ÔN THI MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬTCâu 1: Anh chị hãy phân tích bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam được tổ chức trên cơ sở nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợ
Trang 1ÔN THI MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Câu 1: Anh (chị) hãy phân tích bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam được tổ chức trên cơ sở nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
Nhà nước ta có cơ cấu tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc: “ Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp” Đây cũng chính là nguyên tắc mang tính đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (tên nước khi mới thành lập của Việt Nam) tại Điều 1 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ Cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của tòan dân Việt nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” đến Hiến pháp hiện nay của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992, tại Điều 2 xác định:
“Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”
Như vậy, ngay từ Hiến pháp đầu tiên khi nhà nước mới khai sinh đến hiện nay Nhà nước ta đều khẳng định là quyền lực nhà nước là của quảng đại quần chúng nhân dân, vì nhân dân phục vụ Chính vì vậy quyền lực nhà nước là thống nhất, Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc Hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân (Điều 6 Hiến pháp 1992)
Vì vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia Nhấn mạnh tính thống nhất của quyền lực nhà nước là để khẳng định trong nhà nước ta không có
sự phân chia quyền lực nhà nước và cũng là để phủ nhận, đối lập với nguyên tắc phân quyền trong các nhà nước tư sản Thống nhất quyền lực nhà nước được hiểu
là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tập trung thống nhất ở nhân dân chứ không phải thuộc về Quốc hội Quan niệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Trước hết, điều đó chỉ ra rằng, quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta đã đề ra
Quy định của Hiến pháp và các Luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước cao nhất ở nước ta, đều nhận thấy sự phân công, phân nhiệm về quyền hạn, nhiệm vụ chức năng giữa 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được xác định Quốc hội thực hiện quyền lập hiến và lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Toà án, Viện Kiểm sát thực hiện quyền tư pháp Sự phân công
Trang 2quyền lực nhà nước giữa các cơ quan tối cao của Nhà nước trong các điều kiện hiện nay ở nước ta không mang tính tuyệt đối mà luôn có sự phối hợp để thực hiện quyền lực nhà nước một cách hiệu quả Bởi lẽ Quốc hội ngay bên cạnh hoạt động lập pháp còn thực hiện một số nhiệm vụ hành pháp (thông qua giám sát, chất vấn việc chấp hành của các cơ quan hành pháp, tư pháp Xem xét, biểu quyết các dự án lớn mang tính Quốc gia do Chính Phủ đưa ra tại các kỳ họp ), Chính phủ bên cạnh hoạt động hành pháp còn tham gia tích cực vào nhiệm vụ lập pháp của Quốc hội (xây dựng các dự án Luật) …Các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát ngoài việc thực hiện chức năng tư pháp còn tham gia phối hợp cơ quan hành pháp để giải quyết những vấn đề mang tính xã hội Tham gia xây dựng các dự án luật có liên quan đến tư pháp trình Quốc hội xem xét, thông qua
Thực tế hiện nay trong tổ chức và họat động của bố máy nhà nước ta còn bộ
lộ nhiều khuyết điểm và yếu kém như: tổ chức bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, chống chéo về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; tiêu chuẩn cán
bộ, công chức chưa được xác định rõ ràng, vì vậy còn những cán bộ làm việc trong
bộ máy nhà nước chưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao; hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, thiếu hòan chỉnh; tình trạng quan liêu, cửa quyền, xa rời quần chúng vẫn còn, án oan vẫn còn xảy ra trong họat động xét xử của các cơ quan tư pháp Từ những việc đó làm cho hiệu lực của quản lý nhà nước thấp, đồng thời dẫn đến một vài nơi làm mất lòng tin của nhân dân vào các cơ quan mà nhân dân
đã trao quyền quản lý và điều hành đất nước
Vấn đề xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước là một yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay Như vậy, từ những thực tiển họat động của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước cần có những phương hướng, giải pháp đổi mới để ngày càng hoàn thiện, phát huy hiệu lực, hiệu quả và phát huy bản chất của một nhà nước của dân, do dân và vì dân
Quốc hội thực hiện chức năng lập pháp, có nghĩa là Quốc hội phải thực hiện
và quán xuyến toàn bộ các giai đoạn của quá trình xây dựng pháp luật Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng pháp luật mà nội dung trung tâm là hoạt động làm luật của Quốc hội Quyền lực của Quốc hội được kết tinh trong các quy định của Luật Do vậy sẽ không cường điệu nếu có thể nói rằng, quyền lực thực tế của Quốc hội được xác định (được đo bằng hiệu lực thực tế của các Đạo luật) trong thực tiễn: nếu các Đạo luật sản phẩm chủ yếu của hoạt động Quốc hội có hiệu lực mạnh mẽ thật sự điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách sát thực và trực tiếp thì rõ ràng Quốc hội hoạt động thật sự có hiệu quả, và quyền lực của Quốc hội là quyền lực thực tế Ngược lại, nếu các Đạo luật được ban hành không đi vào đời sống bởi các quy phạm chung chung, thiếu cụ thể, hoặc
bị vô hiệu hoá bởi vô vàn các văn bản dưới luật khác thì rõ ràng hoạt động làm luật của Quốc hội không hiệu quả và vai trò của Quốc hội đương nhiên là mờ nhạt Như vậy sự củng cố vai trò, vị trí của Quốc hội trong bộ máy nhà nước hiện nay không phải là ở chỗ tăng thêm quyền cho Quốc hội trong các quy định Hiến pháp
mà là ở chỗ tăng cường năng lực làm luật của Quốc hội và của bản thân từng đại biểu Quốc hội
Muốn vậy, phương hướng đổi mới tố chức, họat động của Quốc hội cần thực hiện các giải pháp sau đây:
Trang 3Một là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện các chức
năng của Quốc hội;
Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực, bản lĩnh và nghiệp
vụ họat động đại biểu của đại biểu Quốc hội;
Ba là, tiếp tục kiện tòan các cơ quan của Quốc hội;
Bốn là, tăng cường mối quan hệ giữa Quốc hội với nhân dân;
Năm là, bảo đảm các điều kiện thuận lợp cho họat động của Quốc hội.
Trong một cơ chế kinh tế-xã hội mới, vai trò của Chính phủ với tính cách là
cơ quan đứng đầu nền hành chính quốc gia ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng Một nền hành chính mạnh mẽ phải được bắt đầu từ một Chính phủ mạnh Do vậy,
tổ chức và hoạt động của Chính phủ cần được quy định cụ thể hơn phù hợp với tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII (khoá 7) của Đảng Trước hết cần xác định lại vai trò của Chính phủ trong một cơ cấu kinh tế - xã hội mới, khi mà nền kinh tế tập trung - kế hoạch hoá đã được thay thế bởi một nền kinh tế thị trường và nhiều thành phần Nhiệm vụ quản lý vĩ mô của Chính phủ đối với đời sống kinh tế đã đặt Chính phủ trước thuận lợi và thử thách mới Do vậy nội dung quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế được xác định cụ thể để một mặt Chính phủ không sa vào cách thức quản lý trước đây đối với kinh tế, mặt khác không buông lỏng dẫn đến tình trạng không kiểm soát được các quá trình kinh tế - xã hội Để thực hiện có hiệu quả vai trò mới của mình trong cơ chế kinh tế - xã hội, Chính phủ cần thiết phải được đổi mới từ cơ cấu tổ chức bộ máy, các mối liên hệ với các thiết chế quyền lực khác nhau với Quốc hội, Chủ Tịch nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật đến quy chế lề lối và các phương pháp làm việc Để một Chính phủ mạnh, hiệu quả là một Chính phủ có khả năng phản ứng kịp thời trước mọi yêu cầu của quá trình quản lý
Muốn vậy, phương hướng đổi mới tố chức , họat động của Chính phủ cần thực hiện các giải pháp sau đây:
Một là, tiếp tục cải cách thể chế của nền hành chính;
Hai là, cải cách tổ chức họat động của bộ mày hành chính nhà nước từ trung
ương đến chính quyền địa phương;
Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức;
Bốn là, tiếp tục đổi mới chế độ tài chính công và tài sản công.
Việc thực thi quyền tư pháp là thẩm quyền và nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan tư pháp Đất nước đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới đang đòi hỏi các cơ quan thực hiện quyền tư pháp phải được đổi mới toàn diện Vị trí vai trò của từng cơ quan bảo vệ pháp luật trong cơ chế mới cần được xác định rõ ràng kể
cả trên phương diện luật pháp lẫn các mối liên hệ trên thực tế Có thể nói rằng tổ chức và hoạt động hiện nay của các Toà án nhân dân vẫn chưa phù hợp và chưa đáp ứng được các yêu cầu của công cuộc đổi mới Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã và đang phát sinh nhiều quan hệ xã hội phức tạp đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật Các tranh chấp phát sinh từ những quan hệ này ngày càng đa dạng và phức tạp đòi hỏi được giải quyết thông qua các thủ tục tư pháp, thực hiện qua các tố tụng dân chủ Sự ổn định chính trị đòi hỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật cương quyết xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần tạo ra một trật tự pháp luật, hình thành một môi trường sống của kỷ cương, lành
Trang 4mạnh và an toàn đối với mỗi một người dân và với đời sống của toàn thể cộng đồng Trước nhu cầu như vậy việc thiết kế một mô hình Toà án nhân dân cần đảm bảo các yêu cầu: Thuận tiện cho nhân dân; Tiết kiệm cho Nhà nước; Đảm bảo tính độc lập xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân
Quyền độc lập xét xử của các Hội đồng xét xử đòi hỏi khắc phục lối quản lý hành chính hiện đang tồn tại trong tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án hiện hành Theo đó, các Toà án đều được xác định cụ thể về thẩm quyền xét xử và mối quan hệ giữa các Toà án nhân dân các cấp là các mối quan hệ tổ tụng chứ không thể là các quan hệ hành chính Có nghĩa là Toà án cấp trên không thể là cơ quan cấp trên về mặt hành chính đối với Toà án cấp dưới Đối với mỗi Hội đồng xét xử, đối với mỗi cấp Toà án, sự phục tùng không phải đối với Toà án cấp trên mà chỉ
có thể là sự phục tùng duy nhất đối với pháp luật Thực hiện chế độ hai cấp xét xử, việc phân định thẩm quyền xét xử giữa các cấp Toà án theo cơ chế cũ đang cản trở công tác xét xử trên thực tế Vì vậy công cuộc cải cách tư pháp đòi hỏi phải quy định lại thẩm quyền xét xử theo xu hướng mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm các
vụ án dân sự, hình sự cho Toà án nhân dân cấp Huyện, Quận
Muốn vậy, phương hướng đổi mới tố chức , họat động của Tư pháp cần thực hiện các giải pháp sau đây:
Một là, tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hòan thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở
pháp lý vững chắc cho họat động tư pháp;
Hai là, đổi mới tổ chức họat động của các cơ quan tư pháp;
Ba là, chấn chỉnh các tổ chức và các hoạt động bổ trợ tư pháp
Bốn là, đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng về số
lượng và chất lượng theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Tóm lại, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, đã được thực tiễn kiểm nghiệm đúng đắn Tuy nhiên, vấn đề xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi có những giải pháp đổi mới thiết thực để ngày càng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn phân công khác nhau nhưng phải luôn phối hợp vì đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta đã
đề ra./
Trang 5Câu 2: Các hình thức thực hiện pháp luật? Lý giải hình thức áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật mang tính đặc thù?
Các Quy phạm pháp luật được thể hiện trong hệ thống pháp luật với số lượng rất lớn và nội dung rất phong phú, đa dạng nên hình thức thực hiện pháp luật cũng rất khác nhau Căn cứ tính chất của họat động thực hiện pháp luật, khoa học pháp
lý phân chia pháp luật bằng bốn hình thức, trong đó hình thức áp dụng pháp luật là hình thức mang tính đặc thù của thức hiện pháp luật
Trước hết chúng ta cần nhận biết thực hiện pháp luật là gì?
Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội - pháp lý trong quá trình nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN;
ỏ Việt Nam vấn đề này cũng được quy định tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992 Như vậy, có thể quan niệm thực hiện pháp luật là quá trình họat động có mục đích của con người nhằm làm cho các quy định của Hiến pháp và pháp luật trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, tạo ra cơ sở pháp lý cho họat động thực tế của các chủ thể pháp luật
Như vậy, căn cứ tính chất và và họat động thực hiện pháp luật, khoa học pháp
lý phân chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức sau: Tuân thủ pháp luật; chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật
Tuân thủ pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế mình để không tiến hành những họat động mà pháp luật cấm
Những quy phạp pháp luật cấm đóan được thực hiện ở hình thức này
Ví dụ: Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định hành vi bị nghiêm cấm
là “Đào, khoan, xẻ đường trái phép; ” (khoản 2 Điều 8) Nếu chủ thể pháp luật không tự kiềm chế mình mà thực hiện hành vi trên thì tùy theo hậu quả gây ra sẽ
bị chế tài hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
Chấp hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình với hành động tích cực
Những quy phạm pháp luật bắt buộc (những quy phạm quy định nghĩa vụ phải thực hiện bằng những hành vi tích cực nhất định) được thực hiện ở hình thức này
Ví dụ: Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông “Người điều khiển phương tiện khác khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm chở người bị nạn đi cấp cứu ” (khoản 3 Điều 38) Nếu chủ thể pháp luật không nghĩa vụ pháp lý trên thì tùy theo hậu quả gây ra sẽ bị chế tài hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự
Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình
Những quy phạm pháp luật quy định về các quyền và tự do pháp lý của chủ thể được thực hiện ở hình thức này Song nếu chủ thể không sử dụng quyền của mình thì pháp luật cũng không bắt buộc
Ví dụ: Giám đốc CTy A ra quyết định buộc thôi việc đối với chị Nguyễn thị
B do vi phạm kỷ luật lao động, nghỉ quá số ngày quy định Chị Nguyễn Thị B căn
Trang 6cứ vào Bộ Luật Lao động làm đơn khiếu nại với với lý do: Chị đang nuôi con dưới
12 tháng tuổi nên Quyết định buộc thôi việc đối với chị là trái quy định Đây chính
là chị B đã sử dụng quyền năng pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, theo khỏan 3 Điều 111 Bộ Luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) quy định: “Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động”
Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật cụ thể
Hình thức này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật luôn có sự can thiệp của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền Trong một số trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, các tổ chức chính trị - xã hội cũng được thực hiện hoạt động này
Ví dụ: Cơ quan Thanh tra GTVT Tây Ninh phối hợp với CSGT Tỉnh kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh lắp đặt các chốt đèn tín hiệu và bố trí gờ giảm tốc trên một số tuyến đường nội thị nhằm góp phần kéo giảm TNGT ở địa phương Thanh tra viên Giao thông đường bộ A ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Giao thông đường bộ đối với ông Nguyễn Văn B Cảnh sát Giao thông tỉnh phối hợp cùng Đoàn viên thanh niên điều hào giao thông tại các chốt đèn trong những giờ cao điểm
Như vậy, giữa các hình thức thực hiện pháp luật có những điểm giống nhau
và khác nhau như sau:
Về chủ thể: Tuân thủ pháp luật, Chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật có chủ thể là cơ quan, tổ chức và cá nhân đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Còn
áp dụng pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền
Về nội dung: Tuân thủ pháp luật buộc chủ thể không hành động những gì pháp luật cấm, Chấp hành pháp luật buộc chủ thể phải có hành động tích cực mang tính nghĩa vụ, sử dụng pháp luật thì chủ thể có thể hành động hoặc không hành động (không bắt buộc) khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, áp dụng pháp luật chủ thể là cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhà nước giao mà tiến hành các họat động
Đối với áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước vì pháp luật là do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nên có sức mạnh bắt buộc đối với mọi chủ thể liên quan Quá trình áp dụng pháp luật là sử dụng quyền lực Nhà nước, nhân danh Nhà nước giải quyết các vụ việc trên thực tế, thực chất
là quá trình đảm bảo cho quyền lực Nhà nước có hiệu lực trên thực tế Pháp luật cũng quy định rõ thẩm quyền, điều kiện áp dụng luật trong từng lĩnh vực để tránh
sự tùy tiện, vượt rào pháp luật trên thực tế Áp dụng pháp luật còn thể hiện ý chí Nhà nước, quá trình này có thể mang tính đơn phương ý chí Nhà nước hoặc cũng
có thể Nhà nước thừa nhận ý chí của các chủ thể có liên quan quan hệ pháp luật
Trang 7Như vậy, trong các hình thức thực hiện pháp luật thì áp dụng pháp luật là hình thức đặc thù, là hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong họat động thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của nhà nước
Áp dụng pháp luật thường được thực hiện trong các trường hợp, đó là:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong trường hợp cần sử dụng các biện pháp
cưỡng chế bằng các chế tài thích hợp đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
Ví dụ: Tòa án áp dụng pháp luật để ra một bản án đối với người có hành vi phạm tội, xử phạt hành chính, cưỡng chế nhà nước đối với các quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, áp dụng pháp luật khi các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cụ thể
không tự phát sinh nếu không có sự tác động của nhà nước Trong nhiều trường hợp các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân quy định trong Hiến pháp và các đạo luật phải thông qua các quyết định cụ thể của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể đối với các cá nhân cụ thể
Thứ ba, áp dụng pháp luật khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp
lý giữa các bên tham gia các quan hệ pháp luật mà họ không tự giải quyết được Ví dụ: tranh chấp giữa đôi bên trong hợp đồng lao động, thương mại, hợp đồng dân
sự
Thứ tư, áp dụng pháp luật trong trường hợp Nhà nước thấy cần thiết phải
tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế
Đó là các họat động chứng nhận, chứng thực, công chứng
Áp dụng pháp luật có một số đặc điểm đặc thù sau đây:
Một là, áp dụng pháp luật về nguyên tắc chỉ do những cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiến hành Trong một số trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, các tổ chức chính trị - xã hội cũng được thực hiện hoạt động này
Hai là, áp dụng pháp luật là một dạng họat động mang tính quyền lực nhà
nước Trong nhiều trường hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành áp dụng pháp luật theo ý chí đơn phương không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng Sự áp dụng này có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước
Ba là, áp dụng là họat động phải tiến hành theo các thủ tục chặt chẽ do pháp
luật quy định Ví dụ: Việc áp dụng luật hình sự để giải quyết một vụ án hình sự phải tuân thủ luật Tố tụng hình sự với những quy định rất chạt chẽ, đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các bên có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó
Bốn là, áp dụng pháp luật là họat động mang tính sáng tạo Bời vì áp dụng
pháp luật là quá trình vận dụng cái chung để giái quyết các vụ việc cụ thể Điều đó đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải vận dụng cái chung phù hợp với cái riêng rất phong phú, đa dạng và phức tạp Để làm được điều đó người áp dụng pháp luật không thể máy móc, rập khuôn mà đòi hỏi phải có ý thức pháp luật cao, có kiến thức tổng hợp, kinh ngiệm cuộc sống phong phú
Áp dụng pháp luật có kết quả chủ yếu được thực hiện bằng các văn bản áp dụng pháp luật theo một nội dung, thể thức và trình tự nghiêm ngặt
Trang 8Từ tính đặc thù của áp dụng pháp luật và chủ thể tiến hành cho nên phải trải qua một quá trình phức tạp, áp dụng pháp luật được chia ra các giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Phân tích những tình tiết thực tế khách quan của vụ việc và đặc trưng pháp lý của nó Đây là giai đọan đầu của quá trình áp dụng pháp luật, yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải nghiên cứu khách quan, tòan diện
và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ việc; xác định đặc trưng pháp lý của vụ việc; xác định chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật đối với trường hợp đó; tuân thủ tất cả các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc
Giai đọan 2: Lựa chọn pháp luật tương ứng để giải quyết vụ việc Giai đọan này yêu cầu phải lựa chọn đúng đắn quy phạm pháp luật đưa ra áp dụng; xác định quy phạm được lựa chọn là đang có hiệu lực và không mâu thuẫn với các đạo luật
và văn bản quy phạm pháp luật khác; xác định hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật đưa ra áp dụng
Giai đọan 3: Làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luật đưa
ra sử dụng Đây là giai đọan nhằm nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật đưa ra áp dụng thông qua trình độ của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật
Giai đọan 4: Ra văn bản áp dụng pháp luật Đây là giai đọan thể hiện kết quả của ba giai đọan trên Giai đọan này cơ quan có thẩm quyền ra văn bản quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm
Giai đọan 5: Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật Đây là giai đọan cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật Trong giai đọan này, cần phải tiến hành các họat động bảo đảm cho việc thực hiện đúng đắn, đầy đủ văn bản áp dụng pháp luật đồng thời, cần tiến hành kiểm tra, giám sát việc thi hành văn bản áp dụng pháp luật, nhằm bảo đảm để quyết định trở thành hiện thực trong đời sống
Ngoài các giai đọan kể trên, trong quá trình tổ chức áp dụng pháp luật nếu có phát sinh khiếu nại, tố cáo thì cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền cần tiến hành các bước giải quyết theo luật khiếu nại, tố cáo
Tóm lại, thực hiện pháp luật là quá trình họat động có mục đích của con người nhằm làm cho các quy định của Hiến pháp và pháp luật trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, tạo ra cơ sở pháp lý cho họat động thực tế của các chủ thể pháp luật Thực hiện pháp luật thể hiện qua các hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật Trong đó áp dụng pháp luật là hình thức quan trọng mang tính đặc thù do cơ quan, cá nhân được nhà nước giao quyền, nhân danh nhà nước tiến hành qua các bước, các trình tự theo thủ tục luật định nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý của các quy định pháp luật thực tiễn đi vào cuộc sống của các cơ quan, tổ chức và cộng đồng nhân dân trong phạm vi cả nước./
Trang 9Câu 3: Hãy làm rõ việc phát huy dân chủ và đảm bảo quyền dân chủ là một trong những phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay?
Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN là quá trình đúc kết, kế thừa, vận dụng tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật kiểu mới và thực tiễn xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta, nhất
là trong những năm đổi mới vừa qua Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm tổ chức họat động của nhà nước tuân theo quy định của pháp luật, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm chủ quyền và quyền tự do, dân chủ của nhân dân Phát huy quyền dân chủ và đảm bảo quyền dân chủ là một trong những phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Phải mở rộng và phát huy dân chủ bởi đó là động lực tạo nên sức mạnh của dân tộc ta Thực tế đã khẳng định rằng, ở nơi nào thực hiện được dân chủ, phát huy được trí tuệ của đông đảo cán bộ và nhân dân thì ở nơi ấy kinh tế, xã hội phát triển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Ngược lại, nơi nào mất dân chủ thì mâu thuẫn nội bộ phức tạp và nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra (như
sự kiện nông dân Thái Bình diễn ra vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX)
Mặt khác, cần phát huy dân chủ ngày càng rộng rãi, bởi trong xã hội vẫn còn biểu hiện mất dân chủ, có nơi, dân chủ bị vi phạm khá trầm trọng Tình trạng này làm cho một bộ phận nhân dân, kể cả một số cán bộ, đảng viên giảm sút niềm tin vào Đảng, vào bản chất của Nhà nước cách mạng Đây cũng là những khe hở để các thế lực thù địch lợi dụng trong chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm phủ định bản chất dân chủ của xã hội ta của Nhà nước ta
Tuy nhiên, “bài toán dân chủ” vẫn đặt ra nhiều vấn đề nóng bỏng, yêu cầu Đảng, Nhà nước phải giải quyết nhằm giữ vững và tăng cường bản chất dân chủ của Nhà nước cách mạng Nhìn tổng thể, trình độ dân chủ của chúng ta còn thấp Thực tế này xuất phát từ 2 phía: nhà nước và người dân Về phía Nhà nước, thể chế luật pháp để bảo đảm dân chủ được thực thi chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ; tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu quả, một bộ phận đội ngũ cán
bộ, công chức sa sút về phẩm chất, yếu kém về năng lực Chính vì vậy, vẫn diễn ra tình trạng mất dân chủ, vi phạm dân chủ trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước Về phía người dân, một bộ phận đáng kể có trình độ dân trí thấp, ít hiểu biết
về pháp luật nên việc sử dụng quyền dân chủ chưa đúng đắn Một bộ phận lại lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi ích riêng Thực tế này tồn tại trên nền tảng một nền kinh tế đang ở tình trạng kém phát triển, những hậu quả từ các nhân tố truyền thống (thói gia trưởng “phép vua thua lệ làng”…) cùng sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch càng làm cho việc thực thi dân chủ thêm khó khăn
Để thực hiện dân chủ phải có những công cụ hữu hiệu, cần thiết Công cụ quan trọng hàng đầu là xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân Nhà nước ấy không chỉ đại diện cho lợi ích, ý chí của nhân dân mà còn có khả năng thực hiện tốt chức năng quản lý xã
Trang 10hội Nhà nước ấy, đội ngũ công chức chuyên nghiệp không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch
Mở rộng dân chủ phải đồng thời với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế của Nhà nước
Chúng ta kiên quyết đấu tranh với các luận điệu về dân chủ của các thế lực phản động bên ngoài cũng như của các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn ở trong nước, yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải thực thi dân chủ phổ quát – dân chủ phương Tây; thực hiện một “lộ trình dân chủ”, đầu tiên là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên, đa đảng; thực thi tự do báo chí, tự do ngôn luận kiểu phương Tây…
Trước hết chúng ta cần hiểu rõ nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; đảm bảo tính tối cáo của Hiến pháp, quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, do Đảng tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và sự giám sát của nhân dân
Từ đặc trưng có tính quan trọng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
đó là “nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” nên việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phương hướng căn bản, đồng thời là mục tiêu bao trùm trong họat động xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay
Thực hiện dân chủ, tôn trọng và đảm bảo trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân là vấn đề có ý nghĩa sống còn không chỉ đối với nhà nước mà chúng ta đang xây dựng để trở thành Nhà nước pháp quyền, đối với việc tăng cườong uy tín và
mở rộng ảnh hưởng của Đảng Cộng sản cầm quyền trong xã hội mà là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới, của cách mạng XHCN và xây dựng CNXH ở Việt Nam Mặt khác, phát huy dân chủ và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân còn thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta, là thước đo, là tiêu chí đánh giá tính chất của dân, do dân, vì dân trên tổ chức họat động của nhà nước ta trên thực tế
Đảng ta xác định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước bảo đảm việc thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thuộc về nhân dân Nhân dân là chủ thể nhà nước; nhà nước là công
cụ thông qua hệ thống tổ chức, bộ máy luật pháp thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Nhân dân ủy quyền cho các bộ máy, công chức nhà nước thực thi quyền làm chủ, bảo vệ lợi ích của mình Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dựa trên khối liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhà nước xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên mục đích chung của các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo…vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Nhà nước ta được tổ chức và quản lý bằng pháp luật Mọi hoạt động của nhà nước phải tuân thủ theo pháp luật như Bác Hồ từng chỉ rõ “trăm điều phải lấy thần linh pháp quyền” Nhà nước ta không phải chỉ gắn với nhân dân mà mọi chính