ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc CHỦ ĐỀ TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ “Tâm lý học giáo dục” LỚP BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO NGƯỜI CÓ BẰNG CỬ NHÂN.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
CHỦ ĐỀ TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ
“Tâm lý học giáo dục”
LỚP BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO NGƯỜI CÓ BẰNG CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH PHÙ HỢP CÓ
NGUYỆN VỌNG TRỞ THÀNH GIÁO VIÊN THCS, THPT
Phân tích bản chất của hiện tượng tâm lý người Anh/chị sẽ vận dụng vào dạy học ở trường THCS/THPT như thế nào?
Bài làm
I Tâm lí người là gì?
Ông bà ta có câu “tri nhân tri diện bất tri tâm” tức là ta có thể dễ dàng quen biết một người nào đó nhưng để hiệu được nội tâm bên trong, bản chất thật sự của người đó thì vô cùng khó khăn Vì thế chữ “tâm” là khía cạnh ẩn sâu bên trong mỗi con người Người ta thường dùng ghép với các từ khác tạo thành các cụm từ “tâm đắc”, “tâm can”, “tâm địa”, “tâm tình”, “tâm trạng”,…được hiểu là lòng người, thiên về mặt tình cảm
Theo từ điển Tiếng Việt (1988) tâm lí là ý nghĩ, tình cảm, làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người
Theo quan điểm duy tâm thì tâm lý của một người là do thượng đế sáng tạo
ra và nhập vào con người, chứ không do chính con người tạo ra
Quan điểm duy vật tầm thường: Tâm lý, tâm hồn được cấu tạo từ vật chất,
do vật chất trực tiếp sinh ra như gan tiết ra mật Họ đồng nhất cái vật lý, cái sinh
lý với cái tâm lý Phủ nhận vai trò của chủ thể, tính tích cực, năng động của tâm
lý, ý thức, phủ nhận bản chất xã hội của tâm lý
Còn theo quan điểm duy vật biện chứng: Bản chất hiện tượng tâm lý người
là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua hoạt động của mỗi người Tâm lý người mang bản chất xã hội và tính lịch sử
Trong tâm lí học: Tâm lí là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người
Trang 2II Bản chất của hiện tượng tâm lí người:
Tại sao tâm lí mỗi người lại khác nhau? Như chúng ta thấy, trong một gia đình có những đứa con cùng một bố mẹ sinh ra nhưng mỗi người con lại có một tính cách khác nhau, sở trường khác nhau, tâm lý khác nhau Điều gì đã tạo nên
sự khác biệt như thế? Tại sao tâm lý người này lại khác với tâm lý người kia? Bản chất của hiện tương tâm ý người sẽ giải thích rõ hơn vấn đề nay
Ảnh minh họa
1.1 Tâm lí người là sự phản ánh hiện tượng khách quan của não
Não là một cơ quan vô cùng phức tạp Ví dụ, não người có hơn 86 tỉ tế bào thần kinh, mỗi tế bào thần kinh liên kết với khoảng 100 ngàn tế bào thần kinh khác Theo khoa học trên não có các miền (vùng, thùy) và mỗi miền có thể tham gia vào nhiều hiện tượng tâm lý khác nhau Não chính là tiền đề tự nhiên nảy sinh các hoạt động tâm lý bên trong, nếu chúng ta có một bộ não không bình thường thì chúng ta cũng có đời sống tâm lý không bình thường 80% các vấn đề trong đời sống có liên quan đến yếu tố tâm lý và khoa học tâm lý đi nghiên cứu
những vấn đề nảy sinh trong não con người
Ảnh minh họa
Trang 3Ngay từ khi mới sinh ra, thì chúng ta chỉ mới sở hữu một phần cứng là bộ não, chưa có những dữ liệu Các yếu tố gia đình, môi trường, giáo dục, hoạt động trải nghiệm tác động lên bộ não để hình thành nên tâm lý người Đứng trước những sự vật hiện tượng, những tình huống thì chúng ta có sự phản ánh khác nhau Ví dụ: Với một bài nhạc rap hiện đại, có người nghe cho rằng là hay nhưng có người cho là dở vì khó hiểu khó nghe
Như vậy, Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua hoạt động của mỗi người Trong đó, phản ánh là quá trình tác động qua lại hệ thống này và hệ thống khác, kết quả là để lại dấu vết (hình ảnh) Tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu sự tác động Có bao nhiêu dạng vận động thì có bấy nhiêu dạng phản ánh Phản ánh từ đơn giản đến phức tạp, từ phản cơ, lí, hóa, sinh đến phản ánh xã hội Phản ánh tâm lí là hình thức phản ánh cao nhất, là kết quả của sự tác động của hiện thực khách quan vào não người và
do não tiến hành
Thực tế, não người hoạt động để nhận tác động của hiện thực khách quan, tạo ra trên vỏ não những dấu vết vật chất chứa đựng những hình ảnh tâm lí Cụ thể, hình ảnh tâm lý phải mang tính tích cực và sinh động: Hình ảnh tâm lý mang tính tích cực bởi kết quả của lần phản ánh trước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lần phản ánh sau Nhờ đó con người tích lũy được kinh nghiệm mới có sự tồn tại và phát triển
Ví dụ: Khi chúng ta quen một người bạn mới, tại lần gặp gỡ đầu tiên đã có được ấn tượng tốt về họ Thì não cũng chúng ta mặc định họ là người tốt và khi thấy họ làm những điều xấu thì điều đầu tiên não chúng ta trả về là tại sao họ có thể là như thế? Tôi không tin họ làm như vậy Chúng ta liên tục đưa ra hàng loạt biện minh cho sự sai trái đó Rõ ràng kết quả lần phản ánh trước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lần phản ánh sau
Não người hoạt động theo cơ chế phản xạ để tạo ra tâm lí và một vòng phản xạ với 4 khâu chủ yếu được diễn ra như sau:
- Khâu thứ nhất: Tiếp nhận kích thích
Kích thích (đối tượng) từ thế giới khách quan được tiếp nhận qua các giác quan Những kích thích này tạo ra những xung động thần kinh theo đường hướng tâm truyền lên não
Khâu thứ hai: Xử lí thông tin
Trang 4Não (trung ương thần kinh) tiếp nhận xung động thần kinh từ khâu thứ
nhất, tạo ra hưng phấn hay ức chế để xử lí thông tin, tạo ra dấu vết vật chất là những hình ảnh tâm lí về đối tượng kích thích
Khâu thứ ba: Trả lời kích thích
Những hưng phấn hay ức chế từ não được dẫn truyền theo đường li tâm đến các cơ, tuyến gây nên phản ứng của cơ thể, trả lời kích thích Phản ứng của
cơ thể do sự sự điều khiển, điều chỉnh của hình ảnh tâm lí ở não
Khâu thứ 4: Liên hệ ngược
Thông tin từ khâu thứ ba báo về não xử lí để kịp thời điều chỉnh phản ứng nhằm đạt kết quả tốt nhất Nhờ vậy, hình ảnh tâm lí ở não liên tục được điều chỉnh cho phù hợp với môi trường luôn thay đổi
Tâm lí người là hiện tượng tinh thần tồn tại ở não, là sản phẩm của sự tác động qua lại của hiện thực khách quan và não
1.2 Tâm lí người có tính chủ thể
Giữa đại dịch Covid, mỗi con người chúng ta đề có một cách nhìn nhận khác nhau Có người thì hoảng sợ, lo lắng vì không biết khi nào minh sẽ trở thành F Có người thì lại vui vẻ đón nhận, vượt qua sợ hãi có lối sống tích cự Cũng có những người lại lợi dụng thời điểm này để trục lợi cá nhân… và dù ở thái độ nào đi nữa thì đó cũng là những phản ứng tâm lý hết sức bình thường của từng cá thể khác nhau
Ảnh minh họa
Như vậy bằng não người hoạt động bình thường và hiện thực khách quan hay nói đúng hơn là hai hệ thống vật chất có sự tác động qua lại chính là tác nhân tạo nên phản ánh tâm lí Vì phản ánh tâm lí không phải là sự phản ánh thụ động hiện thực khách quan vào não mà nó bị khúc xạ bởi những đặc điểm bên trong của chủ thể phản ánh Vì thế, hình ảnh tâm lí người mang tính chủ thể, đậm màu sắc cá nhân, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Trang 5Ví dụ: hai điều tra viên cùng tham gia khám nghiệm hiện trường nhưng do trình độ nhận thức, chuyên môn,…khác nhau nên kết quả điều tra khác nhau Hay ông bà ta có câu “ Vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà
ở trong mắt của kẻ si tình, rõ ràng quan niệm về cái đẹp của mỗi người là hoàn toàn khác nhau
Vậy nguyên nhân do đâu mà có sự khác nhau đó?? Do mỗi ca thể có đặc điểm riêng về cơ thể, giác quan, hệ thần kinh và não bộ Khác nhau về hoàn cảnh sống khác nhau, điều kiện giáo dục Và hơn hết, mỗi cá nhân thể hiện mức
độ tích cực hoạt động, tích cực giao lưu khác nhau trong cuộc sống dẫn đến tâm
lí của người này khác với tâm lý của người kia
Tính chủ thể trong phản ánh tâm lí thể hiện ở chỗ:
- Một đối tượng tác động tới nhiều chủ thể cho những hình ảnh tâm lí với những mức độ, sắc thái khác nhau
- Một đối tượng tác động tới một người ở nhiều thời điểm, hoàn cảnh, trạng thái tinh thần khác nhau có thể cho ta thấy mức độ biểu hiện và sắc thái tâm lí khác nhau ở người đó
- Chủ thể mang hình ảnh tâm lí là người cảm nhận, cảm nghiệm và thể hiện
nó rõ nét nhất
- Thông qua những hình ảnh tâm lí với những mức độ, sắc thái khác nhau
mà mỗi chủ thế có thái độ và hành vi khác nhau đối với hiện thực
1.3 Tâm lí người mang bản chất xã hội- lịch sử
C Mác từng nói: “Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, nó không chỉ tổng hoà các mối quan hệ trong hiện taị mà cả trong quá khứ.
Trong thế giới khách quan, nguồn gốc xã hội là quyết định bản chất hiện tượng tâm lý người, thể hiện qua: Các mối quan hệ kinh tế-xã hội, đạo đức, pháp quyền, mối quan hệ con người – con người, từ quan hệ gia đình, làng xóm, quê hương, quan hệ cộng đồng, nhóm,… Trên thực tế, nếu con người thoát ly khỏi các mối quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với con người thì tâm lý người
sẽ mất bản tính người
Ví dụ: Có những người họ sống trong rừng lâu năm, sống tác biệt với thế giới loài người Khi tìm thấy được họ, thì thường họ không mặc quần áo và di chuyển như một con khỉ Nói chuyện hay giao tiếp chỉ phát ra những tiếng gừ
gừ, những âm thanh vô nghĩa, không thể hòa nhập vào cuộc sống con người
Trang 6Như vậy, có thể thấy rằng tâm lý người chỉ hình thành khi có điều kiện cần
và đủ là sự tác động của hiện thực khách quan lên não người bình thường và phải có hoạt động và giao tiếp Là chủ thể của nhận thức và hoạt động của giao tiếp một cách chủ động và sáng tạo Vì thế tâm lí người mang dấu ấn xã hội lich
sử của con người Tâm lí của mỗi người là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hóa xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp Có thể thấy, giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người Khi được giao tiếp mọi người thường truyền cho nhau thông tin, kinh nghiệm, kiến thức làm cho tâm lý mỗi người trở nên phong phú đa dạng…
Ví dụ: Bạn là một người rụt rè ít nói, nhưng cuộc sống lại đưa bạn đến sống và làm việc tạo một nơi năng động, có những mối hệ với những người lạc quan, nhạy bén Ắt hẳn sau một thời gian cùng sống làm việc thì bạn cũng bị ảnh hưởng bởi họ Bởi sự tiếp thu vốn sống, tiếp nhận văn hóa thông việc sinh hoạt, giao tiếp hằng ngày
Như Ăng ghen đã từng nói: “Sự phong phú về mặt con người hoàn toàn phụ thuộc vào mối quan hệ của người đó với thế giới xung quanh”.
Như vậy, tâm lí người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử, là kinh nghiệm
xã hội – lịch sử biến thành cái riêng của mỗi người
Ví dụ: Bạn sống trong gia đình có truyền thống nghệ thuật bạn được thừa hưởng gen, được thừa hưởng sự giáo dục từ nhỏ Bạn sẽ có tâm lý trở thành một người nối nghiệp và phấn đấu cho sự nghiệp đó phát triển hơn, thịnh vượng hơn
Ảnh minh họa Ông bà ta có câu: “Ăn theo thuở mà ở thì theo thời” Thời gian thiên biến
Trang 7vạn hóa mội thứ, dòng lịch sử nhân loại của có sự thay đổi từng ngày Lối sống của một công dân GenZ sẽ khác hoàn toàn với thế hệ 8x, 7x Bởi lẻ tâm lí của mỗi người được hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch
sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng Tâm lí người chịu sự chế ước của lịch
sử cá nhân và lịch sử xã hội Một công dân GenZ khó mà sống nếu thiếu chiếc điện thoại, thiếu mạng internet… Bởi ngay từ khi họ sinh ra, lịch sử đã ấn định GenZ sống trong thời kỳ công nghệ 4.0
Như vậy, tâm lí người là hiện tượng tinh thần có nguồn gốc từ thế giới khách quan, nảy sinh và tồn tại trong não bộ, bộc lộ ra bên ngoài qua những hành vi, hoạt động của con người Tâm lí người mang dấu ấn của mỗi cá nhân
và của xã hội
III Vận dụng vào dạy học ở trường THCS/THPT
Nhà Tâm lý học giáo dục Mỹ E.L Thorndike nói: “Tâm lý học là khoa học
về trí năng, tính nết và hành vi của động vật, trong đó có cả con người Giáo dục con người liên quan đến những đổi thay nhất định trong trí năng, tính nết, hành vi của họ và những vấn đề của công cụ giáo dục đó đại thể nằm trong bốn chủ đề sau: Mục tiêu, vật liệu, phương tiện và phương pháp giáo dục”.
Vậy phương pháp giáo dục là gì? Là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để giáo dục người học Và việc giáo dục người học là vấn đề quan trọng trong quá trình dạy học Mỗi người giáo viên luôn suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp dạy chất lượng nhất, thu hút học sinh nhất, tạo dựng một môi trường học tập không áp lực Và việc áp dụng tâm lý học con người đang là
xu hướng, và có hiểu quả trong việc cải thiện hứng thú học tập và hiệu quả học tập cho học sinh Dưới đây là một vài biện pháp mà tôi thiết nghĩ có thể vận dụng vào thực tiễn giảng dạy:
Thứ nhất, tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa giáo viên và học sinh
Ngày xưa, thầy đồ luôn được xem là người có vai trò quan trọng, học trò phải tuân theo mọi yêu cầu, mệnh lệnh của thầy Học trò không được phép cãi lại thầy Thầy đồ có thể trừng phạt trò nghiêm khắc, thậm chí đánh phạt học trò nhưng cha mẹ không dám phản đối mà có nhiều bậc cha mẹ lại rất biết ơn thầy
đã nghiêm khắc giáo dục con cái họ thành người có ích sau này
Trong thời đại ngày nay, giá trị của “Tôn sư trọng đạo” vẫn luôn tồn tại, tuy nhiên, khoảng cảnh giữa thầy và trò đã dần rút ngắn Người thầy sẽ là người hướng dẫn, trợ giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức và không còn là người “độc
Trang 8quyền” truyền đạt kiến thức Bởi lẽ, học sinh sẽ tự mình chủ động tiếp thu kiến thức từ nhiều nguồn khác như sách báo, Internet Nên các em sẽ có quyền đánh giá thầy và quyền chọn thầy cô hướng dẫn mình Mối quan hệ thầy - trò sẽ bình đẳng hơn Vị thế đã có sự thay đổi, vì thế người giáo viên cần phải gần gũi, tìm hiểu học sinh nhiều hơn, nghe ý kiến, kiến nghị và cảm nhận của học sinh, sau
đó điều chỉnh phong cách và phương pháp giảng dạy của mình
Giờ đây, đứng trước bục giảng, giáo viên đóng hai vai trò, một là thầy cô giáo, hai là bạn của học sinh Vì thế, thái độ giảng dạy dần trở nội dung cốt lõi của quá trình dạy học, nếu giáo viên có năng lực tốt đến đâu đến đâu nhưng học sinh không thích, không tín nhiệm, thì sẽ không đạt đến kết quả giảng dạy tốt Người giáo viên phải có sự tôn trọng, thái độ tích cực và quan tâm bình đẳng với mỗi học sinh, xây dựng mối quan hệ tốt giữa giáo viên và học sinh
Thứ hai, định hướng mục tiêu giáo dục
Học sinh xưa nay luôn có quan điểm học để làm vui lòng cha mẹ, học để không bị la mắng… Vì thế, động lực học tâp của các em không được thúc đẩy từ chính nội lực bản thân Vì thế, nếu giáo viên phải có thể vừa là người hướng dẫn, vừa có thể kích thích động lực học tập của học sinh
Học sinh THCS nói lớn chưa phải là lớn, nhưng nói nhỏ không phải là nhỏ Mối đứa trẻ đều có nhu cầu được tôn trọng Và sự tự trọng, cầu tiến và cố gắng của các em tỷ lệ thuận với việc học tập sẽ có trách nhiệm hơn Cho nên, nâng cao lòng tự trọng của học sinh sẽ giúp ích trong việc phát huy động cơ học tập Học sinh có động cơ học tập, mới có thể tự mình làm chủ trong việc học tập, mới có thể chủ động tích cực trong học tập Từ đó, những suy nghĩ “cần tôi học” sẽ chuyển hóa thành “tôi cần học”, “khổ học” thành “vui học” Đòi hỏi người giáo viên phải nắm được các nguyên tắc giao tiếp sư phạm trong giao tiếp
sư phạm, tôn trọng nhân cách người học, có thiện chí trong giao tiếp đồng cảm trong giao tiếp Qua đó, công tác giảng dạy sẽ đạt hiệu quả hơn, hiệu quả học tập
sẽ tự nâng cao
Thứ ba, xây dựng phương pháp dạy học thích hợp cho từng đối tượng giảng dạy
Mỗi đứa trẻ là một cá thể hoàn toàn riêng biệt, bọn trẻ khác nhau về nhiều thứ: thể chất, hoàn cảnh sống, tình cảm, tâm lý… Thế nên, việc hứng thú của mỗi trẻ đối với vấn đề học tập cũng khác nhau Vì vậy, việc tạo động lực, hứng thú cho trẻ khi bước vào những vấn đề mới là vô cùng cần thiết Điều đó, đòi hỏi
ở người truyền đạt kiến thức phải có một phương pháp dạy học tích cực theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Trang 9Có một vấn đề thực tế trong giảng dạy là học sinh yếu kém luôn được lo lắng, quan tâm chủ yếu của giáo viên, vì học sinh học lực kém đều có tính tự ti hoặc cực đoan Những học sinh này thường cho rằng bản thân mình kém cỏi, bị người khác xem thường, nảy sinh sự buồn khổ, chán nản không thể thoát khỏi trạng thái tâm lý tiêu cực Từ đó, dẫn đến tình trạng tìm nơi giải trừ áp lực thông qua việc hút thuốc, uống rượu, lên mạng, giao lưu bạn bè v.v Chính những suy nghĩ tiêu cực đó học sinh dần rơi vào đời sống lệch lạc, sa vào bạo lực, bài bạc,
tệ nạn xã hội
Những hành vi đó của các em với mong muốn gây được sự chú ý, sự quan tâm của mọi người xung quanh Vì trong con người các em vẫn có tâm cầu tiến, mong có thành tích ưu tú, muốn được bạn bè tôn trọng, thầy cô giáo quan tâm khen thưởng Như vậy, tâm lý của các em chính là điều quyết định có thành công trong việc học tập hay không Điều này đòi hỏi ở gia đình và một phần không nhỏ của người giảng dạy
Việc nâng cao sự tự tin của học sinh là điều kiện quan trọng để cải thiện hứng thú học tập Giáo viên cần xây dựng được phương án dạy phù hợp cho từng đối tượng, đặc biệt là đối tượng chúng ta đang bàn tới Cần ưu điểm của học sinh dù là nhỏ nhất để tán thưởng, gieo hi vọng cho học sinh bằng cách giao bài tập dễ cho học sinh, để các em có thể hoàn thành Tận dụng thời gian rảnh trên lớp hướng dẫn riêng cho học sinh cá biệt, tạo cảm giác cho các em được giáo viên quan tâm chứ không phải bị bỏ rơi, từ đó các em sẽ tự tin hơn trong học tập và rèn luyện
I Cvapilic từng khẳng định: “Giao tiếp với mọi người là một nghệ thuật
mà không phải ai cũng nắm bắt được Bất kỳ ai cũng phải học điều đó” Có thể
thấy rằng giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa thầy, trò để truyền đạt kiến thức và giáo dục dạo đức cho học sinh Vì lẽ đó mà mỗi người giáo viên ngoài nâng cao chuyên môn còn phải nâng tầm giao tiếp để làm sao trở thành người bạn đồng hành thật sự cùng học sinh trong suốt quá trình giáo dục
Không phải tự dưng mà người ta gọi giáo viên là một “nghề cao quý trong những nghề cao quý” Điều đó đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải luôn
thể hiện hành vi, cử chỉ nhẹ nhàng, đúng tác phong sư phạm để tạo thiện cảm cho học sinh Và học sinh sẽ thấy đó làm gương để lần sau hành xử đúng chuẩn mực hơn
IV Kết luận
Trang 10Tâm lý con người là một môn khoa học thú vị Người giáo viên hằng ngày đối diện với học sinh, nếu chúng ta có thể áp dụng những kết quả nghiên cứu vĩ đại này vào công việc giảng dạy, để giáo viên hiểu rõ hơn về tâm lý học sinh, càng có hiệu quả hơn trong công tác giáo dục và giúp đỡ học sinh, đồng thời đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy việc học tập của học sinh
Đã bao giờ bạn đặt mình vào vị trí của học sinh, nếu như là học sinh, bạn mong giáo viên sẽ dạy như thế nào? Như vậy nếu người giáo viên nắm bắt được học sinh đang nghĩ gì, đang muốn gì, đang hy vọng điều gì thì sẽ dễ dàng đặt ra mục tiêu, kế hoạch thực hiện cho từng đối tượng học sinh Từ đó công tác giảng dạy cho học sinh sẽ đạt hiệu quả cao hơn
Ông bà ta có câu: “Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”, nếu thực sự
chúng ta thấu hiểu được học sinh thì có thể xem như chúng ta đã chiến thắng được hơn 50% Nói đạo lý thì rất đơn giản, nhưng khi thực hành thì rất khó Hi vọng rằng bản than tôi sẽ có thể thực hiện được điều đó khi đứng trên bục giảng
- Hết