Ông đành lui về ở ẩn, tìm niềm vui từ cuộc sống gần thiên nhiên, tìm chỗ dựa tinh thần trong triết thuyết Lão Trang, tìm niềm an ủi trong sự đồng cảm của bạn bè tri kỉ, nguyện đem ngọn b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
PHAN THỊ THU HÀ
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG PHONG LÂM MINH LẠI THI TẬP
CỦA NGUYỄN ÁN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
PHAN THỊ THU HÀ
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG PHONG LÂM MINH LẠI THI TẬP
CỦA NGUYỄN ÁN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS AN THỊ THÚY
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Giá trị nội dung và nghệ thuật
trong Phong lâm minh lại thi tập của Nguyễn Án”, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam cùng toàn thể thầy cô giáo khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và nhiệt tình giảng dạy trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại đây
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến ThS An Thị Thúy đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Phan Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung triển khai trong khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của ThS An Thị Thúy Kết quả thu được là trung thực và không trùng lặp với nghiên cứu của những tác giả khác
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Phan Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NGUYỄN ÁN 6
1.1 Tác giả Nguyễn Án 6
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội, tư tưởng 6
1.1.2 Cuộc đời và con người 8
1.2 Sự nghiệp sáng tác 10
Tiểu kết chương 1 11
Chương 2 PHONG LÂM MINH LẠI THI TẬP NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 12
2.1 Thiên nhiên cảnh vật trong Phong lâm minh lại thi tập 12
2.1.1 Di tích lịch sử văn hóa 12
2.1.2 Danh lam thắng cảnh 18
2.2 Tâm sự của người trí thức nghèo 21
2.2.1 Nỗi buồn trước thời cuộc 22
2.2.2 Nỗi buồn trước cuộc sống của bản thân 27
2.3 Tình bạn - tri âm tri kỉ 32
Tiểu kết chương 2 37
Trang 6Chương 3 PHONG LÂM MINH LẠI THI TẬP NHÌN TỪ PHƯƠNG
DIỆN NGHỆ THUẬT 38
3.1 Hình ảnh thơ 38
3.1.1 Hình ảnh thiên nhiên cảnh vật 38
3.1.2 Hình ảnh con người 41
3.2 Ngôn ngữ thơ 44
3.3 Thời gian, không gian nghệ thuật 48
3.3.1 Thời gian nghệ thuật 48
3.3.2 Không gian nghệ thuật 53
Tiểu kết chương 3 58
KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Nguyễn Án sống trong khoảng thời kì cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX Đây được coi thời kì biến động dữ dội nhất của lịch sử dân tộc khi chế
độ phong kiến đang khủng hoảng, bế tắc Các nhà thơ, nhà văn đều đem tâm
tư, tình cảm vào trong những trang thơ văn của mình Qua tác phẩm của họ, người đời sau phần nào thấy được diện mạo chân thực của bức tranh hiện thực
xã hội bấy giờ Cũng như nhiều nho sĩ khác, chí hướng ban đầu của Nguyễn
Án là mong muốn được đem tài năng ra hành đạo, để góp phần “trị quốc an dân”, nhưng thời thế đang có những biến chuyển dữ dội, cảnh “bể dâu” diễn
ra ngay trước mắt qua từng tháng từng ngày khiến nhà thơ bi quan, thất vọng Ông đành lui về ở ẩn, tìm niềm vui từ cuộc sống gần thiên nhiên, tìm chỗ dựa tinh thần trong triết thuyết Lão Trang, tìm niềm an ủi trong sự đồng cảm của bạn bè tri kỉ, nguyện đem ngọn bút phụng sự nhân sinh qua những trang văn thơ ghi lại thế sự, diễn tả nỗi lòng, mong muốn góp phần cảnh tỉnh thế tục
Mặc dù không được giảng dạy, nghiên cứu trong chương trình phổ thông nhưng Nguyễn Án cũng là tác giả được nhắc đến khá nhiều trong văn
học giai đoạn cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX với thiên ký Tang thương
ngẫu lục - viết chung với người bạn thân Phạm Đình Hổ Đây được coi là tác
phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của tác giả
Trang 82
Trong những năm qua, con người và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Án
đã được giới nghiên cứu văn học quan tâm Bên cạnh những công trình
nghiên cứu về Tang thương ngẫu lục, việc sưu tầm và nghiên cứu tập thơ
Phong lâm minh lại thi tập của Nguyễn Án đã được quan tâm ít nhiều Tuy
nhiên, sự quan tâm đó đa phần là dừng lại ở việc giới thiệu văn bản Giá trị nội dung và nghệ thuật được đề cập đến không nhiều và chưa toàn diện trong tập thơ này Đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu nào riêng biệt dành cho tập thơ
Trên đây là những lí do khích lệ chúng tôi lựa chọn đề tài “Giá trị nội
dung và nghệ thuật trong Phong lâm minh lại thi tập của Nguyễn Án” Qua
đó, chúng ta có những nhìn nhận, đánh giá đầy đủ hơn về con người và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ đồng thời khẳng định vai trò, đóng góp của ông đối với nền văn học dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Xưa nay chúng ta thường chỉ nhắc đến Nguyễn Án với tư cách đồng tác
giả Tang thương ngẫu lục, viết chung với Phạm Kiều Niên mà không chú ý là ông còn một tập thơ Phong lâm minh lại thi tập Các công trình, tư liệu nghiên
cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Án đến nay còn khá mỏng Trong quá
trình tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng với tập truyện ký Tang thương ngẫu lục, đã
có khá nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm Riêng tập thơ Phong
lâm minh lại thi tập mới chỉ dừng lại ở giới thiệu văn bản.Với sự tìm hiểu hạn
hẹp, chúng tôi đã sưu tầm được một số tư liệu nghiên cứu về Nguyễn Án cũng
như tập thơ Phong lâm minh lại thi tập như sau:
Tác giả Nguyễn Tư Uyển, Nguyễn Án trong Danh nhân Hà Nội tập I đã
có những ghi chép giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của danh nhân
Khi giới thiệu về tập thơ Phong lâm minh lại thi tập tác giả viết: “Ngoài
Thương tang ngẫu lục Nguyễn Án còn hay cùng các bạn bè đồng tâm đồng
Trang 93
chí đi thăm các nơi danh làm thắng cảnh, di tích lịch sử rồi cùng nhau ngâm
vịnh rồi ghi lại thành sách đặt tên là Phong lâm minh lãi thi tập” [15, tr.240]
Trong cuốn Danh nhân Hà Nội, Nxb Hà Nội, 2004, Phạm Ngọc Lan có bài viết với tiêu đề Nguyễn Án với những ghi chép về “cuộc tang thương” và
những vần thơ tâm sự Trong đó, tác giả đã có đôi nét giới thiệu với khái quát
về danh nhân Nguyễn Án cùng với sự nghiệp sáng tác của ông Đồng thời, tác giả cũng nhắc tới một số nội dung chính trong tập thơ và trích dẫn một số bài
thơ trong tập Phong lâm minh lại thi tập
Trên báo Hà Nội mới, ngày 27/09/2010, tác giả Thi Thi có bài viết Bình
văn thơ danh nhân Nguyễn Án: “Ngày 25 - 9 - 2010, nhân dịp 1000 năm
Thăng Long - Hà Nội và kỷ niệm 240 năm ngày sinh Nguyễn Án, dòng họ Nguyễn gốc Lý tổ chức buổi bình văn thơ danh nhân Nguyễn Án tại làng Du Nội, Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội Buổi bình thơ đã tập trung giới thiệu và ngâm một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Án như “Đáp thơ Phạm Kiều Niên”, “Qua nơi ở cũ của Nguyễn Trãi”, “Cảm hoài”, ” [14]
Cuốn Thơ văn Nguyễn Án do TS Phạm Ngọc Lan, TS Phạm Văn Ánh
biên soạn và giới thiệu “Cuốn sách lần đầu tiên công bố bản dịch tập thơ
Phong lâm minh lại thi tập (Phạm Văn Ánh dịch và chú thích, PGS.TS Trần
Thị Băng Thanh hiệu đính và dịch thơ kèm phụ lục nguyên bản Hán văn của
Phong lâm minh lại thi tập)” [6, tr.9] Bên cạnh đó, cuốn sách còn cung cấp
tương đối đầy đủ tư liệu tham khảo về thi sĩ Nguyễn Án và đề cập đến một số
nội dung trong Phong lâm minh lại thi tập
Qua khảo sát các công trình, tư liệu nghiên cứu, giới thiệu về Nguyễn
Án cũng như tập thơ Phong lâm minh lại thi tập chúng tôi thấy rằng: Những
công trình, tư liệu nghiên cứu mới chỉ mang tính chất giới thiệu sơ lược, gợi
mở, chưa đầy đủ Vì vậy, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ
thuật trong tập thơ Phong lâm minh lại thi tập một cách hệ thống, đầy đủ hơn
Trang 10diện của nhà thơ
Đồng thời, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về con người, thái độ của Nguyễn Án qua thơ ca của ông - danh sĩ Thăng Long trong biến động “bể dâu”
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Triển khai đề tài này, chúng tôi xác định những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tìm hiểu về cuộc đời nhà thơ, hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng đến phong cách và hồn thơ danh sĩ
Thứ hai, tìm hiểu về tập thơ Phong lâm minh lại thi tập, những kiến
thức lí luận liên quan đến đề tài, tìm hiểu giá trị nội và hình thức nghệ thuật
nổi bật trong tập thơ Phong lâm minh lại thi tập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận khảo sát tập thơ Phong lâm minh lại thi tập in trong cuốn
Thơ văn Nguyễn Án, 2017, Nxb Đại học Sư phạm Cuốn sách do TS Phạm
Ngọc Lan và TS Phạm Văn Ánh sưu tầm, biên soạn và giới thiệu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu nội dung và nghệ thuật
trong tập thơ Phong lâm minh lại thi tập của Nguyễn Án để có cái nhìn sâu sắc
hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật qua một số bài thơ, đoạn thơ tiêu biểu
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp sau:
- Phương pháp văn học sử
- Phương pháp sưu tầm và khảo cứu tài liệu
Trang 116 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận tìm hiểu “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Phong lâm
minh lại thi tập của Nguyễn Án” Từ đó, có cái nhìn đầy đủ hơn về con người
và sự nghiệp sáng tác của thi nhân
Đồng thời, thông qua đề tài khóa luận, chúng tôi hi vọng giúp giáo viên Ngữ văn có những kiến thức bổ trợ khi nghiên cứu, giảng dạy về văn học trung đại sau này
7 Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của khóa luận được bố cục theo ba chương:
Chương 1: Khái quát về tác giả và tác phẩm Nguyễn Án
Chương 2: Phong lâm minh lại thi tập nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Phong lâm minh lại thi tập nhìn từ phương diện nghệ thuật
Trang 126
NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
NGUYỄN ÁN
1.1 Tác giả Nguyễn Án
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội, tư tưởng
Để hiểu rõ hơn về nội dung trong Phong lâm minh lại thi tập, chúng tôi
đã tìm hiểu đôi nét về yếu tố thời đại bấy giờ để phần nào thấy được sự tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội và tư tưởng tới hồn thơ, phong cách thơ của danh sĩ
Cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX là giai đoạn có nhiều biến động
dữ dội trong lịch sử phong kiến Việt Nam Giai cấp thống trị tranh giành quyền lực, chiến tranh xảy ra liên miên Từ năm 1778 đến 1802, đất nước thay đổi đến mấy triều đại Chế độ phong kiến bước vào giai đoạn khủng hoảng không có lối thoát, kinh tế, chính trị, tư tưởng có nhiều đổi thay
Về kinh tế: Nền kinh tế giai đoạn này suy sụp một cách trầm trọng và
toàn diện
Nông nghiệp đình đốn Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay địa chủ, quan lại, cường hào Đến chính chúa Trịnh cũng phải công nhận rằng: “Ruộng đất tư của dân nghèo phần nhiều rơi vào tay hào phú, dân nghèo không còn miếng đất cắm rùi” [8, tr.91] Tô thuế nặng, mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp khiến cho đời sống nhân dân ngày càng khổ cực
Công thương nghiệp trì trệ, không phát triển Chính quyền phong kiến hướng công thương nghiệp vào mục đích phục vụ cho nhu cầu của giai cấp thống trị
Thương nghiệp giai đoạn này cũng bị đình trệ, việc buôn bán của thương nhân bị chính quyền kìm hãm
Trang 137
Về chính trị: Chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng
hoảng trầm trọng và bộc lộ trên nhiều phương diện nhưng nổi bật là tính chất thối nát, suy thoái trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến
Thời Lê mạt, vua Lê chỉ là tên bù nhìn, còn quyền lực tập trung hết vào tay chúa Trịnh Alêcxăngđrơ Rốt đã ghi lại thực trạng này trong cuốn
Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1967) như
sau: “Cái xứ này thực là một nước quân chủ thực sự, hơn nữa lại có hai vua, nhưng một gọi là vua thì chỉ có tên mà thôi Còn ông chúa kia thì có đủ quyền hành Vua chỉ ra mắt những ngày nhất định nhưa những ngày đại lễ đầu năm Ngoài ra nhà vua chỉ có du dú ở trong một ngôi điện cổ kính, kéo dài cuộc đời nhàn tản vô vị, trong khi ông chúa coi sóc các công việc chiến tranh và hòa bình” [8, tr.102] Nhìn chung, chính quyền phong kiến giai đoạn này từ trung ương đến địa phương là một bộ máy quan liêu nặng nề, nạn tham ô, hối lộ thỏa sức phát triển
Xã hội loạn lạc, đời sống nhân dân khổ cực, phiêu bạt, bị dồn vào đường cùng, gia đình ly tán, hạn hán, mất mùa đói kém, bệnh dịch hoành hành, người chết vô số
Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự phẫn nộ của quần chúng nhân dân
và sự bùng nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa lớn sau: Năm 1737, khởi nghĩa của Nguyễn Dương Hưng mở đầu cho phong trào khởi nghĩa nông dân ở giai đoạn này Tiếp đến là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh ở Hải Dương Khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương (1740
- 1751) ở Sơn Tây, khởi nghĩa của Hoàng Công Chất ở Sơn Nam Đỉnh cao của phong trào nông dân khởi nghĩa là phong trào Tây Sơn Năm 1771, Nguyễn Nhạc khởi nghĩa ở Quy Nhơn, Bình Định Năm 1776, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đánh chiếm Gia Định, chúa Nguyễn phải bỏ chạy Năm 1786
Trang 148
Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long, phù Lê, diệt Trịnh Năm 1787, nhà Tây Sơn lại cho quân ra Bắc Hà, diệt Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền Năm
1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung Năm
1792, Nguyễn Huệ mất, phong trào Tây Sơn từ đấy tan rã
Về tư tưởng: Thời kì này diễn ra sự phá sản của ý thức hệ phong kiến
và sự ảnh hưởng của các tư tưởng nhân văn khác đã ảnh hưởng không nhỏ
đến thế giới quan, nhân sinh quan của nhà thơ
Nho giáo bị đả kích, lung lay, suy yếu và không còn đại diện cho tư tưởng tiến bộ của nhà nước phong kiến Các nhà nho chân chính bị khủng hoảng về tư tưởng, mất niềm tin vào chính quyền nhà nước Trong số đó, có người lui về ở ẩn hoặc từ quan lui về ở ẩn để giữ gìn, bảo toàn nhân cách của mình
Bên cạnh đó, đạo Phật và đạo Lão trỗi dậy, hòa cùng đạo Nho đã phần nào xoa dịu được nỗi đau trong lòng con người
Như vậy, nhìn vào hoàn cảnh lịch sử - xã hội nước ta thời bấy giờ,
chúng ta có thể thấy Nguyễn Án đã sống và chứng kiến thời kì biến động dữ dội nhất của lịch sử dân tộc Điều này đã có ảnh hưởng lớn đến con người cũng như phong cách sáng tác văn học của ông
1.1.2 Cuộc đời và con người
Nguyễn Án (1770 - 1815), tự là Kính Phủ, hiệu Ngu Hồ Khách và Kiếm Hồ Ngư Ẩn Ngoài ra, có tài liệu khác ghi tự của ông là Thanh Ngọc, hiệu Bỉnh Trực Ông là danh sĩ sống cuối Lê mạt đầu Nguyễn sơ Quê gốc của Nguyễn Án ở làng Vân Điềm nhưng sau đó gia đình chuyển sang thôn Du Nội, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc xưa (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) Nơi đây được coi là mảnh đất địa linh nhân kiệt đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước
Ông xuất thân trong dòng họ thuộc dòng dõi thế gia vọng tộc, nối đời khoa bảng và có danh tiếng Đó là dòng họ Nguyễn gốc Lý, là hậu duệ của Lý
Trang 159
Thái Tổ Ông là hậu duệ của Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Thực, tiến sĩ Nguyễn Nghi, Tiến sĩ Nguyễn Thẩm Ông nội của Nguyễn Án là tiến sĩ Nguyễn Thưởng từng làm quan và trải qua nhiều chức Hơn nữa, dòng họ của Nguyễn Án có nhiều người từng đi sứ Sau những chuyến đi sứ này, các vị tiền nhân đã giúp cho con cháu đời sau mở mang học vấn, kiến thức văn học qua việc mang những sách vở từ nước bạn về Điều này lí giải vì sao dòng họ Nguyễn Án là dòng họ có truyền thống hiếu học, đỗ đạt khoa bảng
Cha của Nguyễn Án là Nguyễn Đường Dù không đỗ đạt cao nhưng ông rất được chúa Trịnh Khải xem trọng Năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn ra Bắc, ông rút lui về ở ẩn tại làng Du Lâm Mẹ của Nguyễn Án là bà kế thất Trần Thị Từ Huệ
Từ thời thơ ấu, Nguyễn Án đã là một cậu bé thông minh, hiếu học nhưng do lớn lên giữa thời li loạn dẫn đến việc học hành lỡ dở Khi gia đình chuyển cư sang Du Lâm, đang tuổi thanh niên nhưng ông đã giúp đỡ cha dạy học Đến khi cha mất, Nguyễn Án tiếp tục nghề dạy học và chuyển cư ra Thăng Long để tiện đường học tập và giao thiệp với bạn bè
Hoàn cảnh xã hội đã tác động trực tiếp đến người thanh niên Nguyễn
Án Vì không đủ điều kiện theo đuổi con đường cung kiếm đồng thời còn mẹ già phải phụng dưỡng nên người thanh niên trí thức ấy đành mượn con đường
ẩn dật để tiếp tục sự nghiệp văn chương và tìm cách giúp người, giúp đời
Sau khi ra đất Thăng Long, Nguyễn Án nhiều năm trú ngụ trên một mảnh đất thuê của người khác và sống cuộc đời nửa ẩn dật và mưu sinh vất
vả Để mưu sinh, ông phải làm nhiều nghề: dạy học, làm thuốc, rồi tìm niềm
an ủi từ thiên nhiên và những người bạn văn chương (vì vậy ông có tên hiệu
là Kiếm Hồ Ngư Ẩn) Nguyễn Án còn là một người con có hiếu với mẹ Những năm đói kém, nghe lời mẹ, ông đã bán ruộng vườn, tài sản để cứu vớt người nghèo
Trang 1610
Về sau, triều Tây Sơn suy vong, nhà Nguyễn lên thay Năm Gia Long thứ 4 (1805), do được tiến cử, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Phù Dung (nay thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên), nhưng chỉ làm một năm thì xin từ quan Năm Gia Long thứ 6 (1807), nhà Nguyễn mở khoa thi Hương đầu tiên ở Bắc Thành, ông cùng con trai trưởng Nguyễn Siêu Tôn lều chõng dự thi Nguyễn Án đỗ Hương cống (Cử nhân) còn con trai trưởng thì đỗ Sinh đồ Năm Gia Long thứ 7 (1808), Nguyễn Án được bổ nhiệm làm Tri huyện Tiên Minh, thuộc phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (tức huyện Yên Lãng, thành phố Hải Phòng ngày nay) Năm 1815, sau sáu năm làm quan, ông mất tại nhiệm
sở, thọ 46 tuổi
Cuộc đời Nguyễn Án gắn với những biến động bão táp của thời đại Ông xuất thân trong gia đình gốc quan lại Bản thân lại là người có cá tính, thông minh, hiếu học nhưng đường công danh lận đận Trong con người thi nhân vừa có tình yêu thiên nhiên, vừa có phẩm chất thanh cao và vừa có tâm
sự của nhà nho trước thời vận
1.2 Sự nghiệp sáng tác
Là một người thông minh, ham học lại sống trong một giai đoạn lịch sử
có nhiều biến động nên những điều tai nghe mắt thấy của Nguyễn Án rất nhiều Sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Án tiêu biểu gồm có thiên ký
Tang thương ngẫu lục và tập thơ chữ Hán Phong lâm minh lại thi tập Ngoài
ra, ông còn viết lời tựa cho Đông Dã Học ngôn thi tập của Phạm Đình Hổ và tập Thủ khâu tàn mặc của cậu ruột là Trần Văn Đối
Tang thương ngẫu lục (Ghi chép tình cờ trong cuộc bể dâu) là tập ký
bằng chữ Hán được Nguyễn Án viết chung với Phạm Đình Hổ vào khoảng Lê mạt - Nguyễn sơ Tác phẩm gồm 90 thiên ký và thơ đề sau tập truyện được Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án viết bằng chữ Hán đã góp phần mang lại sắc thái mới mẻ cho thể loại ký Trong đó, có 34 thiên ký ghi rõ tên tác giả là Kính Phủ (tức Nguyễn Án), một số thiên là của Phạm Đình Hổ và còn một số
Trang 1711
thiên không đề tác giả Đây là tác phẩm mang giá trị to lớn cả về văn học lẫn giá trị lịch sử Nội dung của nó giúp phơi bày hiện thực với những mặt xấu xa đến tột cùng của đời sống xã hội phong kiến Việt Nam giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn Bên cạnh đó, tác phẩm cũng chứa đựng những mẩu chuyện vặt, giai thoại về nhân vật lịch sử, những sự tích kì lạ hoang đường lưu truyền trong dân gian và triều đình Trong các thiên của mình, Nguyễn Án viết rất nhiều mẩu chuyện hay có, dở có và cả ma quỷ Khá nhiều thiên là những ghi chép chuyện “người thật việc thật” của cuộc sống và xã hội ở thành Thăng Long
Phong lâm minh lại thi tập (Tập thơ Sáo ngân rừng gió), có tài liệu ghi
là Phong lâm minh lãi thi tập Đây là thi tập được Nguyễn Án viết bằng chữ
Hán gồm 75 bài thơ nhưng chỉ có 73 bài thơ của Nguyễn Án, 02 bài thơ và 01
bài Tự là của Thanh Phái hầu Lê Thụy Tâm Phong lâm minh lại thi tập là kết
quả của những chuyến du hành của nhà thơ với những người bạn qua các di tích lịch sử và những danh lam thắng cảnh Đồng thời, nó cũng chứa đựng những vần thơ tâm sự của người trí thức nghèo trước thời thế suy loạn, góp phần giúp chúng ta hiểu sâu hơn con người và thời đại ở một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước - giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX
Tiểu kết chương 1
Xã hội cuối Lê mạt - đầu Nguyễn sơ chứng kiến sự loạn lạc, nhiễu nhương nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam Sống trong thời đại đó, Nguyễn Án trải nghiệm những bi kịch của thời đại, bi kịch của kẻ sĩ - làm quan nhưng không mấy thanh thản Ngoài ra, sự đan xen của nhiều luồng tư tưởng khác nhau ảnh hưởng đến tư tưởng của nhà nho Sáng tác thơ ca của Nguyễn Án vừa là đời, vừa là cá tính, vừa là số phận của chính ông
Trang 1812
Chương 2 PHONG LÂM MINH LẠI THI TẬP NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Phong lâm minh lại thi tập giúp tái hiện phần nào chân dung thi nhân
Ở chương này, khóa luận trình bày những nội dung chính trong thi tập: Thiên nhiên cảnh vật, tâm sự của người trí thức nghèo và tình bạn - tri âm tri kỉ
2.1 Thiên nhiên cảnh vật trong Phong lâm minh lại thi tập
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Án đầy thi vị, sinh động và gợi tình Nguyễn Án đi nhiều, nhìn ngắm nhiều nên cảnh vật đi vào trong thơ dễ dàng, nhẹ nhàng như bản chất chính nó vậy Tâm hồn hòa với thiên nhiên cảnh vật, cuộc đời và đi tới đâu ông cũng có thơ Nguyễn Án họa thơ ở mọi lúc mọi nơi, khi buổi sáng sớm, về đêm, làm thơ dưới ánh trăng thanh, khi lên núi, chùa chiền, hang động Ông ghi lại nơi này một con sông, nơi kia ngọn núi rồi nơi khác lại là một ngôi chùa cổ, Nhờ những chuyến du sơn ngoại cảnh, tham quan di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh của non sông đất nước
đã khơi gợi trong nhà thơ nhiều bài thơ vịnh cảnh, thắng tích Thiên nhiên
cảnh vật trong tập thơ Phong lâm minh lại thi tập nổi bật là di tích lịch sử văn
hóa và danh lam thắng cảnh
2.1.1 Di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là sản phẩm vật chất nhưng mang trong mình những yếu tố phi vật chất thể hiện thông điệp, sự sáng tạo, ý thức xã hội, đời sống tâm linh của thế hệ trước lưu truyền cho thế hệ sau Nguyễn Án là người luôn mang trong mình ý thức trách nhiệm sâu sắc, ngòi bút của nhà thơ luôn trăn trở việc lưu giữ, bảo vệ các giá trị di tích lịch sử văn hóa của dân tộc Nhà thơ không quên ghi lại những ấn tượng của mình về vẻ đẹp của đất nước
mà ông có dịp chiêm ngưỡng Ông đã dựng lại những di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng của đất nước mà trên đường mình có dịp gặp gỡ
Trang 1913
Với mảng đề tài di tích lịch sử, nhà thơ chủ yếu viết về nét nghiêm trang mà giản dị, siêu thoát mà chân chất của những chùa chiền, đền miếu và những di tích gắn liền với cách mạng, anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước
như chùm thơ Tây hành tạp vịnh có: Phật Tích sơn Thiên Phúc tự (Chùa Thiên Phúc trên núi Phật Tích), Thiên Phúc biệt tự (Chùa Thiên Phúc), Thiên
thị phong (Đỉnh chợ Trời), Bối Am tự (Chùa Bối Am), Câu Lậu sơn Tây Phương tự (Chùa Tây Phương trên núi Câu Lậu), Phỏng Tế Văn hầu từ đường
(Thăm nhà thờ Tế Văn hầu)
Viết về những di tích chùa chiền, Nguyễn Án mang đến cho người đọc cảnh đẹp chốn tu hành thiền không Thu vào đôi mắt nhà thơ, chùa Phật hiện
ra với vẻ đẹp linh thiêng, thanh tịnh, đắc đạo:
“Cám vũ vân khai ỷ thúy bình, Lâu đài đảo trám bích ba tình
Nhị Tiên kiều để du ngư hí, Phong động hà hoa tình nhật minh.”
(Chùa phật mở ra trong mây, dựa vào bình phong màu cánh chả, Lâu đài lộn bóng in xuống làn sóng xanh biếc
Dưới hai cây cầu Tiên, cá bơi đùa, Gió lay động hoa sen, ngày tạnh ráo, ánh mặt trời trong sáng)
(Phật Tích sơn Thiên Phúc tự - Chùa
Thiên Phúc trên núi Phật Tích) Bằng nhãn quan và cảm nhận tinh tế, Nguyễn Án đã vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh phong thủy về ngôi chùa cổ kính Đó là vẻ đẹp vừa giản
dị, đơn sơ, vừa lung linh, huyền ảo của chốn tu hành Chùa giống như tòa lâu đài ẩn hiện sau lớp mây mơ màng “mở ra trong mây” với địa thế dựa núi nhìn sông, hòa với “màu cánh chả” của ngọn núi, “xanh biếc” của làn sóng Điểm xuyết trong khung cảnh là “cá bơi đùa” phơi phới đáng yêu dưới hai cây cầu
Trang 2014
Nhật Nguyệt Cảnh chùa gió mát, sông nước trong xanh cùng với hương sen hòa quyện tạo nên vẻ đẹp non nước hữu tình vừa huyền bí lại vừa đơn sơ Đến vãn cảnh chùa dường như con người có cảm giác thoát tục, như lạc vào bức sơn họa thủy chốn bồng lai tiên cảnh Người làm thơ phải cái nhìn bao quát, tinh tế mới khám phá được nét đẹp bí ẩn mà tạo hóa ban tặng Cái nhìn toàn diện của nhà thơ thể hiện khi tái hiện vẻ đẹp mộc mạc, đơn sơ mà tinh tế nơi chùa môn thanh tịnh:
“Huề cung lâm cổ tự,
Tề kính triệp dương trường
Nham thạch câu y liệt,
Vượn núi vin trèo trên vách đá,
Cỏ tiết cỏ lệ giấu mình lên tường cao
Trời ấm áp, tiếng chim vỡ òa,
Vị sư như cây khô ngồi sững, quên hết mọi sự.)
(Thiên Phúc biệt tự - Chùa Thiên Phúc)
Chống gậy lên chùa cổ, nhà thơ có dịp quan sát tỉ mỉ khung cảnh xung quanh: đường lên khúc khuỷu “gấp khúc như ruột dê” tạo nên độ hiểm trở, vách đá sắc nhọn khiến người leo rách áo, hương lan ngào ngạt, thấp thoáng
Trang 2115
bóng vượn nô đùa trên vách đá, chim hót ca vang, cây cỏ xanh tươi, Không gian đồi núi hùng vĩ, hoang sơ và thanh bình làm say đắm lòng người Tìm đến chốn thanh tịnh cửa Phật để tâm hồn được thanh thản, con người đắm chìm trong cảnh vật, bao mệt mỏi, lo toan ngoài kia được xua tan đi hết khi đặt chân tại nơi này Người đọc như cảm nhận được phong vị cuộc sống của nhà thơ nhuốm màu vô dục, vô thường của đạo Phật Ông không bộc lộ những ham muốn danh lợi, tham vọng trần phàm
Theo bước chân nhà thơ, người đọc tiếp tục được chiêm ngưỡng vẻ đẹp
tuyệt mĩ được tạo nên bởi sự hòa hợp của thiên nhiên nơi Thiên thị phong
(Đỉnh Chợ Trời):
“Phiên đằng lãm cát thướng tằng điên,
Tứ cố vân hà tận khoát nhiên
Ẩn ẩn giang lưu phù tố luyện, Mang mang mạch lãng trướng hồi thiên
Bằng hư phủ thị du ai tế,
Ỷ thạch bình lâm điệp chướng huyền.”
(Vin nằm dây leo, lên trên tầng đỉnh Trông tứ bề mây, ráng bát ngát
Sông chảy ẩn hiện như lụa trắng bồng bềnh, Sóng lúa dập dờn như dâng lên quanh bờ ruộng
Dựa tầng không cúi nhìn bụi nhỏ bay, Tựa vào đá nhìn ngang tầng núi dựng đứng.)
(Thiên thị phong - Đỉnh Chợ Trời)
Như một ống kính thu nhỏ trên đỉnh cao, hiện ra trước mắt người đọc là không gian bao la, khoáng đãng được bao phủ bởi “tứ bề mây” Nhìn xuống phía dưới, nhà thơ thấy dòng sông chảy như dải thắt lưng “lụa trắng bồng bềnh”, những ruộng lúa tạo thành làn sóng “sóng lúa dập dờn như dâng lên
Trang 2216
quanh bờ ruộng” Con người với tư thế “dựa tầng không” để quan sát cỏ cây,
“tựa vào đá” mà nhìn những dãy núi hùng vĩ xếp thành từng tầng dựng đứng trước mắt Với nghệ thuật miêu tả từ xa đến gần, kết hợp biện pháp so sánh, người đọc có thể hình dung khung cảnh của danh thắng nơi đây: có làn mây
mơ màng bao phủ bốn phương, có núi non, ruộng đồng hòa quyện với sông nước, tạo nên nét chấm phá trong bức tranh thủy mặc Cảnh vật tạo nên những rung động mãnh liệt khiến con người không thể kìm được xúc cảm mà phải “Hú dài một tiếng chấn động cả vách khe” để hòa mình với thiên nhiên,
để giải tỏa tâm hồn
Ngoài ghi lại cảnh chùa chiền, núi non hùng vĩ, tráng lệ thi nhân còn cho bạn đọc thấy được cái nhìn đầy đủ hơn về con người mình Thơ ông còn
là tiếng nói yêu cuộc sống, yêu cảnh vật và trân trọng giá trị nơi linh thiêng do các bậc đế vương thời trước dựng lên Đi về phía Tây, nhà thơ phát hiện ra ngôi chùa cổ chiếm giữ cảnh đẹp nơi đây:
“Tự chiêm Tây Phương thắng
Bi tồn Vĩnh Hựu niên
Bá đồ chung tịch mịch, Cựu cảnh túc lưu liên.”
(Chùa chiếm nơi cảnh đẹp ở phía Tây, Hãy còn bia đá từ thời Vĩnh Hựu
Cơ đồ của bậc vương bá rốt cục rơi vào lặng lẽ, Cảnh cũ đủ để lưu truyền năm này qua năm khác.)
(Câu Lậu sơn Tây Phương tự - Chùa Tây Phương trên núi Câu Lậu)
Xen lẫn vịnh cảnh, Nguyễn Án thể hiện tâm trạng, cảm xúc nuối tiếc khi chứng kiến ngôi chùa cổ đang dần rơi vào quên lãng “rơi vào lặng lẽ” Dường như nhà thơ đang muốn nhắc nhở người đời sau hãy trân trọng và giữ gìn di sản do bậc đế vương xây dựng
Trang 2317
Không dừng lại ở đó, nhà thơ còn bộc lộ cảm xúc, thái độ về vị anh hùng dân tộc có công dựng nước Đáng chú ý nhất, Nguyễn Án viết về con người tài hoa mà cuộc đời trắc trở - Nguyễn Trãi Đến thăm nhà thờ Tế Văn hầu, nhà thơ trầm ngâm tại nơi đây:
“Tá mệnh nguyên thần tuyệt đại anh, Thập niên thư kiếm dực Nam kinh
Thổ long sô cẩu thất tiền oán, Thiết khoán đan thư tử hậu vinh.”
(Là trọng thần giúp thiên tử sáng nghiệp, người anh hùng bậc nhất trên đời,
Mười năm văn võ giúp rập vương triều nước Nam
Rồng đất chó rơm chẳng còn oán hờn cũ, Thiết khoán đan thư sau khi chết vẫn còn vinh.)
(Phỏng Tế Văn hầu từ đương - Thăm nhà thờ Tế Văn hầu)
Đưa bạn đọc đến du ngoạn nhà thờ Nguyễn Trãi, nhà thơ bày tỏ tâm trạng xót xa trước cảnh bậc tiền nhân gặp họa diệt thân Từ cổ chí kim, người
có tài luôn bị tạo vật ghen ghét Nếu trước đây là anh hùng bậc nhất trên đời, giúp vua dựng nước thì sau không còn được trọng dụng, thậm chí phải chịu thảm họa tru di tam tộc Đau xót thay, một thời oai hùng là vậy nhưng nay chỉ
Trang 24thuyền ở Hồ Tây), Điều này giúp người đọc thấy được sự trải nghiệm cũng như tâm huyết của tác giả đối với non nước mình
Ta bắt gặp tâm hồn thi nhân đang giao hòa với thiên nhiên trong Phong
cốc (Hang gió):
“Không cốc khu y nhập, Thanh tiêu phất diện lai
Huyền nham kinh hội trụy, Chúng điểu tận phi hồi
Thư khiếu độc hoản nhĩ, Phi khâm chân khoái tai.”
(Vén áo vào hang trống, Gió mát thổi lên mặt
Vách đá cheo leo sợ có thể rơi xuống, Đàn chim thảy đều bay về
Trang 25vẻ hùng vĩ, vừa mang vẻ đẹp nên thơ:
“Phiếm khả trung lưu vong,
Du nhiên kiến Tản san
Du vân thôn thổ xứ, Giai khí uất thông gian.”
(Thả thuyền giữa dòng trông xa xa, Chợt thấy núi Tản Viên
Nơi mây bay hút vào, đùn ra, Chỗ khí lành giăng đầy)
(Chu trung vọng Tản Viên sơn - Trong thuyền ngắm núi Tản Viên)
Thả thuyền đi dạo, từ xa nhà thơ “chợt thấy núi Tản Viên” hiện lên thật
kì vĩ, kì ảo với màu xanh biếc um tùm, những làn mây “hút vào”, “đùn ra” từng tầng, từng lớp cộng hưởng với “khí lành giăng đầy” xung quanh Nơi đây tạo cho con người cảm giác chẳng phải chốn trần phàm mà giống như chốn tiên cảnh nhân gian Sự hùng vĩ của phong cảnh thiên nhiên ban tặng nơi núi Tản còn được thể hiện qua ước muốn của con người:
“Hà đương lâm tuyệt đính,
Hồi thủ tiểu trần hoàn”
(Bao giờ lên đỉnh cao nhất?
Quay nhìn lại thấy cõi trần thật bé nhỏ.)
Trang 2620
Hai câu thơ khiến chúng ta liên tưởng đến Khổng Tử trong một lần du ngoạn núi Thái Sơn đã viết lên bức tường đá dòng chữ:
“Đăng Thái Sơn nhi tiểu thiên hạ’’
(Lên trên núi Thái Sơn thì thấy thiên hạ là bé nhỏ)
Con người với tâm hồn quản cả núi sông, đất trời: Lên cao không phải
để mọi người nhìn thấy mình mà để bản thân có thể nhìn rõ sự vật phía dưới
Để thấy “cõi trần” tưởng như rộng lớn kia thực chất lại “bé nhỏ” khi nhìn từ đỉnh núi cao Vịnh về các danh lam thắng cảnh của đất nước, Nguyễn Án như hòa với thiên nhiên để tìm sự thanh tĩnh, yên bình Nhà thơ thả hồn mình trong cảnh núi non, sông nước, lang thang du ngoạn khắp bốn phương tám hướng để quên đi bao phiền lụy cuộc đời Phải chăng, đó chính là ngọn gió trong lành giữa cuộc đời gió bụi Hòa trong ngòi bút của tác giả, người đọc đến với chùa Vân Thụy - chốn Phật đường vừa cổ kính, vừa thơ mộng:
“Tang hải bách thiên cách,
Kỳ viên vô cổ câm
Minh nguyệt cảnh đương tĩnh, Lạc hoa khinh chuyển thâm ”
(Dâu bể ngàn năm cách, Vườn Kỳ nay vẫn xưa
Trăng thanh soi cảnh tĩnh, Đường nhỏ rụng đầy hoa.)
(Đề Khánh Vân thôn Vân Thụy tự - Thơ đề
chùa Vân Thụy thôn Khánh Vân) Vãn cảnh chùa vào lúc “xuân vừa cuối”, nhà thơ thấy cảnh vật nơi đây
dù trải qua bao lần “bể dâu” nhưng vẫn như cũ, không thay đổi “Vườn Kỳ nay vẫn xưa” Cảnh chùa thơ mộng, gió mát, ánh trăng tỏa sáng khắp nơi “trăng thanh soi cảnh tĩnh”, những cánh hoa bay phấp phới trong gió tạo nên “đường nhỏ rụng đầy hoa”, thấp thoáng tiếng kêu “chim nhẩn nha”, Trước cảnh đẹp
Trang 2721
bình dị, mộc mạc và yên bình, tâm hồn con người như được thoát tục nơi chùa chiền linh thiêng
Trong bài Phiếm chu Tây Hồ (Thả thuyền Hồ Tây), ta tiếp tục bắt gặp
cảnh sông nước thơ mộng, nên thơ:
“Cô trạo y hi phiếm Nhược Dạ, Trừng không tễ cảnh trạm thanh hoa.”
(Mái chèo lẻ loi hệt như thả thuyền vào chốn Nhược Dạ, Trời trong, cảnh đẹp, hoa in dưới nước trong.)
Khung cảnh non nước hữu tình, mênh mông trời nước, trên thấy trời cao in bóng trong xanh, dưới thấy “hoa in dưới nước trong” Thả thuyền đi dạo Hồ Tây mà thi nhân ngỡ mình lạc vào nơi có phong cảnh đẹp như chốn Nhược Dạ trong thi ca cổ điển
Như vậy, qua những bài thơ vịnh về thiên nhiên cảnh vật với những di
tích lịch sử hay danh lam thắng cảnh của đất nước, Nguyễn Án đã góp phần tạo nên “phong cách thơ kỉ sự” đặc sắc cho thơ ca nước nhà cuối thế kỉ XVIII
- XIX Những vần thơ đằm thắm thể hiện suy tư, chiêm nghiệm của thi nhân trước thiên nhiên cảnh vật đất nước Ðó cũng là niềm tự hào, là tình yêu thắm thiết đối với cảnh sắc thiên nhiên, với non sông gấm vóc của Tổ quốc trong tâm trí của nho sĩ trước giông bão thời đại Cùng với đó, nhà thơ cũng bày tỏ tâm trạng hoài niệm, buồn đau về giá trị của cái đẹp đang tàn phai, bị bao phủ bởi lớp bụi trần gian
2.2 Tâm sự của người trí thức nghèo
Bên cạnh những trang thơ viết về thiên nhiên cảnh vật, trong Phong
lâm minh lại thi tập, Nguyễn Án còn bày tỏ tâm sự của một nho sĩ nghèo nơi
cố kinh Thi liệu trong thơ Nguyễn Án bắt nguồn từ những điều tai nghe mắt thấy, hoặc do chính ông trực tiếp trải nghiệm Bởi vậy, có nhiều bài thơ ông viết về thời thế nhưng cũng chính là viết về cảnh ngộ của bản thân, về cuộc
Trang 2822
đời chìm nổi, lạc lõng giữa xã hội Nói cách khác, Nguyễn Án đã ngộ được cái hữu hạn của cuộc đời con người hay cái vô thường của tạo vật “chao ôi, mây trắng chó xanh biến đổi đi trong chớp mắt”
Thơ Nguyễn Án vừa là con người, vừa là tâm hồn, vừa là công cụ để ông tỏ lòng, giãi bày trên những trang giấy Thời gian lưu lạc nơi, chứng nghiệm những điều “tang thương” nên trong thơ ông mang nỗi cô đơn, cô liêu, buồn tủi trước thời cuộc, nỗi niềm tiếc nuối Mặc dù Nguyễn Án viết nhiều về tâm sự nhưng đó đều là tâm sự buồn, cứ day dứt, và có dịp là nhà thơ bày tỏ, thổ lộ
2.2.1 Nỗi buồn trước thời cuộc
Thời thế suy loạn, từ những vấn đề của cuộc sống, xuất phát từ số phận của bản thân, nhà thơ cũng bày tỏ nỗi buồn về nhân tình thế thái, về đời, về người
Thơ Nguyễn Án miêu tả chân thực và phản ánh hiện thực rất sâu sắc Đấy là cuộc sống bần cùng của người dân đương thời mà nhà thơ có dịp tận mắt chứng kiến:
“Tuế khiểm nhi thiên sấu, Gia bần đạo miễn tăng.”
(Mùa mất, trẻ gầy yếu, Nhà nghèo, trộm không màng.)
(Thôn cư xuân nhật tảo khởi - Ngày xuân ở xóm quê, dậy sớm)
Hiện thực đau lòng bày ra trước mắt danh sĩ: nhân dân mất mùa, đói ăn
do hạn hán, lũ lụt, trẻ nhỏ “gầy yếu” chỉ còn da bọc xương Những vần thơ tả thực đến mức đọc lên, người đọc cảm thấy đau đớn, tê tái, buốt giá cõi lòng Câu thơ giống như tiếng kêu thảm thiết, lời tố cáo về cuộc sống khốn khổ, nhà nghèo, rách nát đến nỗi “trộm không màng” của nhân dân trong xã hội loạn lạc mà thiên tai lại bủa vây Phản ánh hiện thực, Nguyễn Án không chỉ đứng ở tâm thế ghi chép đơn thuần mà xen vào đó là trách nhiệm, nỗi niềm của một
Trang 29Tương tử kê thê ốc,
Y nhân khuyển thướng sàng
Đông nam chư lộ thủy, Văn đạo cánh kham thương.”
(Mưa dâng nước làm đê sông bị vỡ, Chỗ ở của ta biến thành đầm
Bấy giờ loài cá loài rồng lúc nổi lúc lặn, Cánh đồng thảy dâng nước mênh mông
Gà đưa con đậu trên mái nhà, Chó theo người lên trên giường
Nước lụt ở các lộ phía đông nam, Nghe nói càng thảm thương hơn)
(Thủy lạo - Nước lụt)
Xưa nay, mối hiểm họa lớn nhất của đối với con người là thủy, hỏa, đạo tặc Giờ đây, lụt lội kéo theo mất mùa triền miên, trở thành nỗi ám ảnh thường trực với người dân đồng bằng Nhà thơ thuật lại tỉ mỉ những hậu quả do lũ lụt gây ra: mưa nhiều làm nước dâng ngập nhà, ngập cửa, ngập trắng đồng “nước mênh mông”, chỗ ở “biến thành đầm”, động vật theo người tìm nơi lánh nạn, Từng sống chung với lũ, chứng kiến hậu quả do nó gây ra nên Nguyễn Án thấu hiểu, thấm thía nỗi khổ đau, thảm thương của người dân Thu vào trong mắt nhà thơ là hiện thực cuộc sống đau thương, nhức nhối, trật tự xã hội đảo lộn Để rồi, đến thăm nơi ở cũ của cố nhân nhà thơ trầm tư:
Trang 30Cô trung vị giải đào viên hận,
Di cảo không tồn thế sử thư
Yên các phù danh chung thị ảo, Côn Sơn tùng cúc tự tiêu sơ.”
(Ngoài thành ngút mắt một gò hoang, Thuở trước Văn hầu đã mở trường
Ao rửa nghiên nay rờn cỏ biếc,
Đá phơi sách vỡ vệt rêu loang
Lòng trung khôn giải “vườn đào” hận,
Dã sử ghi giùm “di bút” vương
Danh hão Đài Mây thành chuyện ảo, Côn Sơn tùng cúc tự thê lương
(Quá Tế Văn hầu biệt nghiệp - Qua nơi ở cũ của Tế Văn hầu)
Những vần thơ bày tỏ niềm cảm khái, ngậm ngùi, chua xót khi bậc vĩ nhân, vị anh hùng dân tộc vĩ đại từng phò vua giúp nước phải chịu thảm án oan khiên, thảm khốc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Giờ đây, nhà thơ phải chứng kiến: dinh thự “biệt nghiệp” cao quý, sang trọng là nơi cố nhân dạy học nay thành “gò hoang ngút mắt”, ao rửa nghiên mực phẳng lặng
“rờn cỏ biếc”, tảng đá phơi kinh sách “vỡ vệt rêu loang”, công danh ghi nơi
“Yên các” (Đài Mây) chỉ còn hư ảo Người buồn cảnh cũng buồn, hoa cỏ héo hon, úa tàn, tùng cúc chốn Côn Sơn đã “tự thê lương” Tấm lòng trung thành của người bề tôi vẫn chưa được hóa giải nỗi hận “vườn đào”, văn thơ đành
Trang 3125
gửi gắm vào sử sách của thế nhân Cảnh vật nơi đây khiến con người ta không khỏi ngậm ngùi, xót xa cho số phận chủ nhân của nó
Nỗi niềm đó còn được nhà thơ gửi gắm trong bài Thù Kiều Niên tống
biệt chi tác (Đáp lại bài “Tiễn biệt trên cầu Vân” của Kiều Niên):
“Quân bất kiến Ức Trai Văn hầu, Công thành bất thoái duy khiên vưu.”
(Anh chẳng thấy Văn Hiếu hầu Ức Trai, Công thành không lui tai vạ chuốc.)
Thật đúng như Nguyễn Du từng nói “Chữ tài liền với chữ tai một vần”, người tài luôn bị ghen ghét, đố kị Một bậc công thần hết lòng vì dân vì nước nhưng không “công thành thân thoái”, không “minh triết bảo thân” mà bị kẻ gian hãm hại, mắc họa tru di tam tộc, sự nghiệp tan vào mây khói Cuộc đời của Nguyễn Trãi như một điển hình, tượng trưng cho số phận đau đớn của con người tài hoa trong xã hội cũ Chính điều đó làm cho nhà thơ xúc động, gửi gắm vào trang thơ tâm huyết của mình với cả một thế hệ Ngoái nhìn về tiền nhân, nhà thơ bày tỏ niềm chua chát khi người tài không được trọng dụng, tầng lớp nho gia không được tôn trọng:
- “Dao lạc giang thiên thảo thụ hoàng, Tha đà dục điểm kính trung sương.”
(Từ lâu đã biết đời loạn thì văn chương rẻ rúng, Dừng than thở rằng cuộc phù sinh tung tích mịt mờ)
(Đông dạ túc Kiều Niên lưu biệt - Đêm đông
làm thơ lưu biệt Kiều Niên)
- “Lạc hậu thùy tri thế hữu nho”
(Sau loạn đâu người biết quý nhà nho)
(Thù Kiều Niên kiêm hoài Hoàng Lão Đỗ - Đáp
Kiều Niên và nhớ Hoàng Lão Đỗ)
Trang 3226
Vốn biết đời loạn thì “văn chương rẻ rúng”, bị coi khinh nhưng trong thi nhân vẫn trịu nặng nỗi buồn của một nhà nho bất lực trước thời cuộc Thời đại loạn lạc, nổi cơn “gió bụi” làm những người theo nghiệp nhà nho trở nên
bi quan trước số phận mịt mờ Trước thực trạng cay đắng, nhà thơ bộc lộ mong muốn tìm về chốn điền viên, làm bạn với thiên nhiên:
“Cựu nghiệp tạm từ tam kính trúc,
Sẻ múa, cùng công ngại kết bầy
Núi biếc lòng yêu thường mộng thấy, Văn chương đầu bạc chính từ đây
Dương Xuân, trước chén cung đàn dạo, Rửa sạch lòng trần muôn hộc đầy
(Thù Phạm Kiều Niên kiến ký - Đáp thơ
Phạm Kiều Niên gửi đến) Thời trước, các bậc tiền nhân Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng từng cáo quan về ở ẩn lui về làm bạn với thú điền viên sơn thủy Ngày nay, chứng kiến thời cuộc nổi cơn phong ba, thế sự khổ đau, Nguyễn Án cũng học các bậc tiền nhân lui về với ba hàng tùng trúc, hòa mình với thiên nhiên, với cuộc sống ẩn cư “ghé tựa nửa giường mây”, vui thú “cần buông”, nâng chén rượu thưởng trăng, ngâm điệu Dương Xuân để quên hết mọi sầu đau đang
Trang 332.2.2 Nỗi buồn trước cuộc sống của bản thân
Trong nhiều bài thơ, Nguyễn Án thể hiện nỗi buồn về xã hội loạn li, gia cảnh khó khăn chỉ mong về với chốn thiên nhiên, điền dã Tuy nhiên, Nguyễn
Án không có được tâm hồn thanh thản như các bậc cố nhân bởi nỗi lo cơm áo, gạo tiền
Bao trùm trong tập thơ, Nguyễn Án nói nhiều đến cuộc sống ẩn cư, hoàn cảnh nghèo khổ, gian nan, chìm nổi và lưu lạc của mình tại đất Thăng
Long Trong bài Xuân mộ hoài ký Kiều Niên - Kì nhất (Cuối xuân viết về nỗi
lòng gửi Kiều Niên - Bài 1), nhà thơ xót xa cho hiện thực cuộc sống của bản thân nơi cố đô:
“U thê hồ thượng tuyệt phân hiêu,
Sổ quyền tàn thư bạn tịch liêu
Tệ trạch bán hoang tài dược phố,
Cố kinh ngũ kiến lạc hoa triêu
Hạnh phong du vũ ky hoài cố, Bích thủy thanh sơn quy mộng diêu
Lãn phóng doãn biền thời cộng khí, Sách cư sầu tự tối vô liêu.”
(Ẩn cư bên hồ, cách biệt với mọi ồn ã, Vài cuốn sách nát làm bạn với cảnh tịch liêu
Nhà nát cửa bỏ hoang, trồng vườn thuốc, Kinh đô xưa, năm lần thấy hoa rụng buổi sáng