Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản theo pháp luật phá sản hiện hành. Liên hệ 01 vụ việc cụ thể.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 1
ĐỀ BÀ I SỐ 12
“Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành
pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
mất khả năng thanh toán nợ đến hạn sau khi có quyết
định mở thủ tục phá sản theo pháp luật phá sản hiện
hành Liên hệ 01 vụ việc cụ thể.”
HỌ VÀ TÊN:
MSSV : LỚP :
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I Một số khái niệm 2
II Thực trạng quy định pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán 2
1 Quy định về chủ thể quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán 2
1.1 Tòa án 2
1.2 Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản 3
1.3 Chủ nợ 4
1.4 Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 4
2 Quy định về quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn sau khi có quyết định mở thục tục phá sản 4
2.1 Xác định tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán 4
2.2 Thu hồi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 6
2.3 Các biện pháp bảo toàn tài sản doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 7
III Thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 10
1 Trên phạm vi địa bàn Thành phố Hà Nội 10
2 Trên phạm vi toàn quốc 11
3 Liên hệ 01 vụ việc cụ thể 12
C KẾT LUẬN 13
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3A MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn dẫn đến tình trạng phá sản là hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu và tồn tại khách quan Nó hiện hữu như một sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên của nền kinh tế thị trường, bất kể đó là nên kinh tế thị trường phát triển ở các nước trên thế giới hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Luật Phá sản hiện hành (Luật Phá sản năm 2014) định
nghĩa về phá sản tại Khoản 2, Điều 4 cụ thể như sau: “Phá sản là tình trạng của
doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.” Xoay quanh vấn đề doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản có
rất nhiều nội dung khác nhau, một trong những nội dung quan trọng trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản là quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản theo pháp luật phá sản hiện hành
Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
tế như hợp tác xã, bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ khi mất khả năng thanh toán nợ Vấn đề này đã được quy định trong Luật Phá sản năm 2014, trong thời gian qua khi thi hành có thể thấy quy định pháp luật phá sản về vấn đề quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản đã có những điểm mới, tiến bộ, tạo thuận lợi cho các chủ thể áp dụng, thực hiện Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều hạn chế, bất cập gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc trên thực tiễn mà cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu để đề ra phương hướng giải quyết kịp thời
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề, em xin chọn đề bài tập số 12 để làm rõ
vấn đề trên như sau: “Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp
luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
nợ đến hạn sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản theo pháp luật phá sản hiện hành Liên hệ 01 vụ việc cụ thể.”
Trang 4B NỘI DUNG
I Một số khái niệm.
- Mất khả năng thanh toán: “Mất khả năng thanh toán là tình trạng một
doanh nghiệp không còn khả năng tài chính để trả cho những khoản nợ đã đến kỳ thanh toán theo yêu cầu của chủ nợ” – Từ điển Luật/ Viện Khoa học pháp lý – Bộ
Tư pháp
- Quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán: hiện các nhà làm luật chưa đưa ra định nghĩa chính thức về vấn đề này, tuy nhiên có thể hiểu
đây là “hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Quản tài viên và các bên
liên quan nhằm kiểm kê, giám sát và kiểm tra toàn bộ tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”.
- Quyết định mở thủ tục phá sản: Việc mở thủ tục phá sản có vai trò quan
trọng trong tiến hành vụ việc phá sản Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu
phá sản là cơ sở pháp lý để tiến hành giải quyết phá sản; là căn cứ để áp dụng các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; là căn cứ để tính thời điểm bắt đầu cho thời hạn một số hoạt động trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản.
II Thực trạng quy định pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
1 Quy định về chủ thể quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
1.1 Tòa án.
Theo pháp luật phá sản, Tòa án là một trong các chủ thể có thẩm quyền tham gia quản lý tài sản cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Thẩm quyền quản lý tài sản của Tòa án chủ yếu thể hiện thông qua vai trò của Thẩm phán tham gia giải quyết phá sản (Điều 9 Luật Phá sản 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản)
Mặc dù là một chủ thể quan trọng trong quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nhưng Tòa án lại không trực tiếp thực hiện quyền quản lý tài sản của mình mà thông qua việc chỉ định hoặc thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, xét duyệt yêu cầu và ra quyết định đối với vụ việc phá
Trang 5sản… Như vậy, mặc dù không phải là chủ thể trực tiếp tham gia quản lý tài sản phá sản nhưng Tòa án lại nắm quyền kiểm soát cao trong giải quyết vụ việc phá sản
1.2 Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
Theo quy định tại Khoản 7, 8 Điều 4 Luật Phá sản 2014, có thể hiểu: Quản
tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là các chủ thể hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản.
Chế định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong Luật Phá sản 2014 là một chế định mới mang tính tiến bộ, hoàn toàn hợp lý và cần thiết bởi việc đưa chế định Quản tài viên khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế phối hợp, tính chất kiêm nhiệm của các thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản theo quy định của Luật phá sản năm 2004, đáp ứng được yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả và chuyên nghiệp trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Với tư cách là chủ thể quản lý, thanh lý tài sản, tham gia hầu hết các giai đoạn của quá trình tố tụng phá sản, Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tham gia thủ tục phá sản với chức năng căn bản là để bảo toàn tài sản của con nợ được toàn vẹn, không bị tẩu tán Bởi vậy, để đảm bảo điều đó, trong suốt quá trình này, pháp luật trao cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản rất nhiều quyền năng (cụ thể được quy định tại Điều 16 Luật Phá sản năm 2014)
Vai trò của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản: Quản tài viên tham gia giải quyết phá sản kể từ khi được tòa án chỉ định tham gia thủ tục phá sản Đây là căn cứ quyết định việc tham gia hay không tham gia của Quản tài viên vào các giai đoạn phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Khi tham gia vào thủ tục này, Quản tài viên có vai trò không thể thiếu với các bên có liên quan
Thứ nhất, Vai trò của Quản tài viên đối với tòa án tham gia giải quyết thủ
tục phủ sản
Quản tài viên giúp tòa án thực hiện một số nhiệm vụ trong giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã như: quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, lập bảng kê khai tài sản, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã Đây là những hoạt động đài hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ cao mà không phải bắt cứ một chủ thể nào cũng có thể thực hiện
Trang 6được kể cả tòa án Hơn nữa, tòa án phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ, giữ vai trò trung tâm trong việc thực hiện các thủ tục phá sản, vì vậy, sự giúp đỡ của Quản tài viên là vô cùng cần thiết
Thứ hai, Vai trò của Quản tài viên đối với các đương sự tham gia thủ tục
phá sản
Quản tài viên là chủ thể giữ vai trò điều hòa lợi ích của các đương sự Hoạt động quản lý tài sản của Quản tài viên một mặt giúp cho con nợ, chủ nợ có những nhận thức cụ thể, chính xác nhất về tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc
nợ, kể từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý trong quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh Mặt khác, hoạt động này sẽ khiến cho con nợ không có khả năng tẩu tán tài sản, giúp việc hoàn trả các khoản nợ cho các chủ nợ được đảm bảo một cách tối đa nhất Bên cạnh đó, khi chủ thể này tiến hành hoạt động phân chia tài sản và phân phối các khoản nợ giúp cho mỗi chủ nợ đều được nhận lại một khoản tài sản nhất định từ doanh nghiệp, hợp tác xã phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời lại giúp con nợ không mất khả năng thanh toán và bị xiết nợ dồn dập và có thể rút lui khỏi thị trường kinh doanh trong trật tự
1.3 Chủ nợ.
Trong quá trình giải quyết nợ của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chủ nợ đóng vai trò rất quan trọng bởi đây là một trong các chủ thể có quyền lợi liên quan trực tiếp đến quá trình phá sản của doanh nghiệp, chủ nợ thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Tòa án để giải quyết nợ của doanh nghiệp một cách thỏa đáng nhất
1.4 Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Là chủ thể trực tiếp quản lý tài sản, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nắm nhiều quyền và nghĩa vụ nhất trong các chủ thể của quan hệ phá sản Trong
đó, doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ khi bắt đầu quy trình phá sản, có quyền về tài sản, kinh doanh và các quyền liên quan đến quan hệ phá sản nhằm mục đích tự bảo vệ trước các chủ nợ có thái độ tiêu cực Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng mang những nghĩa vụ nhất định đối với các chủ thể tham gia quản lý khác
2 Quy định về quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn sau khi có quyết định mở thục tục phá sản.
2.1 Xác định tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
Trang 7Trong quá trình quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, việc xác định đúng và đầy đủ các loại tài sản của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng
Thứ nhất, các loại tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được
quy định tại điều 64 Luật Phá sản
Theo quy định của Luật Phá sản thì sau khi có yêu cầu mở thủ tục phá sản, hoạt động kinh doanh thương mại của doanh nghiệp vẫn được tiến hành một cách bình thường Vì thế, khả năng doanh nghiệp có thêm quyền tài sản và tài sản sau ngày
mở thủ tục phá sản là hoàn toàn có thể xảy ra Do đó việc liệt kê tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có được sau ngày mở thủ tục phá sản vào tài sản phá sản là rất cần thiết Do đó, tại Luật Phá sản năm 2014, các nhà làm luật đã dự liệu được và bổ sung thêm một số tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không được quy định trong Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 như: tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp có được sau ngày mở thủ tục phá sản, tài sản và quyền tày sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu, tài sản thu hồi từ hành
vi cất giấu tẩu tán tài sản của doanh nghiệp
Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 cũng chưa có quy định riêng về danh mục các tài sản thuộc diện loại trừ Trong khi đó, nếu xét ở khía cạnh nhân đạo và thông
lệ chung của quốc tế ( Pháp luật phá sản của Hoa Kỳ pháp luật phá sản của Nhật Bản ) thì đối với trường hợp con nợ là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì pháp luật cũng phải xác định tài sản miễn trừ (đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, các khoản trợ cấp, tiền bồi thường do bị tổn hại sức khỏe, tiền bảo hiểm… ) khi giải quyết phá sản với họ Bởi nếu như theo quy định hiện tại, chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên công ty hợp danh sau khi thanh toán nợ thì khả năng “không còn đường sống” là rất cao
Thứ hai, kiểm kê tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Luận Phá sản năm 2014 quy định chủ thể có trách nhiệm lập bảng kê tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (điểm b Khoản 1 Điều 16) Tuy vậy, lại không quy định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được trực tiếp kiểm kê tài sản của doanh nghiệp mà lại giao trách nhiệm này cho doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán Khoản 1 Điều 65 Luật Phá sản 2014 quy định: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ
Trang 8ngày nhân được quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải tiến hành kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản đó”.
Thực tế, điều khoản này đã đi đúng với quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp
và các bên còn lại đối với tài sản doanh nghiệp bởi trong quá trình tiến hành phá sản, tài sản của doanh nghiệp vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp có toàn quyền về tài sản, bao gồm cả việc kiểm kê giá trị tài sản thuộc sở hữu của mình Chỉ trong trường hợp Tòa án thấy khối tài sản đã được kiểm kê không đúng so với khối tài sản hiện có của doanh nghiệp, hay nói cách khác là doanh nghiệp đã không trung thực khi tự thực hiện kiểm kê tài sản, thì lúc
đó Tòa án thông qua quản tài viên, thanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ tham gia kiểm kê, xác định lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhằm bảo
vệ một cách tốt nhất quyền của các chủ nợ
Thứ ba, xác định giá trị tài sản đã được kiểm kê
Tương tự như kiểm kê tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, việc xác định giá trị tài sản đã được kiểm kê cũng được giao cho chính doanh nghiệp “Việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được thực hiện theo quy định của pháp luật” (Khoản 1 điều 65) Nhưng hiện này chưa có quy định cụ thể về việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Quy định về vấn đề này là rất cần thiết để tránh trường hợp doanh nghiệp cố ý xác định sai giá trị tài sản nhằm trục lợi
2.2 Thu hồi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Đây là một trong các bước quan trọng của quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, thu hồi tài sản là bước tiền đề cho quá trình thực hiện quản lý tài sản doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Thứ nhất, với trường hợp thông thường, việc thu hồi tài sản của doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán thuộc về Chấp hành viên Việc thu hồi những tài sản này diễn ra sau khi có quyết định tuyên bố phá sản Sau khi nhận được quyết định phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự Chấp hành viên có
nhiệm vụ: “Thực hiện công chế để thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua
được tài sản trong vụ việc phá sản theo quy định của pháp luật về thì hành án dân sự” (điểm c Khoản 2 Điều 120).
Trang 9Thứ hai, thu hồi lại tài sản trong trường hợp có vi phạm, Khoản 1 Điều 125
Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Quản tài viện, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản, Chấp hành viên đề nghị Tòa án nhân dân ra quyết định thu hồi lại tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã do thực hiện giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 59 của Luật này Việc thu hồi tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”.
Như vậy, theo Luật Phá sản năm 2014, thẩm quyền thu hồi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được giao cho cơ quan thi hành án dân sự, mà cụ thể là Chấp hành viên Trong khi Luật Phá sản năm 2004 đã giao chức năng thu hồi tài sản cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản nhưng lại thiếu các biện pháp bảo đảm thu hồi tài sản Các loại tài sản của doanh nghiệp nhiều khi nằm rải rác tại nhiều nơi và việc thu hồi các loại tài sản này cũng vấp phải không ít khó khăn, trong số đó là sự phản đối của người sử dụng tài sản, chủ sở hữu tạm thời…
Luật Phá sản năm 2014 không chỉ giao quyền thu hồi cho Chấp hành viên, tức là bảo đảm tính cưỡng chế trong khi thu hồi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, mà Luật Phá sản năm 2014 còn bổ sung quy định về ủy thác tư pháp
Theo đó, “Trong quá trình giải quyết phá sản, Tòa án nhân dân có thể ra quyết
định ủy thác để Tòa án nhân dân khác thu hồi tài sản" (Khoản 1 Điều 50 Luật Phá
sản năm 2014)
Tuy nhiên, Điều 125 Luật Phá sản năm 2014 quy định về thu hồi tài sản trong trường hợp có vi phạm, song điều luật chi đề cập đến thu hồi tài sản từ giao dịch vô hiệu, mà không đề cập đến thu hồi tài sản từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, trong khi tài sản này cũng thuộc phạm vi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được quy định tại điểm đ khoản 1 điều 64
2.3 Các biện pháp bảo toàn tài sản doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Chương V Luật Phá sản 2014 đã quy định về các biện pháp bảo toàn tài sản nhằm ngăn chặn doanh nghiệp mắc nợ làm thất thoát tài sản khi có quyết định mở thủ tục phá sản
Thứ nhất, tuyên bố vô hiệu các giao dịch mà doanh nghiệp thực hiện với
mục đích tẩu tán, cất giấu tài sản gây ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ Quy định này được xây dựng xuất phát từ mối lo ngại con nợ rơi vào tình trạng phá sản
có thể tẩu tán, cất giấu tài sản nhằm trốn tránh việc xiết nợ của chủ nợ hoặc có những hành động ưu tiên thanh toán cho một số chủ nợ nhất định Quy định này
Trang 10được đặt ra chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ cũng như sự bình đẳng giữa họ
Các trường hợp giao dịch bị coi là vô hiệu
Mặc dù vào thời điểm giao dịch được thực hiện, doanh nghiệp vẫn chưa thực
sự mất khả năng thanh toán nhưng đã xuất hiện dấu hiệu chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng phá sản Trong trường hợp này, chủ doanh nghiệp thường cố gắng giao kết các giao dịch nhằm mục đích tẩu tán tài sản hoặc lợi dụng giao dịch để lừa đảo chiếm đoạt tài sản Do đó, Luật Phá sản 2014 đã liệt kê một số trường hợp giao dịch bị coi là vô hiệu nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, cố ý làm thất thoát tài sản thông qua các giao dịch bất hợp pháp tại điều 59 Khi các giao dịch trên bị tuyên bố vô hiệu thì những tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp
Quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 60 Luật Phá sản 2014: “Trong thời hạn 10
ngày làm việc kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người tham gia thủ tục phá sản yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc Tòa án nhân dân phát hiện giao dịch quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 59 của Luật này thì Tòa án nhân dân ra một trong các quyết định…”
Như vậy, chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và người tham gia thủ tục phá sản
(người tham gia thủ tục phá sản được quy định tại Khoản 10 Điều 4 của luật này).
Thứ hai, tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực.
Trong thực tế, khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và bị đệ đơn yêu cầu phá sản thì có nhiều trường hợp doanh nghiệp vẫn còn đang hoạt động kinh doanh với mong muốn hồi sinh doanh nghiệp Bởi vậy, vẫn có thể đang tồn tại những hợp đồng đã ký kết từ trước và đang có hiệu lực Hoạt động này có thể có lợi cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể khiến khối tài sản phá sản của doanh nghiệp
bị tổn thất thêm Vì vậy những hợp đồng có khả năng gây tổn thất cho doanh nghiệp cần bị đình chỉ hoặc tạm đình chỉ để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp và đồng thời bảo vệ lợi ích của chủ nợ và doanh nghiệp
Thứ ba, bù trừ nghĩa vụ.