Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu và đề xuất tổng thể 3 xu hướng chính nhằm giải quyết triệt để 02 mâu thuẫn căn bản đó là:Xu hướng thứ nhất: Tổ chức quản lý môi trường công nghiệp t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và tiến hành làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường (Đại học Khoa học tự nhiên HàNội), các bạn đồng nghiệp, các nhà khoa học, các nhà quản lý Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Xuân Cơ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quan trắc và Mô hình hóa môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội người đã trực tiếp hướng dẫn tôi làm Luận văn tốt nghiệp này
Bên cạnh đó, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới TS Hoàng Dương Tùng, PhóTổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, ThS Lê Hoàng Anh, Trưởng phòng Dữ liệu và
Hệ thống thông tin (Trung tâm Quan trắc môi trường) là những người đã trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Luận văn cũng tham gia trong một phần nghiên cứu của Đề tài “Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát phát thải chất ô nhiễm từ các khu công nghiệp
và cơ sở công nghiệp lớn trên địa bàn các tỉnh sông Hồng” Đồng thời, luận văn cũng tham khảo các Báo cáo, đề tài nghiên cứu từ các Bộ ngành, địa phương và Ban quản lý các khu công nghiệp các tỉnh thuộc vùng KTTĐ Bắc bộ
Cuối cùng, sự ủng hộ của người thân, bạn bè luôn là động lực quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn Trong đó, Bố, Mẹ, anh, chị em trong gia đình luôn có sự ủng hộ đặc biệt để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của tôi đến tất mọi người
Học viên thực hiện
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 8
DANH MỤC HÌNH 9
DANH MỤC KHUNG 10
MỞ ĐẦU 11
Chương 1 – TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CÁC KCN VIỆT NAM 20
1.1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển các KCN của Việt Nam 20
1.2 Tổng quan về hiện trạng môi trường các KCN 23
1.2.1 Nước thải 23
1.2.2 Khí thải 26
1.2.3 Chất thải rắn 29
1.3 Tổng quan hiện trạng quản lý môi trường trong các KCN 31
1.3.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT KCN 31
1.3.2 Hệ thống quản lý môi trường KCN 33
1.3.3 Quy hoạch KCN gắn với bảo vệ môi trường 36
1.3.4 Áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong BVMT KCN 38
Chương 2 – NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ MÔ HÌNH KCN, ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH PHÙ HỢP TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM 42
2.1 Nghiên cứu tổng quan một số mô hình KCN 42
2.1.1 Mô hình KCN cổ điển (KCN đa ngành) 42
2.1.2 Mô hình quản lý KCN chuyên ngành 45
2.1.3 Mô hình KCN sinh thái 48
2.2 Đánh giá sơ bộ mô hình khả thi trong điều kiện Việt Nam 50
Trang 3Chương 3 – NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI KCN SÀI ĐỒNG B VỀ KHẢ NĂNG
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KCN SINH THÁI 58
3.1 Tổng quan về KCN Sài Đồng B 58
3.2 Nghiên cứu khả năng ứng dụng mô hình KCNST tại KCN Sài Đồng B 61
3.2.1 Tiềm năng thực hiện tái sử dụng, tái sinh, tái chế và trao đổi chất thải 62
3.2.2 Thực hiện giảm thiểu chất thải tại nguồn 69
3.2.3 Xử lý chất thải 70
3.2.4 Sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng 70
3.3 Nhận xét, đánh giá về mức độ phù hợp và khả năng triển khai áp dụng mô hình KCNST tại KCN Sài Đồng B và mức độ khả thi khi áp dụng đối với các KCN đa ngành khác đang hoạt động của Việt Nam 70
Chương 4 – NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG TIÊU CHÍ CHUYỂN ĐỔI KCN ĐANG HOẠT ĐỘNG SANG MÔ HÌNH KCN SINH THÁI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN 72
4.1 Nghiên cứu đề xuất hệ thống tiêu chí chuyển đổi KCN đang hoạt động sang mô hình KCNST trong điều kiện Việt Nam 72
4.1.1 Xây dựng định hướng cho hệ thống trao đổi chất thải 73
4.1.2 Cải thiện và nâng cao sự chấp hành quy định pháp luật về môi trường 74
4.1.3 Nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN 74
4.1.4 Cải thiện công tác quản lý, xử lý chất thải tại các cơ sở sản xuất trong KCN 75
4.1.5 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, xử lý chất thải ở quy mô KCN 76
4.1.6 Xây dựng, vận hành hệ thống QLMT, phòng chống sự cố toàn KCN 77
4.1.7 Xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát và đánh giá sự cải thiện chất lượng môi trường xung quanh KCN 77
4.2 Đề xuất lộ trình thực hiện 82
Chương 5 – CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KCNST 83
5.1 Cơ cấu tổ chức hệ thống QLMT KCNST 83
Trang 45.1.1 Phân cấp và phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể theo hướng tổ chức
quản lý tập trung 83
5.1.2 Tăng cường năng lực cán bộ quản lý bảo vệ môi trường KCNST 87
5.1.3 Tăng cường phối hợp giữa các đơn vị có liên quan 87
5.2 Triển khai hiệu quả các công cụ QLMT KCNST 87
5.2.1 Công cụ pháp lý 87
5.2.2 Công cụ kỹ thuật 89
5.2.3 Công cụ giám sát 91
5.2.4 Công cụ kinh tế 92
5.2.5 Công cụ thông tin 92
5.3 Hệ thống quản lý chất thải của KCNST 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
HTMT Hiện trạng môi trường
KCNST Khu công nghiệp sinh thái
PM 2,5 Bụi có đường kính khí động học nhỏ hơn hoặc bằng 2,5 µm
PM 10 Bụi có đường kính khí động học nhỏ hơn hoặc bằng 10 µm
QTMT Quan trắc môi trường
Trang 6TCCP Tiêu chuẩn cho phép
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc trưng về thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp (trước xử lý)………23Bảng 1.2 Ước tính tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải
từ các KCN thuộc các tỉnh vùng KTTĐ Bắc bộ năm 2009………23Bảng 1.3 Phân loại từng nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô nhiễm………26Bảng 1.4 Ước tính thải lượng các chất ô nhiễm trong không khí từ các KCN thuộc các tỉnh của vùng KTTĐ Bắc bộ năm 2009……… 27Bảng 1.5 Ước tính lượng chất thải nguy hại phát sinh theo ngành sản xuất và theo số lượng công nhân trong ngành sản xuất……… 29Bảng 3.1 Danh sách các nhà máy trong KCN Sài Đồng B………58Bảng 3.2 Tải lượng ô nhiễm nước thải KCN Sài Đồng B……….65Bảng 3.3 Thống kê nguồn chất thải phát sinh trong KCN Sài Đồng B và khả năng traođổi chất thải………68Bảng 4.1 Các bước chuyển đổi từ KCN đa ngành sang KCNST……… 76Bảng 4.2 Bảng tiêu chí chuyển đổi sang KCNST danh cho các KCN đa ngành đanghoạt động……….78
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tình hình phát triển KCN giai đoạn 1991 – 2008……… 19Biểu đồ 1.2 Số KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới giai đoạn 2006 – 2015 theo vùngkinh tế và so sánh với số KCN đã thành lập giai đoạn 2006 – 2008……… 22Biểu đồ 1.3 Diễn biến COD trên các sông vùng KTTĐ Bắc bộ qua các năm……… 25Biểu đồ 1.4 Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh một số KCN miền Bắc
từ năm 2006 – 2008……….28
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ nguyên tắc các mối quan hệ trong hệ thống quản lý môi trường
KCN……… 33
Hình 2.1 Mô hình quản lý nước thải KCN cổ điển………44
Hình 2.2 Mô hình quản lý nước thải KCN chuyên ngành……….46
Hình 2.3 Thứ tự ưu tiên trong chiến lược quản lý chất thải……… 50
Hình 3.1 Sơ đồ các nhà máy trong KCN Sài Đồng B và vị trí cống thải của KCN… 60
Hình 3.2 Mô hình trao đổi chất thải tổng quát dự kiến đề xuất đối với KCN Sài Đồng B……… 67
Trang 10DANH MỤC KHUNG
Khung 1.1 Một số hạn chế của Quyết định số 62/QĐ-BKHCNMT……… 31Khung 1.2 Một số điển hình của quy hoạch KCN thiếu cơ sở khoa học……… 36Khung 1.3 Mục tiêu cụ thể của “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020” theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 07/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ……… 38Khung 1.4 Khởi công KCN sinh thái đầu tiên của Việt Nam – Vườn công nghiệp Bourbon An Hòa……….40
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Xây dựng và phát triển các KCN tập trung đang là xu hướng chung của các nước đang phát triển trên thế giới nhằm tạo bước chuyển biến vượt bậc trong nền kinh tế của một quốc gia Tại Việt Nam đầu tư cho phát triển công nghiệp để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đang là mục tiêu chiến lược của quốc gia cho đến năm 2020 Các KCN đã có nhiều đóng góp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu vàphát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống người dân Năm 2008, các KCN đã tạo giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 33 tỷ USD (chiếm 38% GDP cả nước); giá trị xuất khẩu đạt trên 16 tỷ USD (chiếm gần 26% tổng giá trị xuất khẩu cả nước); nộp ngân sách khoảng 2,6 tỷ USD, tạo công ăn việc làm cho gần 1,2 triệu lao động [1] Sự phát triển của các KCN ở Việt Nam bước đầu giải quyết hiệu quả yêu cầu quy hoạch sử dụng đất và phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia Bên cạnh những lợi ích to lớn về mặt kinh tế và xã hội như đã nêu trên, trong quá trình hoạt động của các KCN đã phát sinh nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường nước, không khí, chất thải rắn, suy thoái môi trường và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên do các chất thải tập trung với quy mô và thải lượng lớn, đặc biệt đối với các KCN đa ngành (chiếm
tỷ lệ hơn 90% trên tổng số KCN của Việt Nam hiện nay) Cho đến nay, mặc dù đã cónhiều nỗ lực khắc phục các tác động tiêu cực đến môi trường do hoạt động sản xuất gây
ra, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề môi trường cần phải giải quyết
Có thể thấy rằng, việc phát triển mạnh các KCN tập trung đã gây ra hai mâu thuẫn lớn và khó dung hòa đối với mục tiêu phát triển bền vững, được biểu diễn theo mô hìnhsau đây:
Trang 12Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu và đề xuất tổng thể 3 xu hướng chính nhằm giải quyết triệt để 02 mâu thuẫn căn bản đó là:
Xu hướng thứ nhất: Tổ chức quản lý môi trường công nghiệp trên cơ sở gắn kết chặt chẽ giữa trách nhiệm quản lý của Nhà nước với trách nhiệm tự nguyện của ngànhcông nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng và người dân
Xu hướng thứ hai: Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ như thể chế năng lực trung tâm cho việc phục hồi, cải tạo, cải thiện môi trường và phòng ngừa ô nhiễm, biến đổi môi trường hướng tới sự bền vững
Xu hướng thứ ba: Phát hiện, thử nghiệm và khẳng định các mô hình tổ chức sản xuất công nghiệp mới theo hướng khép kín tự nhiên và phát triển bền vững, mà trong
đó ví dụ điển hình là mô hình KCNST bảo đảm quá trình chuyển hoá vật chất hai chiều
và tiến tới không có phát thải
Nhìn chung, hai xu hướng đầu đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm quản lý, quan trắc và giám sát môi trường, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với kiểm soát, xử lý triệt để ô nhiễm và phục hồi môi trường, mà điển hình là các biện pháp kỹ thuật xử lý ô nhiễm cuối đường ống Hướng thứ 3 là nhằm đạt được mục tiêu phát triển sạch đi từ chiều sâu tổ chức sản xuất đến các hành vi tiêu dùng và thải bỏ theo hướng khép kín bền vững tự nhiên Trên thế giới cả 3 xu hướng trên đã được nghiên cứu và áp dụng thành công
Trong điều kiện của Việt Nam, với tốc độ phát triển công nghiệp như đã trình bày
ở trên, thì dự kiến khi đất nước cơ bản hoàn thành công nghiệp hóa – hiện đại hóa vào
Trang 13năm 2020, môi trường và tài nguyên thiên nhiên sẽ có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng
Do đó, chúng ta cần phải xây dựng hệ thống quản lý môi trường KCN đi theo 3 xuhướng chính về hoàn thiện quản lý – phát triển khoa học và công nghệ – phát triển mô hình sản xuất mới, trong đó theo chính sách đã ban hành của Chính phủ, thì ngay từ bây giờ chúng ta sẽ phải thực hiện quá trình công nghiệp hóa sạch, trong đó, việc nghiêncứu và triển khai ứng dụng mô hình KCNST là rất quan trọng Đặc biệt, trước hết phải nghiên cứu đề xuất các tiêu chí cơ bản, đặc thù để chuyển đổi các KCN hiệu hữu đang hoạt động sang mô hình KCNST sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của quá trìnhcông nghiệp hóa ở Việt Nam
Đó cũng chính là lý do và tính cấp thiết của đề tài luận văn “Cơ sở khoa học xây dựng mô hình quản lý môi trường các khu công nghiệp Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc đề xuất mô hình QLMT KCN thíchhợp và khả thi đối với các KCN đa ngành (với điều kiện có sự tương thích về quy mô
và loại hình công nghiệp giữa các nhà máy trong KCN trên phương diện trao đổi chất thải), phục vụ cho công tác quản lý thống nhất môi trường theo hướng bền vững và thânthiện môi trường, hướng tới mô hình KCNST
3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, các nội dung cần được thực hiện bao gồm :
1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển các KCN ở Việt Nam
2 Nghiên cứu, khảo sát , phân tích đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường các KCN
ở Việt Nam
3 Khảo sát hiện trạng, phân tích đánh giá công tác QLMT trong các KCN
- Hiện trạng công tác quản lý (hệ thống pháp lý, hệ thống tổ chức quản lý, các công cụ quản lý môi trường,…);
- Những thuận lợi, khó khăn, những việc làm được và chưa làm được
4 Nghiên cứu một số mô hình QLMT KCN, đánh giá mô hình phù hợp trong điều kiện Việt Nam
5 Nghiên cứu những luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ cho xây dựng hệ thống QLMT KCN theo mô hình KCNST trong điều kiện Việt Nam
Trang 146 Nghiên cứu điển hình tại KCN Sài Đồng B (Hà Nội).
7 Nghiên cứu đề xuất hệ thống tiêu chí chuyển đổi các KCN đang hoạt động sang
mô hình KCNST
8 Đề xuất một số biện pháp tổng hợp BVMT trong hệ thống QLMT đối với mô hìnhKCNST
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các KCN tập trung theo mô hình cổ điển (KCN đa ngành)
đã được thành lập, xây dựng và đi vào hoạt động kể từ năm 1991
Phạm vi về không gian nghiên cứu gồm các KCN có cơ sở hạ tầng khá ổn định ở Việt Nam (thông qua việc tham khảo thông tin từ các Báo cáo, Đề tài đã có kết quả đánh giá) và trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng KTTĐ Bắc bộ (thông qua việc điều tra thực tế), từ đó phân loại mức độ thân thiện môi trường và chọn ra một KCN phù hợp để
áp dụng thử nghiệm các tiêu chí, rút ra những kinh nghiệm và bổ sung các khuyến nghị trước khi đưa vào thực hiện chính thức
Tiến hành nghiên cứu trường hợp điển hình đối với KCN Sài Đồng với những đặc
trưng đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu đặt ra, cụ thể như sau:
- Được thành lập và đi vào hoạt động được 15 năm, đến nay tỷ lệ lấp đầy KCN là100% KCN Sài Đồng B đã hoạt động với thời gian đủ dài và ổn định, hoạt động tối đa công suất
- Là KCN hoạt động theo mô hình KCN đa ngành với nhiều loại hình sản xuất Trong đó, các nhà máy trong KCN có sự tương thích về quy mô cũng như khả năng trao đổi chất thải với nhau
- Hiện nay, chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung nên vấn đề ô nhiễm môi trường xung quanh do nước thải sản xuất của KCN đang là vấn đề bức xúc cần giải quyết
- KCN đang chuẩn bị triển khai giai đoạn 3 mở rộng thêm phân khu sản xuất vàcác khu vực phụ trợ khác bao gồm cả việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN Điều này sẽ giúp cho KCN có khả năng điều chỉnh bổ sung hoặc chuyển đổi một số nhà máy để đảm bảo tính tương thích về khả năng trao đổi chất thải
Trang 15- Có sự tự nguyện trong việc tham gia nghiên cứu mô hình KCN thân thiện với môi trường Một số nhà máy trong KCN đang trong giai đoạn cải tiến, chuẩn bị đầu tưthay thế áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường.
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu
Áp dụng các lý thuyết Quản lý môi trường
Các vấn đề sau đây được quan tâm : Lý thuyết về QLMT, hiện trạng thực tế của các KCN, điều kiện quản lý của Việt Nam, công nghệ sản xuất sạch hơn, giảm thiểu chất thải sản xuất, tái sinh và tái sử dụng chất thải; Trao đổi chất thải và trao đổi thông tin về chất thải, sinh thái công nghiệp, mô hình hóa và QLMT KCN được sử dụng trong việc nghiên cứu tìm kiếm các loại hình KCN, các mô hình QLMT và đề xuất biện pháp QLMT KCN thích hợp
Vấn đề QLMT KCN phải được nghiên cứu dựa trên thực tế hoạt động của các
KCN hiện có; áp dụng nguyên tắc về tính khách quan trong nghiên cứu khoa học và nguyên tắc xem xét sự vật một cách toàn diện là một yêu cầu rất quan trọng để làm sáng tỏ
những nội dung cơ bản trong quản lý nhà nước về BVMT của một KCN Việc điều chỉnh những mối quan hệ xuất hiện trong quá trình quản lý nhà nước về BVMT KCN phải có
tính thống nhất, đồng bộ trong phạm vi toàn quốc Hệ thống QLMT nói chung sẽ bao gồm cơ cấu tổ chức và công cụ quản lý Hoạt động của hệ thống QLMT nhằm giảm
thiểu, hạn chế và loại trừ các tác động xấu đến môi trường Các chính sách môi trường được đề xuất trên cơ sở các vấn đề cần giải quyết hiện tại cũng như định hướng phát triển bền vững trong tương lai Do đó, những thông tin về hiện trạng chất lượng môi trường các KCN, hiện trạng hệ thống QLMT cho các KCN cũng như các văn bản pháp
lý hiện hành là cơ sở để xây dựng chính sách môi trường, chương trình hành động cũng như thiết lập thứ tự ưu tiên trong việc phát triển hệ thống QLMT
Xây dựng cơ sở kỹ thuật cho việc QLMT KCN : Các yếu tố của một hệ thống
QLMT có thể được sắp xếp theo chu trình gồm bốn giai đoạn: Kế hoạch, hành động, đánh giá và điều chỉnh Trong giai đoạn kế hoạch, các mục tiêu chiến lược môi trường
phải được xác định và những biện pháp thực hiện được xác định trong giai đoạn này để
Trang 16có thể kết hợp hài hòa với tiến trình phát triển CN của đất nước Những thông tin này
có thể thu thập được từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương và các BQL các KCN.Mục tiêu hoạt động chính của hệ thống QLMT cho các KCN là giảm đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tiến tới phát triển bền vững Do đó, bên cạnh các Luật, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định … Các công cụ kỹ thuật cũng đóng vai tròquan trọng, quyết định cho sự thành công của hệ thống Sản xuất sạch được xem là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống QLMT cho các nhà máy [22]
+ Trao đổi chất thải và trao đổi thông tin về chất thải là thành phần không thể
thiếu được khi phát triển các KCN theo nguyên tắc sinh thái CN (industrial ecology) Các chất thải, sản phẩm phụ sinh ra từ nhà máy này có thể tái sử dụng làm nguyên liệu hoặc thay thế một phần nguyên liệu cho nhà máy kia Nhờ đó, vòng vật chất giữa các nhà máy trong KCN được khép kín và lượng chất thải có thể giảm đến mức thấp nhất Hiện tại, một số nhà máy trong các KCN đã thực hiện việc tái sử dụng một phần chất thải trong dây chuyền công nghệ sản xuất của nhà máy hoặc bán cho một số nhà máykhác để làm nguyên liệu Tuy nhiên, hoạt động này chỉ xảy ra do nhu cầu thực tế của một số nhà máy và chưa trở thành một nội dung trong hệ thống quản lý Nếu có thể xây
dựng được trung tâm trao đổi chất thải hoặc trung tâm trao đổi thông tin về chất thải
thì hoạt động này có thể được áp dụng rộng rãi hơn cho nhiều nhà máy và KCN Để đánh giá tính khả thi của việc áp dụng công cụ kỹ thuật này trong hệ thống quản lý, những nội dung sau đây cần được nghiên cứu tại những cơ sở sản xuất và các KCN đãlựa chọn trong những phần khảo sát của luận văn:
- Các loại hình CN hiện có;
- Các loại chất thải hiện có: thành phần và khối lượng;
- Khả năng tái sử dụng chất thải này làm nguyên liệu sản xuất;
- Nhu cầu thị trường của các thành phần chất thải này
Các thông tin này có thể thu thập thông qua khảo sát thực tế và phỏng vấn trực tiếp tại các cơ sở sản xuất nói trên, bằng cách phát phiếu câu hỏi phỏng vấn và thôngqua phiếu điều tra CN
+ Hệ thống giám sát chất lượng môi trường cho các KCN cần được thiết lập để
Trang 17của các nhà máy và KCN Đây là cơ sở để áp dụng các hình thức thưởng, phạt một cách công bằng và khuyến khích các DN thực hiện một cách nghiêm túc chính sách môitrường đã đề ra
Xây dựng các mô hình KCN tập trung : Trên cơ sở điều kiện địa hình, kinh tế –
xã hội, nhu cầu phát triển CN và BVMT, việc xây dựng các mô hình KCN tập trung thích hợp cho từng khu vực được thực hiện với phương châm giảm thiểu các tác động đến chất lượng cuộc sống và môi trường đồng thời mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho địa phương Dựa trên cơ sở khoa học đã xây dựng, việc nghiên cứu điển hình về
khả năng ứng dụng mô hình KCNST đã được thực hiện tại KCN Sài Đồng B (Hà Nội).
Kết quả của nghiên cứu điển hình này góp phần làm tăng tính thuyết phục của phươngpháp luận xây dựng mô hình KCNST
Phương pháp nghiên cứu
Ứng với mỗi nội dung nghiên cứu có những phương pháp nghiên cứu cụ thể :
Phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp được sử dụng rộng rãi,
thường xuyên trong quá trình nghiên cứu khoa học
Phương pháp so sánh là phương pháp được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực khoa
học khác nhau Khi áp dụng phương pháp này trong đề tài nghiên cứu cần phải thu thập thông tin về những vấn đề liên quan đến QLMT KCN hiện nay ở khu vực và những qui định hiện có của Nhà nước về QLMT KCN, từ đó phát hiện những điểm giống và khácnhau, những mặt mạnh và yếu và những qui định, qui trình, tiêu chuẩn được các đối tượng chấp nhận Ngoài ra có thể tham khảo thêm những qui định và xu hướng QLMT của các nước trên thế giới để điều chỉnh phù hợp với Việt Nam
Phương pháp điều tra xã hội học để nắm thông tin thể hiện những quan niệm và
những phản ảnh về các vấn đề môi trường khác nhau mà đề tài đặt ra, đặc biệt là ý kiến của các đối tượng liên quan, ví dụ : các nhà đầu tư CN, các nhà quản lý KCN, các nhàQLMT, các nhà nghiên cứu v…v…
Phương pháp thống kê dùng để phân tích và xử lý số liệu.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế theo biểu mẫu thống nhất.
Phương pháp chuyên gia: để lấy ý kiến chuyên gia v…v
Trang 18Phương pháp nghiên cứu ứng với từng nội dung được trình bày tóm tắt như sau :
Đánh giá hiện trạng QLMT các KCN của Vùng KTTĐ Bắc bộ nói riêng và Việt Nam nói chung: Thống kê, thu thập các tài liệu, số liệu liên quan tới sự phát triển của
KCN và Việt Nam, hiện trạng ô nhiễm và QLMT KCN ở Vùng KTTĐ Bắc bộ từ các báo cáo khoa học, các văn bản, tài liệu của KCN và các cơ quan quản lý, cơ quannghiên cứu Khảo sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, nhu cầu nguyên nhiên liệu, các vấn đề môi trường, … Phân tích ưu điểm vànhững tồn tại cần nghiên cứu tiếp - tổng hợp và đánh giá Các công cụ quản lý và vănbản pháp lý về quản lý chất lượng môi trường của các KCN được tham khảo từ các Báo cáo, đề tài nghiên cứu… và trao đổi trực tiếp với các chuyên gia trong lĩnh vực này
Việc đánh giá chất lượng môi trường của các KCN trên được thực hiện chủ yếu
dựa trên các Báo cáo kết quả quan trắc, Báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra môi trường KCN, báo cáo từ các BQL các KCN, Sở TN&MT địa phương, Tổng cục Môi trường
Các văn bản pháp lý liên quan đến QLMT và QLMT các KCN Việt Nam được
thu thập từ các cơ quan có chức năng như các Bộ TN&MT, Tổng cục Môi trường, Sở TN&MT, Ban quản lý các KCN Mức độ áp dụng các văn bản này sẽ được đánh giá
từ phản ánh của các nhà quản lý và các bộ phận thực hiện công tác môi trường tại cơ sở sản xuất Sự phản hồi các đánh giá ban đầu sẽ có giá trị hơn thông qua trao đổi, thảo luận giữa nhóm nghiên cứu và các nhà làm công tác quản lý Ý kiến của các nhà quản
lý sẽ rất có ích cho việc xây dựng hệ thống QLMT cho các KCN sau này
Tìm hiểu hệ thống quản lý môi trường KCN trên Thế giới: Mỗi mô hình KCN
có những đặc trưng riêng, do đó hệ thống QLMT áp dụng cho những KCN này cũng cónhững đặc thù riêng Các thông tin liên quan đến loại hình KCN và hệ thống QLMT KCN của các nước được thu thập thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, báo cáo khoa học và sách đã được xuất bản Các dạng mô hình KCN khác nhau và hệ thống QLMT đối với những mô hình KCN này từ những nước đang được tham khảo để phát triển, học tập những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm và rút ra bài học cho Việt Nam
Xây dựng mô hình các hệ thống QLMT cho KCN: Với những mô hình KCN tập
trung đã thiết lập, sẽ xây dựng các mô hình hệ QLMT thích hợp cho từng loại KCN ở
Trang 19mỗi cấp quản lý cần thể hiện vai trò của các cơ quan - bộ phận chức năng tham gia QLMT của từng cơ sở sản xuất cũng như của KCN Phương pháp chuyên gia, phân tích -tổng hợp và dựa vào các tính chất đặc trưng của KCNST và điều kiện thực tế tại Việt Nam
được sử dụng để đề xuất hệ thống tiêu chí chuyển đổi các KCN đa ngành đang hoạt động sang mô hình KCNST trong điều kiện Việt Nam.
Trang 20Chương 1 – TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN
TRẠNG MÔI TRƯỜNG CÁC KCN VIỆT NAM
Cùng với việc thu thập, tổng hợp thông tin từ các Báo cáo, Đề tài nghiên cứu về vấn đề môi trường các KCN ở Việt Nam, tác giả Luận văn đã tiến hành điều tra thực tế thông qua việc đi khảo sát và phát phiếu điều tra thu thập thông tin đối với 35 KCN trênđịa bàn các tỉnh thuộc vùng KTTĐ Bắc bộ Kết quả thu được 27 KCN có thông tin thu thập được về hiện trạng hoạt động, nguồn thải (nước thải, chất thải rắn) và tổ chức quản
lý môi trường của KCN Dưới đây, sẽ là một số tổng hợp, đánh giá về tình hình pháttriển và hiện trạng môi trường các KCN ở Việt Nam nói chung và số liệu cụ thể đối với các KCN thuộc vùng KTTĐ Bắc bộ nói riêng
1.1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển các KCN của Việt Nam
Tính từ năm 1991 đến hết tháng 12/2008, trải qua 18 năm xây dựng và phát triển, Việt Nam đã thành lập được 223 KCN với tổng diện tích tự nhiên đạt 57.264 ha, phân
bố trên 56/63 Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương Trong đó, diện tích đất sử dụng cho phát triển công nghiệp có thể cho thuê theo quy hoạch đạt gần 40.000 ha, chiếm khoảng 65% diện tích đất quy hoạch các KCN
65
131
179 139
223 57.264
60.000
Số lượng KCN Diện tích KCN
Biểu đồ 1.1 Tình hình phát triển KCN giai đoạn 1991 - 2008
Nguồn: [7]
Trong số 223 KCN hiện nay của cả nước, có 171 KCN đã đi vào hoạt động, 52KCN đang trong quá trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật, chủ yếu là các KCN mới thành
Trang 21lập trong những năm gần đây Tính chung cho toàn bộ các KCN cả nước thì tỷ lệ lấp đầy chỉ đạt 46% với 17.107 ha đất công nghiệp đã cho thuê.
Năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước đối với KCN, KCX và KKT,trong đó quy định thống nhất hoạt động của KCN trên các lĩnh vực theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý cho Ban quản lý các KCN Nghị định đã góp phần đổi mới sâu sắc về thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh cùng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ sau khi Việt Nam gia nhập WTO Công tác quản lý Nhà nước về KCN cũng như bản thân hoạt động của các KCN đã có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, năng lực, chương trình hoạt động để thích nghi với điều kiện mới
Tuy nhiên, quá trình phát triển KCN cũng đã nảy sinh một số vấn đề như sự gia tăng về số lượng không tỷ lệ thuận với tỷ lệ lấp đầy KCN Qua khảo sát ở một số KCN, cho thấy, các KCN do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, thuận tiện, nhưng tốc độ lấp đầy chậm, không thu hút được các doanhnghiệp vừa và nhỏ, bởi suất đầu tư cao, cho nên các doanh nghiệp Việt Nam với tàichính có hạn rất khó thuê ở các KCN này Các KCN do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập và hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì có tốc độ lấp đầy nhanh nhưngkhông thể thành lập nhiều do ngân sách địa phương hạn hẹp Các KCN khác cho các doanh nghiệp sản xuất thuê đất trước khi xây dựng hạ tầng kỹ thuật nên suất đầu tưthấp, có tốc độ triển khai xây dựng và lấp đầy nhanh nhưng lại gặp khó khăn trong quản
lý môi trường, hệ thống hạ tầng kỹ thuật không đồng bộ
Số liệu về số lượng KCN thành lập mới và mở rộng năm 2008 cũng như những năm trước cho thấy, mặc dù sự phân bố KCN đã được điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện cho một số địa bàn đặc biệt khó khăn ở Trung du miền núi phía Bắc (Yên Bái,Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Kạn ), Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng), Tây Nam Bộ (Hậu Giang, An Giang, Sóc Trăng…) nhằm phát triển công nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song các KCN vẫn tập trung ở 23 tỉnh, thành phố thuộc 4 vùng KTTĐ (vùng KTTĐ Bắc bộ, vùng KTTĐ miền Trung, vùngKTTĐ phía Nam và vùng KTTĐ vùng ĐBSCL) Đến cuối tháng 12/2008, với 167 KCN, tổng diện tích đất tự nhiên đạt 46.825 ha, các KCN thuộc 4 vùng KTTĐ chiếm
Trang 22tới 74,9 % tổng số KCN và 81,8 % tổng diện tích đất tự nhiên các KCN cả nước [7].Đồng Nai và Bình Dương là những địa phương có số lượng KCN lớn nhất trong cả nước Vùng KTTĐ Bắc bộ có 49 KCN với diện tích khoảng 10.114 ha, chiếm khoảng 22% tổng số KCN trên toàn quốc[2].
Ngày 21/8/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1107/2006/QĐ-TTg
[4]phê duyệt Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Quy hoạch đã xác định sẽ hình thành hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia, đồng thời hình thành các KCN có quy
mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp
Kế hoạch đến năm 2015
- Đầu tư đồng bộ để hoàn thiện các KCN hiện có, thành lập mới một cách có chọn lọc các KCN với tổng diện tích tăng thêm khoảng 20.000 - 25.000 ha; nâng tổng diện tích các KCN đến năm 2015 khoảng 65.000 - 70.000 ha Phấn đấu đạt tỷ lệ lấp đầy các KCN bình quân trên toàn quốc khoảng trên 60%
- Xây dựng các công trình xử lý chất thải công nghiệp tập trung quy mô lớn ở những khu vực tập trung các KCN tại các vùng KTTĐ
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào các KCN, phấn đấu thu hút thêm khoảng 6.500 - 6.800 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng trên
36 - 39 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư thực hiện khoảng 50%
Trang 23Đồng bằng sông Hồng
Trung du miền núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ
và duyên hải miền Trung
Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng
sông Cửu Long
Số KCN (khu)
Số lượng KCN ưu tiên thành lập mới theo quy hoạch
Số lượng KCN đã thành lập mới giai đoạn 2006-2008
Biểu đồ 1.2 Số KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới giai đoạn 2006 - 2015 theo vùng kinh tế và so sánh với số KCN đã thành lập giai đoạn 2006 – 2008
Nguồn: [1]
Trong giai đoạn 2006-2008, các KCN được thành lập mới vẫn chủ yếu tập trung ở vùng ĐBSH, Đông Nam Bộ và ĐBSCL (Biểu đồ 1.2) Trung du miền núi phía Bắc trong giai đoạn này cũng có số lượng KCN thành lập mới khá nhiều đã đáp ứng yêu cầu phát triển các KCN tại vùng có điều kiện khó khăn Tuy nhiên, Bắc Trung Bộ và Duyênhải miền Trung cùng với Tây Nguyên vẫn là hai vùng có số lượng KCN thành lập mới không nhiều Điều này đã bộc lộ rõ sự phát triển KCN không cân đối giữa các vùng,miền trên cả nước
Theo các báo cáo thống kê cho thấy, các chỉ tiêu về phát triển KCN như tăng số lượng và diện tích KCN đều đạt và vượt kế hoạch Tuy nhiên, chỉ tiêu liên quan đến công tác BVMT đó là 70% các KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêuchuẩn thì còn xa so với con số thực tế (đến cuối năm 2009 mới có 43,3 % các KCN đã
đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung, nhiều công trình trong số đó còn chưa xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn) Điều này đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng của chính các KCN, sự quản lý sát sao và sự hỗ trợ của các cấp để có thể đạt được chỉ tiêu này
1.2 Tổng quan về hiện trạng môi trường các KCN
1.2.1 Nước thải
Thành phần nước thải các KCN phụ thuộc vào ngành nghề của các cơ sở sản xuất trong KCN (Bảng 1.1)
Trang 24Bảng 1.1 Đặc trưng về thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp
(trước xử lý)
Chế biến đồ hộp, thủy sản, rau
quả, đông lạnh
BOD, COD, pH, SS Màu, tổng P, N tổng
Chế biến nước uống có cồn,
Thuộc da BOD5, COD, SS, Cr, NH4+,
dầu mỡ, phenol, sunfua
Bảng 1.2 Ước tính tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ các KCN thuộc các tỉnh của vùng KTTĐ Bắc bộ năm 2009
Tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày)
Lượng nước thải
Trang 25Tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày)
Lượng nước thải
Chất lượng nước thải đầu ra của các KCN phụ thuộc rất nhiều vào việc nước thải
có được xử lý hay không Hiện nay, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43%, rất nhiều các KCN đã đi vào hoạt động màhoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này Nhiều KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp Nhiều nơi doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưngkhông vận hành hoặc vận hành không hiệu quả Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với QCVN
Nước thải từ các KCN đã góp phần làm cho tình trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch trở nên trầm trọng hơn Những nơi tiếp nhận nước thải của các KCN đã bị ô nhiễm nặng nề, nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD, NH4+, tổng N, tổng P đều cao hơnQCVN nhiều lần (Biểu đồ 1.3)
Trang 26Mương thoát nước KCN Nomura,HP
S.Sinh - QN S.Cầu - BN S.Ngũ Huyện
khê - BN Mương tại KCN Tiên Sơn - BN
S.Sặt-Hải Dương S.Cà Lồ- P.Yên,VPhúc
Hưng Yên
S.Bần-S.Nhuệ Vạn Phúc,HN
Các khí thải ô nhiễm phát sinh từ các nhà máy, xí nghiệp chủ yếu do hai nguồn: quá trình đốt nhiên liệu tạo năng lượng cho hoạt động sản xuất (nguồn điểm) và sự rò rỉ chất
ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất (nguồn diện) Tuy nhiên, hiện nay, các cơ sở sản xuất chủ yếu mới chỉ khống chế được các khí thải từ nguồn điểm Ô nhiễm không khí do nguồn diện và tác động gián tiếp từ khí thải, hầu như vẫn không được kiểm soát, lan truyền ra ngoài khu vực sản xuất, có thể gây tác động đến sức khoẻ người dân sống gần khu vực bị ảnh hưởng
Mỗi ngành sản xuất phát sinh các chất gây ô nhiễm không khí đặc trưng theo từngloại hình công nghệ Rất khó xác định tất cả các loại khí gây ô nhiễm, nhưng có thể phânloại theo từng nhóm ngành sản xuất chính tại các KCN như Bảng 1.3
Trang 27Bảng 1.3 Phân loại từng nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô nhiễm
Tất cả các ngành có lò hơi, lò sấy hay máy phát
điện đốt nhiên liệu nhằm cung cấp hơi, điện,
nhiệt cho quá trình sản xuất
Bụi, CO, SO2, NO2, CO2, VOCs, muội khói,…
Nhóm ngành may mặc: phát sinh từ công đoạn
cắt may, giặt tẩy, sấy
Bụi, Clo, SO2
Nhóm ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống Bụi, H2S
Nhóm ngành sản xuất các sản phẩm từ kim loại Bụi kim loại đặc thù, bụi Pb trong công
đoạn hàn chì, hơi hóa chất đặc thù, hơi dungmôi hữu cơ đặc thù, SO2, NO2
Nhóm ngành sản xuất các sản phẩm nhựa, cao su SO2, hơi hữu cơ, dung môi cồn,…
Chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, dinh dưỡng
động vật
Bụi, H2S, CH4, NH3
Chế biến thủy sản đông lạnh Bụi, NH3, H2S
Nhóm ngành sản xuất hóa chất như: Bụi, H2S, NH3, hơi hữu cơ, bụi, hơi hóa chất
đặc thù,… như:
- Ngành cơ khí (công đoạn làm sạch bề mặt kim
loại)
- Hơi axit
- Ngành sản xuất hóa nông dược, hóa chất bảo vệ
thực vật, sản xuất phân bón
- H 2 S, NH 3 , lân hữu cơ, clo hữu cơ
Các phương tiện vận tải ra vào các công ty trong
các khu công nghiệp Khí SO2, CO, NO2, VOCs, bụi,…
Nguồn: [7]
Theo đánh giá của Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009, Vùng KTTĐ Bắc bộ lànơi có phát thải chất ô nhiễm môi trường không khí lớn thứ hai trên cả nước
Trang 28Bảng 1.4 Ước tính thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN thuộc các
ra môi trường nên thường ít gặp các vấn đề về ô nhiễm không khí hơn
Tình trạng ô nhiễm bụi ở các KCN vùng KTTĐ Bắc bộ diễn ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô và đối với các KCN đang trong quá trình xây dựng Hàm lượng bụi lơlửng trong không khí xung quanh của các KCN qua các năm đều vượt QCVN
Trang 29- Hà Nội
Nomura -Hải Phòng
Cái Lân
- Quảng Ninh
Tiên Sơn
- Bắc Ninh
Quế Võ
- Bắc Ninh
Bình Xuyên
- Vĩnh Phúc
Đại An
- Hải Dương
Nam Sách
- Hải Dương
Phố Nối A
- Hưng Yên
2006 2007 2008 QCVN 05:2009
Biểu đồ 1.4 Hàm lượng bụi lơ lửng (mg/m 3 ) trong không khí xung quanh một số
khu công nghiệp miền Bắc từ năm 2006 - 2008
Nguồn: [12]
Theo đánh giá chung về nồng độ khí CO, SO2 và NO2 trong không khí xung quanhcác KCN hầu hết đều nằm trong giới hạn cho phép
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm không khí bên trong cơ sở sản xuất của các KCN đang
là vấn đề cần quan tâm Một số loại hình sản xuất trong các KCN (như chế biến thuỷ sản, sản xuất hoá chất…) đang gây ô nhiễm không khí tại chính các cơ sở sản xuất và tácđộng không nhỏ đến sức khoẻ của người lao động bên trong và dân cư gần các cơ sở sản xuất Tuy nhiên, không có số liệu để đánh giá chính xác vấn đề này do hiện nay chưa cóđơn vị có thẩm quyền nào tiến hành quan trắc chất lượng môi trường không khí trong khu vực sản xuất của các KCN Vấn đề này chưa được quy định trong các văn bản pháp quy
về quản lý môi trường
1.2.3 Chất thải rắn
Hoạt động sản xuất tại các KCN đã phát sinh một lượng không nhỏ chất thải rắn vàchất thải nguy hại Thành phần, khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi KCN tùy thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư, quy mô đầu tư và công suất của các cơ sở công nghiệp trong KCN Thêm vào đó, thành phần chất thải rắn của các KCN còn thay đổi theo giai đoạn phát triển của KCN Trong giai đoạn xây dựng KCN, chất thải rắn chủ yếu là phế thải xây dựng Thành phần chính là đất, đá, gạch, xi măng, sắt thép hư hỏng, bao bì vàphế thải xây dựng Thực tế ở các KCN Việt Nam hiện nay, tỷ lệ các KCN đã lấp đầy
Trang 30100% rất ít nên lượng chất thải xây dựng vẫn thường xuyên phát sinh và được thu gom lẫn với chất thải công nghiệp
Tổng lượng chất thải rắn trung bình của cả nước đã tăng từ 25.000 tấn/ngày (năm1999) lên khoảng 30.000 tấn/ngày (năm 2005), trong đó lượng chất thải rắn từ hoạt động công nghiệp cũng có xu hướng gia tăng, phần lớn tập trung tại các KCN ở vùngKTTĐ Bắc bộ và vùng KTTĐ phía Nam Trong những năm gần đây, cùng với sự mở rộng của các KCN, lượng chất thải rắn từ các KCN đã tăng đáng kể, trong đó, lượng chất thải rắn nguy hại gia tăng với mức độ khá cao Tổng lượng chất thải nguy hại do Công ty Môi trường đô thị URENCO Hà Nội thu gom trong 1 tháng (của năm 2009) làkhoảng 2.700 tấn/tháng, trong đó số lượng chất thải nguy hại có nguồn gốc từ các hoạt động sản xuất công nghiệp (dầu thải, dung môi, bùn thải, dung dịch tẩy rửa, bao bì hóachất, giẻ dầu, pin, acquy, thùng phi ) đã là 2.100 tấn/tháng Điều đó chứng tỏ tỷ lệ chất thải nguy hại phát sinh từ sản xuất công nghiệp (các ngành điện tử, sản xuất hóa chất, lắp ráp thiết bị cao cấp ) cao hơn nhiều so với các ngành, lĩnh vực khác
Bảng 1.5 Ước tính lượng chất thải nguy hại phát sinh theo ngành sản xuất và theo
số lượng công nhân trong ngành sản xuất (kg/người/năm)
Lĩnh vực
Rác thải
Thực phẩm
Dêt, da giầy
Gỗ và chế biến gỗ
Giấy
& in ấn
Hóa chất
&
hóa dầu
Phi kim loại
Kim loại cơ bản
Sản phẩm kim loại
Thiết
bị vận tải
Trang 31Lĩnh vực
Rác thải
Thực phẩm
Dêt, da giầy
Gỗ và chế biến gỗ
Giấy
& in ấn
Hóa chất
&
hóa dầu
Phi kim loại
Kim loại cơ bản
Sản phẩm kim loại
Thiết
bị vận tải
Do hầu hết các KCN chưa có điểm tập trung thu gom chất thải rắn nên cácdoanh nghiệp trong KCN thường ký hợp đồng với các Công ty môi trường đô thị tại địa phương, hoặc một số doanh nghiệp có giấy phép hành nghề để thu gom và xử lý chất thải rắn Việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cũng do các doanh nghiệp chủ động đăng ký với Sở TN&MT cấp tỉnh
Hiện nay, chất thải nguy hại tại các KCN chưa được quản lý chặt chẽ do các quy định liên quan chưa cụ thể Nhiều cơ sở chưa tiến hành phân loại, không có kho lưu giữ tạm thời theo quy định và chỉ một phần chất thải nguy hại được các đơn vị có chức năng xử lý Rất nhiều chất thải nguy hại được chôn lẫn với rác thải sinh hoạt, thậm chí
đổ ngay tại nhà máy, gây ô nhiễm môi trường
1.3 Tổng quan hiện trạng quản lý môi trường trong các KCN
1.3.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT KCN
Rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành quy định nội dung quản
lý môi trường KCN Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 về ban hành quy chế KCN,
Trang 32KCX, khu công nghệ cao là văn bản đầu tiên tạo cơ sở điều chỉnh các hoạt động của KCN như cấp phép đầu tư, thành lập BQL, cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương Nghị định 36/CP cho phép thành lập BQL các KCN, KCX được nhìn nhận như
là đại diện được uỷ quyền của Bộ, ngành và địa phương để quản lý KCN
Quyết định số 62/QĐ-BKHCNMT ngày 09/8/2002 của Bộ KH&CNMT về ban hành quy chế bảo vệ môi trường KCN đã đề cập đến các quy định về ĐTM, cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường, thu gom và xử lý nước thải tập trung, trách nhiệm của các bênquản lý nhà nước và doanh nghiệp Quyết định này đã góp phần nâng cao nhận thức doanh nghiệp và thúc đẩy hoạt động bảo vệ môi trường tại các KCN
Tuy nhiên, Quyết định 62/QĐ-BKHCNMT vẫn còn một số vấn đề hạn chế nhưchưa nhất quán trong các quy định và nội dung của quản lý tập trung, chưa coi KCNnhư một thực thể độc lập có tổ chức, chưa có những quy định gắn với tổ chức, hỗ trợ cho hoạt động của tổ chức, các quy định chưa sát với việc triển khai thực tế (Khung 1.1)
Khung 1.1 Một số hạn chế của Quyết định số 62/QĐ-BKHCNMT
Tại nhiều KCN, doanh nghiệp dựa vào lý do công nghệ xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường, tự thoả thuận với cơ quan quản lý để đấu nối riêng mà không kết nối chung vào
hệ thống thu gom của KCN Hậu quả là một KCN có nhiều đầu ra nước thải, không thể kiểm soát được và không dễ khắc phục khi chuyển đổi sang quản lý tập trung
Thực tế đã cho thấy không đảm bảo rằng công nghệ xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường được duy trì liên tục trong thời gian dài, và doanh nghiệp không gian dối trong việc
xả thẳng nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, như trường hợp VEDAN đã bị phát hiện Kết nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung chính là một cách giám sát rất hiệu quả nhưng
đã không trở thành quy định bắt buộc trong Quyết định này
Thực hiện Nghị định 21/2008/NĐ-CP và Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chínhphủ, nhiều địa phương đã uỷ quyền một phần chức năng quản lý môi trường KCN từ Sở
Trang 33TN&MT sang cho BQL các KCN Tuy nhiên, diễn biến quá trình này đã phát sinh rất nhiều vấn đề BQL chưa thực sự triển khai được chức năng quyền hạn mới; bộ máy tổ chức chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số BQL các KCN còn chưa có bộ phân chuyên trách về môi trường; bộ máy nhân sự, kinh phí không được quy định rõ trongcác văn bản
Nhìn chung, hiện chưa có sự thống nhất giữa các văn bản quy định về quản lý môi trường đối với các KCN Đến nay hầu hết các văn bản liên quan đến KCN đều tập trung vào những vấn đề cải thiện môi trường đầu tư, còn hành lang pháp lý về QLMTKCN rất chậm được ban hành Tại một số địa phương, vấn đề bảo vệ môi trường KCN chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vi phạm môi trường diễn ra liên tục, nhiều năm nhưng không được xử lý cương quyết
Thực tiễn đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần điều chỉnh, cụ thể hơn trong các quyđịnh quản lý môi trường KCN Ngày 15/7/2009, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư08/2009/TT-BTNMT quy định quản lý và bảo vệ môi trường KKT, khu công nghệ cao, KCN và CCN, thay thế cho Quy chế bảo vệ môi trường KCN ban hành theo Quyết định 62/QĐ-BKHCNMT và khắc phục các tồn tại đã nêu
1.3.2 Hệ thống quản lý môi trường KCN
Theo Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, liênquan đến quản lý môi trường KCN có các đơn vị sau: Bộ TN&MT (đối với các KCN vàcác dự án trong KCN có quy mô lớn); UBND tỉnh (đối với KCN và các dự án trong KCN có quy mô thuộc thẩm quyền phê duyệt của tỉnh), UBND huyện (đối với một số
dự án quy mô nhỏ) và một số Bộ, ngành khác (đối với một số dự án có tính đặc thù).Bên cạnh đó, liên quan đến bảo vệ môi trường và quản lý môi trường của các KCN còncó: BQL các KCN; chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN; các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN
Trang 34Hình 1.1 Sơ đồ nguyên tắc các mối quan hệ trong hệ thống quản lý môi trường KCN
Thông tư 08/2009/TT-BTNMT[5] của Bộ TN&MT tập trung vào việc quy định trách nhiệm, quyền hạn của các đơn vị và các vấn đề liên quan đến quản lý và bảo vệ môi trường của các KCN, trong đó đặc biệt nâng cao trách nhiệm của BQL các KCN Theo đó, BQL các KCN chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý công tác bảo vệ môi trường tại KCN theo sự ủy quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 4, khoản 1) Để thực hiện nhiệm vụ này, BQL các KCN phải có tổ chức chuyên môn, cán bộ phụ trách
về bảo vệ môi trường theo quy định tại Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23/5/2007của Chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về Bảo vệ môi trường tại cơquan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước
BQL các KCN thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường KCN theo uỷ quyền như tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM; chủ trìhoặc phối hợp thực hiện giám sát, kiểm tra các vi phạm về bảo vệ môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh tại KCN; phối hợp với Bộ TN&MT, Sở TN&MT thực hiện việc thanh tra và xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường trong KCN
Sở TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường, chủ trì công
Trang 35Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM theo thẩm quyền; chủ trì hoặc phối hợp với BQL các KCN tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường trong KCN; phối hợp giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường KCN
Công ty Phát triển hạ tầng KCN có chức năng xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng KCN; quản lý và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, các công trình thu gom,phân loại và xử lý chất thải rắn theo đúng kỹ thuật; theo dõi, giám sát hoạt động xả thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ đổ vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN
Thông tư 08/2009/TT-BTNMT đã tạo ra một bước tiến so với Quyết định 62/QĐ-BKHCNMT trong vấn đề giao trách nhiệm cho các đối tượng có liên quan trongquản lý môi trường KCN Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề mà Thông tư 08 chưa quyđịnh rõ ràng cũng như giải quyết triệt để được những hạn chế còn tồn tại
Tồn tại lớn nhất trong vấn đề quản lý môi trường KCN đó là BQL các KCNchưa đủ điều kiện thực hiện chức năng đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm chính quản lý môi trường KCN, hệ thống quản lý môi trường KCN thiếu chủ thể quản lý thực sự chịu trách nhiệm và giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh Việc phân cấp không rõràng giữa Sở TN&MT và BQL các KCN đã dẫn đến việc né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giữa các đơn vị Theo phân cấp, Sở TN&MT đóng vai trò là cơ quan quản lý, ban hànhcác quy định, còn BQL chịu trách nhiệm thực hiện, đảm bảo chất thải đầu ra của KCN đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên, hiện nay Sở TN&MT vẫn đang giữ vai trò của đơn vị thực hiện Đó là các chức năng về thẩm định và phê duyệt Báo cáo ĐTM của doanh nghiệp trong KCN, kiểm tra và giám sát quá trình thực hiện các quy định của Luật BVMT trong KCN như xử lý nội bộ doanh nghiệp, kết nối hệ thống, bao gồm cả việc quản lý các bên liên quan trong xử lý chất thải KCN Tại nhiều địa phương, BQL các KCN chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về KCN, chưa bao gồm quản lý môi trường KCN để BQL các KCN có thể có được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ thì cần có sự uỷ quyền của UBND tỉnh, UBND huyện, trong một số trường hợp còn cần sự ủy quyền của Bộ TN&MT và các bộ ngành khác[6]
Theo Thông tư 08/2009/TT-BTNMT, BQL các KCN chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý công tác BVMT Tuy nhiên, hiện nay năng lực của BQL các KCN tại nhiều địa
Trang 36phương chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số BQL các KCN còn chưa có bộ phận chuyên trách về môi trường; bộ máy, nhân sự và kinh phí hoạt động không được quy định rõ trong các văn bản
Vấn đề trách nhiệm của các bên về BVMT bên trong KCN còn nhiều bất cập Hiện nay, doanh nghiệp trong KCN đang cùng lúc chịu sự quản lý của 3 đầu mối: BQL các KCN chủ yếu chịu trách nhiệm về cấp phép đầu tư và thẩm định báo cáo ĐTM, Sở TN&MT chịu trách nhiệm thanh tra, kiểm tra môi trường, Chủ đầu tư xây dựng và kinhdoanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN được giao trách nhiệm giám sát hoạt động BVMT bên trong KCN, bao gồm các quan hệ mua bán cho thuê dịch vụ và các dịch vụ môi trường Thực tế, quan hệ giữa doanh nghiệp với 3 đầu mối trên còn thiếu các quy định
và chế tài cụ thể, dẫn đến việc lỏng lẻo trong việc bắt buộc doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm BVMT, trong nhiều trường hợp, khi xảy ra tranh chấp hay sự cố môi trường liên quan, không rõ đầu mối để liên hệ hoặc hỗ trợ doanh nghiệp
Không chỉ vậy, Quy định quản lý môi trường nội bộ KCN chưa được phổ biến Đây làcông cụ quan trọng trong quá trình quản lý KCN, thể hiện tính đặc thù của từng KCN, phù hợp với cách thức và năng lực quản lý của từng KCN, của địa phương và loại hìnhdoanh nghiệp tại chỗ Việc thực hiện quản lý môi trường trong hàng rào KCN (quy định
về các hoạt động bảo vệ môi trường trong KCN, trách nhiệm của các bên liên quantrong KCN, công cụ kiểm tra, giám sát và xử lý các hoạt động ) đều thông qua quy định này Tuy nhiên, do tổ chức của BQL các KCN chưa hoàn thiện nên các quy định này chưa được phổ biến cũng như áp dụng hiệu quả
1.3.3 Quy hoạch KCN gắn với bảo vệ môi trường
Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 được ban hành kèm theo Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu hình thành hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò định hướng sự phát triển công nghiệp quốc gia Các KCN có quy mô hợp lý tạo điều kiện phát triển công nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp
Quy hoạch KCN với cách thức tổ chức tốt chính là điều kiện để Bảo vệ môi
Trang 37lợi thế trong việc sử dụng nguồn lực, tiết kiệm tài nguyên đất đai, nguyên liệu khoáng sản, năng lượng, xử lý chất thải ).
Quy hoạch phát triển các KCN của từng địa phương phải phù hợp với quy hoạch tổng thể các KCN trên cả nước và quy hoạch phát triển công nghiệp, quy hoạch phát triển KT-XH vùng, miền, nhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương để từ đó
có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương trong việc đầu tư phát triển các KCN
Các KCN cần được quy hoạch xây dựng đồng bộ với các khu thương mại, đô thị, dịch vụ theo mô hình tổ hợp liên hoàn Trong đó, phát triển KCN là trọng tâm, còn cáckhu vệ tinh khác về thương mại, dịch vụ, đô thị mới là hết sức quan trọng, có vai trò tácnhân thúc đẩy và đảm bảo sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái của các KCN tại địa phương
Mỗi KCN đều có quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đồng bộ về giao thông, cấp thoát nước… đặc biệt là các công trình bảo vệ môi trường và phân khu chức năng hợp lý, lựa chọn cơ cấu đầu tư trong các KCN theo hướng khuyến khích phát triển, thu hút các dự
án đầu tư có công nghệ tiên tiến, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, phát sinh ít chất thải
Tuy nhiên, vấn đề quy hoạch phát triển các KCN hiện tại không tuân theo một quy hoạch thống nhất, một số nơi thiếu cơ sở khoa học (Khung 1.2) Hầu hết các địa phương đều có KCN riêng với các chức năng giống nhau, tạo ra sự cạnh tranh không cần thiết Nhiều KCN đã giảm mức đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN bao gồm cả
hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung Việc lựa chọn địa điểm cho KCN thường không tuân thủ theo những quy định liên quan Quá trình thiết kế và thực hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp có nhiều đơn vị cùng tham gia, nhưng còn thiếu
sự điều phối chung và chịu trách nhiệm đến cuối cùng
Khung 1.2 Một số điển hình của quy hoạch khu công nghiệp thiếu cơ sở khoa học
Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những dẫn chứng của việc quy hoạch KCN theo kiểu phân tán, tạo thành vành đai công nghiệp bao vây tứ phía của thành phố Hậu quả là khó giải quyết các vấn đề môi trường trong tương lai, hiệu quả kinh tế của các KCN lại không cao
Trang 38Việc xây dựng quy hoạch KCN trên LVS Thị Vải đã không được thực hiện một cách khoa học, thiếu quan tâm đến vấn đề môi trường cho toàn lưu vực một cách tổng thể, là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gây ô nhiễm nghiêm trọng cho sông Thị Vải.
Nguồn: Hội nghị quốc tế Môi trường ở Việt Nam và các biện pháp xử lý, Hà Nội,
26/10/2004
1.3.4 Áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong BVMT KCN
Tại các KCN đã triển khai xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung tuy nhiên tỷ lệ còn thấp và hiệu quả chưa cao
Theo quy định, Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN có trách nhiệm xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung Thực tế hiện nay, công tác này chưa được thực hiện nghiêm túc tại nhiều KCN Có tới 57% KCN đang hoạt động chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung (năm 2009) Trong 3 năm gần đây, mặc dù số KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung có tăng lên, nhưngxét trên tổng số KCN, tỷ lệ KCN có hệ thống này tăng lên không đáng kể Một số KCN
đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng lại hoạt động không hiệu quả, hoặc hoạt động mang tính đối phó Theo đánh giá sơ bộ thì chỉ 50% các hệ thống xử lý nước thải tập trung hiện tại là đạt tiêu chuẩn Nhiều KCN hiện còn tìm cách kéo dài hoặc trì hoãnviệc đầu tư cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường nói chung và hệ thống xử lý nước thải tập trung nói riêng (KCN Sài Đồng B, KCN Yên Phong 1, KCN Châu Sơn )
Tại các KCN đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung cũng xuất hiện nhiều vấn đề dẫn đến việc vận hành hệ thống này không hiệu quả Một số nơi, hệ thống không đáp ứng được tổng lượng nước thải mà các doanh nghiệp trong KCN thải ra, do thiết kế công suất không tương xứng hoặc do lượng xả thải của các doanh nghiệp vượt mức cam kết Theo quy định, nước thải của các doanh nghiệp trong KCN đều phải xử
lý sơ bộ đạt yêu cầu trước khi đổ vào hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng nhiều doanh nghiệp không tuân thủ việc xử lý nước thải cục bộ, gây khó khăn cho hệ thống
xử lý nước thải tập trung Một số KCN lại không có đủ nước thải để hệ thống hoạt động
do nhiều doanh nghiệp trong KCN vẫn không chịu đấu nối nước thải vào hệ thống Điển hình là KCN Phố Nối B (Hải Dương), chỉ có lượng nước thải khoảng 500
m3/ngày, trong khi công suất xử lý của hệ thống là 10.800 m3/ngày; KCN Việt Hương
Trang 39II, Bình Dương với tỷ lệ tương ứng là 300/2000; KCN Nomura, Hải Phòng với tỷ lệ tương ứng là 300/2500.
Việc áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện môi trường tại các doanh nghiệp trong KCN còn chưa được chú trọng
Ngày 06/5/2002 Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất sạch hơn (Giai đoạn 1: Triển khai sản xuất sạch hơn trong các cơ sở công nghiệp) ban hành kèm theo Quyết định số 1146/BKHCNMT-MTg của Bộ trưởng Bộ KHCN&MT) Áp dụng sản xuất sạch hơn trong các cơ sở sản xuất công nghiệp ở nước
ta là giải pháp hiệu quả về kinh tế và BVMT Đến nay đã có hàng trăm cơ sở công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn
Các cơ sở áp dụng sản xuất sạch hơn, tùy loại hình sản xuất, tình trạng thiết bị, quản lý đã giảm tiêu thụ nguyên liệu 5-15%, giảm tiêu thụ nước 5-35%, giảm tiêu thụ năng lượng 10-35%, giảm lượng nước thải 5-40%, giảm lượng khí thải 10-30% Nếu tiếp tục cải tiến phương thức quản lý và thay đổi cách sử dụng hợp lý trang thiết bị trong sản xuất, sinh hoạt thì các cơ sở sản xuất ở Việt Nam còn có thể tiết kiệm thêm 5-15% năng lượng tiêu thụ
Ngày 07/9/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 1419/QTTg phê duyệt “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020” với mục tiêu sản xuất sạch hơn được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở sản xuất công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên nhiênvật liệu; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người và bảo đảm phát triển bền vững
Khung 1.3 Mục tiêu cụ thể của “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020” theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 07/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ
Giai đoạn từ nay đến năm 2015
- 50% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng sản xuất sạch hơntrong công nghiệp;
- 25% cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn; các cơ sở sản xuất công nghiệp
áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được từ 5 – 8% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm;
Trang 40- 70% các Sở Công thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp.
Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020
- 90% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng sản xuất sạch hơntrong công nghiệp;
- 50% cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn; các cơ sở sản xuất công nghiệp
áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được từ 8 – 13% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm; 90% doanh nghiệp vừa và lớn có bộ phận chuyêntrách về sản xuất sạch hơn;
- 90% các Sở Công thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp
Trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, việc đầu tư đổi mới công nghệ tiêntiến đối với các cơ sở công nghiệp cũng là một đòi hỏi cấp thiết Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 119/1999/NĐ-
CP ngày 18/9/1999 về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ
Hiện nay, cùng với việc một số công nghệ thân thiện với môi trường đã được đầu
tư, ứng dụng vào nhiều KCN, vẫn còn hiện tượng nhiều KCN và doanh nghiệp chưa quantâm đúng mức đến việc đầu tư này, không ít doanh nghiệp trong KCN còn sử dụng các công nghệ lạc hậu trong sản xuất, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao
Chưa triển khai mô hình KCNST
Nhận thấy những tác động đến tự nhiên và môi trường trong quá trình phát triển KCN, từ đầu những năm 1990, trên thế giới đã xuất hiện và phổ biến khái niệm mô hình KCNST Mô hình này đã trở thành một hướng đi mới của các nước trên thế giới,
có tính khả thi cao nhằm thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
Ở nước ta, KCNST là vấn đề khá mới, tuy nhiên KCN thân thiện môi trường, như một tiếp cận ban đầu với mô hình KCNST, đã được nghiên cứu đề xuất thông qua một số dự án Cho đến tháng 10 năm 2009 đã có một KCNST đầu tiên được khởi công xây dựng ở Việt Nam (Khung 1.4)