ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc CHỦ ĐỀ TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ “Quản lý nhà nước về giáo dục” LỚP BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO NGƯỜI CÓ BẰN.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
CHỦ ĐỀ TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ
“Quản lý nhà nước về giáo dục”
LỚP BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO NGƯỜI CÓ BẰNG CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH PHÙ HỢP CÓ
NGUYỆN VỌNG TRỞ THÀNH GIÁO VIÊN THCS, THPT
Anh/chị hãy nhận xét về thực trạng chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay và đề xuất phương án khả thi để quản lí sử dụng nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của đơn vị giáo dục trong bối cảnh mới
*********************************
A Phần mở đầu:
V.I.Lênin vị lãnh tụ của giai cấp vô sản đã từng nói “ Học, học nữa, học mãi”, câu nói đã khẳng định tầm qua trọng của việc học đối với mỗi cá nhân và dân tộc Kiến thức của nhân loại mênh mông hiểu biết của con người luôn có giới hạn Vì vậy việc học vô cùng quan trọng Vì thế giáo dục có vai trò quan trọng trong việc phát triển xã hội
Bước sang thế kỉ XXI, giáo dục đứng trước những đổi thay mạnh mẽ của thế giới văn minh hiện đại được tạo ra bởi khoa học và công nghệ Những vấn
đề về toàn cầu hoá, hội nhập khu vực, mong muốn được khẳng định về bản sắc dân tộc, những đòi hỏi tôn trọng sự đa dạng văn hoá; sự xuất hiện các mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa cạnh tranh và bình đẳng, giữa bùng nổ kiến thức và năng lực tiếp thu v.v được đặt ra Giáo dục với tư cách là yếu tố quan trọng cho sự phát triển xã hội cần phải đáp ứng được các xu hướng lớn đó, việc giáo dục và đào tạo một lần ở trong nhà trường không thể đủ vận dụng cho suốt cuộc đời Giáo dục suốt đời là một xu thế tất yếu cần thiết, vì nó thường xuyên làm giàu tiềm năng của mọi cá nhân, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của xã hội
PGS.TS Lê Thanh Bình trong cuốn “Một số vấn đề quản lý nhà nước kinh
tế, văn hoá, giáo dục trên thế giới và Việt Nam” đã khẳng định: “Chất lượng một quốc gia sẽ được đánh giá theo các tiêu chí: dân cư được giáo dục tốt, nguồn nhân lực dựa vào trí tuệ dồi dào của trí thức, sự linh hoạt, hiệu quả của
Trang 2cơ cấu tài chính, đội ngũ các nhà doanh nghiệp giỏi mà giáo dục, đào tạo lại
có ảnh hưởng then chốt đến vấn đề trên, tức là có vai trò làm đòn bẩy của sự phát kinh tế - xã hội” “Giáo dục, đào tạo sẽ đáp ứng việc hợp tác quốc tế về trí tuệ, mặt khác, phục vụ được định hướng tạo ra những sản phẩm cho phép cạnh tranh trong một thế giới kinh tế không biên giới” Từ lâu, giáo dục đào tạo đã từ
lâu là một yếu tố rất quan trọng, thiết yếu trong việc phát triển của một đất nước Các quốc gia trên thế giới, không chỉ riêng đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta, họ đều lấy giáo dục làm quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước Thực vậy, giáo dục là điều kiện tiên quyết giúp quyết định nền kinh tế của đất nước đó có phát triển hay không, xã hội đó có ổn định hay không, đất nước đó
có nhiều nhân tài để phục vụ cho đất nước hay không Chính vì vậy chất lượng giáo dục đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của đất nước
B Phần nội dung:
I Thực trạng chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay
1 Chất lượng giáo dục là gì?
Chất lượng giáo dục là một khái niệm rộng và đa chiều bởi lẽ, giáo dục là một quá trình phức tạp Việc đánh giá chất lượng giáo dục cần có những tiêu chí xác định Nhưng để thực hiện được công tác đánh giá quan niệm về chất lượng giáo dục cần được làm rõ Có nhiều quan niệm về chất lượng giáo dục, nhưng nhìn chung các khái niệm vẫn luôn là cơ sở cho việc xác định những tiêu chí, những thước đo cần thiết để có thể đánh giá chính xác về chất lượng giáo dục
Từ điển Giáo dục học định nghĩa: Chất lượng giáo dục là “tổng hòa những phẩm chất và năng lực được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của nhà nước hoặc xã hội nhất định
Theo Luật giáo dục “Chất lượng giáo dục trường trung học là sự đáp ứng mục tiêu của trường trung học, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật giáo dục, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và cả nước”
Theo Tiến sỹ Lê Đức Phúc: “Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục” Điều này đồng nghĩa chất lượng giáo dục được lượng
hoá bằng mức độ đạt được mục tiêu giáo dục Để đánh giá chất lượng giáo dục chúng ta phải đánh giá qua các tiêu chí về việc thực hiện mục tiêu giáo dục Tuy nhiên, mục tiêu giáo dục ở đây cần được làm rõ đó là mục tiêu chung trong Luật Giáo dục hay mục tiêu của từng cơ sở giáo dục, từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo hay cần đáp ứng mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể
Trang 3Theo PGS.TS Nguyễn Văn Đản (Trường đại học Sư phạm Hà Nội), chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân
và xã hội, trước mắt và lâu dài
Theo TS Tô Bá Trượng (Viện chiến lược và Chương trình giáo dục) thì cho rằng, chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Cái phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển
Từ một góc độ tiếp cận cụ thể hơn, tác giả Trần Khánh Đức quan niệm:
Chất lượng giáo dục là “kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể” Vấn đề cơ bản trong quan niệm của tác giả Trần Khánh
Đức đó chính là chất lượng giáo dục được thể hiện ở việc mục tiêu được hiện thực hoá trong phẩm chất, khả năng, trình độ của người học
Trong các nghiên cứu về chất lượng giáo dục, điểm chung nhất có thể nhận thấy trong các quan niệm về chất lượng giáo dục đó chính là chất lượng giáo dục được phản ánh qua kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục Chất lượng giáo dục toàn diện với sản phẩm cốt lõi là chất lượng một học sinh sau khi được đào tạo
có được kiến thức học tập, các phẩm chất, giá trị nhân cách hay năng lực sống
và hoà nhập đời sống xã hội
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, với yêu cầu hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường, chất lượng giáo dục được đánh giá ở kết quả đào tạo với những điều kiện bảo đảm chất lượng nhất định về nội dung, chương trình, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên Thực hiện Luật Giáo dục năm 2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ- CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên, tăng cường cơ sở vật chất, và đẩy mạnh công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo nhằm nhanh chóng tạo bước chuyển biến lớn về chất lượng giáo dục Công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục được triển khai trong những năm gần đây đã có những tác động tích cực đến chất lượng giáo dục của
hệ thống giáo dục quốc dân
2 Thực trạng chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay
Trang 4a Ưu điểm:
Bước sang thế kỉ XXI, giáo dục đứng trước những đổi thay mạnh mẽ của thế giới văn minh hiện đại được tạo ra bởi khoa học và công nghệ Những vấn
đề về toàn cầu hoá, hội nhập khu vực, mong muốn được khẳng định về bản sắc dân tộc, những đòi hỏi tôn trọng sự đa dạng văn hoá; sự xuất hiện các mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa cạnh tranh và bình đẳng, giữa bùng nổ kiến thức và năng lực tiếp thu v.v được đặt ra Giáo dục với tư cách là yếu tố quan trọng cho sự phát triển xã hội cần phải đáp ứng được các xu hướng lớn đó, việc giáo dục và đào tạo một lần ở trong nhà trường không thể đủ vận dụng cho suốt cuộc đời Giáo dục suốt đời là một xu thế tất yếu cần thiết, vì nó thường xuyên làm giàu tiềm năng của mọi cá nhân, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của xã hội Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương
8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Qua 8 năm thực hiện, nhìn chung tình hình giáo dục nước ta đã có những khởi sắc đáng kể
Theo báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới về Vốn nhân lực, thành phần kết quả giáo dục của Việt Nam đứng thứ 15, tương đương với các nước như Hà Lan, New Zealand, Thụy Điển Nhiều chỉ số về Giáo dục của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành Chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN; kết quả Chương trình Đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học các nước Đông Nam Á (SEA PLM) năm 2019 cho thấy chất lượng giáo dục tiểu học của Việt Nam đứng vào tốp đầu của các nước ASEAN Trong các đợt đánh giá PISA, Việt Nam có kết quả vượt trội so với trung bình của các nước trong khối OECD trong khi mức đầu tư cho giáo dục thấp hơn hẳn
Ban hành và triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới Tính đến nay, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã phê duyệt 5 bộ sách giáo khoa lớp 1 cho phép sử dụng từ năm học 2020-2021 và 3 bộ sách giáo khoa lớp 2, 3 bộ sách giáo khoa lớp 6 cho phép sử dụng từ năm học 2021-2022 Việc lựa chọn sách giáo khoa đã thực hiện cơ bản nghiêm túc, công khai, minh bạch Đây là lần đầu tiên trong lịch sử ngành giáo dục nước ta thực hiện chủ trương này và đã có kết quả bước đầu đáng khích lệ
Công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng thực chất, hiệu quả hơn Đổi mới thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng đối với
Trang 5giáo dục phổ thông được triển khai theo hướng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quá trình với kết quả cuối năm học
Các bậc học sau phổ thông đã chuyển việc tổ chức đào tạo theo niên chế sang tích lũy mô đun hoặc tín chỉ Việc kiểm tra, đánh giá trình độ đào tạo thạc
sĩ và tiến sĩ được thực hiện chặt chẽ hơn; chất lượng các luận văn, luận án từng bước theo tiêu chuẩn quốc tế
Công tác đổi mới thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học, cao đẳng được triển khai theo hướng đánh giá năng lực, kết hợp kết quả quá trình với kết quả cuối năm học, giảm áp lực và tốn kém cho xã hội
Toàn ngành Giáo dục đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, dạy và học Lần đầu tiên, toàn ngành Giáo dục đã xây dựng
cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông Công nghệ thông tin được sử dụng rộng rãi trong các trong các hoạt động dạy và học; dạy học qua internet, trên truyền hình được thực hiện mạnh mẽ, nhất là trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid-19
b Hạn chế:
Tuy nhiên, để đưa ra một bức tranh tổng thể về thực trạng chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay, chúng ra ta cần nhìn nhận giáo dục Việt Nam những vướng mắc ở khía cạch sau:
* Về tư duy giáo dục:
Giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập Một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí,
xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội Chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu
Nền giáo dục bị khép kín trong nhà trường và chủ yếu dựa trên sự tương tác giữa thầy và trò trong phạm vi của sách giáo khoa, thiếu sự tương tác với xã hội Có thể thấy rằng, nền giáo dục chúng ta vẫn còn tình trạng đua nhau nhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở, chú trọng vào việc truyền đạt kiến thức Quá coi trong bằng cấp và kết quả thi cử mà chưa chú trọng đến năng lực và phẩm chất của người học Cách tổ chức thi hiện nay phần lớn mới chỉ dừng lại việc đánh giá nhận thức sách vở của người học Tuy nhiên, năm nào thi cử cũng gian lận, đề thi sai, mang nặng tính nhồi nhét
Trang 6Vai trò của gia đình, đoàn thể và xã hội ngày một mờ nhạt trong giáo dục thế hệ trẻ Tình trạng học sinh bỏ học gia tăng, học sinh tham gia vào tệ nạn xã hội, ma túy trong học đường, đạo đức suy đồi
* Về phía người dạy
Nền giáo dục của Việt Nam chưa thoát khỏi cách nghĩ và cách làm giáo dục của giáo dục của xã hội truyền thống, đội ngũ giáo viên còn tư duy theo kiểu
cũ “mình là chân lý, là nguồn duy nhất của kiến thức” Mặc dù chất lượng và số
lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp Năng lực ứng dụng những phương pháp dạy học và giáo dục mới, năng lực thực hiện các phương pháp kiểm tra đánh giá mới, năng lực ngoại ngữ và ứng dụng Công nghệ thông tin còn kém Việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học, số thời gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu, nâng cao năng lực chuyên môn
Cơ cấu đội ngũ giáo viên phổ thông mất cân đối, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, còn một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới Chế độ làm việc của giáo viên qúa căng thẳng, dạy và học ở trường không
đủ phải tranh thủ dạy và học thêm một cách tràn lan, cá biệt có những giáo viên
vi phạm đạo đức nhà giáo, gây bức xúc xã hội
Chính sách tiền lương cho giáo viên, chưa phù hợp nên chưa thu hút được sinh viên giỏi vào ngành sư phạm đời sống của ngưới Thầy còn nhiều khó khan: Hiện nay giáo viên đang được hưởng mức lương thuộc nhóm cao, nhưng thực tế
xã hội ta hiện nay không sống bằng lương, các ngành khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều Đây là vấn đề cần phải xem lại chính sách lương bổng của chúng ta đối với thầy cô giáo Nếu chúng ta thử tính một gia đình nhà giáo, hai người dạy học, có hai con đúng tiêu chuẩn, nếu họ là nhà giáo chân chính, chuyên tâm dạy học thì cuộc sống gia đình chỉ ở mức trung bình
* Về phía người học
Tình trạng học đối phó ngày càng phát triển biến thành con bệnh mãn tính rất khó chữa Một khi đã trở thành thói quen thì thật nguy hiểm mà mọi người không nhận biết ra được mức tác hại của nó chương trình học nhồi nhét và thi
cử nặng nề, học sinh hầu như không còn thời gian để tự tư duy và tìm hiểu kiến
Trang 7thức, nhiều em do áp lực quá lớn của khối lượng kiến thức nên chỉ còn một cách duy nhất là học thuộc lòng để đi thi Chính việc trên đã lấy đi tuổi thơ của thế hệ trẻ và tác động không nhỏ đến sức khỏe, thể chất của học sinh làm ảnh hưởng lâu dài đến khả năng thái độ làm việc của các em sau này Nó sẽ len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, sinh hoạt làm băng hoại đạo đức và hiệu quả của công việc từ nhỏ đến lớn
Về chương trình đạo tạo, nội dung chương trình đào tạo bậc trung học chậm cải tiến đổi mới, chưa gắn chặt với đời sống xã hội thiếu tính cập nhật, lý thuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn tới việc học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực tiễn Chương trình quá rộng và quá nặng cùng với chế độ thi cử nặng nề, cộng thêm bệnh thành tích và cách quản lý theo kiểu chỉ cầm tay chỉ việc; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, đã gây áp lực rất lớn cho thầy và trò Vấn đề giáo dục về đạo đức có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy
“người” và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
* Về hệ thống quản lý, và cở sở hạ tầng:
Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác Cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước Năng lực đội ngũ quản lý giáo dục, nhà giáo các cấp còn yếu, chưa theo kịp với tiến trình đổi mới Đạo đức và năng lực của một
bộ phận đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn thấp
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học còn thiếu, lạc hậu; tỷ lệ phòng học kiên cố thấp; một số địa phương nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất trường, lớp còn hạn hẹp, đầu tư dàn trải, hiệu quả chưa cao; việc huy động các nguồn lực khác còn hạn chế… Việc sử dụng nguồn lực đầu tư của Nhà nước
và xã hội thiếu hiệu quả Nguồn lực tài chính đầu tư của Nhà nước tuy có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo do quản
lý manh mún và phân tán, chỉ chạy theo mục tiêu trước mắt, thường tranh thủ
mở rộng qui mô mà quên đi chất lượng dẫn đến bộ máy quản lý cồng kềnh gây lãng phí Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm
Trang 8Hệ thống quản trị, kết nối, khai thác dữ liệu ngành phục vụ công tác quản
lý, điều hành, dạy học còn chưa đồng bộ; một số nơi hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị kết nối còn thiếu, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn,chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số Công tác truyền thông về giáo dục còn hạn chế, chưa tạo được đồng thuận cao trong xã hội khi bắt đầu triển khai nhiều chủ trương, chính sách mới của ngành Truyền thông nội bộ ngành chưa hiệu quả, còn những ý kiến trái chiều ngay trong đội ngũ giáo viên khi triển khai chính sách mới
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo – quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích
II Phương án quản lí sử dụng nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của đơn vị giáo dục trong bối cảnh mới
Để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong thời gian tới, ngành giáo dục và đào tạo cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 29 – NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Dưới đây là một số phương án khả thi để quản lí sử dụng nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của đơn vị giáo dục trong bối cảnh mới:
* Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cán bộ quản lý nhà trường
Từ Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển nhanh NNL nhất là NNL chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển NNL với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” Thật vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành
nguồn nhân lực của quốc gia, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việc nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và là một tất yếu khách quan nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững
Công tác quản lý và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà trường là yếu
tố rất quan trọng nhằm đảm bảo sự thành công cho cả tiến trình đổi mới, nâng
Trang 9cao chất lượng giáo dục và đào tạo của mỗi nhà trường Vì vậy, cần phải nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác quản lý một cách toàn diện Để làm được điều đó, cán bộ làm công tác quản lý cần tiếp tục đổi mới cơ bản về tư duy và phương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả
Trong bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông mới đang được áp dụng thì vai trò của lãnh đạo cần thể hiện để phát triển nhà trường Cần có sự quan tâm đến tầm nhìn sứ mệnh, tạo giá trị, xây dựng và thực hiện các chương trình hành động phát triển nhà trường Phát huy hơn nữa vai trò của Đảng bộ, chính quyền địa phương trong định hướng, điều hành, phối hợp với nhà trường trong các hoạt động giáo dục Mạnh dạn giao quyền cho các tổ, khối và giáo viên thực hiện nhiệm vụ
Cùng với đó là tăng cường kiểm soát chất lượng, hiệu quả công tác quản
lý, tổ chức hoạt động giáo dục Phối hợp với các đơn vị cung cấp phần mềm, cần thiết phục vụ công tác quản lý thông tin, hỗ trợ công tác quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu về dữ liệu và thông tin cho công tác chỉ đạo quản lý Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra nội
bộ trường học, cũng như việc chấp hành chính sách, pháp luật về giáo dục, đào tạo của cán bộ và giáo viên trong đơn vị
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có bản lĩnh chính trị vững vàng; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; đạo đức trong sáng; vì lợi ích tập thể, không vụ lợi cá nhân; có thái độ tích cực và kiên quyết chống những biểu hiện và hành vi sai trái Phân công, giao nhiệm vụ cho cán bộ rõ quyền hạn và trách nhiệm, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
* Năng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Giáo ᴠiên là уếu tố ᴄó ᴠai trò quуết định hàng đầu đến ᴄhất lượng giáo dụᴄ Bộ giáo dục ra Nghị quyết hội nghị lần thứ II ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá VII đã nêu rõ: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh” qua đó ta có thể thấy được vai trò quan trọng
của giáo viên Để nâng ᴄao ᴄhất lượng giáo ᴠiên thì ᴄần phải đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo ᴠiên; хâу dựng hệ thống ᴄhính ѕáᴄh ᴄho giáo ᴠiên; хâу dựng ᴄơ ᴄhế tuуển ᴄhọn, đánh giá giáo ᴠiên ᴠà quản lý toàn diện ᴄáᴄ hoạt động ᴄhuуên môn nghiệp ᴠụ ᴄủa giáo ᴠiên
Trang 10Nguồn lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là vốn quý nhất, là động lực, là nhân tố đảm bảo cho lợi thế giáo dục nước ta phát triển và cạnh tranh được với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi là chìa khóa, là nhân tố trung tâm cho sự nghiệp giáo dục phát triển
Để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho học sinh đạt kết quả cao, các trường cần chủ động xây dựng kế hoạch, tích cực tham mưu với Sở Giáo dục và Đào tạo trong việc cử giáo viên tham gia bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ Ban giám hiệu cần phân công rõ và phù hợp với khả năng từng người để phối hợp cùng nhau trong các hoạt động một cách chặt chẽ, có hiệu quả để hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học
Chỉ đạo thực hiện chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy Một
trong những điểm mới của các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là việc tích hợp liên môn để giúp học sinh giảm tải Vì vậy, khi thực hiện sách giáo khoa phổ thông mới đòi hỏi giáo viên phải có năng lực hiểu sâu
và rộng mọi lĩnh vực, phải huy động tối đa nguồn tri thức xã hội của bản thân, vận dụng vào trong bài giảng mới có thể trở thành người “khai sáng” cho học sinh, đáp ứng yêu cầu của chương trình mới Yêu cầu mỗi một giáo viên phải nắm bắt được cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học như: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy được năng lực vận dụng và phẩm chất của học sinh
Thực hiện nâng cao chuyên môn qua các hội thi, thao giảng Để nâng cao
trình độ chuyên môn và đánh giá đúng thực lực giáo viên, nhà trường cần tổ chức các hội thi thao giảng cấp trường Mục đích của tổ chức thao giảng, dự giờ
là để tạo các cơ hội cho các giáo viên được học hỏi, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và khắc phục ngay những nhược điểm mắc phải Tổ chức các tiết dạy mẫu, biện pháp này cũng giúp giáo viên trực tiếp dạy có thêm kinh nghiệm còn giáo viên đến dự được học tập rất nhiều qua thực tế
Nêu cao tinh thần và hiệu quả của công tác tự học, tự bồi dưỡng (tự đào tạo), để phát triển năng lực giáo viên Tự bồi dưỡng là con đường tích lũy kiến thức, gọt sắc tư duy, là sự trăn trở, thử nghiệm để tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người học
Đội ngũ giáo viên phải thay đổi tư duy, không thể tư duy theo kiểu cũ
“mình là chân lý, là nguồn duy nhất của kiến thức” Các thầy cô giáo cần có cách tư duy và dạy những gì mới hơn, cập nhật hơn Cần có sự hiểu biết, tâm lý