MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo việc củng cố, từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta hết sức coi trọng việc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện mới. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định : Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiến pháp 1992 sửa đổi đã thể chế hoá nghị quyết Đại hội Đảng ghi nhận tại điều 2 : “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Như vậy lần đầu tiên trong một đạo luật cơ bản chính thức ghi nhận Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý là nghiên cứu nhà nước pháp quyền với những vấn đề lý luận và thực tiễn. Do đó tôi làm tiểu luận hết môn với đề tài “Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm tiểu luận cho môn học của mình.
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN : NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đề tài :
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY, NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc cũng nhưxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo việccủng cố, từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước và tăng cường pháp chế xãhội chủ nghĩa Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta hết sức coi trọng việccải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phùhợp với điều kiện mới
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định : Xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo củaĐảng Hiến pháp 1992 sửa đổi đã thể chế hoá nghị quyết Đại hội Đảng ghinhận tại điều 2 : “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhândân” Như vậy lần đầu tiên trong một đạo luật cơ bản chính thức ghi nhậnNhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namđòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân Trong lĩnh vựcnghiên cứu khoa học pháp lý vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý lànghiên cứu nhà nước pháp quyền với những vấn đề lý luận và thực tiễn Do
đó tôi làm tiểu luận hết môn với đề tài “Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn” để
làm tiểu luận cho môn học của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền
- Tìm hiểu đường lối chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước vềviệc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thờinghiên cứu cứu đóng góp một số ý kiến bước đầu cải cách bộ máy nhà nước,
Trang 3hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo hướng xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận là hệ thống những quan điểm cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhà nước
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, đề tài sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau như: phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử… trong
quá trình giải quyết các vấn đề nêu ra
4 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của tiểu luận gồm 3chương và 6 tiết
Trang 4NỘI DUNG Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền không phải là vấn đề hoàn toàn mới lạ, mà làmột phạm trù có nguồn gốc lịch sử tư tưởng từ xa xưa Sự ra đời và phát triển
của tư tưởng: “Nhà nước pháp quyền” gắn liền với sự ra đời và phát triển của
dân chủ, của tư tưởng loại trừ sự chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vôpháp luật Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tốicao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức, thực hiện quyền lực Nhànước Đó là hai yếu tố không thể thiếu được khi nói đến Nhà nước phápquyền nói chung
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội có mối quan hệ mậtthiết với nhau Nhà nước tồn tại không thể thiếu pháp luật, ngược lại thiếuNhà nước, pháp luật trở nên vô nghĩa Bởi vì, pháp luật do Nhà nước banhành và đảm bảo thực hiện Nhà nước cần đến pháp luật vì thông qua phápluật, dựa vào pháp luật, nhà nước mới quản lý được đời sống xã hội Dựa trênpháp luật và các công cụ khác, Nhà nước thiết lập một trật tự xã hội Tuy vậy,lịch sử cho thấy không phải khi nào có Nhà nước, có pháp luật là có ngay Nhànước pháp quyền Nhà nước pháp quyền không phải là kiểu nhà nước xét theohọc thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế xã hội Nhà nước pháp quyền rađời ở một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội Và Nhà nước pháp quyềnđược hiểu tập trung theo hai khía cạnh chủ yếu sau:
Ở nghĩa chung nhất, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước trong đópháp luật (đạo luật) thống trị trong xã hội Nhà nước phải điều chỉnh đượccác quan hệ xã hội bằng pháp luật, một quốc gia nào đó chủ yếu điều chỉnhbằng văn bản dưới luật thì quốc gia đó chưa đủ về chất của Nhà nước phápquyền
Trang 5Mặt khác, Nhà nước pháp quyền còn được hiểu là một hình thức tổchức Nhà nước và hoạt động chính trị quyền lực công khai (công quyền), thểhiện mối quan hệ bình đẳng giữa các cá nhân và Nhà nước dựa trên cơ sở củapháp luật.
Trong cuốn tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của
Đảng có định nghĩa: “Nhà nước pháp quyền mà chúng ta quan niệm không
phải là một kiểu nhà nước, trong lịch sử chỉ có bốn kiểu nhà nước: chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền nói một cách khái quát là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật” 1 Đương nhiên, bao
giờ pháp luật cũng mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầmquyền
Như vậy, lý luận về nhà nước pháp quyền là hệ thống các quan điểm, tưtưởng rất phức tạp, phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cậnnhà nước pháp quyền dưới giác độ tư tưởng, lý luận, bàn về các quan điểm,quan niệm về nhà nước pháp quyền Lý luận về Nhà nước pháp quyền và Nhànước pháp quyền XHCN đang còn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Khái niệm Nhà nước pháp quyền có nhiều cách tiếp cận khác nhau,nhưng chung quy lại Nhà nước pháp quyền là khái niệm bao hàm những nộidung rất phong phú, chứa đựng những đặc trưng, những mặt cơ bản, ghi nhậnmột trạng thái phát triển, một trình độ phát triển của Nhà nước và tiến bộ xãhội Tựu chung các ý kiến thường lấy các dấu hiệu đặc trưng để xác định nộihàm của khái niệm nhà nước pháp quyền, như: tính tối cao của Luật, sự phâncông quyền lực, dân chủ và bảo đảm quyền con người, trách nhiệm qua lạigiữa nhà nước và công dân; tính độc lập của nền tư pháp Theo đó: Nhànước pháp quyền hiểu chung nhất là Nhà nước được tổ chức và hoạt độngtrên cơ sở pháp luật, trong đó mọi chủ thể kể cả nhà nước đều phải tuân thủ
Trang 6nghiêm chỉnh pháp luật - một hệ thống pháp luật có tính phổ biến cao (đề caotính tối cao của Hiến pháp và luật), phù hợp với ý chí, thể hiện đầy đủ nhữnggiá trị cao cả nhất của xã hội, của con người.
Từ đó, chúng ta có thể rút ra bốn tiêu chí chung của nhà nước phápquyền như sau:
- Phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước phải dopháp luật quy định;
- Nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật (đảngphái, tổ chức, tôn giáo phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ củapháp luật);
- Quyền lực nhà nước được xác định gồm: quyền lập pháp, quyền hànhpháp và quyền tư pháp;
- Có hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí vànguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinhtrong xã hội; đặc biệt là bảo đảm quyền và lợi
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước pháp quyền.
Tư tưởng về nhà nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống
lý luận của V.I.Lê-nin, bởi nó không thuần túy là những lý thuyết khoa học
mà gắn bó chặt chẽ với quan điểm chính trị; nó không đơn giản là những suy
tư tinh thần mà gắn liền với những hoạt động thực tiễn sinh động của ông.Chính vì vậy, tìm hiểu những tư tưởng của V.I.Lê-nin về nhà nước có ý nghĩađặc biệt quan trọng đối với chúng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiệnNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin tiếp tụckhẳng định rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong
của nó là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chức
Trang 7thống trị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác” 2.
Tính chất đặc biệt của nhà nước chuyên chính vô sản với tư cách hìnhthức chuyển tiếp trước khi đạt đến trạng thái tự tiêu vong của nhà nước đượcV.I.Lê-nin làm rõ trong việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tính
chuyên chính và tính dân chủ của nhà nước.
V.I.Lê-nin cho rằng, nếu tính giai cấp là bản chất của mọi nhà nước, thìdân chủ hay chuyên chính cũng chỉ là hai mặt của bản chất đó mà thôi “Bất
cứ một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sựkhác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với
kẻ đi bóc lột, ở chỗ có dùng bạo lực đối với giai cấp những người lao động vànhững người bị bóc lột không” Đối với V.I.Lê-nin: “Chuyên chính cáchmạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành được
và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản ”
Chuyên chính vô sản không hề đối lập với dân chủ, mà là phần bổsung, là hình thức thể hiện của dân chủ “Chuyên chính vô sản, nghĩa là việc
tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị đểtrấn áp bọn áp bức, thì không thể giản đơn đóng khung trong việc mở rộng
chế độ dân chủ được Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ
-lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho
nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu - chuyên chính vô sản còn thựchành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột,bọn tư bản”
Như vậy, sự phát triển của V.I.Lê-nin đối với quan điểm của C.Mác vàPh.Ăng-ghen về nhà nước, điểm quan trọng nhất chính là ở chỗ, đặc tính phổbiến của mọi nhà nước đó là giai cấp Như thế, biểu hiện về mặt lịch sử trongsuốt quá trình phát triển của xã hội loài người là mối quan hệ biện chứng củahai mặt chuyên chính và dân chủ Rõ ràng, trên phương diện này, nhà nước là
Trang 8một cách thức tổ chức đời sống xã hội, một giai đoạn trong tiến trình pháttriển của xã hội, là một vòng khâu của sự phát triển Đây chính là quan niệmduy vật và biện chứng có tính nguyên tắc trong việc lý giải đời sống xã hộinói chung, vấn đề nhà nước nói riêng và gắn liền với những cố gắng to lớncủa V.I.Lê-nin trong sự phát triển chủ nghĩa Mác.
1.2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về nhà nước pháp quyền.
a Quan niệm của Hồ Chí Minh
Trong thời kỳ nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng nhà nướcpháp quyền của dân, do dân, và vì dân vì mục tiêu dân giầu nước mạnh xã hộicông bằng văn minh thì tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của HồChí Minh về nhà nước pháp quyền nói riêng đã có vị trí, vai trò vô cùng quantrọng trong việc xây dựng nhà nước thật sự dân chủ, một nhà nước thật sự củadân vì quyền và lợi ích của nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân là một hệ thống các quan điểm lý luận về bản chất, chức năng, cơchế hoạt động, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước;trong đó, quan niệm về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng nhất quán, thểhiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền Trong di sản lý luận củamình, Hồ Chí Minh đã có lần chính thức sử dụng thuật ngữ "chế độ pháp trị".Tiếp xúc với nền văn minh Âu - Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, điều hànhđời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dânchủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại
Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trongsáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là: Chúng
ta phải có một hiến pháp dân chủ Cùng với chủ trương xây dựng Hiến pháp,ngày 10-10-1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh SL/47 cho phép sử dụng một
số điều khoản của pháp luật cũ để điều chỉnh các quan hệ dân sự Trong nhậnthức của Hồ Chí Minh, pháp luật của các chế độ xã hội có những giá trị nhân
Trang 9bản chung mà chúng ta có thể kế thừa, phát triển Ở đây, Hồ Chí Minh đãnhìn nhận pháp luật trong chiều sâu văn hóa của nó.
Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiếnpháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi vàban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1959 Trong tư duy Hồ Chí Minh,một khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp luật, nhất là đạo luật "gốc"
- Hiến pháp, cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý cácquan hệ xã hội đã phát sinh và định hình
Ngoài hai bản Hiến pháp, từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh còn chỉđạo soạn thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật.Khối lượng văn bản luật đó luôn thể hiện rõ việc đề cao tính nhân đạo và nhânvăn, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của nhà nước mà nhân dân là chủ và donhân dân làm chủ
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ; mọicông dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật
cả về quyền lợi và nghĩa vụ; ai vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm khắc,cho dù người đó ở vị trí nào trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhànước Theo Người, hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi người đềunghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; pháp chế chỉ bảo đảm khi các quy phạmpháp luật được thực thi trong các quan hệ xã hội; mọi hành vi vi phạm phápluật phải bị xử lý Như vậy, trong thực thi luật pháp, việc thưởng phạt phảinghiêm minh Vì nếu thưởng phạt không nghiêm minh thì người cúc cung tậntụy lâu ngày cũng thấy chán nản, còn người hư hỏng, vi phạm pháp luật, kỷluật sẽ ngày càng lún sâu vào tội lỗi, làm thiệt hại cho nhân dân Trong mộtnước, thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiếnmới thắng lợi, kiến quốc mới thành công
Sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ ChíMinh được thể hiện ở quan niệm xử lý các hành vi phạm pháp, nguyên tắc
Trang 10"có lý","có tình" chi phối mọi hành vi ứng xử của con người, tôn trọng cái
lý, đề cao cái tình, tùy từng trường hợp, tình huống cụ thể mà Hồ ChíMinh nhấn mạnh mặt này hay mặt khác Xử lý hành vi vi phạm pháp luậtphải kịp thời, nghiêm minh
b Quan niệm của Đảng ta
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu các giá trị tư tưởng hiện đạicủa loài người, trước nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước, Đảng Cộng sảnViệt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.Quan điểm về nhà nước pháp quyền của Đảng là một bộ phận hợp thành tổngthể lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền là một quá trình Trướcnhững năm 90 của thế kỷ XX, trên bình diện lý luận, chúng ta chỉ dùng cáckhái niệm "Nhà nước chuyên chính vô sản", "Nhà nước xã hội chủ nghĩa".Đến năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóaVII, khái niệm "nhà nước pháp quyền" đã được nêu lên Từ đó, Đảng ta nhậnthức rất rõ rằng, nhà nước pháp quyền là một thành tựu vĩ đại của tư tưởngnhân loại; xét về bản chất, không chỉ có một loại nhà nước pháp quyền duynhất; mà dựa trên cơ sở kinh tế - xã hội, bản chất chế độ xã hội khác nhau,vẫn tồn tại Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
Nhận thức này ngày càng thống nhất trong toàn Đảng và được khẳngđịnh rõ tại Đại hội IX của Đảng (4-2001): Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức,cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và phápluật Quan điểm này đã được thể hiện trong việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và cụ
Trang 11thể hóa trong Điều 2: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữagiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữacác cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp
Trong Dự thảo Đề cương các Văn kiện trình Đại hội X của Đảng, xâydựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được khẳng địnhthành một vấn đề có tính nguyên tắc với các nội dung: nghiên cứu, thể chếhóa và xây dựng cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyềnlực nhà nước đều thuộc về nhân dân; nguyên tắc quyền lực nhà nước là thốngnhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp; xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp, đồng thờiđịnh rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật trong đờisống kinh tế - xã hội của đất nước