Đồng thời tập thơ còn cho ta những hiểu biết chân thực về tâm sự, về cuộc đời của Nguyễn Hành và cả về thời đại ông sống... - Dựng lại chân dung tinh thần, cũng như con đường đời của Ngu
Trang 1======
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐÀO THỊ KIM HUẾ
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG MINH QUYÊN THI TẬP
CỦA NGUYỄN HÀNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐÀO THỊ KIM HUẾ
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG MINH QUYÊN THI TẬP
CỦA NGUYỄN HÀNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS AN THỊ THÚY
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô giáo An Thị Thúy – người thầy tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô trong Tổ Văn học Việt Nam của trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập và nghiên cứu
Nhân đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành khóa luận
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Đào Thị Kim Huế
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Khoá luận tốt nghiệp với đề tài Giá trị nội dung và
giá trị nghệ thuật trong Minh Quyên thi tập của Nguyễn Hành là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi Kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào Những thông tin tham khảo trong khóa luận đều đƣợc trích dẫn cụ thể nguồn sử dụng
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình!
Sinh viên thực hiện
Đào Thị Kim Huế
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp của khóa luận 4
8 Cấu trúc của khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1.Tác giả Nguyễn hành 5
1.1.1.Thời đại 5
1.1.2 Cuộc đời và con người 8
1.2 Sự nghiệp sáng tác 13
Tiểu kết chương 1 14
Chương 2 MINH QUYÊN THI TẬP NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 15
2.1 Nỗi niềm đau xót trước cuộc sống khốn cùng của nhân dân 16
2.2 Cuộc sống nghèo khổ, cô đơn của nhà Nho nơi đất khách quê người 23
2.3 Phẩm chất tốt đẹp của nhà Nho 35
2.4 Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước 38
Tiểu kết chương 2 45
Chương 3 MINH QUYÊN THI TẬP NHÌN TỪPHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 46
3.1 Hình tượng thơ 46
3.2 Ngôn ngữ thơ 49
Trang 63.4 Giọng điệu 54 Tiểu kết chương 3 56 KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Nguyễn Hành (1771 - 1824) là người hiểu biết rộng, thông minh, có tài văn chương, ông được người đời tôn vinh là một trong “An Nam ngũ tuyệt”
Sự nghiệp của ông để lại bao gồm hai tập thơ chữ Hán là Quan Đông hải (Trông bể Đông) và Minh quyên thi tập (Tiếng kêu của chim quyên) Trong
đó tập thơ Minh quyên thi tập là tập thơ chứa nhiều nội dung tư tưởng và nghệ
thuật đặc sắc hơn Nguyễn Hành sống vào nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế
kỷ XIX, đây là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động Đó là tan hoang, sụp đổ liên tiếp của hai triều đại, nội chiến xảy ra triền miên, và bùng lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Hàng loạt các Nho sĩ – trí thức hoặc mỗi người thờ một chúa, hoặc băn khoăn trước thời cuộc, nhân dân lâm vào khốn cùng, cảnh lưu lạc, chia ly Có thể nói, Nguyễn Hành là nhà thơ suốt đời sống cuộc sống đói nghèo ở quê nhà, hoặc lưu lạc ở Thăng Long; cho nên ta thấy những bài thơ hay nhất, có giá trị nhất là những bài ông nói tới hiện thực xã hội Hiện thực
xã hội qua cái nhìn của nhà thơ hiện lên rất chân thực, đó là cuộc sống nghèo khổ, đói kém, bệnh dịch tràn lan, vì thế mà dân chúng phải ly tán, phiêu bạt khắp nơi Thơ ông thể hiện sự phê phán, tố cáo hiện thực đương thời một cách sắc nét, chân thực
Do nhiều yếu tố khách quan nên sự nghiệp văn thơ của ông vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống Tuy không được giảng dạy trong chương trình phổ thông, nhưng Nguyễn Hành cũng là một trong những tác giả được nhắc đến rất nhiều ở giai đoạn cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX
Vì vậy, tìm hiểu Giá trị nội dung và nghệ thuật của Minh quyên thi tập sẽ
giúp chúng ta hiểu rõ hơn gương mặt của một trong những Ngũ tuyệt xứ An Nam Đồng thời tập thơ còn cho ta những hiểu biết chân thực về tâm sự, về cuộc đời của Nguyễn Hành và cả về thời đại ông sống
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Năm 1984, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc, trong bộ “Từ điển văn học” (nhà
xuất bản Khoa học Xã hội), đề cập đến Nguyễn Hành với những chi tiết khá đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của ông
Cuốn “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, in lần thứ tư (1997), Nguyễn
Thắng, Nguyễn Bá Thế, NXB Văn hóa (Hà Nội), (tr.553), đề cập một cách giản lược nhất về thân thế, cuộc đời của Nguyễn Hành
Năm 1999, “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, nửa đầu thế kỷ
XIX”, Đặng Lê Thanh, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận, có điểm qua vài nét về
Nguyễn Hành và thơ văn của ông
Năm 2009, cuốn “Từ điển nhân vật xứ Nghệ”, nhà xuất bản Tổng hợp
TP.HCM, Ninh Viết Giao giới thiệu về Nguyễn Hành và các tác phẩm
Tác giả Phạm Nhật Khang (2012), Tìm hiểu Minh quyên thi tập của
Nguyễn Hành – một trong “An Nam ngũ tuyệt”, Khóa luận tốt nghiệp,
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Cuốn tuyển Thơ Nguyễn Hành do tác giả Mai Quốc Liên chủ biên (2015), nhận xét về lời Tựa của Minh quyên thi tập tác giả có viết: “Kêu thương ai
oán đó trong thơ Nguyễn Hành, bây giờ ta đã hiểu nguyên do Một là, do
“thời buổi suy loạn, dân đen ly tán oán hận ”, hai là, ông đau đớn nhớ tiếc triều Lê cũ, triều mà ông cha ông vô cùng gắn bó và hiển quý Chuyện “đời suy loạn”, “dân đen ly tán oán hận” là chuyện của chính cuộc đời Nguyễn Hành Xuất thân từ hào môn vọng tộc triểu Lê – Trịnh, Lê – Trịnh đổ xuống làm “bách tính”, ăn nhờ, ở đậu, sống tha phương Con đông không kế sinh nhai “thuở trước là công tử giàu sang, hôm nay là gã học trò già nua”[9,tr8]
Có thể nói, tác giả bài viết đã khái quát những nội dung chính Minh quyên thi
tập Đó là thời đại đầy biến động, loạn lạc, dân đen ly tán tha phương lánh
nạn; và còn là sự đau đớn nhớ tiếc triều Lê cũ của Nguyễn Hành
Trang 9Ngoài ra, còn có bài viết của tác giả Nguyễn Thị Huấn (2017), Cảm hứng
thế sự trong thơ Nguyễn Hành, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Hà
Nội
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đã mang đến những nhận định khái quát về Nguyễn Hành – một nhà Nho yêu nước, thương dân, có nhân cách cao đẹp, bản lĩnh hơn người, luôn khao khát được giúp nhân dân, lo được cho nhân dân qua cơn đói nghèo, khốn khổ, bệnh tật
Trên tinh thần tiếp thu và kế thừa những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, đồng thời dựa vào nền văn hóa tư tưởng đương thời; chúng tôi mong muốn đưa ra những phát hiện thuyết phục và góp phần nghiên
cứu Minh quyên thi tập đầy đủ và sâu sắc hơn
3.Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ vị trí văn học sử và những đóng góp của thơ ca Nguyễn Hành
- Dựng lại chân dung tinh thần, cũng như con đường đời của Nguyễn Hành, cùng những vấn đề nhân sinh trong thời đại ông sống
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là tuyển Thơ Nguyễn
Hành.gồm 222 bài thơ, do Mai Quốc Liên chủ biên dịch, Nguyễn Thị Hằng
biên khảo, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nxb Văn học ấn hành năm 2015
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Minh quyên thi tập của
Nguyễn Hành, chúng tôi chỉ khảo sát nội dung tiêu biểu và nghệ thuật đặc sắc
trong Minh quyên thi tập của Nguyễn Hành
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã thực hiện các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp lịch sử - xã hội
Trang 10- Phương pháp tiểu sử học sử
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp, kỹ năng khác để
hỗ trợ cho quá trình thực hiện đề tài khóa luận: Phương pháp so sánh, đối chiếu, giải thích, kỹ năng đọc – hiểu – cảm nhận Chúng tôi vận dụng phối hợp tất cả các phương pháp để đạt hiểu quả cao nhất trong khóa luận
7 Đóng góp của khóa luận
- Trên cơ sở nghiên cứu khuynh hướng thơ hiện thực, khóa luận làm
sáng tỏ những đặc điểm nổi bật về giá trị nội dung và nghệ thuật trong Minh
quyên thi tập của Nguyễn Hành
- Qua so sánh đối chiếu với một số sáng tác cùng thời, khóa luận góp phần dựng lại diện mạo độc đáo, riêng biệt của Nguyễn Hành và khẳng định
vị trí văn học sử quan trọng của tác giả
- Cuối cùng, khóa luận góp thêm một góc nhìn để hiểu sâu hơn về thơ
trung đại Việt Nam nói chung, tập thơ Minh quyên thi tập nói riêng trong thơ trung đại
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung
- Chương 2: Minh quyên thi tập nhìn từ phương diện nội dung
- Chương 3: Minh quyên thi tập nhìn từ phương diện nghệ thuật
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1.Tác giả Nguyễn Hành
1.1.1.Thời đại
Về mặt lý luận văn học cho thấy, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của một tác giả luôn có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với nhau Có thể nói, cuộc đời chính là nền tảng cho sự nghiệp sáng tác Không chỉ vậy, ta thấy lịch
sử khoa học không những nghiên cứu ngôn ngữ trong từng giai đoạn, mà còn cung cấp cho người đọc những đóng góp quan trọng về phương diện cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của một tác gia trong thời đại Đi cùng lịc sử, tác phẩm văn chương luôn chịu sự chọn lọc, thử thách khắc nghiệt của thời gian;
vì thế nhiều tác phẩm rơi vào quên lãng Dường như ngược với quy luật ấy,
đã có những tác giả và tác phẩm lại không ngừng được bàn luận qua các thời
kì lịch sử Chính bởi cuộc đời, tác phẩm của họ mang nhiều tâm tư sâu sắc, đồng thời quy tụ được nhiều vấn đề xã hội Có thể khẳng định rằng, tác giả Nguyễn Hành cùng các tác phẩm của ông là một minh chứng điển hình cho việc tái hiện chân thực bức tranh hiện thực xã hội đương thời
Thời đại theo nghĩa rộng, thời đại là một khái niệm chính trị – kinh tế – xã hội khái quát tiến trình phát triển của lịch sử loài người, là thời gian rất dài để chỉ sự phân kỳ lịch sử xã hội và để phân biệt những nấc thang phát triển của hình thái kinh tế xã hội mà theo đó nấc thang cao hơn, tiến bộ hơn sẽ phủ định nấc thang cũ, lạc hậu để mở đường cho sự phát triển một thời đại mới Theo nghĩa hẹp thì thời đại được hiểu là khái niệm về thời gian để chỉ xu thế và nội dung phát triển trên các phương diện kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ… Có thể nói, thời đại chính là cơ sở, là nền tảng bồi đắp nên những tâm hồn lớn, những nhà văn, nhà thơ lớn Mặt khác, nhà văn, nhà thơ phải biết đời sống xã hội của thời đại, phải cảm nhận được những nỗi đau đớn
Trang 12của con người trong thời đại, phải sống, thấu hiểu nhân tình thế thái, hiểu những thăng trầm lịch sử, những cuộc bể dâu…để thấu cảm và biến nó thành nguồn cảm hứng trong những đứa con tinh thần của mình
Nguyễn Hành sinh năm 1771, mất năm 1824 Ông sống vào khoảng những năm cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Đây là một giai đoạn đầy những sự biến động đến kinh thiên động địa, có thể nói là bi thương nhất thời trung đại Trong cuộc đời mình, Nguyễn Hành lần lượt chứng kiến sự khủng hoảng, sụp đổ và thay thế nhau của ba triều đại: nhà Lê, Tây Sơn, Nguyễn, và cùng với đó là sự đấu tranh, phân hóa phức tạp của nhiều phe phái, nhiều xu thế chính trị khác nhau Có thể nói, thời đại của Nguyễn Hành là thời đại chế
độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, giai cấp thống trị tranh giành quyền lực gây ra chiến tranh triền miên, kinh tế đình đốn, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ…
Không chỉ vậy, thời đại của Nguyễn Hành còn là thời đại các cuộc khởi nghĩa của nông dân nở rộ mạnh mẽ nhất Trước năm 1771, có các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Tuyển, Lê Duy Mật, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Cừ, Hoàng Công Chất Nhưng đỉnh cao của phong trào khởi nghĩa của nông dân là phong trào Tây Sơn Đến năm 1771, Nguyễn Nhạc khởi binh ở đất Quy Nhơn, Bình Định, sau đó mở rộng thế lực ra các tỉnh Quảng Ngãi Một năm sau, năm 1776, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đánh chiếm Gia Định, chúa Nguyễn phải bỏ chạy Sau đó năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long, phù Lê, diệt Trịnh Năm 1787, nhà Tây Sơn lại cho quân
ra Bắc Hà, diệt Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, đồng thời thống lĩnh đại binh đánh tan quân Thanh Năm 1792, Nguyễn Huệ mất, phong trào Tây Sơn cũng từ đấy tan rã…
Trang 13Thời đại của Nguyễn Hành còn là thời đại mà người dân bị rơi vào cảnh khốn khổ đến cùng cực bị dồn vào đường cùng, những gia đình ly tán, phiêu bạt khắp trốn, hạn hán mất mùa, bệnh dịch tràn lan, nạn đói, người chết khắp nơi Những biến động vừa phức tạp ấy là chất liệu quý giá cho những sáng tác hiện thực của Nguyễn Hành sau này Những biến cố thời đại đã gây cho ông sự khủng hoảng và đổ vỡ lớn lao Nói chung, Nguyễn Hành là nhân chứng của cuộc biến thiên lịch sử, cho nên ông đã phơi bày tất cả hiện trạng
ấy rất phong phú, với muôn mặt của nó Đọc thơ Nguyễn Hành chúng ta sẽ thấy ông ghi lại chân thực cảnh đời biến loạn thời bấy giờ
Hơn nữa, ở thời bấy giờ, bên cạnh tình hình xã hội rối ren còn có sự đan xen nhiều luồng tư tưởng lớn, nó đã có ảnh hưởng không nhỏ tới thế giới quan cũng như tư tưởng của nhà thơ Đạo Nho lúc ấy đã khủng hoảng nghiêm trọng, bộc lộ những mặt hạn chế trước lịch sử Cùng với đó, đạo Phật và đạo Lão hồi sinh, hòa đồng cùng đạo Nho trong một màu sắc mới, cũng phần nào tìm được tiếng nói xoa dịu nỗi đau trong lòng con người Đây cũng chính là lý
do nhiều bài thơ của Nguyễn Hành có nhắc đến các điển tích, hình ảnh đặc trưng của Đạo giáo, Phật giáo Đó là sự trỗi dậy mạnh mẽ của tư tưởng nhân văn, nhân đạo chủ nghĩa, mà gắn liền với nó là thể hiện sự quan tâm đến thân phận con người; đặc biệt là người phụ nữ, với yêu cầu khẳng định quyền được sống, quyền được hạnh phúc thật chính đáng Bấy nhiêu luồng tư tưởng ảnh hưởng, chuyển hóa lẫn nhau và tạo nên những xáo trộn, cùng những biểu hiện vừa tích cực, vừa tiêu cực đối với thế giới quan cũng như cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Hành
Cũng bởi sống trong thời đại đầy biến loạn như thế đã ảnh hưởng rất lớn đến sáng tác của Nguyễn Hành Điều này được thể hiện qua những bài thơ hiện thực đầy ám ảnh của ông Đồng thời đây cũng là điều kiện để Nguyễn
Trang 14Hành hiểu, thấm thía đời sống của những người dân cùng khổ khác, mà hơn nữa bản thân ông cũng là một trong những người dân cùng đường, khốn khổ ấy
1.1.2 Cuộc đời và con người
1.1.2.1 Cuộc đời
Nguyễn Hành (1771 - 1824) vốn tên là Viêm, Đạm, tự Tử Kính, hiệu Nam Thúc, biệt hiệu Ngọ Nam, Nam Song và Tâm Trai Ông là người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay là tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Hành thuộc dòng dõi quý tộc phong kiến Ông là con vợ thứ của Điền Nhạc hầu Nguyễn Điều (1745-1824), là cháu nội Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, gọi Nguyễn Du là chú ruột Nguyễn Nghiễm (1708-1776) thuộc đời thứ 6 trong dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền, đời thứ 15 của họ Nguyễn; là con thứ hai của Lãnh Nam công Nguyễn Quỳnh - đỗ Hoàng giáp, làm Thị lang bộ Hình, Tham tụng rồi Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hộ Các đời trước Nguyễn Nghiễm, trong họ Nguyễn đều có rất nhiều người giỏi văn chương,
đỗ đạt cao và làm quan to dưới triều Lê Trung Hưng và trong phủ Chúa Trịnh Thân phụ Nguyễn Hành cũng đỗ tam trường, làm Thị nội văn chức rồi Trấn thủ Hưng Hóa, Trấn thủ Tuyên Quang, Trấn thủ Sơn Tây Mẹ của Nguyễn Hành là vợ kế của Nguyễn Điều, họ Nguyễn, con thứ tư của Thiếu Bảo Đạt
Vũ Hầu, quê ở xứ Kinh Bắc Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền trong mục ghi về
Nguyễn Nghiễm có viết, Nguyễn Hành “được tập ấm chức Hiển cung đại
phu, Phó Trung úy, tước Hành nhặc bá Ông là người thông minh, nhớ lâu, hiểu rộng, đọc nhiều sách Ông được xếp thứ hai cùng với chú là Thanh Hiên công trong An Nam ngũ tuyệt…” [10,tr79] Cũng trong Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, khi nói về Nguyễn Du, có đoạn viết: “Nguyễn Du là người học rộng, nhớ lâu, có tài làm thơ Trong năm nhà thơ giỏi nhất An Nam “An Nam ngũ tuyệt” thì ông và người cháu ruột là Nam Thúc (tức Nguyễn Hành) chiếm hai tên.” [10,tr96]
Trang 15Năm 1780, Nguyễn Khản - con trai trưởng của Nguyễn Nghiễm bị buộc tội liên quan đến “vụ án Canh Tý” Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền còn ghi lại, Tuyên phi Đặng Thị Huệ và A Bảo Huy quận công kết bè lập con của Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán làm thế tử Cũng trong năm đó, Nguyễn Nghiễm
bị vu tham gia lập mưu phế Trịnh Cán, giúp Trịnh Khải (Trịnh Tông) làm thế
tử, Trịnh Vương xuống chỉ cho gọi Nguyễn Khản về kinh đô, bắt giam Những người phạm vào âm mưu này đều bị xử tội chết, riêng Nguyễn Khản
do niệm tình có công giảng dạy mình nên Trịnh Vương cho được miễn tội chết, và ông chỉ bị cách chức Nguyễn Điều (thân phụ của Nguyễn Hành), là con thứ hai của Nguyễn Nghiễm Trong “vụ án Canh Tý”, Nguyễn Điều bị giáng chức làm Thắng trung trong đội thuyền
Đến năm 1784, Nguyễn Điều làm Trấn Thủ Sơn Tây, gặp loạn kiêu binh đốt phá dinh thự quan lại Bộ Thượng thư Nguyễn Khản Nguyễn Khản trốn lên Sơn Tây toan cùng em hợp binh các trấn về giết kiêu binh, nhưng kiêu binh giữ chặt chúa Trịnh nên không làm gì được, kiêu binh làm áp lực bãi chức Thượng thư bộ Lại Nguyễn Khản, Nguyễn Điều bị giáng chức về huyện Thanh Chương, Hà Tĩnh Ông sống cùng con cháu tại đây Năm 1786, nhà Trịnh sụp đổ Nguyễn Điều ôm chí uất ức mà mất, lúc đó Nguyễn Hành chỉ mới 15 tuổi
Thuở nhỏ, Nguyễn Hành học ở Thăng Long, là người thông minh, hiểu biết rộng, có tài thơ văn hay Nguyễn Hành có tham vọng nối dõi truyền thống thế gia nhưng khi đến tuổi trưởng thành, do nhiều biến thiên dữ dội của thời Lê mạt - Nguyễn sơ nên ông không có dịp thi thố sở học và tài năng của mình Hơn nữa, họ Nguyễn Tiên Điền đến thời thân phụ ông bắt đầu sa sút, thất thế, và bị phân tán trước cơn lốc của lịch sử Nhà nho tài hoa Nguyễn Hành cũng từng bị dèm pha nguy hiểm đến tính mạng, phải rời vợ con, nhà cửa, lưu lạc nơi đất khách, sống cuộc đời cực khổ
Trang 16Viết lời dẫn cho bài Hỉ nhị nữ lai tự Vĩnh Lại, Nguyễn Hành tâm sự:
“tôi gặp chuyện bóng gió, hoảng sợ phải bỏ trốn để tìm đường sống, từ nhà người em ở đồn Ngãi Am dắt díu nhau vào thành, gửi lại hai con gái ở đó, tình cảnh thật không thể dung thân, sau nhờ ông bà ở am sau thương xót mà chăm sóc chúng”
Cuộc đời Nguyễn Hành phiêu bạt nay đây mai đó, không thi cử, và cũng không cộng tác với nhà Tây Sơn lẫn nhà Nguyễn Thời gian từ năm
1794 đến năm 1796, Nguyễn Du ở Tiên Điền để xây dựng lại từ đường, đình chùa cùng Nguyễn Ức, thì Nguyễn Hành đã có mặt ở Tiên Điền và làm thơ tả việc chú đi săn Chính Nguyễn Hành là người tự tay đề các câu đối trong đền thờ Điền Nhạc Hầu Nguyễn Điều Năm 1804, khi vợ Nguyễn Du mất Nguyễn Hành cũng có ở Tiên Điền Một năm sau, ông được phong chức Đông Các Học Sĩ triệu vào kinh đô Phú Xuân Với chức vụ Đông Các Học Sĩ, ông luôn bên cạnh vua Gia Long, và hàng ngày dâng sách cho vua đọc, giảng cho vua nghe
Đến năm 1820, khi nghe tin chú Nguyễn Du mất tại Phú Xuân, Nguyễn Hành đã làm thơ bày tỏ niềm tiếc thương người chú đã khuất Bốn năm sau khi Nguyễn Du qua đời Năm 1824, Nguyễn Hành ở Thăng Long trong nghèo khó Nguyễn Hành luôn tuân theo quan điểm chính thống đó là
“Trung hiếu chi gia ninh sự nhị?” (Dòng dõi trung hiếu sao lại thờ hai vua?).Nguyễn Hành gọi Nguyễn Hữu Chỉnh, quân Tây Sơn là giặc, gọi nhà
Lê là “quân ta” Hơn nữa, ông không chịu ảnh hưởng tư tưởng của hai ông chú ruột của mình là Nguyễn Nễ hay Nguyễn Du Khi Tây Sơn thống nhất Nam Bắc, và thiết lập triều đại, ông lẩn tránh, không ứng chiếu cầu hiền Sau
đó, Nguyễn Gia Long lên ngôi, xuống chiếu lục dụng, ông cũng không hưởng ứng Ông sống lưu lạc ở Thăng Long cam chịu cảnh cơ cực, bần hàn Nguyễn Hành không an bần lạc đạo, mặc dù thơ ông thường nhắc đến mẫu hình Trang
Trang 17Tử Dù trải qua đói nghèo, tủi nhục, thiếu thốn đủ đường, nhưng lòng ông luôn hoài tưởng về triều Lê…
Nguyễn Hành đã trải qua biết bao nhiêu sóng gió của cuộc đời Đó là cái nghèo, cái đói, bệnh tật tràn lan, sự ly tán, tha hương cầu thực khắp nơi Cuộc sống của Nguyễn Hành gian nan, khốn khổ; cho nên ông có điều kiện được sống, được tiếp xúc, được trải nghiệm nhiều việc đời Đồng thời, ông cũng được tận mắt chứng kiến nhiều cảnh đời, cảnh sống cơ cực, sống ly tán, phiêu bạt của nhân dân, và chịu ơn giúp đỡ của nhiều người dân Cho nên, Nguyễn Hành có được những bài thơ thế sự xúc động đến thế
Cũng đã hơn một lần chính Nguyễn Hành cũng từng tâm sự rằng:
“( ) suốt ngày cặm cụi, nửa đêm chưa đi nằm, bụng nghĩ mắt nhìn, miệng đọc tay chép, nhặt những câu văn vẻ rườm rà, nhai những vị thừa cặn
bã, momg những bắt chước cái hay của người xưa mà để tiếng thơm tho hậu thế, thật là khó quá Tính theo với số, học chẳng hợp thời, thui thủi lạnh lùng,
Trang 18rốt cuộc không đi đến đâu cả, đói chẳng buồn ăn, rét chẳng sắm áo, ngồi đó
mà chịu khó khăn, hơi một tý là phỉ báng( ).” [ 15,tr423-431]
Nguyễn Hành tự nhận mình là một kẻ sĩ không hợp thời, nhưng chính
bản thân ông cũng chưa bao giờ xao lãng một phút giây nào vì cái “không
.(Ngũ thập tuế nguyên nhật thư hoài – kỳ nhị) (Tuổi trẻ được bao ngày,
Lần lữa ngày qua, tuổi đã năm mươi
Nhiều gian nan nên mái tóc đã đổi màu,
Có niềm cảm xúc nhờ tập thơ lưu lại
Chẳng lo thân đã già, Chỉ e danh khó lập
Vậy mà lòng chẳng biếng nhác, Hãy cứ làm chắc vẫn còn kịp”
(Ngày đầu năm năm mươi tuổi viết hai bài thơ tả nỗi lòng – Bài 2)
Nguyễn Hành cho rằng “ngốc nghếch” là vì ngay cả chính bản thân họ
cũng thừa hiểu sự “lỗi thời” và đương nhiên là “vô ích” của những cố gắng,
Trang 19nỗ lực của bản thân, nhưng “chỉ nói nghĩa thôi! Việc chi phải nói tới lợi?”
Đó là ngốc nghếch một cách đáng ngưỡng mộ
Tất cả những điều mà chúng ta biết ở Nguyễn Hành, đó là một Nho sĩ khảng khái, cương trực, và chắc chắn không bao giờ quên được những ám ảnh, những đắng cay của cuộc biến động lịch sử đến kinh thiên động địa ấy
Đó còn là sự đối lập mạnh mẽ giữa cuộc sống quá khứ và hiện tại cộng với những ẩn ức về sự suy tàn dòng họ: đó là những Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản, Nguyễn Điều Tất cả những con người ấy đều có vai trò là rường cột của đất nước, nhưng thay vì được kế thừa bởi một rường cột khác, thì lại trở
thành một khách lữ thứ “cầm áo đổi gạo”
1.2 Sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Hành được đương thời tôn vinh là một trong “An Nam ngũ
tuyệt” Theo các tài liệu ghi chép lại sự nghiệp văn thơ của Nguyễn Hành bao
gồm ba tập thơ chữ Hán là Quan Đông hải (Trông bể Đông), Minh quyên thi
tập (Tiếng kêu của chim quyên); và Thiên địa nhân vật sự ký (thuộc thế loại
văn, triết) Trong đó, tập thơ Thiên địa nhân vật sự ký hiện đang thất lạc
Cuốn Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền có ghi sự nghiệp của Nguyễn Hành như sau:
tác phẩm “có Quan hải tập, Minh quyên tập, Thiên địa nhân vật thư” [10,tr79]
Nội dung của tập thơ Minh quyên thi tập rất phong phú, đa dạng Trước
hết đó là tư tưởng hoài Lê, buồn đau về thời thế suy vi Giới nghiên cứu văn học bấy lâu nay đánh giá tư tưởng chính trị của Nguyễn Hành là bảo thủ Nói vậy cũng vì ông chọn chỗ đứng của mình là chống Tây Sơn Đây chính là hạn chế của Nguyễn Hành Có thể nói, nội dung bao trùm, và lớn nhất của tập thơ của Nguyễn Hành là những tâm sự về cuộc sống bần hàn nơi đất khách, những suy ngẫm về đời suy loạn, dân đen ly tán, chịu nhiều khổ cực (bệnh
dịch lan tràn, đói rét…) Hình ảnh nổi bật trong Minh quyên thi tập là một nhà
thơ sống trong dân, gần dân, thương dân, được người dân thương quý, sẵn
Trang 20sàng giúp đỡ Ngôn ngữ tập thơ tự nhiên, mộc mạc , giản dị; thi cảm đôn hậu,
chân thành và giọng thơ chủ đạo là đau đớn, xót thương Trong lời Tựa của tập thơ, Nguyễn Hành viết: “tiếng kêu nghe đau thương thảm thiết không gì
bằng tiếng kêu của chim đỗ quyên Đỗ quyên là loài chim phương Nam, kêu
về mùa hạ, ngày đêm không ngừng… Tiếng thơ trong tập thơ này, ngẫu nhiên
mà giống thế, nên nhân đó đặt tên.” [9, tr7]
Quan Đông hải cũng là một tập thơ giá trị, bên cạnh thơ còn có những
bài tựa như: Lạc sinh tâm đắc tập tự, Vô ẩn lục tự Những bài ký như: Nam
song ký, Đồng xuân ngẫu ký Những bài bạt như: Nghệ An phong thổ ký bạt ,Đẩu số thư bạt hay những bài phú như: Đạo ngộ Bái công phú, Loạn thế độc thư cao phú Nội dung chính của Quan Đông hải là ca ngợi những tấm
gương trung hiếu nghĩa liệt, bộc lộ nỗi niềm thương nhớ quê hương, gia đình
và cảnh ngộ cô đơn, lẻ loi của người lữ khách; đồng thời khẳng định giữ vững chí khí, hoài bão trong mọi hoàn cảnh, và thể hiện sự chiêm nghiệm về quy luật của cuộc sống (sự vận động không ngừng của muôn vật; mối quan hệ giữa dân và nước) Ngoài ra, tập thơ còn “thức tỉnh người đời, răn đe thói tục”… Nhìn chung tư tưởng của Quan Đông hải khá nhất quán với Minh quyên thi tập
Trang 21Chương 2
MINH QUYÊN THI TẬP NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Nguyễn Hành là tác giả có quan niệm sáng tác tiến bộ Ông chủ trương thơ là tiếng kêu thương cất lên trong thời buổi suy loạn, dân đen ly tán và trong thời bình thơ là tiếng nói ngợi ca, êm đềm
Trong Lời Tựa tập thơ Minh quyên thi tập, Nguyễn Hành khẳng định:
“Tiếng kêu nghe đau thương thảm thiết không gì bằng tiếng của chim đỗ quyên… tiếng thơ trong tập này, ngẫu nhiên mà giống thế, nên nhân đó mà đặt tên… Tiếng kêu của chim vốn cũng có nguyên do Triều chính hợp Đạo, các bậc hiền tài quy tụ hòa hợp, chim phượng hoàng cất tiếng hót êm đềm; thời buổi suy loạn, dân đen ly tán oán hận, chim hồng chim nhạn kêu thương, nghe bi thảm thiết tha” [9,tr7] Có thể nói, với Nguyễn Hành, thơ được nảy
sinh từ chính cuộc sống, và phản ánh cuộc sống, thời thế Vì vậy, thời thế nào thì văn chương ấy, tiếng thơ cũng chính là tiếng của loài chim, và nó còn phụ thuộc cảm nhận, cũng như nhận thức về thời thế Không chỉ vậy, thơ cũng chính là thái độ của nhà thơ, là sự suy ngẫm của người viết trước thời thế, cuộc sống
Nguyễn Hành luôn quan niệm dùng thơ để ghi lại hành trạng và cảnh ngộ của người viết, và còn là một điểm tựa quan trọng trong cuộc đời Quan
niệm này được thể hiện trong rất nhiều bài thơ của ông như Đông Kiều dạ tứ,
Bắc Thành trừ tịch, Ngâm thi sự… Từ đó, Nguyễn Hành cho ta thấy, ông
dùng thơ, và viết thơ để giải tỏa tâm sự, để “an ủi nỗi cô liêu”; đồng thời
cũng là để quên đi cái nghèo, cái đói, bệnh tật đang bủa vây Không những thế, người sáng tác không đợi đến khi đủ đầy mới sáng tác; do đó thơ được viết ra một cách tự nhiên ngay trong những hoàn cảnh buồn thảm nhất, bi đát nhất của cuộc sống Không phải nhà thơ trốn tránh thực tại, mà là ông đang ở giữa thực tại cuộc đời để nghe, để nhìn, để thấu cảm, hơn nữa là để làm thơ
Vì vậy, thơ cũng chính là hơi thở của cuộc sống
Trang 222.1 Nỗi niềm đau xót trước cuộc sống khốn cùng của nhân dân
Khi ngụ ở Đồng Xuân, Bắc Thành, Nguyễn Hành đã viết Lời dẫn của tập thơ Minh quyên (Minh quyên phả dẫn) Nội dung của Lời dẫn được cắt
nghĩa về ý nghĩa cũng như nguyên do của nó bắt nguồn từ tiếng kêu của chim
đỗ quyên Lời dẫn đã bày tỏ tư tưởng cũng như chủ đề của tập thơ, và đồng thời đã cắt nghĩa về nguồn gốc của tiếng thơ ấy Có thể coi Lời dẫn tập thơ
Minh quyên là tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Hành
Nguyễn Hành cho rằng: “tiếng kêu nghe đau thương thảm thiết không
gì bằng tiếng kêu của chim đỗ quyên”, đỗ quyên kêu về mùa hạ, ngày đêm
không ngừng, khi kêu tất hướng về phương Bắc, “tiếng thơ trong tập thơ này
[Minh quyên thi tập] ngẫu nhiên mà giống như thế nên nhân đó mà đặt tên.”
[9, tr7] Tiếng kêu bi thản của chim đỗ quyên có thể nói nguyên nhân chính là
do thời cuộc biến loạn, dân đen ly tán, oán hận cùng cực Bởi vậy, thơ Nguyễn Hành cũng chính là tiếng thơ đau thương, ai oán như tiếng kêu ai oán, đau thương đến cùng cực của chim đỗ quyên Tiếng kêu của chim đỗ quyên thì vương vấn lơ lửng giữ mây trời, cây cành, còn tiếng kêu thương ai oán của Nguyễn Hành thấm đẫm trong từng câu, từng chữ
Tiếng kêu thương ai oán trong thơ Nguyễn Hành thì trước hết đó là tiếng kêu bi thảm của nhân dân khốn khổ, đói nghèo,và còn là tiếng kêu thương đau của nhà thơ về cuộc sống khốn cùng, ly tán, phiêu bạt khắp
trốn… của nhândân giữa “thuở trời đất nổi cơn gió bụi” Bởi vậy, nguồn cảm
hứng lớn nhất trong thơ Nguyễn Hành chính là hiện thực đời sống, đời thường, những gì dung dị nhất
Có thể nói, thơ Nguyễn Hành đầy ắp những hình ảnh về cuộc sống khốn khổ, cùng cực của dân chúng đương thời Nỗi khổ về cảnh chịu túng
thiếu, đói kém phải đi xin ăn trong bài Túy thái bình ám ảnh nhà thơ biết bao
“đêm đêm vẫn nghe tiếng trẻ ăn xin” Đây là tiếng thơ tả thực đến tê tái lòng
Trang 23người Lịch sử ta còn chép lại, Nguyễn Hành lớn lên trong thời kỳ dân chúng
loạn lạc, không được yên ổn, “trộm cướp nổi lên khắp nơi… thóc lúa dành
dụm trong xóm làng đều hết sạch… Dân lưu vong bồng bế, dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường Giá gạo cao vọt, 100 đồng tiền không đổi được một bữa
ăn Dân phần nhiều sống bằng rau cỏ, đến nỗi ăn cả chuột, rắn Người chết đói ngổn ngang, người sống sót không còn được một phần mười Làng nào có tiếng là trù mật cũng chỉ còn dăm ba hộ thôi.” [7,tr33]
Cuốn Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ
Đây là hai tác giả sống cùng thời với Nguyễn Hành và còn ghi lại nhiều sự
kiện tai nghe, mắt thấy lúc bấy giờ ở trong phủ chúa thì “thức gì cũng có,
chồng chất như núi” Vua Chúa ăn chơi xa hoa, trụy lạc, trong khi đó con dân
rất nghèo khổ, khốn cùng phải đi ăn xin từng bữa, và còn có rất nhiều người
dân không biết bấu víu vào đâu để sống, để tồn tại
Thơ Nguyễn Hành được ví như một thứ thơ về lịch sử đương thời ngập tràn chất liệu đời sống hiện thực Hơn nữa, người làm thơ ở đây cũng chính là người ghi chép lịch sử, ghi lại khách quan và trung thực về hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ Trong một số bài thơ, Nguyễn Hành đã hé lộ cho hậu thế biết một
sự thật đầy ám ảnh thời ấ/y cuộc sống điêu tàn, chết chóc bao trùm khắp nơi;
do đó dân chúng đói khổ phải đi tha phương cầu thực khắp trốn Hiện thực ấy đầu tiên và phần nhiều là do quan lại quý tộc thời bấy giờ không thi hành
chính sự dựa vào đức nhân (Túy thái bình), cộng thêm vì thiên tai mất mùa, dịch bệnh tràn lan (Dịch tái tác, Dịch tác) Thơ Nguyễn Hành giọng điệu đa
dạng, có giọng khát vọng, ấm ức, và cũng có giọng oán trách, … Chính
Nguyễn Hành từng nhận thơ ông là tiếng kêu “đau thương ai oán cùng cực” Các bài như Túy thái bình, Dịch tái tác, Dịch tác, Đại dịch… là những ví dụ
tiêu biểu cho tiếng kêu đau thương ấy
Trang 24Thơ Nguyễn Hành nói nhiều về dịch bệnh, và dịch bệnh đã len lỏi vào cuộc sống của từng nhà, từng gia đình, và chúng đã nhẫn tâm cướp đi sinh mệnh của biết bao người dân lương thiện, khốn cùng
Bài Đại dịch thuật lại chân thực sự kiện: “Năm Minh Mệnh thứ nhất,
mùa thu năm Canh Thìn (1820), có nạn dịch lớn Khởi đầu từ Xiêm La qua Gia Định rồi lan ra các trấn ở Bắc Thành Từ quan cho đến dân, người chết hàng mấy chục vạn Khắp thành thị nông thôn đều kinh hoàng, tế lễ cầu đảo Quả thực là sự biến chưa từng có”
“Lẫm nhược đại quân hành Tao nhiên vạn lý kinh
Cổ lai vô thử dịch Tiêm, Lạp chí Long Thành…’’
(Đại dịch)
(Ầm ầm như đoàn quân kéo đi, Náo động muôn dặm đều sợ hãi
Xưa nay không có dịch bệnh ấy,
Từ Xiêm La lan ra Long Thành )
(Nạn dịch lớn)
Nạn dịch lớn được tái hiện một cách đầy ám ảnh Đó là cảnh người chết khắp thành thị lẫn nông thôn, nạn dịch bùng phát lan rộng khắp nước, không trừ một giai tầng nào Để khắc họa sức hủy diệt nhanh chóng, và mạnh
mẽ của nạn dịch, Nguyễn Hành ví đại dịch như đoàn quân ầm ầm di chuyển,
đi đến đâu gây ra cảnh khiếp sợ, và chết chóc kinh hoàng đến đó Ta thấy
không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Hành ví đại dịch với “đại quân hành” Điều này cho thấy rằng trong tiềm thức nhà thơ đó hẳn là một ám ảnh khủng
khiếp Bằng cách so sánh đầy sức gợi hình độc đáo như vậy, nhà thơ đã diễn tả được những khổ cực và cảnh vô số tai họa liên tục mà nhân dân phải hứng chịu
Trang 25Nguyễn Hành luôn dằn vặt, luôn tự trách bản thân không có cách nào cứu giúp được cho nhân dân Bài thơ có dư vang không phải ở chỗ chủ thể trữ tình trông mong một tấm lòng hư vô, vời vợi cao xa, mà ở chỗ anh ta đi đến
chỗ tự vấn, tự hận Kết bài thơ toát lên cái tình thế “lực bất tòng tâm” và
cũng là tâm sự đau xót trước thời thế của Nguyễn Hành Cũng chính từ đây chúng ta thấy một tâm hồn đẹp đẽ, vượt lên giới hạn nhân sinh quan giai cấp, suốt đời lo cho dân cho nước
“…Mục thảm nhân dân tử , Tâm hoài thiên địa sinh Hận vô điều nhiếp thuật, Nhất vị hiến công khanh.”
(Đại dịch)
(…Trông thảm hại nhân dân chết chóc, Lòng cầu mong trời đất hiếu sinh
Hận rằng mình không có thuật gì cứu chữa,
Để đem dâng lên bậc công khanh.)
(Nạn dịch lớn)
Điều đó còn ta lại bắt gặp trong bài Dịch tái tác (Dịch bệnh tái phát); đó còn
là khao khát mãnh liệt được đem thân này hứng chịu “tai họa” cho nhân dân:
“Lãnh khí lưu hành đông hựu xuân, Hoàng thiên hồ nhẫn thử tư dân
Mệnh trung nhược hữu suy di lý, Bất tích thân đương thiên bách thân.’’
(Dịch tái tác)
(Khí lạnh tràn lan qua đông lại qua xuân, Ông trời sao nỡ [để tai họa] giáng xuống con dân, Nếu trong số mệnh có cái lẽ “thay thế”,
Trang 26Thì ta chẳng tiếc đem thân này [chịu nạn thay cho] muôn vạn thân.)
(Dịch bệnh tái phát)
Đó là một con người luôn vì mọi người, sẵn sàng hi sinh mọi thứ để mong nhân dân thoát khỏi tai họa Qua đó ta thấy được nỗi đau xót cùng cực của ông khi mình không thể giúp gì, không thể làm gì được cho dân
Khác với cấu tứ của bài Đại dịch, Dịch tái tác, bài Dịch tác đem lại cho
người đọc một cảm nhận khác:
“Thiên ý nguyên niên chuyển thái hòa,
Cố giao dịch lệ nhất hồi qua
Ngô đồng bất dụng nhương trừ thuật,
Nhàn tụng Văn Sơn Chính khí ca.’’
(Dịch tác)
(Đầu năm, ý trời muốn chuyển thái hòa,
Cho nên khiến cho dịch bệnh nổi lên một trận
có thể có bản lĩnh cứng cỏi như vậy Không chỉ vậy, Nguyễn Hành còn phải
là người luôn thương nhân dân, hiểu nhân dân thì mới có những vần thơ chứa chan khát vọng nhân dân vượt qua được đại dịch, đưa được nhân dân thoát khỏi đại dịch, và được sống một cuộc sống thái hòa
Đến bài Trung thu, ta có thể thấy rõ mối quan tâm chính của nhà thơ:
Trang 27“ Đại La thành đầu thu nguyệt minh, Đại La thành thượng khán nhân hành
Trung kinh dịch hậu hữu như thử, Bất ái minh nguyệt ái dân sinh.’’
(Trung thu)
Như vậy, ta thấy Nguyễn Hành luôn quan tâm đến cuộc sống của dân chúng; ông thường xuyên quan sát cuộc đời thường nhật của dân, gần gũi để hiểu dân, mến yêu và thương nhân dân vô cùng Ta không còn băn khoăn hay nghi ngờ gì nữa, có thể khẳng định Nguyễn Hành là một trong những nhà thơ góp phần không nhỏ vào việc cách tân thơ trữ tình, và thơ ngôn chí trung đại Ông đã có sự đổi mới về đề tài, thể loại, đồng thời lấy cuộc sống đời thường làm đối tượng để miêu tả, để phản ánh, và nhằm để cuộc sống đời thường của dân chúng theo chân tác giả vào thơ trong thơ Giờ đây, người dân đã trở thành trung tâm trong bức tranh hiện thực của Nguyễn Hành Hơn nữa, cảm hứng chủ đạo của thơ Nguyễn Hành không hướng về cảnh đẹp mà luôn gửi gắm nơi cuộc sống đời thường Đó là những gì dung dị nhất, bình thường
nhất, gần gũi với nhân dân nhất Có thể thấy, bài Trung thu là bài thơ xác định
chỗ đứng phát ngôn của nhà thơ Nguyễn Hành rất tinh tế
Dịch bệnh hoành hành khắp nơi khiến cho dân chúng rơi vào cảnh tượng bi đát, khốn khổ Nhân dân chưa hết cái khổ này lại đến cái khổ khác,
Trang 28thời tiết khắc nghiệt cũng làm cho nhân dân điêu đứng: Khổ nhiệt (Khổ vì nắng nóng), Trùng khổ nhiệt (Lại khổ vì nắng nóng)
Nguyễn Hành luôn nghĩ đến cuộc sống nhân sinh trong bất cứ hoàn cảnh nào Ông tâm sự rằng:
“Minh nguyệt hữu doanh khuyết Ngã tâm vô sở tuyệt.’’
(Minh nguyệt ca- Kỳ nhất)
(Trăng kia có lúc đầy vơi
Lòng ta không lúc nào ngơi.)
(Bài ca mặt trăng sáng – Bài 1)
Thời cuộc loạn lạc, rối bời cùng với đó là những cảnh tang thương, thương tâm đầy đau xót Nhân dân loạn lạc, đói khổ phải chạy vạy, phải đi xin lấy từng bữa ăn, hết đói khổ lại đến bệnh dịch hoành hành liên miên không có cách nào cứu chữa Qua cái nhìn tinh tế của nhà Nho, hiện thực xã hội được phản ánh vô cùng rõ nét Nguyễn Hành không hề né tránh hiện thực đầy đau xót mà luôn có nhìn thẳng vào hiện thực mà tái hiện nó
Nguyễn Hành mang nỗi lõng trĩu nặng, làm sao cho dân bớt khổ, và làm thế nào để có thể cứu bệnh cho nhân dân:
“Khởi duy liệu kỷ bệnh, Diệc dụy suy chư dân.”
(Đâu có phải chỉ cốt chữa bệnh cho mình,
Mà còn muốn đem ra dùng cho dân.)
(Bệnh tụng - Bài tụng về bệnh)
Trong bài Phú đắc hà nhật thị thanh minh, nhà Nho day dứt, tự hỏi
mình trong lúc nhân dân đang đói khổ, cùng cực, bệnh dịch hoành hành khắp nơi không có cách nào cứu chữa, dân chúng ly tán phiêu bạt như vậy, không biết ngày nào mới là ngày thanh minh:
Trang 29(Phú đắc “Ngày nào là thanh minh”)
Không có gì mênh mông như thi ca viết về mùa xuân Mùa xuân cũng mênh mông với tất cả sự lộng lẫy, vẻ đẹp rực rỡ như thiên thần, tràn đầy, xao động và sức sống trào dâng của nó, nó đã quyến rũ và làm đắm say biết bao tâm hồn trái tim thi nhân Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, mùa của những gì tinh khôi nhất, thuần khiết nhất và còn là mùa của sự sinh sôi, nảy
nở của vạn vật Đó là mùa của sự sống, sự vui tươi, hạnh phúc Nhưng đối với các nhà Nho như Nguyễn Hành thì mùa xuân ấy đã nhuốm màu thế sự
Qua bức tranh hiện thực sắc nét ấy, ta thấy khát vọng lớn nhất của Nguyễn Hành là thời cuộc trở lại yên bình, thanh bình, nhân dân không còn phải khổ cực, được ấm no, hạnh phúc Đó là khát vọng cao cả
2.2 Cuộc sống nghèo khổ, cô đơn của nhà Nho nơi đất khách quê người
Cuộc đời của Nguyễn Hành lưu lạc ở Thăng Long, và sống một mình nơi đất khách quê người với sự cô đơn trống trải, nỗi buồn cô liêu bủa vây…
Điều này đã được ông gửi gắm rất nhiều vào thơ ca
Cảnh tượng lưu lạc nơi đất khách quê người được Nguyễn Hành khắc
họa rõ nét trong bài Lưu lạc:
“Noãn y bão thực cư hương lý,
Để sự tư hương khước thị nan
Trang 30Dã hữu danh vi thiên hạ sĩ, Chí khí lưu lạc thụ cơ hàn.”
(Lưu lạc)
(Áo ấm cơm no ở trong xóm làng, Mỗi việc nhớ về quê là thật khó khăn
Cũng mang danh là kẻ sĩ trong thiên hạ,
Mà đến nay còn lưu lạc, chịu nhiều đói rét.)
(Lưu lạc)
Cuộc sống tha hương lánh nạn đầy thiếu thốn, khổ cực, đói rét Lòng kẻ
sĩ mong nhớ về quê mà sao khó khăn quá
Bài Khách trung trung thu (Tiết trung thu ở đất khách), khi ngắm nhìn
trăng sáng giữa một khung trời lạnh, Nguyễn Hành hoài nhớ nhớ vợ con, quê hương Bài thơ có tám câu tả cảnh ngắm trăng hiện tại, nhớ vợ con nơi quê nhà, nhớ cảnh vườn xưa Nhưng không có câu nào nhà thơ trực tiếp nói đến cảnh ngộ cô đơn Tuy nhiên khi đọc lên ta vẫy thấy một con người lặng lẽ, cô đơn lạc lõng trên đất khách quê người giữa đêm khuya lạnh lẽo Cảnh trời xanh, trăng sáng, không gian lạnh lẽo được tái hiện rõ nét ở hai câu thơ đầu
“Nhất bích thiên như tẩy, Tam canh nguyệt chính hàn.’’
(Cả trời xanh như được gội rửa,
Canh ba trăng sáng giữa trời lạnh.)
Bốn câu tiếp theo tả tình, thứ đọng lại ở đây thì không phải là cái tình
trước cảnh trăng sáng, và cảnh đẹp xưa cũng như nay, mà là ở cái tình thê nhi
đang bồn chồn trong lòng người khách lữu thứ
“Khả liên kim tịch hảo, Bất đắc cố viên khan
Ky lữ hồn vô định, Thê nhi thả cộng hoan.’’
Trang 31(Mừng thay, đêm nay thật đẹp, Nhưng không được ngắm cảnh vườn xưa
Khách trọ luôn không yên,
Vợ con chắc đang vui vầy.)
Hình tượng con người lạc lõng, cô đơn ở trong Minh quyên thi tập
thường được tái hiện vào không gian cư ngụ xa lạ và thời gian đêm khuya Đêm chính là lúc con người phải đối diện với chính mình, là lúc con người lắng lại để suy ngẫm về cuộc đời, cảm thấu rõ nhất cảnh ngộ của mình trước bóng đêm thăm thẳm
Nỗi nhớ vợ con, nhớ quê hương của Nguyễn Hành còn được thể hiện ở
một số bài thơ khác như Tư hương (Nhớ quê), Kim tuế trung thu nguyệt (Trung thu năm nay), Khách trung ngọa (Nằm bệnh ở đất khách), Thành thị
lạc (Thành thị vui), Tặng nội (Tặng vợ), Nhân niệm tại gia nhị nữ (Nhân nhớ
đến hai con gái ở nhà)
Cũng như bài Khách trung trung thu, bài Đông Kiều dạ tứ tái hiện rõ
nỗi niềm lữ khách phiêu bạt ở Nguyễn Hành:
“Đông Kiều nhân địch hậu, Độc tọa tự vô liêu
… Khách tâm đương thử dạ, Thế sự hựu lai triêu
Bấy dụng văn kê vũ,
Đề thi ủy tịch liêu.”
(Đông Kiều dạ tứ)
(Ở Cầu Đông, sau khi mọi người đã nghỉ, Ngồi một mình, cảm thấy buồn chán
Trang 32Lòng khách cũng như đêm này, Chuyện đời lại như sáng mai
Chẳng cần tiếng gà gáy trở dậy,
Đề thơ để an ủi nỗi cô liêu.)
(Nỗi niềm đêm ở Cầu Đông)
Ngay từ mở đầu bài thơ ta thấy rõ nỗi buồn, sự cô đơn của chủ thể trữ tình Sau đó, kết thúc bài thơ cũng vẫn là cảnh ngộ cô liêu, cô đơn của ông
Không chỉ vậy, một trong những nội dung lớn bao trùm thơ ca Nguyễn Hành đó là hoàn cảnh khốn khổ, cùng cực, tha hương cầu thực của nhà thơ
Trong nhiều bài, nhà thơ thể hiện ý thức sâu sắc của mình về thân (từ thân
xuất hiện rất nhiều trong thơ ông), Nguyễn Hành thường tự nhận mình là hàn nho, hàn sĩ, là kẻ áo vải
“- Nam quốc công thần hoàn cục quy,
Vô đoan hàn sĩ lệ triêm y.’’
(Vãn Hiệp trấn Thọ Như hầu)
(Trọn đạo của một công thần nước, Nam thì trở về nào ngờ khiến kẻ hàn sĩ này lệ rơi thấm áo.)
(Khóc thương Hiệp trấn Thọ Như hầu)
“- Chỉ nhân tri kỉ ân thiên lạm, Chuyển sử hàn nho lụy cánh thâm.”
(Bởi vì ơn tri kỉ quá dày, Khiến cho mối lụy của kẻ hàn nho thêm sâu.)
(Quá tiền Hình bộ tham tri Huỳnh công thành trung cựu trạch kiến liễu thụ nhi tác, tịnh dẫn) Nguyễn Hành thường xuyên nói về cảnh nghèo khổ, vất vả, gian nan của mình Đây không hẳn là một lời ca thán, than thở, mà trước hết bộc lộ sự day dứt, dằn vặt của ông về trách nhiệm, và bổn phận của mình đối với gia đình
Trang 33Trong tuyển Thơ Nguyễn Hành có nhiều bài thơ thể hiện tâm sự của tác
giả về cái nghèo khổ đeo bám, bủa vây cuộc sống nhà thơ… Thơ hiện thực của Nguyễn Hành luôn viết về con người bình thường, về cuộc sống đời thường, việc đời trần tục Đời thường nhất, không phải cái gì khác, mà chính
là cái ăn, cái đói, và những tấm áo mặc thường ngày Điều này được Nguyễn Hành nhắc lại khá nhiều trong thơ ông về miếng ăn, cái đói Thơ viết về cái đói, cái lạnh thường luôn đau buồn, xót xa nhưng ở Nguyễn Hành khi nói về cái đói, cái khó khăn mà ông không hề có chút bi lụy, đau xót và không hề mất đi cái chí khí, hoài bão lớn lao Đó là cái chí lớn lao của kẻ sĩ
Những nhà Nho xưa, họ có thể chết đói, nhưng vẫn luôn tỏ ra phong lưu, khoáng đạt lắm Có thể do họ vốn phong lưu, khoáng đạt và đùa cợt thật, như Nguyễn Công Trứ:
“Ngày ba bữa vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no,
Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.”
(Hàn nho phong vị phú) Đem cái nghèo ra mà đùa bỡn như Nguyễn Công Trứ ở đời hiếm thôi Thực
tế thì không có nhiều người có tài hài hước như vậy Nho sĩ không phải không thích nói tới cái nghèo, mà là không thích bi lụy Có một Nguyễn Khuyến:
“Chẳng khôn cũng biết một hai điều, Chẳng tội gì hơn cái tội nghèo
Danh giá dường này không nhẽ bán Nhân duyên đến thế hãy còn theo
Tấm lòng nhi nữ không là mấy, Bực chí anh hùng lúc túng tiêu
Có lẽ phong trần đâu thế mãi,