1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em

107 305 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn góp phần phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng TEBBL, đồng thời trợ giúp cho trẻ em đã bị bạo lực được tiếp cận và sử dụng DVCTXH ngày càng tốt hơn, học viên lựa chọn đề tài ng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ DIỆU THÚY

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM BỊ BẠO LỰC TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ DỊCH VỤ TRUYỀN THÔNG

THUỘC CỤC BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN HẢI HỮU

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hải Hữu

Đề tài này chưa được công bố ở đâu và không trùng lặp với đề tài nào

đã được công bố Các nội dung, số liệu, trích dẫn đều được ghi rõ ở phần tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này và xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Học viên thực hiện luận văn

Trần Thị Diệu Thúy

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MICS Điều tra đánh giá các mục tiêu phụ nữ và trẻ em

Trung tâm Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông Tổng đài 18001567 Đường dây điện thoại Tư vấn và Hỗ trợ trẻ em

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM BỊ BẠO LỰC 13

1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu của trẻ em bị bạo lực 13

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ công tác xã hội đối với trè em bị bạo lực ……20

1.3 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu……… 27

1.4 Các phương pháp công tác xã hội cá nhân 30

1.5 Chính sách, pháp luật về trẻ em bị bạo lực và dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực 31

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công xã hội với trẻ em bị bạo lực 32

Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM BỊ BẠO LỰC CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ DỊCH VỤ TRUYỀN THÔNG 36

2.1 Tổng quan về Trung tâm Tư vấn Dịch vụ truyền thông 36

2.2 Kết quả cung cấp dịch vụ tại Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông 39

2.3 Các hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực tại Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông……… 44

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực tại Trung tâm và Tư vấn Dịch vụ truyền thông 51

2.5 Đánh giá tổng quát dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực tại Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông 54

2.6 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực tại Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông 57

Chương 3: QUY TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI MỘT TRƯỜNG HỢP VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM BỊ BẠO LỰC TẠI TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ DỊCH VỤ TRUYỀN THÔNG 60

3.1 Quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với một trường hợp 60

3.2 Một số nhận xét về quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội của Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông 67

3.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông 69

3.4 Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực 71

3.5 Khuyến nghị 76

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

DANH MỤC HÌNH, HỘP BẢNG SỐ LIỆU

Hình 1.1 Hình minh họa một số hình thức bạo lực trẻ em 15

Hình 2.2 Tổng số cuộc gọi đến Tổng đài tính theo năm 40

Hình 2.4 Độ tuổi của người gọi đến Tổng đài 18001567 41

Hộp 2.4 PVS mẹ cháu Nguyễn Công T, ở Hoài Đức - Hà Nội 44 Hộp 2.5 PVS mẹ cháu Nguyễn Tiến D, ở Quế Võ - Bắc Ninh 44 Hộp 2.6 PVS NVCTXH của Tổng đài 18001567 về việc kết nối hỗ trợ

trẻ em cần chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời 48 Hộp 2.7 PVS trẻ em về điều kiện ăn, ở trong thời gian trị liệu 49 Hộp 2.8 PVS cha mẹ về kết nối nguồn lực hỗ trợ của Tổng đài 49

Hộp 3.1 PVS cố vấn chuyên môn của Trung tâm TVDVTT 71

Hộp 3.3 PVS Lãnh đạo Trung tâm &Văn phòng TVTLTLTE 75 Bảng 2.1 Số trường hợp hỗ trợ, can thiệp cho TEBBL 2013-2016 40 Bảng 2.2 Số lượng trẻ em được cung cấp dịch vụ từ Văn phòng

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bạo lực gây ra không chỉ những tổn thương về thể chất mà còn để lại

sự tổn thương về tinh thần nặng nề đối với trẻ em Nó ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tinh thần, làm ảnh hưởng đến khả năng học tập, giao tiếp và sự phát triển toàn diện của trẻ em Hành vi bạo lực trẻ em không chỉ diễn ra ở những vùng sâu, vùng xa - những nơi điều kiện kinh tế và dân trí còn thấp mà ngay cả các thành phố lớn, các đô thị được xem là văn minh, vẫn tồn tại những thực trạng đau lòng về bạo lực trẻ em

Báo cáo kết quả Điều tra đánh giá các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2011 (MICS 4) của Tổng cục Thống kê với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của UNICEF cho thấy 74% trẻ em Việt Nam từ 2-14 tuổi từng trải nghiệm ít nhất một hình thức bạo lực ở các mức độ nặng, nhẹ khác nhau Theo báo cáo hàng năm của Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em, trung bình mỗi năm có khoảng 500 trẻ

em bị bạo lực được phát hiện và can thiệp, hỗ trợ Tuy nhiên, đây là con số báo cáo, trên thực tế số liệu này còn có thể cao hơn nhiều, nguyên nhân là do cán bộ thống kê chưa đầy đủ, do các gia đình không thông báo hoặc hai bên

tự thỏa thuận giải quyết

Bạo lực trẻ em xảy ra cả trong gia đình, trường học và cộng đồng Tình trạng bạo lực ở trong và ngoài trường học của học sinh là nỗi bức xúc của xã hội và chưa làm an lòng các bậc phụ huynh Có những trẻ em bị chính cha

mẹ, người thân, thầy cô giáo và những người có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc

có hành vi xâm hại, bạo lực Nhiều vụ bạo lực học đường được phát hiện, có những vụ thầy cô giáo sử dụng các biện pháp giáo dục có tính chất bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh, nhưng ngược lại cũng có hiện tượng học sinh hành hung thầy, cô giáo, đồng thời học sinh đánh học sinh gây thương tích, thậm chí dẫn đến tử vong [5, tr 1] Gần đây nổi lên một số vụ

Trang 7

2

giáo viên bạo lực với học sinh, điển hình như vụ hai cô giáo cơ sở mầm non Sen Vàng chi nhánh Minh Khai, thành phố Hà Nội lấy dép tổ ong đập vào đầu một trẻ nhỏ, lấy đầu gối thúc vào người và véo tai một bé trai đang sợ hãi kêu khóc; vụ Quản Thị Kim Hoa người trông trẻ đã đánh đập trẻ em tại nhóm trẻ gia đình (Biên Hòa, Đồng Nai),…

Nhiều trẻ em bị chính cha mẹ, người thân hoặc những người có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em đánh đập như vụ cháu bé 3 tuổi ở thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã bị chính mẹ ruột đánh đến chấn thương sọ não, hôn mê và đã bị tử vong với nhiều vết bầm tím trên người hay vụ một ông bố ở tỉnh Thái Nguyên đánh con trai dã man bầm mông túa máu phải nhập viện khiến cư dân mạng phẫn nộ;…

Những hệ quả của bạo lực đối với trẻ em không chỉ ảnh hưởng đến trẻ

em hay các gia đình có TEBBL mà toàn xã hội cũng bị ảnh hưởng, nó cản trở

sự phát triển kinh tế - xã hội do khuyết tật, giảm năng suất lao động và giảm chất lượng cuộc sống, những hệ lụy này còn truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020; tiếp đó năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 267/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 và Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020; ngày 15/9/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1791/QĐ-TTg về ngày công tác xã hội Việt Nam, đó là những cơ sở pháp lý quan trọng để các tỉnh, thành phố thành lập các Trung tâm CTXH trẻ em, Trung tâm cung cấp DVCTXH

32/2010/QĐ-Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội (2014) của Bộ LĐTBXH đã đánh giá: Mạng lưới cơ sở cung cấp DVCTXH còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng hoạt động chủ yếu mới tập trung vào trợ giúp tiếp cận chính sách xã hội, chưa thật sự hoạt động đúng nghĩa là cung

Trang 8

3

cấp DVCTXH; tính xã hội hóa chưa cao, đội ngũ NVCTXH còn mỏng và chưa chuyên nghiệp, Trong khi đó nhu cầu sử dụng DVCTXH của người dân rất cao (trên 20% dân số), trong đó có TEBBL

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về BLTE, song chưa có nhiều công trình nghiên cứu về DVCTXH đối với TEBBL Với mong muốn góp phần phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng TEBBL, đồng thời trợ giúp cho trẻ em đã

bị bạo lực được tiếp cận và sử dụng DVCTXH ngày càng tốt hơn, học viên

lựa chọn đề tài nghiên cứu “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực

từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em”, qua đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng

dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực

2 Tình hình nghiên cứu về đề tài

Bạo lực đối với trẻ em và dịch vụ công tác xã hội với trẻ em là chủ đề

đã được nhiều tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu Trong phạm vi Luận văn này, học viên xin đề cập đến một số nghiên cứu, liên quan đến trẻ

em bị bạo lực và dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực trên thế giới và ở Việt Nam như sau:

2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

“Nghiên cứu đa quốc gia về các nguyên nhân bạo lực trẻ em” do UNICEF phối hợp với Trường Đại học Edinburgh thực hiện tại bốn nước là

Ý, Peru, Việt Nam và Zimbabwe từ năm 2013-2015 Nghiên cứu đã chỉ ra ba hình thức bạo lực trẻ em đó là bạo lực thân thể, bạo lực tinh thần và xâm hại tình dục Môi trường xảy ra bạo lực chủ yếu xảy ra tại gia đình, nhà trường và cộng đồng 68% trẻ em dưới 14 tuổi phải chịu ít nhất một hình phạt tâm lý hoặc thể xác bởi các thành viên trong gia đình, trẻ em trai bị kỷ luật bạo lực ở mức độ cao hơn so với trẻ em gái Nghiên cứu này cũng đưa ra các khuyến cáo về những nguyên nhân BLTE và cách tốt nhất để phòng ngừa BLTE; Tuy vậy, nghiên cứu này không đề cập đến việc cung cấp DVCTXH đối với

Trang 9

4

TEBBL.[32]

Liên hợp quốc cũng đã công bố báo cáo “Tình hình trẻ em trên thế giới” (ngày 04/9/2014) cho biết 2/3 trẻ em trên thế giới trong độ tuổi từ 2-14 (gần 1 tỷ em) là đối tượng từng bị bạo lực ở các hình thức nặng, nhẹ khác nhau Số liệu này cho thấy tình trạng bạo lực đối với trẻ em đã ở mức nghiêm trọng.[13]

Nghiên cứu của UNICEF về bạo lực trẻ em (2013) đã thu thập số liệu

từ 190 quốc gia trên thế giới cho biết chỉ riêng trong năm 2012, có khoảng 95.000 trẻ em là nạn nhân của các vụ giết người Tình trạng trẻ em bị bắt nạt tại trường học cũng đáng báo động với hơn 30% số học sinh trong độ tuổi từ 13-15 là nạn nhân.[33]

Nghiên cứu về “Những cuộc đời trẻ thơ” của Young Lives là một chương trình nghiên cứu quốc tế dài hạn về sự thay đổi tình trạng nghèo của trẻ em Nghiên cứu này đã theo dõi 12.000 trẻ lớn lên tại bốn quốc gia đang phát triển trong suốt 15 năm, từ năm 2002 đến năm 2017, bao gồm các nước Ethiopia, Ấn Độ (bang Andhra Pradesh và Telangana), Peru và Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bạo lực cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo [34]

David Beckham - Đại sứ thiện chí UNICEF công bố một video (2016)

đã nói lên một sự thật là bạo lực về thể chất và tinh thần có thể để lại hậu quả vĩnh viễn trong suốt cuộc đời của trẻ em UNICEF đã hỗ trợ Beckham sử dụng mô hình U-report (bạn báo cáo) dùng tin nhắn để thanh thiếu niên báo cáo về các vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống của các em Hơn 190 nghìn thanh, thiếu niên từ 22 quốc gia trên thế giới đã tham gia U- report trả lời các câu hỏi về BLTE 2/3 trong số các em đã nói rằng các em đã trực tiếp bị bạo lực về thể xác và lời nói hoặc các em biết những trẻ em khác bị như vậy Khi các em được hỏi ai là người hay gây ra bạo lực nhất, 29% nói rằng là các bạn đồng trang lứa, 28% nói rằng là cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em, khoảng

Trang 10

12 tháng trước thời điểm điều tra, tỷ lệ này ở học sinh nam cao gấp 3 lần học sinh nữ

Công trình nghiên cứu “Bắt nạt, tâm lý xã hội và kết quả học tập ở trường tiểu học” của GS Glew Đại học Washington, Mỹ, tiến hành khảo sát 3.530 học sinh tiểu học năm 2005 cho thấy: 22% học sinh được khảo sát đã từng là nạn nhân của bạo lực hoặc tham gia bạo lực Bạo lực học đường có mối liên quan đến kết quả học tập, chấp hành kỷ luật, tâm lý buồn chán, cảm giác không an toàn của học sinh

Công trình nghiên cứu “Bắt nạt trường học trong thanh thiếu niên tại Hoa kỳ” của GS Wang.J năm 2009 đã chỉ ra có 4 dạng bạo lực: (i) bạo lực thể chất, (ii) bạo lực tinh thần, (iii) xâm hại tình dục , (iv) bóc lột kinh tế/vật chất)

Nghiên cứu “Tình trạng bạo lực trong các trường học châu Á” của Plan International năm 2014, đã khảo sát 9.000 học sinh lứa tuổi 12-17 ở 5 nước (Indonesia, Việt Nam, Camphuchia, Pakistan, Nepal) cho thấy: Trung bình cứ

10 học sinh lứa tuổi 12-17 thì có 7 em từng trải nghiệm bạo lực học đường; Quốc gia có số học sinh bị bạo lực học đường cao nhất là Indonesia (84%); Việt Nam đứng thứ 2 (71%), Pakistan thấp nhất là 43% [19]

Theo nghiên cứu của Duladary Enkhtor và cộng sự (2007), Knodel, Vu, Jayakody & Vu (2005), Cappa và Dam (2014): Tình trạng bạo lực thân thể đối với trẻ em có quan hệ mật thiết với các đặc trưng nhân khẩu học

Trang 11

6

Những nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến thực trạng BLTE, bạo lực học đường, các hình thức bạo lực, nguyên nhân của BLTE và mối liên hệ giữa bạo lực và nghèo đói

2.2 Một số nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Plan năm 2014 trên 3.000 học sinh trung học cơ sở ở

30 trường học cho biết có 73% TEBBL tinh thần ở các mức độ khác nhau

Báo cáo điều tra quốc gia vị thành niên và thanh niên Việt Nam (gọi tắt

là SAVY 2, năm 2009) 10.000 người trong độ tuổi 14-25 đã được chọn để nghiên cứu SAVY 2 có những câu hỏi liên quan đến bạo lực đã từng phải chịu đựng và bạo lực đã từng được thanh thiếu niên sử dụng với người khác Kết quả điều tra cho thấy 5,8% thanh thiếu niên bị bạo lực gia đình.[25]

“Báo cáo phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam năm 2016” (Sitan) của BLĐTBXH- UNCEF đã tổng hợp tình hình bạo lực trẻ em ở Việt Nam thông

qua các cuộc điều tra quy mô lớn (MICS 2004-2014) cho biết: 68,4% trẻ em

độ tuổi từ 1-14 ở Việt Nam phải chịu ít nhất một hình phạt thể chất hoặc tâm

lý do các thành viên trong gia đình thực hiện kết hợp một loạt các hình thức

kỷ luật có bạo lực Trong khi 58,2% trẻ em phải chịu các hình phạt về mặt tinh thần, 42,7% các em bị trừng phạt về thân thể Các hình phạt thân thể nghiêm trọng chiếm khoảng 2,1% (chẳng hạn như bị đánh liên tiếp vào đầu, mông, tai, hay mặt) Trẻ em trai chịu các hình phạt thân thể nhiều hơn trẻ em gái (48,5% so với 36,6%) nhưng không có sự chênh lệch nhiều giữa tỷ lệ trẻ

em trai và trẻ em gái phải chịu bạo lực tinh thần (59,6% so với 56,7%) Tình trạng trừng phạt trẻ em giảm đáng kể trong giai đoạn tiến hành MICS từ 2004

- 2014 Tỷ lệ trẻ em là nạn nhân của các biện pháp kỷ luật bạo lực chiếm 93,3% vào năm 2004, tuy nhiên con số này giảm xuống còn 68,4% vào năm

2014 Tỷ lệ trẻ bị trừng phạt thể chất giảm đều từ 60,9% năm 2004 xuống còn 55% vào năm 2011 và còn 42,7% vào năm 2014 Tỷ lệ trẻ chịu trừng phạt thể chất nghiêm trọng giảm đáng kể từ 9,4% năm 2004 xuống còn 3,5% năm

Trang 12

7

2011 và còn 2,1% năm 2014 Ngược lại, sự trừng phạt về tâm lý đối với trẻ

em không giảm mà tăng từ 55,4% vào năm 2011 lên 58,2% vào năm 2014 [2]

Báo cáo nghiên cứu đa quốc gia về nguyên nhân bạo lực với trẻ em - UNICEF, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Đại học Edinburgh (2015) đã chỉ ra rằng: Đối với hầu hết trẻ em, việc các em bị bạo lực ở nhà có thể dẫn tới hành vi bạo lực ở trường học và cộng đồng Những học sinh gây ra bạo lực ở trường học, cộng đồng thường là những trẻ bị cha, mẹ hoặc anh, chị, em có hành vi bạo lực các em khi ở nhà.[1]

Nguyễn Hải Hữu và Nguyễn Thị Thái Lan (2016) - Báo cáo kết quả khảo sát cơ sở trợ giúp xã hội, đã chỉ ra nhu cầu tiếp cận DVCTXH của người dân, nhất là nhóm yếu thế là rất lớn, trong đó có TEBBL, nghiên cứu này cũng đã thống kê, phân tích về DVCTXH cho thấy việc cung cấp dịch vụ của các cơ

sở trợ giúp xã hội, Trung tâm CTXH còn nhiều hạn chế, vẫn nặng về cung cấp dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, các dịch vụ có tính chất chuyên môn chuyên sâu về CTXH chưa nhiều và hiệu quả chưa cao, do thiếu đội ngũ NVCTXH chuyên nghiệp và nhiều người dân chưa biết đến DVCTXH.[10]

Nguyễn Hải Hữu (2016) nghiên cứu về “Công tác xã hội với trẻ em - thực trạng và giải pháp”, đã chỉ ra nhu cầu tiếp cận DVCTXH của trẻ em, theo ước tính cứ 5 trẻ em Việt Nam thì có 1 em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc có vấn đề về sức khỏe tâm thần, cần được trợ giúp và cung cấp DVCTXH và nghiên cứu này cũng chỉ ra 21 loại DVCTXH với trẻ em [11]

Bùi Thị Xuân Mai (2009) và các cộng sự đã nghiên cứu về “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em”, từ kết quả nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ

em ở Việt Nam.[17]

Hà Thị Thư (2014) nghiên cứu về “Sự chuyên nghiệp trong DVCTXH đối với các nhóm đối tượng yếu thế” đã đưa ra khái niệm về DVCTXH và DVCTXH cho nhóm yếu thế và sự chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ cho

Trang 13

8

nhóm yếu thế [24]

Nguyễn Thị Thái Lan và cộng sự (2014) cũng đã có nghiên cứu về

“Chuyên nghiệp hóa các DVCTXH ở Việt Nam: thực trạng và nhu cầu”, nghiên cứu đi sâu phân tích thực trạng, nhu cầu chuyên nghiệp hóa các DVCTXH ở Việt Nam, đưa ra những đề xuất xây dựng và phát triển các dịch

vụ này đáp ứng nhu cầu thực tiễn và bảo đảm chất lượng của dịch vụ [12]

Khoảng trống trong các nghiên cứu liên quan đến chủ đề của luận văn:

Như đã trình bày ở trên, tuy có nhiều nghiên cứu về BLTE ở trong nước và trên thế giới, những vẫn chưa có sự thống nhất về cách sử dụng khái niệm, thuật ngữ, cách phân loại các loại hình bạo lực; hậu quả của BLTE đến thực hiện quyền trẻ em, đến phát triển kinh tế - xã hội lâu dài của quốc gia; các yếu tố tác động đến gia tăng hay giảm đi tình trạng bạo lực đối với trẻ em

Các nghiên cứu về DVCTXH nói chung, DVCTXH với trẻ em đã có, nhưng vẫn còn khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về DVCTXH đối với TEBBL Trên phạm vi thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy chưa có một nghiên cứu độc lập có tính chất chuyên sâu nào về DVCTXH đối với TEBBL Tại Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em cũng chưa có một đề tài hay một nghiên cứu nào về vấn đề cung cấp DVCTXH đối với TEBBL, đây vẫn còn là vấn đề mới cần được tiếp tục nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thao tác hóa một số vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực; đánh giá hoạt động cung cấp dịch vụ đối với trẻ em bị bạo lực tại Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông; đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực cho Trung tâm

Tư vấn và Dịch vụ truyền thông

Trang 14

9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu về bạo lực trẻ em và lý luận cơ bản về dịch vụ công tác xã

hội đối với trẻ em bị bạo lực;

- Tìm hiểu tình hình cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị

bạo lực ở Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông; kết quả cung cấp dịch

vụ công tác xã hội;

- Tìm hiểu quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị

bạo lực và vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc cung cấp dịch vụ

công tác xã hội ở Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông đề xuất một số

giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ

em bị bạo lực ở Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các dịch vụ công tác xã hội đối với

trẻ em bị bạo lực tại Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu lý luận và thực trạng dịch vụ công

tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần ở Trung tâm

Tư vấn và Dịch vụ truyền thông qua các dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn,

tham vấn, trị liệu tâm lý, quản lý trường hợp và kết nối dịch vụ trợ giúp trẻ

em

* Phạm vi về khách thể nghiên cứu gồm: trẻ em bị bạo lực và cha mẹ

trẻ em bị bạo lực được cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm, cố vấn

chuyên môn, nhân viên công tác xã hội, lãnh đạo quản lý Trung tâm Tư vấn

và Dịch vụ truyền thông, Tổng đài 18001567 và Văn phòng Tư vấn và Trị

liệu tâm lý trẻ em

Trang 15

ra những bài học kinh nghiệm và khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp DVCTXH cho TEBBL

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Luận văn sử dụng

phương pháp này để tổng hợp, phân tích những quy định của pháp luật, chính sách có liên quan đến công tác trẻ em, TEBBL, DVCTXH đối với TEBBL Luận văn cũng sử dụng phương pháp này để phân tích các tài liệu từ nguồn thu thập được từ các báo cáo, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, mạng Internet, sách, báo, tạp chí liên quan đến vấn đề trẻ em bị bạo lực và việc cung cấp DVCTXH cho TEBBL

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin xã hội học thông qua việc tác động tâm lý học xã hội trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu Mục tiêu của phỏng vấn sâu không phải để có được một kết quả đại diện, tổng thể mà giúp người nghiên cứu hiểu sâu, hiểu kỹ về vấn đề BLTE, DVCTXH đối với TEBBL Việc lựa chọn đối tượng có chủ đích, là những người có liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu

Mẫu và cơ cấu mẫu phỏng vấn sâu trong nghiên cứu gồm: 05 TEBBL,

05 cha mẹ TEBBL, 01 lãnh đạo quản lý Trung tâm TVDVTT, 01 lãnh đạo quản lý Tổng đài 18001567, 01 lãnh đạo quản lý Văn phòng TLTLTE, 01 chuyên gia và 05 NVCTXH

Trang 16

11

5.2.4 Phương pháp quan sát thực địa (đến thực tế địa bàn nghiên cứu)

Phương pháp quan sát thực tế được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu Đây là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực

tế nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Học viên sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung những thông tin còn thiếu và kiểm tra, đối chiếu, so sánh các thông tin có được từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin sẵn có thu thập được Thông qua quan sát, ghi chép nhật ký để có được câu trả lời đầy đủ, những thông tin chính xác cho phỏng vấn sâu Cụ thể đề tài tập trung quan sát các hoạt động cung cấp DVCTXH, quan sát về môi trường, điều kiện trị liệu của TEBBL tại Văn phòng TVTLTLTE Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượng khảo sát, nhằm xác định xem họ có gặp khó khăn gì về tâm lý, sức khỏe hoặc những khó khăn khác hay không

5.2.5 Phương pháp công tác xã hội cá nhân

Luận văn sử dụng các phương pháp CTXH cá nhân để nghiên cứu sâu quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với một trường hợp TEBBL đã

sử dụng DVCTXH tại Trung tâm để hiểu rõ hơn về quy trình và hoạt động cung cấp DVCTXH của Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông

5.3 Các lý thuyết áp dụng trong luận văn

Luận văn sử dụng các lý thuyết liên quan tới đề tài phục vụ cho việc nghiên cứu như: Thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết nhận thức - hành vi, thuyết hệ thống, lý thuyết công tác xã hội cá nhân

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài sẽ cung cấp một số kiến thức chuyên sâu về DVCTXH đối với TEBBL, qua đó góp phần tích cực vào việc bảo đảm các quyền của trẻ em, đặc biệt là quyền được bảo vệ Đồng thời, với những thông tin thu được từ thực tiễn cũng sẽ làm phong phú thêm lý luận về DVCTXH đối với TEBBL

Trang 17

12

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp các cơ quan quản lý trong quá trình hoạch định chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, TEBBL nói riêng và DVCTXH với trẻ em có thêm bằng chứng hoàn thiện chính sách phù hợp

Đề tài cũng giúp cho Trung tâm và NVCTXH hiểu rõ hơn về nhu cầu tiếp cận DVCTXH đối với TEBBL và đánh giá của TEBBL và gia đình TEBBL về hoạt động cung cấp DVCTXH của Trung tâm, qua đó có biện pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ cho đối tượng này

Đề tài giúp cho TEBBL và gia đình của TEBBL hiểu rõ hơn về chính sách bảo vệ trẻ em, hỗ trợ TEBBL, DVCTXH đối với TEBBL, qua đó giúp

họ tiếp cận DVCTXH thuận lợi và tự tin hơn

Đối với học viên, sau khi nghiên cứu đề tài giúp bản thân mở rộng kiến thức về DVCTXH đối với TEBBL, đưa lý luận vào thực tiễn công việc và mang thực tiễn soi rọi lại để hiểu rõ hơn lý luận về lĩnh vực này

Đề tài cũng là tài liệu tham khảo tốt cho những ai quan tâm đến DVCTXH cho trẻ em nói chung và TEBBL nói riêng

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ

Trang 18

13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI TRẺ EM BỊ BẠO LỰC

1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu của trẻ em bị bạo lực

Trẻ em là người công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [14]

Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [16]

Khái niệm “trẻ em là người dưới 16 tuổi đã được Luật trẻ em quy định,

vì vậy luận văn lựa chọn và sử dụng thống nhất khái niệm này

1.1.2 Khái niệm bạo lực

Bạo lực là hành vi sử dụng sức mạnh thể chất với mục đích gây thương vong, tổn hại một ai đó [26]

Theo Tổ chức Y tế thế giới, bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra

sự mất mát

Trang 19

14

1.1.3 Khái niệm bạo lực trẻ em

Bạo lực trẻ em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em [13]

Bạo lực trẻ em theo CRC là “tất cả các hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, bị tổn thương hay lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc chăm sóc sao nhãng, bị ngược đãi hoặc bóc lột, bao gồm cả xâm hại tình dục" [6]

Khái niệm bạo lực trẻ em theo CRC có nội hàm rộng hơn khái niệm bạo lực trẻ em quy định trong Luật trẻ em năm 2016, mặc dù vậy, Luận văn

sử dụng khái niệm bạo lực trẻ em theo Luật trẻ em năm 2016

1.1.4 Các hình thức bạo lực trẻ em

Theo UNICEF, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Đại học Edinburgh (2015), trong “Báo cáo nghiên cứu quốc gia về nguyên nhân bạo lực với trẻ em” [31] thì bạo lực trẻ em có thể chia thành bốn dạng chính như sau:

Bạo lực thể chất: Là hành vi cưỡng bức thân thể, đánh đập nhằm gây

thương tích cho trẻ em hay hạn chế nhu cầu thiết yếu như ăn, uống, ngủ hay lột quần áo Bạo lực thể chất không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nạn nhân bị bạo lực mà còn ảnh hưởng đến cả những người chứng kiến bạo lực

Bạo lực tinh thần: Là việc sử dụng lời nói, cử chỉ mang tính chất đe

dọa, mẳng mỏ, sỉ nhục, lăng mạ, nói xấu, bình luận ác ý, bôi nhọ danh dự, hạ thấp nhân phẩm, chọc ghẹo quá trớn, hoặc cô lập, chửi thề, uy hiếp bằng hình ảnh, gây áp lức buộc các em phải làm những việc các em không muốn làm

…Bạo lực tinh thần gây ra những áp lực tâm lý căng thẳng, gây ra sự khó chịu, mặc cảm, xấu hổ, thậm chí gây ra những rối loạn tâm lý, tình cảm của nạn nhân và có thể dẫn đến những suy nghĩ, hành động tiêu cực, thậm chí có thể dẫn đến tự tử

Trang 20

15

Bạo lực thể chất/thân thể bao gồm những hành vi hành

hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe của trẻ em

Bạo lực tinh thần bao gồm những hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, cô lập, xua đuổi trẻ em

Xâm hại tình dục bao gồm: dùng vũ lực, đe dọa dùng

vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức

Hình 1.1: Hình minh họa một số hình thức bạo lực trẻ em

Xâm hại tình dục: Là hành vi này diễn ra một cách khá phức tạp trong

môi trường sống hiện nay và có thể chia thành hai dạng chính là quấy rối tình dục và xâm hại tình dục

Quấy rối tình dục là việc sử dụng lời nói, hành động, cử chỉ có ý nghĩa tình dục ngoài ý muốn, nhưng câu nói xúc phạm cố ý hay bất kỳ nhận xét về tình dục của ai để xúc phạm người khác (nạn nhân) và làm cho nạn nhân cảm thấy bị đe dọa, bị làm nhục, bị cản trở công việc, ngấm ngầm phá hoại sự an toàn và gây ra nỗi lo sợ cho nạn nhân Ví dụ: lời nói thiếu tế nhị, trêu trọc, nhưng câu bình phẩm thiếu văn hóa đến những hành động cố ý như sờ mó, xoa bóp ngực, đụng chạm vào nơi nhậy cảm của nạn nhân Xâm hại tình dục

là những hành vi lợi dụng sự thiếu hiểu biết, kinh nghiệm, kỹ năng sống của

Trang 21

16

nạn nhân, lợi dụng quyền lực của mình hoặc người khác để đạt được mục đích tình dục của mình, các hình thức biểu hiện của xâm hại tình dục phổ biến như: hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô Xâm hại tình dục rất khó kiểm soát và

nó để lại hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển thể chất, tâm lý, tình cảm của trẻ em

Bóc lột kinh tế: Là những hành vi gây thiệt hại về kinh tế, vật chất như

“bảo kê”, “trấn lột” phá họa đồ dùng, trang bị, phương tiện đi lại, chiếm đoạt tài sản, vật dụng có giá trị kinh tế, bóc lột sức lao động, trả công rẻ mạt Dạng bạo lực này diễn ra khá phổ biến đối với nhóm trẻ em lao động, trẻ em lang thang kiếm sống

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, học viên chỉ đề cập đến 2 loại bạo lực là bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần đối với trẻ em

1.1.5 Đặc điểm của trẻ em bị bạo lực

Tổng hợp quá trình quan sát thực tế và kinh nghiệm công tác của bản thân, học viên nhận thấy TEBBL thường có những đặc điểm biểu hiện như sau:

- Đặc điểm về thể chất: Những TEBBL thể chất thường xuất hiện những tổn thương trên các bộ phận cơ thể như vết bầm tím, sẹo, gãy xương; sức khỏe suy yếu

- Đặc điểm về hành vi: TEBBL thường chậm chạp, không hoạt bát; hay giận dữ, dễ nổi cáu, hung hăng, phá phách; đôi khi không nói thật do mất lòng tin

- Đặc điểm về tâm lý, cảm xúc: Trẻ hay buồn bã, ít tập trung, khó tính, hoài nghi, thiếu tin tưởng, hay có ác cảm và suy nghĩ tiêu cực; hay tự trách bản thân cho rằng mình có lỗi nên mới bị bạo lực, bắt nạt; khó diễn tả cảm xúc bằng lời

- Đặc điểm về giao tiếp: Trẻ ngại tiếp xúc với người khác nhất là người

lạ, nếu phải gặp hoặc nói chuyện với người khác thì thường thụ động, nói rất

ít hoặc im lặng

Trang 22

17

1.1.6 Nguyên nhân của bạo lực trẻ em

Bạo lực trẻ em xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể khái quát một số

nguyên nhân chính sau:

Một là: Nhận thức, kiến thức, năng lực phòng, chống bạo lực trẻ em

còn hạn chế: một số cán bộ, gia đình, cộng đồng và trẻ em chưa nhận thức đầy đủ về bạo lực trẻ em; quan niệm “thương cho roi cho vọt” ít nhiều vẫn còn tồn tại trong xã hội Việt Nam, đó là nguyên nhân khiến cho một bộ phận cha mẹ, thầy, cô giáo, bảo mẫu chấp nhận sử dụng bạo lực như một phương pháp dạy dỗ trẻ em Người dân chưa hình thành thói quen, trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi bạo lực trẻ em đến các cơ quan có thẩm quyền,

một mặt vì họ ngại liên lụy, sợ bị trả thù hoặc coi đó là việc của nhà người khác

Hai là: Nhiều gia đình cha mẹ ly hôn, ly thân; cha mẹ mắc các tệ nạn

xã hội, vi phạm pháp luật…cũng là nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em bỏ học, lang thang kiếm sống và bị bạo lực Sự nghèo đói, thiếu thốn về kinh tế, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp…là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, bạo lực gia đình mà trẻ em là người chứng kiến bạo lực gia đình hoặc trực tiếp là nạn nhân của bạo lực gia đình

Ba là: Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của trẻ em, đây là giai đoạn phát

triển mạnh mẽ về thể chất và tâm lý của trẻ Các em có nhu cầu tự thể hiện mình rất cao bằng những hành động tự phát, không có định hướng, thiếu suy nghĩ chín chắn; đây là lứa tuổi thích nổi loạn, thích phá vỡ các quy tắc, luật lệ Điều này xảy ra ở cả trường học, cộng đồng và gia đình Trong trường học hoặc ở cộng đồng, trẻ em dùng bạo lực để thể hiện sự oai phong hoặc vì muốn bảo vệ bạn bè, “chiến hữu” của mình trong các cuộc ẩu đả; những trẻ em hiền lành, yếu đuối thường hay bị bắt nạt hơn Trong gia đình, nhiều em ngang bướng, đòi hỏi quyền được tự quyết định những việc không hợp lý vào lúc cha mẹ đang nóng giận nên cũng dễ dẫn đến bị cha mẹ bạo lực

Trang 23

18

Bốn là: Do các em thiếu kỹ năng sống, nên nhiều em giải quyết mâu

thuẫn một cách tự phát, thiếu kiềm chế, sử dụng vũ lực để đạt được mục đích của mình Đa số trẻ em đã từng bị bạo lực hoặc chứng kiến bạo lực thường có tâm lý mặc cảm, thù hận, coi bạo lực là giải pháp tốt nhất để khẳng định sức mạnh, nhiều em đã có hành vi ứng xử bạo lực với bạn bè hoặc người khác

Năm là: Trẻ em khuyết tật, trẻ biếng ăn, hay quấy khóc cũng dễ bị bạo

lực; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có nguy cơ bị bạo lực cao hơn những trẻ em bình thường.

Sáu là: Thiếu đội cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em và đội ngũ

NVCTXH ở cấp xã cả về số lượng và năng lực chuyên môn hạn chế Kinh phí dành cho phòng, chống bạo lực trẻ em còn hạn hẹp, chủ yếu là lồng ghép trong các hoạt động bảo vệ trẻ em nói chung

Bảy là: Hệ thống DVCTXH bảo vệ trẻ em mới hình thành nhưng chưa

đồng bộ và hoạt động kém hiệu quả; do vậy, việc phòng ngừa, phát hiện sớm, can thiệp để giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ và trợ giúp phục hồi tái hòa nhập cộng đồng cho TEBBL chưa có tính liên tục và thông suốt để đáp ứng nhu cầu được bảo vệ toàn diện của trẻ em Hoạt động DVCTXH bảo vệ trẻ

em chưa chú trọng phòng ngừa mà vẫn tập trung nhiều cho việc giải quyết hậu quả

Tám là: Hệ lụy từ mặt trái của internet, mạng xã hội, những trò chơi

bạo lực trực tuyến, những trang web đen là không thể lường trước được

1.1.7 Hậu quả của bạo lực trẻ em

- Đối với TEBBL: Trẻ em đang trong độ tuổi phát triển, chưa hoàn thiện

về mặt thể chất và tâm sinh lý Chính vì vậy, hậu quả do bạo lực gây ra đối với các em là rất nặng nề cả về thể xác cũng như tâm lý, tình cảm

Về mặt thể chất: gây ra những tổn thương nặng nề các vùng trên cơ thể, để lại những vết thương, di chứng cho trẻ em, có trường hợp đến hết đời (khuyết tật)

Trang 24

19

Về mặt tinh thần: Trẻ thường sợ hãi, hoảng loạn, hoang mang, mất lòng tin và tình thương đối với bản thân, gia đình, cộng đồng; có cảm giác ghét bỏ, thù hận, tủi nhục, tự ti và có các hành vi tiêu cực Nhiều em còn cảm thấy xấu hổ vì nghĩ mình là người không tốt nên mới bị như vậy Tâm lý xấu

hổ và sợ hãi khiến các em lánh xa mọi người Đối với một số em thì việc đánh đập, bạo lực làm cho các em trở nên chai sạn và xem chuyện bị đánh đập là chuyện bình thường Khi lớn lên, những trẻ em này sẽ nhìn cuộc đời lệch lạc qua lăng kính của bản thân, thù hận đời, lại trở thành những kẻ gây bạo lực cho trẻ em và người khác

Bạo lực tác động tiêu cực đến chất lượng học tập, hình thành nhân cách đạo đức và sự phát triển toàn diện của trẻ em trong thời điểm bị bạo lực và kéo dài trong tương lai

- Đối với gia đình TEBBL: Những người thân trong gia đình, đặc biệt là

cha mẹ TEBBL có cảm giác đau đớn, u buồn, căng thẳng, bất an khi con em mình bị bạo lực Gia đình TEBBL có thể bị bị đàm tiếu, bình phẩm, xét nét từ phía cộng đồng Gia đình TEBBL phải chi trả nhiều các khoản phí để khám, chữa trị cho trẻ, bị tổn hại về kinh tế, nhiều khi vượt khả năng của gia đình; nhiều gia đình không thể có tiền chữa trị cho con cái, các em trở thành gánh nặng suốt đời cho gia đình và xã hội Nhiều gia đình phải chuyển nơi làm việc, chuyển chỗ ở và sống trong tình cảnh ức chế, căng thẳng

Đối với cộng đồng và xã hội: Bạo lực trẻ em cảnh báo sự xuống cấp

của đạo đức xã hội Dư luận xã hội không chỉ bất bình, phẫn nộ mà còn hoang mang, lo lắng, bất an, mất niềm tin nếu vụ việc không được xử lý công bằng, nghiêm minh Cộng đồng, xã hội phải chịu gánh nặng về vật chất và tinh thần đối với việc phục hồi sức khỏe và tâm lý của nạn nhân trẻ em, cùng với những chi phí điều tra, xử lý và đền bù do các vụ việc bạo lực trẻ em gây ra

Những hệ quả của bạo lực trẻ em không chỉ ảnh hưởng đến trẻ em hay các gia đình có TEBBL mà toàn xã hội cũng bị ảnh hưởng, nó cản trở sự phát

Trang 25

20

triển kinh tế do mất năng suất lao động, khuyết tật và giảm chất lượng cuộc sống, những hệ lụy này còn truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

1.1.8 Nhu cầu của trẻ em bị bạo lực

- Nhu cầu ăn, uống, ngủ, không khí để thở, chỗ ở, đây là những nhu cầu

cơ bản nhất của trẻ em

- Nhu cầu về an toàn: Đối với TEBBL thì nhu cầu này càng trở nên quan trọng, trẻ cần được an toàn, cần có một mái ấm gia đình an toàn cả về thể chất và tinh thần, bảo vệ trẻ tránh khỏi nguy hiểm Trong một số trường hợp nghiêm trọng khẩn cấp và người gây ra bạo lực chính là cha mẹ, người chăm sóc trẻ thì cần phải cách ly tạm thời đứa trẻ ra khỏi môi gia đình để tránh tái phạm bạo lực đối với trẻ em

- Nhu cầu về xã hội: Đó là nhu cầu được kết bạn, được giao tiếp với xã hội, được đến trường, tham gia các hoạt động của lớp học, được vui chơi giải trí, nhu cầu được yêu thương, chia sẻ, được tham gia các câu lạc bộ, đội, nhóm,…

- Nhu cầu được tôn trọng hay còn gọi là nhu cầu tự trọng, được người khác công nhận,tin tưởng Nhu cầu này được đáp ứng sẽ giúp cho trẻ tự tin, tăng thêm nghị lực cho trẻ

- Nhu cầu tự khẳng định, được thể hiện mình, tự phát triển và thể hiện tiềm năng của mình, đó là nhu cầu được làm những việc mà các em có khả năng làm, sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình,

để học tập, làm việc và tự hào về những thành quả đạt được

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực

1.2.1 Khái niệm về công tác xã hội

Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan cho thấy có khá nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra ở nhiều góc độ khác nhau

Trang 26

- Theo Hiệp hội cán bộ xã hội quốc tế và Hiệp Hội các trường đào tạo

CTXH quốc tế định nghĩa:“Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự phát triển xã hội,

giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc lợi Sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với các môi trường của mình Nhân quyền và công lý trong xã hội là những nguyên tắc nền tảng của công tác xã hội”.[8]

Theo Từ điển công tác xã hội của Barker R.L (1995) thì “Công tác xã hội

là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội” [35]

Theo Luật công tác xã hội của Philippine “Công tác xã hội là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội và sự điều chỉnh hòa hợp giữa cá nhân và môi trường xã hội để

có xã hội tốt đẹp”, pháp luật của Philippine cũng đã quy định về điều này.[15] Theo Nguyễn Thị Oanh: Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ

cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề.[18]

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội” [18, tr 19]

Trang 27

22

Cho dù có sự khác nhau, nhưng nhìn chung các khái niệm đều nói đến khía cạnh tác động tích cực của CTXH nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người, đặc biệt là nhóm người yếu thế, góp phần bảo đảm nền an sinh xã hội cho mọi người dân, hướng tới tiến bộ

ví dụ cụ thể:

Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của

số đông, có tổ chức và được trả công [27, tr 256]

Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ…và mang lại lợi nhuận [26]

Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu

là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch

vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất (Philip Kotler)

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc

độ khác nhau nhưng khái quát lại: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở

Trang 28

23

dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội

1.2.3 Khái niệm dịch vụ xã hội

Dịch vụ xã hội được hiểu là“những hoạt động đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội, phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người”

Như vậy, dịch vụ xã hội là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội, với những đặc trưng cơ bản là: dịch vụ xã hội nhằm mục tiêu phát triển xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận hay thương mại thuần tuý; chất lượng dịch

vụ xã hội không thể thuần tuý được đánh giá bằng giá cả trên thị trường như các dịch vụ khác mà chủ yếu được xem xét ở mức độ hài lòng của người dân Dịch vụ xã hội tác động đến con người nên bất luận dịch vụ xã hội công lập hay ngoài công lập thì yếu tố đạo đức, nhân văn luôn là yếu tố cốt lõi; trao đổi dịch vụ xã hội không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ mà luôn bị điều tiết bởi giá trị đạo đức, giá trị văn hoá, nhân sinh, và trách nhiệm của Nhà nước cũng như các chủ thể tham gia vào cung ứng dịch vụ xã hội Dịch vụ xã hội

có thể do Nhà nước, thị trường hoặc các tổ chức xã hội cung ứng, bao gồm các lĩnh vực cơ bản như: giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá - thông tin, thể thao, các dịch vụ cộng đồng và trợ giúp xã hội

1.2.4 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội

Từ khái niệm dịch vụ, dịch vụ xã hội, công tác xã hội thì DVCTXH có thể

được hiểu là một dạng của dịch vụ xã hội, hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực công tác xã hội mà ở đó dịch vụ công tác xã hội sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực thực hiện chức năng xã hội; đồng thời thúc đẩy môi trường

xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng

Trang 29

24

đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho con người

1.2.5 Khái niệm dich vụ công tác xã hội với trẻ em bị bạo lực

Trên cơ sở phân tích những khái niệm về TEBBL, CTXH, dịch vụ, dịch vụ xã hội, DVCTXH, học viên đưa ra khái niệm về DVCTXH đối với TEBBL như sau:

“Dịch vụ công tác xã hội đối với TEBBL là hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực CTXH mà ở đó NVCTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp TEBBL, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu thực hiện chức năng xã hội của TEBBL; đồng thời, thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ trợ giúp TEBBL, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa BLTE, thực hiện các quyền của trẻ em”

1.2.6 Khái niệm về nhân viên công tác xã hội

Nhân viên xã hội (social worker) được Hiệp hội các nhà CTXH chuyên nghiệp quốc tế (IASW) định nghĩa như sau: “Nhân viên công tác xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức, kỹ năng CTXH, họ có nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết, thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và thực tiễn”

Theo Thuật ngữ Lao động - Xã hội: Nhân viên công tác xã hội là những người được đào tạo chuyên môn về công tác xã hội để hỗ trợ cá nhân và cộng đồng tiếp cận các chính sách và dịch vụ xã hội [23]

Từ những khái niệm trên cho thấy NVCTXH là người được đào tạo về chuyên môn (kiến thức và kỹ năng) NVCTXH là người trợ giúp cá nhân, gia đình, làm việc nhóm, cộng đồng giải quyết vấn đề khó khăn của họ; kết nối họ với các dịch vụ và nguồn lực trong xã hội; thúc đẩy cung cấp dịch vụ trợ giúp và

Trang 30

25

sử dụng nguồn lực có hiệu quả; tham gia vào xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội

1.2.7 Dịch vụ công tác xã hội với trẻ em bị bạo lực

Dịch vụcông tác xã hội nói chung và DVCTXH đối với TEBBL nói riêng rất phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào trình độ phát triển nghề CTXH ở các quốc gia khác nhau mà số lượng các DVCTXH cũng khác nhau và cách phân loại cũng có thể khác nhau, nhưng tựu chung lại gồm các dịch vụ sau:

* Cung cấp các dịch vụ ban đầu đối với TEBBL cần sự bảo vệ khẩn cấp, bao gồm: (i) Tiếp nhận TEBBL cần sự bảo vệ khẩn cấp; (ii) Đánh giá các nhu cầu của TEBBL; trường hợp cần thiết thì chuyển gửi đối tượng tới các cơ

sở y tế, cơ quan công an hoặc các tổ chức phù hợp khác; (iii) bảo đảm sự an toàn và đáp ứng các nhu cầu khẩn cấp của đối tượng, gồm: nơi cư trú tạm thời, thức ăn hoặc quần áo, chi phí đi lại

* Đánh giá sức khỏe tâm thần: Nhân viên công tác xã hội cần thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết liên quan đến TEBBL để đánh giá một cách chi tiết, đầy đủ về tình trạng sức khỏe tâm thần của trẻ, các nguy cơ rủi ro về bạo lực có thể xẩy ra đối với trẻ cũng như nhu cầu của trẻ làm cơ sở cho việc can thiệp trị liệu cho trẻ

* Tư vấn, tham vấn, trị liệu tâm lý xã hội cho trẻ em bị khủng hoảng tạm thời hay lâu dài về mặt tâm lý do bạo lực gây ra

* Kết nối dịch vụ trợ giúp liên tục, chuyển gửi: Đối với TEBBL trong quá trình tư vấn, tham vấn, trị liệu nếu vẫn có nhu cầu cung cấp các dịch vụ khác mà cơ sở cung cấp DVCTXH không đáp ứng được thì có thể kết nối dịch vụ trợ giúp trẻ em với các cơ sở khác phù hợp với nhu cầu của TEBBL

* Tìm kiếm gia đình hoặc cơ sở chăm sóc thay thế tạm thời, vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ (trong trường hợp trẻ có nhu cầu)

* Hỗ trợ hồi gia đoàn tụ gia đình khi TEBBL được trị liệu đã ổn định

về mặt tâm lý và không còn nguy cơ rủi ro khi trở về đoàn tụ với gia đình

Trang 31

26

* Trợ giúp đối tượng tiếp các chính sách trợ giúp xã hội như chính sách trợ cấp xã hội, chính sách trợ giúp về giáo dục, học nghề, chính sách trợ giúp

về y tế, trợ giúp pháp lý, tùy theo nhu cầu của TEBBL)

* Giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ trước nguy cơ rủi ro bị bạo lực; giáo dục nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi phòng ngừa BLTE

* Vận động, kết nối nguồn lực trợ giúp TEBBL: Trong quá trình thực hiện

kế hoạch can thiệp trợ giúp, NVCTXH vận động, kết nối nguồn lực, dịch vụ trợ giúp TEBBL, nhất là các trường hợp gia đình các em gặp khó khăn

* Quản lý trường hợp (quản lý ca): Dịch vụ quản lý trường hợp được thực hiện theo tiến trình 7 bước, bao gồm: (i) Tiếp nhận đối tượng; (ii) Đánh giá sơ bộ nguy cơ rủi ro ban đầu; (iii) Thu thập thêm thông tin đánh giá đầy

đủ nguy cơ rủi ro, đánh giá nhu cầu toàn diện; (iv) Xây dựng kế hoạch can thiệp, trợ giúp; (v) Thực hiện kế hoạch can thiệp, trợ giúp; (vi) Lượng giá kết quả can thiệp trợ giúp; (vii) Đóng ca lưu giữ hồ sơ

1.2.8 Các nguyên tắc cung cấp dịch vụ công tác xã hội với trẻ em bị bạo lực

Cung cấp DVCTXH đối với TEBBL phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của DVCTXH, đồng thời cũng phải đáp ứng các nguyên tắc sau:

* Bảo đảm các nhu cầu của TEBBL: Việc cung cấp DVCTXH phải đáp

ứng đầy đủ và tốt nhất các nhu cầu của TEBBL Vì đó là những nhu cầu cần thiết bảo đảm cho sự phát triển của toàn diện của trẻ em từ nhu cầu bảo đảm cho

sự phát triển thể chất, nhu cầu bảo vệ an toàn, nhu cầu vui chơi giải trí và học tập, qua đó trẻ em được phát triển, được hòa mình vào xã hội và dần khẳng định mình, được người khác tôn trọng

* Vì lợi ích tốt nhất của TEBBL: Đây được xem là nguyên tắc xuyên suốt

trong thực hiện quyền trẻ em cũng như cung cấp DVCTXH với TEBBL Theo nguyên tắc này, trong bất kỳ tình huống nào, NVCTXH cũng phải đặt lợi ích tốt nhất của TEBBL lên hàng đầu trong các quyết định liên quan đến TEBBL

* Bảo đảm để trẻ em thực hiện được đầy đủ quyền và bổn phận của mình

Nguyên tắc này yêu cầu việc cung cấp DVCTXH với TEBBL phải bảo đảm thực

Trang 32

27

hiện đầy đủ và hài hòa các quyền của trẻ em; không được coi nhẹ bất cứ quyền hay bổn phận nào trong quá trình cung cấp DVCTXH với TEBBL

* Bảo đảm sự tham gia của trẻ em bị bạo lực, cha mẹ, người chăm sóc trẻ

em bị bạo lực trong suốt tiến trình giải quyết vấn đề của trẻ em; tôn trọng, lắng

nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của NVCTXH TEBBL, cha mẹ, người chăm sóc là người trong cuộc, hơn ai hết họ hiểu vấn đề, hoàn cảnh và khả năng của họ Vì vậy, họ cần được tham gia ngay từ đầu trong tiến trình hỗ trợ, can thiệp, từ bước đánh giá vấn đề tới ra quyết định, lựa chọn giải pháp thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả của giải pháp đó NVCTXH đóng vai trò xúc tác, vai trò định hướng trong quá trình trợ giúp đối tượng thực hiện giải pháp cho vấn đề của họ, động viên, khích lệ họ có niềm tin, tự giải quyết vấn đề, không làm thay, làm hộ

* Không phân biệt đối xử với trẻ em: Đối với TEBBL, mỗi em có hoàn

cảnh xuất thân khác nhau, điều kiện sống khác nhau, song các em đều có quyền được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em bình đẳng như nhau, không phân biệt trai, gái, giàu, nghèo, có cha mẹ hay không nơi nương tựa

1.3 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.3.1 Thuyết nhu cầu

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology) Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước [9]

Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc theo thứ tự từ thấp đến cao Sau đó, vào những năm

Trang 33

28

1970 và 1990, sự phân cấp này đã được Maslow hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc Trong luận văn này, học viên sẽ sử dụng Thang nhu cầu 5 bậc

Hình 1.2 Tháp nhu cầu của Maslow

Bậc thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "Sinh lý" (physiological)

- thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Bậc thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Bậc thứ ba: Nhu cầu về xã hội (love/belonging) - nhu cầu được giao lưu tình cảm và được thuộc về một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên

ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Bậc thứ tư: Nhu cầu được tôn trọng (esteem) - cần được quý trọng, kính mến, được tin tưởng

Bậc thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

Trang 34

1.3.2 Thuyết nhận thức - hành vi

Thuyết này được hai tác giả là Beck (1989) và Ellis (1962) phát triển,

họ quan tâm nhiều đến những điều kiện thực tâm thần học như rối loạn chức năng thần kinh, lo âu và khủng hoảng Thuyết nhận thức - hành vi lập luận

rằng: Chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải tác nhân kích thích (ngoại cảnh) quyết định phản ứng Sở dĩ có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn là vì có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn thì cần thay đổi chính những suy nghĩ không phù hợp.[16]

Vận dụng lý thuyết này trong nghiên cứu luận văn để đánh giá nhận thức và hành vi của trẻ em bị bạo lực bị lệch chuẩn như thế nào do hậu quả của bạo lực mạng lại, từ đó đánh giá biện pháp giáo dục, tư vấn, tham vấn, trị liệu tâm lý làm thay đổi nhận thức, hành vi sai lệch của trẻ em bị bạo lực

trong quá trình học tập, sinh hoạt tạo ra nhận thức - hành vi mới tích cực cho

trẻ, giúp trẻ hòa nhập cộng đồng tốt hơn

1.3.3 Lý thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống được phát triển vào 1940 của thế kỷ 20 do nhà sinh học Ludvig von Bertalanffy khởi xướng Lý thuyết này cho rằng mọi tổ chức hữu cơ

Trang 35

30

đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó, con người là một bộ phận của xã hội, gia đình cũng là một hệ thống, bao gồm các hệ thống nhỏ hơn là các thành viên trong gia đình và là phần tử của hệ thống lớn hơn là quần thể làng xóm.[18] Luận văn vận dụng Lý thuyết hệ thống để soi rọi, phân tích về mối quan hệ tác động qua lại giữa TEBBL với gia đình, bạn bè, trường lớp, cộng đồng để hỗ trợ, giúp đỡ TEBBL bởi vì TEBBL là một bộ phận cấu thành của gia đình, cộng đồng và xã hội

1.4 Các phương pháp công tác xã hội cá nhân

Để thực hiện cung cấp dịch vụ cho TEBBL thì có thể sử dụng nhiều phương pháp công tác xã hội khác nhau, tuy nhiên, đối với cung cấp DVCTXH đối với TEBBL tại một cơ sở xã hội thì phương pháp CTXH cá nhân và CTXH nhóm là phổ biến hơn cả

1.4.1 Lý thuyết công tác xã hội cá nhân

Cá nhân có sự độc lập của cá thể đó với người khác, có đặc điểm riêng, mong muốn riêng và các nhu cầu riêng biệt Từ tính đặc trưng này mà mục đích CTXH là hướng tới giúp cá nhân thỏa mãn nhu cầu, tăng cường chức năng xã hội thông qua các biện pháp can thiệp Điều này có nghĩa là không chỉ tác động để cá nhân thay đổi, mà thay đổi tương tác giữa cá nhân và môi trường để phù hợp với môi trường Khi cá nhân rơi vào tình huống khó khăn, gặp phải những vấn đề trong cuộc sống và họ không có khả năng tự giải quyết được vấn đề khi đó họ cần đến sự giúp đỡ của xã hội

Vận dụng lý thuyết này để học viên đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả của việc cung cấp DVCTXH đối cá nhân TEBBL tại Trung tâm Vận dụng lý thuyết này để học viên đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả của việc cung cấp DVCTXH đối cá nhân TEBBL tại Trung tâm

Trang 36

31

1.4.2 Phương pháp công tác xã hội cá nhân

- Khái niệm: Công tác xã hội cá nhân là hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng Trong đó, các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế - xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ một - một” [18]

- Mục đích: Là hướng tới tạo nên sự tương tác tích cực của con người với môi trường xã hội, giúp cá nhân và gia đình tiếp cận được những nguồn lực trong cộng đồng, phát huy những nội lực và ngoại lực để tăng cường sự tương tác giữa cá nhân, gia đình, cộng đồng với môi trường

1.5 Chính sách, pháp luật về trẻ em bị bạo lực và dịch vụ công tác

xã hội đối với trẻ em bị bạo lực

Trẻ em bị bạo lực là một trong những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bảo đảm để mọi trẻ em đều được hưởng quyền của mình Trong những năm qua, đã

có nhiều văn bản luật pháp, chính sách, chương trình về bảo vệ, chăm sóc trẻ em

đã được xây dựng và thực hiện

Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”

Luật trẻ em năm 2016 đã quy định về quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em; nghiêm cấm hành vi xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ

em Luật này đã quy định 14 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong đó có nhóm “trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực”; chính sách hỗ trợ đối với từng nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trách nhiệm

Trang 37

Với mục tiêu phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 Đề án đã đưa

ra nhiệm vụ và giải pháp phát triển hệ thống cơ sở cung cấp DVCTXH tại các cấp, phấn đấu đến năm 2020, nhân rộng mô hình cung cấp DVCTXH ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc các tỉnh, thành phố; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho 60.000 cán bộ, nhân viên và cộng tác viên CTXH

Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt và chỉ đạo các bộ ngành thực hiện rất nhiều chương trình, kế hoạch về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, điển hành như: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010 và 2012-

2020, Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 và Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020, Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em giai đoạn 2016-2020,…đã góp phần mang lại cho trẻ em một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ

em bị bạo lực

1.6.1 Các yếu tố khách quan

Chính sách, pháp luật của nhà nước: Chính sách, pháp luật của nhà nước

là yếu tố quan trọng tác động đến sự hình thành và phát triển nghề CTXH ở nước

ta, đặc biệt các chính sách liên quan trực tiếp đến việc đào tạo, phát triển đội ngũ NVCTXH, chính sách hành nghề, cung cấp DVCTXH, cơ chế kiểm soát chất

Trang 38

33

lượng DVCTXH, chính sách đối với NVCTXH…Tính đến thời điểm hiện nay, nhà nước đã ban hành một số chính sách cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hỗ trợ cho các em về y tế, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ học tập, dạy nghề, trợ cấp hằng tháng, hỗ trợ pháp lý,… Tuy vậy, khung khổ pháp luật về CTXH ở nước ta còn nhiều khoảng trống, chưa toàn diện; chưa có luật chuyên ngành về CTXH Các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật tuy có nhưng cũng chưa đầy đủ, giá trị pháp lý thấp, hiệu lực chưa cao Các văn bản luật có liên quan đến CTXH thì chỉ

có tác động gián tiếp, thiếu tính cụ thể, khó thực hiện Do vậy, việc phát triển DVCTXH nói chung và DVCTXH với TEBBL nói riêng cũng gặp nhiều khó khăn và thách thức

Yếu tố thuộc về trẻ em bị bạo lực (thân chủ hay người sử dụng dịch vụ):

TEBBL thường bị bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần; giai đoạn bị tổn thương nghiêm trọng các em thường có biểu hiện phản ứng chậm chạp, mất

đi sự hoạt bát, dễ giận dữ, nổi cáu, đôi khi hung hăng, phá phách, không nói thật trong thời gian tiếp xúc ban đầu do mất lòng tin Trẻ hay buồn bã, ít tập trung, khó tính, căng thẳng, hoài nghi, thiếu tin tưởng, hay có ác cảm và suy nghĩ tiêu cực, dẫn đến trẻ mất dần động cơ phấn đấu học tập, rèn luyện của mình; trẻ hay mặc cảm có tội, hay tự trách bản thân; trẻ ngại tiếp xúc với người khác nhất là người lạ, nếu phải gặp hoặc nói chuyện với người khác thì thường thụ động, nói rất ít, những điều này trực tiếp ảnh hưởng đến việc cung cấp DVCTXH

1.6.2 Các yếu tố chủ quan thuộc về tổ chức cung cấp dịch vụ công tác xã hội

Về đội ngũ cán bộ quản lý: Cán bộ quản lý là những người có tầm nhìn

bao quát, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động cung cấp DVCTXH của tổ chức, họ là những người hiểu biết, nắm rõ về các cơ chế chính sách, pháp luật liên quan đến DVCTXH, lợi ích của trẻ em Họ cũng là những người tìm kiếm các nguồn lực trợ giúp cho các đối tượng và các hoạt động của đơn vị Do vậy, nếu đơn vị có được những người cán bộ quản lý giỏi sẽ giúp cho đơn vị ngày càng phát triển và ngược lại

Trang 39

34

Về cơ sở vật chất phục vụ việc cung cấp DVCTXH: TEBBL là đối tượng

đã bị tổn thương cả về thể chất, tinh thần, cần được chữa trị, phục hồi, nhất là những TEBBL nghiêm trọng, nếu không có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, công cụ phục vụ việc đánh giá, tham vấn, tư vấn, trị liệu phù hợp thì việc cung cấp DVCTXH sẽ kém hiệu quả Nếu có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, công cụ phù hợp thì việc cung cấp DVCTXH sẽ có hiệu quả tốt hơn Nếu tổ chức cung cấp DVCTXH có đội ngũ NVCTXH chuyên nghiệp, nhiệt tình nhưng cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn, không đầy đủ các trang thiết bị thiết yếu, phòng trị liệu chật hẹp, bí bách thì cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động hỗ trợ, can thiệp giúp TEBBL

Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội: NVCTXH là những người có

kiến thức, kỹ năng, có chuyên môn vững chắc, có phương pháp của nghề CTXH chuyên nghiệp, có thái độ, đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng DVCTXH NVCTXH vừa là người trực tiếp cung cấp dịch vụ vừa là cầu nối giữa (thân chủ) người sử dụng dịch vụ với nguồn lực hỗ trợ của xã hội và kết nối giữa các bên liên quan với người sử dụng dịch vụ để tối đa hóa hiệu quả cung cấp DVCTXH Chất lượng cung cấp DVCTXH đối với TEBBL phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiểu biết và kỹ năng thực hành của NVCTXH Ngoài trình

độ chuyên môn nghiệp vụ họ cần có đủ tài, đủ đức mới thực hành các nội dung CTXH, can thiệp, hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng một cách chuyên nghiệp theo đúng triết lý, giá trị, nguyên tắc và phương pháp nghề CTXH, để đưa ra những giải pháp phù hợp, đáp nhu cầu thực tế của người sử dụng DVCTXH một cách tốt nhất Ngược lại nếu NVCTXH thiếu sự hiểu biết

và kỹ năng thực hành nghề CTXH thì việc cung cấp DVCTXH sẽ không có hiệu quả, thậm chí có thể gây tổn hại cho người sử dụng DVCTXH

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, học viên đã trình bày tổng quát khái niệm, đặc điểm, nhu cầu của TEBBL, nguyên nhân và hậu quả của BLTE Một số vấn đề lý luận cơ bản về DVCTXH đối với TEBBL, bao gồm: khái niệm; nội dung của

Trang 40

35

DVCTXH đối với TEBBL; lý thuyết vận dụng cho Luận văn; nguyên tắc cung cấp DVCTXH đối với trẻ em bị bạo lực; công cụ , tiêu chí đánh giá chất lượng DVCTXH; chính sách, pháp luật của nhà nước về cung cấp dịch vụ CTXH; các yếu tố tác động đến DVCTXH với TEBBL Nội dung trình bày ở chương 1 sẽ làm nền tảng cho việc phân tích đánh giá thực trạng cung cấp DVCTXH ở chương 2 và phân tích thực hành CTXH cá nhân đối với TEBBL ở chương 3; qua đó đề xuất các khuyến nghị với Nhà nước, Trung tâm, NVCTXH, gia đình

và TEBBL trong việc nâng cao chất lượng DVCTXH đối với TEBBL

Ngày đăng: 13/06/2017, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Hải Hữu (2016), Báo cáo nghiên cứu về “Công tác xã hội với trẻ em - thực trạng và giải pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu về “Công tác xã hội với trẻ em - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Năm: 2016
17. Bùi Thị Xuân Mai và các cộng sự (2009), “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai và các cộng sự
Năm: 2009
18. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
19. Plan International (2014), Báo cáo nghiên cứu “Tình trạng bạo lực trong các trường học châu Á” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu “Tình trạng bạo lực trong các trường học châu Á
Tác giả: Plan International
Năm: 2014
28. Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật của Mỹ (2012), Báo cáo khảo sát “Hiểu biết về bạo lực học đường” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát “Hiểu biết về bạo lực học đường
Tác giả: Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật của Mỹ
Năm: 2012
30. UNICEF (2014), Báo cáo “Tình hình trẻ em trên thế giới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo “Tình hình trẻ em trên thế giới
Tác giả: UNICEF
Năm: 2014
31. UNICEF, Bộ LĐTBXH và Đại học Edinburgh (2015), Báo cáo nghiên cứu quốc gia về nguyên nhân bạo lực với trẻ em” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu quốc gia về nguyên nhân bạo lực với trẻ em
Tác giả: UNICEF, Bộ LĐTBXH và Đại học Edinburgh
Năm: 2015
32. UNICEF (2013-2015), Nghiên cứu đa quốc gia về nguyên nhân bạo lực trẻ em” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đa quốc gia về nguyên nhân bạo lực trẻ em
34. Young Lives Việt Nam (2017), Nghiên cứu về “Những cuộc đời trẻ thơ”. B. Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về “Những cuộc đời trẻ thơ”
Tác giả: Young Lives Việt Nam
Năm: 2017
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và UNICEF (2014), Báo cáo nghiên cứu đa quốc gia về nguyên nhân bạo lực trẻ em Khác
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và UNICEF (2016), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam năm 2016 (Sitan) Khác
3. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quyết định số 518/QĐ-LĐTBXH ngày 10/4/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông Khác
4. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Thông tư số 23/2010/TT-LĐTBXH ngày 16/8/2010 quy định quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục Khác
5. Chính phủ (2012), Báo cáo tình hình thực hiện luật pháp, chính sách về phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em giai đoạn 2008 - 2010 Khác
7. Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em (2013,2014,2015,2016), Báo cáo kết quả thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em Khác
8. Hiệp hội cán bộ xã hội quốc tế và Hiệp hội các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế Khác
9. Học viện Khoa học xã hội (2016), Tập bài giảng về công tác xã hội (Lớp cao học công tác xã hội hợp tác với Philippine) Khác
10. Nguyễn Hải Hữu và Nguyễn Thị Thái Lan (2016), Báo cáo kết quả khảo sát cơ sở trợ giúp xã hội, đã chỉ ra nhu cầu Khác
12. Nguyễn Thị Thái Lan và cộng sự (2014), Chuyên nghiệp hóa các DVCTXH ở Việt Nam: thực trạng và nhu cầu Khác
13. Liên hợp quốc (2014), Tình hình trẻ em thế giới năm 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hình minh họa một số hình thức bạo lực trẻ em - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em
Hình 1.1 Hình minh họa một số hình thức bạo lực trẻ em (Trang 20)
Hình 1.2. Tháp nhu cầu của Maslow - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em
Hình 1.2. Tháp nhu cầu của Maslow (Trang 33)
Hình 2.2. Tổng số cuộc gọi đến Tổng đài tính theo năm - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em
Hình 2.2. Tổng số cuộc gọi đến Tổng đài tính theo năm (Trang 45)
Hình 2.3. Đối tượng gọi đến Tổng đài 18001567 - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em
Hình 2.3. Đối tượng gọi đến Tổng đài 18001567 (Trang 46)
Hình 2.4. Độ tuổi của người gọi đến Tổng đài 18001567 - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em
Hình 2.4. Độ tuổi của người gọi đến Tổng đài 18001567 (Trang 46)
Bảng 2.2. Số lượng trẻ em được cung cấp dịch vụ từ Văn phòng TVTLTLTE - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị bạo lực từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ truyền thông thuộc Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em
Bảng 2.2. Số lượng trẻ em được cung cấp dịch vụ từ Văn phòng TVTLTLTE (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w