1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA

112 48 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 200,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số các nhà văn viết về đề tài miền núi thì Đỗ Bích Thúy là một cây bút được nhắc khá nhiều trong các công trìnhnghiên cứu.. Vì thế chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Truyện ngắn Đỗ Bíc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ VIẾT TAM

TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GÓC NHÌN ĐỊA - VĂN HÓA

\

Trang 2

Hà Nội – 2019

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ VIẾT TAM

TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GÓC NHÌN ĐỊA - VĂN HÓA

Chuyên ngành : Văn Học Việt Nam

Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức

Hà Nội – 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên

Đỗ Viết Tam

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo, PGS TS Hà Văn Đức, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo và luôn động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Sự chỉ bảo tận tâm của thầy đã mang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất

Tôi cũng xin được cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, quý thầy giáo,

cô giáo ở Phòng Đào tạo Sau đại học và thầy giáo, cô giáo khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô giáo

bộ môn Văn học Việt Nam, khoa Văn học – những người mà trong thời gian qua đã dạy dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè – những người đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn học viên lớp Cao học Văn học Việt Nam (khóa học 2017– 20119) đã luôn chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và cảm xúc trong những ngày tháng tôi học tập tại mái trường Nhân văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên

Đỗ Viết Tam

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA - VĂN HÓA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 7

1.1 Văn hóa và văn học 7

1.1.1 Văn hóa 7

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 10

1.2 Địa - văn hóa và văn học 12

1.2.1 Địa - văn hóa 12

1.2.2 Địa - văn hóa trong nghiên cứu văn học 13

1.3 Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy 14

1.3.1 Hành trình sáng tác 14

1.3.2 Quan điểm sáng tác 18

Chương 2 DẤU ẤN ĐỊA - VĂN HÓA TÂY BẮC TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 21

2.1 Đặc điểm vùng đất Tây Bắc 21

2.2 Khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc 26

2.2.1 Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội 27

2.2.2 Thiên nhiên thơ mộng trữ tình 34

2.3 Con người vùng cao Tây Bắc 37

2.3.1 Con người thuần hậu, giản dị và chất phác 37

2.3.2 Con người chịu thương chịu khó 41

Trang 7

2.3.3 Con người sâu nặng nghĩa tình 44

2.4 Đời sống sinh hoạt con người Tây Bắc 49

2.4.1 Đời sống sinh hoạt gia đình 49

2.4.2 Đời sống văn hóa cộng đồng 54

Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN BẢN SẮC ĐỊA - VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 60

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 60

3.1.1 Khái lược về nhân vật 60

3.1.2 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 61

3.1.3 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 64

3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 68

3.2.1 Ngôn ngữ 68

3.2.2 Giọng điệu trần thuật 76

3.3 Không gian và thời gian nghệ thuật 83

3.3.1 Không gian nghệ thuật 83

3.3.2 Thời gian nghệ thuật 87

3.4 Biểu tượng văn hóa 91

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nền văn học Việt Nam hiện đại, những sáng tác về đề tài miền núi

ở vùng đất Tây Bắc tạo dấu ấn hấp dẫn với người đọc Nhiều nhà văn viết vềmảnh đất này bằng tình yêu tha thiết và sâu nặng, trở thành những cây bút, cáitên gắn liền với Tây Bắc như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Tống Ngọc Hân, MãAnh Lâm…Tác phẩm của họ là nguồn tư liệu văn hóa độc đáo và đặc sắc vềvùng đất phía Bắc của Tổ Quốc, giúp chúng ta hình dung và lưu giữ đượcphần nào những giá trị văn hóa mang đặc trưng riêng của của vùng núi TâyBắc Đỗ Bích Thúy cũng là một trong những cái tên được nhắc đầu tiên khinói đến đề tài miền núi với một phong cách riêng Đọc các sáng tác của ĐỗBích Thúy về đề tài miền núi, ta dễ dàng nhận thấy nguồn tư liệu dồi dào, tạodấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc bởi văn phong nhẹ nhàng, tinh tế, sâusắc, giàu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo Chị đã thổi tình yêu quê hươngvào văn chương, giúp chúng ta hiểu được phần nào những tình cảm mộc mạc,chân thực mà đầy xúc động của nhà văn với quê hương của mình Đỗ BíchThúy với tài năng văn chương nghệ thuật độc đáo cùng một sự học, trau dồi

và nỗ lực đáng khâm phục Chị xứng đáng được coi là một nhà văn tiêu biểu

đầu thế kỉ XXI Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng từng đánh giá: “Và tôi không ngại khi khẳng định rằng, Đỗ Bích Thúy là một trong những nhà văn nữ xuất sắc nhất hiện nay” [30; tr 8] Trong số các nhà văn viết về đề tài miền núi thì

Đỗ Bích Thúy là một cây bút được nhắc khá nhiều trong các công trìnhnghiên cứu Chị cũng thường được nói đến bên cạnh những tên tuổi kháccùng viết về mảnh đất và con người miền núi Tây Bắc Điều đó khẳng định

vị thế của chị trong dòng chảy văn học Việt Nam Vì vậy việc nghiên cứu vềnhà văn Đỗ Bích Thúy là hết sức cần thiết

1.2 Có thể có nhiều hướng nghiên cứu về các sáng tác truyện ngắn của

Đỗ Bích Thúy, với luận văn này, chúng tôi triển khai từ góc nhìn địa - văn hóa

Trang 9

Văn hóa tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống con người, trong đó cóvăn chương nên từ trước đến nay, nghiên cứu văn học từ văn hóa được giớinghiên cứu và giảng dạy văn học quan tâm Tiếp cận văn hóa học là một trongnhững hướng tiếp cận liên ngành được vận dụng nhiều trong văn chương Tìmhiểu tác phẩm văn chương từ góc nhìn địa - văn hóa tức là đã đặt tác phẩm vănchương đó trở lại với chính môi trường đã sản sinh ra nó, để nhận thấy đượcmối quan hệ gắn bó hai chiều giữa tác phẩm văn học với đời sống Từ tác phẩmvăn chương, ta sẽ hiểu hơn về một vùng đất và từ những hiểu biết về địa - vănhóa của vùng đất đó, chúng ta sẽ nắm được những giá trị cốt lõi của tác phẩm

văn chương Vì thế chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn Địa - văn hóa để có thêm một cái nhìn về sáng tác của nhà văn

nặng lòng với vùng đất và con người miền núi này

2 Lịch sử vấn đề

Đỗ Bích Thúy từ khi xuất hiện trên văn đàn văn học, những tác phẩmcủa chị đã được bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình văn học đánh giá cao.Chính vì vậy nó đã trở thành đối tượng khảo sát nghiên cứu của nhiều nhà phêbình và một loạt các luận văn trong thời gian gần đây, đặc biệt là những tậptruyện ngắn viết về đề tài miền núi

Nhà văn Chu Lai đánh giá cao về Đỗ Bích Thúy Theo ông, thành côngcủa Đỗ Bích Thúy là mang đến cho người đọc một “món ăn lạ”, khiến họ

được sống trong một mảnh đất lạ mà “tất cả được miêu tả dịu nhẹ, chênh vênh, chấm phá, không dài dòng, không đa ngôn” Ông cũng cho rằng: “chất bình dị, xôn xao, chân thật không chỉ là tiêu chí trong các cuộc thi văn của Tạp chí mà còn là đặc trưng của nền văn học” [34; tr102] Cũng chính yếu tố

đó làm nên cái duyên và sức gợi của nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy Chu Lai cũng

chỉ ra những nhược điểm của tập truyện Sau những mùa trăng là sự thử nghiệm sang mảng đề tài khác còn vụng về, gượng gạo (Sông còn chảy mãi, Phía sau kí ức) Những tìm tòi trong cách thể hiện của Đỗ Bích Thúy (cảm

Trang 10

hứng giọng điệu, cốt truyện…) được Chu Lai ghi nhận bước đầu

Nhà văn Trung Trung Đỉnh trong bài viết Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy in trên báo Văn nghệ số 5, ra ngày 3/2/2007 nêu cảm nhận khá sâu sắc

về văn phong Đỗ Bích Thúy: “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của con người miền cao một cách tài tình Không truyện nào là không kể về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù các tác giả không hề cố ý đưa vào chi tiết lạ Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có” [15; tr 58]

Nhà phê bình Lê Thanh Nghị đã viết: “Những khát vọng về hạnh phúc, những tâm sự cháy bỏng về lẽ sống, ý thức về những ngày hiện tại ở một vùng độc đáo, đầy kỷ niệm, đã tạo ra trong ngòi bút của Đỗ Bích Thúy niềm xúc động chân thành, chảy dạt dào trên trang viết” [41; tr 3] Phải chăng vì thế

mà khi nhìn nhận, đánh giá về tác phẩm của chị, các nhà nghiên cứu luônđứng ở góc nhìn văn hóa để thấy được chiều sâu văn hóa trong mỗi câuchuyện, mỗi nhân vật, mỗi cảnh huống, hay hình ảnh, ngôn ngữ… của quêhương Hà Giang được tái hiện lại Có thể thấy một điều rằng, không ít nhànghiên cứu đã tiếp cận tác phẩm của Đỗ Bích Thúy dưới nhiều góc độ khác

nhau, ở nhiều khía cạnh nội dung và nghệ thuật Tiêu biểu như: Truyện ngắn

về đề tài dân tộc miền núi phía bắc qua các tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Minh Trường, Luận văn Th.s ĐH KHXH & NV HN, 2009); Tiếp cận sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư từ phương diện giá trị văn học - văn hóa (Dương Thị Kim Thoa, Luận văn Th.s ĐH KHXH& NV- HN, 2008); Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy (Ngô Thị Yên, Luận văn Thạc sĩ Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2011); Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc

độ thể loại (Nguyễn Thị Thu Thủy, Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa

Trang 11

học Xã hội và Nhân văn, 2012)….

Ngoài ra, sáng tác của Đỗ Bích Thúy được chú ý, đề cập nhiều trên các tạpchí, các trang báo: Tạp chí văn học, Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Văn nghệ quân

đội Tiêu biểu tác giả Hà Anh với bài viết Đỗ Bích Thúy: nếu làm độc giả thất vọng tôi thà chịu cũ được đăng tải trên trang http://evan.vnexpress.net ngày 25/12/2005 Tác giả Dương Bình Nguyên có bài viết Nhà văn Đỗ Bích Thúy: viết vì nhu cầu nội tâm trên trang http://evan.vnexpress.net 21/6/2006 và bài viết Nhà văn Đỗ Bích Thúy – sự mềm mại quyết liệt trên trang http://www.cand.com.vn Trên trang phongdiep.net có bài viết Đỗ Bích Thúy – tôi đã không nghĩ rằng người phụ nữ có thể hi sinh nhiều đến thế, ngày 23/1/2009 Tại địa chỉ http://tapchinhavan.vn ra ngày 23/11/2009 có bài Đường đến với văn chương của một người viết trẻ của tác giả Lê Hương Thủy… Đỗ

Bích Thúy vùng với những tác phẩm của mình đã tạo được những ấn tượng sâusắc trong lòng độc giả

Những công trình, bài viết đó đã tiếp cận và nghiên cứu tác phẩm củanhà văn dưới góc độ văn hóa, tuy nhiên, để nhìn nhận và nghiên cứu mộtcách sâu sắc và chuyên biệt ở góc nhìn địa - văn hóa thì qua sự khảo sát củachúng tôi, chưa có một công trình nào thực hiện Từ đó thôi thúc chúng tôithực hiện đề tài luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Chúng tôi tìm hiểu truyện ngắn Đỗ Bích thúy dưới góc nhìn

Địa - văn hóa , khám phá giá trị thẩm mỹ của tác phẩm để từ đó khẳng định

sự đóng góp của nhà văn đối với nền văn học về đề tài miền núi nói riêng vàvăn học Việt Nam nói chung

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích đó chúng tôi thực hiện các nhiệm

vụ sau:

- Tìm hiểu về con người, sự nghiệp văn học và quan điểm sáng tác củanhà văn Đỗ Bích Thúy

Trang 12

- Đi sâu vào tìm hiểu các tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy Khái quátđặc điểm, phân tích biểu hiện cái nhìn nhìn đia - văn hóa trên cả hai phươngdiện nội dung và nghệ thuật Từ đó thấy được mạch ngầm văn hóa miền núiTây Bắc trong các tác phẩm cụ thể

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng của đề tài là tìm hiểu Truyện ngắn

Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn Địa - văn hóa

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi khảo sát của luận văn là các tập truyện

ngắn của Đỗ Bích Thúy viết về mảnh đất và con người miền núi: Sau những mùa trăng (2001), Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (2003), Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2006), Người đàn bà miền núi (2008), Mèo đen (2011), Đàn bà đẹp (2013).

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp liên ngành giữa địa lý và văn hóa:

Phương pháp liên ngành cần thiết cho luận văn này để nhìn nhận tácphẩm văn chương từ nhiều góc độ khác nhau Các yếu tố địa lí, khí hậu, điềukiện tự nhiên sẽ tác động đến việc hình thành cung cách sinh hoạt, quan hệứng xử của con người và ở chiều ngược lại, con người cũng sẽ có thái độ ứng

xử với cảnh quan, môi trường sống của riêng mình

- Phương pháp phân tích - tổng hợp giúp chúng tôi hướng đến phân tíchđặc điểm của thiên nhiên, hình tượng con người và đời sống sinh hoạt được tácgiả miêu tả trong tác phẩm, từ đó đưa ra những nhận định khái quát về nhữngdấu ấn địa - văn hóa vùng núi Tây Bắc trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy

- Phương pháp so sánh - đối chiếu:

So sánh - đối chiếu sẽ giúp đặt tác phẩm trong nền chung của văn học

về đề tài miền núi và từ đó thấy được giá trị của tác phẩm trong dòng chảyvăn học Việt Nam nói chung và văn học về đề tài miền núi nói riêng

6 Cấu trúc luận văn

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúcgồm 3 chương sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về Địa - văn hóa và hành trình sáng tác của

Đỗ Bích Thúy

Chương 2: Dấu ấn Địa - văn hóa Tây Bắc trong truyện ngắn Đỗ Bích ThúyChương 3: Phương thức thể hiện bản sắc Địa - văn hóa Tây Bắc trong truyệnngắn Đỗ Bích Thúy

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA - VĂN HÓA

kỷ XX đầu thế kỷ XIX và đặc biệt trong thời kì toàn cầu hóa hiện nay, vấn đềvăn hóa lại càng được các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều hơn bao giờ hết.Tính đến nay, văn hóa có nhiều công trình nghiên cứu về nó và đem lại nhiềukết quả bất ngờ, thú vị Hơn thế, văn hóa còn được vận dụng liên ngành trongnghiên cứu ở lĩnh vực khác Mỗi một công trình nghiên cứu lại đưa ra cáchhiểu, khái niệm văn hóa riêng Vì vậy văn hóa có nội hàm rộng và không thểkhẳng định đâu là khái niệm hòa thiện và chính xác Theo GS Phan Ngọc đãthông kê trên thế giới hiện nay đã có khoảng 400 định nghĩa khác nhau về vănhóa [42, tr 7] Văn hóa trong bước tiến qua các thời kì lại được hiểu theonhững cách riêng Chẳng hạn, ở Trung Quốc trong thời kì cổ đại, văn hóađược hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị và mục đíchgiáo huấn và cảm hóa co người Còn ở các nước phương Tây cổ đại, kháiniệm văn hóa gốc Hy Lạp, La Mã (cuture) có nghĩa là vun xới, trồng trọt,chăm sóc và cầu cúng.Văn hóa với nội hàm phong phú như vậy, mỗi học giảlại dựa trên những cứ liệu riêng, cơ sở riêng, góc độ riêng và vấn đề mà mìnhnghiên cứu mà đưa ra khái niệm

Nhà nghiên cứu E.B Tylor (1832 - 1917) người Anh đã đưa ra một kháiniệm văn hóa được nhiều người đồng tình Quan điểm về văn hóa của ông

Trang 15

trong cuốn Primitive culture (văn hóa nguyên thủy) là “một tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thói quan mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội” [79; tr 13].

Trong thế kỉ XX, F.Boas đã nhận định: “Văn hóa là tổng thể các phản

ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [77; tr 149] Khái niệm này đề cập đến mối quan hệ giữa cá nhân, tập

thể và môi trường là cơ sở hình thành văn hóa của con người

Đáng chú ý vào năm 1982, tổ chức UNESCO đã đưa ra khái niệmchính thức về văn hóa trong Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì tại Mexico:

“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình

là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [52; tr 23].

Ở Việt Nam, tuy vấn đề nghiên cứu văn hóa được đặt ra muộn hơnnhưng cũng có không ít những nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đưa ra nhữngkhái niệm về văn hóa khác nhau Tiêu biểu như GS Trần Quốc Vượng quan

niệm “Văn hóa… là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người… để từ đó hình

Trang 16

thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với hệ thống những chuẩn mực, là những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [76; tr 35] Còn GS Trần Ngọc Thêm thì cho rằng “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [52; tr 25] Đó là hai nhà nghiên cứu

tiêu biểu trong lĩnh vực văn hóa

Còn rất nhiều định nghĩa khác nữa nhưng chúng đều thể hiện rằng vănhóa có mối liên hệ mật thiết tới mọi mặt khác của đời sống xã hội Nhữngđịnh nghĩa tiêu biểu trên về văn hóa đều được đa số các nhà nghiện cứu đồngtình Những định nghĩa này cung cấp thêm góc nhìn mới về những khía cạnhkhác của văn hóa Những tư liệu thiết thực về đời sống con người càng trởnên phong phú nhờ những khám phá mới về văn hóa

Có thể thấy rằng khái niệm về văn hóa được các nhà nghiên cứu đề cậptrên rất nhiều phương diện và có nhiều khám phá, tìm tòi mới mẻ và thú vị, nócũng làm nguồn tư liệu quan trọng cho đời sống con người Tựu chung lại vănhóa có những đặc điểm sau: Văn hoá là một hoạt động sáng tạo, mang tínhlịch sử riêng có của con người Con người trở nên khác biệt so với những sinhvật khác là nhờ có văn hóa Do được chi phối bởi môi trường tự nhiên và xãhội cùng với những nét tính cách của cộng đồng dân tộc nên văn hóa ở mỗicộng đồng dân tộc và ở mỗi quốc gia có những đặc trưng riêng Với cách tiếpcận như đã nêu, chúng ta có thể khẳng định: văn hóa là sản phẩm do conngười sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên,đấu tranh xã hội… nhằm mục đích sinh tồn và văn hóa là nấc thang cao nhấtđưa con người vượt lên trên những loài động vật khác

Và văn học, với sứ mệnh là nhân học, là sản phẩm của con người, docon người và vì con người nên sự ảnh hưởng của văn hóa tới văn học là điều

Trang 17

đương nhiên Vì vậy, dưới góc nhìn văn hóa, các nghiên cứu văn học ngàycàng có nhiều hơn những khám phá mới mẻ, làm vững thêm mối quan hệ giữavăn học và đời sống con người.

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Văn học là một thành tố của văn hóa cùng với triết học, đạo đức, tôngiáo Sau khi các hướng nghiên cứu từ tác giả, từ thi pháp,… dần trở nênphổ biến trong văn học thì hướng nghiên cứu từ văn hóa đã đem lại nhữngkhám phá mới mẻ Văn học dựa trên văn hóa để tạo nên thế giới của riêngmình Văn hóa chính là “sân khấu” thể hiện các giá trị của văn học, là “chìakhóa” giải mã các bí ẩn của nghệ thuật Ngược lại, văn học phản ánh văn hóa,dựng lại mô hình văn hóa thông qua thế giới nghệ thuật Ngoài ra, văn họccòn đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho văn hóa phát triển Ta

có thể ví văn hóa như một con sông lớn, văn học như nhánh sông nhỏ Sônglớn đầy nước thì sông nhỏ mới đầy và nhiều nhánh sông nhỏ góp lại điều tiếtnước cho sông lớn Ở Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu chútrọng hơn đến cái nhìn văn hóa và đã đem lại nhiều công trình có giá trị.Nghiên cứu văn hóa hiện nay đã đem lại rất nhiều những công trình có giá trị

Trương Tửu trong cuốn Kinh thi Việt Nam đã chủ trương đi theo hướng

lấy văn hóa để cắt nghĩa văn học khi xem xét hiện tượng Hồ Xuân Hương.Hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương còn là đề tài nghiên cứu của nhiều nhànghiên cứu khác như nhà Việt Nam học người Nga N Niculin, nhà nghiêncứu Lê Trí Viễn hay nhà văn Nguyễn Tuân Điểm chung của các nhà nghiêncứu là đều nhận ra sự ảnh hưởng của yếu tố tục mang đậm văn hóa dân giantrong thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Đỗ Lai Thúy đã tinh ý khi nhìn ra đây

chính là cơ sở để nghiên cứu sâu hơn trong cuốn chuyên luận Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực Hướng nghiên cứu này cũng được chú ý bởi LêNguyên Cẩn với những công trình như Tiếp cận văn học từ cái nhìn văn hóađưa ra những quan điểm sâu sắc về mối liên hệ giữa văn hóa và văn học hay

Trang 18

Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa đã áp dụng phân tích tác phẩm quen thuộc

“Truyện Kiều” Ông cho rằng “Tính văn hóa của tác phẩm văn học thể hiện trước hết qua cách nhìn nghệ thuật mang tính dân tộc về con người và cuộc đời, qua quan niệm ứng xử thẩm mĩ mang đặc trưng và phù hợp với chuẩn mực đời sống tâm lí đạo đức và truyền thống dân tộc Tính văn hóa của tác phẩm văn học còn thể hiện qua cách thức xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện, cách thức mô hình hóa hoặc điển hình hóa Tính văn hóa của tác phẩm văn học cũng được thể hiện qua các hình thức ngôn từ nghệ thuật được dùng để diễn tả hình tượng mà thường gặp qua các hình thức biểu đạt dân gian, qua hệ thống các hình ảnh biểu trưng, qua các mẫu đề” [9; tr 23] Có

thể khẳng định văn hóa tác động sâu sắc đến văn học thông qua sự cảm nhận,thẩm thấu những giá trị văn hóa của những nhà văn, nhà thơ trong sáng tác

Vì vậy, mỗi người nghệ sĩ khi cầm bút có cá tính sáng tạo nghệ thuật, nhữngnét đặc trưng rất riêng từ việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, lựa chọn chủ

đề, tư tưởng thẩm mỹ đến việc lựa chọn các chi tiết, tình huống tất thảy đềuthể hiện những nét đặc trưng văn hóa của cộng đồng, dân tộc trong thời kìlịch sử đó

Tuy văn học là một thành tố, bộ phận của văn hóa, phản ánh văn hóanhưng văn học mang tính chất “động”, nó cũng tác động trở lại đối với vănhóa, điều chỉnh văn hóa Những nhà văn với nghệ thuật ngôn từ đã khẳngđịnh những giá trị văn hóa dân tộc, nhân bản, đồng thời họ phê phán, đấutranh những biểu hiện phản văn hóa Văn học có vai trò lưu giữ và những giávăn hóa dân tộc qua từng thời kì lịch sử Chẳng hạn, nhà văn Nguyên Tuân

trong tập truyện Vang bóng một thời khắc họa những cách sống đẹp của con

người Việt Nam như: uống trà, chơi chữ, thưởng hoa, thả thơ… đang dần mất

đi dưới triều đại phong kiến suy tàn, nhà văn thông qua văn học để bảo lưu

nó Và như vậy, những nét văn hóa “tao nhã” đó sống cùng những tác phẩmcủa ông, gợi cho người đọc hình dung về một quá khứ huy hoàng Nói cách

Trang 19

khác, từ các tác phẩm văn học phản ánh văn hóa đã có ảnh hưởng lớn đến tưtưởng, tình cảm con người, giúp con người điều chỉnh cách sống và ứng xửvới văn hóa Cần nhấn mạnh rằng, các nhà văn nhà thơ chân chính luônhướng đến những giá trị văn hóa tốt đẹp trong các tác phẩm của mình, đồngthời luôn cố gắng loại bỏ những văn hóa “rác” tạo nên những tác động tíchcực Nhà văn luôn là người định hướng và thức tỉnh mọi người trong ứng xửvăn hóa.

Như vậy, từ những nghiên cứu trên, ta có thể chắc chắn rằng giữa vănhóa và văn học có mối liên hệ mật thiết, không thể tách rời Nhà văn chỉ cóthể sáng tác dựa trên vốn văn hóa của mình Vì vậy, văn hóa ảnh hưởng đếnvăn học là điều tất yếu Ngược lại, đây cũng là cơ sở vững chắc để các nhànghiên cứu văn học nhìn nhận một tác phẩm trên góc độ văn hóa và làmphong phú thêm hệ thống lý luận văn học Việt Nam

1.2 Địa - văn hóa và văn học

1.2.1 Địa - văn hóa

Nếu như văn hóa là một khái niệm gần gũi, quen thuộc thì địa - văn hóalại là một khái niệm mới mẻ và có phần xa lạ Địa - văn hóa là sự tổng hòacủa hai chuyên ngành khoa học: địa lí và văn hóa Hai khái niệm có vẻkhông liên quan này lại được kết hợp trong một hướng nghiên cứu mới khá cósức thuyết phục Khái niệm địa - văn hóa được sử dụng đầu tiên trong lĩnhvực địa lý và trở thành phương pháp nghiên cứu liên ngành trong địa lý Nhàđịa lý học người Pháp Joel Bonnemaison trong công trình nghiên

cứu“Culture and Space” ông vận dụng và tiếp cận địa - văn hóa vào trong

lĩnh vực địa lý Công trình được viết bằng tiếng Pháp đã được học trò và vợcủa ông tập hợp sau khi ông qua đời Ông đưa ra những biểu hiện của địa -văn hóa gồm: Môi trường địa lý, lãnh thổ và biểu tượng địa lý Trong côngtrình nghiên cứu của mình, Joel Bonnemaison phản ánh mối liên hệ giữa vănhóa của các cư dân và không gian địa lý, hay đúng hơn là những đặc trưng

Trang 20

không gian điển hình của cư dân - một cảnh quan vừa được con người nhậnthức vừa mang đậm màu sắc tâm thức, tâm linh.

Như vậy, địa - văn hóa có thể hiểu là hướng nghiên cứu liên ngành xemxét mối quan hệ giữa cảnh quan địa lý và đời sống văn hóa của con người,những mối tác động qua lại của hai yếu tố này trong những vùng lãnh thổ nhấtđịnh Các yếu tố địa lý sẽ quy định cung cách sinh hoạt, ứng xử của con người

và ngược lại, con người sẽ có những tác động trở lại cảnh quan Đây là mộtmối quan hệ khá hài hòa và sự tác động lên nhau là tất yếu Nhìn từ hướngnghiên cứu này chúng ta có thể thấy được vị trí của con người trong tự nhiêncũng như những tác động giữa thiên nhiên và con người

Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu này cũng đã được vận dụng trongnghiên cứu văn hóa, đặc biệt với sự đóng góp của giáo sư Trần Quốc Vượng

với công trình Việt Nam cái nhìn địa văn hóa ông đã sử dụng hướng tiếp cận

địa văn hóa để tìm hiểu nhiều địa danh trên đất nước ta như: Hà Nội, PhúThọ, Bắc Ninh, Côn Đảo từ đó làm cơ sở, làm nguồn tư liệu quý báu để vậndụng trong nghiên cứu ở nhiều vùng đất văn hóa khác trên đất nước ta

1.2.2 Địa - văn hóa trong nghiên cứu văn học

Trong văn học, địa - văn hóa cũng được một số nhà nghiên cứu vậndụng trong công trình nghiên cứu của mình Tác giả Phạm Tiết Khánh - TS

đại học Vinh trong bài viết Đặc điểm truyện cổ tích Khmer Nam Bộ tiếp cận

từ hướng lí thuyết địa - văn hóa đăng trên tạp chí nghiên cứu văn học, ông

dùng lý thuyết địa - văn hóa để chỉ ra nhiều tác phẩm văn học dân gian trênthế giới tuy cách xa nhau về vị trí địa lý nhưng có cốt truyện giống hoặc cùng

motif với nhau Tác giả Đặng Hiển với cuốn tiểu luận Văn học dưới góc nhìn Địa - văn hóa có sự vận dụng góc nhìn địa văn hóa trong nghiên cứu văn học

Việt Nam Ông nhấn mạnh mỗi nhà văn đều có một vùng đất hay không giannghệ thuật để sáng tác của riêng mình Tất cả các yếu tố như: điều kiện tựnhiên, đời sống vật chất và tinh thần, lối sống, phong tục tập quán của con

Trang 21

người tạo thành yếu tố địa - văn hóa.Từ các yếu tố địa - văn hóa được các nhàvăn, nhà thơ thể hiện qua tác phẩm văn học Ta biết đến một hồn thơ Chế LanViên gắn liền với mảnh đất Quảng Tri, Bình Định nơi ông sinh ra và lớn lên;một Hoàng Cầm với những lễ hội dân gian đặc sắc vùng Kinh Bắc (BắcNinh); một Nguyễn Trung Thành gắn bó sâu nặng với đồng bào Tây Nguyên;hay nhà văn Nam Cao viết về những người nông dân ở làng Đại Hoàng Mỗimột vùng đất nó có thể trở thành đề tài văn học hấp dẫn với người đọc qua

sự hiểu biết, vốn sống và tài năng của các nhà văn nhà thơ Vốn sống của tácgiả, những hiểu biết của tác giả về vùng đất chính là cơ sở để làm nên nhữnggiá trị địa văn hóa cho tác phẩm Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nhữngnhà địa lí, những nhà văn hóa học sẽ làm tốt hơn nhà văn ở điểm này, bởi lẽ,địa văn hóa trong văn học còn là sự xâm nhập của vùng đất ấy vào trong tâmhồn của nhà thơ, nhà văn, trở thành những hình tượng, cảm xúc Địa văn hóatrong văn học cũng không có nghĩa là khu biệt văn học về phạm vi của nhữngđịa phương nhỏ hẹp, bởi cái chất chung, cái nền văn hóa chung của quốc gia,dân tộc đã trở thành gốc rễ của bản thân mỗi con người

Trong cuốn tiểu luận của mình Đặng Hiển cũng khái quát yếu tố địa văn hóa có trong văn học bao gồm: con người và hiện thực địa phương, ngônngữ chung có sự điểm xuyết của ngôn ngữ địa phương và cuối cùng là toàn bộcảnh sắc thiên nhiên tất cả đi vào thơ văn trở thành hình tượng nghệ thuậtđộc đáo trong tác phẩm

-Ở luận văn này, chúng tôi cũng vận dụng những yếu tố đia - văn hóa

mà Đặng Hiển khái quát để tìm hiểu mảnh đất Hà Giang - vùng cực Bắc Tổquốc trong các tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy được nhìn từ góc độ địa -văn hóa

1.3 Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy

1.3.1 Hành trình sáng tác

Đỗ Bích Thúy có thể nói là nhà văn nữ xuất sắc của văn học Việt Nam

Trang 22

đương đại Các tác phẩm của chị luôn đọng lại trong lòng người đọc những vẻđẹp đầy chất thơ của văn hóa dân tộc miền núi phía Bắc Chỉ mới xuất hiệntrên văn đàn nhưng các sáng tác của Đỗ Bích Thúy đã nhanh chóng chiếmđược cảm tình của độc giả Không chỉ truyện ngắn mà còn ở nhiều thể loạikhác chị cũng đạt được những thành tựu nhất định.

Đỗ Bích Thúy sinh ngày 13 tháng 04 năm 1975 tại Hà Giang, mảnh đất

đã đi vào kí ức và các sáng tác của chị Đó là mảnh đất hồn hậu với người dânchất phác, hiền lành, những vẻ đẹp đầy chất thơ chính là ngọn nguồn cảmhứng bất tận cho sáng tác của chị Dù đi đâu, về đâu những trang viết của

Đỗ Bích Thúy luôn “nhưng nhức” tình yêu thương dành cho vẻ đẹp của đấttrời và con người nơi đây

Đỗ Bích Thúy sáng tác và đến với văn chương khi chị 19 tuổi Sau khiước mơ làm nhiều nghề, cuối cùng văn chương đến với chị một cách tự nhiên:

“Đúng là cuộc đời tôi đã có những biến động không ngờ và tất cả đều dẫn dắttôi đến với con đường văn chương Là học sinh giỏi văn (từng đi thi học sinhgiỏi văn toàn quốc), nhưng tôi thất vọng với ý định sẽ trở thành cô giáo Họcxong Cao đẳng Tài chính - Kế toán, chưa kịp nhận việc thì có một vị kháchtìm đến tận nhà “mời” tôi về làm việc tại Hội Văn nghệ Hà Giang sau khi ôngđọc truyện ngắn của tôi trên Báo Tiền Phong Các chú trên tỉnh đến Hội Văn

nghệ chơi nói: “Cháu còn trẻ thế, ngồi đây làm gì cho phí, sang làm báo đi” Tôi chuyển sang làm phóng viên Báo Hà Giang Bốn năm trời lăn lộn với nghề báo, thường xuyên phải đi công tác vùng sâu, vùng xa nhưng tôi thấy yêu nghề Tôi tự nhủ, mình sẽ gắn bó lâu dài với nghề báo nên đi học tiếp tại Phân viện Báo chí Tuyên truyền Đang học năm cuối, nghe bạn bè khuyên, tôi gửi ba truyện ngắn tham dự cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội và đoạt giải nhất, nên khi ra trường các chú bảo tôi về làm việc ở tạp chí Nếu làm việc ở quê, chắc chắn tôi không viết được nhiều như bây giờ.” [29].

Đỗ Bích Thúy viết văn vì nhu cầu nội tâm là chính, chị viết văn như sự trả ơn,

Trang 23

nên trong cuộc đời viết văn của mình chị đã định hình một cách viết khôngquá ồn ào, hoa mĩ mà giản đơn và trong trẻo như vùng cao, như tâm hồn chị.

Đỗ Bích Thúy đến với văn chương như một cái duyên tiền định Vănchương vốn không phải là một cái nghề mà là một cái “nghiệp”, nhưng để cócái “nghiệp” đó cũng cần phải một cái duyên, một cái tâm và cái tài Cái tâm

để cảm, để nhận và để sẻ chia, cái tài để thể hiện ra được trên trang giấy bằngngòi bút thì cái duyên để đến được, gắn bó được với công việc không kémphần khổ ải đó Cái duyên đã đến và chị liên tục gặt hái được những thànhcông, khẳng định chỗ đứng của mình trong nền văn học đương đại khi chùm

ba truyện ngắn: Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng trên núi đạt

giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1998

-1999 Sau khi cô sinh viên “già nhất” khóa 16 của Phân viện Báo chí tuyên

truyền ra trường, cánh cửa “nhà số 4” (cách gọi thân mật Tạp chí Văn nghệ Quân đội) đã rộng mở chào đón Và môi trường làm việc mới đó đã giúp chị

hoàn thiện lối viết, khẳng định phong cách nghệ thuật của mình Năm 2003 –

2004, tham gia cuộc thi sáng tác Văn học tuổi trẻ do Nxb Thanh niên và báo

Văn nghệ tổ chức, chị đạt giải ba với tiểu thuyết Bóng của cây sồi Năm 2005,

truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của chị được đạo diễn Đỗ Quang Hải chuyển thể thành phim Chuyện của Pao và đạt giải Cánh diều vàng của

Hội điện ảnh Việt Nam thì người ta thực sự chú ý đến một luồng gió mớimang hương vị đặc trưng của núi rừng Tây Bắc, tiếng nói, hơi thở của conngười Tây Bắc

Ba truyện ngắn đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội càng thể hiện rõ hơn sự thống nhất trong giọng văn, cách kể và đề

tài sáng tác của chị Và quả thật chị đã mang đến một sắc màu mới, mộthương vị mới cho văn đàn Nói như nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng

trong bài viết Văn nghệ trẻ sau chiến tranh thì: “Đỗ Bích Thúy là một bông hoa trong rừng hoa đa sắc màu mới ươm trồng” Nhưng lúc ấy, có lẽ khái

Trang 24

niệm nhà văn vẫn chưa hoàn toàn có trong cô sinh viên Phân viện Báo chí

tuyên truyền Đỗ Bích Thúy chia sẻ “Tôi đã viết Ngải đắng ở trên núi như đã viết nhiều cái khác, trên giường tầng, trong một căn phòng chật hẹp ở kí túc

xá đại học Tôi đã phải ngồi khoanh chân trên giường, viết trên một cái mặt bàn rất bé, trước mặt luôn là bức tường có treo ảnh cha mẹ Bên ngoài bức tường là Hà Nội nhộn nhịp và náo động Tôi đã chỉ có một bức tường gạch để cách ly với phố xá - thế giới xa lạ với những trang viết của tôi, càng xa lạ với nỗi hoài niệm không bao giờ dứt trong tôi Song hình như, chính trong bối cảnh bấp bênh, mong manh ấy tôi viết thuận hơn, xuôi hơn thì phải ” (http://

chính xác khi phát biểu một quy luật như của muôn đời “Khi ta ở chỉ là nơiđất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”, chính cái hồn đất, hồn người Tây Bắc đãlàm nên mạch nguồn, cái hồn văn Đỗ Bích Thúy

Đỗ Bích Thúy cũng có viết về Hà Nội nhưng có lẽ các tác phẩm gắnvới mảnh đất Hà Giang nơi chị sinh ra và lớn lên là thành công hơn cả Nhàvăn đã khai thác được chiều sâu phức tạp trong cuộc sống cũng như nhâncách, phẩm chất và những nét đẹp văn hóa của con người vùng núi một cáchchân thành nhất

Đỗ Bích Thúy đã xuất bản các tập truyện ngắn Sau những mùa trăng (2001), Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (2003), Tiếng đàn môi sau bờ rào

đá (2006), Người đàn bà miền núi (2008), Mèo đen (2011), Đàn bà đẹp (2013)

… Không chỉ thành công vang dội ở thể loại truyện ngắn, Đỗ Bích Thúy còn

sáng tác và thành công ở nhiều thể loại khác như: Tiểu thuyết: Dưới bóng cây

sồi (NXB Thanh niên, 2005), Cửa hiệu giặt là (NXB Phụ Nữ, 2014), Cánh chim kiêu hãnh (NXB Quân đội, 2014)

Tóm lại, bằng việc xây dựng những nhân vật người phụ nữ chịu nhiềuthiệt thòi, số phận éo le, trắc trở, Đỗ Bích Thúy đã chỉ cho độc giả một mảngmàu tối trong bức tranh hiện thực ở vùng cao, nơi thân phận con người luôn

Trang 25

bếp bênh và đau đớn Ở nơi đó có những ước nguyện, những khát vọng hạnhphúc tình yêu, sự yên bình , thanh thản đang bị khuất lấp bởi những bóng núi

vô hình nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là một tình yêu chân thành, dung dịđược gửi gắm trong từng trang văn của tác giả

1.3.2 Quan điểm sáng tác

Văn chương được coi là một loại hình nghệ thuật mà sản phẩm lànhững tác phẩm văn học được nhà văn sáng tạo ra Mỗi nhà văn khi sáng tácđều có tư tưởng và quan điểm nghệ thuật riêng mình Mỗi nhà văn muốnthành công đều cần một quan điểm sáng tác Tác phẩm văn học ở đó thể hiệnquan điểm cũng như tư tưởng nghệ thuật của mỗi nhà văn Có thể nói đó làngọn hải đăng soi đường để mỗi nhà văn có thể tránh những đảo đá ngầm củacuộc sống, để biết đâu là phương hướng đến mỗi khi chông chênh Với ĐỗBích Thúy thì quan điểm sáng tác của chị giản dị, chân thành mà thiết nghĩ,cũng là quan điểm, là mục đích của mỗi nhà văn tiến bộ Viết để trải lòngmình, viết vì một sự thôi thúc, viết để tri ân, để trả nghĩa vùng đất miền núi

Tây Bắc Xin dẫn lại lời chị trong bài trả lời phỏng vấn Nếu làm độc giả thất vọng tôi thà cũ kỹ đăng trên vnepress để thấy rõ điều đó: “tôi luôn bị thúc ép một cách vô hình, rằng mình còn đang nợ nơi sinh thành ra mình một món nợ rất lớn Và nhất định, bằng tất cả sức lực và trí tuệ, mình phải tìm cách trả được” Viết để trải lòng mình nên mỗi trang văn của Đỗ Bích Thúy là một

trang ăm ắp tình cảm nồng ấm, yêu thương trân trọng và cả sự biết ơn cho conngười cùng đất nơi đây Vậy nên, dẫu là ở hình ảnh những nhân vật có mangtrong mình những đặc điểm tính cách, suy nghĩ và hành động tiêu cực thì bêntrong sâu thẳm vẫn không mất đi vẻ giản dị, mộc mạc, nét đẹp thuần khiếtnhư nước suối đầu nguồn - dẫu chỉ ẩn chứa, chỉ bộc lộ trong những cảnhhuống đặc biệt lắm Viết để trải lòng mình nên dù một hình ảnh thiên nhiênhay cả một bức tranh nghệ thuật thì Đỗ Bích Thúy vẫn cho người đọc thấyniềm tự hào, sự gắn bó tha thiết của chị với mảnh đất ấy

Trang 26

Đề tài miền núi là đề tài quen thuộc và được nhiều tác giả khai thácnhư: Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Ma Văn Kháng, Cao Duy Sơn và Đỗ BíchThúy cũng lựa chọn đề tài quen thuộc ấy nhưng chị đã ý thức rất rõcon đường đi riêng của mình Chị có quan niệm sâu sắc về chỗ đứng và cáchnhìn của nhà văn về đề tài này này Như ai đó cho rằng, nếu các nhà văn viết

về đề tài miền núi là người khách nhìn nhận, đánh giá bằng con mắt kháchquan thì Đỗ Bích Thúy là người trong cuộc nhìn nhận, đánh giá bằng ánh mắtvừa của người trong cuộc, người từng sống, từng trải qua và chưa bao giờ vợibớt lòng yêu thương Chị không ngần ngại khi dám so sánh về tâm thế, vềquan điểm sáng tác với các nhà văn khác cùng khác đề tài miền núi Chị từng

nói: “Một nhà văn miền xuôi lên viết về đề tài miền núi sẽ khác hơn một nhà văn ở đó mấy năm và viết về miền núi, lại càng khác hơn người sinh ra ở đó viết về nơi ấy Nếu những nhà văn miền xuôi viết thành công về đề tài miền núi với tâm thế của người miền xuôi thì tôi lại khác Tôi muốn là người trong cuộc để viết thật tự nhiên về cuộc sống và con người vùng cao quê tôi.” (Điểm tựa và đích đến của một cây bút nữ) Và không thể phủ nhận, một nhà

văn gốc gác là người miền núi cũng sẽ có cách cảm, cách thể hiện khác hơn,

sẽ khó cái tâm trạng vừa cảm thấy mới lạ, háo hức, bất ngờ Cũng trong bài

viết đó, chị chia sẻ : “Họ viết về chính họ, những cái đã tồn tại, ăn sâu vào văn hóa của họ bao đời nay Còn tôi là người miền xuôi nhưng sinh ra và lớn lên giữa những người miền núi Tôi hiểu họ nhưng không phải là họ Có lẽ vì vậy mà đối với mình, những nét văn hóa vùng cao vừa thấy nhớ, vừa thấy đặc sắc, vừa thấy lạ”.

Không phải dựng lại không gian văn hóa Tây Bắc trên trang sáchcũng không phải chỉ bộc lộ những nét riêng biệt như một nét đặc trưng khubiệt của văn hóa cộng đồng mình mà trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, cáivăn hóa ấy được lồng trong một tình cảm tha thiết, mãnh liệt Vậy nên, dù là

sự vật, hiện tượng, dù một con người hay một phong tục văn hóa thì Đỗ

Trang 27

Bích Thúy cũng tái hiện nó qua lăng kính đầy màu sắc yêu thương của nỗinhớ nhung Thế nên, thiên nhiên trong tác phẩm chị như có hồn, từ vách núi

đá dựng đứng hiểm trở, từ vực thẳm âm u đầy đe dọa, từ những cơn thác lũđến tảng đá, gốc cây, dòng suối đều mang mang một nỗi buồn man mác như

tơ vương Và ở mỗi hình ảnh con người, mỗi thân phận, cuộc đời đều là tìnhyêu thương con người của chị Đỗ Bích Thúy đã có lần thổ lộ chân thành mà

như bộc lộ, thể hiện rõ quan điểm sáng tác của mình: “văn chương (dù là một truyện ngắn hay một đoản văn) phải mang trong nó những ẩn ức về cuộc đời, về thân phận, và những tác phẩm văn học nghệ thuật ở lại với người thưởng thức lâu nhất bào giờ cũng là những tác phẩm đi sâu vào số phần người, đánh thức lòng nhân ái, trắc ẩn trong họ, lay động được phần tình cảm sâu kín nhất trong tâm hồn họ” (Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Chúng tôi khép kín và… thận trọng hơn An ninh thế giới, 12 tháng 05 năm 2010).

Nói tóm lại, bằng cái nhìn mới mẻ mà không kém phần sâu sắc củamình, Đỗ Bích Thúy đã cho người đọc thấy quan điểm nghệ thuật đầy tínhnhân văn và tiến bộ trong những sáng tác viết về đời sống, văn hóa và phongtục của người miền núi Tây Bắc

Tiểu kết: Có thể nói, các bài viết, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra

nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa hay địa - văn hóa là rất cần thiết nóthể hiện sự tác động qua lại giữa các yếu tố văn hóa, cảnh quan môi trường,địa lý tới cuộc sống con người và nó ảnh hưởng gián tiếp tới giá trị nội dung

và nghệ thuật của văn chương Nhà văn Đỗ Bích Thúy có sự nghiệp văn họckhá đồ sộ nhưng tạo dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc là các tập truyệnngắn của chị, được viết bằng tài năng và tâm huyết mang nét đặc trưng củavăn hóa Tây Bắc

Trang 28

Chương 2 DẤU ẤN ĐỊA - VĂN HÓA TÂY BẮC TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 2.1 Đặc điểm vùng đất Tây Bắc

Mỗi nhà văn đều chọn cho mình một mảnh đất riêng biệt để gắn bó, để

Ngọc với Đất nước đứng lên, Rừng xà nu; Thu Bồn với Bài ca chim Chơ rao,

Ba zan khát; Ma Văn Kháng với Đồng bạc trắng hoa xòe, Gặp gỡ La Pan Tẩn; gần hơn là Phạm Duy Nghĩa với vùng Tây Bắc trong tập truyện Cơn mưa hoa mận trắng; Dương Bình Nguyên và Nguyễn Thúy Loan với vùng

Việt Bắc trong một số truyện ngắn; và Đỗ Bích Thúy với vùng Tây Bắc trong

hầu hết các sáng tác của chị Nhà văn Lê Lựu, tác giả Thời xa vắng nhận định rằng: “Nếu như miền Nam có Nguyễn Ngọc Tư thì miền Bắc có Đỗ Bích Thúy, hai nhà văn nữ đại diện cho hai vùng miền, sứ giả của nơi địa đầu Tổ quốc

và nơi tận cùng đất nước” Từ Lặng yên dưới vực sâu, Đỗ Bích Thúy ở thời

điểm trước đấy, đã phổ cập không gian Hà Giang cho độc giả rộng khắp, với

các tập truyện Sau những mùa trăng, Những buổi chiều ngang qua cuộc đời,

Ký ức đôi guốc đỏ, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá và tiểu thuyết Bóng của cây sồi Tiếp đấy, không gian vùng cao Tây Bắc tiếp tục hiện lên rõ mồn một trong truyện ở các tập Mèo đen, Đàn bà đẹp, rồi tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh, gần đây là Chúa đất Kể cả các trang tản văn cũng ăm ắp về tuổi thơ, về

Hà Giang, tràn đầy nhung nhớ, chứa chan tình đất, thấm đẫm tình người Cảmgiác Đỗ Bích Thúy viết văn là đi ngược về tuổi thơ, về tuổi trẻ của chínhmình Ở xứ cao nguyên đá khắc nghiệt con người phải gồng mình để thíchứng ấy, hoa tam giác mạch vẫn nở đẹp đến nao lòng, và lòng người cuộn lên,

và trang văn như được chiết ra từ đấy, từ đá của trời và từ hoa của đất

Hà Giang ở cực Bắc của Tổ quốc với địa hình chủ yếu là rừng núi,

Trang 29

thung lũng và cao nguyên đá được nhà văn Đỗ Bích Thúy khắc họa cụ thểtrong các tập truyện ngắn của mình Những địa danh, cái tên từ tên làng, tênbản, tên con người trong trang văn Đỗ Bích Thúy rất cụ thể, rất chân thực vàđương nhiên, rất riêng của người Tây Bắc bởi chỉ ở đây mới có Nào thì cáclàng, các bản: Xín Cái, Thượng Sơn, Lũng Phục, Pải Lủng, Cao Mã Pờ, KhâuMần, Sủng Tráng, Sảng Pả, Thài Phìn Tủng, Chín Chải, Sính Lủng, Xà RủngChứ, Chúng Pả, Lùng Cống, Xín Chải, Sán Díu, Lùng Áng, Phú Ninh, Ninh

Hồ, Tả Chải, Vần Chải, Tả Khâu, Tả Gia, Phù Lá, Thèn Phàng, Tả Choóng,

Tả Lung, Ngàm Đăm Vài, Phù La, Tề Sùng, Nấm Chảng, Pụ Dín, Pụ Cháng,

U Khố Sủ, Chí Sán, Sán Séo Tỉ… Các núi, các rừng như: Mã Pì Lèng, PhiaGiạ, đỉnh Thúng Khiếu, rừng Khua Phẳn, dãy Tây Côn Lĩnh… Tên nhữngdòng sông: Nho Quế, sông Lô, sông Gâm… Những dòng suối: Nậm Thào,Sán Thủng, Sán Khâu, Phạ Lấu… Mỗi địa danh đó vừa cụ thể, vừa chân thực

và hiện lên trên trang văn Đỗ Bích Thúy sống động như nó vốn có Quenthuộc cũng có, mới mẻ, lần đầu tiên được nhắc tới cũng có Những cái tênquen thuộc đủ gợi cho người đọc cảm giác quen thuộc của núi rừng Tây Bắc,của những cao nguyên đá, của những dãy núi đầy đá tai mèo sắc nhọn, củanhững dòng sông mùa lũ cuồn cuộn nước, của những đại ngàn âm u, kì bí.Mỗi địa danh là không gian truyện mà cũng là không gian sinh sống, khônggian văn hóa của cộng đồng dân tộc sống nơi đây Vậy nên, mỗi bản làng,mỗi ngọn núi, cánh rừng, dòng sông, con suối đều là một phần đời của nhữngcon người Chốn yêu thương, khao khát quay về của mỗi đứa con lúc xa quê

Điều đáng chú ý khu vực vùng núi Tây Bắc là nơi tập trung của nhiềudân tộc thiểu số sinh sống trên cùng địa bàn: Tày, Nùng, Dao, Thái, Mông tạonên sự đa dạng về tính cách, ngôn ngữ, lối sống và văn hóa Dân tộc Tày làmột cộng đồng người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có dân số đông nhấttrong các dân tộc thiểu số ở nước ta, với gần 1.5 triệu người, chiếm khoảnggần 2% dân số cả nước Dân tộc Tày là cư dân bản địa sống tập trung ở các

Trang 30

tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn…Dân số tuy đông và cư trú trên một địa bàn rộng, bao gồm nhiều tỉnh trong cảnước nhưng dân tộc Tày là một cộng đồng tộc người khá thuần nhất về cácmặt, có ý thức rõ rệt về dân tộc của mình Dù ở Hà Giang, Tuyên Quang hayThái nguyên, Cao Bằng…, họ đều thống nhất tên tự gọi tộc danh Tày và tên

đó đã trở thành tên gọi chính thức của dân tộc từ ngày Cách mạng tháng Támthành công đến nay

Người Mông là một dân tộc có truyền thống văn hóa độc đáo, có bề dàylịch sử hàng nghìn năm trước đây và trên 300 năm sau khi từ Trung Quốc sangđịnh cư ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, với số dân cư trú gần 800nghìn người, tập trung ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu

Ở Hà Giang, dân tộc Mông, Tày chiếm số lượng lớn về dân số toàntỉnh Dân tộc Mông chiếm 30,75%, dân tộc Tày chiếm 25% dân số (theo sốliệu của Tổng cục thống kê năm 2013) Người Mông cư trú chủ yếu ở cáchuyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ Người Tày tập trung chủ yếu ở cáchuyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê Mặc dù sinh sống ở những vùng khácnhau nhưng người Mông, Tày ở Hà Giang đều có những nét đặc sắc về vănhóa riêng của dân tộc mình

Trong tiến trình lịch sử, dân tộc Tày có vai trò quan trọng vào sựnghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc đồng thời họ hình thành nền vănhóa riêng, góp phần làm nên sự đa dạng và phong phú nền văn hóa truyềnthống của các dân tộc Việt Nam Đồng bào Tày thường sống trong khu vực có

hệ thống núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng Cư dân vùng này chủ yếu

là người Tày, người Nùng có cách sống và trang phục giản dị, gắn với lễ hộiLồng Tồng (xuống đồng) độc đáo và nổi tiếng Trong quá trình sinh sống từthời xa xưa, người Tày đã biết trồng lúa như các dân tộc khác để sinh sống

Để phục vụ cuộc sống, phục vụ cho việc may mặc, người Tày đã biết trồngcây bông, biết làm khung cửi để dệt vải, sau đó đem chàm về nhuộm, tự khâu

Trang 31

thành trang phục Trong lao động sản xuất, con vật gắn chặt với người dân nơiđây là con trâu Chính vì vậy hình đầu trâu được treo trong nhà, rồi trong lễhội lồng tồng con trâu được dùng làm vật tế lễ Điều này thể hiện đặc trưng vềphong tục và tín ngưỡng của cư dân người Tày đối với con vật sống gần gũi

và có ích trong đời sống con người Với lịch sử lâu đời của mình, trải qua quátrình đấu tranh và lao động sáng tạo không ngừng, người Tày đã tạo nên mộtnền văn hóa với bản sắc dân tộc rất độc đáo với những phong tục, tập quán,nghi lễ, trang phục, nhà ở, các hình thức tín ngưỡng dân gian khác…

Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, dân tộc Mông còn giữ nhiềubản sắc văn hoá rất riêng và độc đáo trong kho tàng văn hóa chung của cácdân tộc Các giá trị văn hóa được thể hiện trong kiến trúc ngôi nhà truyềnthống, trang phục truyền thống, đồ dùng sinh hoạt, ăn uống, quan hệ làng bản,gia đình, dòng họ, phong tục, tập quán, nghi lễ…Địa hình cư trú của ngườiMông đã ảnh hưởng sâu sắc đến kiến trúc nhà ở của dân tộc này bởi họ sốngtrên sườn núi cao, khí hậu lạnh giá và khắc nghiệt nên ngôi nhà của họ đượcchình tường bằng đất, lợp tranh hoặc ngói phù hợp với đặc tính của mùa: mùa

hè thì mát mẻ, mùa đông thị ấm áp, cũng để ngăn chặn thú giữ xâm hại conngười Trang phục cổ truyền của người Mông thì muôn hình, muôn vẻ nhưngnét chung là hầu hết đều làm từ vải lanh; y phục nữ giới rất giàu màu sắc, yphục nam giới đơn giản, hầu hết họ đều mặc quần áo ngắn, thắt lưng và khănđội đầu Tuy sống sống trong hoàn cảnh sản xuất canh tác khó khăn, không ổnđịnh nhưng đồng bào Mông vẫn cư trú theo bản làng, mỗi bản làng có phạm

vi cư trú và đất đai làm ăn riêng Dân cư trong mỗi bản làng thuộc nhiều dòng

họ, trong đó thường có một họ đông hơn và cũng có khi chỉ có một họ Vớitính cách mộc mạc, chân chất, nói ít làm nhiều, người Mông rất coi trọng tínnghĩa và tình cảm cộng đồng Với người Mông, tất cả những biểu hiện sinhhoạt văn hóa vật chất, tinh thần đều xoay quanh mối quan hệ gia đình, dòng

họ và làng bản, trong đó quan trọng nhất phải kể đến quan hệ dòng họ Dòng

Trang 32

họ - chỉ quan hệ dòng máu, nó đóng vai trò liên kết các cá nhân với cộngđồng vừa cụ thể, vừa chặt chẽ Trong mỗi dòng họ, các thành viên tích cực

hỗ trợ nhau trong lao động sản xuất và mang tính tự giác cao

Người Mông nói riêng họ rất coi trọng mối quan hệ gia đình Gia đìnhchính là cái nôi hình thành và phát triển văn hóa truyền thống, bởi vậy muốntìm hiểu văn hóa Mông cần tìm hiểu về gia đình người Mông Gia đình ngườiMông mang tính phụ quyền cao, người đàn ông, con trai được quý trọng Họluôn đảm nhiệm các công việc quan trọng như cúng tổ tiên, thay mặt gia đìnhtrong các việc làng, xóm nhất là những ứng xử theo phong tục Để trở thànhngười đàn ông thực sự, người con trai Mông phải lấy vợ sinh con đầu lòng vàđược làm lễ đặt tên đệm mới được coi là người đã trưởng thành Về vai tròcủa người phụ nữ Mông trong gia đình, xã hội xưa quan niệm “con dâu chếtcon dâu nằm trong buồng, con trai chết cả nhà tan hết luôn” nên phụ nữ Môngphải chịu rất nhiều thiệt thòi, phải làm lụng vất vả nhưng lại không có quyềnhành trong gia đình Như một đơn vị kinh tế, sự phân công lao động trong giađình người Mông rất chặt chẽ theo giới tính và lứa tuổi Trong mùa làmnương rẫy, mọi người kể cả con trẻ đều phải tham gia Bên cạnh đó, gia đìnhngười Mông còn là môi trường trao truyền và phát triển văn hóa Từ lọt lòng

mẹ các em bé đã được tiếp xúc với tiếng hát ru, lớn hơn một chút là chơi hátđồng dao Các em gái được các mẹ, các chị dạy se lanh, dệt vải, may váy, inváy, thêu thùa, hát dân ca Các em trai được cha và anh dạy bắn tên, bắn nỏ,thổi khèn, thổi sáo Mỗi thành viên đều tự học các nếp ứng xử thông quachính các mối quan hệ trong gia đình

Lịch sử dân tộc và điều kiện sống đã sản sinh ra một nền văn hóa dângian Mông khá độc đáo, mang đậm dấu ấn miền núi cao vừa khắc nghiệt, vừatrữ tình Sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa người Mông và các dân tộc kháctrong chừng mực nào đó cũng có những ảnh hưởng nhưng văn hóa nghệ thuậtcủa cộng đồng Mông vẫn mang những nét dáng tinh túy riêng, thể hiện thành

Trang 33

bản sắc dân tộc Mông.

2.2 Khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc

Thiên nhiên đã đi vào văn học nghệ thuật như một hình tượng thẩm mỹđầy gợi cảm Từ Thần thoại Hi Lạp đến Sử thi Ấn Độ, từ Kinh Thi của TrungQuốc đến ca dao, tục ngữ Việt Nam… đâu đâu chúng ta cũng thấy hình ảnhcủa thiên nhiên Lúc thì dữ dội, mạnh mẽ đến cùng tận, ẩn chứa trong mình cảmột sức mạnh thần bí của thần linh, lúc đầy tâm địa xảo trá và tàn độc nhưthứ kẻ thù số một của con người, một thứ trở lực bắt buộc nhưng không dễ gìvượt qua, chiến thắng để con người tồn tại Lúc lại dịu dàng đằm thắm nhưtình mẹ, như tình yêu lứa đôi nuôi dưỡng cả thể xác lẫn tâm hồn những conngười Khi là một vẻ đẹp như ẩn chứa trong chính con người để khám phá, tựtìm hiểu, lúc lại là vẻ đẹp, chuẩn mực về cả thể xác lẫn tâm hồn để con ngườihướng tới Có lẽ, phải khẳng định rằng, trong văn học chưa bao giờ và khôngbao giờ có thể thiếu những hình ảnh thiên nhiên Đó là đối tượng khơi gợicảm xúc thẩm mỹ, đó là đối tượng để gửi gắm tâm tư tình cảm Đó là ngoạicảnh nhưng cũng chính là để thể hiện nội tâm

Con người không thể tách rời thiên nhiên, nhưng có lẽ, một lúc nào đó,con người hiện đại lại quên mất đi rằng, chúng ta đang sống giữa thiên nhiênchứ không phải chỉ vây bọc bởi khoa học, công nghệ Vậy nên, ít nhiều nhữngnhà văn đương đại dường như quá mải mê khám phá thế giới nội tâm conngười mà trong tác phẩm vắng bóng hoặc không đưa được hình tượng thẩm

mỹ đầy gợi cảm này vào sáng tác của mình Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng,không phải nhà văn nào, nhất là những người trẻ lại được gắn với thiên nhiên,hòa vào thiên nhiên, nhất là một thiên nhiên còn mang đủ vẻ hoang sơ, thuầnchất nhất như Đỗ Bích Thúy Cả quãng thời gian tuổi thơ ấu, cả quãng thờigian khi vừa lớn lên trong nhận thức… chị gắn với núi, với rừng, với suối,với gió, với mây… của “đỉnh trời” nên những hình ảnh thiên nhiên đó đã nhưngấm vào từng mao mạch trong huyết quản, ngấm vào từng tế bào trong cơ

Trang 34

thể Vậy nên, trong sáng tác của chị, hình thiên nhiên gần gũi và thân thuộc.

Và như chúng tôi đã nói, đó là phương tiện, đối tượng để chị trải lòng vàcũng là đối tượng gợi lên trong những trang văn chị, một tình yêu tha thiết,nồng nàn! Thiên nhiên trong truyện ngắn của chị vừa hùng vĩ, dữ dội mà vừalãng mạn, mơ mộng Hẳn đó không phải hai cung bậc khác nhau, hai trạngthái khác nhau mà chỉ là những khía cạnh khác nhau trong một vẻ đẹp rấtriêng của mảnh đất chị yêu quý

2.2.1 Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội

Không gian thiên nhiên Tây Bắc luôn hiện lên trong văn học với vẻ đẹphùng vĩ, dữ dội Truyện ngắn của Thế Lữ, Lan Khai cho người đọc cái cảmgiác choáng ngợp trước không gian rộng lớn, kì vĩ và rùng rợn, sự bí hiểm của

núi, của sông, của những hang động như chỉ có trong truyền thuyết Đọc Sông

Đà của Nguyễn Tuân, với hình ảnh con sông Đà thôi và những thành vách,

những ghềnh thác trên đường đi, trên dòng chảy của nó, người đọc chắc cũngrùng mình, lạnh toát khi nghĩ đến sự hùng vĩ và hung bạo của nó Thiên nhiênTây Bắc là thế, đẹp đấy, nhưng là cái đẹp hùng vĩ và không kém phần dữ dội

Tác giả của Vang bóng một thời đã cay nghiệt mà gọi nó mang tâm địa “thứ

kẻ thù số một của con người” Trong con mắt của người lính Tây Tiến, thì cái

ấn tượng để lại trong tâm trí họ là “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm/ Heo

hút cồn mây súng ngửi trời” (Tây Tiến – Quang Dũng)… Nhưng, có lẽ từ Thế

Lữ, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Quang Dũng hay đến Nguyễn Huy Thiệp… thìthiên nhiên Tây Bắc đối với họ là một thứ gì đó lạ lẫm, kì bí cần phải khámphá, một thứ mang đến cảm giác lạ và mạnh cho tác giả và độc giả Đỗ BíchThúy lại khác, thiên nhiên Tây Bắc vừa lạ vừa quen, vừa mới mẻ, vừa thânthuộc… và hơn hết, trong mỗi cảnh sắc ấy đều chứa đựng một xúc cảm mạnh

mẽ, một tình yêu tha thiết của chị với mảnh đất chôn rau cắt rốn

Mảnh đất Hà Giang hùng vĩ bởi những đỉnh núi đá tai mèo nhọn hoắtlớp lớp điệp trùng, bởi những đám mây vắt ngang đỉnh, bởi những đàn chim

Trang 35

nối nhau bay thành dây dài nối hai đỉnh núi Ngửa cổ lên là những đỉnh núi,

và đứng trên núi nhìn xuống là vực sâu hun hút, là dòng sông nhỏ Nho Quếchỉ như một sợi chỉ chảy ngoằn ngoèo dưới chân Cao và sâu, nhưng hơn thế

nữa, những đỉnh núi nhọn hoắt càng làm người đọc ớn lạnh, “ngọn núi ấy, mỏm nhọn của nó không đủ chỗ cho một con chim lớn đứng chân Cái mỏm nhọn hoắt bé như đầu sừng một con sơn dương oai vệ vươn lên, khoe khoang

sự dũng mãnh” [57; tr 75] Nhưng thiên nhiên ấy không chỉ hùng vĩ, dữ dội

bởi núi mà còn bởi rừng, bởi gió, bởi những cơn mưa lũ… Trong tác phẩmcủa Đỗ Bích Thúy, núi xuất hiện nhiều, được chị miêu tả ở nhiều phươngdiện, góc cạnh Khi là một đỉnh núi hình con chim ác, một mỏm núi… Đó

là cái nhìn phân tách nhằm đặc tả một trong nhiều thế núi, gắn với một nét

văn hóa đặc sắc Nó mang tính dự báo về số phận con người “Tôi rời khỏi nhà năm mười sáu tuổi Trước ngày tôi đi, ông nội dắt ra gốc lê bảo: Nhìn lên đằng trước kia, ngọn núi nhọn nhất là ngọn núi sinh ra những đứa như mày Lúc mày chui ra khỏi bụng mẹ, mặt trời đang mọc đến đúng đỉnh núi ấy Ngọn núi nhọn đẻ ra những đứa khó bảo, lớn lên thích làm theo ý mình.” (Cạnh bếp có cái muôi gỗ) Nó là di tích nhắc nhớ thời thực dân nửa phong kiến tăm tối, đau thương “Năm, sáu thập kỷ đã qua, trên cái mỏm núi ngày xưa là nơi dựng cây cột đá treo người vẫn không một loài cây cỏ nào mọc được” (Cột đá treo người) Những dãy núi lớn nhỏ dựng vách thành tạo nên cảm giác rợn ngợp, bủa vây “Nhìn núi cao ngất trời như một sự bủa vây như một sự cầm tù, mọi thứ hoang dại hẳn đi trong mắt cô.” (Cái ngưỡng cửa cao), “Bốn phía núi cao vời vợi Chía đứng giữa bãi cỏ như đứng trong một cái chảo lớn.” (Cột đá treo người), “Bầu trời cao lên vời vợi giữa bốn bề vách núi sừng sững.” (Mần tang mọc trong thung lũng) Hà Giang hay vùng

cao Tây Bắc là điệp trùng núi, núi nối tiếp núi nên đó cũng là không gian vănhóa riêng của truyện Đỗ Bích Thúy

Vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc nói chung và Hà Giang nói

Trang 36

riêng còn là sự xuất hiện của những khu rừng nguyên sinh gợi cảm giác âm u,rợn ngợp mà chỉ ở đây mới có Thế nhưng, nó không mang một vẻ rùng rợn,đáng sợ như những khu rừng trong truyện Thế Lữ, Nguyễn Huy Thiệp, nó vẫnmang một vẻ thân thuộc, hùng vĩ nhưng đáng yêu như gắn bó với cả một trời

kỉ niệm “Càng lên cao, rừng càng âm u Ở những cánh rừng như thế này, trời tối lúc nào đám trẻ mải chơi không kịp biết” [57; tr 224] Đọc những câu

văn ấy, người đọc có cảm giác người viết đang không cố khắc họa cái âm u,

vắng lặng mà dường như đang nhắc lại một kỉ niệm tuổi thơ “Đám trẻ mải chơi không kịp biết” trời tối lúc nào và dường như, người viết, thuở ấu thơ đã

có mặt trong đám trẻ ấy Những khu rừng còn được Đỗ Bích Thúy miêu tả cụ

thể, chi tiết và sinh động càng làm tăng thêm vẻ đẹp hung vĩ của nó “Mặt trời chưa lên nhưng ánh sáng của nó từ sau dãy núi đã hắt lên vòm trời, đủ làm sáng các thung lũng Sương vẫn chưa tan hết trên phần ngọn của rừng già Ban ngày nhìn rừng chia thành miếng rất rõ Sồi, dẻ mọc lẫn, tán dầy và cao Vầu đắng thấp hơn đang bắt đầu ra măng” [57; tr 177] Và những khu

rừng ấy càng hiện lên đẹp một cách khác thường trong mối quan hệ tương

quan với ánh sáng mặt trời: “Mặt trời đang ở phía sau dãy núi kia, mới chỉ thấy tia nắng hình nan quạt hắt lên Con đường đầy những vết chân dê càng lúc càng dốc, những con bọ gậy bò lổm ngổm trên đám lá vàng ướt sũng sương đêm Càng lên cao, rừng càng âm u.” [57; tr 224] Núi ấy, rừng ấy

không chỉ là cảnh quan mà trong đó còn là hương vị Những hương vị rất độcđáo, rất đặc trưng của núi rừng Hà Giang Dường như vẻ đẹp của núi rừngcàng thơ mộng, huyền ảo, thi vị hơn bởi hương sắc dịu ngọt, ánh sáng mềmmại bên trong những nét vẽ đầy hình khối của núi của đá

Người miền núi luôn phải đối mặt với thiên nhiên dữ dội những cơn lũ,những cơn gió giật, những trận lở đất Trên nền thiên nhiên dữ dội và khốcliệt, con người chống trọi với nó và bộc lộ phẩm chất rắn rỏi, bản lĩnh, nghịlực phi thường Không chỉ con người mà những loài vật gắn chặt với cuộc

Trang 37

sống sinh hoạt của con người cũng gắng mình vượt qua cơn rét Có khi gắngsức đến cùng, chống chọi đến cùng để giành lại sự sống trước cơn giận giữcủa bà mẹ thiên nhiên Nhà văn Đỗ Bích Thúy đã tái hiện một cơn lũ miền

núi qua truyện ngắn Hẻm núi làm bật lên số phận con người, sự sống con người trở nên thật mong manh qua lời kể của nhân vật tôi “Một cơn lũ đã cướp đi ba mươi lăm sinh mạng của Tả Khâu, trong đó có mười bốn đứa học sinh của tôi” [57; tr 151] Diễn biến một cơn lũ thật nhanh chóng và bất ngờ,

khiến con người không kịp xoay sở Đỗ Bích Thúy đặt điểm nhìn trần thuậtvào nhân vật tôi, là người trong cuộc chứng kiến toàn bộ cơn lũ ập đến mộtbản nghèo ở Tả Khâu Nhân vật tôi kể lại bằng một sự thương cảm và xót xa

sâu sắc: “Hai giờ chiều, trời mưa mỗi lúc một lớn, tiếng mưa rơi xuống mái lợp bằng phibrôximăng như muôn ngàn tiếng búa nện liên tiếp Trời xầm xì, đứng giữa lớp nhìn lên bảng chỉ thấy mờ mờ.Tôi định kết thúc nhanh bài giảng cho học sinh nghỉ sớm Nhưng chưa kịp nghỉ tai họa bắt đầu ập xuống”

[57; tr 152] Mưa lũ phá tan bức tường thành của không gian lớp học, đe dọa

từng mạng sống “Đầu tiên là vách đât nứt ra từng vết một, đứa học trò nhỏ ngồi ngay bàn đầu tiên nhìn thấy, nó hét lên thất thanh, trước khi tôi kịp nhận

ra được điều gì thì nước đã đè sập bờ tường, mái lợp Tôi chạy xuống lớp, hai tay kéo được hai đứa học trò gần nhất, chạy ra ngoài” [57; tr 152] Những

cơn lũ bất ngờ như cả bầu trời đổ sập xuống, tất cả nước trên trời đổ xuốngdội ngập không gian núi rừng, nó ám ảnh như một vết dao cắt ngang trong cơ

thể con người không bao giờ phai mờ “Tai ù đi, mắt bị nước xối không nhìn thấy gì, chân không kịp chạm đất, tôi chỉ có một ý chí duy nhất là nắm thật chặt hai bàn tay bé nhỏ, mặc cho nước xô đẩy, cuốn đi Ba thầy trò tôi đã mắc vào một mớ cây cối cũng bị lũ cuốn từ đâu về, tập xung quanh gốc cây

sổ Lúc tỉnh dậy, tôi thực sự không nhận ra mình đang nằm ở đâu Điều đầu tiên là lay gọi hai đứa trẻ, nhưng chỉ có một đứa tỉnh lại, đứa kia bàn tay bé nhỏ tím ngắt vẫn trong tay tôi nhưng tôi ghé mãi, ghé mãi vào ngực nó vẫn

Trang 38

không thấy một chút gì tín hiệu còn lại của sự sống Nó đã chết” [57; tr 152].

Những thân phận mong manh của con người miền núi luôn bị đe dọa bởi

thiên tai thường trực Những đứa trẻ trong truyện ngắn Hẻm núi bị cuốn đi

theo dòng lũ quét như thân phận mong manh của những chiếc lá Nỗi đauthấm trong từng trang viết

Những cơn mưa lũ, mưa rừng xuất hiện, sức tàn phá ghê gớm của nókhông chừa một ngõ ngách, cuộc sống con người là sự bất an, lo lắng khinhững cánh đồng hoa màu, ruộng nương, vật nuôi, nhà cửa…chìm ngập trong

bể nước Dòng nước “đỏ ngầu” của mưa lũ là một nỗi ám ảnh lớn của con

người miền núi Những hình ảnh “Nước cuồn cuộn dâng đuổi sau lưng, nước dội như thác từ trên trời đổ xuống Chốc chốc lại nghe tiếng cành cây gãy ngoài sông toang toác, tiếng nhà đổ, tiếng trâu bò, gà lợn không kịp chạy

bị lũ cuốn trôi kêu la trên mặt nước ùng ục” [57; tr 272] Giới hạn giữa sự

sống và cái chết của con người trở nên thật mong manh Những cơn mưa

rừng, mưa núi kéo dài hàng tuần lễ “Những cơn mưa như trút nước nối nhau kéo dài lê thê Một ngày…hai ngày…một tuần…rồi hai tuần” [57; tr 127] Những cơn mưa “trắng núi gần núi xa”, tứ phía mờ đi trong màn nước,

chìm trong màn nước như con thác đổ xuống từ trên trời Và rồi lại là nước

lũ, nước “nuốt chửng cả những gò đồi trồng đỗ đen, đỗ xanh” [57; tr 127] Mưa lũ, và “nước đỏ ngầu nhấn chìm các con suối Nước tràn vào đồng thấp, nước leo lên đồng cao, nuốt chửng cả những gò đồi trồng đỗ đen, đỗ xanh lá

đã ngả vàng Nước dâng mãi, dâng mãi ngập đến ba bậc cầu thang thì dừng lại” [57; tr 127] Giới hạn giữa sự sống và cái chết của con người trở nên thật mong manh Những cơn mưa rừng, mưa núi kéo dài hàng tuần lễ “Những cơn mưa như trút nước nối nhau kéo dài lê thê Một ngày…hai ngày…một tuần…rồi hai tuần” [57; tr 127] Những cơn mưa “trắng núi gần núi xa”, tứ

phía mờ đi trong màn nước, chìm trong màn nước như con thác đổ xuống từ

trên trời Và rồi lại là nước lũ, nước “nuốt chửng cả những gò đồi trồng đỗ

Trang 39

đen, đỗ xanh” [57; tr 127] Mưa lũ, và “nước đỏ ngầu nhấn chìm các con suối Nước tràn vào đồng thấp, nước leo lên đồng cao, nuốt chửng cả những

gò đồi trồng đỗ đen, đỗ xanh lá đã ngả vàng Nước dâng mãi, dâng mãi ngập đến ba bậc cầu thang thì dừng lại” [57; tr 127] Có lẽ, ai chưa từng sống ở

rừng núi sẽ chưa thể cảm nhận hết cái dữ dội của những cơn mưa lũ nơi đây.Khó có thể cảm nhận được sự mạnh mẽ, sức tàn phá nhưng dường như nócũng là vẻ hùng vĩ, dữ dội rất riêng của rừng núi Tây Bắc Nhưng vượt lêntrên những khắc nghiệt, những bất hạnh đó là tình người, là sự sống bất diệtcủa con người vùng cao

Trong cái vẻ dữ dội của núi rừng Tây Bắc còn được tô đậm thêm bởigió, những âm thanh của gió Cái gió nơi đây không hiền hòa dịu mát mà dữdội, mà lạnh lẽo mà mạnh mẽ đến hoang dại Đó là âm thanh “lạt sạt” bởi

“Gió lạnh từ khe núi ào ra, mấy chiếc lá lê già còn sót lại rụng nốt quệt vào

bờ đá lạt sạt” [57;tr 32] Đó còn là tiếng gió trên sông “gió lạnh chạy đuổi nhau ào ào, hun hút trên mặt sông buyền bí” [57; tr 215] Và không phải

tiếng gió của một buổi chiều, buổi tối nào đó mà với núi với rừng thì gióthổi năm này qua năm khác Cái lạnh mà gió núi mang lại cũng không nhẹ

nhàng, se se… mà dữ dội đến “ghê người”: “Gió từ khe núi ùa ra, mang theo hơi lạnh đến ghê người của đá và lá cây úa” [57; tr 219].

Cái lạnh lẽo cũng dữ dội ở vùng núi cao này Đỗ Bích Thúy đã chongười đọc cảm nhận cái lạnh đến thấu xương da nơi đây Lạnh và sươngmuối, và gió núi Ngày thì nắng cháy cỏ cây, da thịt nhưng chỉ cần mặt trờichưa xuống núi hết “đã lạnh rùng mình ngay được” Cái lạnh làm cho nước

“đóng băng thành lớp mỏng, phải dùng chuôi dao đập mạnh mới vỡ ra” [57;

tr 397] Gió mạnh mẽ mang cái lạnh cứa vào da thịt người, sương trĩu xuốngmang cái lạnh thấm vào tận thịt tận xương người và làm cỏ cây tàn tạ, lụi

xuống Đó là cái lạnh “chỉ qua một đêm trở dậy đã thấy cỏ ngoài sân cháy táp” [57; tr 60] Và dường như chỉ cần khoảng thời gian một đêm, một đêm là

Trang 40

đủ cho cái lạnh tàn phá xong Đó là hình ảnh “sương muối rớt xuống từng mảng, sáng ra thấy cây cối đầy lá úa, dây bí leo ngoài vườn chưa kịp ra quả

đã khô quắt queo, mẹ gieo hạt cải cả tháng chưa mọc” [57; tr 214] Sương

muối tàn phá nhưng sương cũng bị chính cái lạnh lẽo dữ dội ấy khiến nó đóng

băng lại, khiến nó không thể nhỏ xuống “sáng ra, những hạt sương rớt xuống

từ mái tranh đã đóng băng trong đêm, nối thành từng chuỗi dài” [57; tr 403].

Mùa đông ở miền núi vốn khắc nghiệt, bằng sự trải nghiệm, quan sát Đỗ BíchThúy không chỉ cho ta thấy cảnh vật thay đổi khi mùa đông đến mà còn cho tathấy tác động của nó đến đời sống của con người nơi đây

Thiên nhiên núi rừng Tây Bắc luôn “động” nó làm nên chất đặc trưng

riêng Chẳng hạn, cảnh miền núi vào buổi chiều trong truyện ngắn Mần tang mọc trong thung lũng được cô bé Liêu quan sát và cảm nhận tỉ mỉ, sâu sắc sự chuyển động của cảnh sắc thiên nhiên: “Sau dãy núi hình răng cưa mặt trời

đỏ bầm đã chìm xuống non nửa Những mảng khói còn lại của nương đồi mới đốt quẩn vào nhau, bốc ngược lên chậm chạp, nhuộm cho ánh hoàng hôn ngả tím, phủ đầy xuống thung lũng Mặt trời càng lặn sâu thì gió càng thổi mạnh, cuốn tàn tro mằn mặn bay tứ tung Những con cánh cam dúi đầu xuống đám

lá dẻ khô Thời tiết ở rừng thay đổi nhanh chóng, vừa mới chang chang nắng đốt cháy cả cây cỏ da thịt đã lạnh rùng mình ngay được Thậm chí Liêu còn cảm thấy sương đang bủa xuống ướt vai mình Tả Gia ngay trước mặt đây rồi, bóng chiều đang dềnh lên, tưởng chỉ dợm bước là đã đặt chân ngay xuống thung lũng” [57; tr 171] Không chỉ nhìn thấy màu đỏ bầm của mặt

trời, nhìn thấy những làn khói đốt nương quẩn vào nhau, người viết còn cảmnhận được vị mằn mặn của tàn tro đang bay trong không gian, cảm được cáilạnh rùng mình của sương khuya bắt đầu buông trong buổi hoàng hôn Nhữngđoạn văn như thế không thiếu trong các tập truyện Nó cho ta thấy cả cảm xúclẫn sự tinh tế trong cách nhìn và bút pháp nhà văn

Ngày đăng: 07/12/2019, 07:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w