Mới đây, hội nghị lần thứ 12 của 159 nước tham gia hiệp định khung về khí hậu, phiên họp thứ 2 của các bên tham gia Nghị định thư Kyoto đã được Liên hiệp quốc tổ chức tại Nairobi, thủ đô
Trang 1Lời nói đầu
Hiện nay nhân loại đang đối mặt với sự biến đổi khí hậu (BĐKH) diễn biến hết sức phức tạp Cùng với sự nóng lên của trái đất, hiện tượng băngtan, thời tiết biến động bất thường, nước biển dâng cao, hạn hán, rét đậm kéo dài và những trận bão lũ, sóng thần, động đất gây thảm họa ở một số quốc gia trong thời gian gần đây là một minh chứng cụ thể Đằng sau sự biến đổi đó là dịch bệnh, lương thực, thực phẩm thiếu hụt
Hiểm họa biến đổi khí hậu toàn cầu đã được Liên hiệp quốc quan tâm, thể hiện ở việc đưa ra Nghị định thư Kyoto (1997) nhằm giảm khí thải gây
ra hiệu ứng nhà kính, đẩy nhanh tốc độ nóng lên của khí hậu, mà nguyên thủ 165 nước, trong đó có Việt Nam, đã phê chuẩn Hiện tượng lạnh đi và nóng lên của khí hậu Trái đất dẫn đến sự hình thành các thời kỳ băng hà
và gian băng trong lịch sử Trái đất kỷ Đệ tứ, đã được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam ghi nhận với nhiều bằng chứng cụ thể Nếu con người không hạn chế các tác động xấu đến môi trường, không quan tâm nghiên cứu nhằm đề ra các biện pháp phòng tránh hữu hiệu cho dân tộc mình, thì hệ lụy có thể nói là khôn lường
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bất thường của khí hậu toàn cầu Trên bề mặt Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người
Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng này đã được các nhà khoa học ở những trung tâm nổi tiếng trên thế giới tiến hành
từ đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đã thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển Trái đất, vốn được coi là nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng hiểm họa Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC) đã được thành lập, thu hút sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học quốc tế Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua và đầu tháng 2/2005 đã được nguyên thủ
165 quốc gia phê chuẩn Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực từ
10/2/2005 Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto ngày 25/9/2005 Mới đây, hội nghị lần thứ 12 của 159 nước tham gia hiệp định khung về khí hậu, phiên họp thứ 2 của các bên tham gia Nghị định thư Kyoto đã được Liên hiệp quốc tổ chức tại Nairobi, thủ đô Kenya
Dựa trên những kiến thức của bản thân sau đây em xin trình bày những hiểu biết của em về vấn đề “ Biến đổi khí hậu và mực nước biển đâng cao” rất mong nhận được những lời nhận xét bổ ích của cô giáo giúp
em tăng thêm tầm hiểu biết về vấn đề này
Sinh viên: Lê văn Đông
Trang 2Phần 1 Tổng quan về quá trình đô thị hoá/CN hoá và môi ờng đô thị
tr-1.1 Giới thiệu tổng quan về quỏ trỡnh đụ thị hoỏ, cụng nghiệp hoỏ và cỏc vấn đề ụ nhiễm mụi trường phỏt sinh từ cỏc quỏ trỡnh trờn.
Đụ thị hoỏ là sự tăng trưởng và thay đổi một số khu vực nhất định trongmột quốc gia: sự thay đổi cơ cấu kinh tế, dõn số và xó hội từ điều kiện nụng thụn sang điều kiện đụ thị
Hầu hết cỏc vấn đề mụi trường đụ thị taị cỏc quốc gia và thành phố đều
là hậu quả của việc kiểm soỏt quỏ trỡnh đụ thị hoỏ
Cỏc thành phố lớn tại cỏc phỏt triển đang phải trả giỏ cho những quyết định khụng sỏng suốt trong quỏ khứ, đặc biệt là sau cỏch mạng cụng nghiệp, đú là: sự ụ nhiễm cụng nghiệp, cạn kiệt tài nguyờn, cỏc khu vực
đụ thị bị xuống cấp, cỏc đụ thị bị ụ nhiễm nhiệt, mưa axit, sự tăng nhiệt độ toàn cầu, vấn đề an toàn và an ninh mụi trường do khụng kiểm soỏt được cỏc nguồn gõy ụ nhiễm mụi trường, cỏc thảm hoạ và sự cố do con người gõy ra
Cỏc thành phố tại cỏc nước đang phỏt triển, do sự thiếu điều kiện cơ sở
hạ tầng cựng với sự nụn núng mà quỏ trỡnh đụ thị hoỏ đó điễn ra với tốc
độ chúng mặt Đồng thời với quỏ trỡnh đụ thị hoỏ là sự phỏt triển của dõn
số đụ thị quỏ nhanh đó gõy ra vụ vàn vấn đề kinh tế xó hội chớnh trị và mụi trường như cung cấp nhà ở, cung cấp nước, vệ sinh mụi trường, tạo cụng ăn việc làm, giải quyết giao thụng đụ thị, thoỏt nước và rỏc thải, mõu thuẫn giữa cỏc mụch đớch sử dụng đất.v.v Nguyờn nhõn dẫn đến sự gia tăng dõn số đụ thị rất đa dạng gồm sự gia tăng tự nhiờn của dõn cư đụ thị,
sự di cư hợp phỏp và bất hợp phỏp từ cỏc vựng nụng thụn, việc mở mang kinh tế, về cụng nghiệp, giỏo dục trong cỏc đụ thị
Một trong những điểm núng của sự phỏt triển đụ thị húa là khu vực ven đụthị, nơi đang chịu những ỏp lực nặng nề giữa hai xu hướng phỏt triển và bảo tồn, giữa lợi ớch phỏt triển kinh tế và nhu cầu bảo vệ mụi trường, bảo
vệ cỏc giỏ trị văn húa và bảo đảm phỏt triển bền vững cho cả thành phố
1.2 Bản ch ất của vấn đề ” Biến đổi khớ hậu và mực nước biển dõng cao”
và cỏc vấn đề chớnh sỏch đỏp ứng của quốc gia ở cỏc nước đó phỏt triển
và ở cỏc nước đang phỏt triển.
1.2.1 Sự biến đổi khớ hậu.
Hiện tại, Trỏi đất đang từng ngày từng giờ núng lờn với tốc độ nhanh với chiều hướng cú thể cũn nhanh hơn nữa Vậy, nguyờn nhõn nào đó gõy
ra hiện tượng vỏ Trỏi đất ấm lờn ?
Nguyờn nhõn thứ nhất, đú là việc tăng hàm lượng khớ CO2 và cỏc loại khớ thải tạo hiệu ứng nhà kớnh do hoạt động con người gõy ra trong bầu khớ quyển Trỏi đất Nguyờn nhõn này chiếm 90, thậm chớ 99% mức gia tăng
Trang 3của nhiệt độ bề mặt Trái đất hiện đang được báo động Rõ ràng mối liên quan giữa quá trình gia tăng hàm lượng CO2 và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính do con người gây ra với sự gia tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất đã được minh chứng qua các số liệu mấy thế kỷ và nhất là trong vài thập kỷ gần đây Nhiệt độ bề mặt Trái đất có được là nhờ hấp thụ nhiệt từ Mặt trời
và nhận dòng nhiệt của chính mình tỏa ra từ bên trong lòng đất Sự có mặtcủa một hàm lượng khí CO2 cần thiết trong bầu khí quyển vốn là tấm áo giáp ngăn chặn bức xạ nhiệt (bức xạ hồng ngoại) từ Trái đất thoát vào vũ trụ mênh mông lạnh lẽo Thiếu nó thì mặt đất sẽ không có được một nhiệt
độ điều hòa cho sự sinh sôi phát triển sự sống Các công trình nghiên cứu
áp dụng công nghệ hiện đại cho chúng ta biết suốt thiên niên kỷ trước khi
có cuộc cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển dao động ở mức 280 phần triệu (ppm) Tuy nhiên, tính từ đầu thế kỷ XIX đến nay hàm lượng đó đã tăng liên tục đến 360 ppm Số liệu quan trắc trong 4 thập kỷ gần đây cho thấy, cứ mỗi thập kỷ hàm lượng CO2 trong khí quyển lại tăng 4% Nói cách khác, hiệu ứng nhà kính do khí CO2 gây ra là quá mức cần thiết, gây tăng nhanh nhiệt độ bề mặt địa cầu kéo theo nhiều hệ lụy như đã nêu trên Tôi cho rằng những cứ liệu và luận giải đã được nêu
ra là đầy sức thuyết phục Điều đáng tiếc là cho đến nay, Hoa Kỳ là nước
xả khí thải gây hiệu ứng nhà kính nhiều nhất vào khí quyển (trên 30% tổngkhí thải công nghiệp) vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư Kyoto
Nguyên nhân thứ hai, tuy thừa nhận vấn đề gia tăng nhiệt độ do hiệu ứng nhà kính, song cho rằng cần nhấn mạnh hơn đến chu kỳ nóng lên của Tráiđất do hoạt động nội tại Hiện tượng nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất Không phải chỉ bây giờ, lịch sử Trái đất hàng triệu triệu năm đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lại lạnh đi kéo theo những biến động to lớn trong đời sống sinh vật trên Trái đất, làm thay đổi
cả diện mạo địa hình lục địa và đại dương Tính từ 1,6 triệu năm đến nay
đã có 5-6 chu kỳ biến động lớn Đó là các thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp (biển lùi) và các thời kỳ gian băng (băng tan) kéo theo mực nước biển dâng cao (biển tiến) Vào các thời kỳ băng hà, nhiệt độ bề mặt Trái đất khô lạnh Vào thời kỳ gian băng nhiệt độ bề mặt Trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô hạn Vào các thời kỳ đó, biên độ dao động của nước biển (dâng, hạ) lên đến hàng chục, hàng trăm mét Mỗi chu kỳ kéo dài hàng vạn, chục vạn năm Mỗi chu kỳ như vậy còn được chia ra các chu kỳ ngắn hơn với thời gian kéo dài nhiều trăm năm đến nghìn năm với biên độ dao động mực nước biển 2-3 m hoặc hơn Khí thải CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính là hiện tượng do con người gây ra trong mấy trăm năm gần đây Vì vậy, theo tôi cả hai nguyên nhân trên đều có cơ sở thực tế và chúng cùng tác động gây ra tình trạng Trái đất nóng lên một cách bất thường như hiện nay Do đó, cần phải nhìn nhận hiện tượng nóng lên của
Trang 4Trái đất hiện nay bằng quan điểm biện chứng: chu kỳ nóng ấm của Trái đất mang tính nội sinh và ngoại sinh tự nhiên được đẩy nhanh và trở nên nghiêm trọng hơn do những tác động của khí thải công nghiệp và hiệu ứng nhà kính.
1.2.2 Dâng cao mực nước biển
Hệ quả đồng hành với việc bề mặt Trái đất nóng lên luôn luôn là sự tannhững khối băng vĩnh cửu ở hai đầu địa cực và trên đỉnh những dãy núi cao Nhưng có lẽ chưa bao giờ tốc độ tan băng lại diễn ra với tốc độ
nhanh và quy mô lớn như ngày nay Thử điểm một vài tin chính: ở Nam Cực, tháng 3/2002, các nhà khoa học tận mắt chứng kiến khối băng 500 tỷtấn tan rã thành hàng nghìn mảnh; ở Bắc Cực, mùa hè 2002, lượng băng tan ở Greenland cao gấp đôi so với 1992, diện tích băng tan đã lên tới 655.000 m2 Hơn 110 sông băng và những cánh đồng băng vĩnh cửu ở bang Montana đã biến mất trong vòng 100 năm qua Các sông băng sẽ hầu như biến mất khỏi dãy Alpes vào năm 2050 (nếu độ tan chảy duy trì như hiện nay) Mùa hè 2002, các nhà khoa học ghi nhận một khối băng 3,5 triệu tấn tách ra, gây ra lũ băng từ dãy núi Mali trên đỉnh Kavkaz thuộc Nga Trong vòng 13 năm gần đây, số băng tan ở châu Âu tăng gấp đôi so với lượng băng tan của 30 năm trước (1961-1990)
Băng tan và nhiệt độ tăng làm nở thể tích trung bình của nước được coi như hai nguyên nhân chính dẫn đến mực nước đại dương cao dần lên, làm tràn ngập các đồng bằng thấp ven biển Các số liệu quan trắc mực nước biển thế giới cho thấy mức tăng trung bình trong vòng 50-100 năm qua là 1,8 mm/năm Nhưng chỉ trong 12 năm gần đây, các số liệu đo đạc của vệ tinh NASA cho thấy xu thế biển dâng đang gia tăng rất nhanh, với tốc độ trung bình là 3 mm/năm Báo cáo của IPCC, do hàng chục nhà khoa học soạn thảo và hơn 2000 nhà khoa học từ 130 quốc gia tham gia đóng góp ý kiến, đưa ra dự báo: đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ bề mặt Trái đất sẽ tăng thêm từ 1,4 đến 4°C, mực nước biển sẽ dâng thêm khoảng 28-43 cm Nhiều nhà khoa học còn đưa ra những dự báo mực nước biển đang dâng nhanh hơn nhiều, nhất là do hiện tượng tan băng đang xảy ra với tốc độ đáng kinh ngạc trong thời gian gần đây Nhà địa lý học Richard Alley ở Đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ nói: Chỉ cần 15% lớp băng ở
Greenland bị tan cũng tạo ra một khối nước mới trong các đại dương đủ
để làm ngập tiểu bang Florida của Hoa Kỳ và nhiều vùng duyên hải khác trên thế giới
Trong tình hình cấp thiết như vậy, Hội nghị Liên hợp quốc (LHQ) về biếnđổi khí hậu lần thứ 14 diễn ra từ 1 - 12/12/2008 tại thành phố Poznan (Ba Lan) đã tập trung bàn thảo việc xây dựng cơ chế hoạt động đầy đủ của Quỹ thích ứng, thúc đẩy cơ chế giảm bớt khí thải theo nguyên tắc “trách nhiệm chung nhưng có phân chia và theo năng lực” và đưa ra bản dự thảo
Trang 5đầu tiên cho thỏa thuận mới về biến đổi khí hậu Đặc biệt, lần đầu tiên tại Hội nghị LHQ về biến đổi khí hậu, các Bộ trưởng Môi trường nhóm họp để thảo luận kế hoạch hợp tác dài hạn ứng phó với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, cũng giống như các hội nghị trước, hai nhóm nước phát triển và đang phát triển vẫn tranh cãi không dứt xung quanh việc chia sẻ trách nhiệm trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu cũng như thúc đẩy thực hiện các hoạt động hỗ trợ các nước đang phát triển thích ứng với tình trạng ấm nóng toàn cầu Nhóm G-77 và Trung Quốc cho rằng, các nước phát triển là thủ phạm chính gây ra tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay, nên phải gánh trách nhiệm lớn hơn và phải đưa ra cam kết đến năm 2020 cắt giảm 25 - 40% tổng lượng khí phát thải so với mức của năm 1990 và đến năm 2050, phải nâng mức cắt giảm lên 50% Nhóm này cũng yêu cầu các nước phát triển đẩy mạnh những hoạt động hỗ trợ tài chính và công nghệ nhằm giúp nhóm nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu
Về phần mình, nhiều quốc gia trong nhóm nước phát triển viện cớ thu nhập bình quân đầu người ở một vài nước đang phát triển thậm chí còn cao hơn ở nước họ để gây sức ép buộc các nước đang phát triển cũng phải đặt ra chỉ tiêu cam kết cắt giảm khí thải và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng
Một yếu tố nữa gây chia rẽ giữa hai nhóm nước là hiệu quả hoạt động củaQuỹ cho các nước kém phát triển (LDC Fund) Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, việc hỗ trợ cho các nước phát triển xem ra càng khó thực hiện Đó là chưa kể đến việc những khó khăn về kinh tế khiến cho vấn đề chống biến đổi khí hậu có nguy cơ bị gạt xuống hàng thứ yếu Nhưng bất kể thế nào thì chống biến đổi khí hậu là cuộc chiến sống còn cho một tương lai phát triển bền vững Bởi vì, cái giá phải trả cho biến đổi khí hậu là vô cùng khốc liệt Đó là sinh mạng của hàng triệu người dân do thiên tai, đó là sự nghèo đói dai dẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác khi mất kế sinh nhai
Bởi vậy, điều quan trọng là phải gạt bỏ những bất đồng, tập trung nỗ lực toàn cầu để đạt được mục tiêu cao nhất là tiến tới một công ước quốc tế, thay thế Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải nhà kính, dự kiến sẽ diễn
ra tại Copenhagen - Đan Mạch vào tháng 12/2009
1.3 Sự cần thiết phải phòng ngừa/ xử lý vấn đề ” biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng” nẩy sinh từ quá trình phát triển ở các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển.
Các báo cáo của Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC) và nhiều trung tâm nghiên cứu có uy tín hàng đầu trên thế giới công bố trong thời gian gần đây cung cấp cho
chúng ta nhiều thông tin và dự báo quan trọng Theo đó, nhiệt độ trung
Trang 6bỡnh trờn bề mặt địa cầu ấm lờn gần 1°C trong vũng 80 năm (từ 1920 đến 2005) và tăng rất nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ 1980 đến 2005) Mới đõy, ụng Mark Lowcok, quan chức của Bộ Phỏt triển Quốc tế Anh đó đến thăm Việt Nam và cú buổi thuyết trỡnh về “Bỏo cỏo Stern” do cỏc nhà khoa học Anh xõy dựng, được chớnh phủ Anh cụng bố về vấn đề biến đổi khớ hậu toàn cầu Bỏo cỏo cho rằng nếu khụng thực hiện được chương trỡnh hành động giảm khớ thải gõy hiệu ứng nhà kớnh theo Nghị định thư Kyoto, đến năm 2035 nhiệt độ bề mặt địa cầu sẽ tăng thờm 2°C Về dài hạn, cú hơn 50% khả năng nhiệt độ tăng thờm 5°C
Vỡ vậy nếu chỳng ta khụng cú những chớnh sỏch thớch hợp để hạn chế
sự biến đổi khớ hậu và mực nước biển dõng cao thỡ chỳng ta sẽ phải trả giỏ đắt cho những gỡ chỳng ta đó làm trong một tương lai khụng xa
Phần 2 Thực trạng về vấn đề/thách thức môi trờng về ”việc biến đổi khí hậu và mực nớc biển dâng cao” ở Việt nam
2.1 Quỏ trỡnh đụ thị húa, cụng nghiệp hoỏ và cỏc vấn đề mụi trường phỏt sinh đang diễn ra ở Việt Nam.
Trong hơn 20 năm tiến hành cụng cuộc đổi mới, quỏ trỡnh đụ thị hoỏ diễn ra hết sức nhanh chúng nhất là trong 10 năm trở lại đõy, đặc biệt ở cỏc thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chớ Minh
Từ năm 1990 cỏc đụ thị Việt Nam bắt đầu phỏt triển, lỳc đú cả nước mới
cú khoảng 500 đụ thị (tỷ lệ đụ thị hoỏ vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lờn 649 và năm 2003 là 656 đụ thị Tớnh đến nay, cả nước cú khoảng 700 đụ thị, trong đú cú 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xó và trờn 500 thị trấn Bước đầu đó hỡnh thành cỏc chuỗi đụ thị trung tõm quốc gia: Cỏc đụ thị trung tõm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chớ Minh, Hải Phũng, Đà Nẵng, Huế Cỏc đụ thị trung tõm vựng gồm cỏc thành phố như: Cần Thơ, Biờn Hoà, Vũng Tàu,Buụn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thỏi Nguyờn, Việt Trỡ, Hạ Long, Hoà Bỡnh… Cỏc đụ thị trung tõm tỉnh gồm cỏc thành phố, thị xó giữ chức năng trung tõm hành chớnh-chớnh trị, kinh tế, văn hoỏ, du lịch-dịch vụ, đầu mối giao thụng; và cỏc đụ thị trung tõm huyện; đụ thị trung tõm cụm cỏc khu dõn cư nụng thụn, cỏc đụ thị mới
Hiện trạng môi trờng đô thị Việt Nam
Môi trờng đất
Trang 7Năm 1997, đất ở đô thị khoảng 63.000 ha (chiếm 0,2% diện tích cả nớc);
năm 2003 đất ở đô thị khoảng 79.200 ha (chiếm 0,24%); tháng 1/2006 đất ở đô thị
là 106.700 (chiếm 0.32%) Dự báo đến năm 2010, diện tích đất đô thị khoảng243.200 ha, chiếm 0,74% diện tích cả nớc; đến năm 2020, con số tơng ứng là460.000 ha và 1,4% gấp 7 lần đất đô thị năm 1997 Vấn đề suy thoái và ô nhiễmmôi trờng đất nói chung, đất đô thị nói riêng, trớc hết là sự mất đất đai do sói mòn;
do hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, du lịch, thơng mại,giao thông, xây dựng
Hiện tợng rửa trôi, xói mòn xảy ra trong những đô thị có địa hình đồi núi,
độ che phủ thấp, lợng ma và cờng độ ma lớn, tập trung Ô nhiễm đất do hoạt đôngnông nghiệp xảy ra ở hầu hết các đô thị Việc sử dụng một lợng lớn phân bón hoáhọc, thuốc bảo vệ thực vật đã gây ra nhiều tác động xấu tới môi trờng đô thị trong
đó có môi trờng đất Do các ngành công nghiệp lạc hậu, lợng nguyên vật liệu tiêuhao nhiều và mức độ gây ô nhiễm môi trờng lớn, lại thiếu các thiết bị xử lí nớcthải, khí thải, nên các đô thị có diện tích đất công nghiệp càng lớn thì mức độ ônhiễm môi trờng càng lớn bởi chất thải công nghiệp càng cao, trong đó có môi tr-ờng đất Đất bị tích tụ các hoá chất độc, kim loại nặng, thay đổi thành phần và tínhchất đất, ảnh hớng tới con ngời và động thực vật thông qua nguồn nớc và thức ăn.Ngoài ra, tất cả các hoạt động khác của đô thị đều gây suy thoái và ô nhiễm môi tr -ờng đất do chất thải không đợc thu gom và xử lí
Giải pháp: Hạn chế tối đa việc sử dụng đất nông nghiệp (có chất lợng tốt) đểxây dựng đô thị; Giữ gìn và bảo vệ các hệ sinh thái trong xây dựng, cải tạo và pháttriển các khu đô thị
Môi trờng nớc
Hạ tầng kĩ thuật cấp thoát nớc ở các đô thị còn nhiều yếu kém Cấp nớc mớichỉ đạt 47%; tiêu chuẩn cấp nớc sạch thấp; tình hình thất thoát, thất thu của hệthống cấp nớc đô thị trong cả nớc còn rất cao, với tỉ lệ bình quân khoảng 40%,trong đó: Hà Nội thất thoát 52%, Trà Vinh 50%; thấp nhất là Huế, Đà Lạt, VũngTàu thì con số này cũng vào khoảng 20-25% mà nguyên nhân chủ yếu là do mạnglới đờng ống cũ, chất lợng ống kém, thờng xuyên bị vỡ và rò rỉ; không có sự phốihợp giữa các cơ quan trong việc cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng
Chất lợng nguồn nớc (kể cả nớc mặt và nớc ngầm) có xu hớng ngày càngxấu đi ở hầu hết các đô thị, nguồn nớc phải tiếp nhận một lợng lớn nớc thải sinhhoạt, nớc thải công nghiệp không qua xử lí tập trung hoặc chỉ xử lí cục bộ, sơ bộ ởmột số bể tự hoại Kết quả vợt quá khả năng tự làm sạch của nguồn nớc nh sôngKim Ngu, sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ ở Hà Nội, các kênh Tham Luông, Thị
Trang 8Nghè, sông Sài Gòn, ở Thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống thoát nớc chủ yếu vẫn là
hệ thống thoát nớc chung Hệ thống ao, hồ, kênh, rạch ở đô thị bị ô nhiễm nặng,
đặc biệt là các sông chảy qua khu công nghiệp ở thành phố lớn
Ví dụ về chất lợng nớc các sông ở phía Bắc:
Đoạn sông Hồng tại Lào Cai, Hà Nội, các chỉ tiêu NH4 , NO2 vợt quá chỉtiêu cho phép 1,5-2 lần Tại khu vực điểm xả nhà máy giấy Bãi Bằng, hàm lợng
NH4 cũng cao hơn tiêu chuẩn cho phép đối với nớc mặt loại A từ 2-24 lần Đoạnsông Hồng từ Diên Hồng tới ngã ba Việt Trì, NH4 vợt 2 lần, NO2 vợt 1,4 lần; Tạicầu Việt Trì, NO2 cao hơn tiêu chuẩn cho phép đối với nớc mặt loại A từ 4-20 lần.Tại sông Cầu, thuộc khu vực Thái Nguyên hàm lợng NO2 cao hơn tiêu chuẩn chophép đối với nguồn nớc loại A là 5-10 lần, hàm lợng NH4 cao hơn tiêu chuẩn chophép đối với nguồn nớc loại A là 2 lần, hàm lợng NO2 cao hơn tiêu chuẩn đối vớinguồn nớc loại A là 7-20 lần Sông Thơng tại khu vực cầu Bắc Giang đặc biệt lợng
NO2 vợt 7-200 lần tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nớc loại A
Các xí nghiệp công nghiệp, bệnh viện cũng xả nớc trực tiếp thải ra kênh
m-ơng, không qua xử lí sơ bộ Một vài xí nghiệp, bệnh viện tuy có trạm xử lí nớc thải,nhng do nhận thức và kĩ thuật bảo dỡng kém nên các trạm xử lí này cũng khônghoạt động nh bệnh viện Thanh Nhàn, bệnh viện Việt Tiệp, nhà máy dệt Minh Ph-
ơng, giấy Bãi Bằng, Cơ khí công cụ Hà Nội
Giải pháp bảo vệ nguồn nớc: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cấp thoát
n-ớc đô thị, các khu xử lí nn-ớc thải tập trung; Qui hoạch khai thác, sử dụng hợp línguồn nớc; Đầu t các dự án nớc phải cân đối giữa tăng công suất nguồn nớc vàmạng tiêu thụ; Đối với những hệ thống cấp nớc cũ phải đợc cải tạo, thay thế mạngống truyền dẫn và phân phối
Môi trờng không khí, tiếng ồn và môi trờng giao thông
Ô nhiễm môi trờng không khí đang là một vấn đề nổi cộm ở các đô thị hiệnnay Theo thống kê, hàm lợng bụi trong không khí cao gấp từ 10-60 lần giá trị chophép; nồng độ bụi lơ lửng trong không khí quá lớn đã và đang gây ảnh hởng tớichất lợng môi trờng không khí đô thị và sức khoẻ ngời dân Nguồn phát thải cácchất ô nhiễm tơng đối nhiều và đa dạng, chủ yếu do hoạt động sản xuất côngnghiệp, giao thông, hoạt động sinh hoạt của dân c và sự yếu kém của hệ thống hạtầng kĩ thuật đô thị Lợng phát thải của các phơng tiện giao thông ở các nớc pháttriển chiếm 1/3 tổng lợng phát thải do giao thông trên thế giới Song mức độnghiêm trọng về ô nhiễm vẫn tập trung chủ yếu ở các nớc đang phát triển và một
số đô thị của các nớc phát triển
Trang 9Trong các đô thị hiện nay, mức độ ô nhiễm tiếng ồn đang có xu h ớng giatăng, nhất là các đô thị lớn Nguồn ồn chủ yếu do hoạt động giao thông và sinhhoạt đô thị Mức ồn do giao thông thờng có giá trị xấp xỉ hoặc cao hơn tiêu chuẩncho phép từ 1-15 dBA Nguyên nhân chủ yếu do trong các đô thị còn tồn tại nhiềuphơng tiện giao thông cũ lu hành, cơ sở hạ tầng kĩ thuật thấp kém.
Cùng với ô nhiễm tiếng ồn là hiện tợng ùn tắc giao thông diễn ra phổ biến ởcác đô thị lớn Tai nạn giao thông xảy ra khắp nơi dới mọi hình thức, mọi loại ph-
ơng tiện Theo thông kê, mỗi ngày cả nớc có trên dới 30 ngời chết do tai nạn (trong
2 năm trở lại đây) và con số này vẫn tiếp tục tăng Nguyên nhân chủ yếu do cơ sởhạ tầng giao thông kém, số lợng và lu lợng xe ngày càng cao, ý thức chấp hành luậtgiao thông của ngời dân kém
2.2 Nguyờn nhõn gõy ra vấn đề “biến đổi khớ hậu và mực nước biển dõng cao”.
Nguyờn nhõn trực tiếp của sự biến đổi khớ hậu là do phỏt thải quỏ mứckhớ nhà kớnh, đặc biệt là CO2 từ việc đốt một khối lượng lớn chưa từng cúcỏc nhiờn liệu hoỏ thạch như than đỏ, dầu mỏ, khớ đốt trong quỏ trỡnh phỏttriển cụng nghiệp Tỡnh trạng phỏ rừng và khai thỏc gỗ thiếu bền vữngcũng là nguyờn nhõn tạo ra hơn 20% phỏt thải khớ nhà kớnh trờn toàn cầu.Một số hỡnh thức canh tỏc, chăn nuụi, giao thụng vận tải, thúi quen sửdụng năng lượng nhiờn liệu khụng tỏi tạo và cỏc sản phẩm từ rừng đó làmtăng đỏng kể lượng khớ nhà kớnh, làm cho nhiệt độ trỏi đất núng lờn tạo racỏc biến đổi khớ hậu trờn toàn cầu Sự tăng của nhiệt độ trỏi đất đẫn đếnhiện tượng băng tan và làm cho mực nước biển dõng cao
2.3 tỏc động của “ Biến đổi khớ hậu và mực nước biển dõng cao” tới chất lượng mụi trường sống và sức khoẻ cộng đồng.
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, diễn biến của khớ hậu cũng cú những nột tương đồng với tỡnh hỡnh chung trờn thế giới BĐKH tỏc động tới tất cả cỏc vựng, miền, cỏc lĩnh vực về tài nguyờn, mụi trường và kinh tế - xó hội, nhưng trong đú tài nguyờn nước, ngành nụng nghiệp và phỏt triển nụng thụn, y tế và cỏc vựng ven biển sẽ chịu tỏc động mạnh nhất
Tỏc động của BĐKH tới tài nguyờn nước
Việt Nam được xếp vào nhúm cỏc quốc gia thiếu nước với tổng bỡnh quõn đầu người cả nước mặt và nước ngầm trờn phạm vi lónh thổ là 4.400 m3/người/năm (so với bỡnh quõn thế giới là 7.400 m3/người, năm) Trong khaithỏc, sử dụng tài nguyờn nước, Việt Nam cú nhiều yếu tố khụng bền vững
Sự suy thoỏi tài nguyờn nước ngày một tăng về cả số lượng và chất lượng
do nhu cầu về nước ngày một lớn, khai thỏc, sử dụng bừa bói, thiếu quy hoạch và đặc biệt là sự suy giảm đến mức bỏo động của rừng đầu nguồn
Trang 10Dưới tác động của BĐKH, khi nhiệt độ trung bình tăng, độ bất thường của thời tiết, khí hậu và thiên tai gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước ngọt ở các khía cạnh sau:
- Nhu cầu nước sinh hoạt cho con người, nước phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông đều tăng Bên cạnh đó, lượng bốc hơi nước của các thủy vực (hồ ao, sông, suối ) cũng tăng Hậuquả dẫn đến là sự suy thoái tài nguyên nước cả về số lượng và chất
lượng sẽ trở nên trầm trọng hơn
- Những thay đổi về mưa, sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của cáccon sông và cường độ các trận lũ, tần suất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước ngầm Theo dự đoán, BĐKH sẽ làm giảm đáng kể lượng nước trong các con sông ở nhiều vùng trên thế giới, trong đó có Việt Nam
- Khi băng tuyết ở các cực và đỉnh núi cao tan sẽ làm tăng dòng chảy ở các sông và làm tăng lũ lụt Khi các băng trên núi cạn, lũ lụt sẽ giảm đi nhưng khi đó các dòng chảy cũng giảm dần, thậm chí cạn kiệt Nạn thiếu nước sẽ trầm trọng hơn Điều này rất đặc trưng cho các nước châu Á với nguồn nước sông ngòi phụ thuộc nhiều vào nước thượng nguồn
Tác động của BĐKH tới lĩnh vực nông nghiệp
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vàothời tiết Khi nhiệt độ, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt Sự bất thường của chu kỳ sinh khí hậu nông nghiệp không những dẫn tới sự tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút năng suất mùa màng, mà còn có thể gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác
Trong thời gian qua, ở nhiều địa phương, mùa màng đã bị mất trắng do thiên tai (lũ lụt và hạn hán)
Tác động của BĐKH tới tài nguyên ĐDSH rừng
Việt Nam có ĐDSH cao, có các hệ sinh thái (HST) đa dạng Tuy nhiên trong thời gian qua, do những nguyên nhân khác nhau, ĐDSH, các HST, đặc biệt là các HST rừng - HST có ĐDSH cao nhất bị suy thoái trầm trọng.Diện tích rừng giảm rừng ngập mặn ven biển cũng bị suy thoái nghiêm trọng (giảm 80% diện tích) do bị chuyển đổi thành các ao đầm nuôi trồng thủy hải sản thiếu quy hoạch Trong những năm gần đây, rừng tuy có tănglên về diện tích, nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh cũng vẫn chỉ khoảng 8% (sovới 50% của các nước trong khu vực)
Đây là một thách thức lớn đối với Việt Nam để ứng phó với BĐKH trong các hoạt động thực hiện mục tiêu năm 2010 của Công ước ĐDSH nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn và dịch vụ của các HST rừng trong giảm thiểu thiên tai, bảo vệ tài nguyên nước và giảm phát thải CO2
Nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần xãsinh vật của nhiều HST Các loài nhiệt đới sẽ giảm đi trong các HST ven biển và có xu hướng chuyển dịch lên các đới và vĩ độ cao hơn trong các HST trên cạn
Trang 11Nhiệt độ tăng, còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải khí nhà kính và làm gia tăng BĐKH.
Tác động của BĐKH tới tài nguyên đất
Trong thời gian gần đây, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do sức ép dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa và bị chuyển đổi mục đích sử dụng Hiện tượng xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa và ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp ngày càng gia tăng
Dưới tác động của BĐKH, nhất là nước biển dâng làm mất đi nơi ở của cưdân và phần đất màu mỡ nhất cho sản xuất nông nghiệp sẽ là thách thức lớn cho ngành nông nghiệp Thiên tai, bão, lũ gia tăng sẽ làm tăng hiện tượng xói mòn, rửa trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng lòng dẫn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất Hiện tượng thiếu nước và hạn hán
sẽ dẫn tới hoang mạc hóa, đặc biệt là các tỉnh miền Trung
Tác động của BĐKH tới sức khỏe
Báo cáo gần đây nhất của Ủy ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng định, BĐKH gây ra tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóng nhiệt/nóng, bão, lũ lụt, hạn hán Do nhiều bệnh sẽ gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian như sốt rét (do muỗi truyền), sốt xuất huyết (muỗi), viêm não (muỗi) qua môi trường nước (các bệnh đường ruột), và các bệnh khác (suy dinh dưỡng, bệnh về phổi…) Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tới các vùng kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao
Đặc biệt, ở Việt Nam, trong thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới
ở người và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh ) nhiều bệnh có diễnbiến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra những thiệt hạiđáng kể
Tác động của BĐKH tới vùng ven biển (VVB)
VVB cũng sẽ là nơi chịu tác động nặng nề nhất của thiên tai mà trước hết
là bão, sóng thần, lũ lụt gây những tổn thất năng nề về nguời và tài sản Chỉ tính riêng năm 2006, thiệt hại do bão gây ra ở Việt Nam lên tới 1,2 tỷ USD
Nước biển dâng gây hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và diện tích sản xuất (nông nghiệp, thủy sản và làm muối), gây nhiễu loạn các HST truyền
thống Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, các HST đất ngập nước ven biển, nhất là rừng ngập mặn, môi trường sống của các loài thủy hải sản, bức tường chắn sóng và giảm tác động của sóng, bão, nguồn sống hàng ngày của cộng đồng địa phương sẽ bị thu hẹp nhanh chóng Các cơ
sở hạ tầng nhất là các cảng, khu công nghiệp, giao thông sẽ bị tác động mạnh, thậm chí phải cải tạo, nâng cấp hoặc di dời
Nước biển dâng và nhiệt độ tăng sẽ làm ảnh hưởng lớn tới các rạn san
hô, HST có tính đa dạng cao và có ý nghĩa quan trọng đối với tự nhiên và