1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh hà nam

92 218 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra: với tình hình thực trạng nghèo đói của thanh niên trên địa bàn tỉnh Hà Nam như vậy, các cấp chính quyền đã có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp n

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, luận văn Thạc sỹ Công tác xã hội với đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự

hướng dẫn khoa học của PGS TS Phạm Hữu Nghị

Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, được trích nguồn và trích dẫn đầy đủ

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI THANH NIÊN THUỘC HỘ NGHÈO 11

1.1 Khái niệm nghèo, hộ nghèo, thanh niên thuộc hộ nghèo 11

1.2 Đặc điểm và nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo 16

1.3 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo 22

1.4 Thể chế về dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo 31

1.5 Các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo 35

Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI THANH NIÊN THUỘC HỘ NGHÈO TẠI TỈNH HÀ NAM 39

2.1 Các điều kiện kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Nam có ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo 39

2.2 Thực trạng thanh niên thuộc hộ nghèo tại tỉnh Hà Nam 41

2.3 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam 50

2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo 60

Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI THANH NIÊN THUỘC HỘ NGHÈO TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM 68

3.1 Định hướng bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo 68

3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo 69

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC

Trang 4

UBND: Ủy ban nhân dân

XĐGN: Xóa đói giảm nghèo

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 và giai đoạn 2016 –

2020 12

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp hộ nghèo và thanh niên thuộc hộ nghèo 40

Bảng 2.2 Tình trạng hôn nhân của thanh niên thuộc hộ nghèo 44

Bảng 2.3 Nghề nghiệp của thanh niên thuộc hộ nghèo 46

Bảng 2.4 Nhu cầu cụ thể của thanh niên thuộc hộ nghèo 47

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ Nam - Nữ trong tổng số thanh niên thuộc hộ nghèo 41

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ thanh niên thuộc hộ nghèo tại nông thôn và thành thị 42

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu trình độ học vấn của thanh niên thuộc hộ nghèo 45

Biểu đồ 2.4 Thu nhập của thanh niên thuộc hộ nghèo (triệu đồng/năm) 46

Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ thanh niên thuộc hộ nghèo biết đến nghề CTXH 59

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đói nghèo là vấn đề xã hội phổ biến ở mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và nhất là với các nước đang phát triển

Tỷ lệ người nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất nhiều Thế kỷ XXI của con người đang diễn ra sôi động với bao thành tựu

đã đạt được trên mọi mặt của cuộc sống Chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào một tương lai tươi sáng về mọi mặt, chúng ta tiếp tục khám phá thế giới, tiếp tục tiến lên

và phát triển Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người đang trong hoàn cảnh đói nghèo mà không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người Theo số liệu của Ngân hàng thế giới (WB), hiện có khoảng 1,3 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em, ngoài ra cũng có một tỷ lệ không nhỏ là thanh niên thuộc các hộ nghèo Đói nghèo là lực cản trên con đường tăng trưởng và phát triển của quốc gia, của địa phương, nghèo khổ luôn đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã hội, bệnh tật, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội,…

Đối với Việt Nam, vấn đề đói nghèo vẫn là một thách thức lớn Mặc dù chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt từ sau công cuộc đổi mới được khởi xướng, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực

xã hội cho phát triển Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình); đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Tuy nhiên, cho đến nay tỷ

lệ hộ nghèo ở Việt Nam vẫn còn cao (hiện khoảng 10%) Trong đó tỷ lệ thanh niên thuộc hộ nghèo chiếm khoảng trên 10%/tổng số người nghèo Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nguồn lực thực hiện chính sách và Chương trình giảm nghèo hạn chế; Cơ chế phối hợp, chỉ đạo, điều hành ở các cấp, cơ chế phân cấp, trao quyền còn nhiều hạn

Trang 7

chế, bất cập; chưa khơi dậy được tiềm năng thế mạnh của địa phương, sự tham gia chủ động, tích cực, sáng tạo của người dân, của cộng đồng cùng nhau vươn lên thoát nghèo, xây dựng nông thôn mới; Các chính giảm nghèo hiện hành còn chồng chéo, phân tán, thiếu tính hệ thống Nhiều chính sách chưa khuyến khích người nghèo tích cực vươn lên thoát nghèo, đặc biệt chưa khơi dậy, thúc đẩy được tiềm năng của thanh niên vươn lên thoát nghèo [3]

Người nghèo nói chung, thanh niên thuộc hộ nghèo nói riêng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Trong khi đó, việc vận dụng các phương pháp công tác xã hội, cung cấp các dịch vụ CTXH hỗ trợ người nghèo vẫn còn khó khăn thách thức

Mục đích của công tác xã hội, dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc

hộ nghèo nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng nghèo nâng cao năng lực để thoát nghèo bền vững, giúp họ đối mặt, vượt qua những rủi ro như thất học, thiếu việc làm, thiếu vốn Nhân viên công tác xã hội được coi là những người có trọng trách lớn trong giúp đỡ họ tự vượt qua những khó khăn trong cuộc sống bằng những kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù Bên cạnh đó, còn thúc đẩy các điều kiện

xã hội để cá nhân, gia đình nghèo tiếp cận được các chính sách, nguồn lực xã hội, đáp ứng nhu cầu cơ bản

Hà Nam là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên Những năm qua, kinh tế xã hội của tỉnh có bước phát triển khá, trật tự an toàn

xã hội được giữ vững Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn cao Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2015 (chuẩn nghèo đa chiều), tổng số

hộ nghèo toàn tỉnh là: 15.571 hộ, chiếm tỷ lệ 5,81%; số hộ cận nghèo: 12.857 hộ, chiếm tỷ lệ 4,80% Tỷ lệ thanh niên thuộc hộ nghèo chiếm khoảng 12 %/tổng số người nghèo Các nguyên nhân nghèo chủ yếu là do ốm đau bệnh nặng; không có sức lao động; thiếu vốn sản xuất; thiếu phương tiện sản xuất, mắc tệ nạn xã hội

Muốn đạt được hiệu quả thiết thực nhằm giảm nhanh và bền vững tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao mức sống cho người dân đặc biệt là đối với thanh niên thì mỗi địa

Trang 8

phương trong tỉnh phải có chương trình giảm nghèo cụ thể phù hợp với từng đối tượng nghèo, trên từng địa bàn dân cư; xây dựng và cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính chuyên nghiệp nhằm trợ giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững

Vấn đề đặt ra: với tình hình thực trạng nghèo đói của thanh niên trên địa bàn tỉnh Hà Nam như vậy, các cấp chính quyền đã có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp nào trong đó có việc vận dụng các phương pháp, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội để hỗ trợ người nghèo, từ đó tạo những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và ko bị tái nghèo

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Dịch vụ Công tác xã hội đối với thanh niên

thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình

Với đề tài này, tôi mong muốn có được những đánh giá khách quan về thực trạng các dịch vụ CTXH cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo tại tỉnh Hà Nam; từ đó đề xuất một số giải pháp dưới góc độ công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo, giúp cho đời sống một bộ phận thanh niên ngày càng tốt hơn, phát huy được nội lực của thanh niên vào quá trình phát triển kinh tế -

xã hội trên địa bàn tỉnh nói riêng và của đất nước nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo là nhằm giúp đỡ thanh niên thuộc hộ nghèo, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực để thoát nghèo bền vững, thúc đẩy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình nghèo tiếp cận được các chính sách, nguồn lực xã hội, đáp ứng nhu cầu cơ bản của mình Dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo là hoạt động động chuyên nghiệp giải quyết vấn đề nghèo đói và hướng tới bảo đảm an sinh xã hội Cho nên vấn đề này cần được quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh và cách nhìn nhận khác nhau

Hiện nay, tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều ấn phẩm được đề cập trên các báo, luận án, luận văn thạc sĩ,

Trang 9

khóa luận tốt nghiệp đề cập đến vấn đề về nghèo đói, về người nghèo và về thanh niên như:

- Nghiên cứu khoa học: “Tình trạng nghèo đói và chính sách xóa đói, giảm

nghèo ở Việt Nam hiện nay” của tác giải Lê Phương Thảo, năm 2010

- Nghiên cứu: “Đói nghèo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hằng và

Nguyễn Văn Thiều, NXB Bộ Lao động - TBXH Hà Nội 1993

- Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam của Bộ Lao

động - TBXH và tổ chức phát triển Liên hợp quốc, năm 2015 Mục tiêu của Báo cáo nhằm đánh giá tổng quan các kết quả chính của các nghiên cứu trong giai đoạn

2005 - 2013 về giảm nghèo Việt Nam Báo cáo cho rằng các nghiên cứu về giảm nghèo được thực hiện từ rất sớm, từđầu những năm 90 của thế kỷ trước, gắn liền với việc thực hiện các chính sách giảm nghèo Phần lớn là các nghiên cứu định lượng, thậm chí thuần túy định lượng, không có nhiều các nghiên cứu định tính trong lĩnh vực này Các nghiên cứu giảm nghèo có sự tham gia của người dân cũng không được thực hiện nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu ở quy mô lớn Thời gian gần đây, xu hướng lồng ghép, gia tăng nghiên cứu định tính trong lĩnh vực giảm nghèo được chú trọng nhiều hơn, nhằm đánh giá toàn diện hơn về các chiều cạnh của vấn

đề nghèo Trên cơ sở đó, Báo cáo đã đưa ra những khuyến nghị, gợi ý sâu cho các họa động giám sát theo Nghị quyết 621/NQ-UBTVQH13 ngày 22/7/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 13

- Báo cáo Quốc gia về thanh niên Việt Nam của Bộ Nội vụ và Quỹ dân số

liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA), năm 2015 Mục tiêu của Báo cáo là tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục, việc làm và chăm sóc sức khỏe củathanh niên cũng như sự tham gia của thanh niên trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách nhằm đưa ra các khuyến nghị cho công tác hoạch định chính sáchphát triển lực lượng thanh niên Việt Nam trong thời gian tới

Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu khác về nghèo đói, về CTXH và dịch vụ CTXH đối với người nghèo

Trang 10

Trong bài viết: “Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam- Những

khuyến nghị giải pháp” tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2014) đã đi sâu nghiên cứu nhu

cầu và thực trạng mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ hiện nay ở Việt Nam, qua

đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển hệ thống dịch vụ xã hội ở nước ta [20]

Quan tâm tới nhóm yếu thế trong sự chuyên nghiệp hóa dịch vụ công tác xã

hội, trong bài viết: “Sự chuyên nghiệp trong dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm

đối tượng yếu thế” tác giả Hà Thị Thư (2016) khẳng định nhu cầu dịch vụ CTXH ở

Việt Nam ngày càng cao, đặc biệt là đối với nhóm yếu thế Tác giả đã phân tích vai trò của dịch vụ CTXH với nhóm yếu thế và chỉ ra hai khía cạnh của sựu chuyên nghiệp là “con người chuyên nghiệp” và “môi trường chuyên nghiệp” [37]

Nghiên cứu “Đánh giá nhanh thực trạng và nhu cầu tham gia của thanh niên

trong xây dựng và thực thi chính sách liên quan về việc làm, giáo dục và y tế” của

Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực hiện năm 2013 đã đánh giá nhu cầu và phương thức tham gia xây dựng và thực thi chính sách của thanh niên tại 04 tỉnh Hải Dương, Hòa Bình, Quảng Bình và Bến Tre: Đánh giá định lượng được thực hiện với 1.260 thanh niên thuộc 3 nhóm thanh niên nông thôn, thanh niên khu công nghiệp và thanh niên sinh viên; đánh giá định tính được thực hiện với các cán bộ các sở, ban, ngành liên quan và đoàn cơ sở [39]

Tuy nhiên, chưa có đề tài nào trực tiếp, đi sâu nghiên cứu vào vấn đề dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo để có thể đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với đối với thanh niên thuộc hộ nghèo Vì vậy, với đề tài này tác giả không chỉ muốn tìm hiểu thực trạng về đời sống của thanh niên thuộc hộ nghèo, thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo trên địa bàn mà còn muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

Việc nghiên cứu vấn đề dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam sẽ bổ sung thêm vào những nghiên cứu về người nghèo, thanh niên thuộc hộ nghèo

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn (thông qua thực tiễn tại tỉnh Hà Nam) về dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Làm sáng tỏ những vấn lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

- Phân tích, đánh giá thực trạng, nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo tại tỉnh Hà Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam

- Đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh

Hà Nam

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Một số cán bộ công tác trong lĩnh vực giảm nghèo của tỉnh Hà Nam;

- Thanh niên thuộc hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Nam;

- Một số cán bộ chính quyền, đoàn thể tỉnh Hà Nam

Trang 12

- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam tại cộng đồng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận chung là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Công tác xã hội là một ngành khoa học xã hội, có nền tảng là triết học Mác – Lê nin, do đó mọi phương pháp tiếp cận vấn đề của khoa học này đều dựa trên nền tảng là phương pháp luận khoa học cơ bản nhất

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Với nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp trong quá trình nghiên cứu nhằm đảm bảo các thông tin thu được khách quan, khoa học, bao gồm:

- Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp phân chia, chia nhỏ những số liệu, dữ liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố thành từng cụm, từng lĩnh vực, từng chi tiết cụ thể để tìm ra những ý nghĩa của số liệu đó; sau đó lại tổng hợp lại, đưa ra nhận định và những bình luận, làm sáng tỏ các quan điểm cần chứng minh

Đề tài sử dụng một số tài liệu liên quan như Giáo trình nhập môn CTXH, lý thuyết CTXH, báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam; báo cáo tổng quan các nghiên cứu về nghèo đói ở Việt Nam năm 2015; tài liệu hội nghị tổng kết công tác giảm nghèo hàng năm; báo cáo tổng kết giai đoạn và báo cáo hàng năm của các Sở ngành liên quan (Lao động - TBXH; Tỉnh Đoàn Hà Nam,…)

Trang 13

Phân chia, chia nhỏ những số liệu, dữ liệu thành từng cụm, từng lĩnh vực, từng chi tiết cụ thể để tìm ra những ý nghĩa của số liệu đó; sau đó lại tổng hợp lại, đưa ra nhận định và những bình luận, làm sáng tỏ các quan điểm cần chứng minh

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu sâu sác về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, động cơ, quan điểm, chính kiến của các đối tượng được phỏng vấn đối với các vấn đề liên quan

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả phỏng vấn 70 người, bao gồm 50 thanh niên thuộc hộ nghèo và 20 người khác là lãnh đạo cấp xã, cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cán bộ Đoàn thanh niên, hội phụ nữ

- Phương pháp quan sát

Là phương pháp thu thập thông tin từ thực tế xã hội thông qua các tri giác như nghe, nhìn nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài, phương pháp quan sát nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát hoàn cảnh sống, thái độ, biểu hiện thể chất và tâm thần của người được điều tra

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với các đối tượng

Là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên

Đề tài xây dựng bộ công cụ bảng hỏi dành cho khách thể nghiên cứu là thanh niên thuộc hộ nghèo, với các câu hỏi nhằm khai thác thông tin phục vụ cho việc tổng hợp số liệu nghiên cứu

Nội dung bảng hỏi gồm các thông tin:

Đặc điểm nhân khẩu: Giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thu nhập…

Trang 14

Đặc điểm trợ giúp xã hội: về chăm sóc sức khỏe, đời sống tinh thần, lao động sản xuất, trợ giúp từ các cá nhân, tổ chức, chính quyền

Các lợi ích, cơ hội tiếp cận các quyền và thông tin về chính sách, thời sự, kiến thức chăm sóc sức khỏe

Những mong muốn, nguyện vọng của thanh niên thuộc hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu

Cỡ mẫu: Đề tài chọn 50 mẫu phỏng vấn thanh niên thuộc hộ nghèo tại 6 xã, phường, thị trấn địa bàn tỉnh Hà Nam để nghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu sau

Trang 15

Giúp cho thanh niên thuộc hộ nghèo nhận ra vấn đề và tiềm năng giải quyết vấn đề của mình Bên cạnh đó, hiểu rõ các chế độ trợ cấp đối với họ và các dịch vụ trợ giúp của công tác xã hội trong lĩnh vực này

Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành có liên quan hiểu biết thêm về các chế độ trợ cấp, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối thanh niên thuộc hộ nghèo và những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên xã hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp người nghèo

Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về công tác

xã hội nói chung và dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo nói riêng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này khi thực hiện nhiệm vụ chuyên môn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục, luận văn có 3 chương sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo tại tỉnh Hà Nam

Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI THANH NIÊN THUỘC HỘ NGHÈO

1.1 Khái niệm nghèo, hộ nghèo, thanh niên thuộc hộ nghèo

1.1.1 Khái niệm nghèo và hộ nghèo

Khái niệm nghèo

Đói nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Nó tồn tại ở mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và nhất là với các nước đang phát triển Trong đó nổi lên các vấn đề phân hóa giàu nghèo, phân tầng theo thu nhập, phân tầng theo khu vực sống, theo mức sống

Tùy theo hướng tiếp cận cũng như quan điểm của mỗi tổ chức, cá nhân nghiên cứu nghèo mà có các khái niệm khác nhau

Theo Tuyên bố Liên Hợp Quốc tháng 6/2008: Nghèo có nghĩa là không đủ

ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, dễ bị bạo hành, không có quyền, bị loại trừ, phải sống ngoài lề xã hội hoặc dễ gặp rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và vệ sinh Nghèo là sự phủ nhận quyền lựa chọn và cơ hội, là sự vi phạm nhân phẩm con người Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái bình dương (ESCAP) năm 1993 xác định rằng: ‘Nghèo khổ là tình trạng một

bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người

mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”

Theo Ngân hàng thế giới: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm

vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập, mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực

Trang 17

Tổ chức Liên hợp quốc (UN) cho rằng: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”

Các khái niệm nghèo đều phản ánh ba khía cạnh chù yếu của người nghèo là:

Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người và thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

Như vậy, nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo không chỉ dừng lại ở việc thiếu hụt về thu nhập mà cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt các nhu cầu

cơ bản của con người

Khái niệm hộ nghèo

Hộ gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau thành một đơn vị xã hội nhỏ nhất - tế bào xã hội, gắn bó với nhau bằng các quan hệ kinh tế, hôn nhân, huyết thống và các quan hệ khác

Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo

Căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho từng giai đoạn cụ thể Trên cơ sở chuẩn nghèo quốc gia, các địa phương xác định chuẩn nghèo phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương

Bảng 1 Chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 và giai đoạn

2016 - 2020 như sau: [28], [29]

STT Hộ

nghèo

Chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn

Trang 18

khu vực

nông

thôn

400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000

đồng/người/năm) trở xuống

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ

số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

đồng/người/tháng (từ 6.000.000

đồng/người/năm) trở xuống

Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

1.1.2 Các phương pháp đánh giá nghèo

Nghèo đơn chiều

Phương pháp đánh giá nghèo đơn chiều thường dựa vào thu nhập hay chi tiêu Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra con số thu nhập để đánh giá nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 01 đôla (USD) mỗi ngày cho mỗi người,

số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”

Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia

Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith đưa ra quan điểm: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì

Trang 19

ma đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức”

Ở Việt Nam ta, thời gian qua, chuẩn nghèo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng nghèo hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản” Nhu cầu cơ bản là chi cho nhu cầu tối thiểu về lương thực và chi cho phi lương thực thiết yếu (giáo dục, y

tế, nhà ở…) Như vậy, mặc dù một số hộ nghèo không đứng trong danh sách hộ nghèo nhưng nhiều gia đình ở vùng sâu, vùng xa lại đang thiếu thốn các dịch vụ y

tế, nước sạch, giáo dục, …

Nghèo đa chiều

Cách xác định hộ nghèo theo phương pháp thu nhập được xem là chuẩn của nhiều quốc gia trong nhiều năm trước Tuy nhiên, hiện nay việc đo lường nghèo đó không còn phù hợp với xu thế mới Một là, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội…) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/ giáo dục công…); Hai là, có một số hộ có thu nhập trên chuẩn nghèo thì trong một số trường hợp thu nhập đó sẽ không chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu như thay vì chi tiêu cho y tế, giáo dục thì lại chi cho thuốc lá, rượu bia và các mục đích khác Đối với nước ta- một nước đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010 với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và di cư rất nhanh, phương pháp tiếp cận nghèo này càng bộc lộ nhiều hạn chế

Do đó, các chuyên gia đã nghiên cứu, xác định thêm cách tính mới đó là nghèo đa chiều Nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Nó đo lường mức sống của người dân một cách đầy đủ hơn, toàn diện hơn, cả về mặt kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống theo các chiều khác nhau như: Giáo dục, y tế, môi trường, thông tin, dịch vụ cơ bản, rủi ro,…

Hiện nay, có 32 quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu chuyển đổi và áp dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang đo lường

Trang 20

nghèo đa chiều nhằm mục đích xác định đối tượng nghèo, đánh giá và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội

Tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13 đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm

2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu (thu nhập bao gồm chuẩn mức sống tối thiểu và nghèo cùng cực) và đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Ngày 15 tháng 9 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.” Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch

và vệ sinh, tiếp cận thông tin [27]

1.1.3 Khái niệm thanh niên thuộc hộ nghèo

Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người

ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên

Về mặt sinh học, thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình tiến hóa của cơ thể Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực Dưới góc độ văn học, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng:

“thanh niên là tình yêu và mùa xuân của cuộc sống” là “bình minh của cuộc đời”

Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền

Trang 21

thống, tuổi thọ bình quân v.v mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu

từ 15 hoặc 16 Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40 Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên

Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác Nhưng cũng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới 18 tuổi

Theo Từ điển tiếng Việt: Thanh niên là người còn trẻ đang ở độ tuổi trưởng thành

Luật Thanh niên Việt Nam năm 2005 quy định: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi

Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu

là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi, gắn với vấn

đề nghèo đói, việc làm và tại một địa phương nhất định

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm thanh niên là người từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi

Thanh niên thuộc hộ nghèo là những người từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi sống trong các hộ nghèo theo chuẩn nghèo của địa phương, trong đó, thanh niên có thể là chủ hộ hoặc không là chủ hộ

1.2 Đặc điểm và nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo

1.2.1 Đặc điểm của thanh niên thuộc hộ nghèo

Đặc điểm về tâm sinh lý: Thanh niên là những người có thể chất tốt, sức

khỏe dồi dào, tinh thần vui vẻ, trẻ trung, yêu đời, thích giao lưu, dám nghĩ, dám làm

và chấp nhận mạo hiểm Đối với thanh niên thuộc hộ nghèo thì họ có đặc điểm riêng

Trang 22

Khi rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ do mắc bệnh hiểm nghèo, bị dị tật, do tai nạn, sức khỏe yếu hoặc không có sức lao động, nhiều thanh niên có biểu hiện tâm lý mặc cảm, tự ti với hoàn cảnh cuộc sống không được bằng mặt bằng chung của cộng đồng Từ đó dẫn đến việc một số người nghèo ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể

Tuy nhiên, thanh niên là lứa tuổi luôn ẩn chứa ý chí và sức sống mạnh mẽ,

họ là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn nhân lực quan trọng, vì vậy họ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế gia đình và xã hội Đối với những thanh niên là chủ hộ nghèo, họ thường có quyền trong việc ra các quyết định chính trong gia đình và có tiếng nói quan trọng hơn trong phân phối thu nhập, chi tiêu trong gia đình, do đó những người này có tâm lý mạnh mẽ, tích cực hơn Đối với những thanh niên nghèo do khuyết thiếu về phương tiện sản xuất, vốn sản xuất kinh doanh, hoặc bị rủi ro trong cuộc sống mà không phải do bản thân mắc tệ nạn xã hội thì họ

có đặc điểm tâm lý tích cực, trong họ luôn có một khát khao vươn lên, thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn, thoát khỏi danh sách hộ nghèo, đảm bảo cho bản thân và gia đình một cuộc sống no đủ, bền vững

Tuy nhiên, nhiều người có tiềm năng thoát nghèo nhưng vì mặc cảm, tự ti về hoàn cảnh nghèo khó nên bản thân họ không nhận ra hết những giá trị và tiềm năng sẵn có của mình, hoặc chưa có ai giúp họ phát hiện ra tiềm năng, chưa có môi trường thuận lợi để họ phát huy tiềm năng đó

Bên cạnh đó có một số nhỏ vẫn còn tư tưởng buông xuôi, phó mặc và chưa thực sự quyết tâm vươn lên, không dám đấu tranh, không dám bộc lộ bản thân, ngại thay đổi Không mạnh dạn tham gia đề xuất ý kiến, họ nghĩ rằng lời nói của mình không có trọng lượng, không được chấp thuận

Đặc điểm kinh tế - xã hội: thanh niên thuộc hộ nghèo là những người có thu

nhập bình quân thấp dưới chuẩn nghèo quốc gia, thiếu vốn sản xuất kinh doanh, thiếu phương tiện sản xuất đặc biệt là đất đai Không biết cách làm ăn hoặc không

có tay nghề, đông người ăn theo Đại bộ phận sống tại nông thôn và chủ yếu tham gia làm nông nghiệp Họ ít tham gia các hoạt động cộng đồng, giao lưu, hội họp

Trang 23

Người nghèo nói chung, thanh niên thuộc hộ nghèo nói riêng luôn được xã hội quan tâm hỗ trợ khắc phục những khó khăn nội tại, vướn lên thoát nghèo

1.2.2 Nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo

Vận dụng Thuyết nhu cầu của Maslow chúng ta thấy rằng, về căn bản, nhu cầu của con người nói chung được chia thành hai nhóm chính là nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs) với 5 thang bậc xếp từ thấp đến cao Đối với thanh niên thuộc hộ nghèo thì nhu cầu chủ yếu là ở những thang bậc thấp với những nguyện vọng, mong muốn đặc thù tùy từng trường hợp, từng hoàn cảnh

cụ thể Những nguyện vọng, mong muốn đó nhằm bù đắp những thiếu hụt cơ bản của họ

Nhu cầu về thể chất/sinh lý: Nhu cầu này được gọi là nhu cầu của cơ thể

hoặc nhu cầu sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,… đây là những nhu cầu cơ bản nhất, mạnh nhất của người nghèo Họ chưa thể nghĩ đến, chưa thể xác định các nhu cầu cao hơn nếu họ chưa được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của họ, của gia đình họ Khi thanh niên thuộc hộ nghèo và gia đình họ còn đang bị đói, bị yếu thì khi đó các nhu cầu khác chỉ là thứ yếu, không thể mời họ tham gia sinh hoạt Đoàn và các hoạt động xã hội khác

Nhu cầu về an toàn: Khi người nghèo đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản,

thì khi đó, các nhu cầu về an toàn sẽ xuất hiện Nhu cầu an toàn này được thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Người nghèo mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, môi trường sống trong sạch hợp vệ sinh, có nhà cửa để ở,… Các chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ khi nghỉ việc, các kế hoạch để dành tiết kiệm,… cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này

Qua nghiên cứu hai cấp bậc nhu cầu trên, chúng tôi thấy, muốn thanh niên thuộc hộ nghèo phát triển ở mức cao hơn thì phải đáp ứng các nhu cầu bậc thấp của

họ trước Các dịch vụ CTXH nhằm bù đắp những thiếu hụt của hộ nghèo như dịch

Trang 24

vụ về chăm sóc y tế (được tiếp cận dịch vụ y tế; được cấp thẻ bảo hiểm y tế), chất lượng nhà ở; nguồn nước sạch; nhà tiêu hợp vệ sinh

Nhu cầu về xã hội: Đây là nhu cầu về mối quan hệ giữa người với người,

quan hệ giữa con người và tổ chức, quan hệ giữa con người với tự nhiên Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm Maslow đã nhắn mạnh rằng: nếu nhu cầu về xã hội không được thỏa mãn, đáp ứng

nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh Ví dụ người sống độc thân thường hay mắc bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô hấp hơn những người sống với gia đình

Con người nói chung, người nghèo nói riêng luôn có nhu cầu yêu thương gắn

bó, họ muốn được giao tiếp, được quan hệ xã giao để phát triển

Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng

Người nghèo, đặc biệt là thanh niên nghèo có nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, đồng thời chính họ cũng có nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân về khả năng thoát nghèo cho bản thân và gia đình, vươn lên một sự phát triển cao hơn, được cộng đồng, xã hội ghi nhận và đánh giá cao

Nhu cầu được thể hiện mình: Nhu cầu của thanh niên nghèo mong muốn được

là chính mình, được làm những cái mà mình cần làm, muốn làm Đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội, giúp được bản thân và gia đình thoát nghèo bền vững

Tóm lại, thanh niên thuộc hộ nghèo có những nhu cầu từ cơ bản, tối thiểu đến mức cao, để thỏa mãn các nhu cầu đó, họ có những nguyện vọng và mong muốn đặc thù như mong muốn được hỗ trợ vay vốn ưu đãi, hỗ trợ đất, phương tiện sản xuất, mong muốn được tư vấn dạy nghề, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động, hướng dẫn cách làm ăn hoặc trợ cấp xã hội Việc phân tích các nhu cầu,

Trang 25

nguyện vọng của thanh niên thuộc hộ nghèo giúp nhân viên CTXH cung cấp, điều phối các dịch vụ CTXH cho họ một cách chính xác nhất, hiệu quả nhất

1.2.3 Nguyên nhân nghèo của thanh niên

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh nghèo của thanh niên Ở phạm vi nghiên cứu này, tác giả phân tích một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến nghèo đói như sau:

- Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn

Thanh niên nghèo và gia đình họ thường thiếu nhiều nguồn lực như vốn sản xuất, đất canh tác, phương tiện sản xuất Họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ, đồng thời nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói

- Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định

Những thanh niên thuộc hộ nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát nghèo

Học vấn thấp và đói nghèo vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau, thường là bạn đồng hành miễn cưỡng đáng buồn của nhau Đa số người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp Trình độ học vấn thấp dẫn đến không biết cách làm ăn, không có tay nghề, làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định Các khu công nghiệp và khu đô thị mới ngày càng phát triển là cơ hội cho thanh niên nhưng đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với thanh niên nghèo, bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt hơn trong các khu công nghiệp, nếu tìm được chỗ làm cũng chỉ là lao động phổ thông Đây là một thực trạng phổ biến trong cả nước

- Nguyên nhân về nhân khẩu học

Quy mô, cơ cấu hộ gia đình có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ và là một trong những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đối

Trang 26

với thanh niên Các nguyên nhân về nhân khẩu học bao gồm gia đình đông con, thiếu lao động, nhiều người ăn theo, bản thân mắc các tệ nạn xã hội

Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói Đông con là một trong những đặc trưng nổi bậc của các hộ gia đình nghèo Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ sống ở nông thôn mà đặc biệt là những hộ nghèo là do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khỏe sinh sản Tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng tránh thai thấp, tỷ lệ nam giới nhận thức chưa đầy đủ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng biện pháp tránh thai chưa cao Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế

- Đặc điểm tự nhiên và cơ cấu sản xuất

Do đặc điểm tự nhiên của khu vực nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp truyền thống, công nghiệp chưa có điều kiện phát triển mạnh và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn hạn chế

là một trong những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của thanh niên Thực tiễn cho thấy, điều kiện giao thông nông thôn nơi nào không thông suốt, nơi đó sẽ có một nền kinh tế - xã hội “ốm yếu”, ngược lại giao thông nông thôn thông suốt sẽ tạo thuận lợi cho sản phẩm nông nghiệp được tiếp cận với thị trường, từ đó nâng cao đời sống người dân nói chung và đăc biệt là góp phần xóa đói giảm nghèo

Nhiều trường hợp sinh sống, làm ăn trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi, đặc biệt là những người làm nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng từ thời tiết, khí hậu Bên cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro của người nghèo rất kém do nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe, )

Ngoài ra, người nghèo chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, năng suất thấp do không có trình độ để áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Khả năng nâng

Trang 27

cao năng suất là rất khó khăn trong khi do áp lực của đô thị hóa ngày càng mạnh, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp

- Những tác động của chính sách vĩ mô đến người nghèo

Trong những năm qua, công tác xóa đói giảm nghèo luôn được các cấp chính quyền, các địa phương quan tâm triển khai thực hiện với nhiều chính sách giảm nghèo tuy nhiên cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, các chính sách hỗ trợ đa phần là “cho con cá” cho nên cũng là những nguyên nhân không cải thiện được tỷ lệ hộ thoát nghèo

Các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói nói trên nó tác động qua lại với nhau làm cho tình trạng đói nghèo của thanh niên thêm trầm trọng, khiến cho các hộ thanh niên nghèo khó có thể vượt qua nếu nhà nước không có chính sách, những giải pháp hữu hiệu riêng đối với từng hộ thanh niên nghèo, từng cá nhân nghèo

1.3 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

1.3.1 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

- Khái niệm công tác xã hội

Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và

Trang 28

lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống

Đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm của tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010), theo đó: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [19]

- Khái niệm dịch vụ công tác xã hội

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, năm 2004): Dịch vụ xã hội là các sáng kiến, can thiệp vào các nhu cầu và vấn đề của hầu hết nhóm đối tượng dễ tổn thương, bao gồm cả việc ngăn chăn bạo lực, nghèo đói, tan vỡ gia đình, tàn tật (tinh thần và thể chất) và tuổi già Những ví dụ cụ thể về dịch vụ xã hội là: phục hồi chức năng, nhà dịch vụ trợ giúp, nhà chăm sóc và nuôi dưỡng, dịch vụ tư vấn, dịch vụ dinh dưỡng,… và các hình thức khác được thực hiện bởi những người làm CTXH, các chuyên gia liên quan

Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013) cho rằng: Dịch vụ CTXH có thể được coi

là một loại hình DVXH được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên CTXH Việc cung cấp các dịch vụ CTXH không thể tách rời với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền thông và các dịch vụ khác Chính vì vậy, nhân viên CTXH phải

có sự kết nối chặt chẽ với các dịch vụ xã hội khác trong quá trình thực hiện dịch vụ CTXH

Theo tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2016): Dịch vụ CTXH là những dịch vụ

hỗ trợ, can thiệp với các các nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội nhằm giúp các đối tượng giải quyết những vấn đề của mình đảm bảo cuộc sống và môi trường phù hợp, đáp ứng tốt nhất lợi ích của thân chủ

Dịch vụ xã hội bao gồm cả dịch vụ CTXH, dịch vụ CTXH là một loại dịch

vụ xã hội Trong đó các dịch vụ CTXH hướng nhiều tới các hoạt động hay dịch vụ trợ giúp xã hội cho những người có vấn đề xã hội, đặc biệt nhóm đối tượng có hoàn

Trang 29

cảnh khó khăn như người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi, người có HIV/AIDS, người bị bạo lực gia đình, người nghiện ma túy, người bị tâm thần, người nghèo,…

Khái niệm dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo

Từ các khái niệm nêu trên, khái niệm dịch vụ CTXH đối với thanh niên

thuộc hộ nghèo được xác định như sau: Dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ

nghèo là các hoạt động có chủ đích, được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên CTXH nhằm phòng ngừa, khắc phục rủi ro, đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng cho thanh niên thuộc hộ nghèo Dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo nhằm hướng đến mục tiêu đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội cho thanh niên thuộc hộ nghèo [19]

Dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo là hoạt động có chủ đích được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên CTXH Trong quá trình điều phối, cung cấp các dịch vụ CTXH, nhân viên CTXH phải tuân thủ các nguyên tắc của CTXH Tức là, để chuyên ghiệp hóa dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo thì cần phải có đội ngũ nhân viên, cộng tác viên được đào tạo bài bản về CTXH

Dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo có chức năng phòng ngừa các khả năng xảy ra rủi ro cho thanh niên thuộc hộ nghèo như bệnh tật, bỏ học giữa chừng, thất nghiệp, bạo lực,… Khi chức năng phòng ngừa không thực hiện được thì dịch vụ CTXH hướng đến việc giúp đỡ thanh niên thuộc hộ nghèo tiếp cận các dịch

vụ nhằm hạn chế ảnh hưởng của các rủi ro mà họ gặp phải Chức năng cuối cùng là giúp thanh niên thuộc hộ nghèo khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng

Đối tượng thụ hưởng của dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

là thanh niên thuộc hộ nghèo và gia đình của họ Các dịch vụ CTXH có thể cung cấp, điều phối cho từng thanh niên nghèo và các thành viên trong gia đình của họ, cho một nhóm thanh niên nghèo hoặc cả cộng đồng Những dich vụ CTXH này có thể do nhân viên CTXH trực tiếp cung cấp hoặc có thể do nhân viên CTXH điều phối, kết nối để đáp ứng nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo Các loại hình dịch

vụ CTXH không chỉ hướng đến việc đảm bảo các nhu cầu tối thiểu mà quan trọng

Trang 30

hơn là hướng đến phát triển nâng cao năng lực cho thanh niên thuộc hộ nghèo và gia đình của họ

1.3.2 Mục đích, vai trò của dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo

Mục đích của dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo là đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội của thanh niên Để đảm bảo chất lượng, các dịch vụ CTXH phải đáp ứng được các tiêu chí như phải nhanh chóng, kịp thời, đa dạng, phù hợp với nhu cầu và tài chính của thanh niên thuộc hộ nghèo

Dịch vụ CTXH có vai trò quan trọng đối với thanh niên thuộc hộ nghèo, nó góp phần nâng cao năng lực, sự tự tin và tự chủ cho các thanh niên nghèo và gia đình của họ, giúp thanh niên thuộc hộ nghèo có thể tự tìm cách để giải quyết các vấn đề mà họ đang gặp phải hoặc các vấn đề có thể phát sinh trong tương lai

Dịch vụ CTXH góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng khả năng hòa nhập xã hội của thanh niên thuộc hộ nghèo, tạo cơ hội cho thanh niên thuộc hộ nghèo dễ tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, thông tin, y tế, việc làm, nước sạch,… và tăng cường các chức năng xã hội của họ

Dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo góp phần nâng cao nhận thức của thanh niên nghèo, của người dân và cộng đồng về nghề CTXH và vai trò

của nhân viên CTXH

1.3.3 Nguyên tắc của dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo

Dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Chấp nhận đối tượng: Thanh niên thuộc hộ nghèo có thể là một người bình

thường về thể chất, sinh lý, có thể là người bị khuyết tât, bị ốm đau, bệnh tật, có thể

là người có sức khỏe tâm thần bình thường, cũng có người có sức khỏe tâm thần không bình thường,… Nhân viên cung cấp, điều phối dịch vụ CTXH phải chấp nhận đối tượng là thanh niên thuộc hộ nghèo với mọi phẩm chất tốt và xấu, những điểm mạnh và yếu từ quan điểm, thái độ, hành vi, cảm xúc Điều này thể hiện sự tôn trọng những giá trị bản thân của đối tượng bất kể địa vị xã hội, thành phần xuất thân

Trang 31

hoặc hành vi của họ là như thế nào Tuy nhiên, việc chấp nhận đối tượng không đồng nghĩa với việc tha thứ cho những hành vi mà xã hội không chấp nhận Sự chấp nhận này chỉ có nghĩa là thể hiện sự quan tâm và thiện chí muốn giúp đỡ đối tượng với tư cách là một con người cần được giúp đỡ chứ không phải vì hành vi của họ

Tạo điều kiện để thanh niên thuộc hộ nghèo tham gia giải quyết vấn đề:

Thanh niên thuộc hộ nghèo là những người có nhiều nội lực để vươn lên thoát nghèo nếu được phát huy, khơi dậy Đó là ý chí, khát vọng, là thể lực dồi dào Họ sẽ cảm thấy tự tin để tham gia giải quyết vấn đề của họ khi được khuyến khích hoặc hướng dẫn để đưa ra những quyết định liên quan đến quá trình giải quyết vấn đề Không ai có thể hiểu được những nguyên nhân gây ra vấn đề khó khăn của đối tượng bằng chính họ Nhân viên xã hội không ở trong hoàn cảnh của đối tượng để

có thể hiểu được rõ ràng những vấn đề đó Việc khuyến khích họ tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề của họ cũng sẽ giúp nhân viên xã hội có những đánh giá đúng đắn về vấn đề của đối tượng về những khả năng của đối tượng để có thể giúp đưa ra những biện pháp giải quyết phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của đối tượng Thực hiện nguyên tắc này cũng phù hợp với phương châm trợ giúp trong CTXH là

Cho cần câu chứ không cho con cá

Tôn trọng quyền tự quyết của thanh niên thuộc hộ nghèo: Mỗi cá nhân thanh

niên nghèo hoặc các gia đình có quyền đưa ra những quyết định có liên quan đến vấn đề và cuộc sống của họ và gia đình họ Người khác không có quyền quyết định thay cho họ Tuy nhiên, trong những trường hợp thanh niên thuộc hộ nghèo gặp khó khăn trong việc tự quyết định thì nhân viên xã hội có thể hướng dẫn và giúp đỡ họ

để họ có thể tự đưa ra quyết định Tuy nhiên, quyền tự quyết cũng không phải là một quyền tuyệt đối Những quyết định mà đối tượng đưa ra phải nằm trong phạm

vi quy định của xã hội và không gây tổn hại đến người khác hoặc có hại cho chính bản thân đối tượng Đối tượng phải tự chịu trách nhiệm về những quyết định do bản thân họ đưa ra Việc tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng cũng chính là cách để khuyến khích đối tượng tham gia tích cực và thể hiện trách nhiệm của họ trong quá trình giải quyết vấn đề của họ

Trang 32

Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp thanh niên thuộc hộ nghèo: Như

phân tích ở phần đặc điểm nhu cầu, thanh niên thuộc hộ nghèo có những nhu cầu cơ bản giống nhau nhưng mỗi người lại có hoàn cảnh khác nhau, tính cách khác nhau, môi trường sống khác nhau vì thế mong muốn, nguyện vọng không giống nhau Do

đó, việc cá biệt hóa trường hợp của thanh niên thuộc hộ nghèo giúp nhân viên xã hội đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể, bảo đảm lợi ích thiết thực của từng thanh niên thuộc hộ nghèo, đáp ứng nhu cầu của đối tượng

và rèn luyện khả năng ứng phó linh hoạt trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự bảo thủ, quan liêu, cứng nhắc trong quá trình trợ giúp [12]

1.3.4 Phương pháp của dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo Công tác xã hội cá nhân

Là phương pháp mà nhân viên CTXH tác động đến thanh niên thuộc hộ nghèo và gia đình họ nhằm giúp từng cá nhân hiểu rõ về bản thân và vấn đề của chính họ từ đó vận dụng các nguồn lực vượt qua khó khăn trong việc thực hiện các chức năng xã hội của họ Với phương pháp này, nhân viên xã hội can thiệp giải quyết vấn đề của cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội của cá nhân đó

Vai trò chủ yếu của nhân viên xã hội trong phương pháp công tác xã hội cá nhân là người tạo điều kiện, giúp cá nhân đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh tiến đến nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề của bản thân Bên cạnh đó, nhân viên xã hội khi tương tác trong mối quan hệ một-một với cá nhân cũng có thể cùng lúc tham gia với các vai trò khác như nhà giáo dục, người biện hộ, người môi giới Để thực hiện việc tương tác trực tiếp đạt hiệu quả cao, nhân viên xã hội cần phải thành thạo các kỹ năng sử dụng trong đối thoại trực tiếp như kỹ năng tạo lập mối quan hệ ban đầu, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng vấn đàm, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng quan sát

Các dịch vụ CTXH có thể cung cấp cho thanh niên thuộc hộ nghèo theo phương pháp CTXH cá nhân như quản lý trường hợp, can thiệp khủng hoảng, tham vấn, tạo điều kiện để tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tư vấn chính sách, giới

Trang 33

thiệu các tiềm năng trong cộng đồng, biện hộ, lập kế hoạch trợ giúp, huy động và kết nối nguồn lực để thanh niên thuộc hộ nghèo được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tiếp cận giáo dục, trợ giúp pháp lý, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm,

Khi áp dụng phương pháp CTXH nhóm đối với thanh niên thuộc hộ nghèo, nhân viên CTXH có thể sử dụng các loại nhóm như: nhóm can thiệp và nhóm nhiệm vụ

Nhóm can thiệp là nhóm có các hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho các thành

viên Người ta sử dụng các loại hình nhóm thuộc nhóm can thiệp như nhóm hỗ trợ, nhóm giáo dục, nhóm phát triển, nhóm trị liệu, nhóm xã hội hoá

Nhóm nhiệm vụ được sử dụng để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, tìm ra giải

pháp cho vấn đề, lấy ý kiến và đưa ra quyết định

Phát triển cộng đồng: Là quá trình làm chuyển biến một cộng đồng nghèo,

thiếu tự tin thành một cộng đồng tự lực thông qua thông qua việc giáo dục nâng cao nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và nguồn lực sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức để tiến tới tự lực phát triển Các hoạt động có thể cung cấp cho thanh niên thuộc hộ nghèo theo phương pháp phát triển cộng đồng bao gồm: liên hệ với người dân, chính quyền các

Trang 34

cấp trong việc xác định các vấn đề của cộng đồng đối với thanh niên nghèo để xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp cộng đồng; đề xuất chính sách với các cơ quan có thẩm quyền; xây dựng mạng lưới nhân viên, cộng tác viên CTXH; tổ chức huy động nguồn lực để trợ giúp đối tượng; truyền thông, giáo dục cộng đồng; xây dựng và quản lý các dự án phát triển cộng đồng,…

1.3.5 Các dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo

Mỗi thanh niên thuộc hộ nghèo và gia đình họ có đặc điểm, hoàn cảnh, nguyên nhân dẫn đến nghèo khác nhau Nhu cầu của họ rất đa dạng từ các nhu cầu tối thiểu đến các nhu cầu ở cấp độ cao hơn Một thanh niên thuộc hộ nghèo có thể vừa cần tăng thu nhập, đào tạo nghề, được giới thiệu việc làm, vừa cần được tham vấn, tư vấn về chăm sóc sức khỏe, kỹ năng sinh sản, chăm sóc trẻ em, cũng như các

kỹ năng nhằm thay đổi hành vi, cuộc sống Ngành CTXH không thể đáp ứng hết các nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo mà cần đến sự hỗ trợ của các ngành, các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, từ nhiều nguồn lực khác nhau Do vậy, dịch vụ CTXH cung cấp cho thanh niên thuộc hộ nghèo cần đa dạng, phong phú về loại hình và nội dung, chia thành các loại hình dịch vụ CTXH với cá nhân thanh niên thuộc hộ nghèo và các thành viên gia đình họ, các chương trình phát triển cộng đồng

- Dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo bao gồm: Dịch vụ

khẩn cấp (tiếp nhận, đánh giá, bảo đảm an ninh, an toàn, đáp ứng nhu cầu khẩn cấp, ); dịch vụ cải thiện sinh kế (vốn vay, việc làm,…); dịch vụ quản lý trường hợp; dịch vụ tham vấn, tư vấn tâm lý; dịch vụ can thiệp khủng hoảng; dịch vụ biện hộ;…

- Dịch vụ CTXH hỗ trợ cho nhóm thanh niên thuộc hộ nghèo gồm: Thành lập

các nhóm thanh niên thuộc hộ nghèo cùng có nhu cầu hoặc cùng mối quan tâm theo từng loại hình nhóm như Nhóm trị liệu, nhóm tự giúp, nhóm hành động, nhóm giáo dục hoặc củng cố các nhóm có sẵn trong cộng đồng; tiến hành các sinh hoạt nhóm; truyền thông nhóm;…

- Các dịch vụ, chương trình phát triển cộng đồng bao gồm: truyền thông và

giáo dục cộng đồng; xây dựng các chương trình kế hoạch trợ giúp cộng đồng; đề

Trang 35

xuất chính sách với các cơ quan có thẩm quyền; tổ chức kết nối và huy động nguồn lực để trợ giúp thanh niên thuộc hộ nghèo; vận động người dân và cộng đồng cùng tham gia vào quá trình trợ giúp thanh niên thuộc hộ nghèo; xây dựng và quản lý các

Để hoạt động cung cấp, điều phối các dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo đạt hiệu quả và quản lý được thì cần thiết phải xây dựng được mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ phong phú về loại hình, kịp thời, chuyên nghiệp, thuận tiện trong tiếp cận và gọn nhẹ về thủ tục hành chính Mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo có thể ở các lĩnh vực khác nhau để đáp ứng một cách toàn diện những nhu cầu khác nhau của thanh niên thuộc hộ nghèo Các dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo được cung cấp bởi những nhà chuyên môn như nhân viên CTXH hoặc được nhân viên CTXH kết nối với chuyên gia về lĩnh vực như giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ và các trợ giúp

xã hội khác

Cơ quan cung cấp dịch vụ CTXH đối với thanh niên nghèo phải được quản

lý ở tầm vĩ mô và vi mô, cần phải xây dựng hệ thống chính sách vĩ mô để quản lý chung hệ thống cơ quan cung cấp dịch vụ trong toàn quốc Đặc biệt là cần phải có một cơ quan đầu mối theo dõi, cập nhật thông tin về các cơ sở cung cáp dịch vụ, các loại hình dịch vụ và chất lượng các dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo Nguồn thông tin của cơ quan đầu mối sẽ là cơ sở cho việc chuyển gửi các thanh niên nghèo và căn cứ để quản lý, hoạch định chiến lược và chính sách ở tầm

vĩ mô Nguồn thông tin này cần được cập nhật thường xuyên và giám sát chặt chẽ

Trang 36

Các cơ quan cung cấp dịch vụ tồn tại trong hệ thống hay mạng lưới cơ sở cung cấp các dịch vụ khác nhau cho thanh niên thuộc hộ nghèo như:

- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ công lập;

- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập;

- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ của các tổ chức tôn giáo;

- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ của các tổ chức đoàn thể (Đoàn thanh niên, hội phụ nữ, Hội chữ thập đỏ, Hội nông dân,…

- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ của các nhóm tự giúp, tổ, đội, CLB … với hệ thống các nhân viên CTXH chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp tạo thành mạng lưới CTXH

Các cơ sở cung cấp dịch vụ được thiết lập để giúp đối tượng ngay tại cộng đồng nơi họ sinh sống Các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH có thể là tư nhân hay công lập Do đó để cung cấp các dịch vụ CTXH có hiệu quả; các quốc gia đều quan tâm đến việc xây dựng thể chế chính sách để vận hành sự hoạt động đồng bộ của hệ thống dịch vụ trong một mạng lưới đảm bảo đúng pháp luật và đáp ứng chuyên môn Trong đó, Nhà nước có một vai trò quan trọng trong việc quản lý các dịch vụ Một số nước trao quyền cho các tổ chức tư nhân, ngoài công lập để phát triển và cung cấp dịch vụ, nhưng cần luật pháp, chính sách để giám sát hoạt động của các cơ

sở cung cấp đó

1.4 Thể chế về dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ

nghèo

1.4.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước

Đối với Thanh niên: Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, góp phần quan

trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong suốt quá trình lịch sử của cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của đất nước Từ khi thành lập đến nay Đảng ta đã tiến hành 11 kỳ Đại hội đại biểu, văn kiện của các Đại hội của Đảng đều đánh giá vai trò, tiềm năng của thanh niên và những đóng góp của thanh niên vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 37

Nghị quyết số 04 ngày 14/01/1993 của BCH Trung ương Đảng (Khóa VII)

về “Công tác thanh niên trong tình hình mới” khẳng định “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên”

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của BCH TW Đảng khóa X về “Tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” một lần nữa được Đảng ta nhất quán quan điểm: Thanh niên là rường cột của nước nhà, tương lai của thanh niên gắn liền với vận mệnh và tương lai của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng

Nghị quyết số 25 của BCH Trung ương Đảng (Khóa X) đã đánh giá khách quan về thanh niên: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân

tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dântộc; Là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏihy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳngđịnh mình… Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn đề cao vai trò, vị trí củathanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích của cách mạng… Trong mỗi thời kỳ, dù bất cứ hoàn cảnh nào các thế hệ thanh niên đều hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình”

Để chăm lo, phát triển thanh niên thành động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của đất nước, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Thanh niên vào năm

2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2006 Đảng và Chính phủ đã xây dựng nhiều chính sách hỗ trợ thanh niên trong các lĩnh vực như giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm, y tế và các lĩnh vực khác

Đối với vấn đề giảm nghèo: Giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của

Đảng và Nhà nước ta trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Trong giai đoạn 2011-2015, dưới sự Lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,

sự chỉ đạo thường xuyên, sát sao của Quốc hội, Chính phủ, với sự nỗ lực liên tục, không ngừng của các cấp, các ngành và toàn xã hội, mục tiêu giảm nghèo của Việt Nam đã thu được những kết quả quan trọng, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ

Trang 38

14,2% (năm 2010), xuống còn 4,25% (năm 2015); Cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường, đời sống người dân không ngừng được cải thiện cả về sinh kế và tiếp cận các dịch vụ xã hội; thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế vinh danh

Với quan điểm: Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của

cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, giai đoạn 2016 - 2020, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội

cơ bản; Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020

1.4.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước

Vấn đề nghèo đói, giảm nghèo và thanh niên luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và được thể hiện trong nhiều văn bản chính sách, pháp luật:

- Hiến pháp 2013 quy định: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội

tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.”[Điều37], Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của nước ta, thể hiện rõ nhận thức của Đảng và nhà nước ta về vị trí, vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng nước ta

- Luật Thanh niên ban hành năm 2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2006.Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2007 của Chính phủ gồm có 5

chương, 25 điều đã quy định cụ thể về cơ chế, chính sách của Nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân nhằm đảm bảo cho thanh niên thực hiện các quyền

và nghĩa vụ của mình trong các lĩnh vực có liên quan nhiều đến thanh niên

- Nghị quyết số 45/NQ-CP, ngày 11/9/2009 của Chính phủ ban hành Chương

trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 25/7/2008

Trang 39

của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Các văn bản của Thủ tướng chính phủ như: Quyết định số

157/2007/QĐ-TTg, ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên; Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg, ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2015; Quyết định số 2160/QĐ-TTg, ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên; Quyết định số 1912/QĐ-TTg, ngày 20/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Làng thanh niên lập nghiệp giai đoạn 2013-2020; Quyết định số 324/QĐ-TTg, ngày 18/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2013-2020; Quyết định số 2474/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính

2008-phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020

- Và một số văn bản của các bộ, Ngành liên quan đến thanh niên như: Quyết định số 4617/QĐ/BYT, ngày 16/11/2007 của Bộ Y tế về hướng dẫn cung cấp dịch

vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên/thanh niên

Đối với vấn đề giảm nghèo: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ,

Ngành đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo thực hiện công tác giảm nghèo Theo thống kê, có khoảng gần 200 văn bản với nhiều chính sách, đối tượng điều chỉnh khác nhau Trong đó rất ít các văn bản có liên quan trực tiếp đến thanh niên thuộc các hộ nghèo và dịch vụ công tác xã hội đối với người nghèo, thanh niên nghèo

Đề án Phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020 được ban hành kèm theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Chính phủ (gọi tắt là Đề án 32)

xác định mục tiêu: “Phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam

Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán

bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Bên cạnh đó,

Trang 40

Bộ Lao động - TBXH đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện, trong đó có Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH ngày 08/11/2010 quy định tiêu chuẩn nghiệp

vụ các ngạch viên chức CTXH và Thông tư 07/2013/TT-BLĐTXBH ngày 24/5/2013 quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên CTXH xã, phường, thị trấn Các văn bản này là cơ sở để bổ sung và tăng cường đội ngũ nhân viên, cộng tác viên CTXH tại các cơ sở bảo trợ xã hội và tại cộng đồng

1.5 Các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

1.5.1 Yếu tố thuộc về đối tượng của dịch vụ công tác xã hội

Đối tượng của dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo là những người có đặc điểm rất đặc thù về mặt tâm lý\sinh lý và đặc điểm về KTXH Yếu tố này có tác động không nhỏ tới dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

Họ là người mặc cảm, tự ti, ngại tham gia vào các hoạt động cộng đồng, thiếu chủ động trong việc tìm kiếm và tiếp cận các dịch vụ xã hội Do vậy nhân viên CTXH phải là người chủ động tiếp cận, xây dựng mối quan hệ với thân chủ của dịch vụ đang cung cấp Trong quá trình can thiệp phải theo đúng nguyên tắc và các giá trị đạo đức nghề nghiệp, trong đó có đức tính kiên trì, nhẫn nại để giúp các thanh niên nghèo, thay đổi nhận thức, hành vi và tăng cường sự tự lực vươn lên thoát nghèo

Tuy nhiên, cũng có trường hợp đối tượng lại là người có nhiều niệm tin, thái

độ tích cực với các dịch vụ CTXH cần cho họ, khi đó họ dễ dàng tiếp cận, tiếp cận nhanh và hiệu quả tới các dịch vụ CTXH, năng lực bản thân và gia đình họ phù hợp với và được phát huy bởi các dịch vụ CTXH

Tóm lại, bản thân thanh niên nghèo và gia đình họ có ảnh hưởng nhiều đến việc cung cấp các dịch vụ CTXH đối với họ [19]

1.5.2 Yếu tố thuộc về chính sách, pháp luật

Như đã phân tích ở mục 1.3, chính sách pháp luật có ảnh hưởng lớn đến dịch

vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo

Ngày đăng: 06/06/2017, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BCH Trung ương Đảng (Khóa VII), Nghị quyết số 04 ngày 14/01/1993, về “Công tác thanh niên trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04 ngày 14/01/1993, về "“Công tác thanh niên trong tình hình mới
7. Phạm Văn Ba (2014), Đoàn Thanh niên với việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội cho thanh, thiếu niên ở Việt Nam hiện nay, Hội thảo khoa học quốc tế “Thực tiễn và hội nhập trong phát triển công tác xã hội ở Việt Nam”, nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Thanh niên với việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội cho thanh, thiếu niên ở Việt Nam hiện nay", Hội thảo khoa học quốc tế “Thực tiễn và hội nhập trong phát triển công tác xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Ba
Nhà XB: nxb Thanh Niên
Năm: 2014
12. Cục Bảo trợ xã hội, Học viện xã hội Châu Á (năm 2014), Nghề Công tác tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức, Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề Công tác tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức
17. Nguyễn Văn Hồi (2014), Đánh giá kết quả thực hiện Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2014, Hội thảo khoa học quốc tế “Thực tiễn và hội nhập trong phát triển công tác xã hội ở Việt Nam”, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả thực hiện Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2014, "Hội thảo khoa học quốc tế “Thực tiễn và hội nhập trong phát triển công tác xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hồi
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2014
18. Nguyễn Hải Hữu, (2012). Giáo trình Nhập môn an sinh xã hội. NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn an sinh xã hội
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2012
19. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2012
20. Bùi Thị Xuân Mai (2014), Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam- Những khuyến nghị giải pháp, Hội thảo khoa học quốc tế “ Thực tiễn và hội nhập trong phát triển công tác xã hội ở Việt Nam”, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam- Những khuyến nghị giải pháp", Hội thảo khoa học quốc tế “ Thực tiễn và hội nhập trong phát triển công tác xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2014
23. Quốc hội (2005), Luật Thanh niên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thanh niên
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
27. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/09/2015về phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/09/2015về phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2015
35. Lê Phương Thảo (năm 2010), Nghiên cứu khoa học: “Tình trạng nghèo đói và chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học: “Tình trạng nghèo đói và chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay
36. Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Văn Thiều (1993) Nghiên cứu: “Đói nghèo ở Việt Nam”, NXB Bộ Lao động - TBXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu: “Đói nghèo ở Việt Nam”
Nhà XB: NXB Bộ Lao động - TBXH Hà Nội
37. Hà Thị Thư (2016), Sự chuyên nghiệp trong dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Nâng cao chất lượng đào tạo công tác xã hội với chuyên nghiệp hóa dịch vụ công tác xã hội”, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyên nghiệp trong dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Nâng cao chất lượng đào tạo công tác xã hội với chuyên nghiệp hóa dịch vụ công tác xã hội
Tác giả: Hà Thị Thư
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
38. Trần Đình Tuấn (2010). Công tác xã hội - Lý thuyết và thực hành. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội - Lý thuyết và thực hành
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 25/7/2008 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khác
3. Ban chỉ đạo giảm nghèo tỉnh Hà Nam (2015), Báo cáo tổng kết chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015, định hướng giai đoạn 2016 - 2020 Khác
4. Ban chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Hà Nam (2015), Báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đoàn tỉnh lần thứ XIII nhiệm kỳ 2012 - 2017 Khác
6. Ban chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Hà Nam (2016), Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2016 Khác
8. Bộ Nội vụ, Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (2015), Báo cáo Quốc gia về thanh niên Việt Nam Khác
9. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2015), Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam Khác
10. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Thông tư số 34/2010/TT- BLĐTBXH ngày 08/11/2010, quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm