MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì việcbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật vàbảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập Theo đó, quyềnkhởi kiện của tổ chức, cá nhân đã được pháp luật quy định và chủ thể cho rằngquyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án có thẩmquyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc khởi kiện Khởi kiệnvụ án dân sự (VADS) được pháp luật ghi nhận là hoạt động tố tụng đầu tiên bảo vệquyền dân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và các chủthể được pháp luật trao quyền; là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tốtụng dân sự Khi đơn khởi kiện của các chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện do phápluật quy định thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý vụ án
Ở Việt Nam, vấn đề khởi kiện và thụ lý VADS được quy định trong các vănbản pháp luật của nước ta từ rất sớm và ngày càng được hoàn thiện Bộ luật tố tụngdân sự (BLTTDS) năm 2004 là văn bản pháp luật quy định đầy đủ và có hệ thốngcác vấn đề về tố tụng dân sự (TTDS) nói chung và chế định khởi kiện và thụ lýVADS nói riêng BLTTDS đã bổ sung những thiếu sót, khắc phục được những điểmbất cập, chưa hợp lý về khởi kiện và thụ lý VADS trong các Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ánkinh tế (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động(PLTTGQCTCLĐ) Đồng thời, các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS trongBLTTDS đã thể chế hóa được quan điểm, chủ trương về cải cách tư pháp được ghinhận trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX của Đảng, Nghị quyết 08-NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Trong quá trình triểnkhai, áp dụng, Tòa án các cấp đã có rất nhiều nỗ lực trong việc áp dụng các quyđịnh pháp luật nói chung và quy định về khởi kiện và thụ lý VADS nói riêng Tuynhiên, những quy định của BLTTDS về khởi kiện và thụ lý VADS qua thực tiễn thihành vẫn còn những vướng mắc, bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ.Có những quy định pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng và còn có những cách hiểu khácnhau; có những quy định chưa thực sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người trongTTDS; có quy định còn chưa tương thích với các văn bản pháp luật khác Mặt khác,
Trang 2do có nhiều nội dung chưa được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thi hành dẫnđến sự không thống nhất về cách hiểu và áp dụng giữa các Tòa án khác nhau, thậmchí ngay trong một Tòa án cũng có quan điểm không thống nhất về việc có thụ lýhay không thụ lý vụ án đối với cùng một hồ sơ khởi kiện Không những vậy, có một
số Tòa án, Thẩm phán, cán bộ nhận đơn khởi kiện áp dụng pháp luật một cách tùytiện, chủ quan, duy ý chí, tự đặt ra những yêu cầu, điều kiện mà pháp luật tố tụngdân sự không quy định để yêu cầu người khởi kiện phải thực hiện thì mới thụ lý vụán khiến cho các chủ thể gặp nhiều khó khăn khi thực hiện quyền khởi kiện Một
thực tế hiện nay là khi người dân có quyền và lợi ích bị xâm phạm, họ rất " ngại"
phải đến Tòa án để thực hiện thủ tục khởi kiện VADS vì quá nhiều điều kiện bắtbuộc và thủ tục phiền hà, rối rắm
Thực tiễn tố tụng tại Tòa án cho thấy, có nhiều VADS sau khi đã được thụlý giải quyết trong một thời gian khá dài, các bên đương sự trong vụ án phải tốnnhiều thời gian, công sức và tiền bạc để theo kiện tại Tòa án nhưng sau đó lại nhậnđược Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện Thậm chí có vụán đã qua nhiều cấp xét xử cả sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm nhưng sau đóTòa án lại ra phán quyết đình chỉ việc giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện docác căn cứ thụ lý vụ án không đúng Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đếntỉ lệ án dân sự bị hủy, sửa của Tòa án còn cao, là lý do làm giảm lòng tin của cánhân, cơ quan, tổ chức đối với Tòa án Theo số liệu tại Báo cáo tổng kết công tácnăm 2013 và nhiệm vụ trọng tâm công tác Tòa án năm 2014 của Tòa án nhân dân
tối cao cho thấy về công tác giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự năm 2013: " Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 301.912 vụ, tăng 30.606 vụ; đã giải quyết, xét xử 274.303 vụ…Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 1,1% trên tổng số các vụ việc đã xét xử sơ thẩm (do nguyên nhân chủ quan 1,1% và do nguyên nhân khách quan 0,5%" Báo cáo cũng nêu một số khuyết điểm, thiếu sót trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án trong năm 2013 như: " …Xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp Xác định thiếu người tham gia tố tụng; xác định không đúng yêu cầu khởi kiện của đương sự Xác định sai thời hiệu khởi kiện; Thụ lý giải quyết vụ án không đúng thẩm quyền…" [69] Tại Báo cáo tổng kết công tác năm
2014 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2015 của các Tòa án thể hiện tỉ lệ cácbản án, quyết định dân sự bị hủy đã giảm còn 1% và bị sửa còn 1,5% nhưng donguyên nhân chủ quan vẫn chiếm đa số Báo cáo cũng chỉ ra một số khuyết điểm,
tồn tại trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự như: " xác định thiếu người
Trang 3tham gia tố tụng; xác định không đúng quan hệ tranh chấp; sai thời hiệu khởi kiện hay thẩm quyền xét xử Chưa xem xét đầy đủ yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dẫn đến giải quyết không đủ hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự " [70] Năm 2016, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 3,75% (do
nguyên nhân chủ quan 2,9% và do nguyên nhân khách quan 0,85%) với các sai sótchủ yếu như xác định thiếu người tham gia tố tụng hoặc xác định không đúng tưcách tham gia tố tụng, xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, sai thờihiệu khởi kiện hay thẩm quyền xét xử [74] Nguyên nhân của thực trạng này mộtphần là do năng lực của một bộ phận Thẩm phán, cán bộ Tòa án còn hạn chế nhưngnguyên nhân khách quan và chủ yếu là do pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADSđang có nhiều bất cập, một số quy định của pháp luật TTDS hiện hành chưa thực sựđáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền khởi kiện đã được pháp luật quốc tế và quốc giathừa nhận như một quyền cơ bản của con người
Nhận thức được những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLTTDS,
Ủy ban thường vụ Quốc hội đã phân công cho Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC)chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng Dự án BLTTDS năm 2015.Trong quá trình thực hiện Dự án, đã có nhiều quan điểm, ý kiến có giá trị được đưa
ra nhằm hoàn thiện các quy định của BLTTDS trong đó có các quy định về khởikiện và thụ lý VADS Tuy nhiên, BTTDS năm 2015 được được Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam thông qua ngày 25/11/2015, có hiệulực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 mới chỉ giải quyết được phần nào vướng mắctrong thực tiễn áp dụng các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS và còn có nhữngquy định chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, có quy định chưa rõ ràng, minhbạch dẫn đến có nhiều cách hiểu và áp dụng không thống nhất Điều này có nghĩa
tình trạng người dân "ngại" đến Tòa án sẽ vẫn tiếp diễn Trước tình hình đó, việc
nghiên cứu toàn diện, sâu sắc các quy định của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện vàthụ lý VADS để nhận biết được những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập vànhững vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoànthiện hơn nữa chế định khởi kiện và thụ lý VADS là một yêu cầu cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay Hơn nữa, việc nghiên cứu đề tài "Khởi kiện và thụ lý vụ án dân
sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" cũng nhằm bảo vệ tối đa quyền con người
đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, đáp ứng một trong các nhiệm vụ cảicách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới: "Khi
Trang 4xét xử, các Tòa án phải bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp" và Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: "Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự ; bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người".
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về khởi kiện và thụ lý VADStrong TTDS
- Làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong những quy định của pháp luậtTTDS Việt Nam hiện hành về khởi kiện và thụ lý VADS và những vướng mắctrong quá trình áp dụng các quy định đó trong thực tiễn giải quyết các VADS tạiTòa án nhân dân (TAND)
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về khởi kiện và thụ lýVADS, từ đó nhằm xây dựng quy trình khởi kiện và thụ lý đơn giản, nhanh chóng,thuận tiện, dễ áp dụng cho người khởi kiện và cho Tòa án, làm cho Tòa án thực sựlà chỗ dựa cho nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, từngbước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN như chủtrương của Bộ Chính trị được nêu tại Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài phải thực hiện được cácnhiệm vụ sau:
- Xác định đúng và nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về khởikiện và thụ lý VADS trong TTDS
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật TTDS ViệtNam hiện hành về khởi kiện và thụ lý VADS và việc áp dụng các quy định đó trongthực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của TAND
- Xác định rõ các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật TTDS vềkhởi kiện và thụ lý VADS, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoànthiện pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào những vấn đề sau:
- Những vấn đề lý luận về khởi kiện và thụ lý VADS
- Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiệnhành và một số quy định PLTTDS của một số nước trên thế giới về khởi kiện và thụlý VADS
- Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về khởikiện và thụ lý VADS tại các Tòa án của Việt Nam trong những năm gần đây
Khởi kiện và thụ lý VADS trong TTTDS là một vấn đề nghiên cứu tươngđối rộng, được hiểu dưới nhiều góc độ, phương diện khác nhau cả về mặt lý luận vàthực tiễn Do đó, để nghiên cứu chuyên sâu về khởi kiện và thụ lý VADS trongTTDS, trong phạm vi nghiên cứu luận án, nghiên cứu sinh (NCS) tập trung vàonhững vấn đề cơ bản như sau:
- Luận án chỉ nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS và chỉ luận giải vềkhái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền khởi kiện, khởi kiện và thụ lý VADS; chủthể có quyền khởi kiện; phạm vi khởi kiện; đơn khởi kiện và phương thức gửi đơnkhởi kiện; các căn cứ trả lại đơn khởi kiện; khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếunại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện; trình tự, thủ tục thụ lý vụ án
- Trong khoa học pháp lý hiện nay có nhiều quan điểm, cách hiểu về quyềnkhởi kiện, theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện là quyền của nguyên đơn và là căn cứlàm phát sinh VADS tại Tòa án; theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện được hiểu baogồm cả quyền phản tố của bị đơn (quyền kiện ngược lại của bị đơn) và quyền yêucầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nghiên cứu sinh sẽ nghiêncứu quyền khởi kiện theo nghĩa rộng
- Trong phần lý luận chung, mặc dù NCS có nghiên cứu khởi kiện và thụ lýVADS dưới nhiều phương diện, góc độ khác nhau nhưng có tập trung nghiên cứusâu hơn về khởi kiện và thụ lý VADS trong TTDS dưới phương diện là các quyđịnh pháp luật, xuất phát từ nhận thức trong BLTTDS của một số nước trên thế giớicũng như của Việt Nam, khởi kiện và thụ lý VADS được quy định là một chươnggồm nhiều điều luật quy định về nhiều nội dung khác nhau có liên quan đến khởikiện và thụ lý VADS và pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS vẫn được coi là cơsở cho mọi phương diện và cách tiếp cận
- Vì định hướng nghiên cứu là tập trung nghiên cứu dưới góc độ pháp luật vàhoạt động tố tụng nên các giải pháp, kiến nghị luận án đưa ra tập trung chủ yếu vào vấn
Trang 6đề hoàn thiện pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS, bên cạnh đó có đưa ramột số giải pháp cơ bản để bảo đảm thực hiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS.
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong suốt quá trình thực hiện luận án, các nội dung trong luận án đều đượcNCS dựa trên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt NamXHCN, vì thế các kiến nghị hoàn thiện và thực hiện pháp luật đều được xuất phátvà thực hiện trên những quan điểm chỉ đạo đó
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương pháp phântích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lịch sử
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệthống về khởi kiện và thụ lý VADS trong TTDS Những đóng góp mới nổi bật củaluận án thể hiện ở những nội dung sau:
- Luận án đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận rất cơ bản, quan trọng vềkhởi kiện và thụ lý VADS trong TTDS, đặc biệt là vấn đề khái niệm quyền khởikiện, khởi kiện, thụ lý VADS; các đặc điểm đặc trưng của khởi kiện, thụ lý VADS;
cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS; điềuchỉnh pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS Việc làm sáng tỏ những vấn đềlý luận này sẽ là cơ sở để tiếp cận các quy định của pháp luật TTDS hiện hành vềkhởi kiện và thụ lý VADS, là định hướng cho việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật vềkhởi kiện và thụ lý VADS
- Luận án phân tích, đánh giá một cách tương đối, toàn diện thực trạng cácquy định pháp luật TTDS Việt Nam về khởi kiện và thụ lý VADS và thực tiễn ápdụng những năm gần đây, chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong các quy định củapháp luật TTDS, những vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định này trongthực tiễn giải quyết các VADS tại Tòa án
- Luận án kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTDS về khởikiện và thụ lý vụ án nhằm hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam về vấn đề này, từđó góp phần bảo đảm quyền con người, quyền tiếp cận công lý của người dân, nângcao hiệu quả thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS trong thực tiễn như bổ sung điềuluật quy định về điều kiện khởi kiện, điều kiện thụ lý VADS, bổ sung quy định về
cơ chế khởi kiện tập thể, bổ sung quy định về quyền được trình bày trực tiếp yêu
Trang 7cầu khởi kiện tại Tòa án; sửa đổi quy định về thẩm quyền theo loại việc của Tòa án;sửa đổi quy định về thời hạn đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập Những kiếnnghị này được đưa ra dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp với đường lối,chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền ViệtNam XHCN cũng như đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Kết quả của việc nghiên cứu luận án góp phần vào việc hoàn thiện pháp luậtTTDS về khởi kiện và thụ lý VADS nói riêng và hoàn thiện pháp luật TTDS ViệtNam nói chung
Luận án còn là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, họctập luật TTDS Việt Nam cho các cơ sở chuyên nghiên cứu pháp luật, đào tạo cán bộpháp luật
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu hướng dẫn trongviệc áp dụng pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS, bảo đảm tính thốngnhất và chính xác trong thực tiễn giải quyết các VADS
Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTDS được đưa ra trong luận áncòn là tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật TTDS nói riêng, hoànthiện pháp luật nói chung
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quanđến đề tài luận án, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận ángồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự.
Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện,
thụ lý vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện mm0
Chương 3: Yêu cầu và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về
khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
Trang 8TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Trên diễn đàn nghiên cứu khoa học trong nước đã có nhiều công trìnhnghiên cứu thể hiện dưới dạng đề tài khoa học, luận án, luận văn, sách chuyên khảo,giáo trình, bài đăng tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo liên quan đến khởi kiệnvà thụ lý VADS Ngoài ra, còn một số bài viết, quan điểm của các chuyên gia nướcngoài có liên quan đến vấn đề này Các công trình đã công bố gần đây được nghiêncứu sinh nghiên cứu là cơ sở quan trọng để phân tích, đánh giá sự liên quan đến đềtài luận án và hệ thống các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu mà luận án cần giảiquyết Đồng thời, các công trình nghiên cứu này cũng là nguồn tài liệu tham khảoquan trọng cho nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu củamình Trong số các công trình đã công bố, có nhiều công trình nổi bật có nội dungnghiên cứu chuyên sâu về khởi kiện và thụ lý VADS được nêu tại Phụ lục 1
2 Đánh giá sự liên quan của các công trình nghiên cứu đã công bố với
đề tài "Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn"
Qua nghiên cứu về các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án,có thể nhận thấy rằng, các bài đăng tạp chí, bài viết trong kỷ yếu hội thảo, tọa đàm,sách chuyên khảo, giáo trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau hoặc nhữngvấn đề cơ bản của khởi kiện và thụ lý VADS Có khá nhiều công trình ở cấp độ luậnvăn nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận vẫncòn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đặc biệt trong bối cảnh Hiến pháp năm
2013 đã ghi nhận và quy định các nguyên tắc bảo đảm thực hiện các quyền dân sự
cơ bản của công dân; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệquyền con người của TAND Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, BLTTDS 2015 đượcQuốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 25/11/2015 có rất nhiều nộidung mới về khởi kiện và thụ lý VADS theo hướng đề cao quyền con người, quyềncông dân, quyền tiếp cận công lý và nâng cao vai trò, trách nhiệm của Tòa án tronghệ thống tư pháp; một số quy định trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 có liênquan đến vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án cũng đã được sửa đổi, bổ sung trongBLDS năm 2015 nên cần phải được tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu một cách thấuđáo Dưới góc độ thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vấn đề
Trang 9bất cập, vướng mắc khác cần thiết phải làm rõ đề từ đó đưa ra những kiến nghị hoànthiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS
2.1 Sự liên quan của các công trình đã công bố với những vấn đề lý luận
về khởi kiện và thụ lý VADS
- Về khái niệm và đặc điểm của quyền khởi kiện và khởi kiện: Đã có
không ít học giả đưa ra khái niệm và đặc điểm của quyền khởi kiện và khởi kiệnVADS dưới nhiều góc độ khác nhau Cụ thể:
Nghiên cứu khởi kiện dưới góc độ một quyền dân sự, PGS, TS Hà Thị MaiHiên trong cuốn sách chuyên khảo "Trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự,kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình" và trong Giáo trình Luật
TTDS Việt Nam, Đại học Huế định nghĩa: "Khởi kiện VADS là quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết một VADS do cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS thực hiện nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác" [35, tr 127] Theo Giáo trình Luật
TTDS Việt Nam do PGS.TS Phan Hữu Thư và TS Lê Thu Hà đồng chủ biên thì
"Khởi kiện VADS là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của Pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm" [63, tr 246]; tác giả Liễu Thị Hạnh đưa ra khái niệm
"Quyền khởi kiện VADS là quyền năng tố tụng cơ bản của cá nhân, cơ quan, tổ chức, theo quy định của pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp về quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động" [33, tr 8] Tác giả Trần Đức Thành định nghĩa: "Quyền khởi kiện là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi quyền hạn của mình yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách khi quyền, lợi ích đó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp" [62, tr 8-9] Cũng xuất phát từ góc nhìn này, tác giả Trần Thị Lượt định nghĩa
"Quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của nhà nước, của tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm" [45, tr 11]
Nghiên cứu dưới góc độ khởi kiện VADS vừa là một quyền vừa là mộthoạt động tố tụng, vừa là một chế định pháp luật, tác giả Nguyễn Thu Hiền trong
Trang 10Luận văn "Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý VADS trong pháp luật TTDSViệt Nam" [36, tr 9]; Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, trường Đại học Luật HàNội do TS Nguyễn Công Bình chủ biên [10, tr 238]; Giáo trình Luật TTDS ViệtNam, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội do ThS GVC Bùi Thị Thanh Hằng chủ
biên [32, tr 229] đều đưa ra khái niệm: " Khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơ quan,
tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước"
Cũng tiếp cận dưới góc độ này nhưng tác giả Bùi Thị Quế Anh trong luậnvăn "Khởi kiện VADS và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Điện Biên" lại không sử dụng
cụm từ " nộp đơn" trong khái niệm: "Khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước" [2].
Có thể nhận thấy rõ, trong các công trình nêu trên, tuy cách tiếp cận vấn đề
khác nhau nhưng đều nhìn nhận khởi kiện VADS là khởi phát, bắt đầu việc kiện và
đã nêu được bản chất của khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyềnlợi khi tranh chấp hay có vi phạm
Ở một góc nhìn khác, trong cuốn Luật Dân sự Tố tụng Việt Nam, xuất bản
năm 1962 tại Sài Gòn, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu đã sử dụng thuật ngữ "tố quyền" và đưa ra định nghĩa "tố quyền như một phương cách luật định cho phép
mỗi người cầu viện đến công lí xin xác nhận hay che chở quyền lợi của mình" hay "
tố quyền có thể được phân tách như một quyền lợi trong thể động" [26, tr 36] Tác
giả cũng đề cập và phân tích đến những nội dung khác như điều kiện khai phát tốquyền, phân biệt tố quyền với đơn kiện và quyền lợi; phân loại tố quyền Mặc dù làcuốn sách nghiên cứu về pháp luật TTDS cũ nhưng công trình này rất có giá trịtham khảo cho NCS khi triển khai những nội dung có liên quan
- Về ý nghĩa của của khởi kiện VADS
Nghiên cứu dưới góc độc khởi kiện là một quyền dân sự, tác giả Trần ĐứcThành đã chỉ ra quyền khởi kiện trước hết là một trong những phương thức để bảođảm quyền con người, cụ thể là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân khi xuất hiện hành vi xâm phạm của chủ thể khác Thứ hai, quyền khởi kiệnvừa là tiền đề vừa là cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng nhằmkhôi phục những quyền lợi hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm Thứ ba, việc ghi
Trang 11nhận quyền khởi kiện và sự bảo đảm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền nàygóp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân [62, tr 12] Tuy nhiên, do mụcđích nghiên cứu khởi kiện dưới góc độ một quyền tố tụng, nên tác giả không đi sâuphân tích ý nghĩa của khởi kiện dưới góc độ một hành vi tố tụng của đương sự cũngnhư ý nghĩa của khởi kiện dưới góc độ một chế định pháp luật
Nhóm các tác giả nghiên cứu khởi kiện dưới góc độ vừa là quyền vừa là mộthành vi (hoạt động) tố tụng, vừa là một chế định như Trần Thị Lượt [45, tr 13-14],Nguyễn Thu Hiền [36, tr 10], Bùi Thị Quế Anh [2, tr 13-15], Nguyễn CôngBình [10, tr 238-239] đều cho rằng khởi kiện VADS là phương thức hữu hiệu đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khi bị xâm phạm; là hành vi đầu tiêncủa cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS;là tiền đề cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình giảiquyết VADS Tòa án chỉ thụ lý giải quyết VADS khi có đơn khởi kiện của các chủthể Nhìn chung, các công trình khoa học nêu trên đều đã nhận diện và phân tíchđược một số ý nghĩa cơ bản của khởi kiện VADS và nghiên cứu sinh sẽ tiếp thu vàkế thừa những nội dung nghiên cứu này Tuy nhiên, thông qua việc nghiên cứu,nghiên cứu sinh nhận thấy trong phần lý luận về khởi kiện của các công trình trênmới chỉ dừng ở việc nêu ý nghĩa của khởi kiện VADS dưới góc độ là một hành vi(hoạt động) tố tụng mà chưa có sự phân tích ý nghĩa của khởi kiện dưới góc độquyền con người, quyền tố tụng và dưới góc độ một chế định pháp luật; chưa đặt raphân tích mối liên hệ giữa ý nghĩa của khởi kiện VADS với việc bảo đảm nguyêntắc tranh tụng trong TTDS mới được quy định rõ trong BLTTDS 2015 Mặt khác,
do giới hạn phạm vi nghiên cứu là các luận văn hoặc một chương trong giáo trìnhluật TTDS, nên các tác giả mới chỉ nêu ý nghĩa của khởi kiện VADS theo cách liệt
kê mà chưa phân thành các nhóm ý nghĩa về mặt chính trị-xã hội; pháp lý, kinh tế
- Về đặc điểm của thụ lý VADS
Các công trình nghiên cứu mà NCS tiếp cận được đến nay cho thấy, chưacó công trình nào nghiên cứu về đặc điểm của thụ lý VADS mà mới chỉ có tác giảLiễu Thị Hạnh đề cập đến bản chất của thụ lý VADS, theo đó, thụ lý VADS thựcchất là việc Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện để xem xét Đây là một hành động cụthể của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp Thụ lý vụ án gồm các hoạt động cơbản như nhận đơn khởi kiện, xem xét, xác định các điều kiện để thụ lý, vào sổ thụ lývụ án để giải quyết, thông báo thụ lý vụ án [33, tr 12] Tuy nhiên, qua nghiên cứucho thấy, việc phân tích và và chỉ ra những đặc điểm của thụ lý VADS là cần thiết,
Trang 12giúp làm rõ hơn khái niệm thụ lý VADS Theo NCS, thụ lý VADS có những đặcđiểm cơ bản như là hoạt động đầu tiên của quá trình TTDS xác nhận trách nhiệmgiải quyết VADS của Tòa án; là hoạt động do Tòa án có thẩm quyền thực hiện; căncứ phát sinh thụ lý VADS dựa trên đơn khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện
- Về ý nghĩa của thụ lý VADS
Ý nghĩa của thụ lý VADS đã được đề cập đến trong một số công trình khoa
học ở cấp độ luận văn, sách chuyên khảo, giáo trình [33, tr 15-16], [64, tr 9-10],[35, tr 136], [10, tr 247-248], theo đó thụ lý VADS là bước mở đầu của quy trìnhTTDS, xác định việc Tòa án đã nhận trách nhiệm giải quyết vụ án Thụ lý vụ án là
cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo, hay nói một cáchkhác, Tòa án chỉ được tiến hành các hoạt động tố tụng giải quyết vụ án nếu đã thụ lývụ án Bên cạnh đó, thụ lý vụ án còn là cơ sở để Tòa án tính thời hạn giải quyếtVADS và còn là cơ sở để các đương sự được thực hiện các biện pháp mà pháp luậtcho phép để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, các công trìnhnày mới dừng ở việc phân tích ý nghĩa của thụ lý VADS theo phương pháp liệt kênên chưa có tính khái quát cao; một số công trình do phạm vi, mục đích nghiên cứuchỉ là một phần nhỏ trong sách chuyên khảo chung về các vấn đề tố tụng khác nên ýnghĩa của thụ lý vụ án chỉ được đề cập, phân tích hết sức ngắn gọn, mang tính chấtgiới thiệu mà chưa có sự phân tích chuyên sâu Bên cạnh đó, các tác giả cũng chỉphân tích ý nghĩa của thụ lý VADS dưới góc độ một hoạt động của Tòa án mà chưanêu ý nghĩa dưới góc độ quy định háp luật
- Về cơ sở xây dựng các quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS
Nghiên cứu dưới góc độc khởi kiện là một quyền của đương sự, tác giảTrần Đức Thành cho rằng, quyền khởi kiện được nghiên cứu trong mối liên hệ giữaquyền lợi và việc bảo vệ quyền lợi Pháp luật nội dung ghi nhận và bảo hộ cácquyền dân sự của các chủ thể và để các quyền lợi hợp pháp trên được đảm bảo thựchiện trên thực tế thì pháp luật cần phải trao cho chủ thể có quyền lợi bị xâm phạmhay tranh chấp một phương tiện để bảo vệ quyền lợi của mình nhằm thiết lập lại trậttự của các quan hệ pháp luật nội dung đang bị xáo trộn Cũng theo tác giả thì quyềnkhởi kiện chính là quyền mà pháp luật trao cho các bên trong quan hệ pháp luật nộidung sử dụng để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trướcsự xâm hại của chủ thể khác [62, trt 13-15] Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến
cơ sở của quyền khởi kiện xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Trang 13các chủ thể bị xâm phạm mà chưa phân biệt rõ đâu là cơ sở lý luận và đâu là cơ sởthực tiễn của quyền khởi kiện
Nghiên cứu dưới góc độ khởi kiện là một quyền và là một hoạt động tố tụngcủa chủ thể có quyền, tác giả Trần Thị Lượt phân tích cơ sở của khởi kiện gồm hainội dung: i) Cơ sở lý luận của quyền khởi kiện xuất phát từ các quy định về bảo vệquyền con người trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và trong cácCông ước quốc tế khác cũng như trong Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam Trên cơsở quy định về quyền con người trong Hiến pháp, pháp luật TTDS cũng cụ thể hóa
cơ chế bảo vệ các quyền này thông qua phương thức khởi kiện tại Tòa án Do đóviệc ghi nhận khởi kiện VADS là hoạt động triển khai thực hiện quyền khởi kiện; ii)
Cơ sở thực tiễn của khởi kiện VADS xuất phát từ nhận thức pháp luật của các chủthể chưa cao nên đã xâm phạm đến quyền hay lợi ích hợp pháp của các chủ thể khácnên cần phải có cơ chế bảo vệ các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bằng conđường khởi kiện; các tranh chấp ngày càng đa dạng, phức tạp trong khi trình độhiểu biết pháp luật của các đương sự còn hạn chế nên khi có tranh chấp xảy ra sẽgặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của mình; dựa trên quátrình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về khởikiện VADS [45, tr 15-21] Về cơ bản, tác giả đã có nhận thức và phân tích mộtcách rõ ràng một số cơ sở lý luận và thực tiễn của khởi kiện VADS NCS sẽ kế thừavà tiếp tục phát triển, phân tích sâu sắc hơn nữa những ưu điểm này Tuy nhiên, cóđiểm hạn chế là tác giả không đề cập đến một cơ sở lý luận khác rất quan trọng củakhởi kiện VADS, đó là các yêu cầu về cải cách tư pháp và trách nhiệm của Tòa ántrong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đã được nêu trong một sốNghị quyết của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng Cụ thể là Nghị quyết số 08-NQ/TWngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháptrong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị, Banchấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đếnnăm 2020; khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 Bên cạnh đó, tác giả đưa ra luận
điểm: "Cơ sở thực tiễn của khởi kiện hiện nay còn được dưa trên quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về khởi kiện VADS"
là chưa hoàn toàn chính xác Theo nhận thức của NCS, thì đây phải được coi là mộttrong những cơ sở lý luận của khởi kiện VADS Bên cạnh đó, tác giả cũng chưa
Trang 14phân tích đến một số cơ sở thực tiễn khác của khởi kiện VADS như hiệu quả củaviệc thực hiện quyền khởi kiện và khởi kiện VADS; thực tiễn thực hiện quyền khởikiện và khởi kiện VADS
Tác giả luận án trong luận văn thạc sĩ của mình bảo vệ năm 2011 có quan
điểm: "Cơ sở để pháp luật quy định khởi kiện VADS xuất phát từ nguyên tắc quyền dân sự của công dân được tôn trọng và bảo vệ" và "Khởi kiện VADS chính là công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ các quyền dân sự của công dân trong BLDS và các văn bản pháp luật có liên quan" Cũng theo tác giả thì cơ sở của khởi kiện VADS
còn dựa trên tư cách pháp lý của người khởi kiện; vụ việc chưa được giải quyếtbằng một bản án hay quyết định của Tòa án hay của cơ quan nhà nước có thẩmquyền; việc khởi kiện phải thực hiện đúng thẩm quyền xét xử của Tòa án Tuynhiên, xét về bản chất thì đây không phải là những cơ sở của khởi kiện VADS mà lànhững điều kiện khởi kiện VADS Mặt khác, tác giả cũng chưa làm rõ đâu là cơ sởlý luận và đâu là cơ sở thực tiễn của khởi kiện VADS
Tác giả Bùi Thị Quế Anh đã phân tích được một số cơ sở của việc xây dựngcác quy định về khởi kiện VADS như: Việc xây dựng các quy định về khởi kiệnVADS dựa trên cơ sở ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người về dân sự;dựa trên cơ sở trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân; xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS và trên
cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam [2, tr 15-18] Những phântích của tác giả rất có cơ sở khoa học và có giá trị tham khảo đối với đề tài củaNCS Tuy nhiên, có một điểm hạn chế là nghiên cứu của tác giả cũng mới chỉ dừng ởviệc liệt kê mà chưa có sự phân chia thành nhóm các cơ sở lý luận và cơ sở thựctiễn
- Điều chỉnh pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS: Cho đến nay, nội
dung này chưa có công trình nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS nào đề cậptới NCS nghiên cứu nội dung này thông qua kinh nghiệm lập pháp TTDS của một
số nước và Việt Nam, từ đó xác định những nội dung điều chỉnh pháp luật về khởikiện và thụ lý VADS, làm cơ sở soi chiếu với pháp luật TTDS Việt Nam hiện hànhtại Chương 2 của luận án
2.2 Sự liên quan của các công trình nghiên cứu đã công bố với vấn đề thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành về khởi kiện và thụ lý vụ
án dân sự
Một số công trình nghiên cứu đã phân tích nội dung, thực trạng pháp luật về
Trang 15khởi kiện và thụ lý VADS với những số liệu kết quả thụ lý, giải quyết các VADStheo báo cáo tổng kết của TANDTC, nêu và phân tích được một cách khái quát cácquy định của pháp luật TTDS hiện hành tại thời điểm nghiên cứu; làm rõ các vấn đềvề khởi kiện, trình tự, thủ tục thụ lý VADS Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng ởviệc nêu các quy định của pháp luật mà chưa có sự phân tích, bình luận và đánh giámột cách sâu sắc đối với các quy định này cũng như chưa đưa ra các ví dụ thực tiễnđể minh họa cho từng nội dung cụ thể; chưa có sự so sánh với pháp luật TTDS một
số nước trên thế giới về vấn đề này để rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam Cáccông trình cũng chưa có sự phân biệt rõ ràng đâu là điều kiện khởi kiện, đâu là điềukiện thụ lý VADS Đa số các tác giả đều nghiên cứu các quy định của BLTTDS năm
2004 về khởi kiện và thụ lý VADS; cá biệt có tác giả nghiên cứu các quy định củaPháp lệnh thủ tục giải quyết VADS năm 1989 về thụ lý VADS như tác giả Đoàn ĐứcLương, trong khi BLTTDS năm 2015 đã được ban hành và có hiệu lực nên các côngtrình đều chưa có sự cập nhật phân tích một số quy định mới về khởi kiện và thụ lýVADS Các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập và vướngmắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS như:
Theo tác giả Lê Thu Hà, với hạn chế, bất cập của cách quy định về thẩmquyền theo loại việc của Tòa án theo hướng liệt kê sẽ không bao giờ đủ, nhất làtrong xã hội hiện đại, các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động pháttriển ngày càng nhanh, đa dạng, phức tạp Trong trường hợp này, dù có điều khoảnmở cũng vẫn cần sự giải thích Do đó, dễ dẫn đến sự tùy nghi, thiếu khách quantrong việc xác định những loại vụ việc mới phát sinh có thuộc thẩm quyền giảiquyết của Tòa án hay không Mặt khác, nếu vụ việc không nằm trong phạm vi đượcliệt kê từ Điều 25 đến Điều 32 thì những chủ thể đang cần sự bảo hộ đối với quyềnvà lợi ích của mình không biết phải yêu cầu cơ quan nhà nước nào giải quyết, bảovệ Thực trạng này khiến cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức mỗi khi có quyền vàlợi ích bị xâm phạm hoặc tranh chấp rất vất vả, lúng túng trong việc xác định cơquan có thẩm quyền giải quyết Tác giả cũng cho rằng, việc quy định người khởikiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho nhữngyêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp tại Điều 165 BLTTDS 2011 vẫn là một
rào cản lớn cho người dân tiếp cận công lý, chưa phù hợp với chủ trương "người dân nộp đơn đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn" và cần phải
đổi mới thủ tục nhận đơn khởi kiện theo hướng khi có đơn khởi kiện thì Tòa án phảithụ lý [29, tr 12-16] Tuy nhiên, quan điểm của tác giả cũng vẫn còn nhiều ý kiến
Trang 16tranh luận trái chiều và cần được tiếp tục nghiên cứu.
Tác giả Đoàn Đức Lương mặc dù đã chỉ ra được một số vướng mắc nhưtrong thực tiễn thụ lý các VADS của Tòa án có nhiều trường hợp nguyên đơn nộpđơn một vài tháng thì Chánh án hoặc Chánh tòa mới phân đơn cho Thẩm phán xemxét thụ lý Về phương diện pháp luật thì tình trạng trên đã vi phạm các quy định củapháp luật TTDS, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự dễ dẫn đếntình trạng quá bức xúc mà vi phạm pháp luật hình sự; nhiều trường hợp, người khởikiện đến nộp tiền tạm ứng án phí cơ quan thi hành án không thu ngay mà còn yêucầu phải khai về trị giá tài sản tranh chấp, quan hệ tranh chấp, gây mất thời giancông sức cho người khởi kiện và những phiền hà không đáng có; pháp luật tố tụngkhông quy định việc khởi tố của Viện kiểm sát có phải nộp tạm ứng án phí haykhông sẽ dẫn đến sự áp dụng không thống nhất [42, tr 37] Tuy nhiên, có vướngmắc tác giả nêu chỉ là việc hạn chế phát sinh từ yếu tố con người, chủ thể tiến hành
tố tụng mà không phải vướng mắc nảy sinh từ quy định của pháp luật
Một số tác giả khác đã nêu được một số vướng mắc, bất cập trong thực tiễnáp dụng pháp luật như tác giả Liễu Thị Hạnh với một số khó khăn, vướng mắc vềphạm vi khởi kiện; về quy định chuyển đơn khởi kiện; về thủ tục nộp tiền tạm ứngán phí; về hậu quả pháp lý của việc không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến về việckhởi kiện; về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn vàyêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan [33, tr 68-69]; tác giảNguyễn Thị Hương nêu ra các vướng mắc, bất cập về thẩm quyền giải quyết cáctranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 29BLTTDS, về thời hiệu khởi kiện tại khoản 3 Điều 159 BLTTDS; về căn cứ trả lạiđơn khởi kiện tại điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS; về việc xác định điều kiệnkhởi kiện đối với vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài; tác giả Trần Thị Lượt với cácvướng mắc như tình trạng tồn đọng đơn khởi kiện chưa được xem xét, thụ lý ở một
số nơi; trình độ dân trí và hiểu biết pháp luật chưa đồng đều nên không thực hiệnđúng việc khởi kiện; việc không quy định quyền khởi kiện của Ủy ban mặt trận Tổquốc và các thành viên của Mặt trận là chưa hợp lý; việc xác định thẩm quyền giảiquyết của Tòa án theo nơi cư trú, làm việc của bị đơn là khó thực hiện, gây khókhăn cho người dân; một số Tòa án yêu cầu người khởi kiện xin ly hôn phải qua thủtục hòa giải tại cơ sở mới thụ lý vụ án [45, tr 63-68]; tác giả Nguyễn Thu Hiềnvới một số bất cập về khởi kiện và thụ lý VADS như quyết định trả lại đơn khởikiện của Tòa án có phải là đối tượng bị kháng cáo, kháng nghị hay không; áp dụng
Trang 17Luật Thương mại hay BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấpkinh doanh thương mại; có sự chồng chéo trong phương thức xác định thời hiệukhởi kiện giữa hướng dẫn chung của Tòa án tối cao và những quy định chung củacác luật chuyên ngành đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong thực tế áp dụng;việc Tòa án buộc người có yêu cầu ly hôn với người biệt tích phải trải qua thủ tụcyêu cầu tuyên bó mất tích trước mới được phép khởi kiện vụ án ly hôn liệu có đúngquy định của pháp luật hay không [36, tr 56-86].
Những vướng mắc, bất cập mà các tác giả đã nêu trên cơ sở sự nghiên cứuvà đánh giá pháp luật thực định và việc áp dụng trong thực tiễn tố tụng là thấu đáovà kỹ lưỡng Tuy vậy, có một số hạn chế là các tác giả mới chỉ dừng ở việc nêu racác vướng mắc, bất cập theo hướng liệt kê mà chưa có sự phân tích theo hệ thống vàtheo từng nhóm riêng biệt; chưa làm rõ đâu là những vướng mắc, bất cập nảy sinh
do quy định của pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS chưa đầy đủ, toàn diện,mâu thuẫn, chồng chéo; đâu là những vướng mắc, bất cập nảy sinh do cách hiểu vàáp dụng pháp luật không thống nhất của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng; đâu là vướng mắc nảy sinh từ việc cố tình gây khó khăn, cản trở việc thựchiện quyền khởi kiện của đương sự Một số vướng mắc mà các tác giả nêu ra đãđược khắc phục trong các lần sửa đổi, bổ sung BLTTDS nên không còn giá trị thựctiễn Bên cạnh đó, các công trình khoa học trên đều nghiên cứu các quy định củaBLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 nênchưa đề cập đến các vướng mắc, bất cập nảy sinh từ việc áp dụng một số quy địnhmới về khởi kiện và thụ lý VADS trong BLTTDS năm 2015
2.3 Sự liên quan của các công trình khoa học đã công bố với vấn đề hoàn thiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
Ở góc độ phạm vi bài viết đăng tạp chí, kỉ yếu hội thảo, tọa đàm đã cómột số tác giả đưa ra kiến nghị về một vài vấn đề cụ thể, chẳng hạn như tác giả LêThu Hà với kiến nghị về sửa đổi các quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án
theo hướng Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu về dân sự, về hôn nhân và gia đình, về kinh doanh thương mại, về lao động theo thủ tục TTDS được quy định trong Bộ luật này; đổi mới thủ tục nhận đơn khởi kiện theo hướng khi có đơn khởi kiện thì Tòa án phải thụ lý, nghiên cứu cơ chế để Tòa án khi nhận đơn khởi kiện thì thu luôn tiền tạm ứng án phí; bỏ căn cứ trả lại đơn khởi kiện do vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bỏ quy định về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, bỏ quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc
Trang 18trả lại đơn khởi kiện [29, tr 12-16]; tác giả Nguyễn Như Bích với một số kiến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế [8, tr 26-32];tác giả Nguyễn Kim Lượng đưa kiến nghị bổ sung vào Điều 36 BLTTDS một
khoản như sau: Trong trường hợp có yêu cầu xin ly hôn với người đang chấp hành hình phạt tù, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, Tòa án nơi bị đơn cư trú trước khi đi chấp hành hình phạt tù hoặc Tòa án nơi có trại giam nơi bị đơn đang chấp hành hình phạt tù giải quyết [43] Mặc dù các bài viết này không
phải là công trình nghiên cứu chuyên sâu và mới chỉ dừng ở việc đưa ra kiến nghịvề một vài vấn đề cụ thể Nhưng có thể nhận thấy, những nội dung kiến nghị nàytương đối sâu sắc và có giá trị tham khảo rất lớn đối với nghiên cứu sinh
Ở cấp độ luận văn, cũng có một số công trình nghiên cứu đã đánh giá vàđưa ra kiến nghị tổng hợp cho chế định khởi kiện và thụ lý VADS hoặc chỉ riêngphần khởi kiện VADS hoặc chỉ riêng phần thụ lý VADS Chẳng hạn, tác giảNguyễn Thu Hiền với các kiến nghị:bổ sung thêm những quy định về khởi kiện bảovệ người tiêu dùng; bổ sung quy định về chủ thể có quyền khởi kiện trong vụ án sởhữu trí tuệ; bổ sung quy định về khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về môi trường;hoàn thiện chế định về chứng cứ, chứng minh để tạo điều kiện cho người dân đượcthực hiện quyền khởi kiện [36, tr 86-96]; tác giả Trần Đức Thành với các kiến nghịvề bỏ quy định thời hiệu khởi kiện là một trong những điều kiện khởi kiện; sửa đổiquy định về điều kiện hòa giải cơ sở chỉ bắt buộc đối với tranh chấp quyền sử dụngđất, mốc giới giữa các hộ liền kề; sửa đổi quy định về chứng cứ, tài liệu buộc phảinộp kèm theo đơn khởi kiện [62, tr 69-79; Trần Thị Lượt với các kiến nghị như:cần sửa đổi BLTTDS và Luật Hôn nhân và gia đình theo hướng bỏ Cơ quan về dân
số, gia đình và trẻ em có quyền khởi kiện về hôn nhân và gia đình; nên khôi phục lạiquyền khởi kiện của Ủy ban mặt trận Tổ quốc và các thành viên để bảo vệ nhữngngười không có khả năng tự bảo vệ, bảo vệ lợi ích công cộng hoặc trật tự xã hội; bỏquy định về việc xử lý các trường hợp không biết địa chỉ người bị kiện tại Công văn
số 109/ KHXX ngày 30/6/2006; cần có quy định hướng dẫn cụ thể thế nào là ngườikhông biết chữ; cần quy định theo hướng nếu cơ quan, tổ chức đã ủy quyền toàn bộviệc giải quyết vụ án cho chủ thể khác thì không nhất thiết người đại diện phải kýtên, đóng dấu vào đơn khởi kiện; cần có hướng dẫn cụ thể cho phép một số trườnghợp nhất định được giải quyết tranh chấp dân sự và yêu cầu dân sự trong cùng mộtvụ án [45, tr 66-69]; Đoàn Đức Lương với một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệuquả thụ lý VADS như: cần quy định trường hợp Viện kiểm sát khởi tố VADS, tổ
Trang 19chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì người có quyền lợi được bảo vệ khôngphải nộp tạm ứng án phí; nên quy định Tòa án có thẩm quyền thụ lý VADS cóquyền thu tiền tạm ứng án phí để đảm bảo thuận lợi cho người dân [42, tr 37-38];Liễu Thị Hạnh với một số giải pháp như: nên quy định mỗi Tòa án có một bộ phậnchuyên trách giải quyết đơn; việc phân công Thẩm phán giải quyết vụ án hoặc trảlại đơn khởi kiện, giải quyết khiếu nại phải bằng hình thức quyết định; nên quy địnhrõ hậu quả pháp lý của việc không gửi cho Tòa án ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầukhởi kiện của nguyên đơn; cần quy định rõ thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầuđộc lập có thể thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án cho đến trước khi Tòa án
ra phán quyết; cần hướng dẫn cho phép một số trường hợp nhất định được giảiquyết tranh chấp dân sự và yêu cầu dân sự trong cùng một vụ án [33, tr 69-73]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đã nêu ra được các kiếnnghị, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS về khởikiện và thụ lý VADS Nhiều kiến nghị có giá trị khoa học cao và đã được tiếp thutrong các lần sửa đổi, bổ sung BLTTDS Tuy nhiên, đa số các kiến nghị đều đượcnêu ra theo hướng liệt kê mà chưa được phân chia thành các nhóm kiến nghị, giảipháp cụ thể về mặt lập pháp, về các văn bản hướng dẫn thi hành, về thực hiện pháp luậtcũng như các nhóm giải pháp về phía các cơ quan, người tiến hành TTDS; các cơ quan,tổ chức hữu quan và về phía bản thân những người có quyền đi kiện và các đương sựkhác trong vụ án; nhiều công trình có nội dung kiến nghị chung chung mà không kiếnnghị sửa đổi, bổ sung điều luật cụ thể nào (như kiến nghị của Trần Thị Lượt, NguyễnThị Hương); nhiều kiến nghị, giải pháp có sự trùng lặp giữa một số công trình (nhưkiến nghị của tác giả Trần Thị Lượt, Nguyễn Thị Hương, Trần Đức Thành) Một sốkiến nghị được nêu ra cũng có phần chưa hợp lý, không cần thiết và không phù hợpvới nguyên tắc tranh tụng trong TTDS như kiến nghị tất cả các hoạt động trả lại đơnkhởi kiện, thông báo thụ lý, chuyển đơn khởi kiện đều phải bằng hình thức văn bản;kiến nghị Tòa án là cơ quan thu tiền tạm ứng án phí; kiến nghị bị đơn, người có quyềnlợi nghĩa vụ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập cho đến trước khiTòa án ra phán quyết Một số kiến nghị đưa ra khi chưa có BLTTDS nên có phầnlạc hậu Bên cạnh đó, có nhiều kiến nghị đã được khắc phục, bổ sung qua lần sửa đổi,bổ sung năm 2011 và trong BLTTDS năm 2015 nên không còn giá trị trên thực tế
2.4 Sự liên quan của các công trình nghiên cứu pháp luật về khởi kiện
và thụ lý vụ án dân sự của nước ngoài
* Bài giới thiệu của Giáo sư MICHEAL BROWDE, Giáo sư khoa Luật,
Trang 20Trường Đại học New Mecxico (Mỹ) về "Pháp luật TTDS của Mỹ và một số nước theo hệ thống luật án lệ" Trong bài viết này, tác giả có một số nhận xét về vấn đề
khởi kiện VADS theo pháp luật TTDS Mỹ và so sánh với quy định tương tự trongDự thảo BLTTDS của Việt Nam Có thể tóm tắt ngắn gọn những nội dung chính màtác giả đã phân tích như sau: Đơn khởi kiện ở Mỹ chỉ mang tính hình thức, khôngquan trọng; tất cả các đơn khởi kiện đều được tiếp nhận chính thức, không cótrường hợp đơn khởi kiện bị trả lại như quy định trong Dự thảo Bộ luật TTDS củaViệt Nam Việc tiếp nhận đơn khởi kiện có thể được thực hiện kể cả trong trườnghợp vụ kiện đó đã được bắt đầu không hợp lý Lý do của việc đó là Tòa án có đầyđủ tư liệu về các vụ kiện đến Tòa án và đương sự sẽ có được lối giải thích của Tòaán thông qua phán quyết tại sao đơn khởi kiện không được chấp nhận Đồng thờinếu Tòa án phán quyết không chấp nhận đơn khởi kiện thì đương sự có quyềnkháng cáo để xem xét lại phán quyết của Tòa án đó; bước đầu tiên bắt đầu một vụkiện là nộp đơn khởi kiện tới Tòa án, sau khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện thì bên
bị đơn có nghĩa vụ nộp một bản trả lời về đơn khởi kiện đó, BLTTDS Mỹ cho phépbên bị đơn đó nộp lên Tòa án những khiếu nại phản tố lại bên nguyên đơn, đối vớikhiếu nại phản tố đó thì bên nguyên đơn lại trở thành bị đơn và bị đơn trở thànhnguyên đơn BLTTDS Mỹ cũng cho phép có thể thực hiện những khiếu nại khácliên quan đến vụ kiện ở trong quá trình giải quyết (có thể kiện người thứ ba có liênquan trong cùng một vụ kiện); BLTTDS của Mỹ có những quy định cho phép sựtham gia tố tụng của cá nhân, tổ chức để bảo vệ lợi ích cho xã hội Họ không phải làmột trong các bên đương sự trong vụ kiện [48]
* Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về nguyên tắc tranh tụng trong TTDS của Tiến sĩ Tobias Oelsner- Thẩm phán Tòa khu vực Berlin, Cộng hòa liên
bang Đức Trong báo cáo này, tác giả chỉ ra rằng, theo quy định của pháp luật Anh,trước khi bắt đầu thủ tục TTDS, các bên đương sự có trách nhiệm thực hiện việctrao đổi tài liệu và thông tin nhằm thương lượng giải quyết tranh chấp mà khôngphải qua thủ tục tố tụng tại Tòa án Các bên có thể phải chịu các chế tài xử phạt nếukhông tuân thủ các quy định này Thủ tục tố tụng bắt đầu khi nguyên đơn nộp đơnkhởi kiện cùng với các tài liệu liên quan Đơn khởi kiện và các tài liệu liên quanphải trình bày tóm tắt tình tiết vụ việc Bị đơn có quyền chấp nhận khiếu kiện hoặc
sẽ bào chữa và phải thông báo cho Tòa án bằng đơn bào chữa kèm theo cả đơn phảnkiện (nếu có) trong thời hạn 28 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu kiện Nếu bịđơn không đưa ra được đơn bào chữa sẽ cho phép nguyên đơn mặc định thắng kiện
Trang 21Các tài liệu bổ sung có thể được nộp lên Tòa án để giải thích rõ trường hợp của mỗibên Các tài liệu nộp tại Tòa án gồm đơn kiện, tài liệu chi tiết về đơn kiện, đơn bàochữa, đơn phản kiện Còn tại Đức, thủ tục tố tụng đối với các vụ kiện dân sự cơ bản
được điều chỉnh bằng Luật TTDS (Zivilprozessordnung, viết tắt là ZPO) Theo đó,
quy trình tố tụng trước Tòa dân sự được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau Mụcđích là cho các bên cân nhắc, xem xét đến các mục tiêu đôi khi mâu thuẫn nhau giữamột bên là tìm ra sự thật của vụ việc với một bên là giải quyết vấn đề càng nhanh càngtốt Nhìn chung, thủ tục tố tụng trước tòa dân sự được tiến hành bằng lời, trừ trườnghợp các bên đồng ý chỉ giải quyết vụ án dựa trên các văn bản được xuất trình Tác giảcũng chỉ ra rằng, trong TTDS của Đức, về nguyên tắc, quyết định khởi kiện vụ án ratrước tòa hoàn toàn là quyền tự quyết của các cá nhân liên quan Đối với trát hầu tòa,nguyên đơn đồng thời xác định được vụ án về vấn đề gì Nếu không có bản mô tả cụthể về nội dung khởi kiện, Tòa án sẽ không thụ lý vụ kiện Tòa án không được xemxét các nội dung khác không được nêu trong đơn khởi kiện và không được ban hànhquyết định có lợi hơn so với những gì mà nguyên đơn yêu cầu [80]
* Bài viết "Thủ tục tranh tụng dân sự ở Thái Lan" do tác giả Lưu Tiến
Dũng dịch Trong bài viết này tác giả đề cập đến thủ tục khởi kiện VADS theo Bộluật TTDS năm 1985 của Thái Lan gồm các bước:
- Kiểm tra đơn khởi kiện: Tòa án tiến hành việc kiểm tra đơn khởi kiện sau
khi nhận được đơn khởi kiện Nếu Tòa án xét thấy đơn khởi kiện không rõ ràng,hoặc khó hiểu hoặc quá dài dòng hoặc không có chữ ký hoặc không có những giấy tờmà pháp luật quy định phải có kèm theo đơn khởi kiện, hoặc không nộp tiền tạm ứngán phí, thì Tòa án quyết định trả lại đơn khởi kiện để soạn thảo lại, sửa đổi hoặc yêucầu nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn đủ để làm việc đó Nếu nguyên đơn khônglàm theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án ra quyết định không thụ lý đơn khởi kiện
- Trát đòi trả lời: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, Tòa án ra trát đòi bị đơn trả
lời để gửi cho bị đơn cùng với bản sao đơn khởi kiện, và nguyên đơn trong vòng 7ngày kể từ ngày thụ lý đơn khởi kiện có quyền yêu cầu người có thẩm quyền tốngđạt trát đòi trả lời đó
- Trả lời và khởi kiện trở lại (phản tố nguyên đơn): Khi trát đòi và ban sao
đơn khởi kiện đã được tống đạt cho bị đơn thì bị đơn phải trả lời bằng văn bản vàgửi cho Tòa trong vòng 8 ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn khởi kiện và trátđòi Trong bản trả lời, bị đơn có thể khởi kiện trở lại nếu đơn khởi kiện trở lại cóliên quan với đơn khởi kiện chính, còn không thì Tòa án yêu cầu bị đơn khởi kiện
Trang 22bằng một vụ kiện riêng biệt [18].
* Cuốn sách giảng dạy nghiệp vụ TTDS Trung Quốc nhan đề "Giải thích
pháp luật TTDS" của tác giả Trương Hữu Ngư, chủ biên Lương Thư Văn có những
nội dung giải thích các quy định về khởi tố và thụ lý VADS được trình bày tại Mục
I Chương 12 Có thể tóm tắt những nội dung này như sau:
- Về điều kiện khởi tố VADS: Vụ án phải có nguyên đơn; có bị đơn rõ ràng;có mục đích tố tụng rõ ràng; vụ án do nguyên đơn khởi tố phải là vụ án thuộc sựquản lý của TAND
- Phương thức khởi tố: Phải bằng văn bản và bản sao căn cứ vào số bị đơn Nếucó khó khăn không trình được đơn khởi tố bằng văn bản thì có thể khởi tố bằng lời
- Các căn cứ không thụ lý đơn khởi tố: Là vụ án hành chính; các bên cóthỏa thuận về trọng tài; vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
- Việc không thụ lý vụ án phải có xét định bằng văn bản và nguyên đơn cóquyền kháng án lên cấp trên trong thời hạn 10 ngày [102, tr 21-26]
Những công trình nghiên cứu khoa học ở nước ngoài nêu trên đã chỉ ra mộtcách khái quát nhất những quy định của pháp luật TTDS một số nước về khởi kiệnvà thụ lý VADS và là những tài liệu tham khảo quý giá cho NCS khi triển khai luậnán của mình Tuy nhiên, cũng cần phải nghiên cứu sâu hơn các nội dung này để từđó có sự so sánh và rút ra những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn của Việt Nam
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết của các nhà khoa học pháp lý trong
nước nghiên cứu về pháp luật TTDS một số nước trên thế giới như: Bài viết "Thủ tục TTDS của một số nước Châu Âu và so sánh với thủ tục TTDS Việt Nam" của TS.
Trần Anh Tuấn Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu, phân tích thủ tục TTDS củamột số nước trên thế giới, trong đó có đề cập đến thủ tục khởi kiện, thụ lý VADS vàđưa ra quan điểm đánh giá, so sánh với trình tự thủ tục TTDS Việt Nam Bài viết
"Pháp luật TTDS Hoa Kỳ và khả năng ứng dụng trong việc hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam" của Nguyễn Thị Thu Hà đã nghiên cứu, phân tích các quy định
của pháp luật TTDS Hòa Kỳ về việc giải quyết VADS theo trình tự sơ thẩm và trìnhtự phúc thẩm, nêu một số nội dung khác biệt giữa hệ thống pháp luật TTDS Hoa Kỳvà hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam về các vấn đề trên, từ đó đưa ra các khuyếnnghị cần tiếp thu cho BLTTDS Việt Nam, trong đó có nội dung phân tích các quyđịnh của pháp luật TTDS Hoa Kỳ về khởi kiện và thụ lý VADS
Do giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu của bài viết nên vấn đề khởi kiệnvà thụ lý VADS theo pháp luật TTDS một số nước trên thế giới chỉ chiếm một dung
Trang 23lượng nhỏ trong các bài viết nêu trên NCS sẽ sử dụng làm nội dung tham khảotrong luận án và tiếp tục phát triển thêm những vấn đề có liên quan trong bài viếtcủa các tác giả này.
3 Hệ thống những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
Từ kết quả phân tích, đánh giá các công trình khoa học đã công bố, NCSđưa ra hệ thống những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của Đề tài luận án, gồm:
3.1 Những vấn đề lý luận về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
- Khái niệm quyền khởi kiện: Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm do
các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra, luận án tiếp tục nghiên cứu và làm rõ nội hàmcủa khái niệm này như: Quyền khởi kiện VADS là quyền tự nhiên của con ngườiđược ghi nhận trong pháp luật, theo đó cá nhân, pháp nhân, tổ chức có quyền tựmình quyết định việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự
- Đặc điểm của quyền khởi kiện, sẽ được tiếp tục làm rõ và chỉ ra một số
đặc điểm của quyền khởi kiện như: quyền khởi kiện VADS là một quyền con người
cơ bản; quyền khởi kiện có nguồn gốc tự nhiên song phải được pháp luật quy định;quyền khởi kiện vừa là quyền dân sự, vừa là quyền tố tụng; quyền khởi kiện làquyền tố tụng yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp
- Khái niệm khởi kiện VADS: Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những kết quả
nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đó, luận án đưa ra khái niệm khởikiện VADS như: Khởi kiện VADS (hay kiện VADS) là việc các cá nhân, pháp nhâncó quyền lợi dân sự và tư cách pháp lý hoặc các chủ thể khác theo quy định củapháp luật tự quyết định nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sựtheo thủ tục TTDS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của ngườikhác hay lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng
- Đặc điểm của khởi kiện VADS: Từ khái niệm của khởi kiện VADS, luận
án phân tích những đặc điểm cơ bản của khởi kiện VADS như: Khởi kiện VADS làviệc thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế; khởi kiện VADS theo nghĩa hẹp là việcnguyên đơn nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết VADS và theo nghĩa rộng còn baogồm cả việc bị đơn nộp đơn phản tố và người liên quan đưa ra yêu cầu độc lập; khởikiện VADS là việc cá nhân, pháp nhân thực hiện quyền tự định đoạt của mình,trong đó các đương sự được tự do định đoạt trong việc bảo vệ quyền lợi của mình;khởi kiện VADS là hoạt động do các chủ thể có quyền lợi hoặc được pháp luật traoquyền thực hiện theo quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng nhằmbảo vệ lợi ích tư của chính mình, của người khác hay lợi ích của Nhà nước, lợi ích
Trang 24công cộng
- Ý nghĩa của khởi kiện VADS: Luận án sẽ phân tích ý nghĩa của khởi kiện
VADS dưới hai góc độ: chính trị, xã hội và pháp lý Theo đó, khởi kiện VADS gópphần bảo vệ quyền con người, bảo đảm pháp chế XHCN; là hành vi pháp lý đầu tiênlàm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS; là căn cứ xác định thời hiệu khởi kiện
- Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thụ lý VADS: Trên cơ sở kế thừa những
kết quả đã đạt được của các công trình nghiên cứu có liên quan về khái niệm thụ lýVADS, luận án tiếp tục nghiên cứu và xây dựng nội hàm của khái niệm này dướicác góc độ tiếp cận khác nhau như dưới góc độ các quy định pháp luật, dưới góc độmột thủ tục tố tụng ; đưa ra những đặc điểm cơ bản của thụ lý VADS như: thụ lýVADS là giai đoạn đầu tiên của quá trình TTDS do Tòa án thực hiện; là một hoạtđộng do Tòa án có thẩm quyền thực hiện; căn cứ phát sinh thụ lý VADS là dựa trênđơn khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện; là một quy trình tố tụng gồm nhiềubước khác nhau để đi đến kết quả là Tòa án nhận trách nhiệm giải quyết VADS
- Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS: Luận án đưa ra một số cơ sở khoa học như việc xây dựng các quy định về
khởi kiện và thụ lý VADS dựa trên cơ sở ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền conngười về dân sự; việc xây dựng các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS phải trên cơsở trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;việc xây dựng các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS còn xuất phát từ nguyên tắcbình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS; việc xây dựng các quy định về khởi kiệnvà thụ lý VADS phải trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam
- Điều chỉnh pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS: Pháp luật TTDS
về khởi kiện và thụ lý VADS có rất nhiều nội dung khác nhau Do đó, trong phầnnày, luận án sẽ phân tích một cách tổng quát nhất dưới góc độ lý luận về một số nộtdung cơ bản của pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS, từ đó làm cơ sở soichiếu với pháp luật thực định của Việt Nam về các nội dung này
3.2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự
về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự ở Việt Nam
Luận án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADSở Việt Nam, theo đó sẽ phân tích, bình luận những điểm mới của BLTTDS năm 2015về khởi kiện và thụ lý VADS; chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật TTDS vềkhởi kiện và thụ lý VADS và những vướng mắc trong thực tiễn tố tụng tại các Tòa
Trang 25án ở Việt Nam như hạn chế, bất cập của pháp luật về chủ thể khởi kiện, hạn chế, bấtcập về phạm vi khởi kiện; hạn chế, bất cập của pháp luật về đơn khởi kiện vàphương thức gửi đơn khởi kiện; hạn chế, bất cập của pháp luật về thụ lý VADS
3.3 Yêu cầu, kiến nghị hoàn thiện và thực hiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự ở Việt Nam
Mặc dù nhiều tác giả khi nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS đã đưa ranhững kiến nghị, giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về khởi kiện và thụ lýVADS ở Việt Nam Tuy nhiên, những kiến nghị, giải pháp này hoặc là chỉ nhỏ lẻđối với từng trường hợp cụ thể, hoặc không còn giá trị thực tiễn do BLTTDS năm
2015 đã có hiệu lực pháp luật Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những giảipháp hoàn thiện pháp luật TTDS nói chung và quy định của BLTTDS năm 2015 nóiriêng về khởi kiện và thụ lý VADS cũng như những giải pháp thực hiện pháp luậtvề khởi kiện và thụ lý VADS trong thực tiễn là một trong những nhiệm vụ quantrọng mà luận án cần giải quyết Các giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật vềkhởi kiện và thụ lý VADS được đề ra trên cơ sở lý luận về khởi kiện và thụ lý VADS
4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và dự kiến các kết quả nghiên cứu của luận án
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để việc nghiên cứu đề tài luận án một cách đúng hướng, nghiên cứu sinh đềxuất những những câu hỏi nghiên cứu cơ bản sau đây;
Câu hỏi nghiên cứu 1: Lý luận về khởi kiện và thụ lý VADS gồm những
vấn đề gì, vấn đề nào là cơ bản cần giải quyết trong Luận án?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS ở Việt Nam
đã đạt những ưu điểm, tiến bộ gì? Có sự giống và khác biệt như thế nào so với phápluật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS của một số nước trên thế giới? Đã bảo đảmtính hợp lý hay chưa? Còn có những hạn chế, bất cập và vướng mắc như thế nàotrong thực tiễn áp dụng?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Với những hạn chế và bất cập đã được nghiên cứu,
đánh giá thì cần đặt ra những yêu cầu và giải pháp gì cho việc hoàn thiện và thựchiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Lý luận về khởi kiện và thụ lý VADS ở Việt Nam chưa được nghiên cứutoàn diện và sâu sắc; pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS còn nhiều hạn chế, bấtcập, chưa phù hợp với lý luận và chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; việc thực hiện
Trang 26pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS còn nhiều sai sót, vi phạm, kết quả chưa caonên cần phải có giải pháp hoàn thiện và thực hiện cụ thể Với những nội dung trên,NCS đặt ra những giả thuyết nghiên cứu sau đây:
Một là, làm rõ thế nào là quyền khởi kiện, khởi kiện, thụ lý VADS; khởi
kiện và thụ lý VADS có đặc điểm và ý nghĩa gì; cơ sở khoa học nào để xây dựngcác quy định về khởi kiện và thụ lý VADS; các yếu tố bảo đảm thực hiện khởi kiệnvà thụ lý VADS; pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS có những nội dung gì
Hai là, nghiên cứu, xác định những ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập
của pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS; những vướng mắc trong thựctiễn áp dụng
Ba là, nghiên cứu làm rõ những yêu cầu và giải pháp cụ thể hoàn thiện và
thực hiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS
4.3 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Bằng việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu, xác định đúng hướng tiếp cận vàchứng minh được các giả thuyết nghiên cứu nêu trên, dự kiến kết quả nghiên cứucủa đề tài luận án thu được là:
Thứ nhất, hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận về khởi kiện và thụ lý
VADS như phân tích, đưa ra khái niệm, đặc điểm của quyền khởi kiện; khái niệm,đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện VADS; khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thụ lýVADS; cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định pháp luật về khởi kiện vàthụ lý VADS Việc nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận nêu trên nhằm tìm ramối liên hệ giữa cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật thực định về khởi kiệnvà thụ lý VADS Bên cạnh đó, việc nghiên cứu còn cung cấp hệ thống cơ sở lý luậncho các nhà lập pháp có thể xây dựng, hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lýVADS ở Việt Nam cũng như cung cấp cơ sở lý luận cho các chủ thể có liên quankhi tìm hiểu và áp dụng chế định này
Thứ hai, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan thực trạng quy định pháp
luật và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS
sẽ giúp NCS chỉ ra được những hạn chế, bất cập của pháp luật cũng như vướng mắctrong thực tiễn thực hiện
Thứ ba, trên cơ sở phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật TTDS về
khởi kiện và thụ lý VADS, căn cứ và điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và yêu cầucải cách tư pháp ở Việt Nam trong thời gian tới cũng như xu thế lập pháp TTDStrên thế giới, NCS đưa ra các yêu cầu và kiến nghị một số giải pháp căn bản và cụ
Trang 27thể nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS
Qua nghiên cứu và đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu các vấn đềcó liên quan đến đề tài luận án, nghiên cứu sinh rút ra một số nội dung như sau:
1 Khởi kiện và thụ lý VADS là một chế định quan trọng trong BLTTDS,việc thực hiện có hiệu quả các quy định này có ý nghĩa quan trọng về các mặt kinhtế, chính trị, xã hội Nó phụ thuộc khá nhiều vào chính sự khả thi, phù hợp của cácquy định pháp luật; trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của Thẩm phán cũngnhư trình độ dân trí và hiểu biết pháp luật của người dân Qua nghiên cứu tổng quan
tài liệu liên quan đến luận án "Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề về mặt lý luận cũng như thực tiễn
về khởi kiện và thụ lý VADS cần phải tiếp tục được nghiên cứu và làm rõ, đặc biệttrong bối cảnh BLTTDS năm 2015 vừa có hiệu lực thi hành Mặt khác, cho đến nayvẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào ở cấp độ tiến sĩ về vấn đềnày Trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước đã phân tích ởtrên, luận án sẽ tiếp thu những ưu điểm và nội dung phù hợp, bên cạnh đó, luận án
sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận mới mà các công trình nghiên cứu đãcông bố chưa đề cập đến; phân tích, đánh giá thực trạng và thực tiễn thực hiện cácquy định của pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS ở Việt Nam nhằm đưa
ra cái nhìn có hệ thống về chế định này và đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoànthiện pháp luật cũng như các giải pháp bảo đảm thực hiện khởi kiện và thụ lýVADS ở Việt Nam hiện nay
2 Khởi kiện và thụ lý VADS có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độkhác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu khởi kiện và thụ lý VADS trong TTDS dưới gócđộ pháp luật là góc nhìn có phạm vi nghiên cứu rộng nhất, bao trùm được đượcnhững nội dung cơ bản của pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS dưới các góc độkhác bởi dưới góc độ pháp luật, những nội dung cần nghiên cứu không chỉ là cácquy định về quyền khởi kiện, phạm vi khởi kiện, đơn khởi kiện và phương thức nộpđơn khởi kiện, trình tự thủ tục thụ lý VADS mà còn bao gồm các vấn đề liên quankhác như khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại kiến nghị về việc trả lại đơnkhởi kiện Vì có thể nghiên cứu toàn diện các vấn đề liên quan đến khởi kiện vàthụ lý VADS nên nghiên cứu khởi kiện và thụ lý VADS dưới góc độ pháp luật đượcxác định là hướng nghiên cứu chính của luận án
Trang 29Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN
1.1.1 Về quyền khởi kiện
Dưới góc độ lý luận, về nguồn gốc quyền con người, có hai trường phái cơbản đưa ra hai quan điểm trái ngược nhau Những người theo học thuyết về quyền
tự nhiên {"natural rights" (trong một số tài liệu, các quyền tự nhiên còn được gọi là
các quyền có tính đạo đức/luân lý (moral rights) hoặc các quyền không thể chuyểnnhượng (inalienable rights))} cho rằng, quyền con người là những gì thuộc bẩmsinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng bởi đơn giản họ là các thànhviên của gia đình nhân loại Các quyền con người, do đó, không phụ thuộc vàophong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp,tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay Nhà nước nào Vì vậy không một chủ thể nào, kểcả Nhà nước có quyền ban phát hay tước bỏ các quyền con người bẩm sinh vốn cócủa các cá nhân [17, tr 42] Như vậy, học thuyết pháp luật tự nhiên cho rằng, khicon người sinh ra đã được hưởng thụ các quyền mà luật tự nhiên ban cho, các quyềnnày đã chi phối và hướng dẫn hành vi con người đi đến sự công bằng và đúng đắn.Luật của tự nhiên đã có trước khi loài người xuất hiện, nó tồn tại vĩnh hằng, độc lập,bất biến và khách quan (cả ở Phương Đông và Phương Tây đều cùng quan điểm này)
Ngược lại học thuyết về các quyền pháp lý {"legal rights" (trong một số tài
liệu, các quyền pháp lý cơ bản còn được gọi là các quyền dân sự (civil rights) hoặccác quyền luật định (statutory rights))} [17, tr 42], hay còn gọi là học thuyết phápluật thực chứng cho rằng, quyền là khả năng nhà nước trao cho chủ thể thông quapháp luật Thực chứng có nghĩa rằng trước hết luật phải tồn tại một cách rành rọt, cụthể, minh chứng được [52, tr 62] Học thuyết này cho rằng, các quyền con ngườikhông phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các Nhànước xác định, thừa nhận và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất
phát từ truyền thống văn hóa [17, tr 42] Theo học thuyết này, quyền là "những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó
Trang 30cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai ngăn cản, hạn chế" [107, tr 648] Từ những cách tiếp cận ở trên có thể khái quát lại: Quyền là khả
năng mà pháp luật cho phép chủ thể được hưởng, được thực hiện những hành vi gắnvới những điều kiện nhất định [41, tr 42]
Cho đến nay, cuộc tranh luận về nguồn gốc của quyền con người vẫn còntiếp tục Mặc dù vậy, dường như quan điểm cực đoan phủ nhận bất cứ học thuyếtnào trong hai học thuyết kể trên đều không phù hợp, bởi lẽ, trong khi về hình thức,hầu hết các văn kiện pháp luật của quốc gia đều thực hiện các quyền con người làcác quyền pháp lý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm
1948 và một số văn kiện pháp luật của một số quốc gia, quyền con người đượckhẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tước bỏđược của mọi cá nhân [17, tr 44] Song dù theo trường phái nào thì quyền conngười luôn là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm và mỗi quốc gia trên thế giớiđều phải bảo đảm cho quyền con người của mọi công dân trên lãnh thổ quốc giamình được tôn trọng và thực thi trên thực tế
Trong quá trình con người trao đổi lợi ích với nhau, việc xảy ra tranh chấp,mâu thuẫn là một yếu tố khách quan mang tính quy luật Bởi, con người vốn khônghoàn hảo và loài người vốn bất toàn Do vậy, từ xưa tới nay, dù ở Đông phương hayTây phương thì trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lý và luật pháp [93] Vớibản chất là một hiện tượng xã hội khách quan nên không thể phủ nhận hay né tránhnhững vi phạm, tranh chấp dân sự mà cần phải tìm ra những giải pháp, phươnghướng nhằm giải quyết tranh chấp theo chiều hướng tích cực nhất Khi có tranhchấp dân sự xảy ra, các chủ thể có quyền quyết định biện pháp bảo vệ quyền và lợiích phù hợp với quy định của pháp luật Nhà nước trao cho các chủ thể nhữngphương tiện pháp lý cần thiết và thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp, yêu cầu đểmọi người có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình [94, tr 20] Theo đó,quyền khởi kiện chính là ghi nhận của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người,quyền công dân Quyền khởi kiện VADS là tiền đề pháp lý để các chủ thể có thểyêu cầu Tòa án khởi động quá trình tố tụng để khôi phục lại quyền và lợi ích hợppháp của mình, đồng thời tạo cơ chế chủ động tự bảo vệ cho cá nhân, pháp nhân khiquyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, tranh chấp hay có yêu cầu cần giải quyết.Người bị vi phạm có thực hiện quyền khởi kiện hay không, điều này pháp luậtkhông bắt buộc mà phụ thuộc vào ý chí của người đó [87, tr 212] Quyền khởi kiệnVADS là một trong những quyền con người cơ bản được ghi nhận trong các văn
Trang 31bản pháp lý quan trọng trong nước và quốc tế Trong TTDS, bảo đảm quyền conngười là yêu cầu vô cùng quan trọng, chính bởi vậy pháp luật tố tụng phải được xâydựng nhằm hướng tới bảo đảm quyền con người, vì con người, lấy con người làmtrung tâm Tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội mà ở mỗi quốc gia, quyềnkhởi kiện VADS được quy định khác nhau Tại khoản 1 Điều 3 BLTTDS Liên bang
Nga quy định về quyền khởi kiện và khởi kiện: "1 Công dân, tổ chức có liên quan theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc có tranh chấp trong thời hạn hợp lý hoặc quyền thực hiện một biện pháp tư pháp trong khoảng thời gian hợp lý" [106, đoạn 1 Điều 3] và "1 Người có quyền, tự do và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền khởi kiện VADS tại Tòa án 2 Trong những trường hợp do Bộ luật này và luật Liên Bang quy định, một người có thể nhân danh mình khởi kiện VADS yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác, tập hợp người không xác định hoặc lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga, các
tổ chức tự quản địa phương" [106, Điều 4] Về cơ bản, quy định về khởi kiện trong
pháp luật TTDS Liên bang Nga hướng đến mục đích của khởi kiện VADS là việccác chủ thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi xảy
ra xâm phạm hoặc tranh chấp Theo đó, trọng tâm của khởi kiện chính là việchướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luậtdân sự
Quyền khởi kiện cũng được quy định tại Điều 1 BLTTDS của Cộng hòa
Pháp: "Chỉ các bên đương sự mới có quyền khởi kiện trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Các bên đương sự được tự do chấm dứt tố tụng trước khi hết hạn tố tụng theo quyết định của Tòa án hoặc theo quy định của pháp luật" [54, tr 7] Pháp
luật TTDS Pháp hạn chế chủ thể có quyền khởi kiện VADS qua việc giới hạn chủ
thể có quyền khởi kiện, theo đó "chỉ các bên đương sự" mới có quyền khởi kiện trừ
các trường hợp khác theo luật định Việc hạn chế chủ thể khởi kiện nhằm mục đíchbảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ dân sự đồng thời hạn chếviệc các chủ thể không liên quan cố tình lợi dụng quyền khởi kiện vào những mụcđích không tốt, ảnh hưởng đến sự bình ổn trong các giao lưu dân sự cũng như giúpTòa án tiết kiệm được thời gian để không giải quyết các khiếu kiện vô căn cứ Bêncạnh đó, mặc dù pháp luật tố tụng Cộng hòa Pháp không đề cập đến mục đích cụ thểcủa việc khởi kiện VADS nhưng thông qua việc giới hạn chủ thể quyền khởi kiện sẽxác định được trọng tâm của quyền khởi kiện chính là việc bảo vệ tốt nhất các
Trang 32quyền và lợi ích khi các đương sự tham gia quan hệ dân sự, đồng thời là cơ chế đểbảo đảm cho các chủ thể khi tham gia pháp luật dân sự có ý thức hơn trong việc tôntrọng quyền của chủ thể khác và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình, duy trì sựổn định trong giao lưu dân sự cũng như giúp cho mục đích xác lập quan hệ dân sựđược bảo đảm thực hiện Xuất phát từ bản chất tự do, bình đẳng, tự nguyện khitham gia các quan hệ dân sự, điểm nổi bật trong pháp luật TTDS của Pháp chính làquyền tự do khởi kiện vụ án cũng như việc đương sự có toàn quyền quyết đinh
trong việc tiếp tục hay từ bỏ quá trình tố tụng tại Tòa án "trước khi hết hạn tố tụng".
Trong Luật TTDS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quyền khởi
kiện VADS được quy định: "Các đương sự có quyền tố tụng bình đẳng TAND có trách nhiệm cung cấp biện pháp bảo vệ và tạo điều kiện cho tất
cả các bên tham gia thực hiện quyền tố tụng của họ, và áp dụng pháp luật bình đẳng cho tất cả các bên" [103, Điều 8] và "Những VADS được khởi kiện bởi mối quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân giữa công dân với nhau, giữa pháp nhân với nhau, giữa các tổ chức với nhau, và giữa họ với nhau để TAND thụ lý đều phải phù hợp với quy định của Bộ Luật này" [103, Điều 3] Điều 15 của LTTDS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: "Đối với hành vi gây tổn hại tới quyền lợi dân sự của Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân, các cơ quan, đoàn thể xã hội, đơn vị, xí nghiệp sự nghiệp có thể ủng hộ các đơn vị hoặc cá nhân bị thiệt hại khởi kiện với Tòa án nhân dân" [103, Điều 15]
Bên cạnh việc chủ thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình khi có sự xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp thì pháp luật TTDScòn quy định về quyền khởi kiện VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước Hầu hết tại một số quốc gia trênthế giới, pháp luật đều quy định Nhà nước là chủ thể cơ bản có quyền hạn và tráchnhiệm trong việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như các lợi ích côngcộng nên quyền xử lý các hành vi vi phạm cũng như quyền khởi kiện đòi bồithường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên đều thuộc về Nhà nước Tuy nhiên,theo chiều dài lịch sử, khi nền dân chủ phát triển, xã hội dân sự ra đời kéo theoquyền và tiếng nói của người dân càng ngày được chú trọng trong việc giải quyếtcác vấn đề thuộc lợi ích công cộng thì mô hình khởi kiện vì lợi ích công (PIL) ra đờivà phát triển trên nhiều quốc gia trên thế giới Theo đó, khi muốn khôi phục lợi íchchung của cộng đồng thì Nhà nước không còn là chủ thể duy nhất có quyền khởikiện mà quyền khởi kiện được mở rộng cho các chủ thể khác như công dân, tổ chức
Trang 33xã hội
Thông thường, trong hệ thống pháp luật của các nước theo hệ thống ComonLaw thì quyền khởi kiện VADS để bảo vệ các lợi ích công cộng không được quyđịnh cụ thể trong các đạo luật mà chủ yếu được xác lập từ án lệ xây dựng bởi Tòaán Chẳng hạn, tại Ấn Độ, PIL được đặt nền móng lần đầu tiên bởi Thẩm phánKrishna Iyer trong vụ Mumbai Kamgar Sabhha v Abdullabhai năm 1976, với việc
giải thích thuật ngữ "lợi ích công" gắn liền với sự mở rộng quyền khởi kiện của cá
nhân khi kết quả đạt được từ việc khởi kiện này mang lại lợi ích cho số đông trongxã hội Trên cơ sở đó, hướng giải thích mở rộng quyền khởi kiện cũng được ápdụng trong các vụ án về môi trường, điển hình là vụ Ferlitizer Corp Kamgar Union
v Union of India năm 1981, trong đó Thẩm phán Bhagwati kết luận quyền khởikiện được trao cho tổ chức hoặc cá nhân có tâm nguyện vì lợi ích công cộng với sựquan ngại sâu sắc về việc bảo tồn nguồn tài nguyên chung… Cách giải thích tiến bộvề quyền khởi kiện này đã đưa đến thành công của rất nhiều tổ chức phi lợi nhuậnvề môi trường tại Ấn Độ với tư cách là nguyên đơn trong các vụ án về môi trường,như vụ Rural Litigation and Entitlement Kendra v State of Uttar Pradesh năm 1988,India Council for Enviro-Legal Action v Union of India năm 1996… [34] Năm
1972, Hoa Kỳ cũng là một quốc gia điển hình theo hệ thống luật án lệ đã xóa bỏ sựràng buộc lý thuyết truyền thống về quyền khởi kiện liên quan đến lợi ích côngcộng Trong vụ án Sierra Club v Morton, Tòa án Tối cao Liên bang Hoa Kỳ đã đưa
ra một nhận định tích cực về cơ sở của quyền khởi kiện khi công nhận thiệt hại là cơsở của quyền khởi kiện không chỉ là thiệt hại về người, tài sản mà còn bao gồm cảthiệt hại về các giá trị thẩm mỹ, hoặc lợi ích về môi trường Từ đó, quyền khởi kiệnđược Tòa án mở rộng cho các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực môi trường nếu tổ
chức đó đáp ứng được các điều kiện: "ít nhất một hội viên trong tổ chức có quyền khởi kiện, tức là có lợi ích cá nhân bị trực tiếp xâm hại bởi hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; nội dung của vụ kiện phù hợp với mục đích hoạt động của tổ chức; mục đích của việc khởi kiện không phải nhằm khôi phục lợi ích kinh tế của cá nhân hội viên trong tổ chức" [34] Tuy nhiên, khi cá nhân, tổ chức tham gia tố tụng
để bảo vệ lợi ích cho xã hội thì họ không phải là nguyên đơn, bị đơn hoặc người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện Họ có quyển trình bày trước Tòa ánquan điểm của họ về bảo vệ quyền lợi ích chung của xã hội nhưng không có quyềnđưa ra chứng cứ để giải quyết vụ kiện giữa nguyên đơn và bị đơn Ngoài ra, cánhân, tổ chức có thể kiện ra trước Tòa án để bảo vệ lợi ích chung của xã hội trong
Trang 34trường hợp họ bị ảnh hưởng bởi sự xâm phạm lợi ích chung đó [108, tr 20] Tươngtự như vậy, năm 1988 Tòa án tối cao của Pakistan ra phán quyết giải quyết vụBenazir Bhutto v Federation of Pakistan đã chỉ ra, việc cho phép một tập thể hoặcmột nhóm người có quyền khởi kiện để khôi phục lợi ích một số đông trong xã hộilà cần thiết, nếu như không bằng cách này thì không thể bảo vệ các quyền cơ bảncủa họ.
Khác với hệ thống Comon Law, quyền khởi kiện để bảo vệ các lợi ích củangười khác, lợi ích công cộng tại các nước theo truyền thống dân luật được quyđịnh cụ thể trong các đạo luật của Nhà nước Điều 46 BLTTDS Liên bang Nga quyđịnh về việc khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của
người khác: "1 Trong trường hợp pháp luật quy định, cơ quan chính quyền Nhà nước, cơ quan chính quyền tự quản địa phương, tổ chức hoặc công dân có quyền khởi khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác theo yêu cầu của họ hoặc để bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của tập hợp người không xác định Việc khởi kiện để bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người không có năng lực hành vi và người chưa thành niên không phụ thuộc vào yêu cầu của những người đó hoặc những người đại diện hợp pháp của họ.
2 Người khởi kiện để bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ như nguyên đơn, trừ quyền hòa giải và nghĩa vụ trả án phí Trong trường hợp cơ quan, tổ chức hoặc công dân khởi kiện để bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác rút đơn khởi kiện, cũng như trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì phát sinh những hậu quả pháp lý được quy định tại khoản 2 Điều 45 Bộ luật này" [106] Tại Điều 55 LTTDS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1991 sửa đổi năm 2012 quy định: "Đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người tiêu dùng rộng lớn hoặc thiệt hại lợi ích công cộng, một cơ quan hay tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật có thể khởi kiện trong Toà án nhân dân hợp pháp"
[103, Điều 55]
Ở Việt Nam, pháp luật TTDS qua các thời kỳ đều có quy định quyền khởikiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có sự xâmphạm hoặc xảy ra tranh chấp và quyền khởi kiện VADS để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước Tuy nhiên, nộihàm của quy định về quyền khởi kiện trong các văn bản pháp luật TTDS của Việt
Trang 35Nam ở mỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau Trước khi BLTTDS năm 2004 có hiệulực, quyền khởi kiện được hiểu rất rộng và đồng nhất với quyền yêu cầu Tòa án giảiquyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS hiện nay Theo đó, quyền khởikiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép các chủ thể được yêu cầu Tòa ánbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp đó bịxâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền về dânsự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Thời kỳ này, pháp luậtTTDS của Việt Nam không có sự phân biệt giữa hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủtục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự Tất cả các việc có tranh chấphay không có tranh chấp đều được gọi chung là VADS và việc yêu cầu Tòa án giảiquyết các vụ việc dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được gọi làkhởi kiện VADS Ngoài ra, pháp luật TTDS thời kỳ này còn quy định về quyềnkhởi tố VADS của Viện Kiểm sát nhân dân
Từ những phân tích khái quát trên, có thể thấy quyền khởi kiện có các đặcđiểm cơ bản sau:
Thứ nhất, quyền khởi kiện VADS là một quyền con người cơ bản.
Trong TTDS, bảo đảm quyền con người là yêu cầu vô cùng quan trọng,chính bởi vậy pháp luật tố tụng phải được xây dựng nhằm hướng tới bảo đảm quyềncon người, vì con người, lấy con người làm trung tâm Khi bàn về quyền con người,
Ayn Rand định nghĩa rất xác đáng rằng "Quyền con người là điều kiện mà bản chất con người đòi hỏi để tồn tại một cách thích đáng" [5] Theo đó, "Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là nhiệm vụ đặc trưng, cao nhất, tập trung nhất của cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp" [101, tr 500]
Như vậy, bảo vệ quyền con người là nhiệm vụ của bất cứ nhà nước phápquyền và không chỉ dừng lại ở những tuyên bố chính trị, ghi nhận trong pháp luậtmà còn có cơ chế bảo vệ cụ thể và mục đích cuối cùng là thực hiện việc bảo vệquyền con người trong thực tiễn Bảo vệ quyền con người có nhiều cơ chế khácnhau Là cơ quan thực hiện quyền lực tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Tòa áncó vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người Nói cách khác, bảo vệquyền con người bằng Tòa án là một trong những cơ chế hữu hiệu Thậm chí có
quan điểm cho rằng: Tòa án là nơi đầu tiên và trước nhất mà người dân trông cậy
để gìn giữ quyền con người [39, tr 261] và "Tòa án phải là nơi mà mọi con người, mọi công dân tìm đến lẽ phải, tìm đến sự thật; Tòa án nhân dân phải là người có nhiệm vụ bảo vệ công lý khi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Trang 36bị xâm hại" [101, tr 500] Theo Văn phòng Cao ủy về quyền con người của tổ chức
Liên hợp quốc thì quyền con người là quyền không thể tách rời của mỗi con người,không phụ thuộc vào dân tộc, nơi sống, giới tính, đảng phái, màu da, tôn giáo, ngônngữ, hoặc những dấu hiệu khác Tất cả con người đều bình đẳng có được quyền conngười, mọi dân tộc đều được loại bỏ sự phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc.Những quyền này có mối liên hệ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời
Quyền con người luôn luôn được ghi nhận và bảo đảm bởi luật pháp và cáchiệp định, pháp luật quốc tế, những nguyên tắc chung của pháp luật và những nguồnluật quốc tế khác Luật quốc tế về quyền con người giao cho quốc gia có nghĩa vụphải thực hiện hành động với mục tiêu khuyến khích và bảo vệ quyền và tự do cơbản của con người Tại Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 của Đại hộiđồng Liên Hợp quốc đã khẳng định quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chống lạinhững hành vi xâm phạm đến quyền căn bản của công dân được quy định trong cácvăn bản pháp lý của mỗi quốc gia
Quy định này trong Tuyên ngôn đã khẳng định quyền khởi kiện yêu cầuTòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi xảy ratranh chấp hoặc vi phạm là một quyền con người cơ bản
Thứ hai, quyền khởi kiện có nguồn gốc tự nhiên song phải được pháp luật quy định
Như đã phân tích ở trên, cho đến nay, cuộc tranh luận về nguồn gốc củaquyền con người vẫn còn tiếp tục Hiện nay, trong khi về hình thức, hầu hết các vănkiện pháp luật của quốc gia đều thực hiện các quyền con người là các quyền pháplý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và một số vănkiện pháp luật của một số quốc gia, quyền con người được khẳng định một cách rõràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tước bỏ được của mọi cá nhân
Ở Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người đãđược khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011): "Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân - Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định" Điều này đó có nghĩa là quyền con người, quyền công dân được quy
định trong pháp luật Ở đây, pháp luật vừa là phương tiện để ghi nhận, vừa là côngcụ để hiện thực hóa và bảo vệ các quyền tự nhiên của con người Thông qua phápluật, không chỉ các quyền con người, quyền công dân mà cả những nghĩa vụ củanhững chủ thể có liên quan được xác lập, tạo thành khuôn khổ pháp lý cho việc tôn
Trang 37trọng, thực hiện và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân trên thực tế Do đóquyền con người có nguồn gốc tự nhiên song phải được pháp luật quy định [24, tr 85].Như vậy, với tư cách là một quyền cụ thể của quyền con người, quyền công dân, quyềnkhởi kiện VADS cũng có nguồn gốc tự nhiên song phải được pháp luật quy định
Thứ ba, quyền khởi kiện VADS vừa là quyền dân sự, vừa
là quyền tố tụng
Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền đề,điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, cáctổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đãđược pháp luật ghi nhận [61, tr 1] Việc bảo đảm quyền con người trong TTDSphải được đặt trong tổng thể các quyền dân sự của con người trong suốt quá trìnhgiải quyết vụ án Tuyên bố Viên và Chương trình hành động về quyền con người
năm 1993 đã khẳng định: "Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo, (thì) các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hoá, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con ngưòi và các tự do cơ bản" [83, tr 104] Chính bởi vậy, việc quy định về quyền khởi kiện cũng như các cơ
chế pháp lý bảo đảm quyền khởi kiện trong pháp luật TTDS là một đòi hỏi cấp thiếtđặt ra đối với mỗi Nhà nước Thông qua các cách thức và cơ chế khác nhau phù hợpvới điều kiện kinh tế xã hội khác nhau của từng quốc gia, vùng lãnh thổ, mỗi Nhànước sẽ xây dựng, thiết lập các quy định pháp lý khác nhau trong vấn đề bảo đảmquyền con người trong TTDS nói chung và quyền khởi kiện VADS nói riêng
Theo giáo sư Nguyễn Huy Đẩu: "Một quyền lợi được luật pháp công nhận nhiều khi không đủ bảo đảm cho người có chủ quyền hưởng dụng: quyền lợi có thể bị phủ nhận, bị xâm phạm", vì vậy "chủ thể quyền lợi bị tổn thương có quyền buộc tha - nhân phải tôn trọng quyền lợi bị đe dọa bằng những phương tiện hợp pháp", phương tiện này "danh xưng là Luật tố tụng" [26, tr 3] Như vậy, bên cạnh việc ghi
nhận các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, mỗi Nhà nước cần phải có những cơchế bảo đảm cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó được thực hiện một cáchhiệu quả nhất Trong quan hệ pháp luật dân sự, khi thiết lập các mối quan hệ dân sựgiữa các chủ thể với nhau thì quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ đólà vấn đề quan trọng, là động lực chủ yếu để họ tham gia, duy trì các quan hệ phápluật dân sự đó Điều đó đồng nghĩa khi tham gia các quan hệ này các chủ thể phải
Trang 38thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng thỏa thuận và quy địnhpháp luật Tuy nhiên, với sự biến đổi muôn hình vạn trạng của cuộc sống thực tế thìkhông phải lúc nào các quan hệ pháp luật dân sự đều diễn ra suôn sẻ bởi có nhiềutrường hợp việc một hoặc nhiều chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng thỏa thuận và quy định pháp luật dẫnđến hậu quả có thể xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác Theođó, khi xảy ra các trường hợp xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì cácchủ thể sẽ tìm đến các phương thức để giải quyết các tranh chấp dân sự này Nhậnthức được vấn đề đó, pháp luật cần quy định các phương thức để giải quyết tranhchấp Một trong những phương thức giải quyết tranh chấp đó là quyền yêu cầu Tòaán bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của chủ thể khác thông qua
quyền khởi kiện VADS Quyền khởi kiện có thể hiểu như "một phương cách luật định cho phép mỗi người cầu viện đến công lý để xin xác nhận hay che chở quyền lợi của mình" [26, tr 36] Nói cách khác, hiểu theo nghĩa rộng nhất, "quyền khởi kiện là phương tiện sử dụng bởi một người cho rằng mình có một quyền để yêu cầu công lý thừa nhận quyền đó cho mình cũng như bảo đảm việc người khác tôn trọng quyền đó của mình" [27, tr 19] Như vậy, khi những quan hệ thuộc đối tượng điều
chỉnh của pháp luật dân sự bị xâm phạm thì các chủ thể tham gia quan hệ dân sựđều có quyền khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình
Khi các chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp được điều chỉnh bởi các quyđịnh pháp luật chuyên ngành như Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình bị xâmphạm thì có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ Các quy định về thẩmquyền theo loại việc của Tòa án được xây dựng dựa trên các quan hệ pháp luật nộidung có tranh chấp Hay nói cách khác, quyền khởi kiện là khả năng mà pháp luậtquy định cho các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi họ thamgia vào các quan hệ pháp luật nội dung mà có vi phạm hay tranh chấp Điều nàychính là sự phản ánh mối quan hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật TTDS-điềumà các học giả của cả Đông Âu và Tây Âu đã khẳng định [91] Chính vì quyền khởikiện vừa được pháp luật nội dung ghi nhận với tư cách là một phương thức bảo vệquyền dân sự của chủ thể và vừa được pháp luật tố tụng ghi nhận với tư cách là cơsở làm phát sinh quá trình tố tụng tại Tòa án nên vấn đề này vẫn còn nhiều ý kiến
khác nhau Theo J.A.Jolowicz thì quyền khởi kiện VADS là quyền mang tính trung gian có nguồn gốc và nhằm để kích hoạt các quyền lợi của luật nội dung [111, tr.
Trang 3997] Tuy vậy, trên thực tế, quyền khởi kiện là căn cứ để Tòa án khởi động quy trình
tố tụng và là căn cứ để các bên tham gia, theo đuổi tố tụng Hình thức thực hiệnquyền khởi kiện là đơn khởi kiện và là hành vi tố tụng được điều chỉnh bởi phápluật tố tụng
Quyền khởi kiện là quyền thuộc về con người khi cá nhân, tổ chức tham giaquan hệ pháp luật dân sự nên việc đặt ra các điều kiện khởi kiện để giới hạn quyềnkhởi kiện chính là xâm phạm quyền con người, quyền công dân của đương sự Songkhông phải bất kỳ cá nhân, pháp nhân nào trong điều kiện hoàn cảnh nào cũng cóquyền khởi kiện Một chủ thể chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyếttranh chấp dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể đó, hay của Nhà nướchoặc của người khác bị xâm phạm, tranh chấp là tranh chấp dân sự thuộc quyền giảiquyết của Tòa án theo thủ tục TTDS Mặt khác, để tránh việc cá nhân, pháp nhânlạm dụng quyền khởi kiện gây cản trở cho giao lưu dân sự và hiệu quả hoạt độngcủa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thì chủ thể đó chỉ có quyền khởi kiện khisự việc đó chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật củaTòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừtrường hợp sự việc chưa được Tòa án, cơ quan nhà nước giải quyết dứt điểm tranhchấp hoặc một số loại việc mà do tính chất của nó đương sự có quyền khởi kiện lại
Khi ghi nhận cho các chủ thể có các quyền dân sự, pháp luật dân sự quyđịnh cho các chủ thể phương thức bảo vệ quyền lợi trong trường hợp chủ thể chorằng quyền lợi của mình bị xâm phạm hay có tranh chấp Khi chủ thể quan hệ phápluật dân sự có quyền lợi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, họ có thể viện dẫn đểthực hiện như quyền tự bảo vệ theo quy định của pháp luật, quyền yêu cầu đốiphương chấm dứt vi phạm và bồi thường thiệt hại, quyền yêu cầu cơ quan nhà nướccan thiệp và bảo vệ quyền lợi cho mình, quyền khởi kiện đến Tòa án Tiếp đó,quyền khởi kiện tiếp tục được ghi nhận như một nguyên tắc quan trọng của tố tụng,theo đó các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có quyền khởi kiện đến Tòa án đểyêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình hay người khác Trên cơ sởnguyên tắc trên, luật tố tụng quy định cụ thể chủ thể có quyền khởi kiện, phạm vi,hình thức khởi kiện và thủ tục khởi kiện
Như vậy, quyền khởi kiện VADS tại Tòa án chỉ là một trong các phươngthức bảo vệ quyền lợi nhưng lại là phương thức hữu hiệu nhất vì Tòa án là cơ quannhà nước duy nhất được trao chức năng xét xử, phán quyết về các tranh chấp Cácquyết định của Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước và được các cơ quan nhànước khác cũng như mọi chủ thể trong xã hội tôn trọng và bảo đảm thực hiện
Trang 40Thứ tư, quyền khởi kiện VADS là một quyền tố tụng của đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự
Xuất phát từ bản chất của vụ việc dân sự có tranh chấp với không có tranhchấp là khác nhau nên đòi hỏi việc xem xét giải quyết các vụ việc này cũng phải theonhững trình tự, thủ tục khác nhau Do đó, BLTTDS 2004 được ban hành và có hiệu lựcđã tách thủ tục giải quyết VADS trước đây thành hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tụcgiải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện đượchiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây Có nghĩa là quyền khởi kiện không còn bao hàm cảquyền yêu cầu xem xét về việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lýhoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao độngnhư trước đây nữa mà quyền khởi kiện được hiểu là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong VADS Kế thừa quyđịnh này, BLTTDS năm 2015 cũng quy định quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Tòaán bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích hợp pháp của người khác,lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm [58, Điều 186]
Mặc dù vậy, ở một số nước cũng có những quy định nhằm hạn chế sự lạm
dụng quyền khởi kiện VADS, chẳng hạn không phải vì mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng mà chỉ có ác ý muốn thưa kiện để hãm hại bị đơn thì bị án phạt và bồi thường [26, tr 38] Hoặc như trường hợp không được sử dụng quyền khởi kiện đối
với các tranh chấp nhỏ quá nhiều lần trong một năm [104, Điều 278] Pháp luật ViệtNam cũng có quy định về giới hạn thực hiện quyền dân sự và quyền TTDS, chẳnghạn Điều 10 BLDS 2015 quy định, cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyềndân sự của mình gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặcthực hiện mục đích khác trái pháp luật; khoản 25 Điều 70 BLTTDS 2015 quy địnhcác đương sự phải sử dụng quyền một cách thiện chí, không được lạm dụng để gâycản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác
Qua phân tích khái quát về quyền khởi kiện và đặc điểm của quyền khởikiện nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về quyền khởi kiện VADS như sau:
Quyền khởi kiện VADS là quyền tự nhiên của con người được ghi nhận trong pháp luật, theo đó cá nhân, pháp nhân, tổ chức có quyền tự mình quyết định việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của khởi kiện vụ án dân sự
Nếu như quyền khởi kiện VADS là quyền tự nhiên được pháp luật ghi nhậnthì việc thực hiện quyền khởi kiện VADS trên thực tế được gọi là khởi kiện