Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước doĐại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, với mục đích phục vụnhiệm vụ cấp bách mà Đảng ta đã vạch ra là: tăng cường bộ máy Nhàn
Trang 1Trờng Đại học Vinh
Học thuyết Tam quyền phân lập của Mongtesquier và
ý nghĩa lý luận của nó đối với phơng hớng xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Khóa luận tốt nghiệp đại học
NGàNH luật hành chính
Vinh , 2012
Trang 2Trờng Đại học Vinh
Khoa luật
***************
Học thuyết Tam quyền phân lập của Mongtesquier và
ý nghĩa lý luận của nó đối với phơng hớng xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Khóa luận tốt nghiệp đại học
NGàNH luật hành chính
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Văn Đại
Sinh viên thực hiện :Nguyễn Thị Thắm
Lớp : 49B2 – Luật
Mã số sinh viên : 0855032268
Vinh , 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp mới về khoa học của khóa luận 5
7 Kết cấu của khóa luận 6
B NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ SẢN 7
1.1 Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết “tam quyền phân lập” 7
1.1.1 Giới thiệu khái quát về nhà tư tưởng chính trị vĩ đại Montesquier 7
1.1.2 Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Tam quyền phân lập” 10
1.1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết “Tam quyền phân lập” 12
1.2 Nội dung cơ bản của học thuyết “Tam quyền phân lập” về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước 16
1.2.1 Nội dung về tính phân quyền trong tổ chức hoạt động của Bộ máy nhà nước 16
1.2.2 Xây dựng Nhà nước pháp quyền Tư bản chủ nghĩa 21
1.3 Vận dụng nội dung của học thuyết “tam quyền phân lập” về xây dựng bộ máy Nhà nước pháp quyền Tư sản trong lịch sử 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 27
Trang 4CHƯƠNG II: VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỌC THUYẾT “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 29
2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản của Nhà nước Pháp quyền XHCN 29
2.1.1 Tính tất yếu khách quan về sự ra đời của nhà nước XHCN 29
2.1.2 Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền – quy luật phát triển tất yếu của nhà nước XHCN 32
2.1.3 Bản chất của Nhà nước Pháp quyền XHCN 34
2.1.4 Các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN 36
2.2 Ý nghĩa lý luận của học thuyết tam quyền phân lập của Mongtesquier đối với phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay 41
2.2.1 Một số quan điểm, tư tưởng cốt lõi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN 41
2.2.2 Vận dụng học thuyết tam quyền phân lập của Mongtesquier vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay 52
2.3 Những vấn đề tồn tại và giải pháp trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân ở nước ta hiện nay 57
2.3.1 Đánh giá một số tồn tại vướng mắc 57
2.4.2 Định hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 75
C KẾT LUẬN 77
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5LêI C¶M ¥N
Trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp, là sản phẩm lao động miệtmài mà em đã cố gắng có được Nhưng chỉ dựa vào sự gắng sức của bảnthân thôi thì chưa đủ, bởi vì viết một khóa luận khoa học là một trongnhững việc khó nhất mà em phải hoàn thành từ trước tới nay Trong quátrình thực hiện đề tài em đã gặp rất nhiều khó khăn và bỡ ngỡ nếu không
có sự giúp đỡ, hướng dẫn và những lời động viên chân thành của Thầy
Nguyễn văn Đại là giảng viên Khoa Luật Trường Đại học Vinh, Thầy đã
tận tình hướng dẫn em thực hiện đề tài từ những bước nhỏ nhất và giúp emhoàn thành được xong khóa luận như mong muốn
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc,chân thành và gửi lời chúc tốt đẹpnhất đến Thầy cùng những thầy cô giáo đã giảng dạy em trong bốn nămqua, những kiến thức mà em nhận được trên giảng đường đại học đã giúp
em rất nhiều trong khóa luận và cũng sẽ là hành trang giúp em vững bướctrong tương lai
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thắm
Trang 6A LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói trong lịch sử các học thuyết chính trị của nhân loại, cáchọc thuyết về Nhà nước luôn luôn giữ vị trí quan trọng nhất Trong số cáchọc thuyết ấy thì học thuyết về quyền lực Nhà nước, về việc tổ chức vàthực hiện quyền lực ấy lại giữ vị trí cơ bản và trọng yếu, chúng bao giờcũng để lại dấu ấn của mình trong các thể chế chính trị nhất định Vì vậy,nghiên cứu lịch sử các học thuyết chính trị sẽ mang lại một ánh sáng cầnthiết cho việc nghiên cứu nền chính trị và các thể chế chính trị đương đại
Học thuyết phân chia quyền lực Nhà nước vốn có mầm mống từ xaxưa trong lịch sử, từ thời cổ đại, khi kiểu Nhà nước và pháp luật đầu tiêntồn tại ở Hy Lạp, La Mã Chúng ta có thể tìm thấy những nét đại cương của
nó trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Hy Lạp, La Mã thời kỳ
cổ đại, trong các quan điểm chính trị của Aristote, Polybe Sau đó, họcthuyết này đã được các nhà tư tưởng tư sản thế kỷ XVII-XVIII mà điểnhình là John Locke và Mongtesquier kế thừa, phát triển và hoàn thiện nó,coi đó là cơ sở để bảo đảm quyền lực của nhân dân và chống chế độ độc tàichuyên chế Mongtesquier đã phát triển một cách toàn diện học thuyết phânquyền và sau này khi nhắc tới học thuyết “tam quyền phân lập” là nhắc tới têntuổi của ông Nó đã được thể hiện và áp dụng trong việc tổ chức bộ máy Nhànước của nhiều nước trên thế giới ở các mức độ khác nhau, được ghi nhậnmột cách trang trọng trong các bản Tuyên ngôn và Hiến pháp của một sốnước Thậm chí có nước đã coi phân quyền là nguyên tắc cơ bản trong tổchức bộ máy Nhà nước của mình, là tiêu chuẩn và điều kiện của nền dân chủ
Đó chính là sự thừa nhận và khẳng định giá trị của học thuyết “tam quyềnphân lập” trong thực tế
Trang 7Tuy vậy, trong một thời gian khá dài, ở nước ta cũng như ở các nướcXHCN khác, học thuyết này không được chú trọng nghiên cứu và cũngkhông được đánh giá đúng giá trị của nó; vì nó bị coi là tư tưởng của giaicấp tư sản Việc tổ chức của bộ máy Nhà nước ở những nước này có lúcgần như rập khuôn theo mô hình Nhà nước Liên Xô và sự phân quyền hầunhư bị phủ nhận Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước doĐại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, với mục đích phục vụnhiệm vụ cấp bách mà Đảng ta đã vạch ra là: tăng cường bộ máy Nhànước, cải tiến tổ chức và hoạt động để nâng cao hiệu quả quản lý của nó,học thuyết “tam quyền phân lập” đã được quan tâm nghiên cứu để hiểu rõnội dung, ý nghĩa của nó và để vận dụng vào việc tổ chức bộ máy Nhànước ta ở mức độ phù hợp Do đó bộ máy Nhà nước Việt Nam theo Hiếnpháp 1992 được tổ chức theo tinh thần: “Quyền lực Nhà nước là thốngnhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước
trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp” Quản lý
Nhà nước bằng pháp luật được tăng cường Dân chủ XHCN được mở rộng,
ổn định chính trị được giữ vững” Đó là kết quả ban đầu của quá trình đổimới nhận thức của chúng ta và chính vì vậy mà phương hướng cải cách tổchức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta như trên được ghi nhận lạitrong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng IX là: “Xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng
Như vậy, mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền và nguyên tắc tổchức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo mục tiêu ấy đã được Đảng vàNhà nước ta khẳng định trong những văn kiện quan trọng nhất của đấtnước Đó là một mục tiêu hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế tất yếucủa thời đại - xu thế phát triển dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn cầu.Vớimong muốn góp phần vào công cuộc hoàn thiện xây dựng, tổ chức và hoạt
Trang 8động của bộ máy Nhà nước ta, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Học thuyết Tam
quyền phân lập của Mongtesquier và ý nghĩa lý luận của nó đối với phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài khóa luận của mình.
2 Tình hình nghiên cứu
Học thuyết “tam quyền phân lập” đã được nghiên cứu từ lâu và ởnhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Trung Quốc Còn ởnước ta, việc tìm hiểu học thuyết phân quyền cũng như sự vận dụng nó vào
tổ chức bộ máy Nhà nước cho đến nay mới dừng ở mức độ khái quát nênchưa có tác giả nào trình bày một cách cụ thể và có hệ thống về vấn đề này.Hiện tại mới chỉ có một số công trình đề cập đến nó như: “Thuyết: “tamquyền phân lập” và bộ máy Nhà nước tư sản hiện đại” của Viện Thông tinKhoa học xã hội; “Thử bàn lại học thuyết phân chia quyền lực” củaPGS.TS Nguyễn Đăng Dung; “Luật Hiến pháp và các định chế chính trị”của Lê Đình Chân Các tác phẩm này đã trình bày khái quát về cội nguồncủa thuyết “tam quyền phân lập”, nội dung cơ bản của nó, các quan điểmkhác nhau về thuyết này, thực tế áp dụng thuyết “tam quyền phân lập” trênthế giới và yêu cầu phải có sự phân công phân nhiệm rạch ròi giữa các cơquan Nhà nước Việt Nam Song, chưa có tác giả nào trình bày một cách cụthể và có hệ thống về lịch sử của học thuyết “tam quyền phân lập” cũng như
sự thể hiện và áp dụng học thuyết này trong thực tiễn tổ chức bộ máy Nhànước trên thế giới và ở Việt Nam Phải chăng cũng vì thế mà cho đến nay,việc tìm ra một cơ chế để thực hiện có hiệu quả sự phân công và phối hợpgiữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lực: lập pháp,hành pháp, tư pháp và bảo đảm sự thống nhất của quyền lực Nhà nước ởnước ta vẫn còn nhiều lúng túng, chưa có câu trả lời thỏa đáng Hậu quả làvấn đề này hiện nay chủ yếu mới dừng ở nguyên tắc mà chưa được cụ thểhóa về mặt pháp lý
Trang 93 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua việc xem xét một cách cụ thể, toàn diện, có hệ thống về
sự hình thành và phát triển của học thuyết “tam quyền phân lập”, sự thểhiện và áp dụng nó trong thực tế tổ chức bộ máy Nhà nước ở một số nước,luận văn mong muốn:
+ Làm rõ lịch sử phát triển của học thuyết “tam quyền phân lập” ,nội dung, giá trị lý luận và thực tiễn, ảnh hưởng và sức sống qua nhiều thế
kỷ của nó
+ Chứng minh rằng học thuyết phân quyền có thể áp dụng được và
đã được áp dụng với các mức độ khác nhau trong tổ chức bộ máy của cácNhà nước có chính thể khác nhau, từ Cộng hòa Tổng thống, Cộng hòa vàQuân chủ Đại nghị đến Cộng hòa Hỗn hợp Và cả những nước có chính thểCộng hòa XHCN như nước ta - nơi mà việc tổ chức và hoạt động của bộmáy Nhà nước được căn bản dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ vàthống nhất quyền lực
+ Từ kết quả nghiên cứu trên, có thể tìm ra một số giải pháp cụ thể
để cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta hiện nay theohướng vận dụng học thuyết phân quyền mạnh mẽ và rõ rệt hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khóa luận nghiên cứu và lý giải các vấn đề sau:
Một là: Sự xuất hiện và phát triển của học thuyết này trong lịch sửthể hiện qua thực tiễn tổ chức bộ máy Nhà nước của một số nước, qua quanđiểm của một số nhà tư tưởng của các thời đại và một số cách hiểu về sựphân quyền, nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết “tamquyền phân lập”
Hai là: Sự thể hiện và áp dụng học thuyết phân quyền trong tổ chức
bộ máy Nhà nước ở một số nước tư sản đại diện cho các mức độ áp dụng
Trang 10khác nhau cũng như sự vận dụng các giá trị đúng đắn, khoa học, kháchquan trong nhà nước XHCN và cụ thể ở nhà nước ta hiện nay.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của khóa luận bao gồm:
Thứ nhất: Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề Nhà nước
Thứ hai: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ ChíMinh về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề trên, tôi chủ yếu dựa vàophương pháp thu thập và xử lý thông tin, tư liệu Khi xử lý, tôi sử dụng kếthợp các phương pháp cụ thể: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và so sánhgiữa các quan điểm, các tài liệu, các ý kiến, nhận xét khác nhau của nhiềutác giả về cùng một vấn đề
6 Những đóng góp mới về khoa học của khóa luận
Khóa luận làm sáng tỏ lịch sử hình thành, phát triển, nội dung, giá trị
lý luận và thực tiễn và hạn chế của học thuyết “tam quyền phân lập” Qua
đó góp phần bổ sung, làm phong phú hơn, hoàn chỉnh hơn sự hiểu biết vềquá trình hình thành và phát triển của học thuyết phân quyền trong lịch sử,góp phần bổ sung những tri thức mới và thúc đẩy sự phát triển của ngànhkhoa học nghiên cứu về lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý ở Việt Nam
Bằng việc trình bày một cách tổng quát về sự thể hiện và áp dụngthuyết “tam quyền phân lập” một cách sáng tạo vào tổ chức bộ máy Nhànước ở một số nước đại diện cho các mức độ áp dụng và sự thể hiện họcthuyết phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà nước ta Khóa luận vừa gópphần khẳng định giá trị thực tiễn của học thuyết phân quyền trong việc thiết
kế các mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước, vừa nêu lên đặc trưng cơ bảncũng như ưu điểm và hạn chế của từng mức độ áp dụng để có thể thamkhảo, học tập, rút kinh nghiệm trong quá trình cải cách tổ chức và hoạtđộng của Nhà nước ta
Trang 117 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời cảm ơn, mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tàiliệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát về học thuyết “tam quyền phân lập” và sự vận
dụng trong tổ chức và hoạt động ở Nhà nước tư sản
Chương 2: Vận dụng học thuyết “tam quyền phân lập” để xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
Trang 12B NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ SẢN 1.1 Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết “tam quyền phân lập”
1.1.1 Giới thiệu khái quát về nhà tư tưởng chính trị vĩ đại Montesquier
Charles de Secondat Mongtesquier (1689 – 1755) – nhà triết họcKhai sáng, nhà tư tưởng chính trị, nhà kinh tế học, nhà xã hội học và nhà sửhọc người Pháp Ông là nhà tư tưởng có dòng dõi quý tộc, sinh ngày 18tháng 1 năm 1689 tại lâu đài La Brét ở Tây – Nam nước Pháp Cha ông làGiắc đơ Sơcôngđa – một quý tộc bị sa sút và đã có thời gian làm đại úy vệ
kỳ binh, sau đó lui về ở ẩn cho đến năm 1713 thì qua đời KhiMongtesquier lên 7 tuổi thì mẹ ông mất Mongtesquier chịu ảnh hưởngnhiều của người chú ruột – Giăng đơ Sơcôngđa, người đã từng là Chủ tịchNghị viện Boóc đô
Năm 1714, Mongtesquier vào làm việc tại Viện Boócđô và hai nămsau, ông trở thành nam tước De Mongtesquier – Chủ tịch Nghị việnBoócđô Năm 1716, Mongtesquier trở thành thành viên Viện Hàn lâmKhoa học Boócđô
Khí chất của chàng thanh niên Mongtesquier ham tìm tòi, suy nghĩvới lòng khát khao hiểu biết trên nhiều lĩnh vực đồng thời lại trực tiếp tiếpxúc với thực tiễn chính trị – xã hội của thời đại ở một giai đoạn được coi là
có sự bùng nổ của các cuộc đấu tranh quyết liệt chống phong kiến đã sớmnung nấu tinh thần của nhà triết học Khai sáng tương lai Tư tưởng và tàinăng của ông thực sự hòa làm một, kết tinh thành năng lực tư duy sáng tạo,
Trang 13khí phách kiên cường của nhà triết học Khai sáng Vào năm 1721,Mongtesquier đã cho ra đời tác phẩm đầu tay, tác phẩm được thừa nhận là
đã gây chấn động dư luận không riêng gì ở Pháp, mà cả ở châu Âu – đó làtiểu thuyết bằng thư “Những bức thư Ba Tư”
Năm 1726, Montesquier thôi chức vụ Chánh án Tòa án Boócđô màtrước đấy, ông đã làm thế chân người chú của mình Một năm sau, ôngđược bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Pháp Đến năm 1728, ông lên đường
đi du lịch khắp nơi để hiểu phong tục, tập quán, luật pháp và thể chế củacác nước châu Âu Ông lưu lại hai năm cuối ở Anh Dưới chế độ quân chủlập hiến, ông cảm thấy rất hài lòng và cho đó là một thể chế lý tưởng, tráingược với nước Pháp quân chủ chuyên chế “Tại Nghị viện Anh, người tacho phép ông có mặt trong các cuộc tranh luận giữa Chính phủ và phe đốilập kéo dài tới 12 giờ Các tư tưởng của ông về lý luận phân quyền đã bắtđầu chín muồi ở Anh” Đây là thời gian đã làm cho Mongtesquier thấythực sự quý báu và những cảm nhận của ông về những gì đã diễn ra ở đây
đã trở thành tiền đề cho sự hình thành tư tưởng của ông sau này
Tháng 10 năm 1748, Mongtesquier cho ra đời tác phẩm “Bàn về tinhthần pháp luật” Ở tác phẩm “Bàn về tinh thần pháp luật”, Mongtesquierkhông nghiên cứu luật pháp như một nhà luật học thuần tuý, mà nghiên cứucái hồn, cái tinh thần của pháp luật Ông muốn khám phá cái trật tự cái quyluật trong mớ hỗn độn các luật pháp ở tất cả các dân tộc và ở mọi thời đại.Đây là tác phẩm mang tính triết học sâu sắc, trong đó luật pháp được giảithích từ nhiều khía cạnh khác nhau
Mongtesquier chia thể chế Nhà nước ra ba loại: độc tài, quân chủ lậphiến và cộng hòa Phê phán thể chế độc tài và ca ngợi thể chế cộng hòa làtốt đẹp nhưng không thực hiện được trong thực tế, ông chủ trương rằng thểchế chính trị hợp lý nhất của nước Pháp và nhiều nước là quân chủ lập hiếngiống như nước Anh Trong học thuyết của mình, Mongtesquier nêu ra
Trang 14nguyên tắc phân quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, nghịviện giữ quyền lập pháp, nhà vua giữ quyền hành pháp và các quan tòa giữquyền tư pháp Các nghành này độc lập với nhau nhưng kiểm soát lẫnnhau, giai cấp tư sản nắm giữ cơ chế này trong xã hội Nguyên tắc phânquyền này của ông đã được thực hiện sau cuộc cách mạng tư sản Pháp
1789 - 1794 và là định hướng cho nhiều nhà tư sản trên thế giới sau này
Học thuyết của Mongtesquier không chủ trương lật đổ chế độ phongkiến bằng cách mạng mà chỉ là những cải cách cho phù hợp với đòi hỏi vàquyền lợi của giai cấp tư sản Như vậy, ông không phải là người theothuyết dân chủ mà theo thuyết tự do Nhưng trong bối cảnh chế độ phongkiến tàn bạo lúc đó, tư tưởng của Mongtesquier thể hiện tính chất tiến bộ và
có giá trị tinh thần to lớn đối với các tầng lớp nhân dân Những nằm cuốiđời, Mongtesquier sống trong lâu đài của mình và tại đây, ông đã viết thêmmột số tác phẩm khác, như Lyđimác (1751), Acxat và Ixmêni (1754) Khi
đó, ông đã trở nên nổi tiếng và được kính trọng Trong thời gian đó, ông đãphải chịu đựng sự hành hạ thân xác một cách khủng khiếp do bệnh tật ngàymột nặng thêm, nhưng ông vẫn sống và hoạt động với một nghị lực hiếm
có Ông đã qua đời tại Paris ngày 10 tháng 2 năm 1755 và để lại nhiềunguyên cảo, trong đó có tập “Những tư tưởng của tôi”
Với tất cả những cống hiến lý luận của mình, Mongtesquier xứngđáng được tôn vinh là một trong những nhà tư tưởng lớn trong lịch sử tưtưởng nhân loại thế kỷ XVIII, là nhà triết học Khai sáng Pháp nổi tiếng với
tư tưởng đề cao “tam quyền phân lập” luôn thể hiện ý chí và khát vọng xâydựng một xã hội mới mà ở đó, không còn áp bức, bất công, một xã hội cókhả năng đem lại tự do cho mọi người, hoà bình cho nhân loại Hơn hai thế
kỷ qua, nhân loại luôn nhắc đến ông với tư cách đó và học thuyết “tamquyền phân lập” của ông luôn được các nhà tư tưởng, các chính khách vàgiới nghiên cứu lý luận trên toàn thế giới sử dụng như một tài liệu tham
Trang 15khảo bổ ích, có giá trị gợi mở cho việc xây dựng và hoàn thiện lý luận vềxây dựng Nhà nước.
1.1.2 Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Tam quyền phân lập”
Bắt đầu từ thế kỷ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuấtnhỏ và các đạo luật hà khắc trung cổ bước vào thời kỳ tan rã Xuất hiệnnhiều công trường thủ công, ban đầu ở các nước ven Địa Trung Hải, nhất là
ở Italia, sau đó lan sang Anh, Pháp và các nước khác Thay thế cho nềnkinh tế tự nhiên kém phát triển là nền sản xuất công trường thủ công đemlại năng suất lao động cao hơn Nhiều công cụ lao động được cải tiến vàhoàn thiện nhằm thúc đẩy sản xuất Với việc sáng tạo ra máy tự kéo sợi vàmáy in làm cho công nghiệp dệt, công nghệ ấn loát đặc biệt phát triển, nhất
là ở Anh Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ cơ học đã giúp chocon người thời kỳ này sản xuất có kế hoạch, tiết kiệm thời gian và tăngnăng suất lao động
Những phát kiến địa lý như việc tìm ra Châu Mỹ và các đường biểnđến những miền đất mới… càng tạo điều kiện phát triển nền sản xuất theohướng tư bản chủ nghĩa Nhờ đó, thị trường trao đổi hàng hóa giữa cácnước được mở rộng Các cuộc giao du Đông - Tây được tăng cường Cácnước tư bản chủ nghĩa sớm phát triển như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… thinhau xâm chiếm thuộc địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên của các nướckém phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình “Giờ đây,lần đầu tiên người ta đã thực sự phát hiện ra trái đất và đặt nền móng chonền thương nghiệp thế giới sau này và đại công nghiệp hiện đại” Đồngthời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã hội Tây Âu,thời kỳ này, sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt Tầng lớp tư sản xuấthiện gồm các chủ xưởng công trường, xưởng thợ, chủ thuyền buôn… vaitrò và vị trí của họ trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn Hàng loạt nôngdân từ nông thôn di cư đến các thành phố, trở thành người làm thuê cho các
Trang 16công trường, xưởng thợ Họ là tiền thân của giai cấp công nhân sau này.Các tầng lớp xã hộ trên đại diện cho một nền sản xuất mới, cùng với nôngdân đấu tranh chống chế độ phong kiến đang suy tàn.
Những mầm mống của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện trướctiên ở Italia, nước được coi là quốc gia tư bản sớm nhất ở Tây Âu Với nềnvăn hóa phục hưng phát triển rực rỡ trong suốt thế kỷ XIV-XV, Italia trởthành trung tâm của vũ đài lịch sử thế giới, tiêu biểu cho nền văn minhnhân loại thời kỳ này Tiếp sau đó, các cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789-1794) với việc xử tử vua Lu-i XVI là một trong những đòn quyết định tiêudiệt chế độ phong kiến ở Châu Âu
Vào thế kỷ XVI-XVII thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ngày càngphát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế của các nước Tây Âu Sự lớn mạnhcủa công nghiệp và thương mại cùng với sự phát triển như vũ bão của khoahọc kỹ thuật đã dẫn tới sự tiếp tục tan rã của chế độ phong kiến Song,quyền sở hữu ruộng đất của phong kiến, chế độ nông nô, chế độ đẳng cấp
và sự bất bình đẳng về pháp luật đặc trưng cho xã hội phong kiến đã ngăncản sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa dựa trên sự cạnh tranh tự do
và bóc lột lao động làm thuê Nền quân chủ chuyên chế với những thể chếbảo thủ can thiệp quan liêu vào toàn bộ đời sống xã hội kìm hãm sự pháttriển của các xí nghiệp thương mại và công nghiệp Giai cấp tư sản đangtrưởng thành và lớn mạnh ở các nước phát triển nhất không thể khoannhượng với chế độ chuyên chế phong kiến Giai cấp tư sản đòi xóa bỏ đẳngcấp và thiết lập sự bình đẳng pháp luật, bảo đảm tự do và an ninh cá nhân
và quyền sở hữu tư nhân bằng cách tạo ra những sự đảm bảo cần thiết vềmặt chính trị và pháp lý
Trong cuộc đấu tranh chống nền quân chủ chuyên chế, giới quý tộc
và nhà thờ, các nhà tư tưởng tư sản muốn vứt bỏ vòng hào quang thiêngliêng bao trùm lên chế độ phong kiến, tách các vấn đề Nhà nước và pháp
Trang 17quyền ra khỏi tôn giáo Khuynh hướng này được thể hiện rõ nét trong họcthuyết về pháp quyền tự nhiên, về chủ nghĩa tự do Nội dung của các họcthuyết này được truyền bá rộng rãi ở Tây Âu đã tạo ra những quan niệmxây dựng nền tảng của thể chế chính trị dân chủ tư sản Nó cũng là nềnmóng của những hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển và các nềndân chủ tư bản hiện đại sau này.
Tóm lại, hoàn cảnh lịch sử Tây Âu thế kỷ XV-XVIII và nền tảng tưtưởng trên đây quy định nội dung của những tư tưởng chính trị thời kỳ này,làm cho nó không chỉ đơn thuần không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu và khôiphục các giá trị tư tưởng truyền thống, mà còn phát triển với nhiều sắc tháiriêng của một thời kỳ lịch sử Ở thời kỳ này, có rất nhiều nhà tư tưởngchính trị tiêu biểu và nổi tiếng, những tư tưởng của họ về mặt chính trị đểlại cho nhân loại nhiều giá trị trong đó có thuyết “tam quyền phân lập” củaMongtesquier
1.1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết “Tam quyền phân lập”
a) Đóng góp của học thuyết “Tam quyền phân lập”
Học thuyết này đã được các nhà tư tưởng tư sản thế kỷ XVII-XVIII
mà điển hình là John Locke và Mongtesquier kế thừa, phát triển và hoànthiện nó, coi đó là cơ sở để bảo đảm quyền lực của nhân dân và chống chế
độ độc tài chuyên chế Mongtesquier đã phát triển một cách toàn diện họcthuyết phân quyền và sau này khi nhắc tới học thuyết “tam quyền phân lập” lànhắc tới tên tuổi của ông Nó đã được thể hiện và áp dụng trong việc tổ chức
bộ máy Nhà nước của nhiều nước trên thế giới ở các mức độ khác nhau,được ghi nhận một cách trang trọng trong các bản Tuyên ngôn và Hiến phápcủa một số nước Thậm chí, có nước đã coi phân quyền là nguyên tắc cơ bảntrong tổ chức bộ máy Nhà nước của mình, là tiêu chuẩn và điều kiện của nềndân chủ Đó chính là sự thừa nhận và khẳng định giá trị của học thuyết “tamquyền phân lập” trong thực tế
Trang 18Qua hai thế kỷ, loài người ngày càng hiểu biết hơn về giá trị củanguyên tắc phân quyền của Mongtesquier, đã góp phần đẩy nhanh việc kếtthúc chủ nghĩa cực quyền, ông được mệnh danh như là một người đặt nềnmóng cho việc thiết lập một chính phủ hiện đại Hiện nay, dân chủ và tự do
đã trở thành một giá trị rõ ràng, chế độ độc tài dần dần được đẩy lùi, phântích của Mongtesquier về việc phân quyền như là một trong những biệnpháp quan trọng để chống sự độc tài chuyên chế của nhiều Nhà nước trênthế giới hiện nay
Thuyết “tam quyền phân lập” của Mongtesquier có ảnh hưởng sâusắc đến những quan niệm sau này về tổ chức Nhà nước cũng như thực tiễn
tổ chức Nhà nước của các Nhà nước tư bản Học thuyết này là một nguồnquan trọng của chủ nghĩa lập hiến Đa số Hiến pháp của các nước tư bảnhiện nay đều tuyên bố phân quyền là một nguyên tắc cơ bản của việc tổchức quyền lực Nhà nước
Học thuyết “tam quyền phân lập” chiếm một vị trí đáng kể trong lịch
sử các học thuyết chính trị - pháp luật thế giới Ngày nay, nguyên tắc tổchức quyền lực Nhà nước theo kiểu “tam quyền phân lập” đã trở thànhnguyên tắc đặc thù và khá phổ biến ở các Nhà nước pháp quyền tư sản Cáchọc giả và giới chính trị tư sản coi nguyên tắc phân quyền là hòn đá tảngcủa nền dân chủ tư sản mà họ đang cố nhào nặn nhằm duy trì quyền lợi củagiai cấp mình
Ý nghĩ cơ bản của việc vận dụng nguyên tắc phân quyền vào tổ chức
và xây dựng bộ máy Nhà nước được họ giải thích là nhằm tạo ra một cơchế có kiểm tra, kiểm soát và giám sát hoạt động lẫn nhau giữa các cơ quanNhà nước để khắc phục sự lạm quyền, tiếm quyền dẫn tới độc tài, là nềntảng đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản được thừa nhậnchung khác của Nhà nước pháp quyền; là cơ chế bảo vệ pháp quyền và tự
do cơ bản của công dân khỏi những hành vi tùy tiện, độc đoán, những
Trang 19quyết định mang tính chất liên quan, hành chính, mệnh lệnh gây phiền hà
và nhũng nhiễu từ phía các cơ quan và công chức trong bộ máy Nhà nước
Có thể nói, ưu điểm quan trọng nhất của học thuyết “tam quyền phânlập” là tránh được sự chuyên quyền, độc tài trong thực hiện quyền lực Nhànước Đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trongcác xã hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hộidân chủ Loại bỏ chế độ quân chủ chuyên chế, độc tài - mảnh đất tốt cho sựlộng quyền, bức rào cản của dân chủ và phát triển xã hội Sự hình thành vàphát triển của lý thuyết này gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng,
tự do và tiến bộ xã hội Lấy pháp luật làm tối thượng, lấy bảo đảm cácquyền tự do công dân làm mục đích cuối cùng Không chỉ vậy, với cơ chếkiềm chế và đối trọng, kiểm tra và chế ước lẫn nhau giữa ba nhánh quyềnlực đã loại trừ được nguy cơ tập trung tất cả quyền lực Nhà nước vào taymột cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực duy nhất nào đó -nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hoá trong quá trình thực thi quyền lực.Nhờ cơ chế này mà không cơ quan Nhà nước nào có thể chi phối hoặc lấn
át hoàn toàn hoạt động của cơ quan khác Đồng thời không cơ quan nào, tổchức nào đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật; nằm ngoài sự kiểm tra,giám sát từ phía cơ quan Nhà nước khác Như vậy, sự phân chia rành mạch
về chức năng và nhân sự cùng với cơ chế kìm chế, đối trọng có tác dụngvừa hạn chế khả năng lạm quyền, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc phátgiác sự lạm quyền, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân
Mặc dù thực tiễn chính trị đã thay đổi nhiều so với thời kỳ học thuyếtphân quyền ra đời nhưng học thuyết này vẫn còn nguyên sức sống Nhữnggiá trị mang tính phổ quát của nó vẫn đang được khai thác và nhân rộngtrong tổ chức quyền lực của nhiều nước, không phân biệt điều kiện kinh tế,văn hoá và chế độ chính trị Trong khuôn khổ lý thuyết phân quyền, thựctiễn đã hình thành những chính thể khác nhau phù hợp với đặc điểm kinh
Trang 20tế, xã hội và truyền thống văn hoá của mỗi nước Ở các nước tư bản, cácnhánh quyền lực Nhà nước được thể chế hoá cao độ Các cơ quan lập pháp,hành pháp, tư pháp được chuyên nghiệp hoá rất cao Cơ chế kiểm soátquyền lực tỏ rõ tính hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng lạm quyền,chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước Có thể thấy,cho đến nay, học thuyết phân quyền đã thể hiện và khẳng định những giátrị tiến bộ của nó Những giá trị này đã được kiểm chứng trong thực tiễnchính trị hàng trăm năm ở các nước tư bản phát triển Đúng như đánh giácủa Ph Ăngghen: “Phân quyền được xem như là nguyên tắc thiêng liêng vàkhông thể xâm phạm trên thực tế, về thực chất nó không có gì khác là sựphân công công việc lao động được áp dụng đối với bộ máy Nhà nướcnhằm đơn giản hoá và để kiểm tra”.
b) Một số hạn chế của học thuyết “tam quyền phân lập”
Bên cạnh những ưu điểm, học thuyết “tam quyền phân lập” còn cónhững điểm hạn chế là bảo thủ phong kiến, đòi hỏi cho tầng lớp quý tộc.Học thuyết về sự phân quyền tạo ra sự chuyên môn hóa cao trong quản lý
bộ máy Nhà nước Cơ quan nào cũng bị kiểm tra giám sát việc thực thiquyền lực nó có thể dẫn dến sự thiếu đồng bộ, mâu thuẫn trong tổ chức vàhoạt động của bộ máy Nhà nước, thậm chí làm cho bộ máy Nhà nước bị têliệt
Sự đối trọng, kiềm chế, kiển tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quanlập pháp, hành pháp và tư pháp bên cạnh tránh tính chủ quan, chuyên chếthì nguy cơ về sự xung đột thẩm quyền, tranh giành quyền lực, bạo loạn lật
đổ luôn tiềm ẩn trong Nhà nước tư sản
Mongtesquier xuất thân từ giai cấp tư sản, là nhà tư tưởng tư sản vĩđại vì vậy mà tư tưởng của ông vẫn mang tính phục vụ lợi ích cho giai cấp
tư sản Học thuyết của Mongtesquier không chủ trương lật đổ chế độ phong
Trang 21kiến bằng cách mạng mà chỉ là những cải cách cho phù hợp với đòi hỏi vàquyền lợi của giai cấp tư sản.
Song những giá trị, những đóng góp và mặt tích cực của học thuyết
“tam quyền phân lập” đem lại cho nhân loại rất lớn mà không ai có thể phủnhận được
1.2 Nội dung cơ bản của học thuyết “Tam quyền phân lập” về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
Mongtesquier - nhà tư tưởng chính trị xuất sắc, cùng với Vonte đã
mở đầu cho phong trào giải phóng tư tưởng vĩ đại Các tư tưởng chính trịcủa ông đã vạch trần được bản chất của chế độ phong kiến và tuyên bốnguyên tắc tự do chính trị, học thuyết chính trị mang tinh thần tư sản doông xây dựng đã đưa ông vào hàng ngũ những nhà tư tưởng vĩ đại của thờiđại đó Học thuyết chính trị của Mongtesquier bao quát nhiều vấn đề từ bảnchất của pháp luật đến các hình thức chính quyền phân chia quyền lực, địachính trị… nhưng quan trọng nhất là học thuyết phân chia quyền lực
1.2.1 Nội dung về tính phân quyền trong tổ chức hoạt động của
Bộ máy nhà nước
Nội dung đầu tiên trong học thuyết phân quyền của Mongtesquier làquyền lực Nhà nước được cấu thành bởi ba hình thái cơ bản (tam quyền):lập pháp, hành pháp và tư pháp: “Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyềnlực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp
và quyền thi hành những điều hợp với luật dân sự Với quyền thứ nhất, nhàvua hay pháp quan làm ra các thứ luất cho một thời gian hay vĩnh viễn, vàsửa đổi hay hủy bỏ luật này Với quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định hòahay chiến, gửi Đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược.Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xửtranh chấp giữa các cá nhân Người ta gọi đây là quyền tư pháp, và trên kia
là quyền hành pháp quốc gia”
Trang 22Nội dung tiếp theo là quyền lực Nhà nước phải được tổ chức làm saocho tự do của công dân được bảo đảm: “Tự do chính trị của công dân là sựyên tâm vì mỗi người nghĩ rằng mình được an ninh Muốn đảm bảo tự dochính trị như vậy thì chính phủ phải làm thế nào để mỗi công dân khôngphải sợ một công dân khác”.
Mongtesquier kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúcbấy giờ Chế độ quân chủ chuyên chế là tổ chức quyền lực phi lý Chuyênchế là hình thức cầm quyền của một người phủ nhận pháp luật, Nhà nướcphụ thuộc vào sự lộng quyền của người cầm quyền Chế độ chuyên chế sở
dĩ tồi tệ, phi lý là vì: Nhà nước tồn tại vốn biểu hiện của ý chí chung nhưngtrong chế độ chuyên chế nó lại biểu hiện ý chí đặc thù; chế độ chuyên chếvới bản chất vô pháp luật và ý chí tùy tiện của nó lại trái với bản chất phápluật và nhu cầu pháp luật Mongtesquier nhận thấy pháp luật gồm nhiềulĩnh vực, phân nghành rõ rệt, cho nên tập trung vào một người duy nhất làtrái với bản chất của nó Gắn với bản chất của chế độ chuyên chế là tìnhtrạng lạm quyền Vì vậy, việc thanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể
là đồng thời là sự thanh toán chế độ chuyên chế Theo Mongtesquier, mộtkhi quyền lực được tập trung vào một mối, kể cả một người hay một tổchức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn Từ đó, Mongtesquier cho rằng tổchức quyền lực Nhà nước theo phương thức phân chia quyền lực Nhà nước
để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạm làm quyền, bảo đảm quyền
tự do của con người…
Mongtesquier viết: “Khi mà quyền lập pháp và quyền hành phápnhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì không còn tự donữa; vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy sẽ đặt ra những luật độctài để thi hành một cách độc tài Cũng không có gì là tự do nếu quyền tưpháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền tưpháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống
Trang 23và quyền tự do của công dân; cơ quan tòa sẽ là người đặt ra luật Nếuquyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp, thì ông quan tòa sẽ có cả sứcmạnh của kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặccủa quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thìtất cả sẽ mất hết”
Chứng nghiệm vào thực tế, nhận xét của Mongtesquier rất đúng Tự
do sẽ không có nếu quyền lập pháp và quyền hành pháp chập vào một bàntay Vì người nắm quyền lực sẽ đặt ra những quy tắc thuận tiện cho mìnhcai trị và sẽ không ban hành các quy tắc gây bất lợi cho mình
Quyền lập pháp nhập với quyền tư pháp thì tự do cũng sẽ bị đe dọa.Nếu một người vừa có quyền lập pháp vừa có quyền tư pháp thì sẽ: làmluật cho những trường hợp hay cá nhân mà ông ta muốn hại, chẳng hạn mộtnhà độc tài làm ra những đạo luật riêng nhằm bỏ tù những kẻ chống đốimình; sẽ đem thi hành đạo luật cho những cá nhân mà ông ta bênh vực haybiệt đãi, chẳng hạn một nhà độc tài đóng vai trò thẩm phán sẽ không phạt tùnhững kẻ thân thuộc đã phạm tội Như vậy, luật không còn là luật nữa vìkhông có giá trị tổng quát nữa mà thay đổi tùy theo ý muốn chủ quan củanhà cầm quyền
Lạm quyền là thuộc tính của quyền lực Nhà nước Một người càng
có nhiều quyền hành trong tay thì càng có khả năng lạm quyền Nếu mộtngười hay một cơ quan nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp thì tự do của dân chúng sẽ không còn gì Phân quyền có nghĩa là baquyền đó được giao cho những cơ quan khác nhau, độc lập với nhau cónhững phương thức hình hành riêng, cách thức hoạt động, lĩnh vực hoạtđộng riêng Tương ứng với ba quyền đó là ba cơ quan: cơ quan lập pháp làQuốc hội, cơ quan hành pháp là Chính phủ, cơ quan tư pháp là tòa án
Một ý tưởng tiếp theo của thuyết phân quyền là sự bình đẳng giữacác nghành quyền lực Mongtesquier cho rằng, quyền lực tối thượng được
Trang 24phân chia thành ba hình thái quyền lực cơ bản là lập pháp, hành pháp và tưpháp nên không có nghành quyền lực nào được gọi là tối thượng Ba ngànhquyền lực này ngang bằng với nhau, bình đẳng với nhau, không nghànhnào cao hơn nghành nào Thuyết phân quyền quan niệm rằng mỗi cơ quanđại diện quốc gia thi hành một nhiệm vụ, một quyền hạn và chỉ có nhiệm
vụ quyền hạn đó mà thôi Cơ quan lập pháp chỉ có quyền lập pháp, chỉ cónhiệm vụ làm luật Cơ quan hành pháp chỉ có quyền hành pháp, nghĩa lànhiệm vụ thi hành luật lệ Cơ quan tư pháp chỉ có quyền tài phán, nhiệm vụxét xử để áp dụng pháp luật
Phân chia quyền hạn thôi chưa đủ, mà phải có sự độc lập giữa các cơquan Nghĩa là các cơ quan không có hành động hỗ trợ nào Ví dụ, quyềnhành pháp không có quyền trình các sáng kiến lập pháp lên cơ quan lậppháp
Một khi tam quyền đã được phân lập rồi thì vấn đề tiếp theo là làmsao để đa quyền đó kiểm soát lẫn nhau Để tránh tập trung quyền lực vàotay một hay một nhóm người thì cần phải có một cơ chế kiểm soát quyềnlực, mà khả thi nhất là dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực Như vậy,người ta sẽ tránh được rủi ro là: một quyền lực mạnh quá sẽ có tham vọngtrở nên độc đoán vì rằng kinh nghiệp vĩnh viễn cho hay là: ai có quyềncũng sẵn sang lạm quyền Do đó, thuyết phân quyền của Mongtesquier đặtvấn đề: Phải làm thế nào cho cái việc quyền hành ngăn chặn quyền hànhtrở nên một sự dĩ nhiên Một chính phủ ôn hòa là một chính phủ trong đó
sự lạm quyền không thể xẩy ra được, nhờ ở một lối tổ chức nào, một tổchức có thể phân phối những thẩm quyền của chủ quyền quốc gia chonhững lực lượng chính trị khác biệt nhau, để khiến cho “quyền hành ngănchặn quyền hành”
Công cụ ngăn chặn quyền hành trước mà Mongtesquier đề cập đếnlà: tổ chức ra hai viện để viện nọ kiểm soát viện kia: “Trong một nước luôn
Trang 25luôn có những người nổi bật lên vì dòng giống, vì của cải, hoặc vì danhvọng của họ Nếu họ cũng chỉ được dùng một lá phiếu bầu như dân chúng,thì tự do chung là nô lệ đối với họ, họ không tha thiết gì bảo vệ tự do chung
đó, vì phần lớn các điều quyết nghị chung sẽ chống lại họ Cho nên, khitham gia vào công cuộc lập pháp thì họ nên được một tỉ lệ cao tương ứngvới vị trí ưu việt mà họ có trong quốc gia”
Tiếp theo Mongtesquier nói đến công co để hành pháp ngăn chặn lậppháp Trước tiên là quyền của hành pháp quy định thời hạn và thời gian cácphiên họp của nghành lập pháp: “cơ quan lập pháp không nên tự mình triệutập lấy mình Nếu để cho cơ quan hành pháp quy định thời hạn và thời giancác cuộc họp nghị viện tùy theo tình huống mà cơ quan hành pháp cho làcần thiết” Ngoài ra, quyền hành pháp không có quyền đưa ra các sáng kiếntrước lập pháp (như quyền trình dự án luật của chính phủ trước nghị viện ởnhiều nước Châu Âu ngày nay), nhưng có quyền ngăn cản việc thi hành cácđạo luật đã được nghành lập pháp thông qua (như quyền phủ quyết củaTổng thống Mỹ ngày nay) Mongtesquier lập luận: “nếu cơ quan hành phápkhông có quyền ngăn cản các dự định của các cơ quan lập pháp, thì cơquan lập pháp sẽ trở thành chuyên chế, tự ban cho mình mọi thứ quyềnhành mà xóa bỏ mọi thứ quyền lực khác” Nếu như quyền hành pháp cóquyền ngăn cản đối với quyền lập pháp thì quyền lập pháp cũng có quyềnxem xét việc thi hành các đạo luật mà mình đã ban hành ra: “trong mộtnước tự do, nếu cơ quan lập pháp không nên có quyền ngăn cản cơ quanhành pháp thì nó phải có chức năng xem xét các đạo luật đã ban hành đượcthực hiện như thế nào” Ngày nay, ta gọi đây là quyền giám sát của nghịviện
Ngày nay, theo một quan niệm rất thực tế Vedel quan niệm: “nguyêntắc phân quyền xét cho cùng có thể thu hẹp và tóm lược bằng một ý tưởngthuộc loại lẽ phải thông thường Ý tưởng đó như sau: chế độ độc tài là chế
Trang 26độ tập trung mọi quyền hành, là chế độ quyền hành võ đoán, là quyền hành
có thể vừa làm luật, vừa điều động quân đội, vừa xử án; là quyền hànhmuốn làm gì thì làm; theo sở thích riêng, không cần phải tôn trọng một quytắc gì đã đặt ra từ trước và cái nguyên tắc của nghệ thuật chính trị mà ta gọi
là phân quyền chỉ nhằm có việc tránh độc tài, làm thế nào cho độc tàikhông thể ngóc đầu lên được”
Thuyết “tam quyền phân lập” của Mongtesquier có ảnh hưởng sâusắc đến những quan niệm sau này về tổ chức Nhà nước cũng như thực tiễn
tổ chức Nhà nước của các nước tư bản Học thuyết này là một nguồn quantrọng của chủ nghĩa lập hiến Đa số Hiến pháp của các nước tư bản hiệnnay đều tuyên bố phân quyền là một nguyên tắc cơ bản của việc tổ chứcquyền lực Nhà nước
Theo cơ chế phân quyền, các nghành quyền lực độc lập nên sự lạmquyền được kiểm soát Hơn nữa, với cơ chế phân quyền, không một nghànhquyền lực nào có thể được coi là đại diện duy nhất cho chủ quyền nhândân Mỗi một nghành quyền lực chỉ đại diện cho chủ quyền nhân dân trênmột phương diện nhất định: nghị viện sẽ đại diện cho chủ quyền nhân dântrên phương diện lập pháp, chính phủ trên phương diện hành pháp, tòa ántrên phương diện tư pháp Do đó, không một cơ quan nào có thể thao túngđược toàn bộ quyền lực của dân chúng
1.2.2 Xây dựng Nhà nước pháp quyền Tư bản chủ nghĩa
Nhà nước pháp quyền là một phạm trù có nội hàm rất rộng được hiểudưới hai khía cạnh cơ bản là một học thuyết tư tưởng chính trị - pháp lýhoặc là một tổ chức bộ máy Nhà nước hiện thực
Dưới góc độ là một hệ tư tưởng chính trị - pháp lý, Nhà nước phápquyền đã xuất hiện sớm trong lịch sử loài người Khi có Nhà nước và phápluật ra đời thì cũng đã bắt đầu xuất hiện một số tư tưởng quan niệm về xâydựng Nhà nước pháp quyền Coi trọng pháp luật được hiểu là mầm mống
Trang 27đầu tiên về một mô hình Nhà nước pháp quyền Hệ tư tưởng này đặc biệtphát triển vào thời kỳ cuối cùng của xã hội phong kiến khi giai cấp tư sản
đã bắt đầu xuất hiện và ngày càng lớn mạnh
Dưới góc độ là một tổ chức bộ máy Nhà nước thì Nhà nước phápquyền là mô hình Nhà nước mà ở đó pháp luật giữ vị trí tối thượng trongviệc điều chỉnh các quan hệ xã hội và tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhànước Sự điều chỉnh thống nhất của pháp luật, Nhà nước đảm bảo tốt nhấtcác giá trị của con người (nhân quyền và quyền công dân) thừa nhận một
xã hội dân sự phát triển và một hệ thống pháp luật được xây dựng thốngnhất, đồng bộ ở kỹ thuật lập pháp cao
Nhà nước pháp quyền là con đẻ của cách mạng tư sản Châu Âu diễn
ra khoảng thế kỷ XVII gắn liền với phong trào giải phóng nhân loại ra khỏichế độ chuyên chế phong kiến Nhà nước pháp quyền với ý nghĩa là một
mô hình hiện thực chỉ ra đời khi Nhà nước tư bản và Nhà nước XHCN xuấthiện Còn tư tưởng về xây dựng một Nhà nước pháp quyền lại xuất hiện từrất sớm trong lịch sử gắn liền với các học thuyết chính trị - pháp lý: họcthuyết “tam quyền phân lập”, học thuyết tự nhiên, học thuyết nhân quyền…
Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa mang những đặc trưng sau:Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền được xây dựng trên cơ sở nền tảngcủa học thuyết “tam quyền phân lập” Lúc này tổ chức và hoạt động của bộmáy Nhà nước được vận hành theo nguyên tắc phân quyền và pháp luậtđược coi trọng mới được sử dụng để điều chỉnh tổ chức, hoạt động của bộmáy Nhà nước Mọi thiết chế quyền lực Nhà nước phải được tổ chức vàhoạt động trong khuôn khổ và bị kiểm soát bởi pháp luật Quyền lực Nhànước được phân thành ba hệ thống cơ quan quyền lực: Quyền lập phápthuộc về cơ quan nghị viện; quyền hành pháp thuộc về Chính phủ; quyền tưpháp thuộc về Tòa án
Trang 28Với việc phân chia quyền lực như vậy tránh được sự chuyên quyền,độc đoán, lạm quyền Đảm bảo tính khách quan, kiềm chế, đối trọng lẫnnhau… đó gọi là cơ chế phản biện xã hội, thúc đẩy các chủ thể hoàn thànhcông việc của mình.
Thứ hai, Nhà nước pháp quyền tư sản thừa nhận và bảo hộ một xãhội dân sự phát triển rộng rãi Tức là xã hội đó đề cao con người, vai tròcủa quyền tự do, bình đẳng, thỏa thuận giữa các công dân trong quan hệkinh tế - xã hội Nhà nước cũng chỉ giữ vai trò là một chủ thể độc lập,không can thiệp quá sâu vào các quan hệ pháp luật Xã hội dân sự đốingược lại với một xã hội hành chính mang bản chất mệnh lệnh, phục tùng,bất bình đẳng
Nhà nước được xây dựng trên nền tảng xã hội của công dân - một xãhội mà ở đó công dân là chủ thể, Nhà nước phải phục tùng lợi ích của côngdân Pháp luật phải đứng trên Nhà nước và Nhà nước phải có nghĩa vụ tuânthủ pháp luật
Thứ ba, Nhà nước pháp quyền thừa nhận, củng cố và bảo vệ tốt nhấtcác giá trị của con người và quyền công dân Vấn đề an sinh xã hội, phúclợi xã hội, bảo hiểm xã hội được Nhà nước quan tâm và dành được đượcnhiều kết quả có tính chất thực tế
Bản chất của Nhà nước pháp quyền là đề cao vai trò điều chỉnh củapháp luật, pháp luật là công cụ, phương tiện hữu hiệu và đắc lực nhất để bộmáy Nhà nước đó sử dụng điều chỉnh các quan hệ xã hội Tuy nhiên, nếunhư việc đề cao vai trò pháp luật chỉ vì bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị,đảng phái cầm quyền thì đó là một Nhà nước có bản chất trái ngược vớiNhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền có nghĩa là sử dụng pháp luật
để bảo vệ quyền con người một cách tối ưu
Trang 29Thứ tư, Nhà nước pháp quyền tư sản gắn liền với một hệ thống phápluật thống nhất, đồng bộ và được xây dựng bởi một trình độ lập pháp vàhiện đại
Điều đó được thể hiện ở tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật.Pháp luật là cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai, mọi chủthể trong xã hội đều phải tuân theo pháp luật Mọi đường lối chính sách củađảng và Nhà nước đều phải dựa vào pháp luật không được trái với Hiếnpháp và pháp luật Hiến pháp là văn bản có giá trị hiệu lực pháp lý caonhất
Mặt khác hệ thống pháp luật đó được xây dựng bởi một trình độ lậppháp tiên tiến và hiện đại Tức là trình độ con người, khả năng tư duy đượcđánh giá rất cao
Thứ năm, Nhà nước pháp quyền tư sản xác lập mối quan hệ hợp tác,bình đẳng, đoàn kết vì mục đích phát triển và cùng có lợi với các quốc giakhác trên thế giới đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết dân tộc,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cùng nhau hợp tác để giảiquyết các công việc mang tính chất toàn cầu: dịch bệnh, đói nghèo, thiêntai, dân số…Điều này đã trở thành một thuộc tính và được ghi nhận trongHiến pháp tư sản - đó là thuộc tính xã hội của Hiến pháp
Thứ sáu, Nhà nước pháp quyền gắn liền với pháp chế tư sản Phápchế tức là việc nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật một các đầy đủ, triệt để,thống nhất và kịp thời Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý côngminh; cán bộ công chức Nhà nước, tổ chức kinh tế chính trị - xã hội và mọicông dân đều phải đặt mình dưới sự điều chỉnh của pháp luật, không cóngoại lệ…Đảm bảo pháp chế tức là pháp luật được tôn trọng và thực thi - là
cơ sở để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền
Trang 301.3 Vận dụng nội dung của học thuyết “tam quyền phân lập” về xây dựng bộ máy Nhà nước pháp quyền Tư sản trong lịch sử
Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan Nhà nước có tổ chức, vịtrí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng có mối quan hệ tạothành một thể thống nhất vì được tổ chức và hoạt động theo những nguyêntắc chung nhất định
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước là nhữngphương hướng mang tính chất chỉ đạo trong quá trình tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước Hiến pháp tư sản ghi nhận bộ máy Nhà nước củamình được tổ chức và hoạt động dựa trên nguyên tắc phân quyền Cơ sở lýluận của nó là học thuyết “tam quyền phân lập” của Mongtesquier và biểuhiện của nó là hệ thống quyền lực Nhà nước được phân chia thành ba hệthống cơ quan: lập pháp thuộc về nghị viện; hành pháp thuộc về chính phủ;
tư pháp thuộc về tòa án
Với quyền thứ nhất, cơ quan lập pháp là nghị viện sẽ làm ra các thứluật cho một thời gian hay vĩnh viễn và sửa đổi hay bổ sung luật này
Với quyền thứ hai, thì cơ quan hành pháp là chính phủ sẽ quản lý đấtnước, điều hành đất nước trong các lĩnh vực đời sống xã hội
Với quyền thứ ba, là quyền hành pháp thì tòa án sẽ bảo đảm phápluật được thi hành, chấp hành một cách nghiêm chỉnh và bảo vệ phápluật…
Với nội dung của nguyên tắc phân quyền là quyền lực Nhà nướcđược phân chia cho ba hệ thống cơ quan nó sẽ có nhiều ưu điểm: tổ chứcquyền lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền để chống lại chế độchuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, đảm bảo quyền tự do cho conngười; nếu quyền lực tập trung vào tay một người, một cơ quan thì sẽ dẫntới tình trạng độc quyền, chuyên chế; trong đó các cơ quan luôn có sự đốitrọng kiềm chế và cân bằng với nhau tức là cơ chế kiểm soát, kiểm tra,
Trang 31giám sát lẫn nhau thúc đẩy sự phát triển tạo ra sự khách quan tránh tính chủquan đảm bảo hiệu quả công việc… gọi là cơ chế phản biện xã hội, là độnglực, mục đích thôi thúc các chủ thể tự hoàn thiện mình.
Bên cạnh đó nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy Nhà nước cũng có điểm hạn chế đó là nguy cơ về xung đột thẩmquyền, tranh giành quyền lực, bạo loạn lật đổ tiềm ẩn trong Nhà nước tư sản
Cơ sở lý luận của nguyên tắc phân quyền tư bản chủ nghĩa: về kinh
tế là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên tư hữu tư nhân về tư liệusản xuất và sản phẩm lao động gắn liền với chế độ bóc lột giá trị sức laođộng của ông chủ tư bản đối với công nhân Hiến pháp tư sản ghi nhậnquyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đặc biệt đất đai là thiêng liêng vàbất khả xâm phạm; về xã hội là mâu thuẫn, đối kháng giữa lợi ích vật chất
và quyền lực chính trị giữa hai giai cấp tư sản và vô sản; về tư tưởng tự dobình đẳng bác ái dân quyền nhưng chỉ là khẩu hiệu mà thôi
Về cách thức hình thành bộ máy Nhà nước: chủ yếu cử tri là ngườitrực tiếp bầu chọn ra các chức danh, các cơ quan trong bộ máy Nhà nước
Do vậy, giữa các cơ quan không có mối quan hệ về cách thức hình thànhnên không có sự ràng buộc lẫn nhau đảm bảo nguyên tắc phân quyền
Về tính phân quyền giữa các cơ quan: quyền lực giữa các cơ quanđược phân định rạch ròi, đảm bảo cơ chế đối trọng, cạnh tranh, giám sát lẫnnhau để cùng nhau phát triển Cơ quan lập pháp của các tiểu bang là cơquan quyền lực cao nhất ở địa phương
Về tính dân chủ: dân chủ chỉ là hình thức, Nhà nước tư sản tuy ghinhận quyền dân chủ mang tính hiến định Tuy nhiên, trên thực tế quyền dânchủ đó không thể thuộc về mọi người dân lao động lý do căn bản nhất của
nó là quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Bởi lẽ, các bản Hiến pháp
tư sản đều bảo hộ sở hữu tư nhân là cố định, thiêng liêng và bất khả xâm
Trang 32phạm Cho nên, trên thực tế dân chủ tư sản chỉ thuộc về giai cấp tư sản màthôi - nền dân chủ của thiểu số người dân.
Hiện nay, các chính phủ hợp hiến có những cách thức khác nhautrong việc áp dụng học thuyết phân quyền Các nước theo mô hình đại nghịphân quyền một cách mềm dẻo, chính phủ phải chịu trách nhiệm trướcquốc hội như ở Anh, Nhật… trong khi các nước theo mô hình tổng thống,đặc điểm là chỉnh phủ phải chịu trách nhiệm trước nhân dân lại phân quyềnmột cách cứng rắn như ở Hoa Kỳ, Philipine phân quyền trong chính thểcộng hòa hỗn hợp, chính phủ vừa phải chịu trách nhiệm trước nhân dân vừaphải chịu trách nhiệm trước quốc hội như ở Pháp, Nga…
Nếu coi hệ thống chính trị như một vòng tròn bao quát những tậphợp con cấu thành nên bản thân nó thì điểm trung tâm của vòng tròn này làNhà nước Một điểm chung dễ nhận thấy giữa Mỹ, Anh và Nga là cả banước đều cùng áp dụng học thuyết “tam quyền phân lập” trong việc tổ chứcquyền lực Nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế, các nước này lại có sự vậndụng học thuyết đó theo những phương thức khác nhau và ít nhiều chịu sựchi phối của điều kiện lịch sử cũng như đặc điểm phát triển kinh tế- xã hội
ở mỗi nước
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Mặc dù thực tiễn chính trị đã thay đổi nhiều so với thời kỳ học thuyếtphân quyền ra đời nhưng học thuyết này vẫn còn nguyên sức sống Nhữnggiá trị mang tính phổ quát của nó vẫn đang được khai thác và nhân rộngtrong tổ chức quyền lực của nhiều nước, không phân biệt điều kiện kinh tế,văn hoá và chế độ chính trị Trong khuôn khổ lý thuyết phân quyền, thựctiễn đã hình thành những chính thể khác nhau phù hợp với đặc điểm kinh
tế, xã hội và truyền thống văn hoá của mỗi nước Ở các nước tư bản, cácnhánh quyền lực Nhà nước được thể chế hoá cao độ Các cơ quan lập pháp,hành pháp, tư pháp được chuyên nghiệp hoá rất cao Cơ chế kiểm soát
Trang 33quyền lực tỏ rõ tính hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng lạm quyền,chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước Có thể thấy,cho đến nay, học thuyết phân quyền đã thể hiện và khẳng định những giátrị tiến bộ của nó Những giá trị này đã được kiểm chứng trong thực tiễnchính trị hàng trăm năm ở các nước tư bản phát triển Đúng như đánh giácủa Ph Ăngghen: “Phân quyền được xem như là nguyên tắc thiêng liêng vàkhông thể xâm phạm trên thực tế, về thực chất nó không có gì khác là sựphân công công việc lao động được áp dụng đối với bộ máy Nhà nướcnhằm đơn giản hoá và để kiểm tra”
Hiện nay, dân chủ và tự do đã trở thành một giá trị rõ ràng, chế độđộc tài dần dần được đẩy lùi, phân tích của Mongtesquier về việc phânquyền như là một trong những biện pháp quan trọng để chống sự độc tàichuyên chế của nhiều Nhà nước trên thế giới hiện nay Học thuyết “tamquyền phân lập” chiếm một vị trí đáng kể trong lịch sử các học thuyếtchính trị- pháp luật thế giới Ngày nay, nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhànước theo kiểu “tam quyền phân lập” đã trở thành nguyên tắc đặc thù vàkhá phổ biến ở các Nhà nước pháp quyền tư sản Ở hầu hết các nước tư sảnhiện nay, đều tổ chức bộ máy Nhà nước dựa trên nguyên tắc phân quyền.Đây được xem là hòn đá tảng của nền dân chủ tư sản
Trang 34CHƯƠNG II: VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỌC THUYẾT “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản của Nhà nước Pháp quyền XHCN.
2.1.1 Tính tất yếu khách quan về sự ra đời của nhà nước XHCN.
Đã nhiều thế kỷ, nhân dân lao động tiến hành những cuộc đấu tranhgiải phóng khỏi sự bóc lột, bạo lực và sự bần cùng hóa về mặt vật chất vàtinh thần và hy vọng tạo lập một xã hội với sự thống trị của lý trí, nhân đạo
và công bằng
Trong các truyền thuyết và trong nhiều công trình của các nhà chủnghĩa xã hội không tưởng đã chứa đựng các tư tưởng, ước mơ về một xãhội như vậy ngay từ năm 1516, một trong những nhà chủ nghĩa xã hộikhông tưởng Thomas Mor đã phác họa bức tranh về một nhà nước tốt lànhtrên hòn đảo Utopia (địa dư không tồn tại), nơi có sự thống trị của chế độcông hữu và là nơi tất cả mọi người đều lao động tự giác trong các điềukiện bình đẳng và dân chủ Còn trong các tác phảm nổi tiếng “Thành phốmặt trời” (thế kỷ XVII), nhà triết học người Ý Tomazio Kampanhela đãphác họa một xã hội mà ở đó quyền lực nhà nước thuộc về các nhà thôngthái, người cai trị xã hội một cách có lý trí, phù hợp với các quy luật của tựnhiên và lao động là điều kiện đảm bảo sự thịnh vượng cho mỗi con người
Nhưng về con đường tạo lập một xã hội mới tốt đẹp hơn thì người takhông thể hình dung được một cách cụ thể và có khoa học, mà hy vọng vào
sự anh minh của các vua chúa, vào chiến công của các vị anh hùng tráng
sỹ, hoặc thậm chí họ tìm thấy phương tiện cải biến xã hội trong các biệnpháp khủng bố Những tư tưởng ấy rốt cuộc chỉ gieo rắc sự trông chờ thụđộng hoặc xô đẩy một bộ phận nhân dân dấn thân vào những hành độngphiêu lưu, hy sinh không cần thiết
Trang 35Chỉ đến khi những nhà kinh điển chủ nghĩa cộng sản khoa học trên
cơ sở những phát hiện của mình về các quy luật phát triển khách quan của
xã hội, tổng kết thực tế đấu tranh cách mạng, đưa ra một học thuyết lý luậnkhoa học về một xã hội XHCN với lý tưởng dân chủ, nhân đạo và côngbằng, về các con đường, các biện pháp tạo lập xã hội ấy, thì khát vọng giảiphóng của các tầng lớp cần lao mới có khả năng trở thành hiện thực
Các nhà kinh điển chủ nghĩa cộng sản khoa học đã chứng minh rằng,cách mạng vô sản và sự ra đời của nhà nước vô sản là một tất yếu lịch sử.Tính tất yếu lịch sử này được quy định bởi quá trình phát triển đầy mâuthuẫn của chủ nghĩa tư bản từ khi nó được xác lập cho đến những năm cuốithế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Chính chủ nghĩa đế quốc vào thời gian này đãthúc đẩy sự chin muồi cho sự bắt đầu một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên bão
tố và những biến đổi cách mạng Nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ cáchmạng vô sản và kết quả của nó là sự ra đời của nhà nước vô sản chính làcác tiền đề kinh tế, chính trị và xã hội phát sinh ngay trong lòng xã hội tưbản chủ nghĩa
* Tiền đề kinh tế: Vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tỏ ra bất lực trong việc giải quyết các vấn
đề kinh tế và cứu vãn nền kinh tế tư bản khỏi các hậu quả nặng nề củakhủng hoảng kinh tế - xã hội Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa theo kiểutruyền thống đã không còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuấtngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi cần phải có những cải biến cách mạng
để cải tạo, xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cũ, thiết lập một kiểuquan hệ sản xuất mới phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Đó là kiểu quan hệ sản xuất XHCN dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tưliệu sản xuất Cuộc cách mạng nhằm cải biến các quan hệ sản xuất tư bản
Trang 36tất yếu sẽ dẫn đến sự thay thế kiểu nhà nước tư sản bằng kiểu nhà nước –nhà nước vô sản.
* Tiền đề xã hội: Sự tích lũy tư bản và sự bóc lột dã man sức lao
động làm thuê đã bần cùng hóa đời sống của giai cấp vô sản Mâu thuẫngiữa lao động làm thuê và tư bản ngày càng trở nên gay gắt Sự bất công xãhội cùng với các chính sách phản động, phản dân chủ của các thế lực cầmquyền tư sản đã dẫn xã hội tư sản đến sự phân hóa, chia rẽ sâu sắc Mặtkhác, nền sản xuất tư sản đã tạo những điều kiện làm cho giai cấp vô sảnngày càng phát triển nhanh cả về số lượng và tính tổ chức kỹ thuật, trởthành một giai cấp tiến bộ nhất của xã hội, có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cáctầng lớp nhân dân lao động tiến hành cuộc cách mạng để lật đổ sự thống trịcủa giai cấp tư sản, thiết lập nên nhà nước của chính mình
* Tiền đề tư tưởng - chính trị: Giai cấp công nhân có chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là vũ khí tư tưởng và lý luậnsắc bén, là công cụ giúp nhận thức đúng đắn các quy luật vận động và pháttriển của xã hội, là cơ sở lý luận để tổ chức, tiến hành cách mạng xây dựngnhà nước của mình và xã hội mới
Trong quá trình đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, các đảngcộng sản và công nhân đã được thành lập và trở thành đội tiên phong củagiai cấp, lãnh đạo các phong trào cách mạng của quần chúng và trở thànhnhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản
Ngoài những tiền đề trên, những yếu tố dân tộc và thời đại cũng tácđộng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng của giai cấp vô sản
Dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau, cùng với mâu thuẫn củagiai cấp vô sản cũng như của các tầng lớp lao động đối với giai cấp bóc lột,cách mạng vô sản cũng có thể xảy ra ở những nước có chế độ tư bản chủnghĩa chưa phát triển cao hoặc trong các dân tộc thuộc địa
Trang 372.1.2 Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền – quy luật phát triển tất yếu của nhà nước XHCN.
Nhà nước là một hiện tượng lịch sử, vì vậy nó luôn luôn thay đổi,phát triển Là hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng, vì vậy nó phải thayđổi phù hợp với sự phát triển của cơ sở kinh tế và phù hợp với các bộ phậnkhác của kiến trúc thượng tầng như chính trị, đạo đức, pháp luật, truyềnthống, văn hóa…
Sự phát triển kinh tế thế giới hiện đại theo cơ chế thị trường, nhu cầuxây dựng một xã hội dân chủ, nhân đạo, công bằng, bác ái… ngày càngmạnh mẽ đặt ra đòi hỏi bức thiết phải đổi mới toàn diện ở các nước XHCN,trước hêt là đổi mới về kinh tế Trong xu hướng khách quan đó của thờiđại, những nhà nước XHCN nào không kịp thời đổi mới tất yếu sẽ bị sụp
đổ (như ở các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô trước đây) hoặc sẽ suy yếu
Do đó, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta là vấn đề có tính quyluật, mà cơ sở của quá trình đó là đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thịtrường, nhưng đảm bảo sự điều tiết có hiệu qủa của nhà nước Phù hợp với
cơ sở kinh tế và để thực hiện mục tiêu xây dựng một xã hội công dân với lýtưởng dân chủ, nhân đạo và công bằng, nhà nước ta phải là một nhà nướcpháp quyền
Trên cơ sở của những nghiên cứu khác nhau, có thể chỉ ra những đặcđiểm cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền như sau: - Là nhà nước có hệthống pháp luật hoàn chỉnh, trong đó các đạo luật có vai trò tối thượng; mọi
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, người có chức vụ và công dân đều phảituân thủ nghiêm chỉnh pháp luật và bình đẳng trước pháp luật Pháp luật ấyphải dễ hiểu, được dự liệu trước, khả thi và dễ tiếp cận tới mọi công dân
- Là nhà nước trong đó không chỉ có công dân có trách nhiệm đối vớinhà nước mà nhà nước phải có trách nhiệm đối với công dân Khái niệm
Trang 38trách nhiệm ở đây đúng theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nghĩa là quan hệgiữa công dân và nhà nước là quan hệ bình đẳng về quyền, nghĩa vụ vàtrách nhiệm.
- Là nhà nước trong đó các quyền dân chủ tự do và lợi ích chínhđáng của con người được pháp luật đảm bảo và bảo vệ toàn vẹn; mọi hành
vi lộng quyền của bất cứ cơ quan nhà nước và người có chức vụ nào, cũngnhư mọi hành vi vi phạm pháp luật khác xâm phạm đến quyền tự do, lợi íchchính đáng của công dân đều bị nghiêm trị theo pháp luật bởi một hệ thống
tư pháp độc lập và hiệu quả
- Là nhà nước trong đó ba quyền lập pháp, hành pháp và tư phápđược phân định rõ ràng và hợp lý cho ba hệ thống cơ quan tương ứng trongmối quan hệ cân bằng, đối trọng, chế ước lẫn nhau, tạo thành cơ chế đồng
bộ bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lựcnhân dân
Nói khái quát nhất, nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đómọi chủ thể (kể cả nhà nước) đều tuân thủ nghiêm chỉnh, chịu phục tùngpháp luật – một pháp luật có tính pháp lý cao, phù hợp với lý trí, thể hiệnđầy đủ những giá trị cao nhất của xã hội, của con người
Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền là xây dựng một nhà nướcvới lý tưởng dân chủ, nhân đạo và công bằng nhất, là nhà nước mà nhândân nói chung cũng như mọi công dân nói riêng không chỉ là khách thể củaquyền lực mà còn là chủ thể, hơn nữa là chủ thể tối cao Đó là nơi mà lờituyên ngôn “mọi quyền lực thuộc về nhân dân” trở thành hiện thực sinhđộng của đời sống chính trị; là nơi nhà nước, pháp luật thực sự bắt nguồn
từ nhân dân, của nhân dân và phục vụ cho dân; là chế độ nhà nước mà côngdân là trung tâm Mặt khác, đó cũng là chế độ nhà nước được tổ chức vănminh và trật tự, có cơ chế an toàn và hiệu quả ngăn chặn mọi sự lạm quyền,
Trang 39vi phạm quyền công dân Đó là nơi mọi tổ chức và hoạt động của nhà nướcđều đặt trên cơ sở pháp luật, chịu sự “quản lý thống nhất” của pháp luật, làmột cơ chế phức tạp nhưng vận động một cách hài hòa, đồng bộ, đảm bảo
sự thống nhất cao độ trong tổ chức quản lý xã hội
2.1.3 Bản chất của Nhà nước Pháp quyền XHCN.
Nhà nước pháp quyền – giá trị phổ biến của nền dân chủ.
Nhà nước pháp quyền là một trong những thành tựu của loài ngườitrong việc tổ chức và vận hành xã hội Những ý tưởng về Nhà nước phápquyền đã có từ lâu trong lịch sử nhân loại và được các nhà khoa học chínhtrị, luật học, xã hội học, sử học nghiên cứu từ nhiều phương diện khácnhau Nhà nước pháp quyền là nhà nước thực thi quyền lực của mình dựatrên nền tảng pháp luật được ban hành theo thủ tục hiến định nhằm bảođảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và công lý Như vậy, nếu phântích đầy đủ khái niệm này từ góc độ pháp luật, có thể thấy rằng một nhànước pháp quyền phải là nhà nước chịu sự kiểm soát, sự chế ngự của phápluật trong mọi hoạt động của mình
Về phương diện lý luận, Nhà nước pháp quyền không phải là mộtkiểu nhà nước Nhà nước pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện củamột trình độ phát triển dân chủ Trong ý nghĩa này, nhà nước pháp quyềnđược nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chứcnhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ Điều này có nghĩa là nhà nướcpháp quyền gắn liền với một nền dân chủ
Ngoài các giá trị phổ biến, Nhà nước còn bao hàm các giá trị đặc thùcủa nhà nước pháp quyền được xác định bởi nhiều yếu tố Các yếu tố này,
về thực chất là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác định bởi cácđiều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, tâm lý xã hội và môi trường địa lý củamỗi dân tộc Chúng không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi
Trang 40dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển mà còn quyếtđịnh ở mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của Nhà nước phápquyền.
Tính phổ biến và tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền và các mô hình tương ứng
Thành tựu khoa học pháp lý hiện đại đã cho thấy Nhà nước phápquyền là một khái niệm có thể được hiểu ở hai mức độ: Với tính cách làhọc thuyết, là tư tưởng và với tính cách là thực tiễn tổ chức thực hiện quyềnlực Nhà nước, thực thi dân chủ
Từ phương diện lý thuyết, học thuyết về Nhà nước pháp quyền cónguồn gốc và lịch sử phát triển cùng với nguồn gốc và lịch sử của các họcthuyết chính trị - pháp lý nói chung và của trào lưu tư tưởng chính trị nóiriêng Đó là lịch sử đấu tranh vì mục tiêu xác lập những cách thức cầmquyền tốt cho người dân, chống sự lạm quyền và vi phạm các lợi ích hợppháp của công dân Nói một cách khái quát hơn lịch sử của các học thuyết
về Nhà nước pháp quyền là lịch sử của các tư tưởng, những quan điểmxoay quanh cái trục quan hệ giữa Nhà nước và xã hội, giữa hai phạm trùgiá trị là quyền lực và pháp luật
Bên cạnh đó, với tính cách là một giá trị phổ biến của nhân loại, Nhànước pháp quyền luôn được hiểu là phương thức tổ chức quyền lực Nhànước và thực thi nền dân chủ với các đặc điểm: Nhà nước pháp quyền dựatrên nền tảng của chủ nghĩa hợp hiến; Pháp luật giữ vị trí chi phối và cóhiệu lực pháp lý tối thượng trong xã hội, Nhà nước cũng phải chịu sự ràngbuộc của pháp luật, bảo đảm nguyên tắc phân quyền và yêu cầu về sự độclập của tư pháp, pháp luaatjphair được áp dụng công bằng, nhất quán, phảibảo đảm tính công khai, sự minh bạch, dễ tiếp cận, áp dụng kịp thời; Tôntrọng và bảo vệ quyền công dân và quyền con người