1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ÔN THI MON CHU NGHIA XA HOI KHOA HOC

31 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 274 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuynhiên, bản chất của chế độ tư bản là người bóc lột người thông qua giá trị thặng dư, tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp chỉ đại diện cho số ít người trong xã hội đó là giai cấp tư s

Trang 1

ÔN THI MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

1 Chứng minh rằng xã hội xã hội chủ nghĩa là một chế độ xã hội ưu việt hơn tư bản chủ nghĩa?

Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin phát hiện ra quy luật khách quan của quátrình biến chuyển cách mạng căn bản và khẳng định lịch sử xã hội loài người là lịch sử kếtiếp nhau của các hình thái kinh tế-xã hội phát triển từ thấp đến cao diễn ra như một quá trìnhlịch sử-tự nhiên Thực tế nhân loại đã có năm hình thái kinh tế-xã hội nối tiếp nhau, hình tháikinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa là chế độ xã hội phát triển cao nhất mà giai đoạn đầu củahình thái kinh tế-xã hội cộng sản là xã hội xã hội chủ nghĩa Từ đó chúng ta khẳng định rằng

xã hội xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản

Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế - xã hội phát triển cao của xã hội loài người,xuất hiện đầu tiên tại châu Âu, phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu

Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứXVIII Sau cách mạng Pháp, cuối thế kỷ XVIII, hình thái kinh tế-xã hội tư bản dần dần chiếm

ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái kinh tế-xã hội của chế độ phong kiến,quý tộc Và sau này hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới.Nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa đã tạo ra nhiều cơ sở vật chất ngày càng cao cho xã hội Tuynhiên, bản chất của chế độ tư bản là người bóc lột người thông qua giá trị thặng dư, tư hữu về

tư liệu sản xuất, giai cấp chỉ đại diện cho số ít người trong xã hội đó là giai cấp tư sản, hìnhthái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa phải bị biến đổi theo quá trình lịch sử-tự nhiên, biến đổitheo các quy luật của biện chứng duy vật, từ những điều kiện khách quan, thông qua nhữngmâu thuẫn căn bản không thể giái quyết được, đó là:

Một là, những lực lượng sản xuất, đặc biệt là nền công nghiệp hiện đại, dựa trên các

thành tựu khoa học-kỹ thuật đã phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, càng phát triển cao thìtrình độ xã hội hóa cũng càng cao Sự kiện đó tạo ra mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa lựclượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tưbản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu;

Hai là, trong chủ nghĩa tư bản có hai giai cấp cơ bản, tiêu biểu nhất, đối lập nhau về lợi

ích cơ bản đó là giai cấp công nhân đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa cao

và giai cấp tư sản thống trị xã hội, đại biểu cho quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa về

tư liệu sản xuất;

Trang 2

Ba là, cùng với những thành tựu to lớn của của chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản tạo ra

nhiều tai họa cho các giai cấp khác như: áp bức, bóc lột, bất công, gia tăng phân hóa giàunghèo, suy đồi đạo đức xã hội, tàn phá thiên nhiên …

Từ những điều kiện căn bản trên thì một chế độ, một hình thái kinh tế-xã hội mới ra đời

là tất yếu và mang tính quy luật, đó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng; quy luậthình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời, phát triển là kết quả họat động sáng tạocủa nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản - Đảng tiên phong của giai cấpcông nhân Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là chế độ xã hội phát triển cao nhất,

có quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, thích ứng với lực lượngsản xuất ngày càng phát triển, tạo thành cơ sở hạ tầng có trình độ cao hơn so với cơ sở hạtầng của chủ nghĩa tư bản, có kiến trúc thượng tầng tương ứng thực sự là của nhân dân vớitrình độ xã hội hóa ngày càng cao mà giai đoạn đầu (giai đoạn thấp) là xã hội xã hội chủnghĩa để tiến lên giai đọan sau (giai đọan cao) xã hội cộng sản chủ nghĩa Hai giai đoạn pháttriển của hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa trong một xã hội thống nhất, do đó cóđiểm giống nhau về bản chất, chỉ khác nhau về trình độ phát triển Từ giai đoạn thấp đến giaiđoạn cao chỉ là quá trình chín mùi dần của các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà đặc trưng thuộc về bản chất của chủ nghĩa cộng sản có tính

ưu việt hơn hẳn với chủ nghĩa tư bản Cụ thể các đặc trưng cơ bản:

Một là, đối với chính trị:

Đặc điểm đặc trưng nhất của chủ nghĩa tư bản là nhìn nhận quyền sở hữu tư nhân, tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nhà nước là của giai cấp tư sản chỉ đại diện cho số người thiểu số trong xã hội, thường là các tập đoàn tư bản lũng đoạn và nhà nước thống trị, ra sức áp bức, bóc lột gia trị thặng dư đối với đại đa số nhân dân lao động, tạo ra lợi nhuận càng cao cho giai cấp tư sản, thông qua việc phân phối theo tài sản hoặc vốn cổ phần đầu tư Chế độ chính trị của xã hội tư bản chủ nghĩa thường dựa trên chế độ đa đảng cạnh tranh và đa nguyên về chính trị

Khác với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội xác lập quyền làm chủ của nhân dân lao động và được thực hiện bằng nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước XHCN đại diện cho đa số nhân dân lao động, trấn áp thiểu số giai cấp bóc lột đã bị đánh bại về chính trị, nhằm bảo vệ mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, do đó, chức năng của

nó không chỉ là bạo lực-trấn áp và cũng không phải chủ yếu là bạo lực trấn áp Chức năng chủ yếu là tổ chức xây dựng thành công xã hội mới-xã hội không còn sự khác biệt

Trang 3

giai cấp và do đó nhà nước trở thành thừa Theo quan điểm của Lênin: “Chuyên chính

vô sản không chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải là chủ yếu là bạo lực Cơ sở kinh tế của bạo lực cách mạng đó, cái đảm bảo sức sống và thắng lợi của nó chính là việc giai cấp vô sản đưa ra và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản Đấy là thực chất của vấn đề Đấy là nguồn sức mạnh, là điều đảm bảo cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản” Đó là nhà nước

đặc biệt, nhà nước không còn nguyên nghĩa, nhà nước nửa nhà nước, nhà nước đang tự tiêu vong Cũng cần nói thêm rằng, quá trình tự tiêu vong chỉ diễn ra đối với nhà nước

xã hội chủ nghĩa và chỉ diễn ra trong quá trình nhà nước ấy ngày càng mạnh lên Sức mạnh của nhà nước XHCN thể hiện tập trung ở trình độ tổ chức và xây dựng ngày càng cao của nó Chế độ chính trị cũa chủ nghĩa xã hội thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, là lực lượng tiên phong của giai cấp công nhân, là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và người lao động có hệ tư tưởng đứng trên quan điểm lập trường của giai cấp công nhân.

Các tổ chức trong hệ thống chính trị ở Việt Nam đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Các quan điểm vànguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thốngchính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức Hệ thống chính trị ởnước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là đặc điểm khác biệt cănbản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thểhiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, có sự thống nhất lợi ích cơ bản giữa giai cấpcông nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Thực tế qua hơn hai mươi năm đổi mới đã minh chứng rất rõràng: Sự ổn định chính trị, phát triển nhanh kinh tế và năng lực điều hành đất nước của chúng

ta đang được rất nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đánh giá cao và coi là hình mẫu có thểtham khảo Thành công của Việt Nam, đặc biệt là vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc

tế phụ thuộc rất nhiều vào tính ổn định chính trị - xã hội, đường lối, chính sách đối nội, đốingoại cởi mở thân thiện Những yếu tố đó đã tạo ra sự thân thiện, cởi mở, hoà nhập của dân

cư trong các sinh hoạt trong nước, cũng như ở nước ngoài Những thành công của Việt Namkhông chỉ biểu hiện tính cách dân tộc, bản sắc văn hoá, hoặc khả năng động viên của chínhquyền mà chủ yếu là biểu hiện chất lượng các chính sách đối nội, đối ngoại Các chính sách

đó đã tạo được sự đồng thuận và đoàn kết xã hội, góp phần tạo ra hình ảnh Việt Nam ngàynay: Một Việt Nam hoà bình, tươi đẹp, cởi mở, thân thiện, năng động, sáng tạo, đồng thuận,dân chủ, công bằng, phát triển mạnh mẽ và quyết tâm vươn lên không gì ngăn cản nổi

Trang 4

Hai là, đối với kinh tế:

Xã hội Tư bản chủ nghĩa, các cá nhân dùng sở hữu tư nhân để tự do kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do Mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua, bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế Các công ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Có thể nói các yếu tố quyền tư hữu, thành phần kinh tế tư nhân, kinh doanh

tự do, cạnh tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định hướng, tự tổ chức, thị trường lao động, định hướng thị trường, bất bình đẳng trong phân phối của cải là đặc trưng kinh

tế chủ yếu gắn liền với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Khác với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội phát triển nhanh lực lượng sản xuất

cả trong nông nghiệp, công nghiệp, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, qua đó xoá dần sự khác biệt giữa công nghiệp và nông nghiệp, khác biệt giữa thành thị và nông thôn, khác biệt của

giai cấp công nhân và nông dân, giữa lao động trí thức và lao động chân tay Vì “xét đến

cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế

độ xã hội mới”, mà năng suất lao động là kết quả trực tiếp của sự phát triển lực lượng

sản xuất Vì thế Lênin đã chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa cộng sản = Chính quyền xô viết +

Điện khí hoá toàn quốc” Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, phải

từng bước cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới với chế độ công

hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu Cùng với quá trình thiết lập sở hữu công cộng các

tư liệu sản xuất chủ yếu là quá trình hình thành lao động tập thể trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện Và khi tư liệu sản xuất là của chung mà nguồn của cải vật chất do xã

hội tạo ra chưa thật sự dồi dào thì nguyên tắc phân phối tương ứng sẽ là “làm theo năng

lực, hưởng theo lao động” Nguyên tắc phân phối theo lao động tiến bộ hơn, bình đẳng

hơn ở chỗ, xoá bỏ chế độ bóc lột, tuy chưa bình đẳng hoàn toàn, vẫn theo quy luật trao đổi ngang giá, mang tính chất pháp quyền tư sản Bổ sung cho sự hạn chế ấy dưới chủ nghĩa xã hội, sẽ ngày càng mở rộng các hình thức phúc lợi xã hội, góp phần tăng thêm thu nhập và cân đối thu nhập hợp lý hơn, bình đẳng hơn.

Việt Nam chúng ta qua hơn 20 năm đổi mới, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân, chúng ta đã đạt dược những thành tựu to lớn, có ýnghĩa lịch sử Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh

tế, mà kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đang là chủ đạo và nền tảng cho nền kinh tế quốc

dân Đánh giá về thành tựu 20 năm đổi mới Đảng ta nhận định: “trước hết về mặt lý luận đi

Trang 5

lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư chủ nghĩa nhưng chỉ bỏ qua việc xác lập vai trò thống trị của giai cấp tư sản và kiến trúc thượng tầng của nó, nhưng phải kế thừa những thành tựu của nhân loại đặc biệt là khoa học công nghệ” Thắng lợi bước đầu của công cuộc

đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng, trước hết đã đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủnghoảng, tạo ra tiền đề vững chắc để nước ta bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá,đời sống nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt, hệ thống chính trị ổn định, quốc phòng, an

ninh vững chắc, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao

Ba là, về xã hội:

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa gồm nhiều giai cấp đối kháng với nhau, mà cơ bản

là giai cấp công nhân-giai cấp bị bóc lột sức lao động và giai cấp tư sản - gia cấp bóc lột thông qua các giá trị thặng dư trong sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn này càng về sau càng gay gắt Xã hội càng phát triển thì sự phân hóa giàu nghèo càng cách biệt giữa những cá nhân, gia đình, vùng, lĩnh vực và dân tộc tạo ra bất công và bất bình đẳng trong xã hội Lối sống thực dụng đã tạo ra nhiều tệ nạn xã hội, con người với con người cạnh tranh một cách gay gắt vì lợi nhuận kinh tế, xã hội luôn trong tình trạng mất ổn định do sự cạnh tranh giữa các đảng phái chính trị và giữa các tập đòan kinh tế tư bản chủ nghĩa với nhau.

Khác với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội đặc trưng xã hội ở giai đoạn đầu tuy còn các mối quan hệ xã hội gắn bó với quan hệ giai cấp và do đó, quá trình giải quyết các quan hệ xã hội đều chịu sự chi phối của đường lối chính trị của giai cấp công nhân Điển hình là những giải quyết quan hệ giai cấp và dân tộc, giải quyết quan hệ dân tộc và quốc tế, giải quyết quan hệ thành thị với nông thôn, giải quyết dung hòa những lợi ích

cơ bản giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, giữa lao động trí óc và lao động chân tay các quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ đạo đức, tín ngưỡng và tôn giáo Xã hội dưới chủ nghĩa xã hội nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc,

xã hội công bằng, bình đẳng, thống nhất ngày càng cao hơn Đánh giá về xã hội này,

Lênin viết: “Lần đầu tiên, dưới thời chuyên chính vô sản, người nông dân làm việc cho

mình Lần đầu tiên, người nông dân đã được hưởng tự do thật sự”.

Việt Nam, một nền dân chủ XHCN với Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

đã được thiết định trên những đường nét cơ bản Khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nền tảng

là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ngày càngđược củng cố, thực sự trở thành một động lực quan trọng hiện nay trong công cuộc đổi mớiđất nước Những chính sách xã hội như: Xoá đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình thương, nhà

Trang 6

khăn, vùng đồng bào dân tộc và miền núi (Chương trình 135 ) … của Việt Nam đã thể hiệntính ưu việt của một chế độ đối với dân tộc và toàn xã hội đang được nhiều nước trên thế giớixem như những mẫu hình cần tham khảo.

Bốn là, đặc trưng về văn hoá:

Xã hội tư bản chủ nghĩa cùng lối sống thực dụng, chạy theo lợi nhuận, cạnh tranh với ý nghĩa sống còn, tranh giành thị trường đã làm cho xã hội, dân tộc và con người không có sự gắn bó đoàn kết, mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp này và giai cấp khác không giải quyềt được Từ lối sống thực dụng đã làm cho nhiều thế hệ trẻ sa vào các con đường nghiện ngập, lối sống buông thả, trụy lạc đạo đức xã hội bị xói mòn.

Chủ nghĩa xã hội, nền văn hoá mới được xác lập trên cơ sở kế thừa tinh hoa của văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá của nhân loại Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn giữ vững vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội Vừa xây dựng nền văn hoá mới tiến

bộ, vừa đấu tranh với tàn dư lạc hậu của nền văn hoá cũ.

Ở Việt Nam, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng CSVN và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân Việt Nam, chúng ta đã đạt dược những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử khi xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy chủ nghĩa yêu nước tinh thần đại đoàn kết dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, xây dựng và bảo

vệ tổ quốc, tiếp thu văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào trong đời sống xã hội, từng con người, từng địa phương, tập thể cộng đồng tạo nên đời sống tinh thần cao đẹp trên đất nước Trình độ dân trí ngày càng cao, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sau 15 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, tại văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X (2006), Đảng ta đã bổ sung và phát triển những đặc trưng cơ bản của XH.XHCN ở

nước ta với 8 nội dung sau: XH.XHCN là xã hội “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ,

văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được thoát khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ cùng tiến bộ; có nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”

Trang 7

Từ những quan điểm của Đảng về những đặc trưng cơ bản của CNXH, đã xác định conđường đi lên CNXH ở Việt Nam chúng ta gồm:

Một là, về mục tiêu: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH “dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh” Cơ sở của mục tiêu ấy là lợi ích cơ bản của giai cấp công

nhân thống nhất với lợi ích của nhân dân và lợi ích của dân tộc

Hai là, về điểm xúât phát: con đường quá độ lên CNXH ở nước ta xuất phát từ một

nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật thủ công bỏ qua chế độTBCN Nội dung bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sảnxúât và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loạiđạt đựơc dưới chế độ TBCN, đặc biệt là về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lựclượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại

Ba là, về chủ thể: thể hiện rõ bản chất chính trị của con đường đi lên CNXH ở Việt nam

là do nhân dân lao động làm chủ; Nhà nước CHXHCN Việt nam được xây dựng theo phương

hướng “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam của dân, do dân và vì dân” là người tổ chức,

quản lý quá trình phát triển của đất nước theo định hướng XHCN; Đảng CSVN lấy chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là người lãnh đạo, nhân tố đảm bảocho đất nước giữ vững độc lập dân tộc và CNXH, đi tới xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủcông bằng, văn minh

Bốn là, về động lực chủ yếu con đường đi lên CNXH ở nước ta: xây dựng nền dân chủ

XHCN; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên nền tảngkhối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do ĐảngCSVN lãnh đạo là động lực chủ yếu của quá trình phát triển đất nước

Năm là, về kinh tế: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên cơ sở một lực lượng sản xuất

hiện đại và từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới dựa trên cơ sở công hữu những tư liệusản xuất chủ yếu theo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất

Sáu là, về văn hoá: kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc Nền văn hoá được xây dựng trên cơ sở kế thừa tinh hoa văn hoá dân tộc,tinh hoa văn hoá nhân loại; vận dụng và phát triển tư tưởng văn hoá trong chủ nghĩa M-LN,

tư tưởng HCM, trong đó chủ nghĩa M-LN, tư tưởng HCM có vai trò chủ đạo trong đời sốngvăn hoá tinh thần của XH.XHCN Đấu tranh chống các biểu hiện phản động, phi văn hoátrong các hoạt động văn hoá

Trang 8

Bảy là, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn liền với chủ động và tích cực hội nhập

kinh tế thế giới Phát huy vai trò quyết định của yếu tố nội lực với việc sử dụng ngày càng cóhiệu quả của yếu tố ngoại lực Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phù hợp điềukiện hiện nay

Tám là, đảm bảo vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, xây dựng CNXH đi đôi

bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN

Tóm lại, CNCS là hình thái kinh tế-xã hội phát triển cao nhất của xã hội loài người,khẳng định lịch sử xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế-xã hộiphát triển từ thấp đến cao diễn ra như một quá trình lịch sử-tự nhiên CNXH giai đoạn đầucủa CNCS mang đầy đủ bản chất của CNCS nên từ những đặc trưng đó đã thể hiện tính ưuviệt hơn CNTB

Việt Nam chúng ta do xuất phát từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến Nền kinh tếcòn nghèo nàn, lạc hậu, khoa học chưa phát triển nên chúng ta phải trãi qua giai đoạn quá

độ đi lên chủ nghĩa xã hội Trãi qua trên hai mươi năm đổi mới chúng ta cũng đã rút ra nhiềubài học kinh nghiệm thực tiễn trong đó có mặt tích cực và cả mặt hạn chế từ kinh tế thịtrường mang lại trên tất cả các mặt hoạt động Luôn đổi mới phát triển kinh tế cho phù hợpvới nền kinh tế phát triển thời kỳ hội nhập, nhưng không để chệch hướng XHCN, theo tôihiện nay là vấn đề cốt lõi, có tính quyết định sự sống còn của một chế độ XHCN tươi đẹptrong tương lai mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn

Ngày nay, lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, phức tạp Chủ nghĩa tưbản dựa vào ưu thế về kinh tế, khoa học – công nghệ và sức mạnh quân sự đang tìm mọi cáchphổ biến những giá trị của phương Tây, tuyên truyền quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng

đối lập hoặc “phi giai cấp”, ”phi ý thức hệ”,” phi chính trị”; làm lẫn lộn giữa đúng, sai, phải,

trái nhằm chống lại chủ nghĩa xã hội và những lực lượng hòa bình và tiến bộ trên thế giới,đặc biệt đối với các nước xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc đã thực hiện chiến lược diễnbiến hòa bình, tuyên truyền các lý thuyết tư sản, tìm mọi cách phủ nhận học thuyết Mác –Lênin, mặt khác, chúng đang tìm cách mua chuộc, làm thoái hóa về tư tưởng, đạo đức, lốisống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

Hơn bao giờ hết, hiện nay trước các thế lực thù địch đang ra sức chống phá, chúng tacần phải tỉnh táo để nhận diện và làm thất bại mọi âm mưu nham hiểm, kiên định con đườngxây dựng đất nước đi lên CNXH để có được một Việt Nam hoà bình, tươi đẹp, cởi mở, thânthiện, năng động, đồng thuận, dân chủ, công bằng, phát triển mạnh mẽ và quyết tâm vươn lênxây dựng xã hội phồn vinh mà không thế lực nào có thể ngăn cản nổi./

Trang 9

2 Đảng, Nhà nước Việt Nam phải làm gì để xử lý tốt mối liên hệ giữa các giai tầng trong khối liên minh hiện nay?

Quá trình cách mạng XHCN là quá trình từng bước xoá bỏ cơ bản các quan hệ đốikháng giai cấp, hình thành một cơ cấu xã hội mới-giai cấp mới, trong đó liên minh giữa giaicấp công nhân với nông dân và trí thức là nền tảng của xã hội mới, chế độ mới Liên minhcông-nông-trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự đoàn kết, hợp lực, hợp tác,liên kết nhằm thực hiện những nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề vì lợi ích không chỉ cho mộtlực lượng mà còn cho cả các lực lượng tham gia, đồng thời góp phần vào sự nghiệp chungxây dựng CNXH Đảng và nhà nước Việt Nam xử lý tốt mối liên hệ giữa các giai tầng trongkhối liên minh hiện nay có tầm rất quan trọng, tạo ra khối đoàn kết thống nhất cùng chung tayxây dựng một xã hội mới, chế độ mới, là nhu cầu giữ vững vai trò lãnh đạo của giai cấp côngnhân, nhu cầu tự giải phóng của giai cấp nông dân và nhu cầu phát triển của trí thức

Trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch

Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, đã vận dụng một cách sáng tạo nguyên lý đó, từng bước xây dựng được khối liên minh công - nông - trí thức ngày càng vững chắc và góp phần to lớn vào thắng lợi trong trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có

Đảng Từ Đại hội lần thứ II năm 1951, Đảng ta đã xác định rõ vị trí, vai trò của “liên

minh công nhân với nông dân và lao động trí thức”.

Tính tất yếu khách quan về sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH, không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của các nhà kinh điển hay của các ĐCS mà nó đặt trên cơ sở chín muồi của những yếu tố, điều kiện khách quan

Khi phân tích cơ cấu xã hội - giai cấp trong CNTB, C.Mác chỉ ra, ngoài giai cấp công nhân là giai cấp đang phát triển mạnh mẽ cùng với nền công nghiệp hiện đại thì còn các giai cấp và tầng lớp lao động xã hội khác thống nhất với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và cùng đối lập với lợi ích cơ bản với giai cấp tư sản Từ những cuộc đấu tranh mang tính đối đầu đầu tiên của giai cấp công nhân với giai cấp tư sản bị thất bại, theo Mác là do công nhân chiến đấu đơn độc, chưa liên hệ được với nông dân nên trở

thành “bài ca ai điếu” Trong Cách mạng tháng Mười và sau khi giai cấp công nhân đập tan chính quyền của giai cấp thống trị bóc lột, Lênin khẳng định “Chuyên chính vô sản

là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của

Trang 10

những người lao động với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức)”.

Công cuộc xây dựng xã hội mới trong thời kỳ quá độ lên CNXH là công việc hoàn toàn mới, đầy khó khăn gian khổ, phức tạp, lâu dài, diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vì sự nghiệp giải phóng không chỉ cho giai cấp công nhân, mà cho toàn xã hội Trong cơ cấu xã hội của thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều giai cấp tầng lớp, trong đó nông dân còn chiếm đa số, tầng lớp trí thức có xu hướng ngày càng phát triển Mỗi giai cấp tầng lớp còn có những đặc điểm, vị trí kinh tế - xã hội, vai trò khác nhau Để thực hiện được vai trò lãnh đạo tiên phong của mình, giai cấp công nhân mà đứng đầu là ĐCS phải tổ chức tập hợp được mọi lực lượng xã hội, trong đó chủ yếu là nông dân, trí thức Thấy rõ tầm quan trọng của liên minh công-nông-trí thức trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội, trong văn kiện Đại hội tòan quốc lần thứ X, Đảng ta nêu rõ: “Đại

đòan kết tòan dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.

Đối với giai cấp công nhân, do vị trí lịch sử quy định, là giai cấp ngày càng đông đảo theo sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp trong nước cũng như trên thế giới.

Họ có những đặc điểm riêng có, ưu việt mà không có giai cấp nào có được Trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi thế giới, là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo, đi đầu trong việc giải phóng con người, giải phóng xã hội Giai cấp công nhân phải tổ chức lực lượng cách mạng, vì sự nghiệp cách mạng nào cũng là sự nghiệp của quần chúng Việc liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là một nhu cầu tự thân.

Giai cấp công nhân ở Việt Nam hiện nay là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, là hạt nhân vững chắc trong liên minh công nhân, nông dân, trí thức Chúng tacũng không phủ nhận những yếu điểm của giai cấp công nhân Việt Nam, đó là: sinh ra vàtrưởng thành ở một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến, nền nông nghiệp lạc hậu nên hạn chếlớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam là số lượng còn ít, chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho

giáo phong kiến, mang nặng tác phong của nền sản xuất nhỏ tiểu nông Tuy nhiên, giai cấp

công nhân ở Việt Nam hiện nay ngày càng lớn mạnh cùng với sự phát triển đi lên của nềncông nghiệp đất nước, giai cấp công nhân làm việc trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi điềukiện lao động khác nhau, đó là những người lao động chân tay, lao động trí óc, hoạt động sảnxuất trong các ngành công nghiệp thuộc các doanh nghiệp Nhà nước, Hợp tác xã, khu vực tư

Trang 11

nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài và các khu chế xuất, khu công nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài, giai cấp công nhân là người đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, có trithức Là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, là hạt nhân vững chắc trong liênminh công nhân, nông dân và trí thức.

Giai cấp nông dân là một tập đoàn xã hội đông đảo sinh sống trên địa bàn nông thôn, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu với tư liệu sản xuất là đất, rừng, sông biển, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu Nông dân có tính hai mặt, vừa là người lao động, đồng thời là người tư hữu nhỏ Trong mọi chế độ xã hội nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, luôn luôn phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị đương thời Luôn có nguyện vọng được giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột nhưng chưa bao giờ

tự làm cuộc cách mạng tự giải phóng cho mình Tuy nhiên, nông dân luôn có vai trò to lớn trong mỗi chế độ xã hội, là lực lượng cách mạng của giai cấp công nhân, đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ của các giai đoạn lịch sử Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, về cơ bản nông dân được giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột, nhưng đa số nông dân vẫn có đời sống còn thấp kém hơn các giai tầng xã hội khác Mặt khác, nông dân lại có vai trò to lớn trong cuộc cách mạng xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Họ

là lực lượng sản xuất đông đảo đầy tiềm năng, là nguồn cung cấp nhân lực cho công nghiệp hóa, là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm chủ yếu cho xã hội, thị trường đầy tiềm năng trong nền kinh tế thị trường của thời kỳ quá độ Giai cấp nông dân đã được giai cấp công nhân giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột, nhu cầu tìm đến với giai cấp công nhân cũng là nhu cầu tự thân của họ, nên là người bạn tự nhiên, gần gũi nhất của giai cấp công nhân Đây chính là mối quan hệ đồng hành, gắn bó khách quan tạo ra sự

cố kết chặt chẽ công - nông

Tầng lớp trí thức, ta thường gọi là đội ngũ trí thức, là một tập đoàn những người lao động xã hội đặc biệt bằng trí óc, phương thức lao động chủ yếu là lao động trí tuệ cá nhân, tạo ra những sản phẩm khoa học, trí tuệ, tinh thần Trí thức được phân thành hai dạng, một là dạng trí thức đơn thuần và một là dạng trí thức giác ngộ mang hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, tự nguyện đứng về giai cấp công nhân Nói chung họ là những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao, am hiểu sâu rộng lĩnh vực chuyên môn của mình Họ không phải là giai cấp mặc dù số lượng ngày càng đông, mà chỉ là một tầng lớp vì họ không trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất, họ chỉ sở hữu trí tuệ, lại xuất thân từ nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội, không có hệ tư tưởng độc lập Dưới các chế độ thống trị trước đây, trí thức bao giờ cũng bị các giai cấp thống trị nắm lấy, làm

Trang 12

công cụ trong tay mình Họ cũng là người bị bóc lột về cơ bản, và cũng luôn có nguyện vọng được giải phóng Cũng như giai cấp nông dân, họ chưa bao giờ tự làm cuộc cách mạng giải phóng mình thành công Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, trí thức cũng đã được giải phóng, càng có điều kiện để phát huy vai trò của mình Ở mọi quốc gia, trí thức là bộ phận tiêu biểu cho trí tuệ, văn hoá của đất nước Họ có vai trò nghiên cứu khoa học, phát minh sáng chế, vận dụng, ứng dụng, chuyển giao các thành tựu khoa học

- công nghệ tiên tiến phù hợp để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Họ

có nhiều ý kiến đóng góp vào việc hoạch định đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước để phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trí thức nói chung rất nhạy cảm về mặt chính trị xã hội, nên khi đã thấy được vị trí vai trò tiên phong, lãnh đạo của giai cấp công nhân thì họ sẵn sàng tự giác đứng về phía công nhân

và dân tộc để thực hiện sự nghiệp giải phóng xã hội chung, trong đó có bản thân mình Như vậy, cả giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đều là những lực lượng lao động sản xuất, lực lượng chính trị - xã hội với những đặc điểm, vai trò xác định Họ là những giai cấp, tầng lớp đông đảo nhất trong thời kỳ quá độ lên CNXH Đặc biệt đối với các nước tiền tư bản, nông nghiệp lạc hậu, quá độ bỏ qua chế

độ TBCN đi lên CNXH như ở nước ta thì đây chính là lực lượng cách mạng chủ yếu Với tư cách là giai cấp lãnh đạo, giai cấp công nhân mà đứng đầu là Đảng cộng sản cần phải nắm bắt được những yếu tố khách quan từ các giai cấp tầng lớp, để tổ chức thành liên minh vững chắc, khi đó không chỉ giành được sự thắng lợi mà cũng “không có thế lực nào phá vỡ nổi”.

Chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức, không chi trong giai đoạn giành chính quyền, mà còn đặc biệt lưu ý trong giai đoạn xây

dựng CNXH “trong thời đại chuyên chính vô sản” Trong cuộc cách mạng giành chính

quyền, cần phải liên minh thì trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới liên minh càng phải

được tiếp tục duy trì và củng cố “Nguyên tắc cao nhất của chủ nghĩa vô sản là duy trì

khối liên minh…để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò lãnh đạo và chính quyền nhà nước” Trên cơ sở đó để giai cấp công nhân thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội mới,

như mục tiêu Đảng ta đã đề ra là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vai trò đó chỉ được giữ vững và thực hiện có kết quả tốt khi tổ chức tốt mối liên

hệ liên minh công, nông và trí thức Xét về lợi ích cơ bản và mục tiêu của Nhà nước XHCN là xây dựng thành công CNXH, vì lợi ích của toàn thể nhân dân, nhưng nhân dân lại tập trung chủ yếu trong công nhân, nông dân, trí thức Đó là tất yếu về chính trị

Trang 13

- xã hội Vì mục tiêu chung cũng như lợi ích chính trị của từng giai cấp, tầng lớp là bảo

vệ vững chắc độc lập dân tộc và những thành quả của cách mạng XHCN, các giai cấp tâng lớp không được tách rời nhau hoặc hoạt động tự phát mà phải gắn bó hữu cơ với nhau thành một khối liên minh vững mạnh Liên minh phải được Đảng cộng sản - đội tiền phong của gia cấp công nhân lãnh đạo và tổ chức hoạt động, thống nhất cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức thì mới làm cơ sở cho Nhà nước XHCN và nòng cốt của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc Cơ sở gắn kết của các giai cấp tầng lớp công - nông - trí thức

ở nước ta còn tất yếu chính trị từ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Nhờ sự lãnh đao của Đảng, họ đã đoàn kết lại trong mặt trận dân tộc thống nhất, trong đó liên minh công nông là nòng cốt Lợi ích, niềm tin của công nhân, nông dân, trí thức đối với Đảng

đã được thiết lập vững chắc Bước vào thời kỳ quá độ, mối liên kết chính trị đó tiếp tục được phát huy cao độ hơn

Trong điều kiện hiện nay, Đảng và Nhà nước cần xử lý tốt mối liên hệ giữa các giai tầng để phát huy tối đa, hình thành động lực quan trọng nhất để phát triển xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp, động viên tối đa các nguồn lực trong nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vận dụng quan điểm về liên minh với các tầng lớp lao động Đảng ta đã

cụ thể hóa nội dung:

Một là, liên minh về mặt chính trị mà thực tế là sự đòan kết, hợp lực của của công nhân,

nông dân, trí thức trong xã hội quy tụ dưới ngọn cờ của Đảng vượt qua những khó khăn trởngại, đập tan âm mưu chống phá CNXH, xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ chính trị mới,giữ vững độc lập dân tộc và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước Liên minhcông-nông-trí thức được xây dựng và củng cố vững chắc chính là để đảm bảo vai trò lãnh đạocủa giai cấp công nhân đối với tòan xã hội

Hai là, liên minh về kinh tế mà thực chất là nhằm đảm bảo đúng đắn được các lợi ích,

trước hết là lợi ích về kinh tế, bảo đảm tất cả các giai tầng trong xã hội đều bình đẳng trướcpháp luật, đây là nội dung cơ bản nhất, quyết định nhất và nó là cơ sở vững chắc nhất của liênminh trong thời kỳ quá độ Nội dung đó được cụ thể hóa ở các điểm sau đây: Trước hết là phải

tập trung cho nhiệm vụ trọng tâm “công nghiệp hóa hiện đại hóa” nhằm đáp ứng cho nhu cầu

tiêu dùng, xuất khẩu Bởi vì, nước ta xuất phát điểm đi lên chủ nghĩa xã hội vốn là nước nôngnghiệp, giai cấp nông dân chiếm gần 80% dân số, nhưng nhiều tiềm năng chưa được khơi dậy,nông dân đang còn phải chịu thiệt thòi Do đó, trước mắt phải hiện đại hóa nông thôn, phải tạođiều kiện cho nông dân hợp tác liên kết với nhau, liên kết với trí thức, liên kết với đô thị, liênkết với Nhà nước, liên kết với nước ngoài Mặt khác Nhà nước, công nhân, trí thức phải chủđộng đến với nông thôn để hướng dẫn, giúp đỡ, đồng thời cũng là mở rộng thị trường công

Trang 14

nghiệp, khoa học công nghệ, có như vậy công, nông, trí thức mới ngày càng xích lại gần nhau.

Đây là nội dung quan trọng nhất, bởi vì cơ sở kinh tế là nền tảng của mọi xã hội Đối với nông

thôn cần phải hết sức chú ý đến các loại hình kinh tế hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình, trang trại,các dịch vụ ở nông thôn Đặc biệt là loại hình kinh tế hợp tác xã Nếu coi nhẹ vấn đề hợp táchóa, chạy theo quan điểm tư nhân hóa là chệch hướng xã hội chủ nghĩa, thậm chí làm tan vỡliên minh, rối loạn xã hội Do đó Nhà nước phải có “chính sách khuyến nông” cụ thể là: phải

có luật sở hữu, sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế đất đai, rừng phải tạo điều kiện để nôngdân yên tâm sản xuất, phải có chính sách, cơ chế đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, cho vayvới lãi suất ưu đãi, phải chú ý đầu tư kết cấu hạ tầng, khoa học công nghệ mới, cán bộ kỹthuật v.v , phải có chính sách giá cả, nhất là giải quyết giữa giá nông sản hàng hóa với giáhàng công nghiệp, giá của khoa học công nghệ; trợ giá khi cần thiết… phải có chính sáchmiễn giảm thuế, chính sách tiêu thụ, chế biến, bảo quản, bảo hiểm nông sản, bảo hiểm sảnxuất nông nghiệp Do đó, kinh tế Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo thì mới có đủ điều kiệngiúp đỡ, hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh, học hỏi về kiến thứcquản lí kinh tế và nhiều vấn đề văn hóa, xã hội (nhất là ở nông thôn, bản miền núi, vùng cácdân tộc ít người…) Đối với tri thức, Nhà nước cần phải hoàn chỉnh và đổi mới những chínhsách có liên quan trực tiếp đến sỡ hữu trí tuệ Ví dụ: Luật và chính sách về phát triển khoahọc, công nghệ, về bản quyền tác giả, về giáo dục và đào tạo, về báo chí, xuất bản, về văn họcnghệ thuật… Qua đó mà đổi mới cả về đào tạo, sử dụng lẫn đãi ngộ… nhằm phát huy nhữngtiềm năng của các nhà khoa học đầu đàn, đội ngủ cán bộ khoa học, nhất là cán bộ khoa họctrẻ Đồng thời tăng cường hợp tác khoa học trong nước, giữa nước ta với các nhà khoa họcquốc tế về khoa học và công nghệ

Ba là, liên minh về văn hóa xã hội mà thực chất là đi đến các mục tiêu mọi người đều

phải được quyền hưởng thụ một cách công bằng tất cả những thành quả của tăng trưởng kinh

tế với tiến bộ và công bằng xã hội, với phương châm tất cả vì con người mà trước hết mọingười đều phải có công ăn, việc làm, không để người lao động thất nghiệp, nhất là lao động ởnông thôn, gia đình thương binh liệt sĩ, người có công với nước, những người đang còn phảigánh chịu hậu quả chiến tranh Đó vừa là một nhiệm vụ của xã hội, vừa có ý nghĩa giáo dụctruyền thống, đạo lý, lối sống…Phải chăm lo phúc lợi cho mọi người như: xóa mù chữ chomột bộ phận nông dân miền núi, nâng cao trình độ kiến thức về khoa học công nghệ, nhậnthức về chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm lo bảo vệ sức khỏe, giữ gìn phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc, chống các biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũng, các tệ nạn xã hội, các hủ

tục lạc hậu Trong phát triển công nghiệp, khoa học công nghệ phải luôn gắn với quy hoạch

phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là những vùng núi, dân tộc ít người, vùng sâu, vùngxa… Chỉ có như vậy, nội dung liên minh mới toàn diện và đạt mục tiêu của định hướng xã hội

Trang 15

chủ nghĩa; mới có thể làm cho công, nông và trí thức cũng như các vùng, các miền, các dântộc…” xích lại gần nhau “.

Thông qua những nội cơ bản của khối liên minh công-nông-trí thức, Đảng và Nhà nước tacũng đưa ra các phương hướng chủ yếu để tăng cường liên minh công-nông-trí thức hiện nay:

Một là, quán triệt và thực hiện tốt các văn kiện của Đảng ta về xây dựng giai cấp công

nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và tăng

cường họat động khuyến nông

Ba là, tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở và thực hiện tốt quy chế và pháp lệnh

thực hiện dân chủ ở cơ sở

Bốn là, phát hiện, hòan thiện và nhân rộng những mô hình liên minh-công-nông-trí thức

trong thực tiễn

Năm là, nâng cao chất lượng họat động của các tổ chức chính trị-xã hội và tổ chức nghề

nghiệp của công nhân, nông dân và trí thức

Các phương hướng đưa ra từ các văn kiện, chỉ thị của Đảng, Pháp lệnh, Nghị định củaChính Phủ vừa qua về xây dựng giai cấp công nhân, xây dựng nông nghiệp, nông dân, nôngthôn, xây dựng đội ngũ trí thức còn xác định phải thực hiện liên minh công-nông-trí thức mớigiải quyết được các nhiệm vụ giải pháp mà phương hướng đã đưa ra

Tóm lại, khi liên minh công-nông-trí thức được thiết lập, củng cố thì liên minh trở thành nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tập hợp lực lượng rộng rãi quần chúng nhân dân trong khối Đại đoàn kết toàn dân cũng phải lấy liên minh công - nông - trí làm nòng cốt Có liên minh cũng là điều kịên bảo đảm ổn định chính trị cho công cuộc đổi mới, cải cách của CNXH Với tư cách là giai cấp lãnh đạo, giai cấp công nhân mà tiên phong là Đảng cộng sản cần phải nắm bắt được những yếu tố khách quan từ các giai cấp này để tổ chức thành liên minh vững chắc

Theo tôi nếu Đảng và Nhà nước dung hòa được các lợi ích kinh tế cơ bản của giai cấp, phát huy có hiệu quả sức mạnh của việc liên minh giai cấp, xử lý tốt mối liên hệ và định hướng phát triển phù hợp giữa các giai tầng trong khối liên minh thì khi đó không chỉ giành được mọi thắng lợi mục tiêu kinh tế-xã hội, mà cũng còn tạo thành bức tường đồng vững chắc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN mà không có thế lực nào phá vỡ nổi.

Ngày đăng: 23/09/2016, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w