1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội

87 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm hiện nay………50 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ QUỲNH NGỌC

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT

TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

VIỆT – HÀN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Minh

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Minh Các trích dẫn

và số liệu sử dụng trong luận văn là đáng tin cậy và có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, năm 2016

Tác giả luận văn

Hồ Quỳnh Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI 8

ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT 8

1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 8

1.2 Các khái niệm công cụ 11

1.3 Cơ sở pháp lý trong công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật 18

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VIỆT – HÀN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI……….22

2.1 Một số đặc điểm về thực trạngđịa bàn nghiên cứu……….22

2.2 Một số đặc điểm về gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm……… 28

2.3 Thực trạng nhu cầu của trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm31 2.4 Hoạt động công tác xã hội đối với gia đình có trẻ khuyết tật tại Trung tâm hiện nay……… 37

2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm hiện nay………50

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VIỆT – HÀN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 55

3.1 Một số định hướng trong công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm 55

3.2 Một số giải pháp cơ bản trong công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm 57

KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Hình 1.1 Tháp nhu cầu theo “Lý thuyết nhu cầu” của Maslow 13 Bảng 2.1 Đánh giá nhu cầu của gia đình và sự hỗ trợ của

Trung tâm qua ý kiến của gia đình và cán bộ nhân viên

36

Bảng 2.2 Tổng hợp thứ bậc nhu cầu theo đánh giá của gia đình

trẻ khuyết tật và cán bộ nhân viên về các dịch vụ cung cấp cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm

38

Bảng 2.3 Sự hài lòng của gia đình về việc đáp ứng các nhu cầu

phục hồi chức năng tại Trung tâm

40

Bảng 2.4 Sự hài lòng của cán bộ, nhân viên Trung tâm về việc

đáp ứng các nhu cầu cho gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm

42

Bảng 2.5 Sự tham gia của gia đình vào các giai đoạn quản lý

ca

52

Bảng 2.6 Sự tham gia của gia đình vào việc xây dựng kế hoạch

trợ giúp cho trẻ khuyết tật

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác xã hội (CTXH) đối với gia đình trẻ khuyết tật (GĐTKT) là một lĩnh vực chuyên biệt trong ngành CTXH, nhằm đem lại sự hỗ trợ cho trẻ khuyết tật (TKT) và GĐTKT, góp phần thực hiện mục tiêu an sinh cho TKT và GĐTKT Trong những năm gần đây, sự nỗ lực của Chính phủ và các tổ chức

xã hội đã đáp ứng phần nào nhu cầu được chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng (PHCN) của TKT và hỗ trợ cho các GĐTKT Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay việc thực hiện các nội dung CTXH đối với GĐTKT còn nhiều hạn chế, điều đó đã tạo ra khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu của GĐTKT và những đáp ứng của xã hội đối với GĐTKT Với ý nghĩa đó, việc thực hiện các hoạt động CTXH đối với GĐTKT, không chỉ nâng cao nhận thức cho các GĐTKT về các nội dung giáo dục và chất lượng PHCN cho TKT, mà còn thể hiện sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác PHCN cho TKT

Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn,thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là “Trung tâm”) là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội Trung tâm có chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị, PHCN và hướng nghiệp dạy nghề cho TKT trên địa bàn thành phố Hà Nội Để thực hiện chức năng này, bên cạnh việc chú trọng đến công tác đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ nhân viên, Trung tâm còn thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn nâng cao kiến thức cho GĐTKT và cán bộ địa phương về kỹ năng, phương pháp PHCN cho TKT tại cộng đồng

Phần lớn TKT đang PHCN tại Trung tâm là TKT đặc biệt nặng, dù các TKT tại Trung tâm đều có gia đình, nhưngcác GĐTKT tại Trung tâm thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc tham gia vào quá trình PHCN cho TKT

Từ thực tiễn quá trình PHCN cho TKT tại Trung tâm, chúng tôi nhận thấy vai trò của GĐTKT rất quan trọng Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải

Trang 7

làm thế nào để mỗi GĐTKTcó thể giúp đỡ, hỗ trợ cho TKT một cách tốt nhất

Dù hiện nay, Trung tâm đã tiến hành các hoạt động CTXHđối với GĐTKT, song thực tế hiệu quảcủa hoạt động này chưa cao Do vậy, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm; đồng thời, phát huy tốt hơn nữa vai trò của gia đình trong quá trình PHCN cho TKT,với mục đích tìm hiểu nhu cầu và cung cấp các kỹ năng, phương pháp cho các GĐTKT, để phối hợp với cácGĐTKT thực hiện có hiệu quả quá trình PHCN cho TKT Chính vì vậy,việc thực hiện các hoạt động CTXH đối với GĐTKT đang được nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị, PHCN, giáo dục và hướng nghiệp dạy nghề tại Trung tâm là việc làm cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc

Xuất phát từ những lý do cơ bản đó, tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội

đối với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ ngành CTXH

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

CTXH đối với gia đình và đối với người khuyết tật đã trở thành một lĩnh vực nổi bật trong thực hành CTXH từ những năm 50 của thế kỷ XX Kể

từ đó, đã có rất nhiều công trình khoa học được tiến hành nghiên cứu, nhiều giáo trình và tài liệu tham khảo được xuất bản, đồng thời có nhiều cuộc hội thảo ở nhiều cấp độ khác nhau được tổ chức Trong luận văn này, chúng tôi liệt kê và đánh giá về một số tài liệu đề cập đến lĩnh vực CTXH đối với gia đình và đối với người khuyết tật có liên quan mật thiết đến đề tài của chúng tôi như sau:

Đỗ Hạnh Nga, nghiên cứu chuyên đề về “Những khó khăn của gia đình

có trẻ khuyết tật phát triển và nhu cầu của họ đối với các dịch vụ xã hội” Tác giả đã phân tích những khó khăn của gia đình có trẻ khuyết tật và nhu cầu của

họ đối với các dịch vụ xã hội, kết quả khảo sát trên 105 gia đình có con khuyết tật có dấu hiệu chậm phát triển đang học tại trường chuyên biệt tại thành phố

Trang 8

Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy phụ huynh còn thiếu hiểu biết về các dấu hiệu chậm phát triển của con, thiếu những NVXH hỗ trợ họ trong việc phát hiện sớm, chẩn đoán đánh giá khuyết tật của con họ cũng như giúp phụ huynh tìm kiếm các dịch vụ xã hội Từ đó, đề xuất xây dựng một số công việc mà NVXH cần thực hiện để hỗ trợ gia đình NKT

Trước hết là tập bài giảng “Công tác xã hội với cá nhân và gia đình”

do Tôn Nữ Ái Phương biên soạn, Trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh xuất bản Trong tài liệu này, tác giả đã đưa ra khái niệm CTXH với trường hợp, trong đó có trường hợp của gia đình gặp khó khăn và cần sự giúp

đỡ, các gia đình được xem xét với tư cách là một hệ thống khách hàng Tuy nhiên, tài liệu này mới chỉ đề cập đến những vấn đề CTXH với gia đình nói chung mà chưa đề cập đến các nội dung CTXH với GĐTKT.[37]

Cuốn “Giáo trình Nhập môn công tác xã hội” do tác giả Bùi Thị Xuân Mai biên soạn được xuất bản năm 2010.Trong giáo trình này, khi bàn về nội

dung CTXH đối với gia đình, tác giả chủ yếu đề cấp đến nội dung phúc lợi gia đình như một lĩnh vực hoạt động của CTXH có liên quan tới việc hoàn thiện, tăng cường và ủng hộ gia đình đáp ứng các nhu cầu của họ Đặc biệt, tác giả

có nói đến các hoạt động của nhân viên CTXH trong việc thực hiện phúc lợi gia đình bao gồm: giúp gia đình giải quyết vấn đề; huy động các nguồn lực hiện có và nếu có thể để tạo lập các nguồn lực mà gia đình cần; làm việc với các cá nhân, nhóm để giúp đỡ gia đình có hiệu quả; thường xuyên đánh giá sự thích hợp và hiệu quả của các chính sách, chương trình và dịch vụ hiện hành

có liên quan đến gia đình; giám sát các hoạt động khác nhau trong mối quan

hệ với gia đình được phục vụ [32]

Cuốn tài liệu “Làm việc với cá nhân và gia đình (Công tác xã hội với

cá nhân và gia đình)” của khóa đào tạo CTXH cho các nhà quản lý trong lĩnh

vực CTXH, thuộc Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam do các tổ chức

Trang 9

MOLISA - ULSA - CFSI- ASI - AP - UNICEF phối hợp tổ chức năm 2012 Cuốn tài liệu này có đề cập đến một số vấn đề chung về CTXH với gia đình

mà không đề cập đến CTXH với từng đối tượng gia đình cụ thể, trong đó có GĐTKT[30]

Trong cuốn sách “Công tác xã hội với người khuyết tật” của PGS TS

Nguyễn Thị Kim Hoa chủ biên, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành cũng đề cập đến tác động của tình trạng khuyết tật đối với các mối quan

hệ gia đình, đồng thời đưa ra một số cách tiếp cận khi làm việc với GĐTKT.[16]

Như vậy, nghiên cứu thuộc ngành CTXH về đề tài gia đình và người khuyết tật đã được thực hiện rất nhiều, trên đây chỉ là một số công trình tiêu biểu và có liên quan mật thiết đến đề tài của chúng tôi Các công trình nghiên cứu về người khuyết tật chủ yếu đi sâu nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn ngành CTXH với người khuyết tật, về các chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật Còn các công trình nghiên cứu về CTXH đối với gia đình lại thường nghiên cứu về những nội dung CTXH đối với gia đình nói chung Chưa có công trình nào nghiên cứu về các nội dung CTXH đối với GĐTKT, đặc biệt là nghiên cứu về các nội dung CTXH đối với GĐTKT từ thực tiễn một địa phương hay một ngành, một đơn vị nào với mục đích tác động vào các GĐTKTbằng các phương pháp CTXH chuyên ngành, để thông qua các GĐTKT tác động đến quá trình PHCN cho TKT Do vậy, việc nghiên cứu về đề tài “Công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội” nhằm góp phần khắc phục khoảng trống trong nghiên cứu về các nội dung CTXH ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

3.1 Mục đích nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài góp phần làm rõ

thêm những vấn đề lý luận về CTXH đối với GĐTKT, chỉ ra thực trạng CTXH đối với GĐTKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội hiện nay Từ đó kiến nghị các định hướng đối với các giải pháp cơ bản trong CTXH đối với GĐTKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu:để đạt được các mục đích nghiên cứu đề ra,

luận văn thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXH cá nhân đối với GĐTKT

Hai là, điều tra, khảo sát thực trạng CTXH đối với GĐTKT tại Trung

tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội

Ba là, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện CTXH

đối với GĐTKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội

Bốn là, đưa ra được một số định hướng và các giải pháp cơ bản để nâng

cao hiệu quả các hoạt động CTXH đối với GĐTKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về các nội

dung CTXH đối với GĐTKT và các dịch vụ, nhu cầu CTXH đối với GĐTKT đang được thực hiện tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu:Cáccán bộ tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn

và các gia đình có TKT đang tham gia PHCN tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội hiện nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên các nguyên

tắc phương pháp luận cơ bản của khoa học xã hội, trong đó đặc biệt tuân thủ các nguyên tắc phương pháp luận của ngành xã hội học và ngành CTXH làm

Trang 11

cơ sở cho việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng nội dung của đề tài

5.2 Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành

Phương pháp CTXH với gia đình: được áp dụng để nghiên cứu về

GĐTKT tại Trung tâm, dựa trên các thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết tiếp cận dựa trên quyền, thuyết hệ thống, các kỹ năng phỏng vấn, tư vấn, thu thập

dữ liệu, đánh giá vấn đề, lắng nghe, thiết lập mối quan hệ, lập kế hoạch…

Phương pháp CTXH với TKT: được sử dụng để tìm hiểu về đặc điểm

khuyết tật, nhu cầu, cách tiếp cận, kỹ năng… trong suốt quá trình nghiên cứu

và làm việc với GĐTKT

Phương pháp phân tích tài liệu: được sử dụng để thu thập và phân tích,

đánh giá về các tài liệu liên quan đến các nội dung của đề tài nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả xây dựng mẫu phiếu phỏng vấn

sâu dành cho Ban giám đốc Trung tâm để tìm hiểu về thực trạng, những thuận lợi khó khăn về hoạt động CTXH đối với gia đình mà hiện nay Trung tâm đang thực hiện, ngoài ra phương pháp này còn đượng sử dụng để thu thập các thông tin cần thiết về môi trường, hoàn cảnh, đặc điểm đối tượng nghiên cứu, qua đó thấy được những thuận lợi, khó khăn và nhu cầu của đối tượng nghiên cứu để có những nhận định và đưa ra những giải pháp phù hợp

Phương pháp quan sát: được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu

để thu thập những thông tin liên quan đến đề tài, tác giả quan sát những hành động, hành vi ứng xử và thái độ, cách giao tiếp, nội dung trao đổi của GĐTKT đối với Trung tâm Đồng thời quan sát thái độ, phương pháp quản lý, chăm sóc, PHCN của cán bộ nhân viên

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả xây dựng bộ câu hỏi điều

tra thực trạng với các dạng câu hỏi đóng và câu hỏi mở để điều tra đối với 38 cán bộ Trung tâm và 100 gia đình có con đang PHCN tại Trung tâm nhằm

Trang 12

khảo sát về thực trạng CTXH đối với GĐTKT tại Trung tâm hiện nay, cũng như là những nhu cầu của gia đình cần được Trung tâm đáp ứng

Phương pháp đàm thoại: Thông qua các cuộc trò chuyện trực tiếp với gia

đình và cán bộ nhân viên Trung tâm để khai thác thông tin, xử lý và phân tích các thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1.Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu góp phần nhận thức đúng về

lợi ích và vai trò của hoạt động CTXH đối với gia đình trong các cơ sở bảo trợ xã hội từ thực tiễn Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội Đồng thời, góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận trong CTXH đối với GĐTKT, chỉ ra các yếu tố chi phối CTXH đối với GĐTKT, cũng như làm rõ thêm các cơ sở pháp lý trong CTXH đối với các GĐTKT

6.2.Ý nghĩa thực tiễn:Đề tài đề xuất một số định hướng và giải pháp có

tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả trong CTXH đối với GĐTKT tại Trung tâm Kết quả nghiên cứu có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác phối hợp giữa gia đình và Trung tâm trong quá trình PHCN cho TKT tại Trung tâm

và các đơn vị khác về những vấn đề liên quan

7 Cơ cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài

liệu tham khảo Nội dung luận văn được thực hiện trong 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật

Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tậttại Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội

Chương 3: Định hướng và giải pháp về công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT

1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Thuyết về nhu cầu của con người

Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow - người được xem là “cha đẻ” của lý thuyết nhu cầu cho rằng, hành vi của con người bắt đầu từ nhu cầu của họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các bậc thang khác nhau và ông chia các nhu cầu đó thành nhu cầu cấp thấp và nhu câu cấp cao

Nhu cầu cấp thấp: bao gồm các nhu cầu về vật chất (ăn, uống, mặc,

ngủ, nghỉ, đi lại…) và nhu cầu an toàn (không bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình… thể hiện trong cả thể chất và tinh thần)

Nhu cầu cấp cao: bao gồm các nhu cầu về xã hội (nhu cầu về tình yêu

thương, được chấp nhận và được tham gia vào các tổ chức, đoàn thể trong xã hội) và nhu cầu về tôn trọng, nhu cầu về phát triển (nhu cầu về những giá trị

cá nhân như quyền lực, địa vị, uy tín…)

Theo Maslow, khi con người được thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một giới hạn nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn Đối với các GĐTKT ở Trung tâm hiện nay, việc đáp ứng các nhu cầu của con em mình là vấn đề rất được họ quan tâm Do đó, việc tiếp cận lý thuyết nhu cầu của Maslow sẽ giúp chúng ta thấy được các gia đình có nhiều cấp bậc nhu cầu khác nhau do điều kiện, hoàn cảnh khác nhau của mỗi gia đình Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng các nội dung cơ bản trong thuyết nhu cầu của Maslow để tập trung nghiên cứu và tìm hiểu việc đáp ứng các nhu cầu cho GĐTKT tại Trung tâm hiện nay, đồng thời chỉ ra những nhu cầu của các gia

Trang 14

đình chưa được Trung tâm đáp ứng, từ đó đưa ra kế hoạch và giải pháp phù hợp nhằm đạt được mục đích nghiên cứu

Hình 1.1: Tháp nhu cầu theo “Lý thuyết nhu cầu” của Maslow

1.1.2 Lý thuyết về hệ thống

Quan điểm hệ thống cho rằng, hành vi của một đứa trẻ phải được liên kết với các thành viên khác trong gia đình, các dấu hiệu được xem xét như sự biểu hiện của các tập hợp thói quen và khuôn mẫu trong nội bộ gia đình Quan điểm này dựa trên các nhận định cho rằng, hành vi có vấn đề của thân chủ có

thể: Thứ nhất, dùng để thực hiện một chức năng hoặc mục đích nào đó cho gia đình Thứ hai, không có tính chủ định, duy trì trong quá trình của gia đình Thứ ba, là một hệ quả khi gia đình gặp bế tắc trong việc vận hành hiệu quả các chức năng, đặc biệt trong các thời kỳ chuyển tiếp, phát triển Thứ tư,là

một triệu chứng của sự rối loạn chức năng trong các khuôn mẫu kế thừa qua các thế hệ

Do đó, những nỗ lực thay đổi sẽ được tạo điều kiện thuận lợi nhất bằng cách làm việc với gia đình và xem xét tổng thể các mối quan hệ bên trong Việc quan sát sự tương tác của các thành viên trong gia đình cũng như bối

cảnh rộng hơn mà cá nhân đó sinh sống là một điều rất quan trọng

Nhu cầu tự khẳng định mình

Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu được yêu thương Nhu cầu được an toàn Nhu cầu sinh lý, sinh tồn

Trang 15

Đối với TKT tại Trung tâm, mặc dù các trẻ được học tập và sinh hoạt nội trú tại Trung tâm, song các trẻ vẫn chịu nhiều tác động từ phía gia đình và các thành viên gia đình Xét đến cùng, gia đình là yếu tố rất quan trọng đối với hiệu quả của quá trình PHCN cho trẻ Chính vì vậy, luận văn sẽ sử dụng

lý thuyết hệ thống trên để tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về sự tác động của gia đình đối với cá nhân TKT Hoàn cảnh, môi trường sống và sự tham gia của gia đình tác động đến sự phát triển và PHCN của trẻ như thế nào

1.1.3 Thuyết tiếp cận dựa trên quyền

Thuyết có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch, cũng như tiến trình thực hiện các hoạt động CTXH Thuyết lấy quyền con người là trục xoay để giải quyết vấn đề của thân chủ nhằm đảm bảo an sinh cho họ, hướng tới các giải pháp mang tính bền vững Cách tiếp cận này cho thấy rõ chủ thể mang quyền

và chủ thể nghĩa vụ, trong đó chủ thể mang quyền là cá nhân hay một nhóm còn chủ thể nghĩa vụ là Chính phủ, Nhà nước và các tổ chức xã hội Thuyết đặt ra câu hỏi về hành động và trách nhiệm của chủ thể nghĩa vụ đối với chủ thể mang quyền

Theo cách tiếp cận này, TKT cũng có các quyền như những trẻ em bình thường trong xã hội Do đó, Chính phủ phải có trách nhiệm thực thi, đảm bảo các quyền cho TKT để họ trở thành những tác nhân có ích cho sự phát triển

xã hội chứ không phải là dân số lệ thuộc Tuy nhiên, cách tiếp cận này không tuyệt đối hóa quyền mà lãng quên đi nghĩa vụ mà quyền và trách nhiệm phải

đi đôi với nhau, không có yếu tố nào quan trọng hơn yếu tố nào

Phần lớn TKT tại Trung tâm thuộc mức độ khuyết tật đặc biệt nặng, các

em gặp nhiều khó khăn trong nhận thức về quyền của mình Tuy nhiên, các

em còn có gia đình và gia đình sẽ cùng với Trung tâm đem lại cho các em quyền lợi chính đáng mà các em được hưởng Vận dụng lý thuyết này trong

Trang 16

quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ làm rõ vai trò của nhân viên CTXH với

tư cách là người biện hộ cho đối tượng khi đối tượng đã hoặc chưa nhận thức được về quyền của họ Theo nghĩa đó, nhân viên CTXH là người kết nối giữa chủ thể mang quyền và chủ thể nghĩa vụ, là người đại diện khi chủ thể mang quyền chưa ý thức được về quyền của họ và chủ thể nghĩa vụ chưa đáp ứng được quyền cho đối tượng

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm gia đình, trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật

1.2.1.1 Khái niệm gia đình

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về gia đình được tiếp cận từ những góc độ khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi liệt kê một số khái niệm điển hình và có liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi như sau

Theo Từ điển Xã hội học của Pháp (1973): “Gia đình là nhóm người gắn bó với nhau bằng mối liên hệ hôn nhân, huyết thống hay việc nhận nuôi con nuôi, có tác động qua lại giữa vợ và chồng, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ

và con cái, giữa anh chị em và họ hàng xa”

Tác giả Mai Bích Loan (2000) đưa ra một khái niệm tổng quát về gia đình như sau: “Gia đình là khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân(quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm), và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân(cha, mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại)”

Theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau”

Trong luận văn này, gia đình được hiểu là những người gắn bó với nhau trong các mối quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, các thành viên trong gia đình có trách nhiệm, nghĩa vụ với nhau

Trang 17

1.2.1.2 Khái niệm trẻ khuyết tật, phân loại trẻ khuyết tật, mức độ khuyết tật

- Về khái niệm trẻ khuyết tật

Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO):“TKT là những trẻ có thiếu hụt cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng dẫn đến những hạn chế nhất định trong hoạt động của cá nhân và gặp khó khăn, trở ngại (do môi trường sống đem lại) trong việc tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong

xã ội - cộng đồng”

Theo Điều 1 Pháp lệnh người tàn tật của Việt Nam năm 1998:“Trẻ tàn

tật là những trẻ từ 0-18 tuổi, không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, thiếu một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”

Theo quan điểm giáo dục: TKT là nhóm trẻ bị khiếm khuyết một hay

nhiều bộ phận cơ thể, giác quan (thể chất) hoặc chức năng (tinh thần), biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, làm suy giảm khả năng lao động khiến cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi

- Về các dạng khuyết tật

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã phân loại TKT thành 08 dạng khuyết tật như: (1) khó khăn về vận động; (2) khó khăn về nhìn; (3) khó khăn về nghe – nói; (4) khó khăn về học; (5) hành vi xa lạ, khác thường; (6) động kinh; (7) mất cảm giác; (8) đa tật Còn theo cách phân loại theo Hội đồng giáo dục Hoa kỳ (Luật IDEA năm 1997), TKT được phân thành 13 dạng khuyết tật bao gồm: (1) tự kỷ, (2) điếc mù, (3) điếc, (4) rối loạn cảm xúc, (5) khiếm thính, (6) chậm phát triển trí tuệ, (7) đa tật, (8) khuyết tật thể chất, (9) khuyết tật sức khoẻ, (10) khó khăn về học, (11) khuyết tật ngôn ngữ, (12) tổn thương não, (13) khiếm thị Ở Việt Nam, theo Luật Người khuyết tật năm 2010, TKT được phân thành 06 dạng khuyết tật như sau: (1)Khuyết tật

Trang 18

vận động, (2) Khuyết tật nghe, nói, (3) Khuyết tật nhìn, (4) Khuyết tật thần

kinh, tâm thần, (5) Khuyết tật trí tuệ, (6) Khuyết tật khác

- Về mức độ khuyết tật

Theo điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ, về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người

khuyết tật, có 3 mức độ khuyết tật: Một là,khuyết tật đặc biệt nặng: những trẻ

do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có

người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn Hai là, khuyết tật nặng: bao

gồm những trẻ do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt

cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc Ba là, khuyết tật nhẹ: gồm những TKT không thuộc các trường hợp được quy đinh

tại hai mức độ trên

1.2.1.3 Khái niệm gia đình trẻ khuyết tật

Dựa trên các khái niệm công cụ đã nêu trên, trong luận văn này có thể hiểu rằng, “gia đình trẻ khuyết tật” là gia đình có ít nhất một trẻ bị mắc phải các dạng tật kể trên Do đặc điểm của TKT, trách nhiệm, vai trò, chức năng của GĐTKT có nhiều thay đổi lớn so với gia đình không có TKT

1.2.2 Khái niệm công tác xã hội, công tác xã hội với gia đình và công tác xã hội với gia đình trẻ khuyết tật

1.2.2.1 Khái niệm công tác xã hội

Đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa về CTXH, chúng tôi liệt kê ra đây một số khái niệm tiêu biểu, được nhiều người thừa nhận và

có liên quan mật thiết đến đề tài của chúng tôi, cụ thể là:

Trang 19

Năm 1970, Hiệp hội các nhân viên xã hội Mỹ (NASW) đã đưa ra khái niệm: “CTXH là một hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những

cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn để họ tự PHCN xã hội

và tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được mục đích cá nhân”

Đến năm 2000, Hiệp hội Nhân viên xã hội quốc tế (IFSW) định nghĩa:

“CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề CTXH”

Năm 2010, trong công trình nghiên cứu: “Công tác xã hội - Lý thuyết

và thực hành”, tác giả Trần Đình Tuấn đã định nghĩa:“CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề

xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [48, tr.19]

Như vậy, từ các quan niệm trên có thể khẳng định: CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp, một khoa học thực hiện nhiệm vụ chức năng xã hội giao phó và được xã hội thừa nhận Các chính sách, chương trình và dịch

vụ CTXH được triển khai bởi bộ máy tổ chức theo một ngành dọc và liên ngành Bên cạnh đó, CTXH được thực hiện trên một nền tảng hệ giá trị, nguyên tắc, yêu cầu nghề nghiệp theo quy định của pháp luật Đồng thời, CTXH còn là một ngành khoa học, bao gồm hệ thống kiến thức lý thuyết và

kỹ năng thực hành được đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau

1.2.2.2 Khái niệm công tác xã hội với gia đình

Trang 20

CTXH với gia đình là cách tiếp cận nhằm giúp đỡ những gia đình có khó khăn trong việc duy trì cuộc sống sinh hoạt bình thường hoặc có nguy cơ rơi vào tình trạng không thể duy trì hoạt động bình thường CTXH với gia đình đưa ra nhiều loại chương trình khác nhau như dịch vụ duy trì gia đình, hỗ trợ gia đình tại nhà, hướng dẫn gia đình về các mô hình gia đình [xem 30, tr 77]

Mục đích của CTXH với gia đình là giúp các thành viên gia đình học cách thực hiện chức năng của mình để đáp ứng các nhu cầu về phát triển và tình cảm cho tất cả các thành viên trong gia đình (Colins, Jordan, Coleman,

2007) Các mục tiêu cụ thể trong CTXH với gia đình hướng tới bao gồm: Một

là, Tăng cường sức mạnh của gia đình để mọi người sẵn sàng cho những thay đổi tốt hơn Hai là, Cung cấp thêm những can thiệp gia đình để gia đình duy trì thực hiện chức năng một cách hiệu quả Ba là, Tạo ra những thay đổi cụ

thể trong việc thực hiện chức năng của gia đình nhằm duy trì hoạt động để đảm bảo tốt cuộc sống hàng ngày.[xem 30, tr 77]

1.2.2.3 Khái niệm công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật

Có thể thấy rằng, CTXH đối với GĐTKT là một lĩnh vực đặc thù trong CTXH đối với gia đình nói chung Trên cơ sở các khái niệm về CTXH, CTXH đối với gia đình và khái niệm TKT, GĐTKT, có thể hiểu CTXH đối với GĐTKT là quá trình nhân viên xã hội sử dụng phương pháp CTXH đối với gia đình để tác động lên nhóm đối tượng là GĐTKT có khó khăn trong cuộc sống do khuyết tật của con mình mang lại Thông qua tiến trình trợ giúp

đó nhân viên xã hội sẽ đưa ra nhiều loại chương trình khác nhau để hỗ trợ gia đình vượt qua những khó khăn mà họ đang gặp phải

Mục đích của CTXH đối với GĐTKT:Một là, giúp các GĐTKT ngăn

ngừa hoặc cải thiện những vấn đề khó khăn của họ, những khó khăn này có thể do họ không thể thích nghi được với hoàn cảnh sống khi có con bị khuyết tật, hoặc trong quan hệ của họ với các thành viên trong gia đình và những

Trang 21

người xung quanh Hai là, giúp phát huy được những tiềm năng của gia đình và

tận dụng được những nguồn hỗ trợ từ các nhóm phù hợp và từ cộng đồng để phát triển cuộc sống của họ và giải quyết khó khăn do khuyết tật của trẻ gây ra

Đặc điểm của CTXH đối với GĐTKT: CTXH đối với GĐTKT là một

quá trình tổng hợp nhiều phương pháp, kỹ năng và các lý thuyết CTXH trong quá trình giúp đỡ GĐTKT giải quyết vấn đề của họ và để tạo ra những thay đổi trong môi trường theo hướng có lợi cho khả năng thích nghi của GĐTKT Đặc biệt là tập trung vào xem xét các khả năng của gia đình trong việc huy động mọi nguồn lực để tham gia vào công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và PHCN cho TKT

1.2.3 Các nguyên tắc và ý nghĩa của công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật

Một là, công nhận sự tự quyết của GĐTKT: họ sẽ tự quyết định mọi

vấn đề liên quan đến TKT, chúng ta không được lấy đi quyền tự quyết của gia đình hay áp đặt họ Điều này có thể phá vỡ mối quan hệ giữa nhân viên CTXH với GĐTKT, cũng như có thể làm suy giảm hiệu quả giải quyết vấn đề của GĐTKT và sự thực hiện chức năng của gia đình đối với TKT Tuy nhiên, một số gia đình gặp khó khăn trong việc tự đưa ra quyết định thì nhân viên CTXH cần hướng dẫn và giúp đỡ để họ có thể tự đưa ra quyết định Tôn trọng quyền tự quyết của gia đình cũng là cách khuyến khích các gia đình tham gia tích cực và thể hiện trách nhiệm trong quá trình PHCN cho TKT

Hai là, tôn trọng hoàn cảnh và đặc điểm của GĐTKT: chấp nhận và

xem sự khác biệt của các GĐTKT với mọi phẩm chất tốt và xấu, những điểm mạnh và những điểm yếu mà không có sự phán xét đến các hành vi của họ là đúng hay sai hoặc không có một điều kiện nào cả Điều này thể hiện sự tôn trọng những giá trị của GĐTKT bất kể địa vị xã hội, thành phần xuất thân hoặc hành vi của họ như thế nào Chính sự khác biệt và tính độc đáo của mỗi

Trang 22

gia đình sẽ tạo nên thế mạnh cho họ trong việc thực hiện các vai trò và chức năng của gia đình đối với TKT

Ba là,thái độ không phán xét: Thể hiện qua việc không tỏ vẻ bất bình,

buộc tội hoặc đưa ra những lời phê phán về GĐTKT Việc giữ quan điểm trung lập, không phê phán này sẽ giúp cho nhân viên CTXH tạo được niềm tin ở GĐTKT để họ cảm thấy thoải mái, tin tưởng khi bày tỏ những vấn đề và nhu cầu của họ trong quá trình PHCN cho TKT

Bốn là, khuyến khích gia đình tham gia vào quá trình PHCN cho TKT:

gia đình sẽ cảm thấy tự tin khi được khuyến khích hoặc hướng dẫn để đưa ra những quyết định liên quan đến quá trình PHCN của TKT Không ai có thể hiểu được trẻ khuyết tật, đặc điểm và nhu cầu của con họ bằng họ Chính vì vậy, việc khuyến khích gia đình tham gia vào quá trình PHCN cho TKT sẽ giúp cho nhân viên CTXH có những đánh giá đúng đắn về TKT và GĐTKT,

từ đó có thể đưa ra những biện pháp giải quyết phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của từng gia đình

Năm là, bảo vệ bí mật GĐTKT: Đây là yêu cầu đạo đức đối với nghề

CTXH, phải tôn trọng và bảo vệ bí mật tuyệt đối tất cả nhũng thông tin liên quan đến GĐTKT trong suốt quá trình làm việc với họ Những thông tin của GĐTKT chỉ có thể chia sẻ với những người có liên quan trong quá trình giải quyết vấn đề với điều kiện GĐTKT đã được thông báo, được giải thích và hiểu rõ lí do tại sao phải chia sẻ thông tin và GĐTKT đã đồng ý với việc đó

Sáu là, can thiệp và giúp đỡ có kiểm soát: Trong suốt quá trình hỗ trợ

nhân viên CTXH phải thiết lập được mối quan hệ tốt với GĐTKT để có thể tạo được niềm tin của gia đình, từ đó GĐTKT mới cảm thấy tự tin và thoải mái khi trình bày vấn đề của mình Nhân viên CTXH có thể đặt mình vào vị trí của từng GĐTKT để có thể hiểu được cảm xúc, hành vi và nhu cầu của họ Điều này không có nghĩa là nhân viên CTXH sẽ chia sẻ và đồng cảm với những cảm

Trang 23

xúc đó mà cần phải giữ một khoảng cách để có thể nhận định khách quan về GĐTKT Do vậy, mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và GĐTKT phải được xây dựng trên cơ sở quan hệ nghề nghiệp và nhân viên CTXH phải biết cách tự kiểm soát cảm xúc của mình trong quá trình hỗ trợ GĐTKT

1.3 Cơ sở pháp lý trong công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật

1.3.1 Đối với gia đình

Tại điều 2, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong quy định về những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình có ghi: “Nhà nước,

xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình”.Cũng trong luật này, điều 69 khẳng định cha mẹ và các thành viên gia đình có trách nhiệm “Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình… không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động”.[40]

Cụ thể hơn đối với gia đình người khuyết tật, trong Luật Người khuyết tật năm 2010 cũng quy định rõ về gia đìnhngười khuyết tật có trách nhiệm: a) Bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật; b) Tạo điều kiện để người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; c) Tôn trọng ý kiến của người khuyết tật trong việc quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân người khuyết tật và gia đình.[39]

Liên quan đến vấn đề này, tại Điều 25 Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định về việc PHCN dựa vào cộng đồng cũng quy định rõ trách nhiệm của GĐTKT, cụ thể là: Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là biện pháp thực hiện tại cộng đồng nhằm chuyển giao kiến thức về vấn đề khuyết tật, kỹ năng

Trang 24

phục hồi và thái độ tích cực đến người khuyết tật, gia đình của họ và cộng đồng nhằm tạo sự bình đẳng về cơ hội và hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật PHCN dựa vào cộng đồng.[39]

1.3.2 Đối với trẻ khuyết tật

Năm 1990 Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em, một năm sau Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành, đến năm 2004 luật này được sửa đổi bổ sung nhằm thể chế hóa việc thực hiện các quyền của trẻ em tại Việt Nam, trong đó có nhiều quy định cụ thể về những chính sách đối với TKT Cụ thể là tại điều 25 của luật này có viết: “Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học được gia đình, Nhà nước và xã hội giúp đỡ, chăm sóc, được tạo điều kiện để sớm phát hiện bệnh, chữa bệnh, PHCN; được nhận vào các lớp học hoà nhập, lớp học dành cho trẻ em khuyết tật, tàn tật; được giúp đỡ học văn hoá, học nghề và tham gia hoạt động xã hội”.[38]

Về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, được quy định tại điều 4 Luật Người khuyết tật năm 2010, trong đó ghi rõ người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây: Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; Được chăm sóc sức khỏe, PHCN, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch

và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật Cũng trong luật này, tại điều 5 “Chính sách của Nhà nước về người khuyết tật” đã khẳng định: Hàng năm, Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chính sách về người khuyết tật Phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật Bảo trợ xã hội; trợ giúp người

Trang 25

khuyết tật trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công nghệ thông tin, tham gia giao thông; ưu tiên thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và hỗ trợ người khuyết tật

là trẻ em, người cao tuổi Lồng ghép chính sách về người khuyết tật trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Tạo điều kiện để người khuyết tật được chỉnh hình, PHCN; khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác tư vấn, chăm sóc người khuyết tật Khuyến khích hoạt động trợ giúp người khuyết tật Tạo điều kiện để tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật hoạt động.[38]

1.3.3 Một số chính sách pháp luật cụ thể

Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức trợ cấp xã hội cho các đối tượng yếu thế trong đó có trẻ tàn tật, trẻ là nạn nhân của chất độc hóa học…[4]

Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 25/03/2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án nghề CTXH.[5]

Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 của Thủ tướng chính phủ phê Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015.[6]

Nghị định số 71/2011/NĐ-CP ngày 22/08/2011 thay thế Nghị định số 36/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.[7]

Quyết định 1215/QĐ-TTg: Phê duyệt đề án trợ giúp xã hội và PHCN cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn

2011 – 2020[9]

Có thể khẳng định, đây là nhữngcơ sở pháp lý quan trọng trong CTXH đối với TKT và GĐTKT ở nước ta hiện nay Tại Trung tâm, những cơ sở pháp lý trên đã được vận dụng cho TKT và GĐTKT được hưởng các quyền lợi như được tạo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và PHCN, tôn trọng TKT và

Trang 26

GĐTKT Bên cạnh đó, Trung tâm còn chú trọng trang bị các kiến thức, kỹ năng PHCN cho GĐTKT Đặc biệt, hiện nay theo quyết định 1215/QĐ-TTg

về phê duyệt đề án trợ giúp xã hội và PHCN cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020, Trung tâm đã được

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội giao nhiệm vụ thực hiện chương trình PHCN dựa vào cộng đồng cho TKT và trẻ rối nhiễu tâm trí tại một số huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

Kết luận chương 1

CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên môn mang tính khoa học CTXH đối với gia đình nói chung và đối với GĐTKT nói riêng là một lĩnh vực thuộc ngành CTXH Bằng việc áp dụng các lý thuyết, định nghĩa, trên cơ

sở lý luận và thực tiễn, CTXH đối với GĐTKT sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về CTXH chuyên nghiệp khi trợ giúp cho nhóm đối tượng là GĐTKT Cũng như các tỉnh thành khác, trong dân cư của Hà Nội có một bộ phận trẻ

em bị khuyết tật, đó là những trẻ em phải chịu thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần do khuyết tật gây ra, có thể do bẩm sinh và cũng có thể do mắc phải.Trên thực tế hiện nay nhu cầu về CTXH đối với các GĐTKT trên địa bàn Hà Nội là rất lớn khi phần lớn các GĐTKT đang gặp rất nhiều khó khăn về kiến thức,

kỹ năng PHCN, chăm sóc nuôi dưỡng, tâm lý, tiếp cận chính sách… trên con

đường hỗ trợ con em mình hòa nhập cộng đồng

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VIỆT – HÀN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Một số đặc điểm về thực trạngđịa bàn nghiên cứu

2.1.1 Thành phố Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa đặc biệt quan trọng của Việt Nam, đồng thời

là thành phố có diện tích lớn nhất Việt Nam với 3.328,9 km2 và là địa phương

có dân số đứng thứ hai trong số 63 tỉnh thành với 7.500.000 người (tính đến năm 2015)

Về địa lý, Hà Nội nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam, Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, và phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ

Về cơ cấu dân số, cư dân Hà Nội hiện nay chủ yếu là người Kinh (chiếm 99,1%), các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày (chiếm 0,9%) Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 75 - 77 triệu đồng/người/năm 85% gia đình được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”

Về văn hóa, Hà Nội là nơi tập trung tinh hoa văn hóa của miền Bắc và của cả Việt Nam Trong hàng ngàn năm, vị trí kinh đô đã khiến thành phố này trở thành nơi quy tụ của những nhân vật ưu tú, những thương nhân, những nghệ nhân, những thợ thủ công lành nghề Họ tới đây lập nghiệp, mang theo những phong tục, tập quán địa phương làm cho Hà Nội trở thành mảnh đất tiêu biểu cho nền văn hóa của cả dân tộc

Trang 28

Về TKT, cũng như đối với các tỉnh thành khác, trong dân cư của Hà Nội có một bộ phận dân cư bị khuyết tật, đặc biệt là trẻ em Đó là những trẻ

em phải chịu thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần do khuyết tật gây ra, có thể

do bẩm sinh và cũng có thể do mắc phải Theo số liệu từ kết qủa cuộc điều tra TKT trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2012 – 2014 do Trung tâm giáo dục TKT thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam tiến hành cho thấy, Hà Nội hiện có 10.924 trẻ mắc các dạng khuyết tật kể trên chiếm khoảng 0,15% dân số (10.924/7,5 triệu) và 0,64% trên tổng số trẻ em (10.924/1,7 triệu) Đáng chú

ý, ở tất cả 30 quận, huyện, thị xã của thành phố Hà Nội đều có TKT

Trong tổng số TKT ở Hà Nội, nhóm trẻ khó khăn về học chiếm tỷ lệ cao nhất là 32,3% (trong khi tỷ lệ này ở một số địa phương là 29%) trong nhóm này chủ yếu là các trẻ chậm phát triển trí tuệ (Down) TKT vận động là 27,1% trong đó bại não chiếm đa số, đáng chú ý là ở các huyện càng xa trung tâm nơi thiếu điều kiện chăm sóc y tế càng có nhiều trẻ bại não hơn TKT tâm thần, thần kinh chiếm 19,2%, riêng trẻ tự kỉ chiếm 5,4% TKT nghe nói chiếm 22,2% (trong đó có trẻ câm điếc bẩm sinh, giảm thính lực, rối loạn phát âm ) TKT về nhìn chiếm 21,8% (mất, giảm thị lực, lác, sụp mí ) Còn lại là các dạng khuyết tật khác (tim bẩm sinh, sứt môi hở hàm ếch, dị dạng lồng ngực bẩm sinh, sẹo bỏng, dị dạng bộ phận sinh dục ) Đáng chú ý, ở Hà Nội

tỷ lệ trẻ đa tật khá cao (27,7%), đây là một trong những nhóm khó khăn để hòa nhập cộng đồng

Bên cạnh đó, tỷ lệ trẻ tự kỉ ở các quận nội thành thường cao hơn các huyện ngoại thành rất nhiều, cụ thể là: Quận Ba Đình chiếm 17,8% tổng số trẻ

tự kỷ toàn thành phố Tương tự như vậy, tỷ lệ này ở Quận Hoàn Kiếm: 16,6%, Quận Đống Đa: 16%, Quận Hoàng Mai: 15% và Quận Thanh Xuân: 12,2% Trong khi tỷ lệ này ở các huyện ngoại thành tương đối thấp: Sóc Sơn: 3,3%, Ứng Hòa: 2,2%, Mỹ Đức: 2,1%, Thạch Thất: 2% và Ba Vì chỉ có

Trang 29

0.6% Điều này được giải thích là do phụ huynh trong nội thành thường bận rộn hơn với nhiều áp lực công việc nên ít có thời gian dành để giao tiếp, chuyện trò với các con Song có thể cũng còn nhiều nguyên nhân khác do cuộc sống sôi động và nhiều áp lực mà cuộc sống thành thị mang đến Chúng tôi nhận thấy, đây là một đặc điểm về địa bàn nghiên cứu cần chú ý đến trong CTXH đối với GĐTKT trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.1.2 Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn

2.1.2.1 Lịch sử thành lập

Nhằm góp phần hỗ trợ nâng cao chất lượng các dịch vụ PHCN cho TKT trên địa bàn thành phố Hà Nội, đồng thời giúp TKT trên địa bàn thành phố Hà Nội có cuộc sống tốt hơn, có nhiều cơ hội hòa nhập cộng đồng Tổ chức “The Global Civic Sharing” (GCS - một tổ chức phi chính phủ quốc tế, cam kết thúc đẩy phát triển bền vững thông qua việc hỗ trợ người nghèo ở các nước đang phát triển và nâng cao vị thế xã hội dân sự) và Sở Lao động -

Thương binh và Xã hội Hà Nội đã ký biên bản thỏa thuận thực hiện dự án

“Phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật Hà Nội”

Triển khai dự án trên, ngày 16/05/2006 Uỷ ban nhân dân Tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) đã ra quyết định số 847/QĐ-UBND về việc thành lập “Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn” đóng trên địa bàn Xã Đông Yên - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội Trung tâm là đơn vị bảo trợ xã hội trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Tỉnh Hà Tây (nay là Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội) Trung tâm chính thức đi vào hoạt động từ ngày 16/06/2006

2.1.2.2 Sứ mạng, mục đích và nhiệm vụ của Trung tâm

Theo quyết định thành lập, Trung tâm có chức năng nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đặc biệt và hướng nghiệp nghề, y tế trị liệu PHCN cho TKT trên địa bàn Thành phố Hà Nội Tiếp nhận các dự án tài trợ của các

Trang 30

tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

Trung tâm được tổ chức theo mô hình PHCN khép kín, toàn diện cả về thể chất và tinh thần Kết hợp chặt chẽ giữa PHCN, y tế, giáo dục, hướng nghiệp và dạy nghề Trung tâm có đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có tinh thần đoàn kết, kỷ cương, tình thương và trách nhiệm, luôn tạo điều kiện tốt nhất giúp các TKT được PHCN sớm hoà nhập cộng đồng, giảm bớt gánh nặng cho gia đình, cộng đồng và xã hội

Để thực hiện sứ mạng và mục đích trên, Trung tâm có các nhiệm vụ chủ yếu như sau:

Một là, xây dựng kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm về công tác

nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị, PHCN và hướng nghiệp cho TKT trên địa bàn thành phố Hà Nội theo quy định hiện hành

Hai là, tiếp nhận, tổ chức quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc điều trị PHCN cho

TKT ở các dạng tật: vận động, down, tự kỷ, chậm phát triển trí tuệ, khiếm thính…

Ba là, tổ chức hoạt động PHCN, hoạt động trị liệu, vật lý trị liệu…, trợ

giúp các đối tượng nuôi dưỡng tại Trung tâm trong các hoạt động: tự quản, văn hoá, thể thao và các hoạt động vui chơi khác phù hợp với lứa tuổi, sức khoẻ của từng đối tượng

Bốn là, tổ chức, phối hợp với các cơ quan, đơn vị dạy văn hoá, dạy

nghề, giáo dục đặc biệt, giáo dục hướng nghiệp, các hoạt động ngoại khoá nhằm giúp TKT phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, nhân cách…, để có thể tái hoà nhập cộng đồng

Năm là, tổ chức, phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong việc PHCN

cho TKT tại cộng đồng Tổ chức quản lý, lập hồ sơ theo dõi đối tượng tại cộng đồng theo quy định

Trang 31

Sáu là, tập huấn đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ, nhân viên và

GĐTKT, cán bộ địa phương về kỹ thuật, kỹ năng phục hồi sức khoẻ, chức năng cho trẻ tại Trung tâm và cộng đồng để giúp TKT hoà nhập cộng đồng

Bảy là, thực hiện chương trình hợp tác, giao lưu trao đổi học tập kinh

nghiệm giữa hai nước Việt Nam - Hàn Quốc (trong thời gian thực hiện dự án)

2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị

Trung tâm được xây mới trên diện tích 19.526,8 m2 với mức bình quân 174m2/trẻ Trong đó diện tích đã xây dựng là 3.849,5 m2 bao gồm các khu nhà hành chính, phòng khám, nhà ăn, nhà đa năng, khu PHCN, khu nhà khách, khu nhà nội trú…, còn lại là đường giao thông, thảm cỏ, cảnh quan…,với hệ thống cây xanh đa dạng và cơ sở hạ tầng khang trang, sạch đẹp

Trung tâm gồm 13 khu nhà, được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất và không gian rộng rãi, trong đó có 06 khu nhà sinh hoạt dành cho TKT được chia theo giới tính và độ tuổi, diện tích bình quân phòng ở là 12 m2/đối tượng

01 khu hoạt động trị liệu để PHCN cho TKT với các nội dung về kỹ năng sống và kỹ năng tự phục vụ 01 khu phục hồi với 10 lớp học (03 lớp tiền học đường, 03 lớp tiểu học, 01 lớp hướng nghiệp, 03 lớp dạy nghề) 01 phòng điều hòa cảm giác, 02 phòng can thiệp cá nhân, 01 phòng vật lý trị liệu Trong khuôn viên Trung tâm còn có 01 khu hành chính là nơi làm việc của Ban giám đốc và nhân viên hành chính 01 khu khám và đánh giá, đồng thời là nơi lưu trữ các loại thuốc và các máy móc thiết bị cơ bản phục vụ chăm sóc sức khỏe cho TKT, đây cũng là khu phỏng vấn, khám đánh giá TKT đầu vào Trung tâm còn có 01 hội trường là nơi tổ chức các hội nghị, hội thảo, đồng thời là nơi diễn ra các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ 01 nhà ăn dành cho đối tượng và cán bộ, nhân viên Trung tâm 03 khu nhà khách là nơi ở và làm việc của các chuyên gia và các tình nguyện viên Bên cạnh đó, Trung tâm còn có 01 phòng tập đa năng, 01 sân bóng đá và các khu vui chơi – trị liệu

Trang 32

dành cho đối tượng, khu chăn nuôi và vườn cây của Chi đoàn thanh niên… là những không gian vui chơi, rèn luyện thể chất và tiến hành các hoạt động lao động trị liệu cho đối tượng

Mặc dù mới được thành lập, nhưng cơ sở vật chất của Trung tâm về cơ bản đáp ứng được những điều kiện cho các hoạt động giáo dục, hướng nghiệp, PHCN cho đối tượng theo đúng chức năng và nhiệm vụ

2.1.2.4 Cơ cấu tổ chức

Ban Giám đốc: gồm 03 người, trong đó có 01 giám đốc phụ trách và

điều hành mọi hoạt động của Trung tâm, 02 Phó giám đốc được phân công phụ trách riêng từng nội dung, từng phòng và từng mảng hoạt động theo sự phân công của Giám đốc Giúp việc cho Ban Giám đốc là các phòng chức năng, gồm 03 phòng:

Phòng Tổ chức – Hành chính: gồm 15 người, chia làm 03 tổ (tổ Hành

chính, tổ Cấp dưỡng và tổ Xe) có chức năng tham mưu giúp Ban Giám đốc về công tác quản lý, tổ chức, đào tạo bồi dưỡng cán bộ viên chức, lao động hợp đồng của Trung tâm; Công tác tài chính kế toán, quản lý tài sản, thủ tục hành chính, quản lý TKT; Công tác tổng hợp, pháp chế, quy định, viện trợ nhân đạo, tuyên truyền, thi đua khen thưởng, phụ trách công tác cấp dưỡng hàng ngày cho các đối tượng tại Trung tâm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm,

xuất ăn đủ chất và lượng

Phòng Giáo dục và Hướng nghiệp - Dạy nghề: gồm 10 giáo viên, có

chức năng tham mưu cho Ban Giám đốc về công tác PHCN, giáo dục đặc biệt

và hướng nghiệp dạy nghề cho TKT, tập huấn nâng cao kiến thức cho phụ huynh, phối hợp tham gia chương trình PHCN ngoài cộng đồng

Phòng Y tế - PHCN: gồm 17 người chia làm 03 tổ (tổ Y tế, tổ Kỹ thuật

viên và tổ Hộ lý) có chức năng tham mưu cho Ban Giám đốc về công tác PHCN y tế cho TKT Chăm sóc, quản lý trẻ, khám chữa bệnh Triển khai

Trang 33

chương trình PHCN dựa vào cộng đồng, tập huấn nâng cao kiến thức cho cán

bộ địa phương và GĐTKT

Như vậy, nhìn vào cơ cấu tổ chức của Trung tâm hiện nay có thể thấy rằng, cơ cấu tổ chức của Trung tâm hiện vẫn còn chưa hoàn thiện Trong số các phòng chức năng hiện có, Trung tâm vẫn còn thiếu một số phòng, ban có chức năng đảm nhiệm các nội dung PHCN cho TKT, đồng thời cung cấp các dịch vụ PHCN cho TKT và GĐTKT, đặc biệt là “Phòng Công tác xã hội”

2.2 Một số đặc điểm về gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm

Kể từ khi thành lập đến nay, công tác tiếp nhận đối tượng luôn được chú trọng, Trung tâm đã chủ động cử cán bộ tới từng địa phương trên địa bàn

để khám, lượng giá, phỏng vấn và lập quy trình tiếp nhận trẻ vào Trung tâm Trong 10 năm qua, đã có 437 trẻ được tiếp nhận tham gia các chương trình PHCN tại Trung tâm, số trẻ hòa nhập cộng đồng về GĐ là 321 trẻ Ngoài ra Trung tâm đã PHCN cho 386 đối tượng tại cộng đồng

Hiện nay, Trung tâm đang nuôi dưỡng, chăm sóc, PHCN và giáo dục hướng nghiệp cho 115 trẻ, bao gồm tật Vận động 8/115 trẻ (chiếm 7 %); Khiếm thính 16/115 trẻ (chiếm 14%); Tự kỷ 17/115 trẻ (chiếm 15%); Khuyết tật trí tuệ 63/115 (trẻ chiếm 55%); Down: 11/115 trẻ (chiếm 9.5%)

Thực tế cho thấy, khuyết tật dù ở dạng nào cũng ảnh hưởng sâu sắc tới mối quan hệ cá nhân của TKT, trong đó mối quan hệ gia đình bị ảnh hưởng trước tiên Những GĐTKT thường phải trải qua những khó khăn hơn trong các mối quan hệ so với các gia đình khác, bởi các GĐTKT thường phải đối mặt với nhiều vấn đề do tình trạng khuyết tật của con mình gây ra Vì vậy, GĐTKT đóng vai trò quan trọng và là đối tượng cần tác động tới trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, PHCN và giáo dục hướng nghiệp cho các TKT tại Trung tâm

Qua thực tiễn quá trình tiếp xúc với GĐTKT đang PHCN tại Trung tâm

và từ hồ sơ của TKT được lưu trữ tại Trung tâm Chúng tôi nhận thấy, các GĐTKT ở Trung tâm có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Trang 34

2.2.2 Về điều kiện kinh tế

Mặc dù Trung tâm có chức năng tiếp nhận và PHCN cho TKT trên địa bàn Thành phố Hà Nội, song phần lớn các TKT đang được chăm sóc, nuôi dưỡng, PHCN và giáo dục hướng nghiệp tại Trung tâm có hộ khẩu ở các huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, với địa bàn chủ yếu là nông thôn Nhìn chung các GĐTKT tại Trung tâm gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là về điều kiện kinh tế Đa số GĐTKT có mức thu nhập thấp và không ổn định Số liệu tổng hợp cho thấy, trong số 115 GĐTKT tại Trung tâm hiện nay, chỉ có 11 gia đình (chiếm gần 10%) có kinh tế ổn định khi có

bố hoặc mẹ làm trong cơ quan nhà nước; còn lại 104 gia đình (chiếm hơn 90%) có kinh tế không ổn định, trong đó 72 gia đình (chiếm 63%) làm nghề nông hoặc các ngành nghề tiểu thủ công truyền thống, 15 gia đình (chiếm 13%) buôn bán nhỏ và có tới 17 gia đình (chiếm 14%) là công nhân làm thuê thời vụ hoặc không có việc làm ổn định

Như vậy, xét về điều kiện kinh tế, phần lớn các GĐTKT tại Trung tâm hiện nay có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập thấp và không ổn định, mức sống không cao

Trang 35

2.2.3 Về trình độ học vấn

Theo phần khai của các gia đình trong hồ sơ được lưu trữ tại Trung tâm, phần lớn các GĐTKT ở đây đều có trình độ học vấn trung bình, chỉ có 16/115 gia đình (chiếm khoảng 14%) có bố, mẹ có trình độ đại học, cao đẳng hoặc trung cấp chuyên nghiệp, có 75/115 gia đình (chiếm 65%) có bố, mẹ đạt trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông; số còn lại có trình độ học vấn thấp, thậm chí có nhiều cha mẹ TKT chỉ dừng lại ở mức độ biết đọc, biết viết

2.2.4 Về đời sống tình cảm, tinh thần

Qua thực tiễn quá trình tiếp xúc và làm việc với các GĐTKT tại Trung tâm, đồng thời qua quá trình khảo sát, xét về mặt đời sống, tình cảm có thể chia các GĐTKT tại Trung tâm hiện nay thành hai nhóm như sau:

Một là, nhóm gia đình chịu căng thẳng về tinh thần: gồm những gia

đình có xung đột giữa các thành viên như xung đột giữa vợ và chồng, giữa bố

mẹ với ông bà, hoặc tự bản thân người bố, người mẹ của TKT cảm thấy chán nản, bất lực với việc chữa trị cho con, dẫn đến tư tưởng bi quan, xem khuyết tật của con là gánh nặng với bản thân và gia đình Những gia đình trong nhóm này thường có biểu hiện bỏ mặc trẻ, không quan tâm đến trẻ mà phó mặc nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, PHCN và giáo dục hướng nghiệp của TKT cho Trung tâm

Hai là, nhóm gia đình chấp nhận sự thật con mình bị khuyết tật và sẵn sàng phối hợp để chữa trị cho trẻ: đối lập với nhóm gia đình trên, những gia

đình thuộc nhóm này là những gia đình chấp nhận sự thật về khuyết tật của con mình Một số gia đình mặc dù có điều kiện kinh tế khó khăn, nhưng họ vẫn mong muốn đưa con vào Trung tâm và phối hợp với Trung tâm để PHCN cho con mình với hy vọng con mình có thể phục hồi và thay đổi được cuộc sống Bên cạnh đó, các gia đình này thường có suy nghĩ tích cực về khuyết tật của trẻ và cho rằng, trẻ bị khuyết tật đã chịu nhiều thiệt thòi nên họ muốn quan tâm nhiều hơn để bù đắp cho con mình

Trang 36

2.3 Thực trạng nhu cầu của trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật tại Trung tâm

2.3.1 Nhu cầu và việc đáp ứng nhu cầu của gia đình trẻ khuyết tật

Bảng 2.1: Đánh giá nhu cầu của gia đình và sự hỗ trợ của Trung tâm qua ý kiến của gia đình và cán bộ nhân viên

Gia đình

[Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát cán bộ Trung tâm và GĐTKT của Tác giả]

Số liệu khảo sát ở bảng2.1 cho thấy, nhu cầu gia đình cần thiết nhất ở đây là sự giúp đỡ về vật chất và dụng cụ trợ giúp (chiếm 85% rất cần thiết); thứ 2 là về chăm sóc, quản lý và chế độ dinh dưỡng, sức khỏe (chiếm 80% rất cần thiết); thứ 3 là nhu cầu về sự tham gia chương trình giao lưu hòa nhập (chiếm 78% rất cần thiết); tiếp đó là động viên, giúp đỡ về mặt tâm lý; kiến

Trang 37

thức, kỹ năng, phương pháp PHCN; hỗ trợ về thời gian và nội dung PHCN; vàxếp cuối cùng là hỗ trợ về dạy nghề và trợ giúp pháp lý

Trong khi đó, kết quả khảo sát đối với cán bộ nhân viên Trung tâm thì ngược lại, họ thấy hỗ trợ cần thiết nhất là sự hỗ trợ về thời gian và nội dung PHCN cho trẻ (87% rất cần thiết); thứ 2 là động viên, giúp đỡ về mặt tâm lý

và trẻ được tham gia nhiều chương trình giao lưu hòa nhập (84% rất cần thiết); thứ 3 là kiến thức, kỹ năng PHCN (79% rất cần thiết); tiếp đó là chăm sóc, quản lý và chế độ dinh dưỡng, sức khỏe; trợ giúp về vật chất và dụng cụ;

và xếp cuối cùng là sự hỗ trợ về dạy nghề và trợ giúp pháp lý Đặc biệt, cán

bộ nhân viên Trung tâm cho rằng, tất cả các nội dung hỗ trợ đều ở mức độ rất cần thiết và cần thiết, không có ý kiến ở mức độ không cần thiết

Việc đánh giá những nhu cầu cụ thể mà GĐTKT ở đây cần cho họ và con của họ được thể hiện tóm tắt theo thứ bậc ở bảng2.2

Bảng 2.2: Tổng hợp thứ bậc nhu cầu theo đánh giá của gia đình trẻ khuyết tậtvà cán bộ nhân viên về các dịch vụ cung cấp cho trẻ khuyết tật

tại Trung tâm Cấp

dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ

2 Động viên, giúp đỡ về mặt tâm

lý và trẻ được tham gia nhiều chương trình giao lưu hòa nhập

3 Tham gia nhiều chương trình

Kiến thức, kỹ năng PHCN cho trẻ

4 Động viên, giúp đỡ về mặt

tâm lý

4 Chăm sóc, quản lý và chế độ dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ

5 Kiến thức, kỹ năng, phương

7 Hỗ trợ về dạy nghề và trợ

giúp pháp lý

[Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát cán bộ Trung tâm và GĐTKT của Tác giả]

Trang 38

Nhìn vào cấp độ trên, có sự chênh lệch về nhu cầu của gia đình và sự

hỗ trợ của cán bộ nhân viên Trung tâm Các gia đình đều cho rằng, những hỗ trợ cần thiết nhất đối với họ là về vật chất và dụng cụ, chăm sóc và quản lý, dinh dưỡng, sức khỏe, tham gia chương trình giao lưu hòa nhập và hỗ trợ về mặt tâm lý; sau đó mời mới đến các nhu cầu về kiến thức, kỹ năng phương pháp PHCN, cũng như thời gian và nội dung PHCN Chúng tôi cho rằng, những nhu cầu này rất hợp lý với đối tượng gia đình ở đây, hơn nữa con của

họ lại thuộc dạng khuyết tật đặc biệt nặng, nên về cơ bản mong muốn lớn nhất của họ khi đến Trung tâm là trẻ được an toàn, mạnh khỏe… Do vậy, họ muốn Trung tâm hỗ trợ về vật chất và tâm lý cho trẻ và gia đình, còn các hỗ trợ về kiến thức, kỹ năng, phương pháp, nội dung PHCN, dạy nghề, pháp lý cho con

em mình họ đặt ở vị trí thấp hơn

Trong khi đó, đa số cán bộ nhân viên Trung tâm cho rằng, khi TKT vào Trung tâm thì việc PHCN cho trẻ đóng vai trò quan trọng nhất Vì vậy, họ quan tâm nhiều đến thời gian và nội dung PHCN cho trẻ; tiếp đó là hỗ trợ về kiến thức, kỹ năng, phương pháp PHCN cho gia đình Họ cũng mong muốn

hỗ trợ tâm lý cho trẻ và gia đình, hỗ trợ trẻ tham gia các chương trình giao lưu hòa nhập, quản lý, chăm sóc, dinh dưỡng và sức khỏe Còn các nội dung hỗ trợ về vật chất, dụng cụ, dạy nghề và trợ giúp pháp lý đặt ở mức thấp hơn Điều này cho thấy, cán bộ nhân viên Trung tâm rất quan tâm đến công tác PHCN cho TKT

Như vậy, do nhận thức của gia đình và cán bộ nhân viên Trung tâm về mức độ cần thiết của các dịch vụ khác nhau, đã dẫn đến tình trạng việc đáp ứng nhu cầu của cán bộ nhân viên Trung tâm không phù hợp với nhu cầu của gia đình Phải chăng đây là lý do làm cho một số gia đình chưa thực sự hài lòng về hiệu quả PHCN cho TKT tại Trung tâm

Trang 39

2.3.2 Sự hài lòng của gia đình và cán bộ nhân viên Trung tâm về việc đáp ứng các nhu cầu cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm

Kết quả đánh giá sự hài lòng của gia đình và cán bộ nhân viên Trung tâm về việc đáp ứng nhu cầu PHCN và sinh hoạt hiện nay của Trung tâm thông qua các dịch vụ mà Trung tâm đã cung cấp được thể hiện ở bảng 2.3 và bảng 2.4 (tính theo điểm, với mức cao nhất “rất hài lòng” là 5 điểm và “rất không hài lòng” là 1 điểm)

Bảng2.3: Sự hài lòng của gia đình về việc đáp ứng các nhu cầu phục hồi

chức năng tại Trung tâm

Tổng số gia đình trả lời: 100

Nội dung

Sự hài lòng thể hiện theo từng mức độ

Điểm tổng cộng

Thứ

tự đánh giá

Rất hài lòng (5)

Hài lòng (4)

Bình thường (3)

Không hài lòng (2)

Rất không hài lòng (1) Việc đáp ứng chế độ

Trang 40

Số liệu ở bảng2.3 cho thấy, số gia đình hài lòng nhất đó là thái độ làm việc của cán bộ Trung tâm (xếp thứ nhất với 418 điểm); thứ hai là trình độ làm việc của cán bộ Trung tâm (415 điểm); tiếp theo là việc đáp ứng chế độ dinh dưỡng hàng ngày xếp thứ 3 trong bảng quan sát (408 điểm) Điều này cho thấy, về cơ bản các gia đình đã hài lòng khi gửi con vào Trung tâm, họ tin tưởng vào thái độ, trình độ làm việc của cán bộ nhân viên Trung tâm cũng như việc đáp ứng chế độ dinh dưỡng hàng ngày; xếp thứ 4 là chế độ nghỉ ngơi

và PHCN hợp lý; thứ 5 là nội dung chương trình, kế hoạch PHCN cho TKT đang thực hiện tại Trung tâm; hai nội dung có số điểm thấp nhất là chỗ ăn ở, sinh hoạt nội trú (đạt 255 điểm xếp thứ 6) và các trang thiết bị, phương tiện sinh hoạt hàng ngày (xếp thứ 7 với 247 điểm)

Bước đầu có thể khẳng định, kết quả điều tra trên đã phản ánh mức độ hài lòng của gia đình đối với các nhu cầu cho TKT tại Trung tâm Thực tế, Trung tâm là đơn vị công lập do nhà nước đầu tư nên một số trang thiết bị, cơ

sở vật chất không được đầu tư như ở những cơ sở tư nhân Trong khi đó, một

số gia đình lại mong muốn Trung tâm có một số cơ sở vật chất để phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu đặc biệt (kể cả có thể đóng thêm kinh phí) như điều hòa, phòng riêng, chế độ ăn riêng, cán bộ quản lý riêng … Tuy nhiên, những nhu cầu này Trung tâm chưa thể đáp ứng được do vượt quá chức năng nhiệm

vụ của Trung tâm

Ngày đăng: 06/10/2016, 14:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  Tháp nhu cầu theo “Lý thuyết nhu cầu” của Maslow  13  Bảng 2.1.  Đánh  giá  nhu  cầu  của  gia  đình  và  sự  hỗ  trợ  của - Công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội
Hình 1.1. Tháp nhu cầu theo “Lý thuyết nhu cầu” của Maslow 13 Bảng 2.1. Đánh giá nhu cầu của gia đình và sự hỗ trợ của (Trang 5)
Bảng 2.2: Tổng hợp thứ bậc nhu cầu theo đánh giá của gia đình trẻ  khuyết tậtvà cán bộ nhân viên về các dịch vụ cung cấp cho trẻ khuyết tật - Công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội
Bảng 2.2 Tổng hợp thứ bậc nhu cầu theo đánh giá của gia đình trẻ khuyết tậtvà cán bộ nhân viên về các dịch vụ cung cấp cho trẻ khuyết tật (Trang 37)
Bảng 2.5: Sự tham gia của gia đình vào các giai đoạn quản lý ca - Công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội
Bảng 2.5 Sự tham gia của gia đình vào các giai đoạn quản lý ca (Trang 51)
Bảng 2.6: Sự tham gia của gia đình vào việc xây dựng kế hoạch trợ giúp - Công tác xã hội đối với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội
Bảng 2.6 Sự tham gia của gia đình vào việc xây dựng kế hoạch trợ giúp (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w