chữ “cơ cực” của

một đứa trẻ nhỏ khi không có gia đình Nhưng người mẹ như cô lấy quyền gì giận, bởi tình yêu thương con quá lớn, bởi những lỗi lầm cô vô tình gây ra và bởi ngần ấy năm

Trang 34

trời cô vẫn mãi miết đi tìm con qua những mảng ký ức mong manh về đứa con trai mất

tích ở buổi chợ trưa Cô đã hối hận biết nhường nào, cô từng nghĩ “bà nắm những bàn

tay khác và không chịu được cái ý nghĩ mình níu người dưng đây mà buông bỏ máu thịt của mình” Bao nhiêu năm cô vẫn tin mình sẽ có ngày gặp lại con dù chỉ là trong

phút giây và trong hoàn cảnh cay nghiệt như lúc này

Trong truyện Bâng quơ khói nắng, cũng chứa đầy những nỗi niềm của mất mát

Nhân vật anh Hai, một người luôn dằn vặt đau khổ bởi câu nói của tía trước khi chết, giờ đây nó trở thành lời nguyền ám ảnh cuộc sống Theo dõi câu chuyện, ta thấy trong anh là nỗi đau đáu tìm kiếm chút tình thương của những đứa em mà anh tin là ruột thịt Niềm hi vọng trong anh hóa thành nỗi chờ đợi, anh đợi ngày cùng anh em làm chung

cái giỗ cúng ba má, đợi ngày thằng em nó kêu “ui là trời anh Hai giống hệt tía” Hơn

ai hết, anh tự mình biến những nỗi buồn lo thành hi vọng, như cái cách anh phán với

vợ “Giỗ năm sau cũng nấu đủ sáu mâm cho tui”, dù rõ ràng anh biết sẽ chẳng có đứa

em nào đến ăn giỗ, bởi chúng nó đã xúm lại cúng riêng Thử hỏi nếu anh Hai chấp nhận sự thật, anh chẳng là gì trong gia đình đó thì có chăng sẽ nhẹ lòng hơn Anh cứ

thấp thỏm nỗi lo “lỡ như lời ông già là sự thật”, anh đang cố che giấu tất cả những nỗi

niềm Niềm tin như liều thuốc giúp con người ta tiếp tục sống, tiếp tục tồn tại giữa những phù phiếm cuộc đời

Hạnh phúc là một thứ quà của cuộc sống mà ai cũng có quyền có, nhưng mấy ai dám chấp nhận san sẻ để có được nó Bởi hạnh phúc là những yêu thương biết cho đi,

để khi đó niềm vui của người cũng chính là hạnh phúc của ta Ông bà ta xưa có câu:

“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, ngẫm ra ở đời này chữ duyên thật lạ kỳ Như

Ái và “khách” có lẽ đã có tiền định tự kiếp nào Cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa hai con

người đang thiếu thốn tình cảm Ái - một người mẹ đơn thân sống cùng đứa con trai nơi trảng gió, buôn bán tạp hóa nhỏ với vài hủ đường, gói kẹo,… Còn “khách” chỉ là người đi qua hỏng xe giữa đường nhờ tá túc để sửa xe Con người Nam Bộ nghèo khó nhưng họ sống đẹp, sống có tình, có nghĩa Một khi đã yêu là yêu hết lòng hết dạ, họ lấy tình người để đối đãi với nhau, dù chưa hề quen biết Thế nên câu chuyện về tình

người nơi trảng gió lại được tiếp nối, không chỉ bởi câu nói vu vơ đầy ẩn ý “rảnh làm

gì, vô đây gãi lưng dùm”, mà còn bởi lòng tin con người nơi đây và rồi nỗi cô đơn của

hai trái tim cô đơn đã được lắp đầy khoảng trống Dù biết bao lần khách dự định là đi

Trang 35

đến cái nơi anh cần đến – trung tâm thực nghiệm giống mới Lẽ ra anh sẽ trở thành một kỹ sư, làm việc ở một cơ quan thực nghiệm, thế nhưng anh đã lựa chọn ở lại với chị, quanh năm ruộng vườn, buôn bán Nơi đây đã trở thành mái ấm của anh qua bao

mùa mưa nắng “Nhưng khách đã học được cách phân biệt hai cơn mưa, hai mùa nắng

Cuộc luân chuyển miên viễn của thời gian khách ghi nhớ bằng đứa trẻ sơ sinh khóc lóe ngóe trên giường Một vụ mía trúng giá Thằng Đậu lên cấp hai Ái thèm chua lần nữa Cây xoài khách trồng mùa đầu ra trái Chân khách bị gãy Gả con gái.”[21;91]

Vòng quay thời gian đã chứng minh tình yêu thương đã níu kéo khách ở lại Và những

lần Ái nói “muốn đi cứ đi, không cần từ giã”, Ái nói như thể không cần, không níu

giữ, nhưng thật ra Ái vẫn thương, vẫn nâng niu tình cảm bất ngờ nhưng lại gắn bó đến

cuối cuộc đời “Những chiều tà Ái chống gậy ra mân mê nấm mộ dần khô Bia ghi

khách thọ tám mươi tuổi”[21;91] Câu chuyện của khách và Ái không phải là câu

chuyện duy nhất về những chuyện tình, những cuộc gặp gỡ nên duyên Trong Đi bụi,

ngoại và “bồ” cũng có một câu chuyện tình lãng mạn, tuy chẳng được gần nhau, chẳng thể sống cùng nhau nhưng yêu thương vẫn đong đầy Hai ông bà ở cái tuổi con cháu

đầy đàn nhưng vẫn mơ giấc mơ về cuộc sống hạnh phúc “Nhà của tụi mình không cần

rộng, chỉ cần kê vừa một cái giường và gian bếp Ngoại sẽ nấu những món ăn bồ thích, sáng bắc nước pha trà, chiều pha vào chậu cho bồ tắm Thỉnh thoảng bồ hé cửa nhà tắm ngoắc tay, bảo ê bà kỳ lưng dùm tôi coi.”[21;119] Chẳng đòi hỏi cao sang,

chẳng mộng mơ xa vời, với ông bà những điều bình dị nhất mới là yêu thương, là gia đình Ông bà tuy đã lớn tuổi, nhưng vẫn mơ mộng lắm, vẫn kiên quyết bỏ trốn cùng ông, thế nhưng nỗi lo con cháu đã cắt ngang những mong muốn của bà Thế nhưng những cuộc trốn chạy bất thành vì hàng trăm lý do nhưng giữa ông và bà vẫn có sợi dây ràng buộc Đằng sau những nỗi buồn không thể đến với nhau, hai ông bà vẫn vui

vẻ chấp nhận và yêu nhau bằng lời quan tâm qua những cú điện thoại đường dài Đến khi ngoại có thể thảnh thơi, bỏ đi bụi để tìm hạnh phúc thì cũng là lúc ông về với đất,

đời oái oăm là thế Nhưng bà vẫn đi như để thực hiện giấc mơ cùng ông “Bạn đường

hỏi dì đi chừng nào về Ngoại bảo chưa biết nữa, đi bụi mà, tới đâu hay tới đó Nhưng chắc chắn có ghé biển Bồ đã chờ sẵn Hải lưu chắc đưa tro của bồ di khắp góc biển chân trời”[21;124] Ông chết nhưng để lại trong bà một khoảng trống, sợi dây liên kết

tình cảm vẫn còn, có lẽ vì điều đó mà bà vẫn tin sẽ được gặp ông dù là ở cõi âm

Trang 36

2.3 Góc nhìn mới của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện ngắn Đảo

2.3.1Quan niệm nhân sinh trong tập truyện Đảo

Quan niệm nhân sinh là kết quả quá trình nhận thức của con người về cuộc sống Trong xã hội, mỗi con người đều có cách nhìn cuộc sống khác nhau, có rất nhiều những mảng màu sắc trong đời sống Có thể nói cuộc sống như một chiếc kính vạn hoa, muôn hình muôn vẻ, mỗi mảng màu có một ý nghĩa riêng Những con người trong cuộc đời thật bước vào trang văn như những gì vốn có, đó là đời sống hiện thực bên ngoài chúng ta, bằng cái nhìn tinh tế, sâu sắc của nhà văn Có lẽ vì thế mà truyện ngắn lại mang nhiều ý nghĩa triết lý nhân sinh

Tập truyện ngắn Đảo với mười bảy truyện ngắn, mỗi truyện là một thân phận

khác nhau Hầu hết đều là những thân phận mang dáng vấp u buồn bởi những câu chuyện mang tên cuộc sống Thật vậy, đã là cuộc sống thì phải có thăng trầm, có hỉ nộ

ái ố thì mới ra cái dáng vẻ của nó Dõi theo những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta thấy trong đó đều có những vấn đề đáng để suy ngẫm, đôi khi đó chỉ là những câu nói bình thường, những cảm nhận nhẹ nhàng của một nhân vật nhưng lại đầy ý nghĩa về cuộc sống Không chỉ triết lý suông mà nhà văn nhìn bằng đôi mắt và trái tim cảm thụ cuộc sống Tác giả luôn muốn sẻ chia những nỗi niềm, những kinh nghiệm cuộc sống thông qua việc truyền tải trên chính nhân vật của mình

Cuộc sống này có rất nhiều những điều bất ngờ, đôi khi nó khiến con người ta bước đến đỉnh cao của thành công nhưng cũng có khi nó vùi con người ta xuống tận cùng, bởi những cạm bẫy xã hội cứ bủa vây, mà lòng người thì nào phải sắc đá, thế nên sự sa ngã là không thể tránh khỏi Thế nhưng lại có những con người biết chấp nhận và đứng lên mạnh mẽ Trong truyện tác giả viết về người nông dân nghèo, những phận người cùng cực, thế nên họ phải gánh những lo toan cuộc sống nhiều hơn, sẽ

chẳng thoát khỏi bốn chữ “bể khổ trần ai” Những nhân vật trong truyện của Nguyễn

Ngọc Tư cũng đầy bi kịch, những con người luôn bị tác động của xã hội làm vỡ nhân

cách Nhưng sẽ có mấy ai được như “gã” trong Củi mục trôi về, dưới ánh nhìn của xã

hội gã chỉ là một thứ củi mục chẳng thể dùng, gã đã mắc phải lỗi lầm khó mà thứ tha Thế nhưng, gã là một con người dám chấp nhận sự thật, gã đã thức tỉnh, sám hối và

vượt qua được “Tôi muốn vấp chỗ nào thì đứng lên ngay chỗ ấy”[21;128] Một con

Ngày đăng: 05/11/2016, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2. Nguyễn Trọng Bình (2009), Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Luận vănthạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học", NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2. Nguyễn Trọng Bình (2009), "Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2. Nguyễn Trọng Bình
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2. Nguyễn Trọng Bình (2009)
Năm: 2009
5. Trần Phỏng Diều, Thị yếu thẫm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, tạp chí văn nghệ quân đội số 645 tháng 5.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị yếu thẫm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
6. Nguyễn Thụy Thùy Dương – Nguyễn Văn Nở (2015) Thành ngữ cải biến trong truyện ngắn Đồng Bằng sông Cửu Long , Tạp chí ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ cải biến trong truyện ngắn Đồng Bằng sông Cửu Long
7. Nhiều tác giả (2007), Từ điển thuật ngữ văn học , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Thu Hiền (2010), Yếu tố tâm linh trong truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975, luận văn thạc sĩ văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố tâm linh trong truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975
Tác giả: Nguyễn Thu Hiền
Năm: 2010
9. Nguyễn Đăng Mạnh (1991) Truyện ngắn hôm nay, in trong báo Văn nghệ, số 48 10. Tôn Thảo Miên (1998), Nguyễn Tuân về tác giả và tác phẩm, NXB giáo dục 11. Dạ Ngân (1990), Con chó và vụ ly hôn, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn hôm nay", in trong báo Văn nghệ, số 48 10. Tôn Thảo Miên (1998), "Nguyễn Tuân về tác giả và tác phẩm", NXB giáo dục 11. Dạ Ngân (1990), "Con chó và vụ ly hôn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh (1991) Truyện ngắn hôm nay, in trong báo Văn nghệ, số 48 10. Tôn Thảo Miên (1998), Nguyễn Tuân về tác giả và tác phẩm, NXB giáo dục 11. Dạ Ngân
Nhà XB: NXB giáo dục 11. Dạ Ngân (1990)
Năm: 1990
14. Nguyên Ngọc (2000) Nói về truyện ngắn trong tập Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói về truyện ngắn" trong tập "Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký
Nhà XB: NXB Thanh niên
16. Trần Đình Sử (2006), Giáo trình lí luận văn học - Tập II, NXB Đại học sư phạm 17. Bùi Việt Thắng (2000) Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại,NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận văn học - Tập II", NXB Đại học sư phạm 17. Bùi Việt Thắng (2000) "Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm 17. Bùi Việt Thắng (2000) "Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại"
Năm: 2006
18. Trần Mạnh Thường (2003) Từ điển tác gỉa văn học Việt Nam Thế kỷ XX, NXB hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác gỉa văn học Việt Nam Thế kỷ XX
Nhà XB: NXB hội nhà văn
19. Huỳnh Công Tín (2006) Nguyễn Ngọc Tư – Nhà văn trẻ Nam Bộ, Cảm nhận bản sắc Nam Bộ, NXB Văn hóa – thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ, Cảm nhận bản sắc Nam Bộ
Nhà XB: NXB Văn hóa – thông tin
20. Huỳnh Công Tín (2007) Từ điển từ ngữ Nam Bộ, NXB Khoa học xã hội 21. Nguyễn Ngọc Tư (2014) Đảo, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảo
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội 21. Nguyễn Ngọc Tư (2014) "Đảo"
23. Phùng Văn Tửu (2000), Một phương diện của truyện ngắn, 24. Hạnh Vân (2014) Quán ven sông, NXB Văn hóa - văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán ven sông
Tác giả: Phùng Văn Tửu
Nhà XB: NXB Văn hóa - văn nghệ
Năm: 2000
25. Lữ Thị Thùy Vân, 2012, Chất Nam bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn Thạc sĩ Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất Nam bộ trong truyện ngắn
26. PV, Nguyễn Ngọc Tư những vì sao không thay thế được cho nhau, Tạp chí văn nghệ quân đội, 638 – 639 tháng 2 2006,* Tài liệu tham khảo mạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: PV, "Nguyễn Ngọc Tư những vì sao không thay thế được cho nhau
27. Tào Văn Ân, Giáo trình Lí luận văn học http://websrv1.ctu.edu.vn/coursewares/supham/llanhoc2/ch8.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận văn học
28. Hạnh Đỗ, Nguyễn Ngọc Tư: “Mình thơm nắng thì khỏi cần nước hoa” http://www.tienphong.vn/van-nghe/nguyen-ngoc-tu-minh-thom-nang-thi-khoi-can-nuoc-hoa-642926.tpo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư: “Mình thơm nắng thì khỏi cần nước hoa”
29. Ngọc Đỗ, Nguyễn Ngọc Tư từ “Cánh đồng” tới “Đảo” http://vanhocquenha.vn/vi-vn/113/50/nguyen-ngoc-tu--tu-%E2%80%98canh-dong%E2%80%A6-toi-%E2%80%98dao-/123743.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư từ “Cánh đồng” tới “Đảo”
30. Thoại Hà, Nguyễn Ngọc Tư: “Tôi không đứng về phía người phụ nữ thụ động” http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/nguyen-ngoc-tu-toi-khong-dung-ve-phia-nguoi-phu-nu-thu-dong-3158065.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thoại Hà, "Nguyễn Ngọc Tư: “Tôi không đứng về phía người phụ nữ thụ động”
31. Lý Tùng Hiếu, Vùng văn hóa Nam Bộ, định vị và đặc trưng văn hóa http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/1238-ly-tung-hieu-vung-van-hoa-nam-bo-dinh-vi-va-dac-trung-van-hoa.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng văn hóa Nam Bộ, định vị và đặc trưng văn hóa
42. Kiệt Tấn, Sông nước Hậu Giang và Nguyễn Ngọc Tư http://siquantrubi15.com/?p=5479 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w