Nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp,đông người, dễ phát sinh thành “điểm nóng” ảnh hưởng đến an ninh chính trị,trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện để các thế lực phản động và thù địch l
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến phápnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là công cụ pháp lý để công dân bảo
vệ quyền và lợi ích khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủnghĩa Tố cáo là một kênh thông tin phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máynhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức
Công dân tố cáo là thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc xâydựng và củng cố bộ máy nhà nước ngày càng phát huy hiệu quả trong quản lýnhà nước và quản lý xã hội; thực hiện quyền tố cáo thể hiện rõ trách nhiệmcủa công dân trong việc giám sát hoạt động quản lý của Nhà nước để xâydựng bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh đồng thời đối với cảviệc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, góp phần ngăn chặn, tiếntới loại trừ những hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu quầnchúng của một bộ phận cán bộ công chức nhà nước
Tố cáo của công dân là một hình thức bảo đảm pháp chế xã hội chủnghĩa trong quản lý hành chính nhà nước Giải quyết tố cáo của các cơ quanhành chính nhà nước phản ánh yêu cầu của dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảođảm quyền tố cáo của công dân được quy định trong Hiến pháp
Pháp luật nước ta quy định giải quyết tố cáo là chức năng, nhiệm vụcủa các cơ quan nhà nước Giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nhànước nghiêm minh, đúng pháp luật là góp phần phát huy dân chủ, đảm bảothực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa Giải quyết tố cáo góp phần bảo vệ lợiích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.Việc giải quyết khiếu kiện nếu không được quan tâm đúng mức, không đượcgiải quyết đúng đắn đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng củacông dân, ảnh hưởng xấu đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, anninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trang 2Như vậy, tố cáo và giải quyết tố cáo có vai trò quan trọng trong bảo vệlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cánhân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước và ổn định tìnhhình kinh tế - xã hội
Giải quyết tố cáo còn là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.Thông qua giải quyết tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sựphù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật đã ban hành, từ đó có cơ sở thựctiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường hiệu lực quản
lý Nhà nước
Từ nhiều năm nay, tình hình tố cáo luôn là vấn đề mà Đảng, Nhà nước
và toàn xã hội rất quan tâm Giải quyết tố cáo của công dân là một vấn đềđược Đảng, Nhà nước đặc biệt chú trọng trong điều kiện xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay Để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho côngtác giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh giải quyếtkhiếu nại tố cáo của công dân năm 1981, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đãđược sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005), Luật Tố cáo năm 2011 Đồng thời,Đảng và Nhà nước ta tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các văn bảnpháp luật đã ban hành Chính phủ có giải pháp đồng bộ để thực thi pháp luật
Các văn bản pháp luật được áp dụng, thực hiện, đã tạo cơ sở pháp lý vànhững điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tố cáo; là căn cứ đểcác cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu tố, có tác động tích cựcđến tình hình tố cáo và giải quyết tố cáo Do vậy, các vụ việc phức tạp, đôngngười có tiềm ẩn thành “điểm nóng” đã được giải quyết cơ bản, góp phần ổnđịnh tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ, nhiều hoạt động kinh tế xã hội
đã và đang biến động rất nhanh Tốc độ phát triển kinh tế tăng cao Tuynhiên, một số vấn đề phát sinh trong quản lý nhà nước chưa được điềuchỉnh và xử lý kịp thời
Trang 3Tình hình tố cáo trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, cũng nhưmột số địa phương khác trong cả nước đang diễn biến phức tạp với số lượngđơn thư nhiều, có nhiều vụ việc kéo dài Khiếu kiện tập trung vào lĩnh vực viphạm trong quản lý, sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, quản lý trật tự xâydựng đô thị, thu chi tài chính ngân sách ở xã, phường Mặt khác, Hà Nội làtrung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước, nơi tập trung các cơquan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, là nơi diễn ra rất nhiều sự kiện chính trịquan trọng của đất nước, do vậy chịu ảnh hưởng thêm của rất nhiều vụ việckhiếu kiện từ các địa phương khác về đây Nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp,đông người, dễ phát sinh thành “điểm nóng” ảnh hưởng đến an ninh chính trị,trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện để các thế lực phản động và thù địch lợidụng nhằm mục đích chống phá Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thời gian gần đây tình hình tố cáo của công dân trên địa bàn Hà Nộigia tăng về số lượng, nội dung phức tạp, nhất là khiếu kiện đông người.Nguyên nhân gia tăng số vụ việc tố cáo và tính chất, mức độ phức tạp củacác vụ việc này là:
Số lượng các văn bản pháp luật nhiều, còn một số bất cập, liên tục thayđổi và phức tạp, quy định về một số vấn đề chưa đủ rõ, chồng chéo, mâuthuẫn, chính sách pháp luật thiếu khả thi, thiếu các quy định cụ thể; cơ chế, tổchức và hoạt động của các cơ quan được giao nhiệm vụ giải quyết tố cáo cũngchưa hợp lý
Một số cán bộ làm công tác giải quyết tố cáo cũng chưa đáp ứng đượcyêu cầu, nhiệm vụ được giao Trình độ, năng lực cán bộ, nhất là ở cơ sở cònnhiều hạn chế, công tác quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém Nội dung tố cáochủ yếu là cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, lạm quyền trong thihành công vụ, gian lận, vi phạm pháp luật liên quan đất đai, xây dựng, giảiphóng mặt bằng
Vấn đề đặt ra là hoàn thiện pháp luật giải quyết tố cáo, hoàn thiện cơchế giải quyết tố cáo, cần có điều kiện đảm bảo công tác giải quyết tố cáo đạt
Trang 4hiệu quả trở nên rất cần thiết, cấp bách trong điều kiện xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Công tác giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhànước thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội để đạt hiệu quả cao là mộtnhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng tạo nền tảng ổn định, vững chắc xâydựng và phát triển thủ đô văn minh hiện đại
Là một cán bộ đã và đang thực hiện công tác giải quyết tố cáo trên địabàn thành phố Hà Nội, tôi luôn suy nghĩ, trăn trở tìm ra phương hướng, giảipháp để công tác giải quyết tố cáo đạt hiệu quả cao, giảm thiểu số lượng các
vụ tố cáo tồn đọng, kéo dài góp phần làm ổn định tình hình chính trị, xã hội
để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Đây là lý do tôi
chọn đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội” để thực hiện Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và
Lịch sử về Nhà nước và Pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Vị trí đặc biệt của quyền tố cáo của công dân, tầm quan trọng và mức độphức tạp của công tác giải quyết tố cáo của công dân đã thu hút sự quan tâmsâu sắc của giới nghiên cứu và giới quản lý trong và ngoài nước Từ góc độ khoahọc pháp lý, các công trình nghiên cứu liên quan tới chủ đề này đã đạt tới một sốlượng đáng kể và được công bố dưới nhiều hình thức ấn phẩm khác nhau
Trước hết, phải kế đến các công trình nghiên cứu của các Trường đạihọc, các Bộ ngành, trong đó hầu hết các công trình nghiên cứu về pháp luật tốcáo được thực hiện bởi Thanh tra Chính phủ Theo công bố của Thanh traChính phủ, từ năm 2007 đến hết năm 2011, Thanh tra Chính phủ thực hiện:
- 01 đề tài cấp nhà nước "Khiếu nại, tố cáo hành chính - cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp" (chủ nhiệm đề tài: TS Lê Tiến Hào, Phó Tổng Thanh
tra Chính phủ)
Trang 5- 10 đề tài nghiên cứu liên quan trực tiếp tới công tác giải quyết tố cáocủa cơ quan hành chính nhà nước về tố cáo, có 03 đề tài cấp bộ:
+ Đề tài cấp Bộ: “Cơ sở xác định trách nhiệm của Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng” (2010), do ThS Nguyễn Tuấn Khanh - Trưởng
phòng Nghiên cứu và Đào tạo, Viện Khoa học Thanh tra làm Chủ nhiệm đềtài;
+ Đề tài cấp Bộ: “Cơ sở xử lý các hành vi vi phạm Luật khiếu nại, tố cáo”, (2010), do ThS Nguyễn Văn Kim - Phó Cục trưởng Cục I, Thanh tra
Chính phủ làm Chủ nhiệm đề tài;
+ Đề tài cấp Bộ: “Đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay”, (2008),
do TS Đỗ Gia Thư - Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ làm Chủnhiệm đề tài
- 07 đề tài cấp cơ sở, trong đó đáng chú ý là:
+ Đề tài: “Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện hệ thống quy định nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo”, (2011), ThS Nguyễn Huy Hoàng,
Trưởng khoa nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo, Trường Cán bộ Thanh traChủ nhiệm;
+ Đề tài: “Cơ chế bảo vệ người tố cáo ” do ThS Nguyễn Văn Tuấn,
Trưởng phòng Tuyên truyền, thẩm định và kiểm tra văn bản pháp luật - VụPháp chế, Thanh tra Chính phủ làm Chủ nhiệm đề tài;
+ Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận
và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng của cơ quan Thanh tra Chính phủ”
do đồng chí Trương Quốc Hưng - Phụ trách phòng Quản lý Khoa học, ViệnKhoa học Thanh tra làm Chủ nhiệm đề tài;
+ Đề tài: “Xây dựng Quy chế phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người vượt cấp lên Trung ương” do đồng chí Nguyễn Tiến Binh - Phó Vụ
trưởng Vụ VI, Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm đề tài…
Các công trình nghiên cứu kể trên đã góp phần không nhỏ làm rõ nhiều
Trang 6vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết tố cáo ở Việt Nam hiện nay Nhữngcông trình này đã đưa ra những nhận định, đánh giá về thực trạng và đề ra nhữngphương hướng và giải pháp hoàn thiện có tính khả thi về giải quyết tố cáo ở ViệtNam hiện nay Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đề cập cụ thể thực trạnggiải quyết tố cáo trên địa bàn Hà Nội cũng như đưa ra những kiến nghị nhằmhoàn thiện pháp luật tố cáo dựa trên cơ sở tình hình cụ thể của thủ đô Hà Nội.
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu các cấp, đã có một số Luận án tiến sĩ vàluận văn thạc sĩ luật học tiếp cận nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chủ
Các công trình nói trên đã phân tích lịch sử hình thành và phát triển củapháp luật khiếu nại, tố cáo từ năm 1945 đến nay; đánh giá thực trạng pháp chếXHCN trong hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo ở Việt Nam trong giai đoạnhiện nay; kiến nghị những giải pháp nhằm tăng cường pháp chế XHCN tronghoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo Mặc dù vậy, vai trò của cơ quan hànhchính nhà nước trong giải quyết tố cáo của công dân cũng như sự thể hiện vai trò
đó trong một không gian cụ thể lại chưa được chú ý đúng mức Hơn nữa, dođược thực hiện cách đây khá lâu nên nhiều thông tin đã có phần trở nên lạc hậu
Ngoài ra, có một số lượng lớn các bài viết đăng trên các tạp chí chuyênngành bàn về các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật tố cáo ở Việt Nam
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo những nguồn tư liệu tác giả có thể tiếp cận tới thời điểm này thìcác công trình nghiên cứu của nước ngoài có đề cập đến giải quyết tố cáo ởViệt Nam chủ yếu nằm trong các công trình nghiên cứu do các tổ chức Việt
Trang 7Nam thực hiện dưới sự tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ Những côngtrình này chủ yếu hướng tới vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cáchthủ tục hành chính có liên quan đến công tác giải quyết tố cáo ở Việt Nam.Ngoài ra còn có một số lượng rất ít các nghiên cứu về nhân quyền có đề cập
đến vấn đề tố cáo ở Việt Nam hiện nay, nhưng ở mức độ rất mờ nhạt
Nghiên cứu pháp luật nước ngoài về tố cáo phải kể đến cuốn " Giải pháp thay thế sự im lặng - Bảo vệ người tố cáo ở 10 quốc gia Châu Âu " (sách
tham khảo/Anja Osterhaus, Craig Fagan; Hoàng Thị Thu Hương dịch; ĐàoThị Nga h.đ), Nxb Chính trị Quốc gia, 2011 Cuốn sách đã thông qua cuộckhảo sát tại 10 quốc gia Châu Âu: Bungary, Cộng hòa Séc, Extônia… cungcấp cho các nhà hoạch định chính sách những thông tin thực tế trong vấn đềtìm ra những giải pháp bảo đảm an toàn cho người tố cáo và cơ chế thực thipháp luật để bảo vệ người tố cáo Đây là những thông tin bổ ích cho ngườinghiên cứu về quá trình giải quyết tố cáo
Nhìn chung, có khá nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khácnhau về pháp luật tố cáo và công tác giải quyết tố cáo của công dân do cơquan hành chính nhà nước thực hiện ở Việt Nam Tuy nhiên, vẫn còn cónhiều vấn đề lý luận và thực tiễn còn vướng mắc cần tiếp tục nghiên cứu làmsáng tỏ Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, đầy
đủ về tình hình tố cáo và công tác giải quyết tố cáo tại một địa phương cụ thể
là thành phố Hà Nội Đó cũng chính là một trong những lý do giúp tác giả
quyết định chọn đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội” để thực hiện Luận văn Thạc sỹ của mình.
Đây là vấn đề mới, song luận văn tiếp thu một cách có chọn lọc nhữnghạt nhân hợp lý của các công trình khoa học pháp lý có liên quan, để pháttriển và hoàn chỉnh vấn đề nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục tiêu tổng quát là tăng cường nhận thức lý luận
Trang 8về công tác giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nướcthực hiện và xây dựng các luận cứ khoa học để tiếp tục nâng cao hiệu quảcông tác giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thựchiện trên địa bàn Hà Nội nói riêng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền tố cáo của côngdân; trách nhiệm của nhà nước trong tôn trọng, bảo vệ, tổ chức thực hiệnquyền tố cáo của công dân; nội dung, thẩm quyền và quy trình giải quyết tốcáo của cơ quan hành chính nhà nước; các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giảiquyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
- Đánh giá, phân tích tình hình tố cáo của công dân và thực trạng phápluật, thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy giải quyết tố cáo trên địabàn thành phố Hà Nội Từ đó chỉ ra ưu điểm, hạn chế , nguyên nhân và bàihọc kinh nghiệm về công tác giải quyết tố cáo do cơ quan hành chính nhànước thực hiện trên địa bàn Thủ đô
- Xác định các yêu cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả côngtác giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiệntrên địa bàn thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến quyền tố cáo
và trách nhiệm, thẩm quyền, nội dung và quy trình giải quyết tố cáo của cơquan hành chính nhà nước trên cơ sở Luật nhân quyền quốc tế và pháp luậtViệt Nam hiện hành
- Luận văn nghiên cứu thực tiễn công tác giải quyết tố cáo của côngdân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện tại địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 9và 4 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi thời gian: Công tác giải quyết tố cáo của công dân do cơquan hành chính nhà nước thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm
2009 đến năm 2011 (thời điểm khi thành phố Hà Nội thực hiện điều chỉnh địagiới hành chính theo Nghị quyết số 15/2008/NQ - QH12 ngày 29/2/2008 củaQuốc hội đến nay)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật - biện chứng vàduy vật - lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối,quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về giải quyết tố cáo
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong khi thực hiện
đề tài là: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử, phươngpháp so sánh, phương pháp thống kê và điều tra xã hội học, phương phápđánh giá thực trạng
6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận về công tác giảiquyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
- Luận văn thể hiện cách nhìn khách quan, đầy đủ về thực trạng tìnhhình tố cáo, kết quả đã đạt được trong quá trình giải quyết tố cáo của cơ quanhành chính nhà nước tại Hà Nội, những hạn chế, bất cập của công tác giảiquyết tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước tại Hà Nội, nguyên nhân củanhưng ưu điểm và hạn chế trong công tác giải quyết tố cáo của công dân do
cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trên địa bàn Hà Nội
- Luận văn nêu một hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệuquả công tác giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nướcthực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về tình hình tố cáo và công tác giải
Trang 10quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trên địabàn thành phố Hà Nội từ khi điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị quyết
số 15/2008/NQ - QH12 ngày 29/2/2008 của Quốc hội
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, các nhà quản lýtrong quá trình xây dựng các phương án hoàn thiện pháp luật tố cáo, nâng caohiệu quả công tác giải quyết tố cáo của công dân ở nước ta hiện nay
- Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo học tập cho sinh viên Luật
và học viên cao học Luật tại các cơ sở đào tạo Luật ở Việt Nam hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 9 tiết
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
DO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN
1.1 QUYỀN TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG GIẢI QUYẾT TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
1.1.1 Tố cáo và quyền tố cáo của công dân
Theo Từ điển Tiếng Việt thì tố cáo là “báo cho mọi người hoặc cơ quan
có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó" hay “là vạch rõtội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận” [41]
Tố cáo là biểu hiện sự bất bình của người này về hành vi của ngườikhác và báo cho cơ quan, tổ chức, người khác biết để có thái độ, biện phápgiải quyết Tố cáo phản ánh những điều bất ổn đang diễn ra trong xã hội, cầnđược những thiết chế chính trị - xã hội có phương thức giải quyết
Giống như các quyền con người khác, tố cáo là một quyền tự nhiên, dotạo hóa ban tặng, gắn liền với con người, thiêng liêng và bất khả xâm phạm.Quyền tố cáo, quyền công dân là những giá trị xã hội, thuộc về mỗi cá nhâncon người Sự thụ hưởng, chọn lọc quyền này tùy thuộc vào mỗi cá nhân
Tố cáo và khiếu nại có những khác biệt về cả nội dung lẫn cách thứcgiải quyết Cụ thể:
Thứ nhất, chủ thể của tố cáo chỉ là công dân còn chủ thể của khiếu nại
là cơ quan Nhà nước, tổ chức và công dân
Thứ hai, tố cáo có đối tượng rất rộng, đó là "hành vi vi phạm pháp luật
của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệthại tới lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổchức" Còn đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hànhchính hoặc quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức
Thứ ba, mục đích của tố cáo không chỉ nhằm bảo vệ và khôi phục
quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo mà còn hướng tới lợi ích của Nhà
Trang 12nước và xã hội Còn mục đích của khiếu nại là hướng tới bảo vệ và khôi phụcquyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
Thứ tư, cách thức thực hiện tố cáo là việc người tố cáo "báo" cho
người có thẩm quyền giải quyết tố cáo "biết" về hành vi vi phạm pháp luật,trong khi đó, cách thức thực hiện của khiếu nại là việc người khiếu nại "đềnghị" người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại "xem xét lại" các quyết địnhhành chính, hành vi hành chính ,
Thứ năm, giải quyết tố cáo là việc người giải quyết tố cáo xác minh, kết
luận về nội dung tố cáo Từ đó áp dụng biện pháp xử lý cho thích hợp với tínhchất và mức độ sai phạm của hành vi chứ không ra quyết định giải quyết tố
cáo, trong khi đó, giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết
định giải quyết của người giải quyết khiếu nại
Từ những khác biệt nêu trên có thể thấy giữa hai khái niệm khiếu nại
và tố cáo có sự khác nhau không chỉ về nội dung mà còn khác nhau từ bảnchất của chúng Tuy nhiên, hai khái niệm này có liên quan với nhau, đều lànhững quyền cơ bản của công dân - quyền trong lĩnh vực hành chính - chínhtrị Khiếu nại, tố cáo là những quyền chính trị - pháp lý của công dân, hìnhthức của quyền dân chủ trực tiếp để nhân dân thực hiện quyền quản lý hànhchính nhà nước
Công dân có quyền tố cáo là một nguyên tắc của nhà nước pháp quyền,quyền tố cáo của công dân là để đối trọng và ngăn cản, hạn chế quyền lực nhànước nhằm bảo vệ quyền lực nhân dân, quyền và tự do của con người Tuynhiên, quyền tố cáo cũng phản ánh sự phát triển và mang đặc điểm xã hội, nóchịu sự chi phối của điều kiện tồn tại xã hội Mức độ thực hiện quyền tố cáotác động trở lại sự phát triển xã hội Quyền tố cáo, quyền công dân thể hiện
truyền thống và văn hóa dân tộc Quyền phát triển dưới ảnh hưởng của những
điều kiện về tư tưởng, văn hóa, truyền thống, dân tộc, tôn giáo
Quyền tố cáo là loại quyền có giới hạn, có thể bị hạn chế vì các lý do
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cả người khác, bảo vệ lợi ích chung của xã
Trang 13hội Phạm vi thực hiện quyền tố cáo được xác định bằng pháp luật của nhànước: trách nhiệm của nhà nước là bằng pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý choquyền tố cáo thông qua quy định về nội dung cụ thể của quyền, trách nhiệmpháp lý của mỗi cá nhân, tổ chức khi cản trở người khác thực hiện quyền tốcáo, khi lợi dụng, lạm dụng quyền hoặc trốn tránh nghĩa vụ…
Về phương diện chính trị - pháp lý, quyền tố cáo được các văn bảnpháp luật quốc tế về quyền con người và hầu hết hiến pháp của các quốc giaghi nhận, bảo vệ, đồng thời được cụ thể hóa và đảm bảo thực hiện bởi các luật
và văn bản hướng dẫn thi hành luật khác
Khoản 3 Điều 2 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trịnăm 1966 qui định: các quốc gia thành viên ký kết công ước phải ban hànhpháp luật và các biện pháp cần thiết phù hợp để bất cứ người nào bị xâmphạm quyền tự do đều được đền bù, đòi bồi thường thỏa đáng; tăng cườngnhững khả năng đưa ra những biện pháp khắc phục và bảo đảm các cơ quan
tư pháp, hành chính hay cơ quan lập pháp, các cơ quan có thẩm quyền sẽ phánquyết về quyền của bất kỳ người nào yêu cầu được hưởng biện pháp khắcphục; Bảo đảm các cơ quan thẩm quyền phải thi hành nghiêm chỉnh nhữngbiện pháp khắc phục đã được đề ra
Quyền tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đượcHiến pháp nước cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2001), ghi nhận tại Điều 74: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào”.
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức" (Khoản 2, Điều 2) [17]
Trang 14Khoản 2, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2012)
quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [20]
Như vậy, bản chất của quyền tố cáo là quyền tự vệ hợp pháp trướcnhững hành vi vi phạm để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích của xãhội Đó là quyền phản hồi, quyền dân chủ và hơn thế nữa, đó là quyền để bảo
vệ quyền
- Về mặt chủ thể: Chủ thể thực hiện quyền tố cáo là mọi công dân Pháp
luật quy định chỉ công dân có quyền tố cáo
- Về đối tượng: Đối tượng của tố cáo là mọi hành vi vi phạm pháp luật
của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợiích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức
- Về nguyên nhân phát sinh: Tố cáo phát sinh khi một người cho rằng
lợi ích của Nhà nước, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổchức đã bị xâm hại hoặc có thể bị xâm hại
- Về tính chất, mục đích: Tố cáo là hành động nhằm bảo vệ và ngăn
chặn khả năng vi phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, cơ quan, tổ chức
-Về cách thức thực hiện: công dân phát hiện và báo cho người có thẩm
quyền giải quyết tố cáo ''biết'' về hành vi vi phạm pháp luật
- Về trách nhiệm pháp lý: Người tố cáo phải chịu trách nhiệm pháp lý
khi cố tình tố cáo sai sự thật
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới thừa nhận tố cáo là quyền củacông dân, được nhà nước bảo đảm thực hiện Trung Quốc, Singapore, Anh,
Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc đều quy định về quyền này và có thiết chế đảm bảothực hiện Nhiều nước quy định bất kỳ công dân nào cũng có quyền báo cho
Trang 15cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật (hoặc nghi ngờ hành vi
vi phạm) của bất cứ cá nhân, tổ chức nào cho cơ quan có thẩm quyền Đối vớicác hành vi phạm tội về tham nhũng, hành vi phạm tội nói chung, tố cáokhông chỉ là quyền mà là nghĩa vụ của công dân Một số nước quy định cácbiện pháp khuyến khích để quyền tố cáo được thực hiện đầy đủ và mở rộng.Hàn Quốc, Nêpan, Pakixtan quy định mức thưởng cho những người có thôngtin phát hiện chính xác về tham nhũng
1.1.2 Nghĩa vụ đối ứng của nhà nước đối với quyền
tố cáo của công dân
Lịch sử xã hội loài người đã minh chứng, quyền tố cáo không do nhànước ban phát, song việc đảm bảo trên thực tế lại phụ thuộc rất nhiều vào hoạtđộng nhà nước, vào nhận thức và thái độ của hệ thống công quyền Tráchnhiệm của nhà nước trước hết thể hiện ở việc ghi nhận kịp thời và đầy đủ vềmặt pháp lý quyền tố cáo của công dân, đồng thời nhà nước không thể tùytiện tước bỏ, cắt xén quyền tự nhiên
Quyền con người nói chung, quyền tố cáo nói riêng là một trong nhữngtiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước Nhà nước pháp quyềnphải quán triệt và hiện thực hóa hai nguyên tắc pháp luật cơ bản về đảm bảoquyền con người: Cá nhân được làm tất cả trừ những điều pháp luật cấm; Cơquan, cán bộ nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép Hoạt độngcủa Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con ngườitrong đó có quyền tố cáo của công dân, tạo mọi điều kiện cho công dân thựchiện quyền tố cáo của mình theo đúng các quy định của luật pháp Mối quan
hệ giữa công dân và nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luậtpháp và mang tính bình đẳng
Trong quan hệ pháp luật này, công dân có quyền tố cáo, nhà nước, chủthể thực hiện quyền lực nhà nước, có nghĩa vụ bảo vệ những lợi ích cơ bảnnhất của nhà nước, xã hội và công dân Điều 51 Hiến pháp 1992 quy định:
“Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân Nhà nước bảo
Trang 16đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đốivới Nhà nước và xã hội Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp vàluật quy định” [14]
Như vậy, theo Điều 51, Điều 74 Hiến pháp 1992, Nhà nước ghi nhậnquyền tố cáo là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân và nhànước xây dựng các thiết chế bảo đảm cho công dân được hưởng các quyền,thực hiện quyền và cũng đòi hỏi công dân phải thực hiện các nghĩa vụ củamình đối với nhà nước
Xét từ yêu cầu, nghĩa vụ này, Nhà nước phải tổ chức thực hiện quyềnlực nhà nước thông qua quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đảm bảo quyền tốcáo của công dân được thực hiện
Về lĩnh vực lập pháp, Nhà nước phải tổ chức xây dựng Hiến pháp vàpháp luật quy định ràng buộc trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước,nhà chức trách trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền tố cáo, quy định nhữngthiết chế bảo đảm sự tôn trọng, bảo vệ quyền tố cáo một cách hữu hiệu Hiến
pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước và có giá trị pháp lý cao nhất; mọi văn
bản quy phạm pháp luật khác trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới quyền tốcáo và bảo đảm của Nhà nước đối với quyền tố cáo đều phải được ban hànhtrên cơ sở Hiến pháp và phải phù hợp với Hiến pháp Các quy định của Hiếnpháp về quyền tố cáo và bảo đảm của Nhà nước có ý nghĩa to lớn và tầm quantrọng đặc biệt trong xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệpháp luật liên quan tới quyền tố cáo
Nhà nước là chủ thể chính của việc “xã hội hoá” tổ chức thực hiện vàthực hiện pháp luật về quyền tố cáo Nhà nước vận động, động viên, thuyếtphục và tổ chức các tầng lớp nhân dân tham gia vào quá trình tuyên truyền,phổ biến, giải thích và giáo dục pháp luật về quyền tố cáo; xây dựng, nêugương và nhân rộng các điển hình của việc thực hiện pháp luật về quyền tốcáo; xây dựng, phát huy và duy trì dư luận xã hội lành mạnh trong việc thựchiện pháp luật về quyền tố cáo; xây dựng và thực hiện các chính sách, cơ chế,
Trang 17có biện pháp phù hợp đảm bảo, kết hợp với các tổ chức quần chúng trong việc
tổ chức thực hiện và thực hiện pháp luật về quyền tố cáo; thực hiện dân chủhoá, công khai hoá và minh bạch hoá quá trình nhân dân đóng góp nguồn lựccủa vào việc tổ chức thực hiện và thực hiện pháp luật về quyền tố cáo…
Nhà nước cần thiết thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất phápluật về quyền tố cáo Thực hiện pháp luật về quyền tố cáo được tiến hànhdưới bốn hình thức là tuân thủ (tuân theo) pháp luật, chấp hành (thi hành)pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Tuân thủ pháp luật vềquyền tố cáo là sự tự kiềm chế của các chủ thể pháp luật để không thực hiệnnhững hành vi bị pháp luật cấm; chấp hành pháp luật về quyền tố cáo là sựthực hiện các nghĩa vụ pháp lý bằng những hành vi tích cực của các chủ thểpháp luật (yêu cầu của Nhà nước ở đây là không chỉ phải thực hiện các nghĩa
vụ pháp lý mà còn phải thực hiện các nghĩa vụ ấy một cách đầy đủ, nghiêmchỉnh và thống nhất); sử dụng pháp luật về quyền tố cáo là sự thực hiện cácquyền pháp lý của các chủ thể pháp luật (yêu cầu của Nhà nước ở đây là cácchủ thể pháp luật phải thực hiện các quyền pháp lý trong phạm vi cho phépcủa pháp luật); áp dụng pháp luật về quyền tố cáo là hoạt động mang tính tổchức - quyền lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩmquyền nhằm vận dụng các quy phạm pháp luật hiện hành cho từng cá nhân, tổchức cụ thể trong từng trường hợp cụ thể
Cả bốn hình thức thực hiện pháp luật về quyền tố cáo nêu trên đều phụthuộc rất lớn vào trình độ ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân Do đó, cần
áp dụng đồng bộ các biện pháp pháp lý nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho
họ, như tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giải thích và giáo dục pháp luật;đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; xử lý kịp thời,nghiêm minh, nhanh chóng mọi vi phạm pháp luật
Nhà nước tổ chức thực hiện bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền tố cáo của
công dân, có chế tài xử phạt hành vi xâm phạm quyền tố cáo của công dân
Để bảo vệ có hiệu quả pháp luật hiện hành về quyền tố cáo, Nhà nước
Trang 18có các biện pháp: kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về quyền tố cáo,trong đó cần kết hợp chặt chẽ bốn hình thức kiểm tra: kiểm tra của Đảng,kiểm tra của Nhà nước, kiểm tra của các tổ chức xã hội và kiểm tra của nhândân, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội và Hộiđồng nhân dân các cấp Các thiết chế bảo vệ pháp luật xử lý kịp thời, nghiêmminh các vi phạm pháp luật về quyền tố cáo và phòng ngừa các vi phạm phápluật về quyền tố cáo, là những biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao hiệuquả bảo vệ pháp luật hiện hành về quyền tố cáo của công dân.
Cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm chính và trực tiếp trongviệc hiện thực hoá quyền tố cáo của công dân Quyền tố cáo có được thực thitrong thực tiễn hay không, được bảo đảm thực hiện trên thực tế như thế nàophụ thuộc nhiều vào hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, chức năng của cơquan hành chính nhà nước Từ đó cũng khẳng định rằng vai trò của công tácgiải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện làrất quan trọng Công tác giải quyết tố cáo của công dân là việc tổ chức chocông dân thực hiện quyền tố cáo của mình và yêu cầu các chủ thể khác cónghĩa vụ trách nhiệm tôn trọng, thực hiện quyền tố cáo của công dân
1.2 KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN DO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN
1.2.1 Khái niệm giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
1.2.1.1 Khái niệm giải quyết tố cáo
Theo từ điển tiếng Việt thì giải quyết là "làm cho không còn mọi trở ngại, khó khăn để đạt tới kết quả tốt đẹp" hoặc " làm cho không còn thành vấn
đề nữa" [41, tr.388]
Khái niệm giải quyết tố cáo được thể hiện trong quy định tại khoản 7,
Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011: “Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo”.
Khái niệm này đã bao quát khá đầy đủ trình tự, nội dung của việc giải
Trang 19quyết tố cáo
Do tính phức tạp của công tác giải quyết tố cáo nên trên thực tế hiệnnay còn có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Một số nhà nghiên cứu chorằng giải quyết tố cáo còn bao hàm cả việc thi hành quyết định xử lý tố cáocủa cơ quan cơ thẩm quyền và việc kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết tốcáo và thi hành quyết định xử lý tố cáo Cũng có ý kiến cho rằng việc giảiquyết tố cáo bao gồm nhiều vấn đề liên quan trong việc chỉ đạo, tổ chức thựchiện, bao gồm việc thẩm tra, xác minh nội dung tố cáo; việc kết luận, kiếnnghị các biện pháp xử lý; việc quyết định xử lý của người có thẩm quyền;việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện quyết định xử lý về tố cáo trên thực tế và cảviệc kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết tố cáo, thi hành quyết định xử lý
tố cáo Bên cạnh đó cũng có ý kiến không hoàn toàn thống nhất như vậy, màcho rằng việc thẩm tra, xác minh là công việc đương nhiên phải làm trong quátrình giải quyết tố cáo và việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện quyết định xử lý về
tố cáo là các công việc của các cơ quan quản lý nhà nước Hoặc cho rằng,giám sát hoạt động giải quyết tố cáo, việc xử lý của cơ quan nhà nước đối vớingười có hành vi vi phạm không nằm trong chu trình của hoạt động giải quyết
tố cáo Vì vậy, suy cho cùng giải quyết tố cáo là việc xử lý của nhà nước đối
pháp luật) và xử lý đối với “người” có hành vi vi phạm và có những biện
pháp khắc phục hậu quả do hành vi sai trái đó gây ra nhằm giữ gìn kỷ cương, trật tự an toàn xã hội "Người" ở đây được hiểu là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm.
Như vậy, giải quyết tố cáo là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước.Tuy nhiên, như trên đã phân tích, do sự đa dạng, phức tạp của các hành vi bị
Trang 20tố cáo có thể là hành vi vi phạm pháp luật hành chính, hình sự, kinh tế, laođộng…nên việc giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khácnhau và do rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh Việc giải quyết
tố cáo được áp dụng theo những thủ tục nhất định tùy vào tính chất, mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Những hành vi vi phạm ở mức độnhẹ thì bị xử lý bằng biện pháp hành chính và sẽ do cơ quan hành chính tiếnhành, còn những những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hộiđược quy định trong Bộ luật hình sự thì phải được các cơ quan tố tụng tiếnhành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ đã được pháp luật về tố tụng quy định.Chính vì vậy Luật Tố cáo hiện hành không quy định sâu về nội dung này màtập trung điều chỉnh về việc tố cáo và giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền giảiquyết của các cơ quan hành chính nhà nước
1.1.1.2 Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước
Trước hết, cơ quan hành chính nhà nước là một cơ quan nhà nước, nó
có 4 dấu hiệu cơ bản của một cơ quan nhà nước Đó là:
- Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máynhà nước được thành lập theo một trình tự thủ tục được pháp luật quy định
- Cơ quan nhà nước có chức năng, quyền hạn, trách nhiệm xác định
- Cơ quan nhà nước có cấu tạo bên trong theo quyết định pháp luật
- Cơ quan nhà nước nhân danh nhà nước thực hiện các hoạt động cótính quyền lực nhà nước
Chức năng của các cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước là tiếnhành các hoạt động quản lý nhà nước hay điều hành trên cơ sở chấp hànhpháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - hànhchính, văn hóa xã hội Nói cách khác, các cơ quan thuộc hệ thống hành chínhnhà nước thực hiện chức năng hành pháp bằng cách tiến hành các hoạt độngquản lý hành chính nhà nước Nó khác với hoạt động của các cơ quan tư phápthực chất cũng tiến hành hoạt động thi hành pháp luật, nhưng bằng cách tiếnhành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Tổ chức thực hiện
Trang 21pháp luật không phải đặc quyền của hệ thống hành chính nhà nước.
Dù phân loại cơ quan nhà nước theo cách nào thì vẫn đi đến thừa nhậnchung hệ thống cơ quan bao gồm Chính phủ, UBND các cấp trong bộ máynhà nước nước ta là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước hay quản lý nhànước hành pháp Từ những trình bày về dấu hiệu của cơ quan nhà nước và sựphân loại cơ quan hành chính nhà nước nêu trên có thể nêu khái niệm chung
về cơ quan hành chính nhà nước như sau:
Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của hệ thống hành chính nhà nước được thành lập theo thủ tục nhất định nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật
Theo khái niệm này, các cơ quan hành chính gồm Chính phủ và các bộ,ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp và các cơ quan chuyên mônthuộc UBND Nhưng cơ quan nào không thực hiện chức năng quản lý thìkhông phải cơ quan hành chính nhà nước Đối với các bộ phận thuộc UBNDcấp xã như văn phòng, tài chính cũng có thực hiện các nhiệm vụ quản lý,nhưng bản thân chúng không phải là các bộ phận có chức năng độc lập và cơcấu của chúng cũng chỉ như một tổ công tác nên cũng không xem các cơ cấunày là một cơ quan
Tuy nhiên, giữa các cơ quan trong và ngoài hệ thống hành chính nhànước cũng có những cơ quan có chức năng, nhiệm vụ có nét tương đồng,nhưng nội dung và mục đích hoạt động khác nhau nên thuộc về các cơ quankhác nhau ví dụ vụ tổ chức cán bộ của hệ thống tòa án và một vụ tổ chức cán
bộ của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước
1.2.1.3 Khái niệm giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
Phân tích khái niệm giải quyết tố cáo và khái niệm cơ quan hành chính
nhà nước trên đây, chúng ta có thể hiểu giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện là việc các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành xác minh, kết luận về những nội dung tố cáo của công dân và
Trang 22quyết định xử lý đối với “người” có hành vi vi phạm và có những biện pháp
khắc phục hậu quả do hành vi sai trái đó gây ra Chủ thể tiến hành là cơ quan
hành chính nhà nước Nội dung giải quyết là xác minh, kết luận và quyết định
xử lý đối tượng có hành vi vi phạm "Người” được hiểu là các cá nhân, côngdân, cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm bị xử lý
1.2.1.4 Thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam trong giải quyết tố cáo của công dân
Thẩm quyền giải quyết tố cáo là quyền xem xét, giải quyết nội dung màchủ thể của quyền tố cáo đưa đến
* Xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo:
- Nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo:
Căn cứ vào đặc điểm, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị tốcáo và đối tượng bị tố cáo, Điều 12 Luật Tố cáo năm 2011 quy định vềnguyên tắc xác định thẩm quyền như sau:
1 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổchức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức dongười đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đógiải quyết
2 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý củanhiều cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lýcán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức cóliên quan giải quyết
3 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành
Trang 23tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự [20].
- Đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước: thẩm quyền giải
quyết được quy định cụ thể tại Điều 13 Luật Tố cáo:
Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chínhnhà nước gồm:
1 Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) cóthẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiệnnhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp
2 Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọichung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luậttrong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã,người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp
3 Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm phápluật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó củangười đứng đầu cơ quan chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và cán bộ,công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp
4 Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọichung là cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luậttrong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấphuyện, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộcUBND cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp
5 Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấpquản lý cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạmpháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấpphó của người đứng đầu đơn vị thuộc Tổng cục, Cục và cấp tương đương, cán
Trang 24bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
6 Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền giải quyết
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ củangười đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc
cơ quan ngang Bộ và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp
7 Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi viphạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ trưởng, Thứtrưởng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó Thủtrưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh vàcán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp
Việc xác định thẩm quyền giải quyết được dựa trên nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của nền hành chính nhà nước ta, đó là nguyên tắc kết hợp quản
lý theo ngành và theo lãnh thổ Như vậy, cơ sở pháp lý để xác định thẩmquyền giải quyết tố cáo phải căn cứ vào hệ thống nhiều luật gồm Luật Tổchức và hoạt động của HĐND và UBND, Luật Cán bộ công chức, Luật Viênchức, Luật Tố cáo
Căn cứ quy định của Luật Tố cáo thì thẩm quyền giải quyết tố cáo đượcphân cấp thẩm quyền theo phân cấp thẩm quyền của hệ thống cơ quan quản lýhành chính nhà nước, cấp các cơ quan Trung ương và hệ thống ba cấp cơquan quản lý hành chính địa phương gồm: Chủ tịch UBND xã, phường, thịtrấn (cấp xã); Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã (cấp huyện); Người đứngđầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương(cấp tỉnh); Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh);
- Đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnhvực, Điều 31 quy định về thẩm quyền giải quyết như sau:
1 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mànội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơquan đó có trách nhiệm giải quyết Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hànhchính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối vớihành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp
Trang 25pháp luật có quy định khác.
2 Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước củanhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩmquyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giaocho một cơ quan chủ trì giải quyết; tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giảiquyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết
3 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quantiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
* Điều 23 quy định thẩm quyền của thẩm quyền của Chánh thanh tracác cấp, của Tổng Thanh tra Chính phủ như sau:
- Thẩm quyền của Chánh thanh tra các cấp:
Xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà người đứng đầu cơ quancấp dưới trực tiếp của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp
đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ chorằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đứng đầu
cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp xem xét, giải quyết lại
- Thẩm quyền của Tổng Thanh tra Chính phủ:
Xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơquan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấptỉnh đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp kết luậnviệc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xemxét, giải quyết lại
Như vậy, căn cứ quy định của pháp luật tố cáo thì thẩm quyền giảiquyết tố cáo trong các cơ quan hành chính nhà nước là: Chủ tịch UBND cấpxã; Thủ trưởng cơ quan trực thuộc UBND cấp huyện và sở, ngành; Chủ tịchUBND cấp huyện; Giám đốc sở, ngành; Chủ tịch UBND cấp tỉnh; Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; Thủ tướng Chínhphủ và Chánh thanh tra các cấp, Tổng thanh tra Chính phủ Tuy nhiên, việc xácđịnh thẩm quyền giải quyết là của ai phụ thuộc vào đối tượng bị tố cáo, hành vi
Trang 26vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực nào, tính chất vi phạm mức độ nào
1.2.2 Nội dung giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
- Nghiên cứu đơn:
Trong nội dung này, người giải quyết tố cáo cần làm rõ các nội dung tốcáo, chốt nội dung tố cáo cần giải quyết, bản chất của việc tố cáo là gì, tìmhướng giải quyết khả thi nhất, nhanh gọn, hiệu quả nhất
Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền cần nắm được mục đích
tố cáo của công dân là gì, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của ai, người tố cáomong muốn đạt được gì sau khi cơ quan hành chính nhà nước kết luận nộidung tố cáo: về lợi ích vật chất, tinh thần hay mục đích khác,
Để giải quyết tố cáo của công dân trước hết cơ quan hành chính cầnlàm rõ từng nội dung tố cáo, xác định nội dung tố cáo nào thuộc trách nhiệmgiải quyết của cơ quan hành chính thụ lý đơn
Để đạt được yêu cầu này, cơ quan hành chính nhà nước cần xem xét,nghiên cứu, phân loại, xử lý đơn, làm việc với người tố cáo, xác định nộidung tố cáo đó có đủ điều kiện để thụ lý, thuộc thẩm quyền giải quyết của ai;nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của ai (đối tượng bị tố cáo),thuộc lĩnh vực nào
Tiếp người tố cáo giúp cho cơ quan hành chính có thẩm quyền giảiquyết xác định chắc chắn người đó có đủ điều kiện tố cáo hay không (người
tố cáo phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định củapháp luật) Người tố cáo có bổ sung nội dung tố cáo gì thêm so với nội dung
tố cáo đã ghi trong đơn Tiếp người tố cáo có thể giúp cho người cán bộ thụ lýxác định được bản chất của việc tố cáo; từ đó có hướng giải quyết khả thinhất Trong nhiều trường hợp tiếp người tố cáo, người cán bộ thụ lý khi có thểnắm được bản chất cốt lõi, sâu xa vấn đề tố cáo nhằm đòi hỏi lợi ích cá nhânhoặc việc tố cáo do không hiểu pháp luật, không có căn cứ thì có thể giải
Trang 27thích để công dân hiểu quyết định việc tố cáo hay không.
- Kết luận nội dung tố cáo đúng, sai
Sau khi nghiên cứu đơn, làm việc với người tố cáo, cơ quan hành chínhnhà nước thực hiện giải quyết tố cáo của công dân cần đạt được yêu cầu là kếtluận rõ từng nội dung tố cáo của công dân, công dân tố cáo đúng, tố cáo sai
Để có căn cứ, cơ sở kết luận, cơ quan hành chính nhà nước cần làm việc vớicác cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan, yêu cầu giải trình, cung cấpthông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo Sau đó, bằng cácbiện pháp nghiệp vụ, cơ quan hành chính nhà nước đánh giá, nhận định về giátrị chứng minh của những thông tin tài liệu, bằng chứng đã thu thập
Khi đủ căn cứ, điều kiện để kết luận nội dung tố cáo, cơ quan hànhchính nhà nước dự thảo kết luận và thông qua người bị tố cáo và cơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan
Căn cứ nội dung tố cáo, giải trình của người bị tố cáo, báo cáo kết quảxác minh tố cáo, biên bản công bố dự thảo kết luận nội dung tố cáo, các tài liệu,bằng chứng có liên quan, đối chiếu các quy định của pháp luật, cơ quan hànhchính nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản kết luận nội dung tố cáo
- Xử lý khi có hành vi vi phạm
Nội dung tiếp theo của công tác giải quyết tố cáo là xử lý khi có hành
vi vi phạm Đây là nội dung quan trọng nhất trong quá trình giải quyết tố cáo,
nhằm đạt mục đích mà người tố cáo mong muốn, mục đích Nhà nước hướngtới là bảo vệ, ngăn chặn khả năng vi phạm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Trên cơ sở kết luận giải quyết tố cáo, cơ quan hành chính nhà nước,người giải quyết tố cáo đưa ra các quyết định, xử lý theo thẩm quyền, theo 3trường hợp:
1 Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm quy định trongviệc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì phải thông báo bằng văn bản cho người
bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, khôi phục quyền, lợi ích hợp
Trang 28pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây
ra, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật;
2 Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm quy định trong việcthực hiện nhiệm vụ, công vụ thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyềnhoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy địnhcủa pháp luật;
3 Trường hợp hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu tộiphạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát
có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật
Như vậy, sau khi có kết luận nội dung tố cáo, căn cứ mức độ của hành
vi vi phạm của người bị tố cáo, người tố cáo, người giải quyết tố cáo tiếnhành xử lý Việc xử lý tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước có thẩmquyền có thể là ra quyết định kỷ luật cán bộ công chức, xử phạt vi phạm hànhchính hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu xét thấy người tố cáo vàngười bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm…
- Trả lời người tố cáo về nội dung tố cáo, kết quả giải quyết tố cáo khi người tố cáo yêu cầu
Nội dung này cần thực hiện khi người tố cáo có yêu cầu thông báo kếtquả giải quyết tố cáo Người giải quyết tố cáo, cơ quan hành chính nhà nướcgửi thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo.Thông báo kết quả giải quyết tố cáo phải nêu rõ kết luận nội dung tố cáo, việc
xử lý người bị tố cáo, trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước
1.2.3 Quy trình giải quyết tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
Để đạt được yêu cầu về nội dung giải quyết tố cáo, quá trình giải quyết
tố cáo của công dân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cần cơ bảnđảm bảo các bước sau:
Bước 1: Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo
Bước tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo được quy định tại Điều 19, Điều
Trang 2920 Luật Tố cáo Tiếp nhận thông tin tố cáo được thực hiện bằng đơn củangười tố cáo hoặc người tố cáo trực tiếp trình bày Khi nhận được tố cáo thìngười giải quyết tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lý: Nếu tố cáo thuộcthẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhậnđược đơn tố cáo, phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người tố cáo vàquyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết tố cáo, đồng thời thôngbáo cho người tố cáo biết lý do việc không thụ lý, nếu có yêu cầu; trường hợpphải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn kiểm tra, xác minh cóthể dài hơn nhưng không quá 15 ngày; Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyềngiải quyết của mình thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhậnđược đơn tố cáo, người tiếp nhận phải chuyển đơn tố cáo cho cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo, nếu
có yêu cầu Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận
tố cáo hướng dẫn người tố cáo đến tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân cóthẩm quyền giải quyết
- Người có thẩm quyền không thụ lý giải quyết tố cáo đối với 3 trườnghợp: tố cáo về vụ việc đã được người đó giải quyết mà người tố cáo khôngcung cấp thông tin, tình tiết mới; Tố cáo về vụ việc mà nội dung và nhữngthông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác định người vi phạm,hành vi vi phạm pháp luật; Tố cáo về vụ việc mà người có thẩm quyền giảiquyết tố cáo không đủ điều kiện để kiểm tra, xác minh hành vi vi phạm phápluật, người vi phạm
- Trong quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo, nếu xét thấy hành vi
bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo có tráchnhiệm chuyển hồ sơ, tài liệu và những thông tin về vụ việc tố cáo đó cho cơquan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để xử lý theo quy định củapháp luật
- Trường hợp hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hạiđến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, tính mạng, tài sản của công dân thì cơ
Trang 30quan, tổ chức nhận được tố cáo phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩmquyền hoặc báo ngay cho cơ quan công an, cơ quan khác có trách nhiệm ngănchặn kịp thời hành vi vi phạm.
Bước 2: Xác minh nội dung tố cáo
Bước này được quy định tại Điều 22 của Luật Tố cáo:
1 Việc xác minh nội dung tố cáo do người giải quyết tố cáo trực tiếptiến hành hoặc giao cho cơ quan thanh tra nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cánhân có trách nhiệm (sau đây gọi chung là người xác minh nội dung tố cáo)
2 Việc giao cho người xác minh nội dung tố cáo của người giải quyết tố
cáo phải bằng văn bản, trong đó có 6 nội dung cơ bản: Ngày, tháng, năm giao xác minh; Tên, địa chỉ của người bị tố cáo; Người được giao xác minh nội dung tố cáo; Nội dung cần xác minh; Thời gian tiến hành xác minh; Quyền hạn và trách nhiệm của người được giao xác minh nội dung tố cáo.
3 Người xác minh nội dung tố cáo phải tiến hành các biện pháp cầnthiết để thu thập các thông tin, tài liệu, làm rõ nội dung tố cáo Thông tin, tàiliệu thu thập phải được ghi chép thành văn bản, khi cần thiết thì lập thànhbiên bản, được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc tố cáo
4 Trong quá trình xác minh, người xác minh nội dung tố cáo phải tạođiều kiện để người bị tố cáo giải trình, đưa ra các chứng cứ để chứng minhtính đúng, sai của nội dung tố cáo cần xác minh Việc giải trình của người bị
tố cáo phải được lập thành biên bản, có chữ ký của người xác minh nội dung
tố cáo và người bị tố cáo
5 Người được giao xác minh nội dung tố cáo có quyền và nghĩa vụtheo quy định tại các Điểm a, b, c, d, Khoản 1, Điểm a, b, c, d, đ, Khoản 2,Điều 11 của luật Tố cáo, đó là:
- Yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nộidung tố cáo;
- Yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên
Trang 31quan đến nội dung tố cáo;
- Tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ đểgiải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật; áp dụng các biện pháp theothẩm quyền để ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật;
- Bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giảiquyết tố cáo;
- Áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơquan chức năng áp dụng các biện pháp để bảo vệ người tố cáo, người thânthích của người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo;
- Không tiết lộ thông tin gây bất lợi cho người bị tố cáo khi chưa có kếtluận về nội dung tố cáo;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết tố cáo;
- Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi giải quyết tố cáo trái phápluật của mình gây ra
Đồng thời kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý vàbáo cáo người giải quyết tố cáo
Người được giao xác minh nội dung tố cáo có thể là người được quyđịnh tại Điều 23 Luật Tố cáo Đó là Chánh thanh tra các cấp và Tổng Thanhtra Chính phủ
Chánh thanh tra các cấp có trách nhiệm:
- Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghịbiện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của người đứng đầu cơquan hành chính nhà nước cùng cấp khi được giao;
- Xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà người đứng đầu cơ quancấp dưới trực tiếp của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp
đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ chorằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đứng đầu
cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp xem xét, giải quyết lại
Trang 32Tổng Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm:
- Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp
xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao;
- Xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trườnghợp kết luận việc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị Thủ tướngChính phủ xem xét, giải quyết lại
Người được giao xác minh nội dung tố cáo cần thực hiện các biện phápnghiệp vụ: Tiếp xúc với người tố cáo yêu cầu cung cấp thêm tài liệu, làm việcvới người bị tố cáo (lập biên bản đầy đủ, cụ thể, rõ ràng) yêu cầu người bị tốcáo giải trình bằng văn bản, kiểm tra các tài liệu, hồ sơ đối chiếu với các chế
độ, chính sách hiện hành Bước này cần chú ý hiệu lực hồi tố của pháp luật Kết thúc xác minh và kết luận sơ bộ vụ việc: Khi đã làm rõ các nội dungcần xác minh cán bộ nghiệp vụ cần dự thảo và thông báo kết luận sơ bộ chocác bên liên quan
Công việc thẩm tra, xác minh chỉ là một bước trong trình tự giải quyết tốcáo song kết quả của giai đoạn này có vị trí vai trò, ảnh hưởng trực tiếp đếnkết quả giải quyết tố cáo, là căn cứ quan trọng để người giải quyết tố cáo banhành kết luận, quyết định chính xác, khách quan
Bước 3: Kết luận nội dung tố cáo
Kết luận nội dung tố cáo được quy định tại Điều 24 Luật Tố cáo
Người giải quyết tố cáo phải kết luận về nội dung tố cáo bằng văn bảntrên cơ sở căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo,kết quả xác minh nội dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan Kết luận nội
dung tố cáo phải gồm các nội dung cơ bản: Kết quả xác minh nội dung tố cáo; Kết luận việc tố cáo đúng, đúng một phần hoặc sai; Xác định trách nhiệm của từng cá nhân về những nội dung tố cáo đúng hoặc đúng một phần; Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị biện pháp xử lý với cơ quan,
Trang 33tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (nếu có).
Đây là phần quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình giải quyết tốcáo Kết luận phải gọn, rõ ràng, chính xác, viện dẫn điều luật phải đầy đủ cảnội dung và hình thức Yêu cầu nội dung văn bản kết luận nêu rõ tóm tắt nộidung tố cáo, kết quả đã giải quyết của cấp có thẩm quyền, kết quả thẩm tra,xác minh từng nội dung, khẳng định sự việc đúng sai của các bên đương sự,nguyên nhân, nội dung các sai phạm, kết luận, kiến nghị về những hành vi viphạm và trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan
Bước 4: Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo
Việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo được quy định tại Điều 25Luật Tố cáo:
Xử lý theo thẩm quyền: Trên cơ sở kết luận giải quyết tố cáo, người giảiquyết tố cáo đưa ra các quyết định, xử lý theo thẩm quyền Sau khi có kếtluận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý theo 3 trườnghợp:
1 Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm quy định trongviệc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì phải thông báo bằng văn bản cho người
bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, khôi phục quyền, lợi ích hợppháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây
ra, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật;
2 Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm quy định trong việc thực hiệnnhiệm vụ, công vụ thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;
3 Trường hợp hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu tội phạmthì chuyển ngay hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát cóthẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật
Như vậy, sau khi có kết luận nội dung tố cáo, căn cứ mức độ của hành vi
vi phạm của người bị tố cáo, người tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành
Trang 34xử lý Việc xử lý tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền cóthể là ra quyết định kỷ luật cán bộ công chức, xử phạt vi phạm hành chínhhoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu xét thấy người tố cáo và người
bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm…Việc xử lý tố cáo khách quan, đúng pháp luật
có ý nghiã vô cùng quan trọng, có tác dụng tích cực đối với việc phòng ngừa,đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật đồng thời khuyến khích, độngviên nhân dân có ý thức đấu tranh chống lại các hành vi tiêu cực trong xã hội,phát huy có hiệu quả quyền tố cáo của công dân
Bước 5: Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành
vi vi phạm bị tố cáo
Việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi
phạm bị tố cáo được quy định tại Điều 30 luật Tố cáo:
Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm công khai kết luận nội dung tốcáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo bằng một trong các hình thức:
Công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị tố cáo công tác; Niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết
tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo; Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
Yêu cầu của việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lýhành vi vi phạm bị tố cáo phải bảo đảm không tiết lộ thông tin về người tốcáo và những nội dung thuộc bí mật nhà nước
Đồng thời với việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lýhành vi vi phạm bị tố cáo, người giải quyết tố cáo phải gửi kết luận nội dung
tố cáo cho người bị tố cáo Điều 26 luật Tố cáo quy định việc gửi kết luận nộidung tố cáo cho người bị tố cáo:Người giải quyết tố cáo phải gửi kết luận nộidung tố cáo cho người bị tố cáo Việc gửi văn bản phải đảm bảo không tiết lộthông tin về người tố cáo và bảo vệ bí mật nhà nước
Trong trường hợp người tố cáo có yêu cầu thông báo kết quả giải quyết
tố cáo thì người giải quyết tố cáo gửi thông báo bằng văn bản về kết quả giảiquyết tố cáo cho người tố cáo Thông báo kết quả giải quyết tố cáo phải nêu
Trang 35rõ kết luận nội dung tố cáo, việc xử lý người bị tố cáo, trừ những nội dungthuộc bí mật nhà nước.
Kết luận nội dung tố cáo phải được người giải quyết tố cáo gửi cho cơquan thanh tra nhà nước và cơ quan cấp trên trực tiếp
Kết thúc việc giải quyết tố cáo: Người giải quyết tố cáo phải hoàn chỉnh,thiết lập bộ hồ sơ vụ việc tố cáo theo quy định tại Điều 29 Luật Tố cáo Việclập hồ sơ, lưu giữ, khai thác, sử dụng hồ sơ vụ việc tố cáo được thực hiện theoquy định của pháp luật
Thời hạn giải quyết tố cáo được quy định tại Điều 21 Luật Tố cáo:
Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo;đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lýgiải quyết tố cáo
Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo cóthể gia hạn thời hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụviệc phức tạp thì không quá 60 ngày
Việc cần thực hiện cuối cùng của chu trình giải quyết tố cáo là cơ quan
có thẩm quyền chỉ đạo cơ quan chức năng tổ chức thực hiện và đôn đốc, theodõi vụ việc, tổ chức rút kinh nghiệm về giải quyết vụ việc
* Đối với vụ việc tố cáo có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở
để xử lý ngay
Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể,
có cơ sở để xử lý ngay được quy định tại Điều 33 Luật Tố cáo:
Đối với tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong cáclĩnh vực có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay thì việcgiải quyết tố cáo được thực hiện theo trình tự sau đây:
- Người có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;
- Trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực mà mìnhquản lý, người tiếp nhận tố cáo phải trực tiếp tiến hành hoặc báo cáo người cóthẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành ngay việc xác minh nội dung tố cáo,
Trang 36áp dụng biện pháp cần thiết để đình chỉ hành vi vi phạm và kịp thời lập biênbản về hành vi vi phạm pháp luật (nếu có); việc xác minh, kiểm tra thông tin
về người tố cáo được thực hiện trong trường hợp người giải quyết tố cáo thấycần thiết cho quá trình xử lý hành vi bị tố cáo;
- Người giải quyết tố cáo ra quyết định xử lý hành vi vi phạm theothẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định củapháp luật
Hồ sơ vụ việc tố cáo được lập chung cùng hồ sơ xử lý vi phạm hànhchính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN DO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN
có đảm bảo cho cơ quan hành chính nhà nước thực hiện công tác giải quyết tố
cáo của công dân phụ thuộc nhiều vào đối tượng này
Đội ngũ cán bộ hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật cần nhậnthức đầy đủ, sâu sắc nguồn gốc, bản chất, vai trò, chức năng, các nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của nhà nước, bản chất, vai trò, nguyên tắc cơ bản củapháp luật, những vấn đề lý luận chung nhất, cơ bản nhất về nhà nước và phápluật, các kiểu nhà nước, các hình thức pháp luật, có những tư tưởng, quan điểmkhoa học tiên tiến về nhà nước và pháp luật, có như vậy thì mới xác định phươnghướng xây dựng chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp, tiến bộ
Cụ thể, phải nhận thức đúng đắn về mối quan hệ nhà nước và công
Trang 37dân, quan hệ bình đẳng Quyền tố cáo, quyền con người không phải do nhànước "qui định", ban phát mà phải thừa nhận những giá trị xã hội, khách quancủa quyền con người, pháp luật phải phù hợp với yêu cầu đảm bảo cho xã hội
ổn định và phát triển; đồng thời thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước vàbằng công cụ pháp luật bảo đảm thực hiện và bảo vệ quyền tố cáo đã đượcxác định là quyền cơ bản của công dân Nói cách khác, trong mối quan hệgiữa Nhà nước và công dân thì công dân phải chiếm ưu thế; công dân cùngvới quyền con người của họ là đối tượng phục vụ của Nhà nước, là căn cứ đểxây dựng, tổ chức bộ máy nhà nước, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và trách nhiệm của Nhà nước, công chức nhà nước
Có thể thấy rằng nhận thức của đội ngũ cán bộ hoạch định, đường lối,chính sách, pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật, đảm bảo hiệu quả cho công tác giải quyết tố cáo của côngdân do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
1.3.1.2 Nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước
Nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước có vaitrò ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực hiện tổ chức thực hiện quyền hànhpháp của nhà nước nói chung, quá trình giải quyết tố cáo của công dân do cơquan hành chính nhà nước thực hiện nói riêng Pháp luật của nhà nước nóichung, pháp luật tố cáo nói riêng được thực hiện như thế nào chủ yếu phụcthuộc vào đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước Trong 4 hình thứcthực hiện pháp luật: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật,
áp dụng pháp luật thì áp dụng pháp luật là một hình thức rất quan trọng luôn
có sự tham gia của nhà nước, chủ thể đặc biệt mà đại diện là cán bộ, côngchức hành chính nên chịu tác động trực tiếp về nhận thức của đội ngũ cán bộ,công chức hành chính
Đội ngũ cán bộ công chức hành chính cần nhận thức thấu đáo, đầy đủ,toàn diện về khách thể của quan hệ pháp luật hướng tới Khách thể đó là lợi
Trang 38ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn nhữngnhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức, cá nhân, cái mà thúc đẩy các chủ thể thamgia quan hệ pháp luật, cụ thể trong công tác giải quyết tố cáo của công dân do
cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, đó là quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, tổ chức, nhà nước để tôn trọng, bảo vệ, có biện pháp ngăn chặnhành vi vi phạm kịp thời, hiệu quả Cán bộ công chức hành chính có trình độnhận thức pháp luật cao, hiểu biết sâu sắc kiến thức pháp luật, tự giác chấp hànhpháp luật, tôn trọng pháp luật, thúc đẩy việc thực hiện pháp luật, sẽ hạn chế việcthực hiện pháp luật không đúng, hạn chế phát sinh tố cáo của công dân
1.3.1.3 Nhận thức của đội ngũ công chức nhà nước trực tiếp giải quyết tố cáo của công dân
Trước hết, cán bộ công chức nhà nước nói chung, đội ngũ cán bộ côngchức trực tiếp giải quyết tố cáo của công dân nói riêng phải nhận thức sâu sắcquyền và nghĩa vụ của nhà nước, công dân, mối quan hệ bình đẳng của haichủ thể này trong công tác giải quyết tố cáo, hơn nữa là "đầy tớ" trung thànhcủa nhân dân, phải thực sự là "công bộc" của dân, hết lòng tận tụy phục vụnhân dân như lời của Bác Đội ngũ cán bộ này phải thấm nhuần lời căn dặncủa Bác " Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, tố cáo, hoặc vì chưa hiểu rõchính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại, tố cáo" từ đó xác định rõnguyên nhân phát sinh tố cáo để giải quyết tố cáo hiệu quả, triệt để, nhanhchóng Cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết tố cáo của công dân cũng nhậnthức rõ, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo và người giải quyết tố cáo
để có biện pháp hữu hiệu bảo vệ người tố cáo, tạo điều kiện để người tố cáothực hiện đầy đủ quyền tố cáo Hơn nữa, họ có trình độ am hiểu toàn diện vềkinh tế xã hội, trình độ nhận thức pháp lý cao, kiến thức pháp luật sâu, rộng,đầy đủ, hiểu biết chính xác nội dung, yêu cầu quy phạm pháp luật sẽ hỗ trợtích cực, hiệu quả, quyết định cho áp dụng đúng quy phạm pháp luật chotrường hợp cụ thể
Như vậy, nhận thức của đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp giải quyết
Trang 39tố cáo là những cơ sở bảo đảm cho việc áp dụng đúng đắn, sáng tạo các quyphạm pháp luật, giúp cho công tác giải quyết tố cáo của công dân do cơ quanhành chính nhà nước thực hiện hiệu quả, chính xác, khách quan
1.3.1.4 Nhận thức của chính công dân, các bộ phận dân chúng
Trong quá trình thực hiện pháp luật, các quy phạm pháp luật có đi vàothực tế cuộc sống hay không, việc thực hiện pháp luật có trở thành nhữnghành vi thực tế hợp pháp của chủ thể không, phụ thuộc nhiều vào chủ thểpháp luật Trong quá trình thực hiện pháp luật giải quyết tố cáo của công dân
do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cũng vậy Chủ thể là công dân, dânchúng có nhận thức về pháp luật tốt, trình độ hiểu biết pháp luật đầy đủ, pháthuy, sử dụng hiệu quả quyền tố cáo của mình đồng thời tuân thủ nghiêm minhquy định của pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, sử dụng sáng tạo,hữu hiệu quyền và nghĩa vụ của mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình, cá nhân, tổ chức, nhà nước Như vậy sẽ hạn chế nhiều vi phạm phápluật, giảm vụ việc tố cáo phát sinh, công tác giải quyết tố cáo của công dân do
cơ quan hành chính nhà nước thực hiện sẽ nhanh chóng, đơn giản, thuận lợi.Nhận thức của chính công dân, bộ phận dân chúng về pháp luật nâng cao làđiều kiện quan trọng góp phần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thựchiện pháp luật giải quyết tố cáo của công dân hiệu quả
Trong xã hội, nhà nước và pháp luật là công cụ, phương tiện quản lý,duy trì trật tự xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội, giải quyết mâu thuẫn phátsinh, phục vụ con người, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong đó
có quyền tố cáo của công dân Mặt khác, Nhà nước lại là chủ thể thực hiệnquyền lực trong quá trình tổ chức, quản lý xã hội cũng như thực hiện, bảo vệlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổchức Pháp luật do Nhà nước ban hành, là sản phẩm từ nhận thức chủ quancủa Nhà nước Vì thế, các đối tượng đề cập trên đây không nhận thức đúngmối quan hệ giữa Nhà nước và công dân sẽ không tránh khỏi chủ quan, duy ýchí và những lệch lạc trong xác định quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước với
Trang 40công dân và giữa công dân với Nhà nước, xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệlợi ích một nhóm người thiểu số trong xã hội, tuỳ tiện, lạm quyền, tiếm quyềntrong việc giải quyết tố cáo của công dân, sử dụng quyền tố cáo không đúng
Nhà nước với tư cách là tổ chức công quyền quản lý xã hội bằng phápluật, ban hành ra pháp luật, sử dụng pháp luật để thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của mình trong đó có hoạt động giải quyết tố cáo Trong quan hệnày, công dân phải thực hiện các nghĩa vụ trước Nhà nước và xã hội, đồngthời có các quyền của công dân Do quyền tố cáo là giá trị xã hội, gắn vớinhững điều kiện cụ thể của xã hội, được giới hạn trong phạm vi nhất định, nóđảm bảo cho xã hội ổn định, phát triển và đảm bảo quyền tự do của mọi thànhviên trong xã hội Bởi thế, quyền tố cáo và nghĩa vụ của công dân phải doNhà nước xác định và qui định đầy đủ trong pháp luật Với tư cách là người tổchức, quản lý xã hội, Nhà nước xác định nội dung và những giới hạn cần thiếtcủa quyền con người trong từng giai đoạn phát triển của xã hội Vì thế trongthực tiễn xây dựng và hoàn thiện pháp luật thường có xu hướng xem công dân
là đối tượng của việc xây dựng pháp luật hơn là chủ thể bình đẳng trong mốiquan hệ pháp luật với Nhà nước Do đó các quy phạm pháp luật thường chứađựng các yếu tố ít thuận lợi cho phía người dân, các giá trị xã hội của quyềncon người không được ghi nhận đầy đủ nên hiệu quả pháp lý của nó phụthuộc vào sự bình đẳng trong mối quan hệ pháp luật giữa Nhà nước với côngdân Nhà nước cũng với tư cách là tổ chức công quyền phục vụ xã hội, phục
vụ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, là "công cụ" thực hiện, bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của công dân, chịu trách nhiệm trước công dân,
có nghĩa vụ đối với công dân Công dân cần nhận thức sâu sắc bản chất mốiquan hệ nhà nước và công dân, từ đó có cách thức để Nhà nước phải thừanhận những giá trị phổ biến và nội dung cơ bản của quyền tố cáo, quyền conngười, quyền công dân, ghi nhận nó trong pháp luật, bảo đảm thực hiện, bảo
vệ quyền tố cáo bằng bộ máy nhà nước và theo qui định của pháp luật
1.3.2 Yếu tố pháp luật