Hoạt động công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi tại Trung tâm Trợ giúp xã hội và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ.. DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP Hình 2.1 Sơ đồ tổ c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VIỆT HƯNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI TÂM THẦN TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
PHẠM VIỆT HƯNG
Trang 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN CAO TUỔI TỈNH PHÚ THỌ 9
1.1 Lý luận về người tâm thần 9
1.2 Lý luận về công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi 32
1.4 Các văn bản pháp lý liên quan đến công tác xã hội đối với người tâm thần 38
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI TÂM THẦN TỈNH PHÚ THỌ 40
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 40
2.2 Hoạt động công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi tại Trung tâm Trợ giúp xã hội và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ 46
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi tại Trung tâm 53
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THÂN CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM 62
3.1 Nhóm giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng 62
3.2 Nhóm biện pháp nâng cao năng lực 67
3.3 Nhóm biện pháp đổi mới các hoạt động công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm 69
3.4 Nhóm biện pháp về xây dựng và phát huy mô hình công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi 75
KẾT LUẬN 78
DANH MUC TÀI LIỆU THAM KHẢO… 81
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
6 TTTGXH&PHCNCNTT Trung tâm trợ giúp xã hội và phục hồi
chức năng cho người tâm thần
7 PHCNTLXH Phục hồi chức năng tâm lý xã hội
9 Sở LĐ-TB&XH Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
10 TG&CTS Trợ giúp và can thiệp sớm
11
Trung tâm Trung tâm trợ giúp xã hội và phục hồi
chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Trung tâm trợ giúp xã hội và phục
hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ
Hộp 2.1 Đánh giá của người nhà bệnh nhân tâm thần cao tuổi
về CTXH tại Trung tâm
Hộp 3.1 Một số hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức của
cộng đồng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ về CTXH đối với
NTTCT
64
Hộp 3.2 Những thói quen và nhận thức của người dân dẫn đến
bệnh tâm thần gia tăng
65
Hộp 3.3 Nội dung cần được tập huấn để nâng cao năng lực
CTXH đối với NTT
69
Hộp 3.4 Những biện pháp đổi mới nội dung và phương thức
thực hiện CTXH đối với NTTCT tại Trung tâm
70
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay số lượng người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam không ngừng gia tăng Theo một cuộc thống kê điều tra dân số, ước tính đến năm 2020, tỷ lệ người cao tuổi có thể chiếm khoảng 18% dân số Cùng với sự gia tăng các
bệnh thực thể, các rối loạn tâm thần (RLTT) cũng là bạn đồng hành của những NCT Năm 2012, Hội Alzheimer quốc tế đánh giá có tới 4,7% người
trên 60 tuổi bị bệnh Alzheimer (chiếm khoảng 50% các trường hợp sa sút tâm thần), tương đương 35,6 triệu người chung sống với bệnh Alzheimer và sẽ tăng gấp 2 lần mỗi 20 năm Khoảng 60-80% trường hợp sa sút tâm thần do thoái hóa thần kinh não bộ như bệnh Alzheimer, các bệnh thoái hóa thần kinh khác cũng là nguyên nhân sa sút tâm thần như bệnh Parkinson, bệnh Huntington Một số bệnh gây tổn hại não bộ như đột quỵ do nguyên nhân mạch máu, bệnh xơ vữa mạch máu như tăng huyết áp, tăng cholesterol… Ngoài ra còn có các bệnh lý khác như chấn thương sọ não, u não, xơ cứng rải rác lan tỏa, sử dụng ma túy… cũng có thể dẫn tới sa sút tâm thần
Người cao tuổi rất cần được chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần Khi
bị bệnh phải được phát hiện và chăm sóc điều trị kịp thời Khi bị mắc các bệnh về tâm thần người già mất đi khả năng sống độc lập vì họ bị hạn chế
về vận động, yếu về thể chất, nhiều người sống cô đơn, bị mất người thân, không ít người bị ngược đãi, nghèo đói, sự cô lập xã hội, mất tự do… đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của họ Sự đoàn kết, mối liên hệ lỏng lẻo giữa các thế hệ đang ngày càng giảm xuống đẩy người già vào nỗi cô đơn buồn chán, khiến họ dễ bị các rối loạn tâm thấn.Nên người cao tuổi khi mắc các bệnh tâm thần rất cần được trợ giúp và cần tuân thủ một chương trình điều trị thích hợp, giúp cải thiện các triệu chứng ngày càng tốt hơn Người bệnh sẽ cảm thấy sinh lực trở lại để làm những công việc mà mình yêu thích,
Trang 7mọi đau đớn và các suy nghĩ bất ổn cũng qua đi và vượt lên tất cả là ý nghĩ, cái nhìn toàn cục mới mẻ về cuộc sống
Đó chính là điều mà tất cả chúng ta ai cũng cần hướng tới Vấn đề đặt
ra là nhân viên y tế, nhân viên công tác xã hội, người nhà bệnh nhân và cả người thân bệnh nhân cần được đào tạo hướng dẫn chăm sóc chuyên nghiệp nhằm giữ sự sa sút sức khỏe ở mức thấp nhất, cùng với các hỗ trợ xã hội cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sa sút tâm thần
Ở Việt Nam chưa có cuộc tổng điều tra về sức khoẻ tâm thần song những số liệu từ các cuộc khảo sát lớn của các cơ quan chức năng cho thấy,
số lượng người bị các bệnh liên quan đến sức khoẻ tâm thần ngày một tăng Mục tiêu của đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011- 2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành, xác định : “90% số người tâm thần có hành vi nguy hiểm đến gia đình, cộng đồng và số người tâm thần lang thang được phục hồi chức năng luân phiên tại các cơ sở bảo trợ xã hội; 90% số người rối nhiễu tâm trí có nguy cơ cao bị tâm thần, người tâm thần được tư vấn, trị liệu tâm lý và
sử dụng các dịch vụ CTXH khác” Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu dự
án còn này của Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 - 2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu dự án này còn khá nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết.Trước hết là nhu cầu về nhân viên CTXH chưa được đáp ứng Dù người bệnh được điều trị ở cộng đồng hay các
cơ sở y tế thì họ cũng luôn cần sự chăm sóc, giúp đỡ của nhân viên CTXH Hiện nay, có 18 trung tâm điều dưỡng, phục hồi chức năng cho người tâm thần thuộc diện quản lý của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tại 17 tỉnh, thành phố còn rất yếu và đặc biệt là công tác xã hội với người tâm thần cao tuổi Trong bài tham luận Thảo Quốc Tế về Phát Triển Nghề Công tác Xã
Trang 8Hội, tổ chức tại Đà Nẵng, ngày 3-4 tháng 11/2009 Số ca được chẩn đoán hoặc tự biết mình có rối nhiễu tâm trí chỉ chiếm không quá 20% 80% còn lại
là không biết mình có bệnh do vậy, người bệnh hoàn toàn không được chăm sóc theo đúng nghĩa của khái niệm chăm sóc SKTT [21] Có thế nói, việc nâng cao hiệu quả của các nhân viên công tác xã hội chăm sóc cho người tâm thân cao tuổi có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của họ
Từ những lý do đó chúng tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội đối với
người tâm thần cao tuổi từ thực tiễn trung tâm trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần ở tỉnh Phú Thọ”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Một đề tài cấp Nhà nước có quy mô khảo sát lớn, theo tiêu chuẩn quy định của quốc tế trên diện rộng gồm 67.380 người ở 8 vùng địa lý và 7 vùng kinh tế xã hội khác nhau, cho thấy chỉ tính trên 10 mã bệnh phổ biến, nước ta
đã có 15% dân số bị các bệnh liên quan đến sức khoẻ tâm thần Trong khi đó, quy chuẩn của nhân loại cũng như ở Việt Nam, có tới hơn 300 mã bệnh tâm thần [33] Người tâm thần dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng rất cần sự quan tâm trợ giúp của người thân, cộng đồng, các dịch vụ xã hội Đặc biệt là công tác xã hội với NTTCT, hiện nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào về lĩnh vực này, nên việc chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này không được dựa trên sự kế thừa của các nghiên cứu trước đó về công tác xã hội với NTTCT, chúng tôi chỉ tham khảo những nghiên cứu từ góc độ y tế để tìm hiểu về đặc điểm và nhu cầu của người bệnh Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế hoạt động tại TTTGXH
& PHCNCNTT Tỉnh Phú Thọ cùng với những kiến thức về công tác xã hội trong thời gian được đào tạo chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu về vấn đề này nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị đem lại lợi ích cho sức khỏe tâm trí
người Việt Nam nói chung và những vấn đề về CTXH với NTTCT
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác xã hội đối với NTTCT qua thực tế tỉnh Phú Thọ Từ đó đề xuất các giải pháp để thúc đẩy công tác xã hội đối với NTTCT tại Trung tâm
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến công tác xã hội đối với NTTCT
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về người tâm thần, các lý thuyết được
áp dụng trong công tác xã hội đối với NTTCT
Đánh giá thực trạng CTXH đối với NTTCT tại địa bàn tỉnh Phú Thọ Nhận diện các yếu tố tác động đến CTXH đối với NTTCT tại địa bàn tỉnh Phú Thọ
Đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động CTXH đối với NTTCT từ thực tiễn Trung tâm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động của công tác xã hội đối với NTTCT tại Trung tâm Trợ giúp xã hội và Phục hồi chức năng cho người tâm thần (TTTGXH &PHCNCNTT) tỉnh Phú Thọ
Trang 105 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Dựa trên quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước trong công tác Trợ giúp xã hội và Phục hồi chức năng cho NTTCT của nước Việt Nam và của riêng tỉnh Phú Thọ hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu + Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như: Nhập môn CTXH, Lý thuyết CTXH, CTXH nhóm, CTXH với người tâm thần , CTXH với người cao tuổi
+ Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn
đề CTXH đối với người tâm thần, người tâm thần phân liệt
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo để đánh giá thực trạng công tác
xã hội đối với người tâm thần cao tuổi
+ Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách hỗ trợ đối với người tâm thần
- Phương pháp quan sát
+ Quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu thông qua các tri giác như nghe, nhìn, để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm
đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát để quan sát các hoạt động bao gồm: giờ giấc sinh hoạt, điều trị, nghỉ ngơi, lao động, tư vấn trong một ngày, một tuần, một tháng để hiểu rõ về thực trạng người tâm
Trang 11thần cao tuổi đang được nuôi dưỡng trong Trung tâm Trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ
- Phương pháp phỏng vấn sâu (cán bộ trực tiếp chăm sóc người tâm thần cao tuổi)
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp Phương pháp này được
sử dụng để tìm hiểu sâu sác về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, động
cơ, quan điểm, chính kiến của các đối tượng được phỏng vấn đối với các vấn
đề liên quan
Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng phỏng vấn sâu để tìm hiểu về đời sống, tâm tư nguyện vọng cũng như nhu cầu của người tâm thần cao tuổi trong Trung tâm trợ giúp xã hội phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ và thuận lợi, khó khăn gặp phải của đội ngũ cán bộ khi thực hiện chính sách trợ giúp người tâm thần cao tuổi tại Trung tâm
Đối tượng phỏng vấn : gia đình, con hoặc vợ ( chồng) NTTCT có người nhà ở các mức độ tâm thần: nặng, ổn định, thuyên giảm, cán bộ quản lý Trung tâm, cán bộ của Trung tâm
Dung lượng mẫu:10 phiếu
Cơ cấu mẫu: Gia đình bệnh nhân 3, cán bộ 05, cán bộ quản lý 02 Chúng tôi sử dụng câu hỏi phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu các thông tin liên quan đến việc tìm hiểu thực tiễn các hoạt động đối với NTTCT tại Trung tâm, Các giải pháp cung cấp dịch vụ CTXH cho NTTCT tại Trung tâm
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Chúng tôi lấy ý kiến của các nhà
khoa học, các nhà công tác xã hội, các cán bộ giảng dạy có thâm niên và kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác xã hội đối với các nhóm yếu thế về các vấn đề: Các khái niệm khoa học, những luận cứ khoa học, thực trạng công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi, cách tổ chức thực nghiệm khoa học và
cách xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn
Trang 12Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: Chúng tôi nghiên
cứu kết quả của các hoạt động công tác xã hội tại trung tâm Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi tại trung tâm và đề các biện pháp thích hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phân làm sáng tỏ lý luận về CTXH
với người cao tuổi tâm thần (NTTCT), qua đó bổ xung và làm phong phú thêm cách nhìn nhận và đánh giá CTXH với NTTCT tại Trung tâm trợ giúp
xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ (TTTGXH
&PHCNCNTT )
Kết quả nghiên cứu còn là đề tài tham khảo hữu ích đối với các học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến lĩnh vực CTXH với NCT và NTTCT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có cái nhìn tổng quan về tâm sinh lý người cao tuổi cũng như CTXH với người tâm thần cao tuổi qua thực tế tại TTTGXH & PHCNCNTT tỉnh Phú Thọ, từ đó nâng cao trách nhiệm của mọi người cùng với sự hỗ trợ của nhà nước nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho NCT
và NTTCT
Chỉ ra được tầm quan trọng của NVCTXH với NTTCT cũng như các đối tượng yếu thế trong xã hội
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi
Trang 13Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi tại Trung tâm Trợ giúp xã hội và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi tại Trung tâm Trợ giúp xã hội và Phục hồi
chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN CAO TUỔI TỈNH PHÚ THỌ
1.1 Lý luận về người tâm thần
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm về bệnh tâm thần
Là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm thần, bệnh
cơ thể… làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức, bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm thần có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh [23]
Phạm vi các bệnh tâm thần rất rộng Bệnh tâm thần là loại bệnh rất phổ biến, công nghiệp ngày càng phát triển, sự tập trung dân cư vào các thành phố ngày càng đông, cuộc sống ngày càng căng thẳng thì bệnh ngày càng tăng Có những bệnh tâm thần nặng (các bệnh loạn thần), quá trình phản ánh thực tại sai lệch trầm trọng, hành vi, tác phong bị sai lệch nhiều Có những bệnh nhân tâm thần nhẹ (các bệnh tâm căn, nhân cách bệnh), quá trình phản ánh thực tại cũng như hành vi tác phong rối loạn ít, bệnh nhân vẫn còn có thể sinh hoạt, lao động, học tập được, tuy có giảm sút - Bệnh tâm thần thường không gây chết đột ngột nhưng làm đảo lộn sinh hoạt, gây căng thẳng cho các thành viên trong gia đình và tổn thất cả về kinh tế Bệnh tâm thần nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến trạng thái tâm thần sa sút, người bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời là để ngăn chặn sự tiến triển xấu này
* Phân biệt bệnh tâm thần với bệnh thần kinh : Điểm khác nhau - Bệnh
tâm thần (còn gọi là tâm bệnh) chưa phát hiện được tổn thương đặc hiệu về
Trang 15mặt hình thái của hệ thần kinh mà chỉ phát hiện được những biến đổi tinh vi
về mặt sinh hóa, miễn dịch, di truyền… Ða số các dấu hiệu bệnh là do rối loạn chức năng của não Phần lớn bệnh nhân có thể ăn khỏe, chơi khỏe, đi đứng bình thường nhưng có ý nghĩ, cảm xúc, hành vi không phù hợp, kỳ dị, khó hiểu Bệnh nhân tâm thần thường không nhận thấy mình bị bệnh, từ chối điều trị tại chuyên khoa tâm thần - Bệnh nhân thần kinh có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra làm tổn thương thực thể tại các phần khác nhau của hệ thần kinh như não bộ, tủy sống, dây thần kinh ngoại vi gây rối loạn chủ yếu chức năng tiếp thu và thực hiện của con người Người bệnh ít có các hành vi
kỳ dị, ý nghĩ bất bình thường nhưng có thể tê liệt nửa người, khó khăn đi đứng, ăn nói, điếc, mù
* Nguyên nhân và các bệnh tâm thần thường gặp:
Nguyên nhân gây nên bệnh tâm thần là một vấn đề phức tạp Hiện nay,
có những bệnh nguyên nhân đã rõ ràng, nhưng vẫn còn một số bệnh nguyên nhân chưa xác định được Xung quanh vấn đề bệnh nguyên và bệnh sinh các bệnh tâm thần còn tồn tại nhiều quan điểm và giả thuyết khác nhau
Do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác (di truyền, chuyển hóa, miễn dịch, cấu tạo thể chất…) nên khó xác định nguyên nhân chủ yếu Các rối loạn tâm thần nội sinh thường gặp là:
Bệnh tâm thần phân liệt
+ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực
+ Động kinh nguyên phát
Các nhân tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh :
+ Yếu tố di truyền : Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến
một số bệnh tâm thần nhưng không phải là tuyệt đối Có khi bệnh tâm thần phát sinh trong một thành viên của gia đình mà không thấy trong các thành viên khác, có trường hợp cha mẹ đều có bệnh mà con cháu vẫn khỏe mạnh
Trang 16bình thường Cũng có trường hợp nhân tố di truyền không tác động vào thế hệ tiếp theo mà vào thế hệ sau nữa
+ Yếu tố nhân cách: Nhân cách bao gồm: thích thú, khuynh hướng,
năng lực, tính cách, khí chất…
- Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh các bệnh tâm thần, nhất là các bệnh do căn nguyên tâm lý Khi bị bệnh tâm thần thì người có nhân cách vững bị nhẹ hơn và hồi phục nhanh hơn
- Nhân cách yếu, không bền vững là một yếu tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh, khi mắc bệnh tâm thần sẽ hồi phục khó khăn và chậm
+Tuổi tác: Mỗi lứa tuổi có những đặc điểm tâm lý riêng, vì thế có
những loại bệnh tâm thần thường hay xảy ra ở lứa tuổi này mà ít xảy ra ở lứa tuổi khác
+ Giới tính: Nam giới thường hay mắc bệnh tâm thần nhiều hơn nữ
giới Các bệnh tâm thần do chấn thương sọ não, nghiện rượu, bệnh động kinh… thường gặp ở nam giới Các bệnh rối loạn phân ly (histeria), rối loạn cảm xúc lưỡng cực, trầm cảm, lo âu…hay gặp ở nữ giới Đặc biệt phụ nữ còn
có những rối loạn tâm thần do những sự biến động của nội tiết vào các thời kỳ: dậy thì, kỳ kình nguyệt, sinh nở, tiền mãn kinh mà và mãn kinh
*Tình trạng sức khỏe của người tâm thần: Trên thực tế lâm sàng
thường gặp những bệnh tâm thần phát sinh khi sức khỏe bị giảm sút, mất ngủ kéo dài, thiếu dinh dưỡng lâu ngày, làm việc quá sức…Khi người bệnh tâm thần quá suy kiệt thì cần phải nâng cao thể trạng để giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục
Bệnh tâm thần phân liệt: Các rối loạn phân liệt có đặc điểm chung là rối loạn cơ bản và đặc trưng về tư duy, tri giác và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn, ý thức còn rõ ràng và năng lực trí tuệ thường được tư duy Bệnh nhân thường cảm thấy ý nghĩ của mình hình như bị người khác biết hay lấy
Trang 17bớt, hay ý nghĩ của mình vang thành tiếng hay bị phát thanh Cảm thấy có sức mạnh tự nhiên hay siêu nhiên đang hoạt động làm ảnh hưởng đến ý nghĩ, cảm xúc hay hành vi của mình Tri giác thường bị rối loạn theo những cách khác nhau, thường có những ảo thanh bình luận về bệnh nhân Nét đặc trưng của cảm xúc là nông cạn, thất thường hay không thích hợp Trong một số trường hợp tư duy trở nên gián đoạn hay thêm từ khi nói hoặc lời nói không thích hợp Tác phong có thể trở nên rối loạn trầm trọng, kích động hay sững sờ giữ nguyên tư thế, tập tính cá nhân có thể biến đổi, trở nên mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác và cách ly xã hội Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 18 đến 30,
tỷ lệ mắc bệnh từ 0,5% đến 1% dân số Điều trị chủ yếu bằng các thuốc an thần kinh phối hợp với liệu pháp lao động thích ứng xã hội
1.1.2 Đặc điểm đời sống tâm lý- xã hội và nhu cầu của người tâm thần cao tuổi
* Tuổi thọ của người tâm thần
Cuộc đời người mắc bệnh tâm thần nặng ngắn hơn từ 15–20 năm so với tuổi thọ dân số chung ở 3 quốc gia (Đan Mạch, Phần Lan và Thụy Điển)
có chính sách chăm sóc sức khỏe chất lượng cao và tỷ lệ tử vong ở người bệnh tâm thần cao gấp 2–3 lần so với dân số chung Đây là kết quả nghiên cứu của Cơ quan nghiên cứu sức khỏe tâm thần Bắc Âu, Gothenburg, Thụy Điển từ năm 1987–2006 Nghiên cứu này cho thấy có sự mất cân bằng lớn giữa những người bệnh tâm thần và dân số còn lại Theo Gs Kristian Wahlbeck, lãnh đạo nhóm nghiên cứu cho biết cuộc đời bệnh nhân tâm thần nam ngắn hơn 20 năm và bệnh nhân nữ ngắn hơn 15 năm Nghiên cứu này đăng trên Tạp chí tâm thần Anh quốc số tháng 12/2011 [37] Tương tự như các nước phát triển, Thụy Điển, Phần Lan và Đan Mạch đã qua giai đoạn
“giải phóng bệnh nhân tâm thần khỏi các bệnh viện tâm thần lớn – nơi giam giữ” sự thay đổi lớn lao với chính sách bệnh nhân tâm thần điều trị nội trú chuyển sang điều trị ngoại trú tại cộng đồng và hòa nhập xã hội Các tác giả
Trang 18đưa ra một vài khả năng giải thích về tỷ lệ tử vong cao ở người bệnh tâm thần bao gồm phong cách sống không lành mạnh, sức khỏe yếu, chăm sóc y tế không phù hợp và do “văn hóa (hay thói quen) xem thường các bệnh lý thường xảy ra kèm theo ở người bệnh tâm thần(và tử vong sớm do các bệnh
lý kèm theo này)” Ngoài ra kết quả còn cho thấy người bệnh tâm thần thường nghèo hơn, không có việc làm, độc thân và bị cách ly ra ngoài sự phát triển của
xã hội - tất cả được xem là các yếu tố nguy cơ gây nên sức khỏe kém và tử vong sớm Mặc dù là 3 nước Bắc Âu nằm trong các nước cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng tốt nhất và phân bố công bằng nhất trên thế giới nhưng khoảng cách tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân tâm thần và trong dân số chung gần nhau chỉ trong 2 thập kỷ qua và khoảng cách này vẫn không thay đổi
*Bệnh tâm thần ở người cao tuổi
Xuất hiện sau tuổi 65 và tuổi càng cao thì khả năng bị mắc bệnh ngày càng tăng Hiện nay tại Mỹ cứ trong mỗi 20 người ở lứa tuổi 65 thì có 1 người
bị tâm thần, còn ở lứa tuổi bằng hoặc trên 85 thì có 3 đến 5 người bị bệnh Người tâm thần cao tuổi thường khởi phát rất chậm và dần dần theo thời gian sẽ trở nên nặng hơn Các triệu chứng xuất hiện đầu tiên thường là thay đổi tính tình và giảm trí nhớ NTTCT trở nên dễ mệt mỏi, tức giận hoặc
lo âu Thường hay quên đồ dùng mình để chỗ nào nên hay mất thời gian tìm kiếm Sự suy giảm trí nhớ bệnh lý này khác với sự giảm trí nhớ nhẹ có thể gặp
ở người già bình thường Dần dần trí nhớ người bệnh ngày càng giảm sút hơn
Họ thường quên tên của món đồ mà họ muốn gọi, quên tên các bạn thân, không hiểu các con số trên hóa đơn tính tiền, không hiểu những gì mình đọc trong sách báo, không thể viết và không thể lập được kế hoạch làm việc hằng ngày Lúc này người bệnh bắt đầu khó hoà nhập vào môi trường xả hội chung quanh, thường dễ nổi giận vô cớ, hay la lối, ăn mặc không phù hợp với hoàn cảnh
Trang 19Cuối cùng người bệnh trở nên lú lẫn, không biết ngày tháng năm, không nói được tên địa danh nơi họ đang sống, nếu đi ra khỏi nhà thì thường hay đi lang thang và không tìm được đường về, đêm khó ngủ, không thể nói chuyện mạch lạc với người chung quanh, quên tên và không nhận ra con cái, không thể tự làm những việc cơ bản hằng ngày như tắm rửa, ăn uống, làm vệ sinh cá nhân Lúc này người thân sẽ phải chăm sóc bệnh nhân về mọi mặt và trong mọi lúc
Khoảng 30% bệnh nhân có ảo giác và 30% bệnh nhân có hoang tưởng
40 - 50% bệnh nhân có các triệu chứng trầm cảm và lo âu Diễn tiến bệnh sẽ trở nên nặng hơn một cách từ từ Thời gian sống trung bình của người bệnh
từ lúc phát bệnh đến lúc chết thường là từ 8 – 10 năm Bệnh nhân thường chết
vì suy kiệt hoặc do các bệnh lý phối hợp như viêm phổi, bệnh tim mạch [35]
1.2 Lý luận về công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi
1.2.1 Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống
Theo IFSW (Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế), Tháng 07/2000,
Montreal, Canada: "Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ
Trang 20thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề."
Theo đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 32/2010/QĐ-TTg thì CTXH
được định nghĩa như sau: “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ Qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người
và tiến bộ xã hội”
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010) CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [15 tr 19]
* Khái niệm về công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi :
Là phương pháp mà nhân viên công tác xã hội sử dụng các đạo đức nghề công tác xã hội, các kiến thức, kỹ năng công tác xã hội để trợ giúp người tâm thần nhằm giải quyết các vấn đề xã hội của người tâm thần cao tuổi
1.2.2 Vai trò của công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi
Khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng mà khả năng đáp ứng của ngành y tế chưa theo kịp thì những người làm CTXH có vai trò rất quan trọng Họ giúp tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh với người thân, giữa người bệnh với
những người chung quanh, giữa người bệnh với cơ sở y tế Ðể cân nhắc về
Trang 21vị trí của công tác xã hội đối với NTT, trước tiên cần xem xét vai trò và nhiệm vụ đòi hỏi ở một cán bộ CTXH Kỹ năng chính đòi hỏi mỗi cán bộ CTXH phải biết là đưa ra những đánh giá về mặt xã hội để đóng góp cho việc chẩn đoán và điều trị Những thông tin về hoàn cảnh xã hội của người bệnh, bao gồm cả các mối quan hệ với gia đình và các vấn đề đi kèm, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chẩn đoán và điều trị Người làm CTXH có thể can thiệp về mặt tâm lý xã hội với vai trò là một phần của kế hoạch điều trị đặc biệt hỗ trợ để để kết nối các dịch vụ xã hội Trong một số trường hợp, người cán bộ CTXH có liên quan đến việc thiết lập, quản lý dịch vụ, hoặc xây dựng chính sách để tạo ra những dịch vụ bảo đảm việc chăm sóc về sau cho người bệnh Những người làm CTXH có vai trò rất lớn như vậy, nhưng trong thực tế ở cả ba cấp độ trong ngành y (bệnh viện, cộng đồng và hoạch định chính sách) đều ít có sự tham gia của cán bộ CTXH Tại các bệnh viện ở tất
cả các tuyến của khu vực công lập cũng như ngoài công lập, hoạt động khám, chữa bệnh mới chỉ được thực hiện bởi các nhân viên có trình độ chuyên môn
về y Các biện pháp trị liệu về xã hội chưa được quan tâm Hiện tại, một vài bệnh viện có duy trì hoạt động xã hội, nhưng chủ yếu mang tính từ thiện Các hoạt động này còn thiếu tính chuyên nghiệp, mang nặng tính từ thiện, chỉ hỗ trợ người bệnh giải quyết một vài nhu cầu bức thiết như: bếp ăn từ thiện, gây quỹ từ thiện Trong khi đó, tại hầu hết các bệnh viện của cả nước, nhất là các bệnh viện tuyến trên, thường xuyên ở trong tình trạng quá tải Nhân viên y tế không có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu của người bệnh Do vậy, hiện đang có nhiều mâu thuẫn nảy sinh ở các bệnh viện như sự không hài lòng của người bệnh đối với các cơ sở y tế, căng thẳng trong mối quan hệ giữa người bệnh và thầy thuốc Có thể tất cả những vấn đề này sẽ chấm dứt nếu có sự tham gia của những người làm CTXH tại các bệnh viện Với mạng lưới hơn 1.000 bệnh viện, nếu hình thành một mạng lưới hoạt động
Trang 22CTXH thì cũng có nghĩa là sẽ cần đến hàng nghìn nhân viên xã hội Hoạt động CTXH ở bệnh viện, không chỉ có vai trò trong hỗ trợ người bệnh mà còn
có tác dụng lớn trong việc hỗ trợ thầy thuốc giảm bớt áp lực công việc cũng như nâng cao hiệu quả điều trị Tại cộng đồng, hiện nay nhiều chương trình mục tiêu y tế quốc gia đang triển khai và rất cần có sự tham dự của nhân viên CTXH, nhất là các chương trình liên quan đến những nhóm xã hội đặc thù như: quản lý, chăm sóc, tư vấn cho người nhiễm HIV, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, phòng, chống lao, tâm thần, quản lý sức khỏe hộ gia đình, sức khỏe sinh sản, phòng chống tai nạn thương tích Tại tuyến xã, phường, các chương trình này từ trước đến nay thường do nhân viên y tế và các cán bộ đoàn thể đảm nhận theo tinh thần tự nguyện, chưa được đào tạo một cách chuyên nghiệp Tại cấp hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe hiện nay cũng chưa có sự tham gia của CTXH Nhu cầu sử dụng đội ngũ nhân viên CTXH của ngành y tế hiện nay là rất lớn và rất cần thiết ở mọi cấp độ Song theo các chuyên gia trong ngành, cần phải căn cứ vào nhu cầu thực tế và khả năng đáp ứng để xác định lĩnh vực ưu tiên, lộ trình phát triển sao cho phù hợp Trước mắt, cần ưu tiên hình thành mạng lưới hoạt động CTXH tại các bệnh viện, nhất là các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh Tại mỗi bệnh viện nên thành lập một đơn vị chuyên đảm nhận hoạt động này Về lâu dài, cần thiết phải mở rộng mạng lưới CTXH trong chăm sóc sức khỏe đến tận cộng đồng để có thể hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của chăm sóc sức
khỏe ban đầu, đem dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần với người dân
1.2.3 Lý thuyết tiếp cận trong làm việc với người tâm thần
Cũng như các ngành chuyên môn khác, ngành CTXH tiếp cận và sử dụng một số các lý thuyết khoa học về xã hội thuộc ngành tâm lý học như: thuyết nhân văn hiện sinh; thuyết vai trò; thuyết nhận thức - hành vi…, các lý
Trang 23thuyết về sự tiếp cận giữa các cá nhân và nhóm, xã hội như: thuyết hệ thống…
Trong phạm vi đề tài này, một số lý thuyết có thể sử dụng hiệu quả trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn đó là: Thuyết về quyền con người, thuyết nhu cầu con người, thuyết hệ thống và cách tiếp cận theo mô hình xã hội
1.2.3.1.Thuyết về quyền con người
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện các hoạt động CTXH
Cách tiếp cận dựa trên quyền lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền con người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ Với cách tiếp cận theo quyền, NVCTXH cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng các phương pháp và hoạt động của những mô hình phát triển xã hội Cách tiếp cận dựa trên quyền con người luôn đưa ra đối tượng tác động cụ thể, đó chính là con người với các quyền cơ bản của mình Theo đó, NVCTXH thực hiện việc trao quyền cho con người thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình [15, tr 168] Tiếp cận dựa trên quyền nhằm hướng tới việc cải thiện hoàn cảnh của con người, tập trung vào nhu cầu, vấn đề và tiềm năng của họ Đây là cách tiếp cận mang tính nhân văn, đối tượng dù đang phải gặp vấn đề khó khăn nào cũng được tôn trọng như một con người với đầy đủ các giá trị Tiếp cận dựa trên quyền coi con người là trung tâm, tập trung vào nhu cầu và tiềm năng của
họ để đi tới giải quyết vấn đề Ví dụ, NTTCT thường yếu thế hơn những người bình thường trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, các cơ hội về y tế và thường bị xã hội phân biệt đối xử Tiếp cận dựa trên quyền sẽ luôn nhìn nhận
họ như là những người bình thường cần được hưởng các dịch vụ xã hội như những người khác và chưa được xã hội tạo điều kiện tốt nhất có thể, chưa
Trang 24được sự hỗ trợ của nguồn lực cộng đồng Từ đó, NVCTXH sẽ giúp đỡ họ tiếp cận và sử dụng đúng quyền mà họ đáng được hưởng, cho dù họ là ai, trong hoàn cảnh như thế nào
Trong phạm vi đề tài này, NTTCT được xem là đối tượng cần trợ giúp,
hỗ trợ và họ có đầy đủ các quyền của mình Tiếp cận hướng vào quyền không chỉ tạo điều kiện cho chính những NTTCT thấy được tầm quan trọng của bản thân trong hệ thống xã hội, cộng đồng để họ có thể được hưởng những dịch
vụ trờ giúp của xã hội Tiếp cận dựa vào quyền còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc của hệ thống chính trị, xã hội của nước ta - vì con người và đặt con người
là trung tâm của sự phát triển, là điều kiện cần và đủ để NTTTCT thực hiện quyền của họ và sử dụng quyền có mục đích và có ý nghĩa
Vận dụng thuyết này vào đề tài ta có thể giúp NTTCT nhận thấy được những quyền cơ bản của họ đã được các văn bản pháp luật có liên quan như quyền được tham gia các hoạt động xã hội; quyền được học tập, giáo dục; trợ giúp pháp lý; chăm sóc sức khỏe; việc làm; sống độc lập… Ngoài ra, việc đánh giá các chế độ, chính sách và chương trình, mô hình trợ giúp NTTCT tại địa phương cũng như việc triển khai thực hiện tại TTTGXH
&PHCNCNTT Tỉnh Phú Thọ cần phải dựa trên quan điểm quyền con người,
từ việc thực hiện quyền và sử dụng quyền của NTTCT cũng như các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận các quyền của NTTCT tại địa phương
1.2.3.2 Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của
họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao về tầm quan trọng Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp: cấp thấp và cấp cao
Trang 25Hình 1.1 Thang nhu cầu của Maslows Nhu cầu cấp thấp gồm hai nhu cầu về vật chất (1) và an toàn (2) Nhu cầu về vật chất là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo con người tồn tại bao gồm các hành vi: ăn, uống, ở, mặc, ngủ nghỉ, đi lại…Nhu cầu về
an toàn bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần
Nhu cầu cấp cao gồm ba nhu cầu về xã hội (3), tôn trọng (4) và phát triển (5) Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có
xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa
vị, uy tín…cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát
Trang 26triển toàn diện Theo ông, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất đinh sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn
Việc ứng dụng lý thuyết này vào CTXH đối với NTTCT đòi hỏi nhân viên CTXH hiểu rằng NTTCT thường có những nhu cầu rất cụ thể Vì thế nhân viên CTXH cần phải phân tích các nhu cầu của NTTCT theo từng cấp bậc cụ thể, nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo
ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A Maslow, từ đó đáp ứng nhu cầu cho NTTCT một cách phù hợp
1.2.3.3 Thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học Lugwig von Bertalanffy (1901-1972) Về sau, các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển như Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980)
Đây là một lý thuyết sinh học và từ lĩnh vực sinh học, các nguyên tắc của
lý thuyết này được chuyển sang việc giải quyết những vấn đề của chuyên ngành khác trong đó có khoa học xã hội, nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người với xã hội [16, tr.196]
Theo định nghĩa của CTXH hiện đại, “Hệ thống là một tập hợp các thành
tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất”
Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ tương hỗ Những thay đổi của phần tử này trong hệ thống sẽ gây ra tác động tới các phần tử khác [16, tr 197]
Điều này có nghĩa là không có hệ thống đứng riêng lẻ mà hệ thống luôn nằm trong một môi trường nào đó, tương tác với các hệ thống khác trong môi trường
Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng trong CTXH, đặc biệt khi tìm hiểu, đánh giá về hệ thống xung quanh NTTCT
Trang 27Nó giúp cho NV CTXH biết được NTTCT đang thiếu những gì, những hệ thống họ có thể tham gia và tiếp cận bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến những cái tổng thể và mang tính hòa nhập Nó còn là công cụ giúp NVXH khi
họ phải sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can thiệp
Có 3 loại hệ thống thỏa mãn cuộc sống của con người:
- Hệ thống chính thức : tổ chức công đoàn, cộng đồng …
- Hệ thống phi chính thức : bạn bè, gia đình…
- Hệ thống xã hội: bệnh viện, nhà trường…
Ứng dụng lý thuyết hệ thống vào đề tài, ngoài sự can thiệp, chữa trị của 3 loại hệ thống trên, NVXH đóng vai trò quan trọng trong việc giúp phục hồi chức năng và hòa nhập cộng đồng, đặc biệt là trong việc tăng cường sự kết nối, hỗ trợ lẫn nhau của cả 3 loại hệ thống (trong đó có các trung tâm/hội bảo trợ) một cách khoa học và phù hợp với từng đối tượng NV CTXH giúp NTTCT kết nối với các hệ thống mà họ thiếu hụt như: gia đình, bạn bè, người thân hay cộng đồng, xã hội, các thiết chế, dịch vụ…Việc tạo điều kiện và hỗ trợ triệt để sẽ giúp cho NTTCT sớm ổn định
Bên cạnh đó, NV CTXH có thể xác định những yếu tố, nguồn lực quan trọng cũng như hoàn cảnh cụ thể của NTTCT để can thiệp, hỗ trợ kịp thời Đồng thời, NVCTXH kết hợp, huy động được các nguồn lực sẵn có, những hệ thống chính sách cần thiết còn ẩn hoặc NTTCT chưa có điều kiện tiếp nhận
để giúp cho cơ quan trực tiếp bảo trợ NTTCT có quá trình can thiệp đạt hiệu quả cao
Môi trường xã hội được hiểu là những liên hệ, tác động, ảnh hưởng giữa các thành tố cùng tồn tại trong một môi trường sống Những mối liên hệ này có tính hai chiều và phụ thuộc vào nhau
Trang 28Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả
hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ
hệ thống đó
Lý thuyết hệ thống cho rằng một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu hệ thống nhỏ trong nó đồng thời nó cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng lớn hơn Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tố càng đa dạng Giữa các thành tố có mối quam hệ qua lại mật thiết với nhau Sự thay đổi, biến động của mỗi thành tố trong một hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đến các thành tố khác và ngược lại Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống và thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất
Trong chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung và NTTCT, lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng lên NTTCT Lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa NTTCT và hệ thống sinh thái – môi trường xã hội Mỗi cá nhân NTTCT đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh
Khi làm việc với NTTCT hoặc với người nhà của NTTCT, nhân viên công tác xã hội cần xem xét bản thân họ trong hệ thống lớn hơn là hệ thống gia đình và hệ thống gia đình là một phần tử trong hệ thống một cộng đồng nhất định Các hệ thống này đều có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau Khi xác định vấn đề của NTTCT hoặc gia đình NTTCT thì cần đặt trong mối quan hệ tương tác giữa các hệ thống này để phân tích sâu hơn về các nguyên nhân dẫn đến vấn đề đó
Các hệ thống có sự tương hỗ lẫn nhau Vấn đề ở đây nếu chưa có sự tương hỗ này là do những xung đột nhất định hoặc vì một lí do nào đó mà
Trang 29NTTCT và gia đình của NTTCT chưa tiếp cận tới được các hệ thống hỗ trợ
đó Vì vậy, nhiệm vụ của NVCTXH là tìm ra những mâu thuẫn trong việc kết nối giữa các nhu cầu của NTTCT và các hệ thống trợ giúp bên ngoài để có thể hỗ trợ NTTCT và gia đình họ nhiều hơn Ngoài ra áp dụng thuyết hệ thống sinh thái sẽ giúp nhân viên công tác xã hội…
Trên cơ sở lý thuyết hệ thống, chúng tôi nhận thấy vấn đề trợ giúp của nhân viên công tác xã hội đối với NTTCT là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: cán bộ quản lý, người làm công tác chăm sóc, NVCTXH, hàng xóm, họ hàng, các hội đoàn thể, chính sách chăm sóc NCT, cơ sở vật chất, tài chính …Mặt khác, hệ thống dành cho NTTCT tại TTTGXH
&PHCNCNTT tỉnh Phú Thọ cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống bảo trợ của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Bên cạnh đó, tìm hiểu hoạt động trợ giúp,chăm sóc NTTCT trên cơ sở
lý thuyết hệ thống sinh thái, đề tài cũng phân tích mối quan hệ giữa NTTCT với các cá nhân, tổ chức, nhóm cộng đồng trong một hệ thống sinh thái Ở đó, các mối quan hệ có sự tác động qua lại với nhau Để hiểu một yếu tố nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó Lý thuyết hệ thống có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện trong công tác xã hội như
tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát triển cộng đồng
1.2.3.4 Tiếp cận theo mô hình xã hội
Hướng tiếp cận theo mô hình xã hội của bệnh tâm thần cho rằng, những rào cản và định kiến của xã hội dù là có chủ ý hay vô ý là những nguyên nhân chính xác định ai là NTTCT và ai là người cao tuổi không tâm thần Mô hình
xã hội nhấn mạnh tới sự bình đẳng và chú trọng đến những thay đổi cần thiết của xã hội
Trang 30Mô hình xã hội đề cập đến NTTCT là kết quả của việc tổ chức xã hội Xã hội tổ chức không được tốt nên NTTCT phải đối mặt với việc không được chăm sóc, phân biệt đối xử và họ thường gặp phải 3 loại rào cản:
- Thái độ: Xã hội có thái độ kỳ thị, thiếu tôn trọng, thiếu hiểu biết, sợ hãi… Những thái độ này một mặt khiến NTTCT không được chăm sóc, bị bỏ rơi, không hòa nhập được vào các hoạt động của đời sống xã hội
- Môi trường xã hội không hài hòa dẫn đến NTTCT không tiếp cận được các dịch vụ xã hội như: Bệnh viện, các trung tâm trợ giúp xã hội, các dịch vụ
ta cần hiểu rằng NTTCT không bị coi là vấn đề cá nhân mà là vấn đề của xã hội xuất phát từ những chính sách, tổ chức thực hiện, thái độ và môi trường Vậy nên tiếp cận theo mô hình xã hội là tổng hòa các mối quan hệ xã hội trong việc nỗ lực trợ giúp NTTCT trong mọi hoạt động
Trang 311.2.4 Hoạt động Công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi
1.2.4.1 Tư vấn, tham vấn với gia đình có người tâm thần cao tuổi
Khi trong nhà có người cao tuổi bị bệnh tâm thần, mọi thành viên khác đều phải chịu sức ép về tâm lý ở một mức độ nào đó Song mọi thành viên trong gia đình không thể làm gì để thay đổi một sự thật đã bất di bất dịch Thực tế buộc gia đình phải nghiêm túc đối mặt để vượt qua thách thức, cũng như có một nghị lực mạnh mẽ để nâng đỡ người bệnh- người thân của mình.Trước hết là một lý trí dũng cảm, biết chấp nhận họ, làm sao để họ cảm thấy họ là một thành viên của gia đình Gia đình không tranh luận,không để
họ thấy cách cư xử khác thường đối với họ, mà phải giành cho họ tình cảm,
sự yêu thương, quan tâm chăm sóc, đưa lại cho họ cảm giác được bảo đảm an toàn, ấm áp dễ hoà nhập hơn với xung quanh Bệnh tâm thần không phải do thần thánh hay ma quỷ gây nên mà là một bệnh lý do những biến đổi sinh học rất phức tạp của não và chịu tác động rất mạnh của môi trường tâm lý xã hội không thuận lợi Một khi cộng đồng và gia đình hiểu rõ bản chất và nguyên nhân của bệnh tâm thần, mọi người sẽ có sự nhìn nhận theo chiều hướng tích cực đó là: thái độ tôn trọng, tình cảm ấm áp, không bỏ mặc, hắt hủi hành hạ Việc uống thuốc hàng ngày là cần thiết để ổn định bệnh, bệnh có ổn định thì người bệnh mới thực hiện được tái thích ứng với gia đình và xã hội Gia đình cũng xác định việc chăm sóc người bệnh tâm thần, không phải chỉ có thuốc là
đủ mà phải toàn diện, đặc biệt là chăm sóc về tâm lý để phục hồi chức năng tâm lý xã hội Thái độ gia đình chính là những can thiệp tâm lý sớm nhất và tốt nhất cho người bệnh Muốn vậy, gia đình phải hiểu biết về bệnh tâm thần, cảm thông chia sẻ những mặc cảm của người bệnh, giúp người bệnh thích ứng được với cuộc sống xã hội bằng cách tạo điều kiện để người bệnh tham gia lao động tập thể, sinh hoạt giải trí thích hợp hoặc tối thiểu là lao động phục vụ sinh hoạt hàng ngày như nấu ăn, dọn dẹp vệ sinh, sinh hoạt giải trí, thể thao,
Trang 32ca nhạc, văn hoá xã hội Trừng phạt người bệnh là một bằng chứng của sự kém hiểu biết Không được trừng phạt người bệnh bằng thái độ xa lánh, không nói chuyện hoặc nói rất ít với người bệnh, không lắng nghe người bệnh nói, không thân thiết với người bệnh, chán ghét hoặc khổ sở vì họ như vậy
sẽ càng làm cho bệnh tật của họ nặng thêm Gia đình cũng cần biết những gì làm cho bệnh nặng thêm và tìm cách tránh những cái đó như : những cảm xúc căng thẳng, lo lắng sợ hãi, buồn chán, phiền muộn có thể do lời nói, cử chỉ, hành vi thiếu thận trọng của người xung quanh hoặc do những xung đột trong mối quan hệ gia đình, cộng đồng Khi người bệnh làm được một việc tốt hoặc
cư xử theo ý muốn của gia đình, gia đình hãy biểu dương khen thưởng hành
vi đó tuỳ mức độ và điều kiện gia đình, khi đó người bệnh sẽ cảm thấy rằng gia đình yêu mến họ, sự thật họ vẫn là người có ích và sẽ dễ dàng chấp nhận
sự hướng dẫn của gia đình.Hãy để người bệnh tham gia vào hoạt động của gia đình, tiếp tục trò chuyện với người bệnh như trước đây và để người bệnh tham gia vào những cuộc nói chuyện trong gia đình Hãy lắng nghe người bệnh nói về những cảm giác của họ với gia đình và phải thể hiện là mọi người đều hiểu họ
Chăm sóc của gia đình ở đây nghĩa là nói đến thái độ quan tâm và cách ứng xử hợp lý của gia đình với người bệnh, chứ tuyệt đối không phải là phục tùng hoặc phục vụ thái quá Gia đình rất cần phải giúp người bệnh tự làm lấy những công việc thông thường trong sinh hoạt hàng ngày càng nhiều càng tốt Nếu người bệnh đã có một thời gian dài không biết cách tự chăm sóc bản thân, gia đình hãy hướng dẫn họ dần dần (như tắm giặt, vệ sinh cá nhân, gấp chăn màn, quét nhà, dọn dẹp nhà ) Không để cho người bệnh ở trạng thái thụ động, hãy làm việc gì đó với họ, đưa họ đi chơi đây đó, tạo cơ hội giao tiếp với xã hội Cũng đừng quá nóng vội mà bắt họ làm việc quá khả năng của họ Giống như nhiều bệnh cơ thể khác (bệnh lao, bệnh sốt rét, bệnh đái tháo
Trang 33đường ), bệnh tâm thần là bệnh mãn tính và hay tái phát Hai nhân tố chính làm bệnh dễ tái phát là dùng thuốc an thần kinh không đều và yếu tố nâng đỡ kém Yếu tố nâng đỡ bao gồm hệ thống nâng đỡ bao gồm hệ thống nâng đỡ của cả gia đình và xã hội về các sinh hoạt, nhà ở, việc làm, chăm sóc tại cộng đồng Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, khi những hỗ trợ từ phía xã hội còn chưa được coi trọng thích đáng, các dịch vụ phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần còn chưa sẵn có, gia đình cần phải hiểu rõ trách nhiệm lớn lao của họ trước khi trông đợi vào sự trợ giúp từ cộng đồng và xã hội, vai trò gia đình hơn bao giờ hết phải được phát huy hàng đầu
1.2.4.2 Hướng nghiệp lao động trị liệu
Việc hướng nghiệp lao động trị liệu trong điều trị các bệnh nhân tâm thầncó ý nghĩa giúp người bệnh
- Cải thiện các triệu chứng âm tính: thu mình, giảm hoạt động có ý chí, suy giảm nhận thức, giảm tự tin
- Hỗ trợ trong điều trị các triệu chứng dương tính: các hoang tưởng, ảo giác thường xuất hiện khi bệnh nhân ngồi một chỗ Khi tham gia các hoạt động bệnh nhân quay lại cuộc sống hiện thực do đó hạn chế các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác
- Tăng giá trị của bệnh nhân: bệnh nhân tâm thần thường có tư tưởng tự đánh giá thấp bản thân, xem mình là người bỏ đi không có ích cho xã hội Qua lao động bệnh nhân nhận được thành quả lao động của họ Do đó bệnh nhân thấy hứng thú với công việc và thay đổi cái nhìn về bản thân
- Tạo môi trường tích cực cho bệnh nhân trong suốt thời gian nằm viện: Bệnh nhân thường có cảm giác chán, vô dụng trong suốt thời gian nằm viện, đặc biệt đối với bệnh nhân nằm lâu ngày Với các hướng nghiệp lao động trị liệu bệnh nhân thấy được giá trị và niềm vui trong thời gian này
Trang 34Khi thực hiện lao động hướng nghiệp nên phân chia ra các cấp độ khác nhau:
- Mức độ đơn giản: đối với các bệnh nhân mới ổn định, khả năng nhận
thức còn bị ảnh hưởng nặng nề Với mức độ này có thể thực hiện các hoạt động: về sinh ngoại cảnh bệnh viện, trồng rau mầm
- Mức độ trung bình: Bệnh nhân đã tạm ổn đinh, có mức độ nhận thức
cao hơn.Có thể có các hoạt động: làm hồ sơ bệnh án, trồng rau, làm các thùng đựng rác thải y tế
- Mức độ cao: bệnh nhân đã ổn định tốt, có chức năng nhận thức cao
Bệnh nhân tham gia các hoạt động làm chiếu, may áo quần, làm hoa
1.2.4.3 Các hoạt động hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế
Một trong những hoạt động CTXH với người tâm thần là hỗ trợ họ tiếp cận dich vụ y tế,hỗ trợ bệnh nhân trong các hoạt động phục hồi; tạo môi trường thuận lợi cho người bệnh điều trị; quản lý việc uống thuốc của bệnh nhân Đối với khu vực nông thôn thì khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường bị hạn chế hoặc triển khai kém hiệu quả do cản trở về khoảng cách, địa lý, còn đối với thành thị NTTCT có nhiều cơ hội tiếp cận hơn do các dịch vụ y tế được phân bố trong phạm vi hợp lý Chi phí tài chính nhìn chung là rào cản để tiếp cận các dịch vụ y tế Nếu trong phục hồi chức năng được dựa vào cộng đồng, là người bệnh không bị tách khỏi cộng đồng
mà mình đang sinh sống Họ được hỗ trợ điều trị và phục hồi ngay trong môi trường sống hiện tại của mình
Các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực điều trị và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng gồm có: Y tế tuyến xã, cơ sở phòng và trị liệu, phục hồi chức năng tại địa phương; các bệnh viện tâm thần; cơ sở bảo trợ
xã hội …một đơn vị quan trọng cần có nhưng hiện tại Việt Nam đang tiến
Trang 35hành thành lập, đó là các trung tâm dịch vụ Công tác xã hội, làm nhiệm vụ can thiệp, phục hồi, tham vấn và hỗ trợ người bệnh tiếp cận phúc lợi xã hội
Tuy nhiên, thực tế hiện tại có rất ít người bệnh được điều trị và phục hồi tại cộng đồng Lý do bởi: chưa có nhiều tổ chức cung cấp dịch vụ tham vấn, trị liệu tâm lý cho bệnh nhân tâm thần ở cộng đồng; cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần tại cộng đồng, đặc biệt ở những địa phương vùng sâu vùng xa
Cơ chế chính sách trợ giúp xã hội đối với người tâm thần vẫn còn những bất cập nhất định Chưa có sự phối hợp giữa các cán bộ y tế và cán bộ ngành Lao động –
Xã hội Đặc biệt chưa có mạng lưới Nhân viên xã hội trợ giúp Vì những lý do trên nên hiệu quả của công tác điều trị và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần tại cộng đồng chưa cao
1.2.4.4 Hỗ trợ pháp lý
Trong một số trường hợp bệnh nhân tâm thần ở nhiều bệnh viện có khi quyền con người bị tước đoạt, dư luận miệt thị Chính vì lẽ đó ở đa số nước Luật sức khỏe tâm thần đều quy định vào bệnh viên tâm thần điều trị có 2 hình thức:
* Nhập viện tự nguyện : là bệnh nhân tự đến xin nhập viện theo quyền
tự do cá nhân, không ai có quyền ngăn cản hay gây trở ngợi và họ tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình Luật Bảo vệ Sức khỏe nhân dân của nước ta cũng quy định mọi người dân đều có quyền khám chữa bệnh, cơ quan
y tế phải tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền này Tuy nhiên đối với bệnh viên tâm thần thì phải đề phòng đối tượng giả bệnh vào viện để lẩn tránh
xã hội, lẩn tránh pháp luật, chạy tội vì vậy tuy tự nguyện bệnh nhân cũng phải
có giấy giới thiệu của cơ quan, của y tế cơ sở, có chứng minh nhân dân …Và
có được vào viện hay không là quyền quyết định của bác sĩ tiếp bệnh Bác sĩ tiếp bệnh cho vào nhập viện phải khám xét xác nhận xem người đó có bệnh
Trang 36hay không bệnh mức độ nào, có cần nhập viện hay không? khi đã ký giấy cho vào viện ít nhiều bác sĩ cũng liên đới
* Nhập viện theo yêu cầu của người khác (còn gọi là người thứ ba,
ngoài bệnh nhân và pháp luật): Vì người bệnh tâm thần ít có người tự biết mình bị bệnh, tự biết sự cần thiết phải chữa bệnh Bệnh tật của họ nhiều khi không những gây hại cho bản thân họ mà còn cho người khác, gia đình và xã hội Có nhiều trường hợp gia đình, cơ quan, chính quyền địa phương phải đưa tới bệnh viện tâm thần để điều trị Lúc đó quyền tự quyết của bệnh nhân bị gạt sang một bên Ít nhiều sự nhập viện của bệnh nhân cũng mang tính ép buộc Lúc này trách nhiệm nhân sự và hình sự (nếu có) của vụ việc là người thứ ba phải chịu
Ở các nước Âu – Mỹ phát triển đề cao quyền tự do cá nhân nên việc này được quy định rất chặt chẽ Người yêu cầu người khác vào viện phải có tư cách pháp nhân và có quan hệ rõ ràng với đối tượng, sẵn sàng chịu mọi yêu cầu của pháp luật Nếu mọi yêu cầu của họ bị phát hiện là sai có ý đồ xấu, phi y tế thì họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật Nhưng dù sao cũng phải qua bác sĩ tiếp nhận, bác sĩ nhận biết sự cần thiết nhập viện hay không theo quy định chuyên môn nghiệp vụ Khi ký giấy bác sĩ cũng chịu trách nhiệm liên đới về việc điều trị của mình Ở nước ta có truyền thống từ trước tới nay mọi vấn đề chăm sóc sức khỏe đều do gia đình đảm nhận mà người đảm nhận chính việc này là người mẹ, người vợ sau đó mới đến các ngướn thân khác phù hợp với truyền thống đạo lý tình cảm và quyền thừa kế xã hội vì vậy gần như mọi quyết định đưa người nhà đi chữa bệnh đều coi là hợp lý và dễ dàng chấp nhận Chuyện đưa người nhà vào bệnh viện với ý đồ xấu là rất hiếm Như vậy các hình thức nhập viện đều phải có người đưa ra quyết định (cá nhân, đương sự, cơ quan pháp luật
và người thứ ba) Đồng thời phải có ý kiến của các nhà chuyên môn (bác sĩ chuyên khoa tâm thần) Tuy nhiên đối với các bệnh tâm thần do tính chất trừu
Trang 37tượng và tính chủ quan của các triệu chứng bệnh, khó chứng minh cụ thể bằng các tổn thương như bệnh thực thể, nên thường người ta quy định sau một thời gian (thường là 2 tuần) sau khi bệnh nhân nhập viện bác sĩ tại khoa điều trị phải
có báo cáo cụ thể về tình trạng của bệnh nhân, đưa ra chẩn đoán xác định bệnh nhân có bệnh hay không bệnh gì có cần nhập viện hay không Trong trường hợp bệnh nhân điều trị bắt buộc cơ quan pháp luật nơi ra quyết định điều trị bắt buộc cũng phải cử người giám sát cơ quan y tế thực hiện Nhà nước nên sớm xây dựng Luật sức khỏe tâm thần quy định cụ thể chặt chẽ và toàn vẹn vấn đề này xã hội càng phát triển các vấn đề về sức khỏe tâm thần càng phức tạp liên quan đến luật pháp ngày càng nhiều Các cơ quan chính quyền, công an sự trợ giúp các gia đình có người bị bệnh tâm thần có hành vi nguy hiểm, có khã năng gây mất an ninh trật tự, gây nguy hiểm tính mạng cho người khác, gây cháy nổ … đưa bệnh
nhân đi bệnh viện tâm thần điều trị khi họ có yêu cầu trợ giúp Hiện nay, phần
lớn các nước trên thế giới đều có Luật Chăm sóc sức khỏe tâm thần, Việt Nam là
1 trong số 35 nước chưa có luật này Vì vậy, việc nghiên cứu, xem xét để tiến tới xây dựng và ban hành luật về chăm sóc sức khỏe người tâm thần là cơ sở, hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng nhất khi xem xét tất cả các vấn đề liên quan
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi
1.3.1 Yếu tố thuộc về bản thân người tâm thần cao tuổi
Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của NTTCT, cho thấy tuổi già có những biểu hiện tâm lý liên quan đến quá trình lão hóa Sự chậm chạp về tâm lý vận động: một động tác nhưng mất nhiều thời gian, sự lẫn lộn về thời gian, rối loạn trí nhớ: khó khăn trong việc tái hiện, có thể nhớ được khi có sự gợi ý, có khi lú lẫn, do liên quan đến sự suy giảm ý thức và tập trung chú ý
- Khó tập trung chú ý hoặc chú ý giảm, cảm xúc dao động liên quan đến sự lão hóa hệ viền, cấu tạo lưới Những biến đổi tâm lý nặng có thể có lo
âu, trầm cảm Những biểu hiện của lo âu rất đa dạng, phức tạp: cảm giác sợ
Trang 38hãi, lo lắng thái quá về sức khoẻ của mình, lo lắng về tương lai, khó tập trung
tư tưởng, dễ cáu, khó tính, căng thẳng vận động, bồn chồn, đứng ngồi không yên, đau đầu, khô miệng, đánh trống ngực Những biểu hiện của trầm cảm ở người già thường thấy là cảm giác buồn phiền, chán nản, bi quan, mất hứng thú với những ham thích trước đây, mất niềm tin vào tương lai, giảm nghị lực, giảm tập trung, rối loạn giấc ngủ, ăn không ngon miệng, và họ có thể trở nên suy kiệt NCT một số rối loạn loạn thần giống tâm thần phân liệt, như các hoang tưởng “bị cô lập, bị truy hại”, “các ảo thanh, ảo khứu, ảo giác xúc giác”.Quá trình lão hóa làm biến đổi về tâm lý nặng nề, nên thường gặp ở người già các rối loạn tâm thần, như lo âu, trầm cảm, rối loạn nhiều chức năng nhận thức liên quan đến sa sút trí tuệ do Alzheimer, do mạch máu, Do đặc điểm tâm lý và sinh lý NCT có những biến đổi cùng với quá trình lão hóa, khả năng hấp thu, phân bố, chuyển hóa và bài tiết các thuốc giảm, khác nhiều
so với người trẻ, nên khi điều trị các thuốc, đặc biệt là thuốc hướng tâm thần cần chú ý đến dược động học, nhằm tránh được các tác dụng không mong muốn, thậm chí cả biến chứng nặng xảy ra Người tuổi cao thường ít tiếp nhận
và tìm kiếm dịch vụ y tế, vì nhiều lý do Chẳng hạn:Cho là mình già rồi, trước sau cũng chết, cần gì chữa trị,kể bệnh ra người ta cho là mình bị “điên” thì xấu hổ lắm.không biết có sẵn các dịch vụ điều trị.Từ những vấn đề của bản thân NTTCT đã nêu cũng sẽ làm ảnh hưởng đến công tác xã hội với họ
1.3.2 Yếu tố thuộc về cán bộ làm công tác xã hội với người tâm thần
Các nhân viên công tác xã hội có vai trò chính thức là những nhà sư phạm Họ phải có đạo đức nghề nghiệp,kiến thức chuyên môn các kỹ năng trong tham vấn tư vấn và cả kinh nghiệm cuộc sống.Họ có kiến thức và kỹ năng để thực hiện các nguyên tắc lý thuyết được học trong các chương trình giáo dục, các hoạt động và nguồn lực Họ truyền đạt và cộng tác với các phòng ban và các nhân viên khác để trợ giúp NTTCT Khi nhân viên CTXH
Trang 39ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm thân chủ mà họ làm việc:
- Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ (NTTCT), tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về hỗ trợ tài chính, thông tin pháp luật, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm
-Vai trò là người kết nối - còn gọi là trung gian: NVCTXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho gia đình NTTCT các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, y tế để có thêm những thông tin trong việc giúp đỡ chăm sóc NTTCT
-Vai trò là người giáo dục: NVCTXH là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề của NTTCT cần được trợ giúp, nâng cao năng lực cho gia đình bệnh nhân hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để
họ có hiểu biết về những nhu cầu, những yếu tố tâm sinh lý của người cao tuổi và NTTCT từ đó thể hiện từng trách nhiệm của mọi người đối với NTTCT , sự chia sẻ với người thân
- Vai trò là người tư vấn / tham vấn: NVCTXH tham gia như người cung cấp thông tin tư vấn cho các thân chủ cần có những thông tin như thông tin về chăm sóc sức khoẻ tâm thấn, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho người già NVCTXH giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng
-Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: NVCTXH còn được xem như người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không
có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề
Trang 40- Vai trò là người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình trợ giúp cho bênh nhân, gia đình
Với việc đảm nhiệm những chức năng nhiệm vụ như trên, nếu NVCTXH có đủ kiến thức và kỹ năng làm việc với NTTCT thì công tác xã hội đối với họ ,sẽ có hiệu quả cao hơn, ngược lại thì hoạt động CTXH sẽ không giúp được nhiều cho NTTCT
1.3.3 Yếu tố thuộc về cán bộ lãnh đạo chính quyền địa phương
Căn cứ vào lý thuyết hệ thống thì hoạt động CTXH đối với NTTCT chịu ảnh hưởng của các tổ chức, thiết chế xã hội trong cộng đồng Vì vậy sự quan tâm của chính quyền và các tổ chức đoàn thể đối với NTTCT có ý nghĩa thúc đẩy hoạt động CTXH Chính quyền không quan tâm và dành ngân khoản
để chăm sóc người già mang bệnh tâm thần thì hoạt động CTXH đối với NTTCT khó đạt kết quả Tương tự nếu các chuyên gia y tế có hành động đối
xử khác biệt với người già mang tâm bệnh, coi nhẹ những khó khăn của họ, các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế không ý thức được hậu quả của bệnh đối với người già, coi bệnh như là chuyện đương nhiên của tuối cao thì càng để lại những khó khăn cho các đối tượng tâm thần cao tuổi.Ngược lại nếu các tổ chức xã hội khác như: thanh niên, phụ nữ, cán bộ xã hội, phòng Lao động Thương binh & Xã hội phối hợp với gia đình bênh nhân chăm sóc bệnh nhân một cách toàn diện, tạo cho bệnh nhân các điều kiện tái hòa nhập với xã hội thì NTTCT có cơ hội hòa nhập với cộng đồng, gia đình và con cháu Chính quyền địa phương có thể tổ chức các lớp tập huấn cho gia đình bệnh nhân: nội dung tập huấn gồm các kỹ năng chăm sóc người bệnh tại nhà, theo dõi bệnh nhân có thể phát hiện kịp thời các triệu chứng cấp cứu cần phải nhập viện cho bệnh nhân uống thuốc, giúp bệnh nhân tái hòa nhập vào cuộc sộng xã hội, tạo