1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở việt nam hiện nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn

37 1,5K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A Mở đầu I. Tính cấp thiết của vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khảng định : Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiến pháp 1992 sửa đổi đã thể chế hoá nghị quyết Đại hội Đảng ghi nhận tại điều 2 : “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Như vậy lần đầu tiên trong một đạo luật cơ bản chính thức ghi nhận Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý là nghiên cứu nhà nước pháp quyền với những vấn đề lý luận và thực tiễn. Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức (lý luận). Tuy nhiên lý luận xác định mục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thực tiễn làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Triết học Mác Lênin đã khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn II. Tình hình nghiên cứu. Ở nước ngoài : tư tưởng nhà nước pháp quyền đã có bề dày lịch sử hình thành và phát triển. Nhiều học giả hiện đại tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Ở trong nước : khoảng 10 năm trở lại đây có nhiều học giả nghiên cứu vấn đề này (PGSTS Lê Minh Tâm, GSTS Đào Trí, TS Nguyễn Văn Động...) Vấn đề nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là vấn đề còn nhiều tranh luận, nhiều quan điểm khác nhau.

Trang 1

- Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namđòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân Trong lĩnh vựcnghiên cứu khoa học pháp lý vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý lànghiên cứu nhà nước pháp quyền với những vấn đề lý luận và thực tiễn Thựctiễn là cơ sở, động lực của nhận thức (lý luận) Tuy nhiên lý luận xác địnhmục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thựctiễn làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn Triết học Mác Lênin đãkhẳng định mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

II Tình hình nghiên cứu.

- Ở nước ngoài : tư tưởng nhà nước pháp quyền đã có bề dày lịch sửhình thành và phát triển Nhiều học giả hiện đại tiếp tục nghiên cứu vấn đềnày

- Ở trong nước : khoảng 10 năm trở lại đây có nhiều học giả nghiên cứuvấn đề này (PGS-TS Lê Minh Tâm, GSTS Đào Trí, TS Nguyễn Văn Động )

- Vấn đề nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là vấn đề còn nhiều tranhluận, nhiều quan điểm khác nhau

Trang 2

III Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, song vấn đề này vẫn luôn mang tínhthời sự rất cao, nhất là trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn Việt Nam tiếnhành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Do đó tôi làm tiểu luận hết môn với đề tài “ Vấn đề xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay, những vấn đề lý luận và thựctiễn”.Với mục đích:

- Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền

- Tìm hiểu đường lối chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước vềviệc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thờinghiên cứu cứu đóng góp một số ý kiến bứơc đầu cải cách bộ máy nhà nước,hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo hướng xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàcủa Đảng ta về vấn đề Nhà nước pháp quyền Từ đó nhìn nhận, đánh giá lạithực trạng tình hình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiệnnay trước những yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước ta Từ

đó nêu lên một số biện pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước phápquyền XHCN ở nước ta

IV Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của tiểu luận gồm 3chương và 6 tiết

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚCPHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3: GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆNNHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA TRONGTHỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Trang 3

B - NỘI DUNG

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1 SỰ HÌNH THÀNH - PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN.

1.1 Sự hình thành tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử.

- Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng đã có quan điểm tư tưởng vềpháp luật, pháp chế, sự tồn tại của nhà nước trên cơ sở pháp chế, pháp luật.Trong thực tiễn, những tư tưởng này vẫn còn có những nhân tố có giá trị vớiviệc xây dựng nền tảng chính trị pháp lý của nhà nước pháp quyền ngày nay + Platon (428 - 347 TCN)

Platon sớm nhận thấy vai trò pháp luật đối với nhà nước, ông viết : “tôinhìn thấy sự sụp đổ mau chóng của nhà nước nơi mà pháp luật không có hiệulực và nằm dưới quyền một ai đó Còn ở đâu luật đứng trên nhà cầm quyền,còn họ là nô lệ thì ở đó tôi nhìn thấy sự cứu thoát nhà nước và lợi ích mà chỉ

có Nhà nước mới ban phát cho nhà nước”

+ Marctulli Ciceron (106 - 43 TCN)

Nêu lên quan điểm về pháp luật tự nhiên Pháp luật tồn tại một cách tựnhiên ở pháp luật các nước và trong các thời đại xuất phát từ bản chất tựnhiên của con người Pháp quyền sinh ra từ lý trí, tức là ở trên quyền lực

Trang 4

Không một nguyên lão nghị viện nào, không một dân tộc nào được miễn trừviệc tuân theo nó Tất cả mọi người đều ở dưới hiệu lực của pháp luật

+ Locke (Những năm 1632 -1704 SCN) đã xây dựng học thuyết về toàn

bộ quyền lực nhà nước là của nhân Ông luận giải: Nguồn gốc và bản chất củanhà nước, quyền lực của nhà nước xuất phát từ quyền tự nhiên của con người,quyền con người là quyền tối cao, bất khả xâm phạm Quyền sống, quyền tự

do, quyền sở hữu là giá trị chủ đạo của quyền con người Để bảo vệ các quyền

tự nhiên của con người, mọi người trong xã hội thảo luận lập ra chính quyền

có quyền lực chung để bảo vệ quyền tự nhiên của con người Chính quyềnchính là sự uỷ quyền của mọi thành viên trong xã hội

Locke đưa ra kết luận:

Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của nhân dân, quyền lựccủa nhân dân là cơ sở, nền tảng của quyền lực nhà nước Trong quan hệ vớinhân dân nhà nước không có quyền mà chỉ thực hiện sử uỷ quyền của nhândân

Nhà nước -x ã hội chính trị hoặc xã hội công dân thì thực chất là một khếước xã hội trong đó công dân nhượng một phần quyền lực chung cho quyềnlực nhà nước

Bảo toàn quyền tự nhiên của con người là tiêu chí quan trọng để xácđịnh giới hạn và phạm vi hoạt động của nhà nước

Ngoài ra còn nhiều nhà tư tưởng nhà nước pháp quyền khác như:Roussou (1712 -1778), Kant (1724 -1804), Heeghen (1770-1831) và tiếp đó lànhà tư tưởng nhà nước pháp quyền vĩ đại Mác, Awnghen

- Những ý tưởng quan niệm của các nhà tư tưởng cổ đại tuy nêu ở nhữnggóc độ khác nhau nhưng đều cổ vũ cho việc đề cao pháp luật, xây dựng nhànước hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Những ý tưởng này có ảnh hưởnglớn đến việc hình thành phát triển lý thuyết tính tối cao của pháp luật, về phânchia quyền lực nhà nước, về nhà nứơc và pháp luật nói chung

Trang 5

1.2 MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

1.2.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền và những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền.

1.2.1.1.Khái niệm nhà nước pháp quyền.

Nhà nước pháp quyền không phải là vấn đề hoàn toàn mới lạ, mà làmột phạm trù có nguồn gốc lịch sử tư tưởng từ xa xưa Sự ra đời và phát triểncủa tư tưởng: “Nhà nước pháp quyền” gắn liền với sự ra đời và phát triển củadân chủ, của tư tưởng loại trừ sự chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vôpháp luật Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tốicao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức, thực hiện quyền lực Nhànước Đó là hai yếu tố không thể thiếu được khi nói đến Nhà nước phápquyền nói chung

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội có mối quan hệ mậtthiết với nhau Nhà nước tồn tại không thể thiếu pháp luật, ngược lại thiếuNhà nước, pháp luật trở nên vô nghĩa Bởi vì, pháp luật do Nhà nước banhành và đảm bảo thực hiện Nhà nước cần đến pháp luật vì thông qua phápluật, dựa vào pháp luật, nhà nước mới quản lý được đời sống xã hội Dựa trênpháp luật và các công cụ khác, Nhà nước thiết lập một trật tự xã hội Tuy vậy,lịch sử cho thấy không phải khi nào có Nhà nước, có pháp luật là có ngay Nhànước pháp quyền Nhà nước pháp quyền không phải là kiểu nhà nước xét theohọc thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế xã hội Nhà nước pháp quyền rađời ở một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội

Nhà nước pháp quyền từ quan điểm, tư tưởng đã dần trở thành thực tếlịch sử

Trong khoa học pháp lý bàn về khái niệm Nhà nước pháp quyền vẫn cònnhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau Có ý kiến cho rằng Nhà nướcpháp quyền là một hình thức nhà nước Ý kiến khác lại cho rằng Nhà nước

Trang 6

pháp quyền là một phương thức quản lý xã hội và thực hiện quyền lực nhànước Nhiều ý kiến cho rằng có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nướcpháp quyền XHCN, nhưng nhà nước pháp quyền XHCN ở trình độ phát triểncao hơn nhà nước pháp quyền tư sản

Tuy vậy, Nhà nước pháp quyền được hiểu tập trung theo hai khía cạnhchủ yếu sau:

Ở nghĩa chung nhất, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước trong đó phápluật (đạo luật) thống trị trong xã hội Nhà nước phải điều chỉnh được các quan

hệ xã hội bằng pháp luật, một quốc gia nào đó chủ yếu điều chỉnh bằng vănbản dưới luật thì quốc gia đó chưa đủ về chất của Nhà nước pháp quyền

Mặt khác, Nhà nước pháp quyền còn được hiểu là một hình thức tổchức Nhà nước và hoạt động chính trị quyền lực công khai (công quyền), thểhiện mối quan hệ bình đẳng giữa các cá nhân và Nhà nước dựa trên cở sở củapháp luật

Tại hội thảo về Nhà nước pháp quyền của các nước cùng sử dụng tiếngPháp, tổ chức tại Bê-nanh tháng 9 năm 1991, từ các giác độ khác nhau, luậtgia của trên 40 nước đã đưa ra các quan điểm như sau:

Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà ở đó quyền và nghĩa vụ của tất cả

và của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo hộ; Nhà nước pháp quyềnđược định nghĩa chung là một chế độ mà ở đó Nhà nước và các cá nhân phảituân thủ pháp luật, tức là một thứ bậc các quy phạm pháp luật được bảo đảmthực hiện bằng toà án độc lập; Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọnggiá trị cao nhất của con người; Nhà nước phải tuân thủ pháp luật và bảo đảmcho công dân được chống lại chính sự tuỳ tiện của Nhà nước, Nhà nước đề rapháp luật đồng thời phải tuân thủ pháp luật, tự đặt cho mình và các thiết chếcủa mình trong khuôn khổ pháp luật Phải có các cơ chế khác nhau để kiểmtra tính hợp pháp và hợp hiến của pháp luật cũng như các hành vi của bộ máyhành chính đặc điểm của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải tạo ra chocông dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc trên

Trang 7

những điều được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Nhà nước phápquyền là một chế độ mà ở đó Hiến pháp thống trị, nhưng phải là một Hiếnpháp được xây dựng trên sự tự do và quyền công dân được bảo đảm thựchiện.

Trong cuốn tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX củaĐảng có định nghĩa: Nhà nước pháp quyền mà chúng ta quan niệm khôngphải là một kiểu nhà nước, trong lịch sử chỉ có bốn kiểu nhà nước: chủ nô,phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền nói một cách kháiquát là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổchức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nướcpháp quyền là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật Đương nhiên, bao giờpháp luật cũng mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầmquyền

Như vậy, lý luận về nhà nước pháp quyền là hệ thống các quan điểm, tưtưởng rất phức tạp, phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cậnnhà nước pháp quyền dưới giác độ tư tưởng, lý luận, bàn về các quan điểm,quan niệm về nhà nước pháp quyền Lý luận về Nhà nước pháp quyền và Nhànước pháp quyền XHCN đang còn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trongchương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 04

Khái niệm Nhà nước pháp quyền có nhiều cách tiếp cận khác nhau,nhưng chung quy lại Nhà nước pháp quyền là khái niệm bao hàm những nộidung rất phong phú, chứa đựng những đặc trưng, những mặt cơ bản, ghi nhậnmột trạng thái phát triển, một trình độ phát triển của Nhà nước và tiến bộ xãhội Tựu chung các ý kiến thường lấy các dấu hiệu đặc trưng để xác định nộihàm của khái niệm nhà nước pháp quyền, như: tính tối cao của Luật, sự phâncông quyền lực, dân chủ và bảo đảm quyền con người, trách nhiệm qua lạigiữa nhà nước và công dân; tính độc lập của nền tư pháp Theo đó: Nhànước pháp quyền hiểu chung nhất là Nhà nước được tổ chức và hoạt độngtrên cơ sở pháp luật, trong đó mọi chủ thể kể cả nhà nước đều phải tuân thủ

Trang 8

nghiêm chỉnh pháp luật - một hệ thống pháp luật có tính phổ biến cao (đề caotính tối cao của Hiến pháp và luật), phù hợp với ý chí, thể hiện đầy đủ nhữnggiá trị cao cả nhất của xã hội, của con người.

2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước pháp quyền.

Tư tưởng về nhà nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống

lý luận của V.I.Lê-nin, bởi nó không thuần túy là những lý thuyết khoa học

mà gắn bó chặt chẽ với quan điểm chính trị; nó không đơn giản là những suy

tư tinh thần mà gắn liền với những hoạt động thực tiễn sinh động của ông.Chính vì vậy, tìm hiểu những tư tưởng của V.I.Lê-nin về nhà nước có ý nghĩađặc biệt quan trọng đối với chúng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiệnNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin tiếp tụckhẳng định rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vongcủa nó là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chứcthống trị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy đểmột giai cấp này trấn áp giai cấp khác”

Tính chất đặc biệt của nhà nước chuyên chính vô sản với tư cách hìnhthức chuyển tiếp trước khi đạt đến trạng thái tự tiêu vong của nhà nước đượcV.I.Lê-nin làm rõ trong việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tính

chuyên chính và tính dân chủ của nhà nước.

V.I.Lê-nin cho rằng, nếu tính giai cấp là bản chất của mọi nhà nước, thìdân chủ hay chuyên chính cũng chỉ là hai mặt của bản chất đó mà thôi “Bất

cứ một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sựkhác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với

kẻ đi bóc lột, ở chỗ có dùng bạo lực đối với giai cấp những người lao động vànhững người bị bóc lột không” Đối với V.I.Lê-nin: “Chuyên chính cách

Trang 9

mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành được

và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản ”

Chuyên chính vô sản không hề đối lập với dân chủ, mà là phần bổsung, là hình thức thể hiện của dân chủ “Chuyên chính vô sản, nghĩa là việc

tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị đểtrấn áp bọn áp bức, thì không thể giản đơn đóng khung trong việc mở rộng

chế độ dân chủ được Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ

-lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho

nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu - chuyên chính vô sản còn thựchành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột,bọn tư bản”

Như vậy, sự phát triển của V.I.Lê-nin đối với quan điểm của C.Mác vàPh.Ăng-ghen về nhà nước, điểm quan trọng nhất chính là ở chỗ, đặc tính phổbiến của mọi nhà nước đó là giai cấp Như thế, biểu hiện về mặt lịch sử trongsuốt quá trình phát triển của xã hội loài người là mối quan hệ biện chứng củahai mặt chuyên chính và dân chủ Rõ ràng, trên phương diện này, nhà nước làmột cách thức tổ chức đời sống xã hội, một giai đoạn trong tiến trình pháttriển của xã hội, là một vòng khâu của sự phát triển Đây chính là quan niệmduy vật và biện chứng có tính nguyên tắc trong việc lý giải đời sống xã hộinói chung, vấn đề nhà nước nói riêng và gắn liền với những cố gắng to lớncủa V.I.Lê-nin trong sự phát triển chủ nghĩa Mác

2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về nhà nước pháp quyền.

2.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh

Trong thời kỳ nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng nhà nướcpháp quyền của dân, do dân, và vì dân vì mục tiêu dân giầu nước mạnh xã hộicông bằng văn minh thì tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của HồChí Minh về nhà nước pháp quyền nói riêng đã có vị trí, vai trò vô cùng quan

Trang 10

trọng trong việc xây dựng nhà nước thật sự dân chủ, một nhà nước thật sự củadân vì quyền và lợi ích của nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân là một hệ thống các quan điểm lý luận về bản chất, chức năng, cơchế hoạt động, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước;trong đó, quan niệm về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng nhất quán, thểhiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền Trong di sản lý luận củamình, Hồ Chí Minh đã có lần chính thức sử dụng thuật ngữ "chế độ pháp trị".Tiếp xúc với nền văn minh Âu - Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, điều hànhđời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dânchủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại

Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trongsáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là: Chúng

ta phải có một hiến pháp dân chủ Cùng với chủ trương xây dựng Hiến pháp,ngày 10-10-1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh SL/47 cho phép sử dụng một

số điều khoản của pháp luật cũ để điều chỉnh các quan hệ dân sự Trong nhậnthức của Hồ Chí Minh, pháp luật của các chế độ xã hội có những giá trị nhânbản chung mà chúng ta có thể kế thừa, phát triển Ở đây, Hồ Chí Minh đãnhìn nhận pháp luật trong chiều sâu văn hóa của nó

Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiếnpháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi vàban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1959 Trong tư duy Hồ Chí Minh,một khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp luật, nhất là đạo luật "gốc"

- Hiến pháp, cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý cácquan hệ xã hội đã phát sinh và định hình

Ngoài hai bản Hiến pháp, từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh còn chỉđạo soạn thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật.Khối lượng văn bản luật đó luôn thể hiện rõ việc đề cao tính nhân đạo và nhân

Trang 11

văn, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của nhà nước mà nhân dân là chủ và donhân dân làm chủ.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ; mọicông dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật

cả về quyền lợi và nghĩa vụ; ai vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm khắc,cho dù người đó ở vị trí nào trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhànước Theo Người, hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi người đềunghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; pháp chế chỉ bảo đảm khi các quy phạmpháp luật được thực thi trong các quan hệ xã hội; mọi hành vi vi phạm phápluật phải bị xử lý Như vậy, trong thực thi luật pháp, việc thưởng phạt phảinghiêm minh Vì nếu thưởng phạt không nghiêm minh thì người cúc cung tậntụy lâu ngày cũng thấy chán nản, còn người hư hỏng, vi phạm pháp luật, kỷluật sẽ ngày càng lún sâu vào tội lỗi, làm thiệt hại cho nhân dân Trong mộtnước, thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiếnmới thắng lợi, kiến quốc mới thành công

Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người mà làcông cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người Tư tưởng pháp quyền củaNgười không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi trong các văn bảnpháp luật mà còn thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho

ấm no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào

theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam Vì thế, pháp quyền

Hồ Chí Minh là pháp quyền đặc biệt, pháp quyền nhân nghĩa - một thứ nhân

nghĩa có nội hàm triết lý, mang đậm tính dân tộc và dân chủ sâu sắc

Trên thế giới, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây tồn tại hai phương thứctrị nước chủ yếu: đức trị và pháp trị Bản thân Hồ Chí Minh cũng đã có lần đề

cập đến chế độ pháp trị: Tư pháp cần góp phần của mình là thực hiện chế

độ pháp trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ

nhân dân Nhưng trong thực tế, Người đã kết hợp chặt chẽ việc quản lý, điềuhành xã hội bằng pháp luật với việc tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách

Trang 12

mạng, nâng cao bản lĩnh công dân, giác ngộ lý tưởng cách mạng cho cán bộ,đảng viên và quần chúng nhân dân Hồ Chí Minh nhận rõ cả pháp luật và đạođức đều dùng để điều chỉnh hành vi của con người, nâng con người lên,

hướng con người tới chân, thiện, mỹ Pháp luật góp phần hoàn thiện nhân

cách làm người, còn đạo đức làm cho người ta thực hiện luật pháp một cách

tự giác Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là cơ sở để xây dựng,thực hiện pháp luật Nền pháp quyền của ta là một nền pháp quyền hợp đạođức, có nhân tính Hồ Chí Minh lý giải: nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũngnhư mọi vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người Ở đời vàlàm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị ápbức Phải làm sao đóng góp vào việc làm cho nước độc lập, dân được tự do,hạnh phúc, nhân loại khỏi đau khổ

Sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minhđược thể hiện ở quan niệm xử lý các hành vi phạm pháp, nguyên tắc "cólý","có tình" chi phối mọi hành vi ứng xử của con người, tôn trọng cái lý, đềcao cái tình, tùy từng trường hợp, tình huống cụ thể mà Hồ Chí Minh nhấnmạnh mặt này hay mặt khác Xử lý hành vi vi phạm pháp luật phải kịp thời,nghiêm minh Pháp luật không loại trừ một ai, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi cáixấu, cái ác, khuyến khích, nâng đỡ, phát huy cái tốt, cái thiện vốn có trongmỗi con người, chứ không đơn thuần trừng phạt, răn đe Trong việc thực thipháp luật cũng phải bảo đảm tính hài hòa giữa các mặt tưởng chừng như đốilập nhau Phương châm của Hồ Chí Minh là: không xử phạt là không đúng;song, cái gì cũng trừng phạt cả cũng là không đúng, nên phải tránh lạm dụngpháp luật Tính nghiêm minh và hiệu lực của luật pháp không chỉ phụ thuộcvào sự đúng đắn của pháp luật mà trong quan hệ thực tế còn phụ thuộc vào cảcái tâm của chính người đại diện cho pháp luật

2.2.2 Quan niệm của Đảng ta

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu các giá trị tư tưởng hiện đạicủa loài người, trước nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước, Đảng Cộng sản

Trang 13

Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.Quan điểm về nhà nước pháp quyền của Đảng là một bộ phận hợp thành tổngthể lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền là một quá trình Trướcnhững năm 90 của thế kỷ XX, trên bình diện lý luận, chúng ta chỉ dùng cáckhái niệm "Nhà nước chuyên chính vô sản", "Nhà nước xã hội chủ nghĩa".Đến năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóaVII, khái niệm "nhà nước pháp quyền" đã được nêu lên Từ đó, Đảng ta nhậnthức rất rõ rằng, nhà nước pháp quyền là một thành tựu vĩ đại của tư tưởngnhân loại; xét về bản chất, không chỉ có một loại nhà nước pháp quyền duynhất; mà dựa trên cơ sở kinh tế - xã hội, bản chất chế độ xã hội khác nhau,vẫn tồn tại Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa

Nhận thức này ngày càng thống nhất trong toàn Đảng và được khẳngđịnh rõ tại Đại hội IX của Đảng (4-2001): Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để

thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do

dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp

giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức,cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và phápluật Quan điểm này đã được thể hiện trong việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và cụthể hóa trong Điều 2: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữagiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp

Trang 14

Trong Dự thảo Đề cương các Văn kiện trình Đại hội X của Đảng, xâydựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được khẳng địnhthành một vấn đề có tính nguyên tắc với các nội dung: nghiên cứu, thể chếhóa và xây dựng cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyềnlực nhà nước đều thuộc về nhân dân; nguyên tắc quyền lực nhà nước là thốngnhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp; xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp, đồng thờiđịnh rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật trong đờisống kinh tế - xã hội của đất nước

3 Sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản

Trên cơ sở các tiêu chí chung về nhà nước pháp quyền, chúng ta có thểnhận thấy tương đối rõ ràng sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa với Nhà nước pháp quyền tư sản

1 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tưsản đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máynhà nước do pháp luật quy định Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về

tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy của hai nhà nước đó có nhiều điểmkhác nhau rất cơ bản Rõ nhất là, sự khác nhau trong các quy phạm của hiếnpháp và pháp luật về tổ chức, cơ cấu nhân sự và việc xây dựng, vận hành của

bộ máy quyền lực như: Quốc hội và Nghị viện; Tổng thống và Chủ tịch nước,Thủ tướng Chính phủ, Tòa án, Tòa án Hiến pháp, v.v Pháp luật trong Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc

về nhân dân, do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chínhphủ ) và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình làchủ thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của Quốc hội, Chínhphủ hoặc tổ chức ra Quốc hội và Chính phủ nhiệm kỳ mới Trong khi đó,Hiến pháp và pháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng

Trang 15

thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặcgiải tán Chính phủ

2 - Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và côngdân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, vì pháp luật xã hội chủnghĩa thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân Trong Nhà nướcpháp quyền tư sản, nhà nước và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao củapháp luật, nhưng pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, khôngthể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí,nguyện vọng của một bộ phận nhân dân, đó là những người giàu, là giai cấp

tư sản Nói cách khác, luật pháp của Nhà nước pháp quyền tư sản chỉ bảo vệlợi ích của giai cấp tư sản và gạt ra ngoài lề quyền lợi của người lao động -những người bị áp bức bóc lột Đây là nội dung khác biệt cơ bản nhất giữaNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản

3 - Nhà nước pháp quyền tư sản coi thuyết "tam quyền phân lập" là họcthuyết cơ bản trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan lập pháp,hành pháp, tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩakhông thừa nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực nhà nước làthống nhất và thuộc về nhân dân; trong đó, có sự phân công, phối hợp, đểthực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm cho quyềnlực nhà nước thống nhất, được thực hiện với hiệu quả cao nhất

4 - Về hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

và Nhà nước pháp quyền tư sản cũng có nhiều điểm khác nhau Bên cạnh sựkhác nhau về tính giai cấp, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chỉ côngnhận các quy phạm pháp luật khi nó được xác lập và thông qua theo một trình

tự và thủ tục nhất định; trong khi đó, Nhà nước pháp

quyền tư sản thường coi "án lệ" hoặc "tập quán" như một loại quy phạmpháp luật "bất thành văn"

Trang 16

Chương 2.

THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 - Đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài việc bảo đảmcác tiêu chí của nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa nói riêng, còn có một số đặc điểm sau:

1 - Về quá trình hình thành và phát triển, Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam được hình thành và phát triển trên cơ sở đánh đổ chế độphong kiến, thực dân, không kinh qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tưbản Đây là đặc điểm lịch sử rất quan trọng cho chúng ta thấy rõ điểm xuấtphát của quá trình xây dựng nhà nước cùng với những khó khăn, yếu kém của

hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc xã hội Qua mấy chục năm phấn đấu,xây dựng và đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động, đến Hội nghị đạibiểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), lần đầu tiên trong văn bảnchính thức của Đảng, chúng ta mới xác định việc xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

2 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước củanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đây là đặc điểm rất quan trọng mà nhànước pháp quyền tư sản không thể có được Thực chất đặc điểm này của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm bảo đảm tính giai cấp, tínhnhân dân của Nhà nước ta Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và

do nhân dân định đoạt, nhân dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng

và vận hành của bộ máy quyền lực nhà nước nhằm đáp ứng ngày càng cao lợiích của nhân dân và của toàn bộ dân tộc Đây còn là sự thể hiện về tính ưuviệt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ khác

Trang 17

3 - Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lựcnhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan chứcnăng của nhà nước để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.Đây là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước rất mới mẻ,chúng ta phải lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm nghiệm Về nguyên tắc, chúng takhông thừa nhận học thuyết "tam quyền phân lập" vì nó máy móc, khô cứngtheo kiểu các quyền hoàn toàn độc lập, không có sự phối hợp, thậm chí đi đếnđối lập, hạn chế sức mạnh của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Tuynhiên, chúng ta cũng không thể trở lại với nguyên tắc tập quyền, tức là tậptrung toàn bộ quyền lực cao nhất của nhà nước lập pháp, hành pháp và tưpháp cho một cá nhân, hoặc một cơ quan tổ chức nhà nước Bởi vì, làm nhưvậy là đi ngược lại lịch sử tiến bộ của nhân loại.

Vấn đề đặt ra yêu cầu chúng ta phải nghiên cứu giải quyết đó là Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải có sự phân công, phân địnhthẩm quyền cho rõ ràng, minh bạch để thực hiện có hiệu quả với chất lượngcao ba quyền, tránh tình trạng chồng chéo, tùy tiện, lạm quyền

Theo Hiến pháp và pháp luật, Quốc hội là cơ quan duy nhất được giaothực hiện thẩm quyền lập pháp, bên cạnh đó Quốc hội còn được giao thựchiện 13 nhiệm vụ nữa (xem Điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001); Chínhphủ được phân công thực hiện thẩm quyền hành pháp; Viện Kiểm sát nhândân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao được phân công thực hiện thẩm quyền tưpháp Như vậy, Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dântối cao không phải là cơ quan được giao nhiệm vụ lập pháp, nhưng hiện nayLuật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổchức Tòa án nhân dân lại quy định các cơ quan đó trình các dự án luật, pháplệnh trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội Có ý kiến cho rằng,không nên giao cho Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân tốicao chủ trì soạn thảo và trình Quốc hội các dự án luật, pháp lệnh, vì đây làthẩm quyền của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; hơn nữa, khái

Trang 18

niệm lập pháp phải bao hàm toàn bộ nội dung của quá trình soạn thảo dự ánluật, thông qua và ban hành luật, có như vậy mới bảo đảm tính khách quantoàn diện và chất lượng văn bản pháp luật

4 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạtđộng theo nguyên tắc tập trung dân chủ Một trong số những nội dung cơ bảnnhất của nguyên tắc tập trung dân chủ là thiểu số phục tùng đa số, cấp dướiphục tùng cấp trên Tập trung dân chủ được thể hiện trong quá trình tổ chức

và xây dựng bộ máy quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khi áp dụng nguyên tắcnày cần cân nhắc, xem xét các điều kiện cần và đủ để phát huy tác dụng, hiệuquả tích cực của nguyên tắc này; đặc biệt phải lưu ý đến quyền hạn và tráchnhiệm cá nhân trong việc thực hiện công vụ của bộ máy công quyền hiện nay

5 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệmbảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, công dân phải làm trònnghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội Mối quan hệ qua lại giữa Nhànước với công dân, giữa dân chủ với kỷ cương trong Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam phải do pháp luật quy định và điều chỉnh Đây là mộtđặc điểm quan trọng, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng nhà nướcpháp quyền hiện nay và phải được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội

6 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hộichủ yếu bằng pháp luật, không ngừng tăng cường và đổi mới công tác lậppháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời, thường xuyên quan tâm đến việctuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân

7 - Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Đây là đặc điểm nổi bật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namđược Hiến pháp ghi nhận và nhân dân Việt Nam đồng tình ủng hộ Đảng lãnhđạo Nhà nước thông qua cương lĩnh, đường lối, chính sách được thể chế bằngpháp luật Đảng không làm thay Nhà nước và phải hoạt động trong khuôn khổcủa Hiến pháp và pháp luật Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh

Ngày đăng: 16/09/2016, 22:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w