Có hơn 920.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp, trong đó lao động trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước chiếm 94,32%; tỷ lệ lao động ngoài tỉnh chiếm 85%, lao động nữ chiếm
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM OANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ NHẬP CƢ
TỪ THỰC TIỄN KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM –
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM OANH
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ NHẬP CƯ 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của lao động nữ nhập cư 9
1.2 Khái niệm, nhu cầu và nguyên tắc của công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư 11
1.3 Nội dung, phương pháp, kỹ năng công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư 15
1.4 Các yếu tố tác động đến công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư 18
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ NHẬP CƯ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM - SINGAPORE, TỈNH BÌNH DƯƠNG 25
2.1 Thực trạng tác động của các yếu tố đến công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư tại Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương 25
2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư tại Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương 42
2.3 Đánh giá khái quát kết quả công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư tại Khu Công nghiệp Việt Nam – Singapore, tỉnh Bình Dương và những vấn đề đặt ra 52
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ NHẬP CƯ TỪ THỰC TIỄN KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM-SINGAPORE, TỈNH BÌNH DƯƠNG 56
3.1 Định hướng tăng cường công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư từ thực tiễn khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương 56
3.2 Các giải pháp tăng cường công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư tại khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương 61
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Trình độ học vấn 32
Bảng 2.2: Nghề nghiệp trước khi đi làm 33
Bảng 2.3: Tình trạng hôn nhân 34
Bảng 2.4: Phân bố độ tuổi của nữ công nhân 36
Bảng 2.5: Mức lương 37
Bảng 2.6: Tiền trọ một người 38
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bình Dương được tách ra từ tỉnh Sông Bé, tái lập từ ngày 01/01/1997 Từ một tỉnh chủ yếu sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, sau 20 năm tái lập, thành công mang tính đột phá của tỉnh là việc phát triển nhanh, có hiệu quả các khu công nghiệp (KCN) và các khu đô thị mới tập trung Đến cuối năm 2015, tỉnh có 28 KCN được thành lập với diện tích gần 10.000ha và 08 cụm công nghiệp với diện tích gần 600 ha; đã có 26 KCN đi vào hoạt động với diện tích gần 8.870ha; tỷ lệ lấp các KCN, cụm công nghiệp đạt trên 65%, thu hút 23.480 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong đó 23.480 doanh nghiệp ngoài nhà nước (Doanh nghiệp có vốn nước ngoài là 2.567) Có hơn 920.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp, trong đó lao động trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước chiếm 94,32%; tỷ lệ lao động ngoài tỉnh chiếm 85%, lao động nữ chiếm 54% trong tổng số lao động trong doanh nghiệp [9, tr.1]
Hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thời gian qua bị tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và những khó khăn trong nội tại nền kinh tế, một
bộ phận doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chưa hiệu quả, thiếu quan tâm đầu tư, đổi mới công nghệ, sử dụng nhiều lao động phổ thông; nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội (BHXH), vi phạm qui định pháp luật về bảo vệ môi trường, hợp đồng lao động, tiền lương, dẫn đến tranh chấp lao động tập thể; xảy ra nhiều cuộc đình công chưa theo trình tự qui định của pháp luật Đời sống của người lao động, nhất là lao động nữ, đến Bình Dương làm việc còn gặp nhiều khó khăn Chiếm hơn 54% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp trong tỉnh, LĐNNC đang đóng góp rất lớn cho nền kinh tế; tuy nhiên, LĐNNC là đối tượng dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống.Mặc dù địa phương đã triển khai thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước và có những giải pháp hỗ trợ nhóm đối tượng này, nhưng phần đông đời sống của họ và gia đình còn gặp nhiều khó khăn
Trang 7Nhằm góp phần nâng cao năng lực cho nhóm đối tượng LĐNNC, cải thiện cuộc sống vật chất và tinh thần của họ, tạo điều kiện cho họ có cơ hội hòa nhập cộng đồng địa phương, đề tài nghiên cứu thực trạng về nhóm đối tượng LĐNNC cũng như các hoạt động trợ giúp đã triển khai, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện
CTXH phù hợp đối với họ.Với ý nghĩa đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Công tác xã
hội đối với lao độngnữ nhập cư từ thực tiễn Khu Công nghiệp Việt Nam - Singapore, tỉnh Bình Dương” làm đề tài viết luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Khi phụ nữ ngày càng chứng tỏ thế mạnh của mình bằng việc tích cực gia nhập thị trường lao động, xu hướng nữ hóa di cư đã và đang trở thành xu hướng ngày càng được khẳng định Phụ nữ không còn bị trói buộc vào ngôi nhà, mảnh đất tại các làng quê, mà sự định hướng nghề nghiệp, mưu sinh đã dần chuyển hướng sang các khu công nghiệp và đô thị hiện đại Không thể phủ nhận những đóng góp của xu hướng này tới đời sống kinh tế - xã hội cũng như với cá nhân người phụ nữ (nhất là ở khía cạnh bình đẳng giới), song những nguy cơ, rủi ro dành cho họ khi chấp nhận cuộc sống di cư thường nặng nề hơn so với lao động di cư nam giới Cũng vì thế nên dễ hiểu khi có nhiều nghiên cứu về tình hình của phụ nữ di cư.Trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
-Nguyễn Thị Chiến, “Nghiên cứu đời sống văn hóa của công nhân các khu
công nghiệp vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh” Nghiên cứu
này từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2010, khảo sát đánh giá thực trạng đời sống văn hóa của công nhân các KCN, trong đó bao gồm: đời sống vật chất, đời sống văn hóa tinh thần của công nhân.Trên cơ sở những nhận định về nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến đời sống văn hóa của công nhân, đề tài đề xuất các giải pháp và kiến nghị về nâng cao đời sống văn hóa cho công nhân các KCN
-Hà Thị Phương Tiến và Hà Quang Ngọc, “Lao động nữ di cư tự do nông
thôn - thành thị”, NXB Phụ nữ, 2010 Công trình cung cấp thực trạng cuộc sống của
lao động nữ di cư tự do từ nông thôn ra thành phố, vấn đề việc làm, thu nhập, điều kiện sống của họ tại thành phố Những vấn đề khó khăn, trở ngại trong cuộc sống như sự bất cập giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa năng lực và yêu cầu, giữa đóng góp
Trang 8và hưởng thụ Theo tác giả cần giải quyết những vấn đề trên bằng những chính sách
cụ thể giúp cho cuộc sống của lao động nữ được cải thiện, được bình đẳng và hưởng các quyền lợi công dân nhằm nâng cao khả năng đóng góp và vị thế xã hội của họ
-Bùi Thị Thanh Hà, Viện Xã hội học, “Đời sống và việc làm của công nhân
xuất thân từ nông thôn”, thực hiện từ tháng 10/2008.Nghiên cứu đề cập những khó
khăn trong công việc cũng như tìm kiếm bạn đời của các công nhân nhập cư Họ
có thể thích nghi được với cuộc sống nhưng vấn đề tìm được bạn đời là điều khó khăn, do điều kiện kinh tế chưa ổn định, tính chất công việc và các mối quan hệ giao lưu hạn chế Vì vậy, nhiều công nhân chọn con đường trở về quê để tìm việc khác và lập gia đình.Nghiên cứu cũng nêu những kiến nghị như: Điều chỉnh tăng lương, thiết kế các khu nhà ở cho công nhân,…
-Nguyễn Huyền Lê, Viện Khoa học Lao động và Xã hội trong bài “Rủi ro
của lao động di cư và một số kiến nghị”, đã chỉ ra khó khăn và rủi ro mà người lao
động nhập cư sẽ phải đối mặt trong quá trình sống và lao động Rủi ro về an sinh thấp, nguy cơ bị lừa gạt, khó khăn nhà ở, rủi ro trong suy giảm sức khỏe,…Thông qua đó tác giảđề xuất: Giảm dòng di cư tự do bằng cách phát triển các đô thị vệ tinh tại các vùng nông thôn, tăng cường cung cấp thông tin cấp xã cho lao động di cư, chính quyền nên có các biện pháp hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu về nhà ở,…
-Nguyễn Tín Nhiệm, “Điều kiện lao động của nữ công nhân: Thực trạng và
giải pháp” Nghiên cứu này được tiến hành trong vòng 03 năm từ 2006 đến 2008,
với việc khảo sát trực tiếp 1.294 doanh nghiệp trên cả nước, về vấn đề môi trường lao động.Nghiên cứu này phản ánh tình hình chung về điều kiện lao động của nữ công nhân; từ đó nêu ra một số giải pháp để khắc phục tình trạng này
- Phạm Thanh Thôi, Đại học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ
Chí Minh, “Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ thông tại các cơ
sở sản xuất nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh” Nghiên cứu này chủ yếu tập trung về
các khía cạnh đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ thông tại các cơ
sở sản xuất nhỏ ở TP Hồ Chí Minh Các khía cạnh của đời sống xã hội như mạng lưới xã hội, quan hệ xã hội, các điều kiện sống, làm việc, thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội đô thị được mô tả và phân tích trong nghiên cứu này Đời sống xã hội
Trang 9của thanh niên nhập cư xét trên quan hệ với chủ cơ sở, với các đồng nghiệp tại nơi sống và làm việc được xây dựng chủ yếu trên nền tảng các quan hệ “tình cảm”,
“dòng tộc”, “đồng hương”…
Bùi Thị Thanh Hà, “Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên
doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới”, NXB Khoa học Xã hội, 2003 Cuốn sách đi sâu
nghiên cứu đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp liên doanh, cụ thể là ngành dệt may, giày da, thực phẩm trong thời kỳ đổi mới của nước ta Cuốn sách tập trung nghiên cứu về các vấn đề: cơ cấu công nhân, điều kiện làm việc, các mối quan hệ trong doanh nghiệp liên doanh.Đồng thời, đề cập cơ hội thăng tiến nghề nghiệp đối với công nhân trong doanh nghiệp liên doanh so với các doanh nghiệp khác
Các tài liệu nêu trên đã đề cập thực trạng các vấn đề của công nhân, công nhân nhập cư và nữ công nhân nhập cư về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, điều kiện làm việc tại công ty, các chế độ lao động, mức sống, văn hóa Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn về công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư, đặc biệt là ở KCN Việt Nam- Singapore, tỉnh Bình Dương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm đánh giá thực trạng công tác xã hội đối với LĐNNC tại Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP), tỉnh Bình Dương; từ đó đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện CTXH đối với LĐNNC một cách phù hợp, đảm bảo phát huy nguồn nhân lực LĐNNC trong phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về CTXH đối với lao động nữ nhập cư
- Nghiên cứu thực trạng công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư tại khu công nghiệp Việt Nam - Singapore, tỉnh Bình Dương
- Định hướng và giải pháp tăng cường công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư từ thực tiễn khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 104.1.Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư từ thực
tiễn khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương
4.2.Phạm vi nghiên cứu
-Phạm vi về đối tượng: Công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư Khu
công nghiệp Việt Nam- Singapore, tỉnh Bình Dương
- Phạm vi về khách thể
+ Nữ lao động là người Việt Nam từ các tỉnh, thành trong cả nước di chuyển đến (nhập cư) làm việc trong các doanh nghiệp thuộc KCN Việt Nam - Singapore, tỉnh Bình Dương giai đoạn 2010 – 2015
+ Ban Quản lý KCN Việt Nam-Singapore, Ban Quản lý các KCN; các cơ quan ban, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương trên địa bàn tỉnh Bình Dương
+ Tài liệu (báo cáo, sách, báo, công trình nghiên cứu liên quan vấn đề lao động nữ, chính sách lao động nữ,…)
- Phạm vi về không gian, thời gian
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu tại KCN Việt
+ Phạm vi về thời gian: Từ năm 2010 – 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu: Trong quá trình học tập và nghiên cứu
luận văn đã áp dụng phương pháp luận của Triết học Mác-Lênin bao gồm phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các phương pháp cụ thể khác như
phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, điều tra, khảo sát
- Phương pháp duy vật lịch sử: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử là
khi nhìn nhận và đánh giá bất kỳ hiện tượng, sự việc nào trong xã hội phải xác định được hoàn cảnh lịch sử cụ thể nơi vấn đề đó tồn tại và chịu ảnh hưởng.Vận dụng quan điểm này trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi muốn xem xét, phân tích, đánh giá thực trạng công tác xã hội đối với LĐNNC trong bối cảnh điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay.Để nắm bắt được những yếu tố tác động đến vấn đề nghiên cứu cũng như tìm ra được những giải pháp giải quyết vấn đề có hiệu quả phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 11- Phương pháp duy vật biện chứng: nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong sự tác
động qua lại lẫn nhau Đồng thời, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho chúng ta một cái nhìn chỉnh thể, bao quát, khách quan Từ đó, giúp ta nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ và chính xác hơn Áp dụng quan điểm trên vào nghiên cứu đề tài thì đây không chỉ là vấn đề riêng của LĐNNC mà còn liên quan đến các yếu tố khác như hoàn cảnh sống gia đình, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội mà thân chủ đang sinh sống Nếu nhìn nhận và tiếp cận vấn đề theo phương pháp duy vật biện chứng sẽ giúp chúng ta có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khách quan, toàn diện và chính xác hơn
Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người và bình đẳng giới
Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người khẳng định các quyền và lợi ích chính đáng của LĐNNC gắn kết với nhau Đảm bảo các quyền cho LĐNNC là trách nhiệm của chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội, của người sử dụng lao động, của cộng đồng và của chính người nhập cư Với cách tiếp cận đó, đề tài không chỉ thu thập các thông tin từ LĐNNC mà còn từ chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị-xã hội liên quan Đề tài cũng sử dụng phương pháp tiếp cận về bình đẳng giới để phân tích và làm rõ sự khác biệt trong việc tiếp cận các cơ hội việc
làm, điều kiện sống và làm việc của LĐNNC so với đối tượng tương tự là nam giới
Với các phương pháp tiếp cận đề cập trên, nghiên cứu này thu thập thông tin
cả định tính và định lượng Bên cạnh những chỉ số cụ thể về từng vấn đề nghiên cứu, thông tin định tính giúp cung cấp cái nhìn có chiều sâu về một số vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Các công cụ thu thập thông tin được sử dụng gồm: nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, nghiên cứu trường hợp, quan sát và bảng hỏi
-Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát để khảo sát đánh giá
ban đầu về địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, đặc biệt là môi trường làm việc và môi trường sống của LĐNNC Đây là phương pháp rất hiệu quả trong quá trình thu thập thông tin, trong suốt thời gian thực tế tại địa bàn nghiên cứu.Phương pháp quan sát có những ưu và nhược điểm riêng nên để đảm bảo tính hiệu quả của
Trang 12phương pháp này, tác giả đã sử dụng kết hợp đan xen nhiều phương pháp quan sát, như kết hợp quan sát tham dự và quan sát nhiều lần; quan sát bí mật; tiến hành quan sát từ gần đến xa, từ xa đến gần; quan sát hoàn cảnh, môi trường sống của các thân chủ như thế nào? Quan sát nét mặt cử chỉ, hành vi, thái độ của thân chủ với những
người xung quanh, xem xét mối quan hệ giữa những cá nhân đó như thế nào?
-Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: phát 200 phiếu hỏi đến LĐNNC đang
làm việc tại các doanh nghiệp thuộc Khu công nghiệp VSIP (trên tổng số gần 80.000 lao động nữ trong Khu công nghiệp VSIP, đang sống tại nhà trọ thuộc 03 phường Bình Hòa, Thuận Giao, An Phú thuộc Thị xã Thuận An) Số phiếu thu về đầy đủ thông tin là 168 phiếu
-Phỏng vấn:Thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi với các cá nhân trong các
cuộc tiếp xúc cử tri, giám sát của cơ quan dân cử tại địa bàn hoặc tổ chức thăm hỏi, đối thoại, động viên của lãnh đạo tỉnh
- Phỏng vấn sâu: 15 nữ công nhân được lựa chọn như sau: 03 nữ công nhân
dưới 20 tuổi chưa có gia đình; 03 nữ công nhân trên 20 đến 25 tuổi chưa có gia đình; 03 nữ công nhân trên 25 đến 30 tuổi chưa có gia đình; 03 nữ công nhân trên
30 tuổi chưa có gia đình; 03 nữ công nhân đã có gia đình
- Phương pháp phân tích, xử lí thông tin: tác giả tiến hành thực hiện phương
pháp thu thập, phân tích, xử lí tài liệu Trong suốt tiến trình nghiên cứu, tác giả thường xuyên tiến hành tìm kiếm và tham khảo những tài liệu chứa đựng thông tin liên quan đề tài nghiên cứu như: Các văn bản, các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế
- xã hội của địa phương, các bảng thống kê, các tài liệu liên quan đến CTXH, các đề tài nghiên cứu, các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề CTXH đối với LĐNNC Bên cạnh đó, tác giả còn tiến hành thu thập thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như phát thanh truyền hình và đặc biệt là qua các địa chỉ truy cập tìm kiếm thông tin qua Internet…Trên cơ sở những thông tin đó, tác giả tiến hành phân tích, so sánh, kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài đang quan tâm Đồng thời, tiến hành thu thập thông tin từ các
công trình nghiên cứu và các tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước
Trang 13Phân tích các văn kiện Đại hội Tỉnh Đảng bộ Bình Dương, báo cáo chuyên
đề và hàng năm của Ban Quản lý KCN Việt Nam-Singapore, UBND tỉnh, Công đoàn KCN Việt Nam-Singapore và các cơ quan chuyên môn, đoàn thể liên quan…
-Phương pháp nhóm (Phương pháp nghiên cứu đặc thù của CTXH): sử dụng
CTXH nhóm nhằm xác định vấn đề khó khăn, xác định nhu cầu ưu tiên và đề xuất
mô hình can thiệp đối với một nhóm đối tượng đặc thù (theo lứa tuổi, tình trạng hôn
nhân, nghề nghiệp, nguồn gốc di cư, nguyên nhân di cư,…)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết và phương pháp CTXH
vào việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể Đề tài sử dụng hệ thống khái niệm, lý thuyết, phương pháp CTXH vào việc mô tả, phân tích và đề xuất các giải pháp, dịch vụ
hỗ trợ giải quyết vấn đề của nhóm đối tượng yếu thế, cụ thể là LĐNNC
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về CTXH đối với lao động nữ nhập cư Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư tại Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường CTXH đối với lao động nữ nhập cư từ thực tiễn khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ NHẬP CƯ
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của lao động nữ nhập cư
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của lao động nữ nhập cư
Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về “nhập cư” để có thể áp dụng một cách phổ biến trên toàn cầu Nội dung của khái niệm này thường được các quốc gia điều chỉnh cho phù hợp với các mục đích chính trị, kinh tế của mình
Dưới góc độ địa lý, nhập cư là sự chuyển đến của một người hoặc một nhóm người từ một đơn vị địa lý khác, vượt qua biên giới hành chính, chính trị với mục đích cư trú lâu dài hoặc tạm thời Nhập cư có thể diễn ra giữa nước này với nước khác, hoặc giữa vùng này với vùng khác trong cùng một nước
Theo Đại từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin: Nhập cư là
đến định cư ở một nơi khác Với đề tài này, “nhập cư” muốn nói đến việc người dân nông thôn lên thành phố, đến các đô thị làm việc lâu dài; cư trú tại nơi họ đang làm việc một cách lâu dài
Lao động là người tham gia lao động theo Điều 3 Bộ luật Lao động năm
2012 quy định, từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động
[47, tr.32] Lao động nữ nhập cư được hiểu là những lao động nữ từ các tỉnh, thành
trong cả nước đến Bình Dương làm việc theo hợp đồng lao động và đăng ký tạm trú trên địa bàn tỉnh Bình Dương từ ít nhất 06 tháng trở lên
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi tìm hiểu đời sống của LĐNNC đang làm việc tại KCN Việt Nam-Singapore, về điều kiện sống của LĐNNC; các điều kiện đó chia theo hai lĩnh vực: đời sống vật chất và đời sống tinh thần Như vậy, trên cơ sở hai chỉ báo về đời sống vật chất và đời sống văn hoá tinh thần để nghiên cứu đời sống của nhóm LĐNNC trong KCN Việt Nam – Singapore
Nhóm LĐNNC là những phụ nữ (độc thân hoặc đã có gia đình), sống xa gia đình, xa quê hương; cư trú tạm bợ trong những khu nhà trọ thiếu tiện nghi, môi trường sống bị ô nhiễm, gặp khó khăn mọi mặt, cả đời sống vật chất lẫn tinh thần
Trang 15Họ gặp khó khăn về hòa nhập cộng đồng dân cư tại nơi đến do khác biệt về văn hóa nên thường sống co cụm từng khu vực với các đồng hương cùng quê; khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ về giáo dục, y tế, nhà ở, thông tin,… Đa số họ có việc làm phổ thông do trình độ thấp và không có tay nghề chuyên môn, do đó thu nhập cũng thấp
1.1.2 Nhu cầu của lao động nữ nhập cư
Người dân nhập cư nói chung và nữ nhập cư vào KCN ngày càng đông, hầu hết chỉ cư trú ở nhà trọ, đời sống vất vả, khó khăn về nhà ở, điện, nước sinh hoạt, môi trường sống…Họ rời làng quê đến đô thị, trình độ thấp, chưa có chuyên môn nên chỉ mong có được việc làm, thu nhập ổn định để tiết kiệm gửi về cho gia đình
Đa số tuổi đời nữ công nhân còn trẻ, mong muốn tăng ca để tăng thu nhập; lâu dài họ bị suy giảm sức lao động; nhất là LĐNNC khi họ vừa chịu áp lực công việc vừa chịu áp lực chăm sóc gia đình; ngoài ra họ lại không thường xuyên tham gia vào các hoạt động giao lưu,vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao…
Hệ thống thiết chế văn hoá, công trình phúc lợi, trường học, bệnh viện, nhà ở… phục vụ công nhân lao động KCN chưa được đầu tư thoả đáng Nhu cầu tham gia vào các hoạt động văn hoá tinh thần của CNLĐ ngày càng tăng Các doanh nghiệp đã tổ chức các hoạt động tập thể, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao Tuy nhiên, nữ CNLĐ không có điều kiện và không có nhiều cơ hội để tham gia những hoạt động này Do điều kiện sống khó khăn, tình trạng công nhân nữ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, mại dâm,… rất phức tạp
LĐN cũng rất trăn trở về tình yêu, hôn nhân gia đình Đối với LĐNNC đã có gia đình ở quê thì việc giữ gìn hạnh phúc, chăm lo cho gia đình rất hạn chế, nguy cơ tan vỡ cao; những phụ nữ sống chung cùng gia đình tại nơi nhập cư thì đời sống khó khăn, nơi ở chật hẹp, không đảm bảo vệ sinh, luôn tăng ca,… khó khăn trong giữ gìn hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái; những người chưa có gia đình thì ít có thời gian và cơ hội để tìm hạnh phúc lứa đôi; tình trạng sống thử trong giới công nhân cũng đang diễn biến phức tạp,gây hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng cả cuộc sống sau này của họ
Trang 16Tóm lại, cuộc sống của lao động nhập cư nói chung và LĐNNC nói riêng hết sức khó khăn.Họ mong muốn có việc làm, thu nhập ổn định, có thể trang trải cuộc sống và tiết kiệm gửi về giúp gia đình; đồng thời họ cũng mong muốn có nhà ở để
“an cư lạc nghiệp”, xây dựng hạnh phúc gia đình và có điều kiện hòa nhập với dân
cư nơi đến
Để giúp LĐNNC yên tâm làm việc, đóng góp vào sự phát triển của xã hội, đồng thời làm tốt thiên chức của người phụ nữ trong gia đình là vấn đề rất quan trọng nhưng rất khó khăn, phức tạp; trong đó vai trò của chính sách, đặc biệt là chính sách xã hội có tính chất quyết định
1.2 Khái niệm, nhu cầu và nguyên tắc của công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư
1.2.1 Khái niệm công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư
Bài viết này lấy một số quan niệm sau làm nền tảng cho việc đi tìm hiểu sâu hơn về công tác xã hội:
Thứ nhất, quan niệm của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW):
"Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”
Thứ hai, quan niệm của Hiệp hội cán sự công tác xã hội Quốc tế thông qua
tháng 7-2000 tại Montreal - Canada (IFSW): "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực
và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái,
dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác
xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề"
Các quan niệm này nhìn nhận CTXH xoay quanh trục định hướng can thiệp đến cá nhân, nhóm và cộng đồng nhằm giúp các đối tượng này tự phát triển, tự quyết định những vấn đề của bản thân CTXH được xem là một hoạt động chuyên môn giúp đỡ các cá nhân, nhóm, hoặc cả cộng đồng nhằm nâng cao hay khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội và kiến tạo các điều kiện xã hội phù hợp với
Trang 17việc thực hiện mục tiêu này Các hoạt động thực hành CTXH đều bao gồm việc áp dụng những hoạt động chuyên môn về các giá trị CTXH, các nguyên tắc, và các kỹ năng đối với một hoặc một số mục đích: Giúp đỡ các cá nhân có được các dịch vụ bền vững, tạo dựng được các dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý với cá nhân, gia đình và nhóm; giúp đỡ các cộng đồng hoặc các nhóm cung cấp hay cải thiện các dịch vụ xã hội và sức khỏe; và tham gia vào các tiến trình lập pháp phù hợp Thực hành CTXH đòi hỏi có được hệ thống tri thức về phát triển và hành vi con người; về các thiết chế văn hóa, kinh tế, xã hội và về tương tác của những thành tố khác
Như vậy: CTXH đối với lao động nữ nhập cư là các hoạt động nhằm giúp
cá nhân LĐNNC, nhóm LĐNNC nhằm giúp họ tiếp cận các dịch vụ xã hội, cải thiện cuộc sống vật chất, tinh thần, tự tin trong lao động, sinh hoạt để hòa nhập tốt với nơi đến, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế-xã hội của địa phương
1.2.2 Nhu cầu về công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư
Theo quan điểm A.Maslow chia nhu cầu thành 5 loại:
- Nhu cầu vật chất (sinh lý): thức ăn, không khí, nước uống…
- Nhu cầu an toàn (bảo vệ): nhà ở, làm việc, sức khỏe…
- Nhu cầu giao tiếp xã hội: tình thương, được hòa nhập
- Nhu cầu được tôn trọng: được chấp nhận có một vị trí trong một nhóm người…
- Nhu cầu tự khẳng định mình: nhu cầu hoàn thiện, được thể hiện khả năng
Trang 18Thứ nhất là, tính mục tiêu, nghĩa là dịch vụ hướng tới phát triển xã hội (theo nghĩa này thì bất kỳ dịch vụ nào đóng góp vào mục tiêu phát triển xã hội đều được coi là dịch vụ xã hội)
Thứ hai, về chuẩn mực hay tính xã hội, nghĩa là dịch vụ để bảo đảm các giá trị, chuẩn mực xã hội Theo nghĩa này, dịch vụ xã hội cung cấp những hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội được (i) chủ động phòng ngừa khả năng xảy ra rủi ro để dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; (ii) chủ động tiếp cận hạn chế ảnh hưởng của rủi ro dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; (iii) khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng/xã hội trên cơ sở các giá trị, chuẩn mực xã hội
Quan niệm về dịch vụ xã hội (social services) đối với các nhóm yếu thế được hiểu theo nghĩa thứ hai, tức là các dịch vụ để bảo đảm các giá trị, chuẩn mực có tính
xã hội Từ cách tiếp cận đó, khái niệm dịch vụ xã hội được hiểu như sau:
Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội
Một khái niệm thống nhất về dịch vụ xã hội cho người yếu thế là rất cần thiết
và đó cũng là cơ sở để thiết kế hệ thống dịch vụ xã hội cho các nhóm đối tượng này Dựa vào những lý giải về dịch vụ, chính sách xã hội, dịch vụ xã hội cơ bản nêu trên, khái niệm dịch vụ xã hội cho LĐNNC được hiểu là:
Dịch vụ xã hội cho LĐNNC là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm LĐNNC
Nhu cầu về CTXH của LĐNNC chính là nhu cầu về việc có được những dịch
vụ xã hội nhằm hỗ trợ cho LĐNNC phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng cho LĐNNC
1.2.3 Nguyên tắc công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư
Thứ nhất là nguyên tắc chấp nhận đối tượng Bất kể đối tượng là ai, đến từ
những hoàn cảnh nào Việc chấp nhận đối tượng là việc chấp nhận những quan điểm, hành vi và giá trị của đối tượng để đối tượng hiểu, nhân viên CTXH hiểu và
Trang 19không phán xét đối tượng Việc này không đồng nhất với việc đồng tình với những quan điểm, hành vi và giá trị sai lệch với xã hội
Thứ hai là nguyên tắc để đối tượng chủ động tham gia giải quyết vấn đề
Đây là nguyên tắc đảm bảo đối tượng tham gia giải quyết vấn đề của họ từ giai đoạn đầu cho đến giai đoạn kết thúc.Vì hơn ai hết đối tượng là người có vấn đề và hiểu
về hoàn cảnh cũng như mong muốn của mình, nên vấn đề chỉ được giải quyết hiệu quả khi đối tượng là người tham gia
Thứ ba là nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng Nguyên tắc
này được hiểu là đối tượng chính là người quyết định giải quyết vấn đề của họ như thế nào Nhân viên CTXH chỉ đóng vai trò là người xúc tác, cung cấp thông tin và giúp đối tượng tự đưa ra quyết định đúng đắn và phù hợp Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi quyết định của đối tượng có ảnh hưởng đến sự an nguy của họ, gia đình và những người xung quanh, nhân viên công tác xã hội cần can thiệp
Thứ tư là nguyên tắc đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp Do mỗi đối
tượng (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) đều có những đặc điểm riêng biệt về bản thân, hoàn cảnh gia đình và môi trường sống, khi giúp đối tượng giải quyết vấn đề, nhân viên công tác xã hội cần tôn trọng tính cá biệt của từng trường hợp mà đưa ra phương pháp tiếp cận và hỗ trợ giải quyết vấn đề hiệu quả Ngay cả khi cùng là một vấn đề, nhưng với mỗi đối tượng lại cần có cách thức can thiệp phù hợp
Thứ năm là nguyên tắc đảm bảo tính riêng tư, bí mật các thông tin liên quan đến đối tượng Nhân viên CTXH trong quá trình làm việc luôn tuân thủ quy định
bảo mật thông tin riêng tư của đối tượng.Nhân viên CTXH cần thông báo và nhận được sự đồng ý của đối tượng trước khi chia sẻ thông tin của họ với những nhà chuyên môn khác
Thứ sáu là nguyên tắc tự ý thức về bản thâncủa nhân viên công tác xã hội.Nguyên tắc này thể hiện ở ý thức trách nhiệm đảm bảo chất lượng dịch vụ,
không lạm dụng quyền lực, vị trí công tác để mưu lợi cá nhân Bên cạnh đó nhân viên CTXH cần luôn cầu thị, học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Thứ bảy là nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp Mối quan hệ giữa
nhân viên CTXH với nhân viên CTXH cũng như giữa nhân viên CTXH và đối
Trang 20tƣợng cần đảm bảo tính bình đẳng, tôn trọng, khách quan và nguyên tắc nghề nghiệp
1.3 Nội dung, phương pháp, kỹ năng công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư
1.3.1 Nội dung công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư
Từ khái niệm về nhu cầu và dịch vụ xã hội cho nhóm yếu thế, để đáp ứng nhu cầu CTXH của LĐNNC, công tác xã hội đối với nhóm đối tƣợng này phải đáp ứng các nội dung:
1 Tạo điều kiện cho họ có việc làm và tham gia vào các hoạt động sản xuất tạo thu nhập có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu tối thiểu và duy trì đƣợc sự độc lập về tài chính;
2 Các dịch vụ xã hội giúp cho LĐNNC trở nên bình đẳng và có thể đóng góp và hòa nhập cao nhất đối với gia đình, cộng đồng và xã hội;
3 Thúc đẩy tính trách nhiệm và mối quan hệ gắn kết giữa gia đình và các thành viên và bảo đảm gia đình thành chỗ dựa an toàn nhất cho LĐNNC;
4 Trẻ em thuộc những gia đình của LĐNNC có thể nhận đƣợc sự giúp đỡ từ cộng đồng, xã hội;
5 Cung cấp các dịch vụ về nhà ở với tiêu chuẩn đáp ứng đƣợc điều kiện tối thiểu về chất lƣợng cuộc sống;
6 Giúp LĐNNC có khả năng sống độc lập hơn và tham gia một cách tích cực trong các hoạt động kinh tế cũng nhƣ hoạt động cộng đồng;
7 Thúc đẩy việc chăm sóc sức khỏe, gắn kết các chủ thể với các nguồn lực;
8 Tạo ra các dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý cho các đối tƣợng;
9 Giúp cho các đối tƣợng tiếp cận với các kênh thông tin và tạo cơ hội lựa chọn tốt hơn;
10 Giúp cho các đối tƣợng tiếp cận dễ dàng hơn với các hoạt động hòa giải, biện hộ các vấn đề xã hội
Các dịch vụ có tính chất phòng ngừa:
Là hình thức dịch vụ cung cấp cho đối tƣợng các dịch vụ có tính chủ động phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra thông qua các biện pháp tích cực:
Trang 21- Dịch vụ tư vấn: tư vấn trước các vấn đề về nhận thức rủi ro có thể xảy ra
trong tương lai giúp cho các đối tượng có biện pháp phòng ngừa và chủ động đối phó Ví dụ: tư vấn quyền công dân, dịch vụ tư vấn sức khỏe vị thành niên, tư vấn tiền hôn nhân,
- Các dịch vụ về giáo dục: nhu cầu của các đối tượng là rất đa dạng, một
trong số những nhu cầu và cũng là quyền cơ bản của con người là được học tập Do vậy, dịch vụ về giáo dục đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của con người và đặc biệt quan trọng đối với trẻ em Các dịch vụ về giáo dục trang bị cho các đối tượng những kiến thức cơ bản để đáp ứng nhu cầu cuộc sống
- Dịch vụ y tế: cung cấp các dịch vụ mang tính chất y tế dự phòng như: tiêm
chủng dự phòng, phát hiện dị tật thai nhi sớm,
- Dịch vụ hướng nghiệp và dạy nghề: Cung cấp những kiến thức cơ bản và
phù hợp với khả năng của đối tượng trước khi tham gia vào thị trường lao động nhằm giảm thiểu những rủi ro gặp phải của đối tượng
Như vậy, giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng thuộc nhóm dịch vụ xã hội có tính chất phòng ngừa, nhằm nâng cao năng lực tiếp cận thị trường lao động của các nhóm đối tượng yếu thế, nhất là LĐNNC
1.3.2 Phương pháp công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư
Đối với LĐNNC, phương pháp CTXH được áp dụng hiệu quả là phương pháp CTXH nhóm, do đối tượng này có những đặc điểm đặc thù theo nhóm: độ tuổi, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, nguồn gốc và nguyên nhân di cư đến làm việc tại KCN,… Mặt khác, đối tượng này rất đông, trong tình hình nghiên cứu chủ yếu nhằm tìm ra những vấn đề chung để đề ra giải pháp phù hợp; kiến nghị, đề xuất chính sách chung cho nhóm đối tượng Vì vậy, phương pháp phù hợp nhất chính là phương pháp CTXH nhóm.CTXH nhóm nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng
xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn
đề của cá nhân, có nghĩa là:
+ Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm
+ Nhóm nhỏ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề
Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi NVXH trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ
Trang 22(cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, củng cố chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu
CTXH nhóm tạo một bối cảnh trong đó các cá nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho
cá nhân và nhóm có khả năng ảnh hưởng và làm thay đổi các vấn đề của cá nhân, của nhóm, của tổ chức và của cộng đồng Nó mang tính chất chức năng xã hội nhiều hơn
và chính điều này làm cho nó khác hơn với nhóm trị liệu vì nhóm trị liệu chú trọng nhiều hơn các nhu cầu cảm xúc và các tiến trình tâm lý
Trong phương pháp nhóm, đối tượng tác động vào là toàn nhóm, là mối tương tác giữa các nhóm viên, là mục đích, bầu không khí, sinh hoạt nhóm CTXH nhóm là sử dụng cơ cấu nhóm và năng động trong nội bộ nhóm để đem đến những thay đổi về nhận thức, niềm tin và hành vi Các thành viên nhóm chia sẻ kinh nghiệm, sử dụng nguồn lực của cá nhân và của nhóm để giải quyết vấn đề của họ
Từ phương pháp CTXH nhóm, nhân viên CTXH sẽ tiến hành thực hiện các tiến trình CTXH cho từng nhóm LĐNNC tại Khu công nghiệp VSIP
1.3.3 Kỹ năng công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư
Ngoài các kỹ năng cần thiết đối với một nhân viên CTXH nói chung, việc thực hiện CTXH đối với LĐNNC còn cần thiết có các kỹ năng sau đây:
- Kỹ năng tạo lòng tin nơi thân chủ và khuyến khích họ với mọi nỗ lực tự giải quyết vấn đề của mình Khi thân chủ có lòng tin vào NVXH, những vấn đề tư vấn, lời động viên, khích lệ của NVXH sẽ được thân chủ lắng nghe, thực hiện
- Kỹ năng trao đổi tình cảm tế nhị, không làm tổn thương hoặc không làm cho thân chủ xấu hổ hoặc không yên tâm Đây là một kỹ năng rất khó, yêu cầu về kiến thức, kinh nghiệm và khả năng diễn đạt tế nhị của NVXH
- Kỹ năng làm rõ nhu cầu của thân chủ một cách chính xác nhằm bảo vệ quyền lợi của thân chủ một cách có hiệu quả.NVXH cần lắng nghe để hiểu và làm
rõ nhu cầu của thân chủ một cách chính xác để có thể có kế hoạch và giải pháp hỗ
trợ hiệu quả đối với thân chủ
- Kỹ năng khai thác và sử dụng các nguồn lực một cách linh hoạt, sáng tạo trong việc đề ra các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu của thân chủ Kỹ năng này đòi
Trang 23hỏi NVXH phải nắm vững quy định của pháp luật, có mối quan hệ tốt rộng rãi trong
xã hội, trong hệ thống chính trị; hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ cho LĐNNC
1.4 Các yếu tố tác động đến công tác xã hội đối với laođộng nữ nhập cư
1.4.1 Yếu tố chính sách: Bình đẳng trong lao động, việc làm là một điều
kiện tiên quyết để đảm bảo vị thế của phụ nữ Trong số lao động mới tăng thêm hàng năm, nữ giới chiếm khoảng 49% Tổng số giờ làm việc bình quân cả năm của phụ nữ cũng xấp xỉ tổng số giờ làm việc bình quân của nam giới Số giờ làm việc bình quân của nam giới là 1.565, của phụ nữ là 1.453 Tiền công bình quân năm của nam giới lớn hơn khá nhiều so với tiền công bình quân của nữ giới Tuy nhiên, tiền công bình quân giờgiữa nam và nữ không có sự khác biệt lớn Tiền lương bình quân
1 giờ lao động của nam và nữ tương ứng là 10,8 và 10 nghìn đồng
Tỷ lệ nữ giới tham gia các công việc quản lý, nhà chuyên môn, thư ký và nhân viên tương tự như tỷ lệ nam giới Tuy nhiên, nữ giới có xu hướng làm việc trong nông nghiệp và công việc giản đơn cao hơn nam giới Ngược lại, tỷ lệ lao động kỹ thuật trong nam giới cao hơn nữ giới Tỷ lệ lao động kỹ thuật có tay nghề cao trong nam giới là 20%, đối với phụ nữ khoảng 10% [10, tr.179]
Những tiến bộ về luật pháp, chính sách: Công tác xây dựng pháp luật dựa
trên nguyên tắc tiếp cận về quyền và bình đẳng giới được Nhà nước rất quan tâm Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua năm 2006 đã tạo hành lang pháp lý cho việc thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ Luật phòng, chống bạo lực gia đình được ban hành năm 2007 nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ
và nam giới trong gia đình Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sở hữu tài sản cũng được thể hiện trong Luật hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2000 Luật đất đai sửa đổi năm 2003 qui định quyền sử dụng đất phải ghi tên của 2 vợ chồng nếu như đất
đai là tài sản chung của 2 vợ chồng
Các chiến lược quốc gia như Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-
2010, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, Chiến lược quốc gia về
sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo
Trang 24giai đoạn 2006-2010 đều đề cập đến vấn đề bình đẳng giới nhằm nâng cao vị thế và quyền lợi của phụ nữ Lồng ghép giới là một điều quan trọng của Chính phủ đối với nhiều chương trình, chính sách kinh tế - xã hội
Những tồn tại và thách thức
Nữ giới vẫn còn chịu một số thiệt thòi hơn nam giới trong lao động và việc làm Tỷ lệ phụ nữ làm công việc giản đơn cao hơn so với nam giới Theo kết quả của các cuộc điều tra VHLSS năm 2008 của Tổng cục Thống kê, phụ nữ có thời gian làm việc nhà gấp 2 lần nam giới (chỉ tính cho nhóm đang đi làm việc) và sự chênh lệch này là không đổi trong thời kỳ 2002 - 2008
Ở khu vực nông thôn đang tồn tại sự khác biệt rất lớn trong tỷ lệ giáo dục và đào tạo giữa nam giới và nữ giới Phần lớn học viên nữ tham gia vào các khóa học không mang tính kỹ thuật cao (chiếm tới 70%) và điều nay dường như hạn chế sự tiếp cận với các cơ hội rộng lớn hơn về việc làm và tạo thu nhập Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến một thực tế là sự phân công lao động theo giới về cơ bản vẫn theo khuôn mẫu truyền thống (các ngành nghề có tỷ lệ phụ
nữ làm việc cao là nông nghiệp, giáo dục, y tế, thủy sản, công nghiệp nhẹ, trong khi nam giới lại chiếm ưu thế trong các ngành công nghiệp nặng, điện tử, viễn thông, các nghề có chuyên môn cao và quản lý; và thu nhập của phụ nữ thấp hơn thu nhập
của nam giới [10, tr.184]
Bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ là một trong những mục tiêu nhằm tiến tới
sự bình đẳng xã hội giữa nam và nữ, và cũng là xu hướng phát triển chung của xã hội nước ta hiện nay Đồng thời với những quy định này thì lao động nữ được bảo
vệ về quyền và lợi ích trong suốt quá trình lao động
Bộ luật Lao động Việt Nam năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002, năm
2006, năm 2007 và hiện nay là Bộ luật Lao động năm 2012 dành riêng Chương X từ Điều 153 đến Điều 160 để qui định riêng đối với lao động nữ [47, tr.84]:
- Nhà nước bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động phụ nữ; có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động
nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà
Trang 25Chính sách này cũng góp phần tạo cho lao động nữ có được công việc ổn định
và có nhiều thời gian nghỉ ngơi, làm việc tại nhà để có điều kiện chăm sóc gia đình
- Nhà nước có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình
- Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ để ngoài nghề đang làm, người lao động nữ còn có thêm nghề dự phòng và để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp với đặc điểm
về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ
Tạo cơ hội cho lao động nữ có quyền thăng tiến và có quyền tham gia vào tất
cả các hoạt động tuyển dụng lao động, Bộ luật Lao động ghi rõ:
- Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ
nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ
Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động Người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi người đó đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà doanh nghiệp đang cần
Với những quy định này lao động nữ được bình đẳng như nam giới trong quá trình kí kết hợp đồng lao động cũng như tham gia tuyển dụng lao động Quy định này cũng bảo vệ lao động nữ khi vi phạm hợp đồng để tránh tình trạng người sử dụng lao động có những hình phạt quá khắt khe xúc phạm tới nhân phẩm của người phụ nữ hoặc đánh đập lao động nữ
Chức năng làm mẹ là chức năng được “thiên phú” của người phụ nữ, người
sử dụng lao động không được lấy những lý do như kết hôn, mang thai, sinh con…
để chấm dứt hợp đồng lao động:
- Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với LĐN vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động Lao động nữ
có thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi
Trang 26thường, nếu có giấy của thầy thuốc chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi Trường hợp này, thời hạn mà người lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do thầy thuốc chỉ định
Bảo vệ sức khỏe sinh sản cho LĐN là rất cần thiết Vì vậy, trong quá trình
sử dụng lao động người sử dụng lao động cũng phải nhận biết được tầm quan trọng
đó và không vi phạm vào quy định của nhà nước trong việc bảo vệ sức khỏe sinh sản của LĐN trong công ty, xí nghiệp của mình; mọi cơ quan, doanh nghiệp đều phải tuân thủ theo qui định này, nếu phát hiện người sử dụng lao động vi phạm, LĐN có quyền tố cáo với các cơ quan công an
- Người sử dụng lao động không được sử dụng LĐN làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con, theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
- Người sử dụng lao động không được sử dụng LĐN có thai từ tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa
Trang 27- Lao động nữ làm công việc nặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ bảy, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt một giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương
- Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương
Trong quá trình sử dụng lao động, người sử dụng lao động phải tôn trọng những điều khoản mà pháp luật quy định cho lao động nữ và các cơ quan doanh nghiệp có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh
Muốn lao động yên tâm làm việc, nhà nước và các cơ quan các doanh nghiệp cần chú ý thêm về vấn đề sinh hoạt cá nhân của LĐN, đảm bảo các điều kiện sinh hoạt hàng ngày cho lao động nữ:
- Nơi có sử dụng LĐN, phải có chỗ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp
- Nhà nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ
Quy định này hướng tới việc yêu cầu các cơ quan, người sử dụng lao động quan tâm tới cuộc sống hàng ngày của LĐN, giúp họ có những điều kiện tốt để ổn định cuộc sống gia đình, nhất là việc đảm bảo điều kiện làm việc của LĐN
1.4.2 Yếu tố nhân viên công tác xã hội
Sự phát triển của CTXH như một ngành chuyên môn là một quá trình tự phát, xuất phát từ nhu cầu của xã hội với những vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng nhiều Bên cạnh đó là sự hiện diện của nhóm NVCTXH sẵn sàng đáp ứng
Đến năm 1992, bộ môn CTXH mới được thành lập tại Khoa Phụ nữ học, trường Đại học Mở - Bán Công TP.HCM, với hệ cử nhân và cao đẳng CTXH được giảng dạy với đầy đủ các tiết về lý thuyết và thực hành để sinh viên tốt nghiệp có thể trở thành một NVXH chuyên nghiệp Tháng 10 năm 2004, Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành mã ngành với chương trình khung đào tạo cử nhân ngành CTXH bậc đại học và bậc cao đẳng, tạo bước ngoặc căn bản trong sự phát triển của nghề CTXH ở Việt Nam Đến nay đã có 38 trường ĐH, cao đẳng đào tạo ngành CTXH
Trang 28Đặc biệt, ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
32 về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành CTXH giai đoạn 2010 - 2020 Đây là
cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển nghề CTXH trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Việc hình thành đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hỗ trợ LĐNNC Đây sẽ là đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp,
có chuyên môn, hiểu biết và kỹ năng CTXH để hỗ trợ LĐNNC một cách thiết thực
Vì vậy, yếu tố về nhu cầu, đặc điểm của lao động nữ nhập cư và nhu cầu về CTXH của lao động nữ nhập cư là yếu tố tác động trực tiếp đến CTXH đối với lao động nữ nhập cư Trên cơ sở những nhu cầu, đặc điểm của lao động nữ nhập cư và nhu cầu CTXH của lao động nữ nhập cư, nhân viên CTXH xây dựng kế hoạch hành động để hỗ trợ cụ thể, thiết thực đối tượng; giúp cho lao động nữ nhập cư được đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần, hòa nhập địa phương,…
1.4.4 Yếu tố về cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế-xã hội và ngân sách
Khi kinh tế-xã hội phát triển, việc hình thành các khu, cụm công nghiệp sẽ thu hút lực lượng lao động từ các nơi đến làm việc, mà hầu hết là lao động từ nông thôn di cư đến Lực lượng lao động này làm gia tăng áp lực về quản lý nhà nước đối với một lực lượng lao động tăng hàng năm, cần có các cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế-xã hội để phục vụ cho họ Họ cần có nhà để ở; đường xá thuận tiện; trường học, bệnh viện, trung tâm văn hóa, trung tâm tư vấn pháp lý, trung tâm CTXH,…
Cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế-xã hội đều đòi hỏi nguồn ngân sách nhà nước đầu tư và các cơ chế phù hợp để tăng cường xã hội hóa Tất cả các cơ sở vật
Trang 29chất, hạ tầng kinh tế-xã hội và nguồn ngân sách nhà nước và xã hội có ý nghĩa rất quan trọng để phát triển CTXH phục vụ cộng đồng nói chung và LĐNNC nói riêng
1.4.5 Yếu tố về hợp tác quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế
Công tác xã hội ở Việt Nam chưa phát triển mạnh mẽ và mang tính chuyên nghiệp cao Việc hợp tác quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thu hút nhiều nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam Việc thu hút đầu
tư nhiều doanh nghiệp nước ngoài, bên cạnh việc giải quyết việc làm cho người lao động, các tập đoàn kinh tế lớn thường có công nghệ và chính sách đối với lao động theo đúng qui chuẩn của Tổ chức lao động quốc tế Mặt khác, khi hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cũng phải tuân thủ “luật chơi” chung Điều đó làm cho CTXH có điều kiện phát triển phù hợp và mang tính chuyên nghiệp cao
Kết luận Chương 1
Trong chương này tác giả đã trình bày các khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như các khái niệm về công tác xã hội và lao động nữ nhập cư, một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu như lý thuyết để làm cơ sở trong nghiên cứu đề tài; những nhu cầu và nhu cầu về CTXH của LĐNNC; những yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với LĐNNC, tất cả những vấn đề trên làm cơ
sở nghiên cứu, phân tích cho tình hình thực tế của LĐNNC tại KCN Việt Singgapore, tỉnh Bình Dương sẽ được làm rõ tại Chương II của Luận văn
Trang 30Nam-Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
NHẬP CƯ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM - SINGAPORE,
TỈNH BÌNH DƯƠNG 2.1 Thực trạng tác động của các yếu tố đến công tác xã hội đối với lao động nữ nhập cư tại Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, tỉnh Bình Dương
Là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh, hàng năm Bình Dương thu hút thêm gần 50.000 lao động, trong đó hơn 50% là nữ Có thể nói điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tếvà sự năng động trong điều hành giải quyết các vấn đề xã hội của tỉnh đã tạo điều kiện cho tỉnh phát triển nhanh, trở thành nơi
“đất lành chim đậu” đối với lực lượng lao động từ các tỉnh, thành đến Bình Dương làm việc, sinh sống [21, tr.24-25]
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh
* Điều kiện tự nhiên:
Bình Dương là tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam bộ, diện tích tự nhiên
điểm phía Nam Tỉnh Bình Dương có 09 đon vị hành chính cấp huyện, gồm: 01
thành phố, 04 thị xã, 04 huyện; có 91 xã, phường, thị trấn
Bình Dương nằm sát thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm lớn về kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học công nghệ, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế lớn nhất của cả nước Nằm trên các trục giao thông quan trọng của quốc gia như: Quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Xuyên Á, tuyến đường sắt Bắc – Nam; do
đó, Bình Dương trở thành đầu mối giao lưu của các tỉnh Tây Nguyên, miền Trung theo quốc lộ 13, 14 về thành phố Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa, phát triển kinh tế của tỉnh
Ngoài ra, Bình Dương còn có hệ thống giao thông bằng đường thủy, bộ quan trọng như quốc lộ 1A, quốc lộ 13, các con sông lớn như: Sông Sài Gòn, sông Đồng Nai Quỹ đất đai để phát triển khu công nghiệp còn nhiều [29, tr.16-17]
* Điều kiện kinh tế -xã hội
- Về dân số: Đến 31/12/2015, dân số Bình Dương là 1.985.130 người
Trang 31[50, tr.2] Những năm qua, kinh tế Bình Dương phát triển nhanh, thu hút nhiều lao động nhập cư từ các địa phương khác Kết quả điều tra dân số năm 2009 cho thấy: Trong 10 năm từ 1999-2009 dân số tỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh có tốc
độ tăng dân số cao nhất nước với tỷ lệ tăng trung bình 7,3%/năm [20, tr.23]
- Về kinh tế: Bình Dương phát triển vượt bậc với những chỉ tiêu kinh tế cao
gấp hàng chục lần so với ngày tái lập Đến cuối năm 2015, cơ cấu kinh tế của tỉnh với công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chủ đạo theo tỷ lệ công nghiệp 60% - dịch
vụ 37,3% - nông nghiệp 2,7%; tỷ lệ đô thị hóa đạt 76,8% [21, tr.3-4]
Cùng với việc tập trung đẩy mạnh phát triển hạ tầng công nghiệp thì việc phát triển đô thị nhằm phục vụ cho công nghiệp là vấn đề mà tỉnh ưu tiên hàng đầu Chú trọng công tác xây dựng quy hoạch làm kim chỉ nam phát triển, tỉnh đã triển khai lập mới quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với mục tiêu là
đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2020
Từ lợi thế về hạ tầng phát triển công nghiệp, tỉnh đã mạnh dạn triển khai thực hiện một loạt các dự án quan trọng như: Khu Liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị với tổng diện tích 4.196 ha, trong đó 1.000 ha trung tâm đô thị với Trung tâm hành chính tỉnh Bình Dương là hạt nhân; một số tuyến giao thông huyết mạch như: đường Mỹ Phước - Tân Vạn, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, ĐT 746, đường 7A, các tuyến đường BOT trên địa bàn… Đã hình thành bộ khung thu hút đầu tư phát triển thương mại, dịch vụ và phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh Đến nay, nhiều trung tâm thương mại đã đi vào hoạt động từng bước hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại, góp phần nâng cao chất lượng các hình thức kinh doanh, mua sắm, vui chơi giải trí trên địa bàn tỉnh (29, tr.13]
Qua 30 năm đổi mới (1986-2016), sau 20 năm tái lập (01/01/1997 – 2016), dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự năng động trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Bình Dương đã thật sự tạo được những chuyển biến đột phá trong phát triển công nghiệp - đô thị Mô hình phát triển công nghiệp tạo động lực phát triển đô thị và ngược lại, xây dựng và phát triển đô thị nhằm tạo ổn định xã hội để người dân trong
Trang 32và ngoài tỉnh yên tâm sống, làm việc, học tập và gắn bó lâu dài với tỉnh để góp phần phát triển kinh tế tỉnh Bình Dương, đang phát huy hiệu quả mạnh mẽ
*Giải quyết các vấn đề xã hội:
Cùng với quá trình phát triển, số lượng công nhân trên địa bàn Tỉnh tăng nhanh Hiện nay, có trên 01 triệu người đang lao động trong các ngành kinh tế, chiếm trên 63% dân số toàn Tỉnh Đa số công nhân xuất phát từ nông thôn ở nhiều vùng, miền trong cả nước, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp còn thấp; một bộ phận công nhân nhận thức chính trị, giác ngộ giai cấp, hiểu biết về chính sách, pháp luật còn hạn chế Thu nhập, đời sống công nhân còn nhiều khó khăn; điều kiện làm việc, nhà ở, chăm sóc sức khỏe và các thiết chế văn hóa phục
vụ cho công nhân nhìn chung còn hạn chế; một bộ phận công nhân chưa được chủ doanh nghiệp bảo đảm các chế độ theo quy định; bên cạnh đó, mặt trái của nền kinh
tế thị trường tác động làm phân hóa đội ngũ công nhân trên nhiều mặt cả về thu nhập, nhận thức, mức độ hưởng thụ và sáng tạo
Kinh tế càng phát triển, xã hội càng bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan tâm, nhất
là sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng tăng Những năm qua, Tỉnh thường xuyên hoạch định cũng như tổ chức thực hiện có hiệu quả các chưong trình phát triển kinh
tế, văn hóa- xã hội nhằm bảo đảm ASXH, phúc lợi xã hội; tập trung giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội, góp phần ổn địnhcuộc sống của nhân dân Việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đã tạo nên sự đồng thuận trong xã hội Bên cạnh đó, Tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp; quan tâm xây dựng, phát triển tổ chức Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước; thường xuyên tổ chức đối thoại với người sử dụng lao động, cán bộ công đoàn cơ sở và người lao động Đếnnay, đa số doanh nghiệp
đã thực hiện khá tốt các quy định của Bộ luật Lao động, có trách nhiệm với người laođộng; người lao động có ý thức tuân thủ pháp luật, chấp hành nội quy của doanh nghiệp, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định trên địa bàn Tỉnh
Công tác chăm lo cho người có công với cách mạng và trợ giúp người có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm duy trì và phát huy
Trang 33Công tác giải quyết việc làm từng bước được nâng dần về số lượng (giai đoạn 2003 - 2013 tăng gấp 03 lần so với giai đoạn 1993 - 2002) Tỷ lệ lao động qua đào tạo cuối năm 2015 đạt 70% Từng bước nâng số lượng và chất lượng các cơ sở đào tạo nghề Chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và bộ đội xuất ngũ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đô thị hóa trên địa bàn [8, tr 5-8]
Tiền lương bình quân, thu nhập bình quân của người lao động hằng năm được tăng lên,năm2004: bình quân thu nhập của người lao động là 1.050.000 đồng/người/tháng, cuối năm 2015 hơn 5.000.000 đồng/người/tháng
Công tác giảm nghèo được triển khai tích cực Đến nay, Tỉnh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo của cả nước Theo chuẩn nghèo của Tỉnh giai đoạn 2014-
2015 (thu nhập 1 triệu đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và 1,1 triệu đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị), còn 4.186 hộ, tỷ lệ 1,52%; hộ cận nghèo còn 4.638 hộ, tỷ lệ 1,38%
Tỷ lệ tham gia BHXH, BHYT tương đối cao Toàn tỉnh hiện có gần 6.000 đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH Trong 10 năm qua, số lao động tham gia BHXH bắt buộc tăng bình quân 65.000 người/năm; đến nay đối tượng tham gia BHTN đạt 97% so với đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; số đối tượng tham gia BHYT đạt 72% độ bao phủ dân số toàn Tỉnh Tuy nhiên, số người tham gia BHXH, BHYT mới chiếm hơn 60% so với lực lượng lao động tại Tỉnh;
Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin) Có trên 95% dân cư địa phương tiếp cận được các dịch vụ xã hội công cộng về y tế, giáo dục ; hộ nghèo, hộ cận nghèo theo tiêu chí của Tỉnh được hỗ trợ 100% thẻ BHYT; 100% các em trong độ tuổi đến trường thuộc hộ nghèo được miễn, giảm học phí và nhiều chương trình học bổng hỗ trợ; người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiếu số được quan tâm chăm sóc sức khỏe
Hệ thống cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm và mạng lưới dịch vụ bưu chính, viễn thông, internet được chú trọng đầu tư, nâng cấp, mở rộng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu dân sinh, thông tin liên lạc tăng cao của nhân dân
Trang 34Tỉnh đã tập trung đầu tư và khuyển khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các dự án phát triển nhà ở xã hội để phục vụ nhu cầu nhà ở cho người thunhập thấp và công nhân laođộng trên địa bàn Đến năm 2015, tỉnh đầu tư khoảng 2,7 triệu
hội cho các đối tượng chưa có nhà ở
Tuy nhiên, công tác thực hiện các chính sách ASXH cũng còn một số hạn chế, khó khăn:
- Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân tuy được chú trọng, bảo
đảm thực hiện theo chính sách chung và đạt được nhiều thành tựu; mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được củng cố và phát triển, dịch vụ y tế đã trải đều đến các vùng, tạo điều kiện tiếp cận cho các đối tượng Tuy nhiên, Nhà nước cần phải quan tâm hơn để đầu tư những cơ sở y tế cần thiết phục vụ nhân dân mà tư nhân không đầu tư như: bệnh viện lao, tâm thần, ung bướu;
- Về giáo dục & đào tạo: Trong 10 năm trở lại đây, tình hình dân nhập cư
tăng nhanh theo tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa của tỉnh Tỉnh đã có nhiều giải pháp hiệu quả trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, xây dựng đội ngũnhà giáo nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân, không để xảy ra tinh trạng thất học hoặc học ca ba Các chế độ chính sách của Trung ương, địa phương và nguồn xã hội hóa như miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ học bổng đã giúp cho số đông học sinh nghèo có điều kiện đến trường, hạn chế thấp nhất tình trạng bỏ học
Tuy nhiên, việc đầu tư trường lớp đáp ứng cho bậc học mầm non và tiểu học trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng con em của công nhân lao động chưa có chỗ gửi học để yên tâm lao động, sản xuất Do vậy, Nhà nước cần có chủ trương đầu tư và xã hội hóa mạnh hơn để ngành học này phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của nhân dân
-Về nhà ở: Do dân số cơ học tăng nhanh, việc đầu tư xây dựng nhà ở đảm
bảo đúng quy chuẩn về xây dựng và môi trường chưa đáp ứng kịp nhu cầu Vì vậy, một bộ phận người dân, nhất là công nhân xa quê phải sống trong các khu nhà trọ thiếu tiện nghi và ô nhiễm
Trang 35- Về văn hoá - xã hội: Đa số người lao động làm việc tại các doanh nghiệp
ngoài nhà nước do áp lực công việc, rất hạn chế thời gian và điểu kiện tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, sinh hoạt cộng đồng… Mặt khác, việc đầu tư các thiết chế văn hóa-thể dục-thể thao phục vụ cho lao động còn hạn chế
2.1.2 Sự hình thành và đặc điểm của Khu công nghiệp Việt Singapore, tỉnh Bình Dương
Nam-Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP), khởi đầu trên cơ sở ý tưởng hợp tác của Chính phủ hai nước Việt Nam và Singapore do Thủ tướng Võ Văn Kiệt
đề xuất tới Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong
Sau đó, tập đoàn Sembcorp Industrial Parks, một trong những công ty lớn nhất
và năng động nhất ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong lĩnh vực phát triển cơ
sở hạ tầng, dẫn đầu một tập đoàn các thành phần kinh tế tư nhân để thực hiện dự án VSIP cùng với Becamex IDC Corp tại Việt Nam Với sự hỗ trợ từ phía Chính phủ hai nước Việt Nam và Singapore, liên doanh đầu tư giữa các đối tác trong và ngoài nước do những tập đoàn có uy tín, kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng cơ
Đến nay, ngoài VSIP I, II tại Bình Dương, VSIP đã và đang phát triển thêm
dự án tại tỉnh Bắc Ninh (700ha), Nghệ An (giai đoạn 1 là 750ha) và Quảng Ngãi (1.226ha), thành phố Hải Phòng (1.600ha)
Đến cuối năm 2015, trong 04 KCN (2.694ha) thuộc Ban Quản lý Khu công nghiệp VSIP, có 2 KCN (VSIP I và VSIP II với tổng diện tích là 472,9 ha và 330
Trang 36ha) đã xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng và cho thuê hết đất công nghiệp Riêng 02 KCN còn lại là VSIP II-A và Mapletree đang xây dựng cơ sở hạ tầng
Trong năm 2015, phần lớn các doanh nghiệp hoạt động ổn định, các doanh nghiệp mới được cấp chứng nhận đầu tư và tăng vốn đầu tư cũng đã tiến hành triển khai nhanh dự án Doanh thu, kim ngạch xuất nhập khẩu cũng ổn định và tăng cao hơn so với năm 2014
Vốn đầu tư thực hiện của các dự án đạt 300 triệu đô la Mỹ, bằng 100% so với năm 2014 Doanh thu của các doanh nghiệp trong năm 2015 đạt 6,5 tỷ đô la Mỹ, tăng 27,5% so với năm 2014 và tăng 27,5% so với kế hoạch năm 2015 Trong đó xuất khẩu đạt 4,75 tỷ đô la Mỹ, tăng 21,8% so với năm 2014 Nhập khẩu của các doanh nghiệp trong năm 2015 đạt 4,21 tỷ đô la Mỹ, tăng 16,9% so với năm 2014
Nộp ngân sách của các doanh nghiệp trong năm 2015 đạt 60 triệu đô la Mỹ, bằng 92,3% so với năm 2014 và đạt 100% kế hoạch năm 2015
Các doanh nghiệp thu hút và giải quyết việc làm mới cho 5.500 lao động, nâng tổng số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong KCN lên 136.500 lao động Thực hiện chức năng, nhiệm vụ và sự ủy quyền của Sở LĐ-TB&XH về quản lý lao động, trong năm 2015, Ban Quản lý VSIP đã thực hiện các nhiệm vụ về quản lý lao động như: cấp mới, cấp lại 862 giấy phép lao động cho người nước ngoài (đạt 133,4% so năm 2014); thông báo chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động người nước ngoài cho 221 doanh nghiệp với 628 vị trí nhà quản lý, 356 vị trí chuyên gia và 107 vị trí lao động kỹ thuật; tiếp nhận 66 bản Nội quy lao động (đạt 188,57% so năm 2014); 37 bản thỏa ước lao động tập thể và 22 thang, bảng lương
Ban Quản lý cũng đã triển khai và kiểm tra việc thực hiện điều chỉnh lương theo Nghị định số 103/2014/NĐ-CP của Chính phủ; tập huấn các văn bản hướng dẫn Bộ luật Lao động cho doanh nghiệp; Ban quản lý đã phối hợp công đoàn VSIP vận động thành lập mới 16 công đoàn cơ sở với 899 đoàn viên công đoàn, nâng tổng số công đoàn cơ sở lên 268 với 105.532 đoàn viên [7, tr 1-8]
2.1.3 Thực trạng lao động nữ nhập cư Khu công nghiệp Việt Singapore, tỉnh Bình Dương
Nam Nguồn gốc di cư và nguyên nhân nhập cư
Trang 37Nguyên nhân kinh tế giải thích cho hầu hết các quyết định di cư từ nông thôn
ra thành thị, vào các KCN của NLĐ Những lý do quan trọng nhất dẫn đến quyết định di cư từ nông thôn ra thành thị và các KCN là người lao động không hài lòng với thu nhập do công việc ở quê mang lại (45,9%); không có việc làm ở quê (38,7%) và 12,6% những người di cư cho rằng muốn thay đổi môi trường sống Người lao động di cư để tìm kiếm cơ hội thay đổi công việc với mức thu nhập cao hơn Trong trường hợp này, nguyên nhân di cư ít liên quan đến lực đẩy tại nơi ra đi
mà liên quan nhiều hơn tới lực hút tại nơi đến (khu vực thành thị và KCN) với kỳ vọng về công việc mới mang lại thu nhập cao hơn
Lao động di cư ra thành thị thường tập trung vào mấy nhóm chính: (i) những người tìm cơ hội ở lại thành phố sau khi học đại học, xin việc làm, có thu nhập tốt
và có cơ hội thay đổi môi trường sống; (ii) những người di cư tạm thời (theo thời vụ), vẫn đang có việc làm ở địa phương và chỉ tranh thủ ra thành phố kiếm việc làm; (iii) những người không có/có ít tư liệu sản xuất ở địa phương phải di cư ra thành thị để lao động Nhiều nghiên cứu trước đó về lý do di cư lao động chỉ ra rằng, có đến hơn một nửa số người di cư do họ không hài lòng với công việc và mức thu nhập ở quê và hi vọng có được công việc với mức thu nhập tốt hơn nơi thành phố Như vậy, nguyên nhân kinh tế giải thích cho 80% việc di cư và cần được xem xét như là lực đẩy hay lực hút chính củacác dòng di cư lao động [20, tr.47-52]
Trang 38số công nhân được hỏi cũng có những chị có trình độ cao đẳng, đại học, nhưng vì hoàn cảnh không cho phép, cộng với việc xin việc gặp nhiều khó khăn sau khi tốt nghiệp nên đã có không ít các chị quyết định đi làm công nhân để kiếm sống thay vì ngồi chờ công việc phù hợp, chiếm 9.8% Như vậy, đôi khi việc xin vào làm công nhân tại các nhà máy, xí nghiệp là một cách khá dễ dàng để vừa có việc làm, vừa có thu nhập trang trải cho cuộc sống Đây có lẽ là cách lựa chọn gặp thuận lợi nhất của các chị, khi những công việc đó không đòi hỏi quá nhiều về trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm hay trình độ học vấn phải quá cao mới có thể vào làm Các chị chỉ cần tốt nghiệp cấp 3, sau đó sẽ được công ty đào tạo ngắn hạn và làm việc luôn trong thời gian ngắn
Với trình độ học vấn tương đối thấp, nhất là chưa được đào tạo chuyên môn nên đa số họ phải lao động phổ thông, yêu cầu nhiều thời gian nhưng đồng lương lại hạn hẹp Điều này cũng ảnh hưởng không ít đến việc hội nhập và giao tiếp xã hội, hạn chế việc học tập nâng cao nhận thức, vị thế để cải thiện cuộc sống của họ
-Nghề nghiệp trước khi đến Khu công nghiệp
Bảng 2.2: Nghề nghiệp trước khi đi làm
Nghề nghiệp trước khi đến KCN Tần số Phần trăm hợp lệ
Trang 39chiếm số đông được hỏi, chiếm 13.1%, hoặc làm thợ may chiếm 6.9% Điều này dễ nhận thấy các nhà máy, xí nghiệp ở đây phần lớn là lao động thủ công, vì vậy cường
độ lao động của LĐNNC bỏ ra cao nhưng thu nhập hạn chế
Chị L.T.P, 28 tuổi, quê ở Hà Tĩnh, làm việc tại công ty Hoya Glass Disk
Việt Nam đã chia sẻ:“Tại mình học hành dở quá, ở nhà làm ruộng khổ lắm nên
mới đi làm công nhân đấy chứ” Còn chị N.T.N, 20 tuổi, quê ở Thanh Hóa, làm
việc tại công ty Foster thổ lộ: “Em học xong cấp 3, nhà nghèo nên em không thi gì
cả, em ở nhà một năm giúp cha mẹ làm ruộng rồi vào đây”
Hầu hết những công việc mà các chị làm trước khi vào KCN thu nhập không đáng kể và không cần trình độ hay vốn đầu tư Do đó, khi tới KCN, dường như làm công nhân là phù hợp với các chị và được các chị chọn lựa làm kế sinh nhai
18 - 20 tuổi Ở độ tuổi này phần lớn công nhân còn trẻ, có những trường hợp mới vào làm tại các công ty, mối quan hệ còn rất hạn chế, điều đó giải thích cho việc tại sao phần lớn các nữ công nhân tại khu công nghiệp VSIP còn trong tình trạng độc
thân Chị L.T.H, công nhân của công ty Foster cho biết: “Tớ đã làm việc ở đây phải
đến 6 năm nay rồi, nhưng vẫn chưa nghĩ đến việc lấy chồng, mà muốn lấy cũng chẳng biết lấy ai, lấy công nhân như mình thì không ổn định mà lấy những người có nhà có đất thì chắc chẳng mơ tới, với lại có đi đâu bao giờ mà quen biết ai”.Vì tuổi
Trang 40còn khá trẻ, cuộc sống lại gặp nhiều khó khăn, công việc tăng ca liên tục chiếm hết thời gian nên cơ hội để tiếp xúc với môi trường bên ngoài, để làm quen, hẹn hò của các chị rất hạn chế Nhưng bản chất vấn đề chính là công việc không ổn định, thu nhập thấp không đảm bảo cuộc sống gia đình, và đặc biệt nơi ăn ở tạm bợ, trong bối cảnh như thế, độc thân là điều khó tránh khỏi
Tuy nhiên, theo quan sát và ghi nhận của nhiều người, tình trạng sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân của một bộ phận LĐNNC đang gia tăng Do sống
xa gia đình, thiếu thốn nhiều về tình cảm, cộng với sự hiểu biết hạn chế, đã gây ra nhiều hậu quả tiêu cực như có thai ngoài ý muốn, phá thai,… ảnh hưởng không tốt đến đời sống xã hội và quan trọng hơn là ảnh hưởng trực tiếp cuộc sống của họ
Tuy nhiên, đại đa số các chị khi được hỏi đều né tránh và không muốn nhắc đến những vấn đề “tế nhị” như thế, kể cả những chị đã có gia đình Chị M, 25 tuổi
làm tại công ty Hoya e ngại khi được hỏi về vấn đề quan hệ trước hôn nhân: “Thôi,
chị không nói đâu ngại chết đi được, ai lại bàn về mấy cái chuyện đó” Tâm lý e
ngại đã làm cho sự hiểu biết về các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản bị hạn chế và dẫn đến những hậu quả khó lường khi các nữ công nhân không may mắc phải Họ không biết cách giải quyết vấn đề, không địa chỉ tin cậy, không hiểu biết, không muốn chia sẻ, điều này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống cũng như tâm lý của các chị
Liên hệ với thuyết hệ thống sinh thái ta có thể nhận thấy rằng, xung quanh các chị có hệ thống công ty, nhà máy, các thiết chế xã hội, chính quyền địa phương nhưng họ không có cơ hội để tiếp cận trực tiếp Gia đình là chỗ dựa vững chắc, nhưng hầu hết các chị là công nhân nhập cư sống xa gia đình, không phải lúc nào họ cũng có cơ hội để trở về bên gia đình Như vậy, còn lại xung quanh các chị là hệ thống nhóm bạn bè, đồng nghiệp Nhóm này luôn hiện diện trong cuộc sống và công việc của mỗi chị, các chị có thể tâm sự, bầu bạn, chia sẻ những vấn đề gặp phải trong cuộc sống với nhóm đó.Nhóm ở đây sẽ có sự tác động lên cuộc sống sinh hoạt cũng như suy nghĩ của các nữ công nhân rất nhiều.Quan sát một buổi tối của một phòng nữ công nhân có 3 người, các chị đều độc thân, đến từ các tỉnh khác nhau, làm chung công ty, căn phòng tuy nhỏ nhưng tràn ngập tiếng cười nói, đùa