1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thuyết pháp trị của hàn phi tử và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xhcn ở việt nam hiện nay

79 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 646,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những t- t-ởng cơ bản trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử 15 Ch-ơng 2: một số giá trị trong thuyết Pháp trị của Hàn phi tử đối với việc xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền xhcn ở Việt Nam hi

Trang 1

Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

-  -

Trần Hồng Đức

Thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và ý nghĩa của nó

đối với việc xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền XHCN

ở Việt Nam hiện nay

Luận văn thạc sỹ triết học

Hà nội - 2004

Trang 2

Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

-  -

Trần Hồng Đức

Thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và ý nghĩa của nó

đối với việc xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền XHCN

ở Việt Nam hiện nay

Luận văn thạc sỹ triết học

Ng-ời h-ớng dẫn : TS Đỗ Minh C-ơng

Cơ quan công tác : Viện Khoa học Tổ chức Ban Tổ chức Trung -ơng

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Những tài liệu đ-ợc sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn chân thực và có xuất

xứ rõ ràng Nếu có điều gì sai trái, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà nội, ngày 15 tháng 12 năm 2004

Tác giả:

Trần Hồng Đức

Trang 4

Mục lục

Trang

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của luận văn 04

5 Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu 04

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 04

Ch-ơng 1: những nội dung cơ bản trong thuyết Pháp trị của Hàn phi tử 05 1.1 L-ợc sử hình thành tr-ờng phái Pháp trị 05 1.2 Những t- t-ởng cơ bản trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử 15

Ch-ơng 2: một số giá trị trong thuyết Pháp trị của Hàn phi tử đối với

việc xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền xhcn ở Việt Nam hiện nay 38 2.1 Một số giá trị rút ra trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và những vấn đề cấp bách

trong quá trình xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay 38 2.2 Một số khuyến nghị mang tính định h-ớng góp phần xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền

Trang 5

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hơn 15 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất n-ớc đã đạt đ-ợc

nhiều thành tựu quan trọng Đất n-ớc ta b-ớc vào thời kỳ phát triển mới, thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu dân giàu, n-ớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc, chúng ta phải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là đổi mới hệ thống chính trị XHCN, xây dựng và hoàn thiện Nhà n-ớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân Nhận thức rõ yêu cầu

đó, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Nhà nước ta là công

cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà n-ớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân Quyền lực nhà n-ớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà n-ớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t- pháp Nhà n-ớc quản lý xã hội bằng pháp luật“ [9, 131-132]

Trong quá trình kiện toàn tổ chức, đổi mới ph-ơng thức và nâng cao hiệu

quả hoạt động quản lý xã hội của nhà n-ớc, việc kế thừa có chọn lọc những t- t-ởng và học thuyết quản lý xã hội trong lịch sử đóng vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì, những t- t-ởng và học thuyết quản lý xã hội, kể cả ở ph-ơng

Đông và ph-ơng Tây, đều là sản phẩm của trí tuệ con ng-ời, đã đ-ợc kiểm nghiệm qua thực tiễn lịch sử Chúng có giá trị nhất định trong việc giúp chúng

ta tìm ra những giải pháp hữu hiệu để xây dựng và hoàn thiện Nhà n-ớc pháp quyền XHCN ở n-ớc ta trong giai đoạn hiện nay Trong đó, thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử, một trong những t- t-ởng chính trị - xã hội nổi bật trong thời

kỳ Trung Quốc cổ đại, đã để lại nhiều kinh nghiệm lịch sử to lớn đối với quá trình thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà n-ớc

Trang 6

Xuất phát từ những đòi hỏi về lý luận và thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử là thực sự cấp thiết Đó là lý do tác giả

chọn đề tài: “Thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và ý nghĩa của nó đối với việc

xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay” làm công

trình nghiên cứu của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trong hơn m-ời năm trở lại đây, thực tiễn công cuộc đổi mới đất n-ớc nói chung, quá trình cải cách hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà n-ớc, tăng c-ờng pháp chế XHCN nói riêng, đã và đang đặt ra những vấn đề cấp bách, đòi hỏi các nhà khoa học phải giải đáp Vì vậy, đã xuất hiện nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nhà n-ớc và quản lý nhà n-ớc trong nền kinh tế thị tr-ờng, về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật XHCN, về cải cách bộ máy hành chính nhà n-ớc,…

Tuy nhiên, việc nghiên cứu và kế thừa tinh hoa di sản t- t-ởng và học thuyết chính trị - xã hội của nhân loại trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà n-ớc pháp quyền XHCN còn nhiều hạn chế Hầu hết các nhà khoa học mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu từng vấn đề cụ thể theo hai h-ớng chính:

+ H-ớng nghiên cứu tập trung vào quá trình cải cách nhà n-ớc:

Nguyễn Duy Gia - Đoàn Trọng Truyến - Trần Ngọc Hiên (1993): Kỷ yếu hội thảo về nội dung và ph-ơng thức tổ chức hoạt động quản lý của bộ máy nhà n-ớc (Đề tài KX.05.08, Học viện Hành chính quốc gia, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội); Nguyễn Văn Niên (1996): Xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội); Nguyễn Văn Thảo chủ biên (1997): Về Nhà n-ớc pháp quyền XHCN Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội); Đào Trí úc chủ biên (1997): Đại hội VIII Đảng cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về nhà n-ớc và pháp luật (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội); Phùng Văn Tửu

Trang 7

(1999): Xây dựng và hoàn thiện nhà n-ớc và pháp luật của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội); …

+ H-ớng nghiên cứu hoặc dịch thuật tập trung vào nội dung các t-

t-ởng chính trị - xã hội: Nguyễn Hiến Lê (1991): Khổng Tử (NXB Văn hóa,

Hà Nội); Nguyễn Hiến Lê (1994): Lão Tử - Đạo đức kinh (NXB Văn hóa, Hà Nội); Nguyễn Hiến Lê - Giản Chi (1994): Hàn Phi Tử (NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội); Nguyễn Hiến Lê (1995): Mặc học (NXB Văn hóa, Hà Nội); Vũ Khiêu (1995): Đức trị và Pháp trị trong Nho giáo (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội); Ngô Tất Tố (1997): Lão Tử (NXB TP Hồ Chí Minh); Đinh Văn Mậu (1997): Lịch sử các học thuyết chính trị - pháp lý (NXB TP Hồ Chí Minh); D-ơng Xuân Ngọc chủ biên (2001): Lịch sử t- t-ởng chính trị (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội); Phan Ngọc dịch (2001): Hàn Phi Tử (NXB Văn học, Hà

Nội);…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều đã làm sáng những vấn

đề hoặc về quá trình cải cách, hoàn thiện bộ máy nhà n-ớc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; hoặc về những t- t-ởng chính trị, pháp lý trên thế giới trong

lịch sử Do vậy, việc kế thừa hai h-ớng nghiên cứu trên sẽ mang lại những ý

nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn nhất định cho việc xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Luận văn có mục đích nghiên cứu những nội dung cơ bản trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay

Để đạt đ-ợc mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Trình bày những nội dung cơ bản trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử

- Làm sáng tỏ giá trị lịch sử của thuyết Pháp trị đối với việc xây dựng và hoàn thiện Nhà n-ớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử

(một học thuyết chính trị – xã hội nổi bật trong xã hội Trung Quốc thời kỳ cổ

đại) thông qua bộ Hàn Phi Tử

5 Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là hệ thống những quan

điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và t- t-ởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà n-ớc ta về vấn đề nhà n-ớc

Ph-ơng pháp nghiên cứu: Trên cơ sở ph-ơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng nhiều ph-ơng pháp nghiên cứu khác nhau nh-: phân tích – tổng hợp, hệ thống – cấu trúc, lôgic – lịch sử,… trong quá trình giải quyết các vấn đề nêu ra

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Những kết quả đạt đ-ợc trong luận văn là sự bổ sung cho quá trình nghiên cứu về lịch sử t- t-ởng chính trị, xã hội Trung Quốc thời kỳ cổ đại Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu triết học

và các ngành khoa học khác trong phạm vi có liên quan tới đề tài

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

đ-ợc chia làm 2 ch-ơng, 4 tiết

Trang 9

Phần Nội dung

Ch-ơng 1: những nội dung cơ bản trong thuyết Pháp trị của

Hàn phi tử

1.1 L-ợc sử hình thành tr-ờng phái Pháp trị

1.1.1 Vài nét về tình hình chính trị, xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc

Khoảng năm 770 tr.CN đến năm 221 tr.CN, Trung Quốc cổ đại b-ớc vào

một thời kỳ có nhiều biến động nhất Lịch sử gọi đó là thời kỳ Xuân Thu (770 -

403 tr.CN) - Chiến Quốc (403 - 221 tr.CN) [21, 10], thời kỳ đánh dấu b-ớc

chuyển quan trọng từ chế độ phong kiến quý tộc cát cứ sang chế độ phong kiến quân chủ trung -ơng tập quyền

Tới thời kỳ này, đồ sắt đã xuất hiện và tạo ra những công cụ sản xuất phổ biến Nhờ vậy, nền sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển mạnh Nền kinh tế th-ơng nghiệp cũng có nhiều khởi sắc Nhiều thành thị th-ơng nghiệp buôn bán nhộn nhịp hình thành ở các n-ớc ch- hầu (Hàn, Tề, Tần, Sở,…) Kinh tế phát triển mạnh đã ảnh h-ởng trực tiếp tới kết cấu giai tầng xã hội, đặc biệt là hình thức sở hữu ruộng đất Nếu nh- vào đầu thời nhà Chu, đất

đai và thần dân đều thuộc về nhà vua thì nay, quyền sở hữu tối cao ấy đã bị chia sẻ bởi tầng lớp địa chủ mới lên Bị mất đất, mất dân, địa vị kinh tế, chính trị của giai cấp quý tộc thị tộc nhà Chu ngày càng sa sút Ngôi Thiên tử của nhà Chu cũng chỉ còn là hình thức Các n-ớc ch- hầu không chịu phục tùng V-ơng mệnh, không chịu cống nạp, mang quân thôn tính lẫn nhau, tự x-ng là Bá (“Vương đạo suy vi”) Chiến tranh xảy ra triền miên, từ hơn một nghìn n-ớc thời Tây Chu, đến thời Xuân Thu chỉ còn hơn một trăm n-ớc lớn và sang thời Chiến Quốc chỉ còn lại bảy n-ớc lớn là: Sở, Hàn, Triệu, Ngụy, Yên, Tề, Tần Mọi trật tự lễ nghĩa bị đảo lộn Thể chế chính trị nhà Chu dựa vào Lễ trở thành hình thức và cứng nhắc Chế độ chính trị mục nát, chiến tranh liên miên,

Trang 10

trật tự xã hội hỗn loạn xô đẩy quần chúng nhân dân vào thảm cảnh đói nghèo,

ly tán, bị áp bức nặng nề,… Vì vậy, mọi ng-ời luôn khát khao cuộc sống bình

yên, hạnh phúc trong một đất n-ớc thống nhất

Với chính sách Bá đạo, vua n-ớc ch- hầu nào cũng muốn thu phục đ-ợc nhiều nhân tài, tập hợp lực l-ợng, tăng c-ờng sức mạnh để trở thành bá chủ thiên hạ; thay thế chế độ V-ơng đạo nay chỉ còn là h- danh của nhà Chu Bởi vậy, trong thời kỳ này, tầng lớp trí thức và những ng-ời có tài đều đ-ợc các vua n-ớc ch- hầu rất trọng vọng Những ng-ời có thực tài văn, võ thì dù có xuất thân từ giai cấp bình dân, địa vị hèn kém vẫn có thể đ-ợc thăng tiến v-ợt cấp, trở thành những ng-ời có địa vị cao sang nh- Tô Tần, Tr-ơng Nghi, Lã Bất Vi, Lý T-,… Những trí thức có tài không chỉ đ-ợc đãi ngộ về mặt vật chất

mà còn đ-ợc quyền tự do khá rộng rãi trong việc bình luận về học thuật, luận bàn về chính trị, đề xuất nhiều m-u kế giúp vua trị n-ớc,…

Chính trong thời đại lịch sử đặc biệt này, các tr-ờng phái triết học đã nảy sinh, phát triển phong phú và vô cùng rực rỡ Mặc dù kinh tế thấp kém, chính

trị suy vi, nh-ng thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc lại có một không khí dân chủ, tự do trong học thuật cao hơn các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này Với t- cách là một hình thái ý thức xã hội, các t- t-ởng chính trị, các tr-ờng phái triết học chính là tấm g-ơng phản chiếu những biến động của đời

sống xã hội Trung Quốc cổ đại Lịch sử gọi đây là thời kỳ “Bách gia chư tử“ (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh“ (trăm nhà đua tiếng) Mục đích

cao cả của các tr-ờng phái triết học là tìm ra những ph-ơng thuốc hữu hiệu

nhất để giải quyết nhiệm vụ xã hội: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ“

Những tr-ờng phái triết học nổi bật trong thời kỳ này là: Nho gia, Mặc gia, Lão gia và Pháp gia

Nho gia (Khổng Tử) chủ tr-ơng “Nhân trị - Đức trị“ Theo họ, t- cách

ng-ời cầm quyền quan trọng hơn luật lệ, hễ có ng-ời yêu dân, làm g-ơng cho

Trang 11

Mặc gia (Mặc Tử) chủ tr-ơng “Kiêm ái“ Nếu nh- ng-ời nào cũng yêu

th-ơng ng-ời khác nh- ng-ời thân của mình, không còn ai tranh giành với ai thì xã hội sẽ yên

Lão gia (Lão Tử) chủ tr-ơng “Vô vi“ theo “Đạo“ Nhà cầm quyền

không nên can thiệp vào việc của dân, để dân sống một đời chất phác, hết ham muốn, hết tranh giành

Pháp gia chủ tr-ơng dùng “Pháp luật“ để cai trị xã hội Nếu luật pháp

nghiêm minh, th-ởng phạt công bằng thì nhà cầm quyền chẳng cần tài đức mà

ổn định, th-ởng phạt phải công bằng và nghiêm minh

Đặc biệt, Quản Trọng là ng-ời đề cao vai trò của dân, thuận theo ý dân,

“dân muốn cái gì thì cấp cho cái đó, không muốn cái gì thì trừ cho cái đó“

Ông luôn tìm cách giúp đỡ dân, thực hiện giảm bớt thuế má, khuyếch tr-ơng công th-ơng, dùng chính sách kinh tế tự do, làm cho dân giàu, n-ớc mạnh

b Thân Bất Hại

Thân Bất Hại (401 – 337 tr.CN) là lãnh tụ của nhóm chủ tr-ơng dùng

“thuật“ để trị quốc Với ông, chính trị li khai khỏi đạo đức Vì vậy, có ng-ời

cho rằng ông mới thực là thủy tổ của Pháp gia

Trang 12

Làm t-ớng quốc n-ớc Hàn trong hoàn cảnh đất n-ớc gặp nhiều khó khăn, dân chúng đói nghèo, nội chính bất hòa, Thân Bất Hại đã kết hợp thuyết “hình danh” (danh phải đúng với thực) với “thuật” (mưu mô sử dụng bề tôi của vua

để đạt mục đích cai trị) lập lại trật tự và ổn định đất n-ớc

Mặc dù chê trách Thân Bất Hại chỉ chuyên dùng “thuật”, không lo về

“pháp”, nhưng Hàn Phi rất tâm đắc với “thuật - hình danh“ của Thân Bất Hại Trong thiên XLIII - Định pháp, Hàn Phi viết: “Thuật là nhân tài năng mà giao cho chức quan, theo cái danh mà trách cứ cái thực (nói sao thì phải làm

đúng nh- vậy hoặc giữ chức vụ nào thì phải làm đúng nhiệm vụ)” [21, 418]

Hàn Phi khẳng định nh- Thân Bất Hại, quan lại phải làm đúng chức quyền của mình Trong thiên XXXIV - Ngoại trừ thuyết hữu th-ợng, Hàn Phi cũng nhấn

mạnh lời của Thân Bất Hại, vua phải có “thuật bí hiểm“, không để lộ suy nghĩ của mình cho kẻ dưới, vua chỉ “vô vi“ (không làm gì cả) mà dò xét bề tôi [21, 573] Bởi vậy, thuyết “vô vi“ của Pháp gia cũng bắt đầu từ đây

c Thận Đáo

Thận Đáo là đại biểu tiêu biểu cho nhóm trọng “thế“ trong Pháp gia

Ông khẳng định, hễ trọng “thế” là tự nhiên sẽ trọng pháp luật Theo Hàn Phi,

Thận Đáo xem “thế“ như mây của rồng, nhờ mây mà rồng bay được lên trời

(Thiên XL – Nạn thế) [21, 411] Thận Đáo đề cao sức mạnh của quyền thế,

địa vị nhưng không xét đến nguồn gốc và cách giữ quyền thế Vì trọng “thế”,

ông chủ tr-ơng tập quyền, cấm bè đảng, bề tôi không đ-ợc lấn vua, mọi ng-ời

đều phải bỏ ý riêng mà tuân theo luật

d Th-ơng Ưởng

Th-ơng Ưởng (388 – 338 tr.CN), còn gọi là Công Tôn Ưởng, hay Vệ

Ưởng, xuất thân từ n-ớc Vệ Ông đã giúp cho Tần Hiếu Công cai trị n-ớc Tần ngày càng hùng mạnh Với những công lao to lớn đó, ông đ-ợc Tần Hiếu Công phong t-ớc Th-ơng Công (bởi vậy mới có tên là Th-ơng Ưởng)

Trang 13

Th-ơng Ưởng là đại biểu cho nhóm trọng “pháp“ trong Pháp gia T-

t-ởng của ông có sự kế thừa t- t-ởng của Ngô Khởi và Tử Sản (thuật khích lệ dân chúng thực thi pháp luật, công khai luật pháp tr-ớc dân chúng, đấu tranh chống đặc quyền, đặc lợi của giai cấp quý tộc đ-ơng thời,…)

Trọng “pháp” theo Thương Ưởng nghĩa là pháp luật phải rất nghiêm, ban bố cho khắp trong n-ớc ai cũng biết và từ trên xuống d-ới ai cũng phải thi hành, không phân biệt giai cấp; pháp luật đã định rồi thì không ai đ-ợc bàn cãi, không đ-ợc làm sai ý nghĩa của pháp luật để tìm lợi cho mình [21,

72] Điều đặc biệt trong “pháp” của Thương Ưởng là tội dù nhẹ cũng phạt thật nặng để cho dân sợ, lần sau không dám phạm phải Đó là cách “dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạt”

Nh- vậy, Pháp gia gồm ba phái chính: “thế“ của Thận Đáo, “thuật“ của Thân Bất Hại và “pháp“ của Thương Ưởng Ngoài ra còn có Tử Sản, Lí Khôi, Ngô Khởi, nh-ng Hàn Phi Tử mới là ng-ời tổng hợp cả ba phái này và phát triển thêm thành một thuyết cai trị - thuyết Pháp trị, có ảnh h-ởng rất lớn trong lịch sử Trung Quốc

1.1.3 Hàn Phi Tử – Ng-ời tổng hợp và phát triển t- t-ởng Pháp gia

Trang 14

có nhiều đồi núi, đất đai cằn cỗi, dân chúng nghèo khổ, lại bị kẹp giữa các n-ớc lớn nh- Tần ở phía tây, Sở ở phía nam, Tề ở phía đông, Triệu, Ngụy ở

phía bắc Trong “Thất hùng“ thời Chiến Quốc, Hàn là nước nhỏ bé, yếu ớt nhất Do tiếp giáp với Tần hùng mạnh nên Hàn luôn chịu đủ mọi sự uy hiếp

Nếu Tần tiến công sáu n-ớc thì Hàn sẽ bị xâm hại tr-ớc tiên Ng-ợc lại, nếu sáu n-ớc tiến công Tần thì Hàn cũng là n-ớc đứng mũi chịu sào Trong n-ớc, vua Hàn u mê, yếu đuối, gian thần hoành hành Nguy cơ đất n-ớc bị diệt vong rất lớn

Là một trí thức quý tộc rất yêu n-ớc, Hàn Phi đã nhiều lần dâng sớ với vua Hàn, nêu lên những ph-ơng sách để cứu vãn sự diệt vong, đem lại sức mạnh cho đất n-ớc Rất tiếc, những ph-ơng sách của ông đã bị lũ gian thần

ngăn cản, không thể thực thi đ-ợc Hàn Phi giận dữ bất bình tr-ớc việc vua Hàn không sửa sang pháp luật, không dựa theo thời thế mà thi hành “pháp”,

“thuật” để mưu cầu sự giàu mạnh, không lựa chọn những hiền sĩ giỏi về

“pháp”, “thuật”, những người có tài, có ích mà chỉ sử dụng những kẻ bất tài,

có hại cho đất n-ớc Ông cảm th-ơng, ngậm ngùi cho sự trung kiên, chính trực nh-ng không đ-ợc trọng dụng của mình Ông dành hết tâm trí viết nên bộ Hàn Phi Tử, tổng hợp những ph-ơng sách trị n-ớc của Pháp gia

Khi tác phẩm của ông đ-ợc đ-a tới n-ớc Tần, Tần Thủy Hoàng xem xong hai thiên “Cô phẫn“ và “Ngũ đố“ đã hết sức thán phục, xem đó là tác phẩm của bậc tiền nhân, giận nỗi không gặp đ-ợc tác giả Lý T-, tể t-ớng

n-ớc Tần khi đó, liền nói với Tần Thủy Hoàng rằng đó là do bạn của mình là Hàn Phi viết [21, 90] Để có đ-ợc Hàn Phi, Tần Thủy Hoàng đem quân đánh Hàn Trong tình huống cấp bách nh- vậy, Hàn Phi đã nhận sứ mạng đi sứ sang Tần Vua Tần rất mừng đón tiếp ông nh-ng lại không tin dùng ông Lý T- và Diêu Giả với lòng ghen tài, đố kỵ đã thừa dịp nói xấu Hàn Phi để vua Tần giam ông vào ngục Lý T- sợ Tần Thủy Hoàng tin dùng Hàn Phi sẽ ảnh h-ởng

Trang 15

Tới lúc Tần Thủy Hoàng nghĩ lại, muốn trọng dụng Hàn Phi thì ông đã không còn nữa [21, 90]

Điều bất hạnh lớn nhất của Hàn Phi là chí lớn ch-a thành đã phải ra đi M-ời hai năm sau khi ông qua đời, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc Những chính sách mà Lý T- dùng khi chấp chính n-ớc Tần có nhiều chủ tr-ơng giống Hàn Phi

b Tác phẩm tiêu biểu

Hàn Phi Tử bắt đầu viết sách vào khoảng năm thứ 8 đời Tần Thủy Hoàng (năm 239 tr.CN) [21, 105] Những tác phẩm của ông đã có những ảnh h-ởng mạnh mẽ và phổ biến rất nhanh trong xã hội Trung Quốc đ-ơng thời Theo T-

Mã Thiên, tác phẩm của Hàn Phi gồm trên một vạn chữ [2, 64] Khoảng 300

năm sau ngày Hàn Phi mất, L-u H-ớng thu thập các tác phẩm của ông đ-ợc

55 thiên

Theo thời gian, những tác phẩm của Hàn Phi Tử ít nhiều đã bị thất lạc, một số nội dung đã bị sửa đổi, hoặc không phải là của ông mà do ng-ời đời sau viết thêm vào Tới nay, bộ Hàn Phi Tử chỉ còn ba bản bằng tiếng Hán [21, 107]:

+ Hàn Phi Tử tập giải của V-ơng Tiên Thận đời Thanh (Trung Quốc),

khắc từ năm Quang Tự thứ 22 (1896)

+ Hàn Phi Tử bạch thoại chú giải của Diệp Ngọc Lân (Hoa Liên xuất

bản xã, không đề in năm nào), bản này chỉ có 33 trong 55 thiên

+ Hàn Phi Tử hiệu thích của Trần Khải Thiên (Trung Hoa tùng th-,

1958)

Bộ Hàn Phi Tử đ-ợc dịch ra tiếng Việt với bản dịch của Nguyễn Ngọc

Huy (Lửa thiêng xuất bản, năm 1974) Và đặc biệt, phổ biến hiện nay là hai bản dịch t-ơng đối đầy đủ:

+ Nguyễn Hiến Lê - Giản Chi (1994): Hàn Phi Tử, NXB Văn hóa thông

tin, Hà Nội

Trang 16

+ Phan Ngọc (2001): Hàn Phi Tử, NXB Văn học, Hà Nội

Nh- vậy, việc nghiên cứu t- t-ởng Hàn Phi là rất khó khăn Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa trên cơ sở hai bản dịch, một của Nguyễn Hiến

Lê - Giản Chi, một của Phan Ngọc Theo đó, bộ Hàn Phi Tử gồm 20 quyển với

55 thiên, trình bày những t- t-ởng và đ-ờng lối cai trị đất n-ớc của Hàn Phi

Tử Cụ thể là:

Thiên I Sơ kiến Tần Kế sách giúp vua Tần thôn tính thiên hạ

Thiên II Tồn Hàn Thuyết phục Tần Thủy Hoàng đừng đánh n-ớc Hàn

Thiên III Nan ngôn 12 lý do tại sao thuyết phục vua là việc khó khăn, nguy hiểm Thiên IV ái thần Cái nguy của vua là chiều chuộng bề tôi, để bề tôi lấn l-ớt Thiên V Chủ đạo Sử dụng “vô vi” của Đạo trong việc hành pháp, dụng thuật Thiên VI Hữu độ Đề cao việc cai trị bằng phép n-ớc, pháp luật

Thiên VII Nhị bính Nói về hai quyền bính của vua, th-ởng và phạt

Thiên VIII D-ơng quyền Nêu cao uy quyền của nhà vua

Thiên IX Bát gian Chỉ ra 8 loại bề tôi gian tà mà vua phải đề phòng

Thiên X Thập quá Chỉ ra 10 điều lỗi mà vua hay phạm phải

Thiên XI Cô phẫn Nói lên nỗi phẫn uất của ng-ời tài mà không đ-ợc trọng dụng Thiên XII Thuyết nan Chỉ ra những cái khó khăn và nguy hiểm của việc du thuyết Thiên XIII Hòa thị Chuyện họ Hòa (nội dung giống nh- thiên Cô phẫn)

Thiên XIV Gian kiếp

thí thần

Phân tích chuyện bề tôi gian dối, lộng hành, khống chế và giết vua; do vậy, vua phải dụng pháp nghiêm minh

Thiên XV Vong tr-ng Chỉ ra những điểm suy vong của đất n-ớc

Thiên XVI Tam thủ Ba điều bí mật mà vua phải giữ kín

Thiên XVII Bị nội Vua phải biết đề phòng từ bên trong, ngay cả đối với vợ con Thiên XVIII Nam diện Phân tích thuật chế ngự bề tôi của vua

Thiên XIX Sức tà Phê phán mê tín dị đoan

Thiên XX Giải Lão Giải thích một số t- t-ởng của Lão Tử

Thiên XXI Dụ Lão Những dẫn dụ để hiểu t- t-ởng Lão tử

Thiên XXII Thuyết lâm Kể về những câu chuyện mà Hàn Phi đã từng đọc

Trang 17

Thiên XXIII Thuyết lâm hạ Kể về những câu chuyện mà Hàn Phi đã từng đọc

Thiên XXIV Quan hành Nói về thuật cai trị của vua, quan sát hành động của bề tôi Thiên XXV An nguy Chỉ ra 7 thuật làm cho n-ớc an và 6 đ-ờng làm cho n-ớc nguy Thiên XXVI Thủ đạo Phép giữ n-ớc là th-ởng hậu, phạt nặng

Thiên XXVII Dụng nhân Chỉ ra cách dùng ng-ời

Thiên XXVIII Công danh Xét về lập công và thành danh

Thiên XXIX Đại thể Chỉ ra những điều cốt yếu của việc trị quốc

Thiên XXX Nội trừ thuyết

th-ợng

Chỉ ra những phép tắc và sự cố của việc trị quốc

Thiên XXXI Nội trừ thuyết hạ Phân tích 6 thuật cai quản bề tôi của vua

Thiên XXXII Ngoại trừ thuyết

tả th-ợng

Phân tích 6 thuật trị n-ớc, dùng ng-ời

Thiên XXXIII Ngoại trừ thuyết

tả hạ

Đ-a ra 6 thuật nữa để cai trị đất n-ớc

Thiên XXXIV Ngoại trừ thuyết

hữu th-ợng

Đ-a ra 3 thuật nữa để sử dụng bề tôi

Thiên XXXV Ngoại trừ thuyết

hữu hạ

Đ-a ra 5 thuật nữa để sử dụng th-ởng, phạt

Thiên XXXVI Nạn nhất Chỉ trích hành động của một số nhà cầm quyền và học giả thời

x-a; từ đó làm rõ chủ tr-ơng Pháp trị Thiên XXXVII Nạn nhị Phê phán Nhân trị, đề cao Pháp trị

Thiên XXXVIII Nạn tam Pháp phải rõ ràng, thuật phải bí mật

Thiên XXXIX Nạn tứ Luận về thế, vua tôi phải có sự phân định rõ ràng

Thiên XL Nạn thế Phê bình và bổ sung thuyết “thế” của Thận Đáo

Thiên XLI Vấn biện Phê phán những tranh luận học thuật không hợp với pháp luật Thiên XLII Vấn Điền Nói vè cách dùng ng-ời, thăng tiến phải tuân thủ pháp luật Thiên XLIII Định pháp Việc kết hợp giữa thuật và pháp của Hàn Phi Tử

Thiên XLIV Thuyết nghi Nói về sự nghi ngờ, một nguyên tắc của thuật dùng ng-ời Thiên XLV Ngụy sử Đề cao đạo trị quốc (lợi, uy và danh) và trọng pháp

Thiên XLVI Lục phản Nói về 6 điều sai quấy, 6 hạng ng-ời đáng phạt

Trang 18

Thiên XLVII Bát thuyết Nói về 8 hạng ng-ời không nên dùng

Thiên XLVIII Bát kinh Nói về 8 thuật trị n-ớc cơ bản

Thiên XLIX Ngũ đố Nói về 5 bọn sâu mọt hại n-ớc

Thiên L Hiển học Đả đảo các học thuyết nổi danh, từ đó đề cao pháp luật Thiên LI Trung hiếu Đề cao trọng pháp, phê phán trọng hiền

Thiên LII Nhân chủ Bậc vua chúa phải có uy thế

Thiên LIII Sức lệnh Cách th-ởng phạt, th-ởng phạt nghiêm minh

Thiên LIV Tâm độ Cách đo lòng ng-ời

Thiên LV Chế phân Nội dung về chế định hình phạt, công tội rõ ràng

c Vài nét về mối liên hệ giữa Hàn Phi Tử và hai phái Nho gia, Đạo gia

Những thay đổi dữ dội của thời đại đã tác động mạnh mẽ tới sự bảo thủ của lòng ng-ời Những gì mà Nho gia tr-ớc đây nhấn mạnh, lấy đó để duy trì trật tự lễ nghĩa đạo đức của xã hội Tông pháp đã mất dần tác dụng; luật pháp mới đã thay thế nó, trở thành chuẩn mực cho sự ổn định xã hội

Học thuyết của Tuân Tử (một Nho gia tiêu biểu) chịu ảnh h-ởng mạnh

mẽ của trào l-u thời đại, dung hợp không ít những t- t-ởng Pháp gia Để thích

hợp hơn nữa với sự cạnh tranh quyết liệt trong giai đoạn cuối của thời Chiến Quốc, các đệ tử của ông đã tiến thêm một b-ớc, xuất hiện với vị thế đàng

hoàng của Pháp gia Hàn Phi Tử và Lý T- đều là học trò của Tuân Tử; một

ng-ời là nhân vật tiêu biểu, tập đại thành của t- t-ởng Pháp gia, ng-ời kia thì

làm khanh t-ớng đắc lực cho Tần Thủy Hoàng Nh- vậy, rõ ràng là t- t-ởng Hàn Phi là sự kế thừa và phát triển t- t-ởng Tuân Tử Tuân Tử cho rằng bản

chất con người là ác, thì “nhân tính” theo Hàn Phi là chỉ biết lo cho lợi ích của riêng mình Nh- vậy, điểm t-ơng đồng giữa Hàn Phi và Tuân Tử đều ở những t- t-ởng Pháp gia chứ không phải là những ngôn luận về cái tinh túy của Nho gia

Theo đuổi học thuyết Pháp gia, trong thiên L – Hiển học, Hàn Phi đã

Trang 19

Nho gia th-ờng nói nhiều, làm ít, ảo t-ởng Theo ông, họ th-ờng lấy chuyện x-a làm khuôn mẫu cho thời nay, không dám làm gì khác với lời Chu Công, Khổng Tử Dựa vào lịch sử phát triển của xã hội, ông chống lại việc các nhà

Nho muốn đ-a xã hội đ-ơng thời trở về thời th-ợng cổ, thời kỳ của các bậc tiên v-ơng, noi theo Nghiêu, Thuấn; “…nay muốn dùng chính sách của tiên vương để trị dân thì cũng không khác gì anh chàng ôm gốc cây đợi thỏ“ [21, 392] Theo quan điểm “thượng pháp”, trong hoàn cảnh xã hội hỗn loạn, muốn duy trì sự ổn định và trật tự xã hội, không thể dựa vào trung hiếu tiết nghĩa theo kiểu truyền thống và nền giáo dục bắt ch-ớc thánh hiền mà phải sử dụng pháp luật [21, 385]

Quan hệ giữa Hàn Phi và Đạo gia cũng khá mật thiết Ngoài những giải

thích về triết lý Đạo gia, th-ờng thì điểm xuất phát trong câu chữ của Hàn là

từ ngữ của Đạo gia, nh-ng lại phát triển sâu sắc hơn, hiện thực hơn Chẳng hạn như Đạo gia đề xướng “vô vi” là một tự nhiên cao quý, nghĩa là thuận theo tự nhiên, không làm gì cả Điều này thể hiện thái độ xử thế và t- t-ởng

chính trị tiêu cực của Đạo gia, buông trôi, thoát tục Trái lại, Hàn Phi đã phát triển “vô vi“ và hiện thực hóa nó trong cuộc sống [31, 170] Giống nh- Thân Bất Hại, cái “vô vi“ theo Hàn Phi là phương thuật của vua để chế ngự quần thần [31, 49] Nắm đ-ợc nguyên tắc này, vua thoải mái, an nhàn, không phải

làm gì cả mà quần thần vẫn phải vất vả suy nghĩ, dốc lòng, dốc sức mà chăm

lo việc n-ớc

1.2 Những t- t-ởng cơ bản trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử

Tr-ớc khi nghiên cứu những t- t-ởng cơ bản trong thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử, chúng ta không thể không xác định thế giới quan và nhân sinh quan của ông

Về thế giới quan: Trong thời Chiến Quốc, xã hội đổi thay nhanh chóng,

chế độ phong kiến tr-ớc đó đã bị tan rã hoàn toàn nh-ng Nho gia vẫn cố kh- kh- giữ lấy chế độ tông pháp đã lỗi thời Trái lại, Hàn Phi cũng chủ tr-ơng đối

Trang 20

mặt với hiện thực Theo ông, hoàn cảnh khác nhau, hiện t-ợng khác nhau thì những biện pháp tùy cơ ứng biến cũng khác nhau Trong thiên XLIX – Ngũ

đố, ông viết: “…bậc thánh nhân không cốt trau giồi chuyện x-a, không noi theo những phép tắc bất biến, khi bàn việc làm ở đời thì dựa theo tình hình của thời mình mà đặt ra những biện pháp“ [31, 540] Chỉ có nh- vậy mới phù

hợp với yêu cầu của hiện thực xã hội, đất n-ớc mới hùng mạnh

Nh- đã nói ở trên, Hàn Phi Tử đã nhiều lần phê phán các Nho gia với thói hoài cổ, trọng cổ và kinh viện Mặt khác, ông không phải là ng-ời duy tâm, mê tín Cho nên, chúng ta có thể khẳng định rằng, thế giới quan cơ bản

của Hàn Phi Tử là duy vật, cụ thể là chủ nghĩa duy lợi, lý luận và chế độ chính trị đều phải hợp thời, khi thời đại thay đổi thì chúng cũng phải thay đổi

Trong chính tr-ờng đ-ơng thời, sức mạnh là cơ sở để so sánh sự hơn thua của mỗi n-ớc Vấn đề bức thiết là bổ sung thực lực cho đất n-ớc ổn định, phú c-ờng Từ đó, n-ớc nhỏ có thể tự bảo vệ đ-ợc mình, n-ớc lớn có thể tranh bá

đồ v-ơng đ-ợc Muốn đạt đ-ợc mục tiêu này, cần phải bắt đầu từ việc cải tổ nội chính, tự lực cánh sinh, thực hành chủ nghĩa “trọng nông” (coi trọng việc

phát triển nông nghiệp) và chủ nghĩa “công quốc” (quân phiệt) Đó là ph-ơng sách chính trị của đế v-ơng [21, 388]

Về nhân sinh quan: Bản tính con người suy đến cùng là “thiện” hay

“ác”? Đại biểu cho Nho gia, Mạnh Tử khẳng định tính “thiện“ là bản tính của con ng-ời, nh-ng ông cũng không phủ nhận những ảnh h-ởng to lớn của

yếu tố hoàn cảnh sống Theo ông, cần phải thuần d-ỡng tính thiện cho thật tốt, phải kiềm chế những ham muốn

Trái với các Nho gia theo thuyết Đức trị, Tuân Tử lại bàn về tính “ác“ của con ng-ời Đó là những ham muốn vô cùng, vô tận làm cho con ng-ời

tranh giành, hãm hại lẫn nhau Bởi vậy, ông duy trì tư tưởng “lễ trị”, hình thành nên sức mạnh giáo hóa, giúp con ng-ời kiềm chế những ham muốn có

Trang 21

tính bẩm sinh, uốn nắn những hành vi sai lệch, nhằm duy trì trật tự và an toàn cho xã hội

Là học trò của Tuân Tử, Hàn Phi bàn đến tính ng-ời thiết thực hơn, cụ thể hơn Ông khẳng định, bản tính của con ng-ời là m-u lợi cho riêng mình,

là ích kỷ và t- lợi Ng-ời ta luôn tính toán cho riêng mình, cái gì có lợi thì

làm, cái gì có hại thì né tránh Điều mà Tuân Tử nói tới nh- “ham muốn cái lợi, căm ghét cái ác“ theo Hàn Phi, thực ra chỉ là sự tính toán cho riêng mình

mà thôi, bởi vì, “người thầy thuốc khéo mút vết thương, miệng ngậm máu mủ của ng-ời bệnh, họ chẳng có quan hệ gần gũi ruột thịt máu mủ gì, chẳng qua

là trông vào lợi ích do tiền bạc chữa bệnh mà con bệnh phải trả mang lại cho họ;… ng-ời bán quan tài chỉ mong cho nhiều ng-ời chết yểu, không phải là thợ đóng quan tài tàn nhẫn, mà vì ng-ời ta không chết thì quan tài không bán

được“ (Thiên XVII – Bị nội) [21, 468]

Hàn Phi đẩy tính ác, vị lợi của con ng-ời đến mức cực đoan Trong mối quan hệ cha - con, chữ “hiếu” của Nho gia đã bị thay thế bằng sự tính toán lợi

hại tàn nhẫn: “Cha mẹ đối với con, sinh con trai thì mừng, sinh con gái thì giết, trai gái đều từ lòng cha mẹ ra, mà con trai thì mừng, con gái thì giết, là

do nghĩ đến sau này, đứa nào có lợi lâu dài cho mình hơn Vậy cha mẹ đối với con mà còn đem lòng tính toán lợi hại, huống hồ là những ng-ời không có tình cha con với nhau“ (Thiên XLVI – Lục phản) [21, 459]

1.2.1 Lý luận về Pháp

a Luật pháp phải khách quan và công minh

Theo Hàn Phi Tử, luật pháp công minh sẽ loại bỏ đ-ợc t- lợi Ng-ời ta không tránh khỏi sự t- lợi, cho nên, pháp luật là để đề ra những mực th-ớc mà mọi ng-ời phải tuân theo, để giữ gìn trật tự xã hội Bậc minh quân phải biết

h-ớng thần dân đến lợi ích chung, lợi ích quốc gia, tôn trọng pháp luật

Trang 22

Muốn pháp luật đ-ợc công minh, phải xác định rõ ranh giới giữa công và t- Đó là đạo trị quốc của những ông vua tài giỏi, xác định rõ pháp chế, loại

bỏ ân nghĩa cá nhân, “pháp bất vị thân“ Những điều khoản quy định của quốc gia do vua đề ra đ-ợc thi hành công khai Những điều mang tính cá nhân

riêng t- mà đ-ợc lan truyền rộng rãi thì xã hội hỗn loạn, những điều khoản quốc gia đ-ợc thực thi rộng rãi thì xã hội sẽ ổn định Bụng dạ t- lợi của thần dân là chạy theo những ham muốn cá nhân, có những hành vi bỉ ổi để m-u cầu cái lợi cho riêng mình, gia đình mình Cho nên, bậc vua tài giỏi, sáng suốt ngồi trên ngai vàng thì bề tôi sẽ từ bỏ lòng dạ t- lợi đó, thực hiện những điều khoản quy định của đất n-ớc Ng-ợc lại, hôn quân mà ngồi trên ngai vàng thì

bề tôi sẽ bất chấp lợi ích chung của quốc gia mà làm việc theo lòng dạ t- lợi Cho nên, lòng dạ của quần thần và vua chúa không giống nhau, mối quan hệ vua tôi cũng là sự tính toán hơn thiệt bởi lòng t- lợi của bề tôi

Do đó, bậc minh quân cần phải định rõ ban th-ởng để khuyến khích

động viên, định rõ hình phạt nghiêm minh để răn đe Nếu ban th-ởng và hình phạt chính xác, rõ ràng thì dân sẽ dốc lòng, đốc sức; không quản ngại hy sinh; làm đ-ợc nh- vậy thì binh lực sẽ c-ờng thịnh, vua đ-ợc tôn vinh Còn nếu nh- hình phạt và ban th-ởng không rõ ràng thì ng-ời dân không có công lao gì cũng cầu mong đ-ợc lợi, khi phạm tội cũng cầu mong đ-ợc tha tội, nh- vậy, binh lực của đất n-ớc sẽ yếu kém, vua cũng ở vào vị thế thấp kém, bị áp bức và lăng nhục Cho nên có thể nói rằng công và t- phải đ-ợc phân chia cho rõ ràng, pháp luật và những điều cấm phải đ-ợc nghiên cứu xem xét kỹ càng tr-ớc khi ban hành (Thiên XIX – Sức tà) [31, 168]

Nh- vậy, theo Hàn Phi Tử, bản tính con ng-ời là m-u lợi cho riêng mình,

bề tôi có lòng dạ t- lợi, nh-ng nếu khéo léo vận dụng pháp chế rõ ràng, chính xác để tăng c-ờng kiềm chế những ham muốn cá nhân thì họ cũng biết chấp hành những quy định của đất n-ớc

Trang 23

Mặt khác, việc tôn trọng pháp luật cũng sẽ làm cho đất n-ớc giàu mạnh

Trong thực tế, không có n-ớc nào c-ờng thịnh mãi mãi, và cũng không có

n-ớc nào cứ yếu kém mãi mãi Quan lại chấp pháp mà kiên c-ờng, không bẻ cong pháp luật để theo lợi riêng, đất n-ớc sẽ c-ờng thịnh Ng-ợc lại, quan lại chấp pháp mà nhu nh-ợc, bẻ cong pháp luật để chạy theo lợi riêng thì đất n-ớc sẽ yếu kém, diệt vong (Thiên VI – Hữu độ) [21, 428] Vua chúa biết tôn

trọng pháp luật để cai trị quần thần thì bề tôi không dám lừa gạt, dối trá, nhân dân yên vui, binh lực c-ờng thịnh, đất n-ớc thái bình Nếu vua chỉ dựa vào h- danh mà nhận định là có tài năng và tiến dụng thì bề tôi sẽ xa lánh, ngấm ngầm kéo bè, kéo cánh để m-u lợi riêng Nếu nh- vua dựa vào bè cánh và sự tiến dẫn để tuyển chọn bề tôi thì nhân dân sẽ tìm cách ngoi lên, dựa dẫm vào nhau chứ không biết tôn trọng và thi hành pháp luật; từ đó, quan lại không phải là những ng-ời có tài năng thực sự nên đất n-ớc nhất định sẽ hỗn loạn Một n-ớc nằm trong quỹ đạo chính trị thì chắc chắn nhân dân sẽ tôn trọng pháp luật nhà n-ớc, không dùng tới những ph-ơng thuật của riêng mình, một dạ một lòng, chỉ mong chờ đ-ợc vua chúa bổ nhiệm, sai khiến

Pháp luật còn có thể uốn nắn những hành vi lệch lạc, vi phạm pháp luật

Pháp luật đ-ợc thiết lập để loại trừ những cái bất hợp pháp và lòng t- lợi Pháp luật đ-ợc thi hành rộng rãi khắp nơi, mọi hành vi lệch lạc sẽ bị tiễu trừ Theo Hàn Phi, chính tâm thế thiên vị, lệch lạc là nhân tố gây nhiễu loạn pháp chế Chẳng hạn, những ng-ời có học th-ờng có tâm t- riêng, coi trọng học thuật của mình mà nhiễu loạn những chính sách cai trị hiện thời, phỉ báng pháp luật Bởi vậy, vua chúa cần phải ngăn cấm họ và thực hiện triệt để luật pháp thì xã

hội mới ổn định Những hiền giả với tiếng tăm lẫy lừng lại không hề phục vụ

đất n-ớc, những kẻ gian không tôn trọng pháp luật vẫn cứ đ-ợc ban th-ởng, thì vua chúa ngồi trên ngai vàng sẽ chẳng có cách gì khống chế những lời nói

và việc làm bất hợp pháp của họ (Thiên XLV – Ngụy sử) [21, 451] Nh-

vậy, Hàn Phi đã phê phán gay gắt những hiền sĩ của Nho gia và Đạo gia; từ

Trang 24

đó, ông kêu gọi các bậc vua chúa phải biết giáo hóa quần chúng nghe theo bề trên và tôn trọng pháp luật

b Định chế pháp luật

Xã hội hỗn loạn, bản tính con ng-ời là m-u lợi riêng Hàn Phi khẳng

định chỉ có pháp luật mới bảo vệ đ-ợc trị an của xã hội, mới loại bỏ đ-ợc lòng

t- lợi quá đáng của con ng-ời Nghĩa là, pháp luật phải có những chế định, chế tài xóa bỏ những tính xấu, hành vi xấu của con ng-ời để tạo nên một nội lực quốc gia mạnh Pháp luật trở thành chuẩn mực cao nhất của việc trị quốc

Để đảm bảo định chế pháp luật, pháp luật phải thành văn và đ-ợc công

bố rộng rãi Theo Hàn Phi, cái gọi là “pháp” phải là bộ luật thành văn, được

biên soạn, in ấn cẩn thận, đ-ợc công bố cho mọi ng-ời đều biết Còn cái gọi là

“thuật” là những biện pháp được giữ kín trong lòng vua để sai khiến quần thần Pháp luật càng rõ ràng, rành mạch càng tốt, dân chúng mới thi hành

đ-ợc Trong thiên XXXVIII – Nạn tam, ông viết: “…bậc vua sáng nói đến pháp luật thì những ng-ời thấp hèn trong thiên hạ không ai không nghe, không biết…“ [31, 458]

Pháp luật phải rõ ràng, t-ờng tận Nếu sách vở mơ hồ thì ng-ời học phải

suy xét, tìm hiểu ý nghĩa của nó Pháp lệnh quá sơ l-ợc thì mọi ng-ời dân phải tranh luận, thêm bớt ngôn từ; từ đó dễ làm sai lệch ý nghĩa của nó Trong thiên

XLVII – Bát thuyết, Hàn Phi viết: “Pháp lệnh của bậc minh quân nhất định phải nêu đ-ợc các sự việc và dẫn chứng tiêu biểu một cách cụ thể, tỉ mỉ, bằng mọi suy nghĩ của các cá nhân…, nh- vậy, vua chẳng cần bận tâm suy nghĩ, chẳng cần phải vất vả cực nhọc mà đất nước vẫn được cai quản tốt“ [31,

522] Nh- vậy, pháp luật đã thành văn và đ-ợc công bố là để tránh sự ba phải Pháp luật t-ờng tận, rõ ràng là để tránh mọi ng-ời lợi dụng kẽ hở của luật pháp mà làm mất đi ý nghĩa thực tế của nó Làm đ-ợc vậy, mọi ng-ời dân mới

có cái để tuân theo, quan lại nắm giữ và thực thi pháp luật để ràng buộc dân

Trang 25

Bên cạnh đó, pháp luật cũng phải thuận theo thời thế mà tùy cơ ứng biến Hàn Phi chủ tr-ơng đối diện với hiện thực, trực tiếp trù liệu những biện

pháp chính trị thích hợp với thời cuộc Thời thế thay đổi thì vấn đề cần giải quyết cũng thay đổi, cho nên biện pháp thi hành cũng phải sửa đổi cho phù

hợp thì mới có hiệu quả cao Cho nên, ông bảo: “…thánh nhân cai trị dân thì pháp lệnh thay đổi cùng thời đại, mọi điều ngăn cấm cũng sẽ phải cải biến cùng với sự khôn ngoan, lắm m-u nhiều kế của con ng-ời…“ (Thiên LIV –

Tâm độ) [31, 588]

Pháp luật cũng cần phải thống nhất và ổn định Trong thiên XV – Vọng tr-ng, Hàn Phi viết: “Thích dùng trí thông minh của mình để sửa đổi pháp luật, lại hay xen lẫn việc riêng vào việc công, thay đổi pháp luật hoài, lệnh bất nhất thì có thể mất nước“ [21, 500] Đ-ơng nhiên, pháp lệnh cần phải sửa

đổi cho phù hợp với hoàn cảnh thời đại, đó là một nguyên tắc lớn Nh-ng khi luật pháp đã sửa đổi và ban hành thành văn bản thì không thể vô cớ mà thay

đổi liên tục Bởi vì, pháp luật là nguyên tắc chuẩn mực mà cả n-ớc phải tuân theo, nó phải đ-ợc thống nhất và ổn định Có vậy, ng-ời dân mới hiểu pháp luật, tôn trọng thi hành mà không có nghi vấn

Một điều đặc biệt quan trọng là pháp luật cần phải dễ hiểu, dễ thi hành Hàn Phi nói: “Bậc vua sáng suốt lập nên cái thưởng có thể làm được, đặt ra cái phạt có thể tránh được“ (Thiên XXVII – Dụng nhân) [31, 252] Ông chủ

tr-ơng thuận theo tính tình con ng-ời để định ra sự th-ởng phạt Th-ởng phạt

để động viên hoặc ngăn cấm, nh-ng nó phải dễ hiểu, dễ thi hành, nếu không

sẽ mất hết ý nghĩa Pháp luật dễ hiểu, dễ thực hiện sẽ khiến cho quan hệ vua tôi hài hòa để đạt đ-ợc mục đích là củng cố nền thống trị

Trang 26

phạt kẻ d-ới Mọi chuyện ban th-ởng, xử phạt đều phải tuân theo pháp lệnh

Ví nh-, ng-ời thợ mộc khéo léo tuy chỉ bằng mắt mình mà có thể nhìn -ớc l-ợng đ-ợc chuẩn mực cho thích hợp, nh-ng anh ta vẫn cứ phải lấy th-ớc để làm chuẩn; cho nên, khi mực đã nẩy, những gì cong queo cũng phải chặt bỏ

đi Pháp luật phải là chuẩn mực của xã hội, quyết không thể vì quyền lực và trách nhiệm mà uốn cong pháp lệnh Cho nên, theo Hàn Phi, để chỉnh đốn trật

tự xã hội thì không có gì tốt bằng pháp chế (Thiên VI – Hữu độ) [21, 428]

Điều cần nhấn mạnh là tinh thần bình đẳng của pháp luật, nghĩa là ngoài

vua ra, mọi ng-ời đều phải bình đẳng tr-ớc pháp luật Vua chúa cũng phải có quyết tâm thi hành pháp trị, không vì tình riêng, quyền thế mà né tránh pháp

luật Ví nh- chuyện Kinh Trang V-ơng n-ớc Sở nhắc nhở thái tử chớ coi th-ờng pháp luật nhà n-ớc (Thiên XXXIV – Ngoại trừ thuyết hữu th-ợng)

[21, 576] Tr-ớc pháp luật, ng-ời ng-ời đều bình đẳng T- t-ởng tiến bộ này chính là tinh hoa của Pháp gia

Pháp luật phải có tính phổ biến và tính tuyệt đối Bởi vì, bậc thánh nhân

cai quản đất n-ớc không dám trông chờ trăm họ có thể chịu sự cảm hóa về thiện và đức của mình, mà phải bằng một hệ thống pháp luật để kiềm chế họ, khiến cho họ không dám làm điều xằng bậy; nhờ đó mà hiệu lệnh nhân dân cả n-ớc nh- một Bậc vua chúa anh minh phải coi trọng pháp trị Trong thiên L

– Hiển học, Hàn Phi nói: “…Dù không phải dùng th-ởng phạt mà có đ-ợc ng-ời dân tự làm điều thiện thì bậc minh quân cũng không quý Tại sao vậy? Tại phép trị n-ớc không thể mất, mà số dân cần trị không phải chỉ có một ng-ời…“ [21, 386] Việc coi trọng pháp trị là do hành động chính trị đòi hỏi

phải có hiệu quả phổ biến và tất nhiên với đối t-ợng cai trị là toàn dân Cảm hóa đạo đức chỉ mang tính cục bộ, ngẫu nhiên Pháp trị tạo ra sự thống nhất giữa lời nói và hành động thông qua sự c-ỡng chế Nói nh- vậy không có nghĩa là Hàn Phi phủ nhận vai trò của đạo đức Theo ông, cảm hóa đạo đức

Trang 27

toàn thể dân chúng (nghĩa là mọi loại ng-ời) thì cần phải chủ tr-ơng pháp trị, c-ỡng chế Đó là tính phổ biến và tuyệt đối của pháp luật trong khi thực thi

lại công bằng chính trực, đặt pháp luật lên trên hết một cách có lý trí Qua đó,

ông cũng phê pháp gay gắt quan điểm “nhân trị“ của Nho gia, Mặc gia,

“Nhân từ không thể dùng để trị quốc“ (Thiên XLIX – Ngũ đố) [21, 396]

Hàn Phi th-ờng nhấn mạnh một nội dung quan trọng trong thực thi pháp

luật là: “th-ởng hậu, phạt nặng” Bởi vì, thưởng phạt có tác dụng mạnh mẽ

đến lòng t- lợi của con ng-ời Ban th-ởng hậu hĩnh, mọi ng-ời sẽ thiết tha mong lập đ-ợc công lao; hình phạt thật nặng, ng-ời dân sẽ ghê sợ mà đoạn tuyệt với những hành vi gian manh, không dám phạm lỗi Ban th-ởng hậu hĩnh cho công lao của một ng-ời sẽ khuyến khích những ng-ời khác lập công Hình phạt nặng đối với một kẻ phạm tội sẽ ngăn cấm đ-ợc mọi ng-ời làm

chuyện xấu “Cái gọi là hình phạt nặng để kẻ gian thấy rằng lợi ích có được

do phạm tội là nhỏ bé mà hình phạt đ-a tới lại vô cùng nặng nề; ng-ời ta không muốn vì cái lợi nhỏ mà phải chịu xử tội nặng nên sẽ không có những hành động gian trá“ (Thiên XLVI – Lục phản) [21, 462] Luận về th-ởng

phạt, Hàn Phi khẳng định chỉ có ban th-ởng hậu hĩnh mới đủ khuyến thiện, chỉ có hình phạt thật nặng mới đủ diệt ác

d Giáo dục pháp luật

Theo Hàn Phi Tử, hiệu quả của giáo dục pháp luật lớn hơn nhiều so với giáo dục về tình yêu th-ơng Có lẽ vậy mà ông rất chú trọng đến việc th-ởng nhiều, phạt nặng Bởi vì, ng-ời ta th-ờng sợ uy quyền mà phục tùng pháp

lệnh Trong thiên XLIX – Ngũ đố, Hàn Phi lập luận rằng: “…ngày nay có

Trang 28

những đứa con không thành tài, cha mẹ giận dữ la mắng nó, nó không hối cải, các bậc cha chú khiển trách nó nó cũng chẳng động lòng, thầy giáo dạy bảo

nó nó cũng chẳng chịu chuyển biến Tình yêu tha thiết của cha mẹ, đức hạnh của các bậc cha chú, trí tuệ của thầy giáo, thiện ý ba phía tác động tới nó, rốt cuộc chẳng động đ-ợc sợi lông tơ của nó Quan lại trong châu bộ cầm quân viện dẫn pháp lệnh để truy tìm kẻ gian nó mới sợ mà sửa chữa những tính nết

cũ của nó Cho nên tình yêu của cha mẹ không đủ để dạy dỗ con cái cho tốt

đ-ợc, cần phải dựa vào quan phủ thi hành những hình phạt nghiêm khắc Đó

là do ng-ời dân vốn đ-ợc yêu chiều thì kiêu căng buông thả, sợ uy quyền thì

sẽ phục tùng“ [21, 397] Cho nên, vị vua anh minh nhất định phải thi hành

hình phạt thật nặng cho ng-ời phạm tội thực bụng thấy sợ, ban th-ởng thật hậu hĩnh cho ng-ời đ-ợc th-ởng cảm thấy đ-ợc lợi Pháp luật phải thống nhất, không đ-ợc thay đổi để ng-ời dân nhận thức rõ ràng, chính xác

Giáo dục pháp luật không thể bằng tình th-ơng Việc trị quốc không thể dựa vào lòng nhân ái mà phải trừng trị đến nơi đến chốn Ví nh- “lòng thương yêu của ng-ời mẹ hiền đối với đứa con là vô bờ bến, nh-ng không hoàn toàn giải quyết đ-ợc vấn đề; nh-ng nếu nó có hành vi gian tà bất chính thì phải cho nó học thầy để tránh khỏi phạm pháp; nếu nó bị mắc bệnh ác tính thì phải đưa nó đến thầy thuốc chữa trị để tránh cái chết“ (Thiên XLVII – Bát thuyết) [31, 520] Vậy nên, muốn thực thi pháp trị có hiệu quả thì cần phải nhấn mạnh tính lý trí và kết quả của pháp luật

Trong việc giáo dục pháp luật, Hàn Phi chủ tr-ơng đi tìm một chế độ hoàn thiện khiến mọi ng-ời dân không thể phạm pháp, không dám phạm pháp

Đó là việc bồi d-ỡng đạo đức của mọi ng-ời bằng pháp trị Bởi vì, với bản tính t- lợi, con ng-ời th-ờng hay thể hiện lòng tham và hành động gian trá ở những nơi kín đáo Những chuyện gian trá đó, nếu biết chắc chắn sẽ bị phát giác thì

sẽ chẳng ai dám làm Ph-ơng pháp pháp trị ở đây là ngăn chặn lòng tham của

Trang 29

kẻ gian bằng đội ngũ đông đảo quan lại cảnh giới Hơn nữa, thực hiện pháp lệnh thật nghiêm ngặt, khiến ng-ời dân không thể nào phạm pháp, một khi đã phạm pháp thì xử tội thật nặng Nh- vậy, hiệu quả của pháp trị sẽ thiết thực hơn nhiều là việc trông chờ mọi ng-ời dân tự kiềm chế lòng tham của mình

Ví nh- “người mẹ dạy con với lòng nhân ái thì phần đông con cái lại không nên ng-ời; ng-ời cha chẳng có biểu hiện tình yêu gì nhiều, chỉ dạy con bằng roi vọt mà phần đông con cái lại nên ng-ời Đó là do có sự quản lý và giáo dục nghiêm khắc cả“ (Thiên XLVI – Lục phản) [21, 461] Đứng trên lập tr-ờng của phái Pháp gia, việc tôn trọng pháp luật chính là biểu hiện hành vi

đạo đức xã hội

1.2.2 Lý luận về Thế

Trong Thiên XL - Nạn thế, Hàn Phi chỉ thuần túy bàn về uy thế thống trị Những nội dung về "Pháp", "Thuật", "Thế" trong thuyết Pháp trị của ông có tính chất liên kết chặt chẽ, phản ánh t- t-ởng chính trị cai trị của các bậc vua chúa Nh-ng cuối cùng, ông vẫn đặt nội dung "Thế" lên hàng đầu Bởi theo

ông, lý luận về tính chất chính trị của uy thế trong việc cai trị, vị thế tối cao của vua, là đặc biệt quan trọng

a Vua phải có đ-ợc quyền thế thì mới có thể cai trị đ-ợc đất n-ớc

Lý luận về "Thế" của Hàn Phi Tử gần giống ý nghĩa về quyền lực chính

trị của ph-ơng Tây Vua là ng-ời có địa vị cao quý, có uy nghiêm chí tôn, có quyền lực to lớn nhất Trong các sách của Hàn Phi Tử, có lúc ông gọi là "thế

vị", có lúc ông gọi là "uy thế", có lúc lại gọi là "thế trọng", đều nói về quyền

thống trị hay chủ quyền và địa vị trên hết của ông vua đối với xã hội “Thế“ của Hàn Phi chính là lý luận nhằm bảo vệ địa vị tối cao của nhà vua, nhờ

“thế”, ông vua mới có thể sử dụng triệt để “pháp”, “thuật” để cai trị đất nước

Do bản tính của con ng-ời là t- lợi, nên phải có cái "thế" mới chế ngự

đ-ợc mọi diễn biến; phải có "thế" mới có thể "tùy cơ ứng biến"; trong quan hệ

Trang 30

quốc tế cũng phải có sự so sánh thực lực với nhau, phải có cái "thế" mới có thể

Để hành pháp dụng thuật, nhà vua phải dùng uy quyền Uy thế tối cao

của vua sẽ khiến bề tôi phải làm việc theo pháp lệnh Tuân theo pháp luật sẽ

đ-ợc trọng th-ởng Vi phạm pháp luật sẽ bị trừng phạt Theo Hàn Phi, thánh nhân trị vì đất n-ớc dùng uy quyền khiến mọi ng-ời răm rắp tuân theo mệnh lệnh mà làm việc, điều đó mới thật an toàn, không có gì phải e ngại nữa cả

Vua "áp dụng uy thế sẽ làm cho mắt thêm tinh, tai thêm thính Giỏi về sử dụng

uy thế thì n-ớc nhà sẽ ổn định, còn không biết dựa vào uy thế thì n-ớc nhà sẽ lâm nguy" (Thiên L - Hiển học) [21, 384]

Hàn Phi Tử tin t-ởng rằng chỉ có uy quyền mới có thể trị quốc Bề tôi sợ

uy quyền mà phụng sự vua Dân chúng sợ uy quyền mà quy phục vua Hàn Phi đã đem Khổng Tử và Lỗ Ai Công (vua n-ớc Lỗ) ra làm thí dụ Nói về nhân nghĩa thì Khổng Tử không nhất thiết phải x-ng thần với Ai Công Nh-ng bàn đến quyền uy, Ai Công vẫn là một ông vua, nên Khổng Tử vẫn phải thi lễ với ông ta với t- cách của bề tôi

b Vua phải dựa vào th-ởng phạt để củng cố quyền thế

Những học thuyết của Hàn Phi Tử nh- "pháp", "thuật", "thế" đều không

tách khỏi sự th-ởng, phạt Th-ởng, phạt là hai mục lớn của "pháp", là hai công cụ của "thuật", là sự biểu hiện về sức mạnh của "quyền thế" Đứng về

ph-ơng diện quyền thế mà nói, nếu nắm đ-ợc sự th-ởng phạt thì quyền thế mới ổn định

Trang 31

Th-ởng phạt chính là chỗ dựa để nhà vua khống chế đ-ợc bề tôi Nhà vua phải nắm lấy quyền sinh sát, tuyệt đối không để cho bề tôi cùng chia xẻ quyền hành Th-ởng hậu, phạt nặng, khen chê phải đúng lúc, phù hợp Đó chính là nguyên tắc chủ yếu của sự th-ởng phạt Theo Hàn Phi, muốn bình đ-ợc thiên hạ thì phải thuận theo nhân tình, nghĩa là thuận theo nhân tình để định ra sự th-ởng phạt Bởi vì, tình cảm của con ng-ời vốn có sự yêu mến, chán ghét; cho nên sự th-ởng phạt cũng phải dựa vào chỗ đó mà khen th-ởng hay trừng phạt; cũng có thể từ đó mà định ra pháp lệnh, hễ cứ việc gì có lệnh cấm mà cứ làm là sẽ bị phạt, còn việc gì đ-ợc khuyến khích mà làm đ-ợc thì sẽ có th-ởng Vua là ng-ời nắm giữ quyền bính, là ng-ời sử dụng quyền thế; cho nên hễ vua ra lệnh làm thì mọi ng-ời phải răm rắp tuân theo, vua ra lệnh cấm thì mọi ng-ời phải dừng lại ngay

Trong Thiên VII - Nhị bính, Hàn Phi Tử đã khẳng định công hiệu của sự

th-ởng phạt khi ông nói về Việt V-ơng Câu Tiễn, "Việt V-ơng hiếu dũng mà

đa số nhân dân coi th-ờng sự chết" [21, 426] Vì tin t-ởng vào sự th-ởng phạt

mà binh sĩ n-ớc Việt bất chấp cả n-ớc sôi lửa bỏng, liều mình xông lên phía tr-ớc, lúc chiến đấu ai cũng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng

Trong thiên XXX - Nội trừ thuyết th-ợng, kế thừa t- t-ởng của Tử Sản, Hàn Phi nhấn mạnh ng-ời nắm chính quyền phải có uy thế uy nghiêm thì thần

dân mới toàn tâm toàn ý tuân theo pháp luật Ví nh- lửa rất dũng mạnh uy nghi nên mọi ng-ời luôn đề cao cảnh giác mà ít bị bỏng; n-ớc thì mềm mại, hiền hòa nên mọi ng-ời coi th-ờng mà hay bị chết đuối [21, 513]

Luận về quyền thế, Hàn Phi th-ờng phản đối sự hiền từ nhân đức, nh-ng

ông cũng không hoàn toàn ca ngợi tâm địa độc ác Th-ởng phạt phải thỏa

đáng với mọi ng-ời Trong Thiên XXXVIII - Nạn tam [21, 608], Hàn Phi đã bài xích những câu nói của Khổng Tử với Diệp công tử Cao trong vấn đề

chính quyền Từ đó, ông đề xuất chủ tr-ơng "trọng Thế" Vì dân của Diệp

Công có ý làm phản nên Khổng Tử khuyên Diệp Công phải "duyệt cận viễn

Trang 32

lai" (làm vui lòng kẻ ở gần để kẻ ở xa đến thần phục) Từ góc độ học thuyết Nho gia mà xem xét, sau khi tu thân tề gia, ng-ời muốn trị quốc phải đ-ợc kẻ

ở gần vừa lòng, kẻ ở xa đến thần phục thì mới đạt đến mức độ bình thiên hạ từ góc độ Pháp trị, Hàn Phi cho rằng "duyệt cận viễn lai" là ch-a đủ Bởi vì vua làm nh- vậy là tranh giành nhân tâm với thần tử, khiến cho dân chúng chỉ mong chờ vận may, vừa không biết dùng uy thế để ra lệnh cấm đoán hành vi sai trái, vừa không biết dùng thủ thuật để xác minh gian tình của thần dân Qua đó, ông vận dụng học thuyết Đạo gia để nhấn mạnh rằng nhân khi sự việc còn nhỏ, dễ xử lý thì phải giải quyết sớm sẽ không sợ dân làm phản Vận dụng th-ởng phạt thỏa đáng, phù hợp với hành vi thực tế của nhân dân Mọi việc

đều làm theo pháp lệnh thì nhân dân không cần phải nhớ ơn hay cảm kích về

sự khen th-ởng của nhà vua, mà cũng không còn oán trách, thù hận về hình phạt của nhà vua

1.2.3 Lý luận về Thuật

a Tính chất đặc biệt của Thuật

Khác với các Pháp gia thời trước, Thương Ưởng coi trọng “pháp”, Thân

Bất Hại coi trọng “thuật”, Hàn Phi nhận thấy rằng vua chúa cai trị đất n-ớc phải biết kết hợp vận dụng “pháp“ với “thuật“ Một mặt, pháp luật đ-ợc

công bố rộng khắp cho mọi ng-ời đều biết, vua giao trách nhiệm và yêu cầu

bề tôi phải làm tốt việc tôn trọng, giữ gìn pháp luật Mặt khác, vua phải có sự m-u trí, linh hoạt, thích ứng với mọi hoàn cảnh để có thể tự mình cai quản quần thần Hai mặt đó bổ sung cho nhau, phối hợp với nhau thì vua mới đạt

đ-ợc mong muốn là sự trị an phú c-ờng

Hàn Phi Tử rất coi trọng việc dùng “thuật” “Thuật” ở đây không phải là

“kỹ thuật” trong cụm từ “khoa học, kỹ thuật” ngày nay; “thuật“ của Hàn Phi

là “kỹ thuật, nghệ thuật dùng người“, cụ thể là phương thức, cách thức quản

lý đội ngũ quan lại của nhà vua Theo ông, giữa vua và bề tôi ai cũng có tính

Trang 33

toán cho riêng mình, cho nên vua nhất thiết phải dùng tới “thuật” mới có thể ngăn ngừa dân chúng và bề tôi m-u lợi riêng, làm rối loạn kỷ c-ơng

Trị nước phải có “thuật” Trong thiên XXXV – Ngoại trừ thuyết hữu hạ,

Hàn Phi lập luận rằng: “…đất n-ớc cũng nh- con ngựa của vua vậy, không có nghệ thuật để cai quản đất n-ớc thì bản thân tuy cực khổ vất vả mà vẫn khó tránh khỏi sự hỗn loạn; bậc vua chúa có ph-ơng thuật cũng giống nh- ng-ời giỏi đánh xe, có thể cai quản tốt đất n-ớc một cách nhẹ nhàng, thoải mái; bản thân mình an nhàn mà có thể đạt được vị thế của bậc đế vương“ [21, 584]

“Thuật” là pháp thuật của vua dùng để đôn đốc, cai quản quần thần một

cách bí mật, cho nên nó càng kín đáo bất ngờ càng tốt Theo Hàn Phi, th-ởng phạt đã công minh chính trực nh- ban ngày thì dân chúng không còn đằng nào mà bài bác phê bình nữa Dụng thuật mà bí mật bất ngờ nh- quỷ thần thì

bề tôi không còn cách gì theo đó mà đầu cơ trục lợi nữa (Thiên XLVIII – Bát

kinh) [31, 524] Nhờ “thuật”, pháp lệnh được thực hiện thông suốt, không gặp trở ngại Nhờ “thuật”, uy quyền và địa vị của vua được củng cố Muốn vậy, sự vận dụng “thuật” phải dựa trên nguyên tắc công bằng, xác thực Nghe ngóng d- luận, không theo tình cảm riêng t-, tham khảo những ý kiến và chứng cứ khách quan từ nhiều phía, đó đều là những biện pháp rất quan trọng của vua

đề thẩm tra, sắp xếp quan lại, bề tôi

b –Vô vi– là nguyên tắc chung của cách dùng thuật

Vận dụng ph-ơng thuật cố nhiên là phải bí mật bất ngờ nh-ng cũng có

những nguyên tắc cơ bản “Vô vi“ theo Hàn Phi Tử là một thứ ph-ơng thuật

đ-ợc chuyển hóa từ t- t-ởng Đạo gia Pháp là quy tắc cho toàn dân thi hành, dùng thuật cũng phải giữ gìn tôn trọng pháp luật Có nh- vậy mới có sự phục tùng Vua đặt ra pháp chế, đôn đốc các quan cai trị dân chúng, đòi hỏi bề tôi phải đạt đ-ợc hiệu quả chắc chắn Đó là quan điểm “vô vi” của Hàn Phi Tử,

nó hoàn toàn khác với sự h- không tĩnh lặng, không làm nên trò trống gì trong

“vô vi” của Lão Tử Tuân thủ pháp luật thì trách nhiệm mới hoàn thành, “bậc

Trang 34

vua chúa chính là những ng-ời giữ yên pháp chế, xem xét bề tôi có làm đ-ợc việc hay không; cho nên bậc vua chúa anh minh chỉ cần cai quản các quan lại cho tốt, không cần phải hao phí tinh thần sức lực để cai trị dân chúng“

(Thiên XXXV – Ngoại trừ thuyết hữu hạ) [31, 394] Đó là sự vận dụng cao nhất của “thuật”

Theo “vô vi”, quyền uy của vua không cần phải thể hiện ra ngoài Mọi việc đ-ợc chia cho văn võ bá quan, quyền bính chủ yếu, quan trọng đ-ợc đặt trong tay vua Thánh nhân nắm đ-ợc quyền bính chủ yếu, văn võ bá quan từ bốn ph-ơng sẽ lui tới, đem sức lực ra phục vụ Vua chỉ cần đối xử với họ một cách bình thản, họ sẽ tự thể hiện tài năng của mình Văn võ bá quan khắp nơi

tự giữ đ-ợc c-ơng vị của mình rồi thì vua sẽ có thể quan sát đ-ợc mọi hoạt

động của họ bằng sự bình thản tĩnh lặng Quần thần quanh vua đã đ-ợc sắp

đặt đâu vào đấy thì vua cứ việc mở rộng cửa để đón những chính kiến và chính tích Vua tôi đều ở vào vị trí thích hợp nên trên d-ới yên ổn, có thể chẳng cần phải làm gì cả Điều đó cũng giống nh- cứ để cho gà gáy báo trời, bắt mèo săn chuột; khi quần thần đều trổ hết tài năng của mình thì vua ở trên ngai vàng có thể yên vị vô sự Vua mà kiêu ngạo khoa tr-ơng, thích khoe khoang tài năng của mình thì văn võ bá quan sẽ dựa vào đó để nịnh hót, lấy lòng mà dối gạt vua, trật tự vua tôi sẽ rối loạn, đất n-ớc sẽ không thể cai quản nổi (Thiên VIII – D-ơng quyền) [31, 71] Nắm đ-ợc quyền bính chủ yếu, thủ

tĩnh “vô vi”, bậc minh quân sẽ khiến bề tôi phải trổ hết tài năng mà mình thì không phải làm gì vất vả

Tuy nhiên, nguyên tắc cơ bản của “vô vi“ trị theo Hàn Phi là phải dựa vào pháp luật Bởi vì, “vua không thể đủ thời gian để đôn đốc tất cả bề tôi làm việc; cũng không thể dựa vào cảm giác và lý trí của mình để cai trị các quan Vua phải dựa vào th-ởng phạt để thẩm định việc thưởng phạt“ (Thiên

VI – Hữu độ) [31, 60] Pháp luật tuy giản l-ợc mà mọi ng-ời đều không dám

Trang 35

thuật Đây cũng giống nh- nguyên tắc phân quyền, phân cấp quản lý trong khoa học quản lý hiện đại

“Vô vi” của vua cũng có ý nghĩa là tập hợp tài trí của muôn ng-ời tạo nên thành quả chung Sức mạnh của một ng-ời không thể thắng sức mạnh của

muôn ng-ời, trí khôn của một ng-ời không thể hiểu hết đ-ợc mọi vật Sức mạnh và trí óc của vua không thể bằng sức mạnh và trí óc của tất cả mọi ng-ời trong n-ớc Cho nên bậc minh quân cai quản đất n-ớc, tr-ớc khi quyết định công việc th-ờng tr-ng cầu ý kiến, tập trung trí tuệ và sức mạnh của mọi ng-ời dân; nhờ vậy mà gặt hái những thành quả tốt đẹp

Cũng chỉ có “vô vi”, vua mới có thể thăm dò, đánh giá được bề tôi Do lợi ích của vua và bề tôi không giống nhau, bề tôi th-ờng nhòm ngó ý vua, tìm cách làm vừa lòng vua để m-u lợi riêng, thậm chí khi cần có thể dối gạt, phản bội vua; từ đó làm ảnh h-ởng đế sự c-ờng thịnh của quốc gia Bởi vậy, Hàn

Phi Tử chủ tr-ơng vua “chỉ có để yên không làm gì cả mới có thể suy đoán

được tình hình thực tế của bề tôi“ (Thiên XXXIV – Ngoại trừ thuyết hữu

th-ợng) [31, 366] Vua không làm việc gì sơ xuất, không tùy tiện biểu lộ sự yêu ghét, thì bề tôi sẽ không nhòm ngó đ-ợc, sẽ an phận thủ th-ờng, tôn trọng

và thi hành pháp luật Đó mới gọi là “hư tĩnh vô vi“

c Thực phải phù hợp với danh

Hàn Phi Tử rất coi trọng việc vận dụng thuật “hình “ danh“ Vua đôn

đốc nhắc nhở quần thần, đánh giá thành tích của họ dựa trên cơ sở lời nói phải

đi đôi với việc làm, thực chất phải phù hợp với danh nghĩa; tuân theo pháp

luật, định đ-ợc công tội thì quyết định đ-ợc việc th-ởng phạt Đó là những phép tắc đ-ợc sử dụng công khai, đ-ợc phát huy từ tài trí của vua Nó làm cho cái “thuật” vừa bí mật, vừa công bằng xác đáng trong từng công việc của vua Theo Hàn Phi, “Đạo” là bản thể của muôn loài, là chuẩn tắc của điều phải, điều trái Cho nên, bậc minh quân nắm lấy bản thể của muôn loài thì sẽ biết rõ căn nguyên của sự vật; nắm đ-ợc chuẩn tắc của điều phải điều trái thì

Trang 36

sẽ biết đ-ợc đầu mối của cái tốt cái xấu; do đó, cứ chờ đợi một cách khiêm tốn

và yên lặng để cho danh nghĩa tự nó tỏ rõ, để cho sự việc tự nó xác định Khiêm tốn sẽ biết đ-ợc tình hình đích thực của sự vật, yên lặng sẽ biết đ-ợc tính chính xác của hành động Ai có đề xuất gì thì phải chứng tỏ sự phù hợp với thực tiễn; ai đảm nhận công việc gì thì phải tự giải quyết công việc cho

phù hợp với chủ tr-ơng của họ Việc làm và lời nói phải đ-ợc thống nhất với nhau Bởi vậy, vua có thể yên lặng mà lời nói và công việc của bề tôi tự tỏ rõ

tính chân thực của nó

Nếu vua chúa không thẩm tra xem xét sự việc kỹ l-ỡng, những bậc hiền

sĩ, những ng-ời có tài thực thi pháp thuật sẽ bị hại, tổn hao nhân tài của đất

n-ớc Theo Hàn Phi, bậc vua chúa với những ng-ời có sách l-ợc sử dụng pháp luật sáng suốt, không có sự nghiên cứu kỹ l-ỡng mà đã ra lệnh giết chết; đối với bọn ng-ời bợ đỡ đ-ợc các quan lại triều thần tiến cử không đợi đến lúc có công đã ban cho t-ớc lộc Nh- vậy thử hỏi những ng-ời có sách l-ợc trị n-ớc sáng suốt có dám đ-ơng đầu với mối nguy hiểm để đề xuất ý kiến của họ hay không? Bọn bề tôi gian tà có chịu tự rút lui để từ bỏ lợi ích của họ hay không? Chính vì vậy mà uy quyền của nhà vua ngày càng bị thu hẹp, thế lực riêng của bọn quyền quý thì ngày càng đ-ợc lớn mạnh (Thiên XI – Cô phẫn) [21, 645]

Để giúp vua khống chế đ-ợc bề tôi, Hàn Phi chủ tr-ơng vua phải sử dụng

thuật "Tham ngũ" Tham ngũ tức là đạo lý của vua về cách thức quan sát bề tôi một cách tỉnh táo và tỉ mỉ Khi khảo sát tỉ mỉ bằng nhiều ph-ơng diện, vua

sẽ phát hiện ng-ời hiền tài trong đám bề tôi; cho đám bề tôi khảo sát lẫn nhau thì có thể phát hiện ra cái thật, cái giả và những điều sai sót trong đám bề tôi

Muốn vậy, theo Hàn Phi, vua phải có cách trừng trị thích đáng và cụ thể đối với bọn ng-ời kết bè kéo cánh làm lợi cho riêng mình và khen th-ởng những ng-ời biết tuân theo pháp luật, trừng phạt những ai biết kẻ gian mà không tố cáo, coi tội đó bằng với tội của kẻ gian Còn đối với lời nói của kẻ khác, phải

Trang 37

nhân hòa sau đó thẩm định lại những điều kiện trên, nếu thấy phù hợp thì mới kết luận đó là kẻ ác hay ng-ời hiền tài Vua cần phải lắng nghe ý kiến của nhiều ng-ời để hiểu rõ thực chất tình hình Vua phải áp dụng nhiều thái độ c-

xử khác nhau, thay đổi sự ban phát ân trạch để khảo sát thái độ trung hay gian của bề tôi Vua ban bố rõ các pháp lệnh để làm cho bề tôi tránh đ-ợc tội lỗi Vua lập ra chế độ kiểm tra để theo dõi các quan có hành vi độc đoán chuyên quyền (Thiên XLVIII - Bát kinh) [31, 531] Nh- vậy, thuật "Tham ngũ" mà Hàn Phi đề ra đảm bảo cho việc thi hành pháp luật có đầy đủ tính

khách quan Việc sử dụng thuật "Tham ngũ" đòi hỏi vua chúa phải có nhiều

kỹ xảo và m-u kế rất đặc biệt

d Ph-ơng pháp nghe và quan sát (kiểm chứng)

Vua chúa là ng-ời thống lĩnh chế ngự quần thần Bản thân vua chúa là ng-ời quyền cao chức trọng nên bề tôi không tránh khỏi tâm lý nịnh bợ, cho nên họ th-ờng nói những lời giả dối, không thực Khi nghe bề tôi trình bày, vua cần phải để tâm cẩn thận, nếu không rất dễ bị bề tôi b-ng bít Bởi vậy,

Hàn Phi Tử đặc biệt quan tâm tới ph-ơng pháp nghe của vua, ông gọi đó là

"Thính ngôn chi ph-ơng thuật" Nghĩa là, khi nghe bề tôi trình bày, vua phải

trầm mặc, không cử động, không cắt ngang lời ng-ời nói; sau đó, vua dùng ph-ơng pháp kiểm chứng để xem xét lời nói đó có đúng với thực tế hay không; nhờ đó, vua phát hiện ra những ng-ời hiền tài, giúp vua trị vì đất n-ớc

Điều căn bản của "Thính ngôn chi ph-ơng thuật" là sự kết hợp chặt chẽ giữa yên lặng lắng nghe và kiểm chứng lời nói Vua căn cứ vào lời nói của bề

tôi và từ đó yêu cầu lời nói và việc làm trong thực tế của họ phải phù hợp với nhau Vua phải thẩm tra khảo sát danh phận rồi mới quyết định chức vị, dựa trên danh phận mà phân công việc

Việc kiểm chứng, khảo sát thực tế phải đ-ợc thực hiện từ nhiều ph-ơng diện, sau đó, vua phải tổng hợp các kết quả quan sát và tỉnh táo phán đoán

Khi nghe bề tôi nói, nếu vua không có sự kiểm chứng lại từ nhiều ph-ơng diện,

Trang 38

thì sẽ không có căn cứ để khiển trách bề tôi; không xem xét lời nói của bề tôi

có phù hợp với thực tế hay không thì bề tôi sẽ dùng tà thuật để chống đối, b-ng bít vua Nói về ngôn ngữ, Hàn Phi đã chỉ ra rằng, "thông th-ờng điều gì

mà nhiều ng-ời cùng nói một lúc thì đáng tin cậy Cùng một sự việc không chân thực, nếu nh- chỉ m-ời ng-ời nói thì còn nghi ngờ, nh-ng nếu nh- một trăm ng-ời cùng nói thì ai cũng tin; từ đó khiến cho cả ngàn ng-ời bị mê hoặc theo Một ng-ời nói ấp úng thì lời nói dễ bị nghi kỵ; nh-ng một ngàn ng-ời biết ăn nói l-u loát sẽ làm cho ng-ời khác tin t-ởng Bởi vậy bọn gian thần muốn che giấu vua th-ờng dựa vào sự hỗ trợ của bè đảng, m-ợn lời nói của

họ để chiếm lấy lòng tin của vua, dùng mọi việc d-ờng nh- tốt đẹp để che đậy m-u kế của họ" (Thiên XLVIII - Bát kinh) [21, 443] Do đó, khi nghe bề tôi

nói, vua phải khảo chứng nhiều mặt trong thực tế mới có thể nhận biết đ-ợc chân t-ớng sự thật; từ đó phá bỏ những m-u kế của bọn gian thần cấu kết bè

đảng Bản tính con ng-ời vốn t- lợi, cho nên theo Hàn Phi, vua phải "chiếu theo pháp luật để trị vì, phải biết tổng hợp quan sát từ nhiều ph-ơng diện, rồi thẩm tra lại cho kỹ càng Mỗi loại khen th-ởng phải phù hợp với công lao Kẻ nào mắc tội thì phải trừng trị theo pháp luật, nhất quyết không miễn trừ một

ai Có nh- vậy thì các hành vi gian tà phạm pháp mới không còn chỗ tồn tại"

(Thiên XVII - Bị nội) [21, 469]

e Thuật dùng ng-ời

Từ cổ chí kim, những lãnh tụ anh minh, không ai là không quan tâm tới

cách dùng ng-ời Hàn Phi Tử chủ tr-ơng vua quản lý tốt đám quan lại, rồi số quan lại này sẽ điều khiển dân chúng Vua phải làm theo đúng pháp luật, đốc

thúc các quan phải đạt đ-ợc hiệu quả t-ơng ứng với chức vụ Vua phải dựa vào

uy thế để có đ-ợc ph-ơng thức quản lý làm cho đội ngũ quan lại đ-ợc hoàn thiện Đó là thuật chọn quan lại

Trang 39

Theo Hàn Phi, bổ nhiệm ng-ời đảm nhận công việc là then chốt của sự tồn vong đối với quốc gia Không có ph-ơng thức tốt để bổ nhiệm bề tôi thì

nhất định sẽ bị thất bại Những ng-ời đ-ợc vua bổ nhiệm phải là những ng-ời

có tài đức Nếu đã bổ nhiệm thì họ phải có quyền quyết đoán công việc Cho nên, nếu không có ph-ơng pháp đúng đắn để bổ nhiệm bề tôi, công việc cai trị

đất n-ớc sẽ bị hỗn loạn Ph-ơng thuật dùng ng-ời của Hàn Phi là "ông vua sáng suốt phải để cho ng-ời thấp kém có quyền phê phán bậc tôn quý Th-ợng cấp có tội mà cấp d-ới không tố cáo thì sẽ bị liên lụy, sẽ cùng chung tội hình với th-ợng cấp Vua phải dựa vào công lao để khen th-ởng, phải thử tài mới giao chức, phải điều tra nguyên nhân của mọi việc Có nh- vậy, ng-ời ngu dốt mới không thể đảm đ-ơng chức vụ, ng-ời tài trí thì không dám dối gạt vua; chính sự nhờ thế mà ổn định" (Thiên XLVII - Bát thuyết) [21, 493]

Vua chúa phải tự mình nắm quyền phế lập quan lại, phải dựa vào tài năng

mà bổ nhiệm quan lại Bậc minh quân lập ra bổng lộc quan chức là để sử dụng ng-ời hiền tài, khen th-ởng ng-ời có công Vậy nên, muốn bổ nhiệm một ng-ời hiền tài làm quan, vua phải đoán định đ-ợc năng lực của ng-ời ấy, ban th-ởng bổng lộc cho bề tôi phải xứng đáng, phù hợp với công lao của họ

"…Việc phong t-ớc không dựa vào luật pháp, không xét công lao, mà chỉ dựa vào sự tâu bẩm, tiến cử, xin xỏ của đám ch- hầu quyền thế, đó chính là cách thức làm cho đất n-ớc sớm bị tiêu vong" (Thiên IX - Bát gian) [31, 80]

Thuật dùng ng-ời đòi hỏi vua chúa phải "chuyên nhiệm phân chức", nghĩa là mỗi bề tôi đảm nhận một chức trách rõ ràng Chức vụ phải phù hợp với tài năng, với một quyền hạn nhất định Trong thiên XXVII - Dụng nhân, Hàn Phi lập luận rằng, khi gánh vác một chức trách thì ng-ời đó phải tuân theo pháp luật mà làm việc hết mình Khi bề tôi nhận chức vụ phù hợp với năng lực của họ thì họ sẽ hoàn thành nhiệm vụ một cách nhẹ nhàng, không

đ-a đẩy bê trễ [31, 251] Một ng-ời không đ-ợc kiêm nhiệm nhiều chức vụ,

Ngày đăng: 15/03/2021, 18:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w