Với cách viết đó Cao Duy Sơn đã mang lại cho văn xuôi các dân tộc thiểu số một cảm nhận mới mẻ về con người và cuộc sống của dân tộc.” [65] Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, công trình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRỊNH ĐÌNH LƯƠNG
TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp
HÀ NỘI, 2016
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc luận văn 8
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA VÀ VÀI NÉT VỀ NHÀ VĂN CAO DUY SƠN 9
1.1 Khái niệm về văn hóa 9
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 11
1.3 Nghiên cứu văn học theo hướng văn hóa 16
1.4 Đôi nét về văn hóa dân tộc Tày ở Cao Bằng 19
1.5 Nhà văn Cao Duy Sơn 26
1.5.1 Cuộc đời 26
1.5.2 Sự nghiệp văn học 29
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 CON NGƯỜI VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN 34
2.1 Vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của con người đồng bào dân tộc thiểu số 34
2.1.1 Con người thủy chung, tình nghĩa 34
2.1.2 Con người mạnh mẽ, giàu sức sống 40
2.1.3 Con người với số phận bất hạnh 45
2.2 Vẻ đẹp của những phong tục, tập quán văn hóa 52
2.3 Vẻ đẹp thiên nhiên mang đậm đấu ấn vùng đất cổ Cô Sầu 61
Trang 42.3.1 Thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội 61
2.3.2 Thiên nhiên thơ mộng, trữ tình 64
2.3.3 Thiên nhiên trong cuộc sống của con người 67
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN 74
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 74
3.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 74
3.1.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 81
3.2 Nghệ thuật miêu tả đối lập 87
3.2.1 Sự đối lập giữa cái xấu và cái đẹp 87
3.2.2 Sự đối lập giữa cái thiện và cái ác 94
3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật 101
3.3.1 Ngôn ngữ giàu hình ảnh 101
3.3.2 Vận dụng lối nói so sánh, liên tưởng độc đáo 105
3.3.3 Sử dụng ngôn ngữ Tày trong tác phẩm 108
Tiểu kết chương 3 111
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp - người thầy trực tiếp hướng dẫn, tận tâm dìu dắt, chỉ bảo tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Lí luận văn học, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô Phòng Sau đại học Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Từ đáy lòng mình, tôi xin được cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn ở bên tôi, giúp đỡ và động viên kịp thời để tôi vững tâm nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do khả năng của bản thân và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy cô và đồng nghiệp để chúng tôi rút kinh nghiệm và nâng cao hơn nữa trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2016
Người viết luận văn
Trịnh Đình Lương
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp
Những tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác, không sao chép của bất kỳ ai, được trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các Website… với sự trân trọng, biết ơn
Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu nào từng công bố
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Trịnh Đình Lương
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nhắc đến mảng đề tài dân tộc và miền núi, ngoài những cái tên đã
trở nên quen thuộc với bạn đọc như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Trung Trung Đỉnh, thì Cao Duy Sơn cũng là một tên tuổi khá nổi bật trong nền văn học Việt Nam Để làm nên thành công đó, trong những trang viết của ông luôn thấm đẫm bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở Cao Bằng Nó là yếu tố làm nên bản sắc riêng trong sáng tác của Cao Duy Sơn so với các nhà văn
khác Có lần nhà văn đã tâm sự: “Tôi sinh ra và lớn lên ở thị trấn Cô Sầu
(huyện Trùng Khánh, Cao Bằng) Đó là một thị trấn cổ rất nổi tiếng Nghiệp văn chương của tôi cứ bám lấy thị trấn Cô Sầu mà khám phá, viết mãi vẫn chưa thấy đủ, chưa thấy thấu cái tầng sâu văn hoá tiềm ẩn ở vùng đất này Tôi viết như một sự trả nợ, trả nợ quê hương, trả nợ những người đã sinh ra mình, bè bạn, xóm giềng Cả đời tôi, sẽ vẫn là những cuộc khám phá về Cô Sầu với những con người miền núi chân chất.” [18, 1] Như vậy, có thể nói
tình yêu và bản sắc văn hóa độc đáo của mảnh đất Cô Sầu đã ngấm vào máu thịt của Cao Duy Sơn để mỗi trang viết của ông luôn chứa đựng một chiều sâu văn hóa lớn khiến người đọc bị lôi cuốn và thích thú khi tìm hiểu về nó
1.2 Văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau, văn học
chính là sự tự ý thức của văn hóa Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Do vậy, khi nghiên cứu văn học, chúng ta có thể nghiên cứu theo hướng văn hóa học Đây là một trong những khuynh hướng nghiên cứu đang diễn ra khá sôi động trên thế giới
và ở Việt Nam Điều này đã tạo điều kiện cho việc khám phá văn học trở nên phong phú và linh hoạt hơn, nhiều chân trời mới của văn học được mở ra
1.3 Xuất phát từ những vấn đề lý thuyết và thực tiễn của văn học hiện
Trang 82
nay, đặc biệt là trong truyện ngắn Cao Duy Sơn có nhiều tầng vỉa văn hóa đặc sắc cần được khai thác và tìm hiểu nên việc nghiên cứu truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc độ văn hóa là một hướng đi khả quan và hứa hẹn sẽ mang lại
nhiều điều thú vị Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Truyện ngắn Cao Duy
Sơn từ góc nhìn văn hóa để nghiên cứu với mong muốn góp thêm một cách
khám phá mới về thể loại truyện ngắn của nhà văn này
2 Lịch sử vấn đề
Trên văn đàn văn học Việt Nam, Cao Duy Sơn xuất hiện đầy ấn tượng với đề tài dân tộc và miền núi Với mảng đề tài này, nhà văn đã gặt hái được những thành công nhất định và tạo ra được phong cách riêng cho mình Chính
vì vậy, Cao Duy Sơn cùng tác phẩm của ông đã thu hút được khá nhiều sự quan tâm của độc giả, những người yêu văn chương cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học
Đầu tiên, tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối của ông đã gây được
tiếng vang lớn khi đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2008) Có rất nhiều ý kiến đánh giá, bàn luận xoay quanh tập truyện ngắn này Tác giả
T.Luyến trong bài Ngôi nhà xưa bên suối - bức tranh sinh động về cuộc sống
của con người miền núi khẳng định: Đây là “tập truyện viết về cuộc sống của
những con người miền núi chân chất, mộc mạc, với những nét văn hóa đặc trưng Đọc tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối độc giả sẽ có dịp tìm hiểu thêm về những phong tục độc đáo của người dân ở thị trấn Cô Sầu” [29]
Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh đã đánh giá cao về tập truyện này, đặc
của tác giả Cao Duy Sơn đem đến cho người đọc mảng sống đậm đặc, tươi ròng
về những con người miền núi, vừa cổ kính vừa hiện đại, mộc mạc, chân chất, không để đánh mất mình trong những hoàn cảnh éo le, đau đớn” [61]
Tác giả Phan Chinh An trong bài viết Đi tìm vẻ đẹp của hoài niệm cũng
Trang 93
đề cập tới tập truyện ngắn Ông cho rằng với tập truyện ngắn này, Cao Duy
Sơn đã “thực hiện một cuộc hành hương tinh thần tìm về những vẻ đẹp xưa
vùng quê nghèo khó ấy, ghi danh nó trong văn học” Đến với Ngôi nhà xưa bên suối, người đọc sẽ được “làm quen với những địa danh xa lạ như suối Cun, Páo Lò, Âu Lâm, bản Niểng, Nhòm Nhèm, Háng Vài, Pác Gà, Cổ Lâu cảm nhận không khí, hương vị miền núi “rất Tày” Cái không khí, hương vị rất riêng ấy trước tiên lan tỏa trong nhiều tập tục tốt đẹp”, sau đó là ở “vẻ đẹp tâm hồn và tính cách con người dân tộc Tày” [2]
Tiếp theo, có rất nhiều tác giả đã bày tỏ cảm xúc, ý kiến của mình về nội dung trong các sáng tác của Cao Duy Sơn Nhà văn Trung Trung Đỉnh không giấu giếm được cảm xúc của mình khi đọc những truyện ngắn đầu tiên của Cao Duy Sơn Điều khiến ông nhớ mãi trong các tác phẩm ấy chính là
“cái không khí miền núi vừa mơ mơ màng màng lại vừa sâu hun hút bởi vẻ
đẹp của thiên nhiên quyến rũ con người ta, lôi kéo con người ta, nâng đỡ con người ta từ chốn thâm nghiêm huyền bí của rừng già, hang thẳm, đến khi trở
về với cuộc sống tự nhiên, hồn nhiên của cộng đồng… Văn Cao Duy Sơn giàu hình ảnh, giàu chất say của người say thiên nhiên” [35, 486] Theo tác giả,
cái không khí miền núi này đã phần nào góp phần không nhỏ vào việc thể hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác của nhà văn
Trong Luận văn Thạc sĩ Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc
(qua các tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Huy Thiệp),
Nguyễn Minh Trường đã đi sâu tìm hiểu hình tượng cuộc sống và con người trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn Tác giả đã khẳng định: Với phong cách
riêng biệt, truyện ngắn Cao Duy Sơn “đã tạo nên những bức tranh sinh động,
phong phú về cuộc sống kì thú nơi thế giới sơn lâm ” [68]
Tác giả Sông Lam trong bài viết Cao Duy Sơn giọng văn nhẹ nhàng
Trang 104
mà sắc bén đã bàn tới sự phong phú của những phong tục tập quán trong toàn
bộ sáng tác của Cao Duy Sơn: “Từ các tiểu thuyết đến các tập truyện ngắn
ngòi bút của Cao Duy Sơn đã phác thảo nên những bức tranh sinh động về cuộc sống ở vùng cao miền cao miền núi phía Bắc Ở đó có những vỉa tầng văn hóa truyền thống dân tộc dày đặc được hun đúc qua hàng trăm thế hệ Đó
là các tục lệ cưới xin của người Tày, tục lấy tên con để gọi thay tên cúng cơm của người mẹ, tục đi chợ tình vào dịp tháng Giêng để những đôi tình nhân xưa được thổ lộ tâm tình, ôn lại kỉ niệm , tục hát Khai vài xuân ” [24]
Nhà nghiên cứu văn học Lâm Tiến cũng đã phân tích và khẳng định cá
tính sáng tạo độc đáo của nhà văn Cao Duy Sơn: “Truyện của Cao Duy Sơn còn
hấp dẫn người đọc ở cách viết giàu cảm xúc, giàu hình tượng với cách cảm nhận
sự vật, hiện tượng tinh tế, chính xác, sắc sảo với những tình huống gay gắt, bất ngờ Với cách viết đó Cao Duy Sơn đã mang lại cho văn xuôi các dân tộc thiểu
số một cảm nhận mới mẻ về con người và cuộc sống của dân tộc.” [65]
Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về nghệ thuật
trong truyện ngắn Cao Duy Sơn Chẳng hạn, trong cuốn Tuyển tập văn xuôi
dân tộc và miền núi thế kỉ XX, tác giả Lâm Tiến đã chú ý tới nghệ thuật xây
dựng nhân vật của Cao Duy Sơn Ông cho rằng: Trong sáng tác của nhà văn
này, “hình tượng con người lao động miền núi cao lớn, mạnh mẽ, khỏe
khoắn” được thể hiện “một cách cụ thể, sinh động, tinh tế như nó vốn có”
Nhân vật của Cao Duy Sơn “thường có đời sống nội tâm phong phú, phức
tạp, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại lặng lẽ, kín đáo” [36, 12]
Tác giả Phạm Duy Nghĩa trong Luận án Tiến sĩ Văn xuôi Việt Nam hiện
đại về dân tộc và miền núi cũng quan tâm tới nghệ thuật xây dựng nhân vật của
Cao Duy Sơn Anh cho rằng, so với nhân vật của Vi Hồng thì các nhân vật của
Cao Duy Sơn “phức tạp và đa diện hơn” Nhiều nhân vật trong sáng tác của ông
“đều là những mảnh vụn đời tư với tất cả cái dở dang, bề bộn, phồn tạp của
Trang 115
cuộc đời” Với những thăng trầm ở mọi thân phận, các nhân vật của Cao Duy Sơn thiên về loại nhân vật số phận hơn là nhân vật tính cách, tuy là nhà văn vẫn
có ý thức tạo cho mỗi nhân vật một nét cá tính và ngôn ngữ riêng” [31, 115]
Còn tác giả Đinh Thị Minh Hảo trong Luận văn Thạc sĩ Đặc Điểm
truyện ngắn Cao Duy Sơn đã chỉ ra được một thế giới nhân vật “phân cực”
mà Cao Duy Sơn dựng lên trong sáng tác của mình Tác giả luận văn khẳng
định: Đó là “một thế giới “phân cực” thiện - ác đối kháng và một kết thúc có
hậu Trong thế giới ấy các nhân vật chính diện đẹp từ ngoại hình đến tâm hồn Các nhân vật phản diện lại xấu xa về nhân cách và dị dạng méo mó về ngoại hình” [10]
Khi bàn về giọng điệu nghệ thuật trong các sáng tác của Cao Duy Sơn,
Lý Thị Thu Phương đã nhận xét: “Cái nhìn và giọng điệu Cao Duy Sơn vừa
chân thành, mộc mạc, vừa ấm áp, trữ tình” [39, 101] Tác giả nhận ra giọng
điệu khẳng định ngợi ca qua các tập truyện của nhà văn, các nhân vật của ông thường được miêu tả đẹp về tâm hồn, ứng xử, đặc biệt là vẻ đẹp nhân cách Bên cạnh đó, tác giả Đào Thủy Nguyên cũng đề cập đến vấn đề giọng
điệu: “Giọng văn trần thuật của Cao Duy Sơn thực sự gieo vui khi kể về
phong tục tập quán của dận tộc mình” “Bên cạnh giọng điệu ngợi ca tự hào, giọng điệu xót xa thương cảm cũng là biểu hiện của tình yêu quê hương
xứ sở Yêu đất mẹ bao nhiêu, Cao Duy Sơn càng xót xa bấy nhiêu trước thực trạng quê hương còn nhiều chua xót…” [33, 49] Như vậy, tác giả đã chỉ ra
hai biểu hiện của giọng điệu trong truyện ngắn Cao Duy Sơn là giọng điệu ngợi ca tự hào và giọng điệu xót xa thương cảm
Về ngôn ngữ nghệ thuật, trong bài Ban mai có một giọt sương, Đỗ Đức
đã tập trung nói về tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối Tác giả nhận xét:
“Văn trong tập này của Cao Duy Sơn không cầu kì, thoáng đọc còn cảm
thấy nó quềnh quàng vụng dại Nhưng truyện nào cũng có những câu khiến
Trang 126
người ta giật mình về sự sắc sảo trong quan sát cuộc sống và gọi nó ra bằng chính ngôn ngữ của người vùng mình” Tác giả đánh giá “những câu văn đó
là những hạt ngọc lấp lánh” [13]
Nhà phê bình Lâm Tiến trong bài Cách thể hiện con người, cuộc sống
miền núi trong tác phẩm Cao Duy Sơn cũng rất quan tâm tới nghệ thuật sử
trong cách viết của Cao Duy Sơn thể hiện ở việc dùng ngôn ngữ văn chương Ông đã biết Tày hóa tiếng Việt trên cơ sở hiểu sâu sắc và thông thạo cả hai thứ tiếng (Tày và Việt) Ông viết bằng tiếng Việt nhưng trong đó sắc thái Tày vẫn thể hiện rõ Trước hết là ở câu nói ngắn, gọn, rõ ràng, dễ hiểu Điều đó rất gần gũi với cách nói của người Tày, đồng thời cũng thể hiện một khẩu khí, một thái
độ sống rõ ràng, dứt khoát của họ Ông biết điểm vào những trang viết những chi tiết, những câu chữ, những từ đắt nhất, tiêu biểu, gần gũi gắn bó máu thịt với người Tày mà tiếng Việt không biểu hiện được” [67]
Như vậy, điểm qua một số bài viết, công trình nghiên cứu và các bài phê bình của nhiều tác giả về văn chương Cao Duy Sơn, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả và công trình nào đi sâu nghiên cứu về truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc độ văn hóa Qua việc nghiên cứu về lịch sử vấn đề, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đi trước, chúng tôi mong
muốn trình bày những hiểu biết của mình về Truyện ngắn Cao Suy Sơn từ
góc nhìn văn hóa một cách hệ thống nhất Hướng đi mới của luận văn là việc
đi tìm hiểu, cắt nghĩa truyện ngắn của nhà văn từ góc độ văn hóa để thấy được bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo trong sáng tác của ông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn chỉ ra mạch nguồn cảm hứng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và một số phương diện nghệ thuật thể hiện
Trang 137
bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp các khái niệm về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
- Tìm hiểu các dấu ấn văn hóa trong truyện ngắn Cao Duy Sơn để đưa
ra một cái nhìn mới, khám phá mới, từ đó khẳng định giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật cũng như đóng góp của nhà văn cho văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng và cho nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện luận văn chúng tôi không khảo sát toàn bộ sáng tác của Cao Duy Sơn mà tập trung vào truyện ngắn của ông Trong quá trình tìm hiểu, người viết đi sâu vào những yếu tố văn hóa, phương diện văn hóa để làm nổi bật hướng nghiên cứu văn hóa học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát của luận văn là các tập truyện ngắn của nhà văn Cao
Duy Sơn: Những đám mây hình người (2002); Những chuyện ở lũng Cô Sầu
(2003); Ngôi nhà xưa bên suối (2008); Hoa bay cuối trời (2008) trong mối
liên hệ với các hiện tượng văn hóa, văn học khác ngoài nó Trong trường hợp cần thiết, chúng tôi so sánh với các sáng tác khác của nhà văn cũng như một
số tác giả khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài chúng tôi thực hiện đồng bộ các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Văn hóa học hình thành trên vùng tiếp giáp của các tri thức xã hội, nhân văn về con người và xã hội Nghiên cứu văn hóa như một chỉnh thể toàn vẹn với một phạm vi rộng khắp, trong đó văn hóa học văn học nghệ thuật như một tiểu hệ thống Từ cái nhìn văn hóa, chúng tôi sẽ tìm thấy mối quan hệ tương hỗ, biện chứng giữa văn hóa và văn học
Trang 148
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để thực hiện đề tài này, luận văn cần kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu dân tộc học… phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ giúp luận văn giải quyết vấn đề cần nghiên cứu được thỏa đáng
- Phương pháp tiếp cận thi pháp
Ngoài ra chúng tôi sử dụng các thao tác nghiên cứu khác như thống kê, phân loại, phân tích, khái quát, tổng hợp, so sánh và đối chiếu
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn văn hóa, luận văn làm sáng rõ hơn, đầy đủ hơn về góc nhìn văn hóa được nhà văn thể hiện qua truyện ngắn của mình, từ đó có cái nhìn toàn diện về những đóng góp của Cao Duy Sơn trong văn học dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại, đồng thời chỉ ra mạch nguồn cảm hứng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và một số phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết về văn hóa và vài nét về nhà văn Cao Duy Sơn
Chương 2: Con người và bản sắc văn hóa trong truyện ngắn Cao Duy Sơn
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người và bản sắc văn hóa trong truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trang 159
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA
VÀ VÀI NÉT VỀ NHÀ VĂN CAO DUY SƠN
1.1 Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách
hiểu khác nhau, nó liên quan đến mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần của con người Văn hóa giữ một vị trí quan trọng trong quá trình đi lên của
bất cứ quốc gia, dân tộc nào Do vậy mà UNESCO đã nhận định “văn hóa là
cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội” [32]
Đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu luận bàn về khái niệm
và định nghĩa về văn hoá, nhưng cho đến nay, người ta vẫn chưa đưa ra được một khái niệm chung nhất Hiện nay có hơn 300 định nghĩa về văn hóa và dường như theo xu hướng phát triển của xã hội thì khái niệm này còn phát triển và được bổ sung nhiều hơn nữa
Theo Từ điển tiếng Việt, “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống tinh thần (tổng quát); là những kiến thức, tri thức khoa học (nói khái quát); là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; là nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những
di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau.” [59, 1406]
Cựu Tổng giám đốc Unessco Federico Mayor có đưa ra định nghĩa về
văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của
cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ
Trang 1610
thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.” [32]
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra khái niệm tương tự: “Con
người tồn tại trong môi trường văn hóa Môi trường ấy thể hiện trong không gian và qua thời gian Cuộc sống trong ta và quanh ta thấm đẫm chất men của không gian văn hóa Cha ông ta, bản thân ta, rồi con cháu ta, sinh ra trong văn hóa, sống trong văn hóa và chết đi trong thời gian văn hóa Tất cả những cái ta
đã biết, liên quan đến con người thuộc về văn hóa, tất cả những gì chúng ta còn chưa biết liên quan đến con người cũng thuộc về văn hóa.” [60, 1]
Còn nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng cần phải có một định nghĩa thao tác luận về văn hóa Vì vậy, ông đã dày công phân tích, nghiên cứu
để đưa ra một khái niệm văn hóa mang tính tổng quát nhất: “Văn hóa là mối
quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một số cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng
tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác” [32,19]
Tháng 7 năm 1982, Hội nghị quốc tế về Văn hóa ở Mehico đã thống
nhất đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất,
văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong
xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” Khái niệm này vừa nói đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần,
vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt… về văn
hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội” [32]
Trang 1711
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh bao quanh con người, tồn tại hữu thức và cả vô thức trong mỗi chúng ta Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhất của cuộc sống cũng mang dấu hiệu văn hóa Tất cả những yếu tố thuộc về con người, mang dấu ấn của con người đều là văn hóa Bất kỳ một lĩnh vực nào cũng nằm trong văn hóa
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Có thể thấy văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ, hình tượng để thể hiện
đời sống và xã hội con người “Văn học ở thời nào cũng phải đặt trong cấu
trúc tổng thể của văn hoá, nhưng ở ta xem xét văn học và tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa hiện nay vẫn là vấn đề hết sức mới mẻ Trước đây, văn học và văn hóa bị xem xét một cách biệt lập do người ta quan niệm văn học có đặc trưng loại biệt Bây giờ đặc trưng loại biệt không phải là không còn, nhưng trong nhiều cách tiếp cận thì cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hoá đang cho thấy đây là một hướng tiếp cận có hiệu quả Cách tiếp cận này xem văn học như một thành tố trong cấu trúc của tổng thể văn hóa, nó truyền tải, lưu giữ được những giá trị văn hoá” [62, 3] Trong lịch sử văn học của bất cứ
quốc gia nào cũng tồn tại mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Đó là một mối quan hệ hai chiều khăng khít không thể tách rời Ở đây chúng tôi muốn khẳng định thêm một lần nữa mối quan hệ đó, để có thể thấy hướng tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa là cần thiết
Có một thời kì văn hóa, văn học được đặt ở vị trí ngang bằng, “được
coi là quan hệ tương hỗ”, tức là nghiên cứu văn hóa thì dùng văn học làm tư
liệu, còn nghiên cứu văn học lại dùng văn hóa để soi chiếu Gần đây, sau khi Unesco phát động những thập kỷ phát triển văn hóa cùng với thay đổi nhận thức văn hóa, các công trình của M.Bakhtin được giới thiệu, các nhà nghiên cứu đã thống nhất văn hóa là nhân tố chi phối văn học Văn hóa trở thành một
Trang 1812
hướng nghiên cứu hiệu quả Đã có một số tác giả đi theo hướng nghiên cứu này: Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy, Trần Nho Thìn…
Tác giả Đỗ Lai Thúy khẳng định: “Văn hóa là một tổng thể, một hệ thống bao
gồm nhiều yếu tố, trong đó có văn học Như vậy, văn hóa chi phối văn học với
tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Đây là quan hệ bất khả kháng Tuy nhiên, văn học so với các yếu tố khác là một yếu tố mạnh
và năng động Bởi thế, nó luôn có xu hướng đi trượt ra ngoài hệ thống Trong khi đó hệ thống, nhất là hệ thống văn hóa, luôn có xu hướng duy trì sự ổn định Như vậy, sự xung đột, sự chống lại của văn học đối với văn hóa là không thể tránh khỏi, nhờ thế mà văn học có sáng tạo Sáng tạo những giá trị mới cho bản thân nó và cho hệ thống Sáng tạo lớn thì có thể dẫn tới sự thay đổi của hệ thống” [62, 3]
Chúng ta có thể khẳng định văn hóa chính là chất liệu để văn học sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của mình, là “sân khấu” để văn học có thể thể hiện nổi bật các giá trị của mình Mặt khác, văn học lại phản ánh văn hóa, tái tạo
mô hình văn hóa qua thế giới nghệ thuật Chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của văn học trong việc định hướng cho phát triển văn hóa
Văn hoá dân gian Việt Nam phong phú, đa dạng Ta có thể thấy điều
đó qua sân khấu dân gian, tranh dân gian, âm nhạc… rõ nhất là ở văn học dân gian Có thể nói, văn học dân gian chính là nơi bảo lưu văn hóa đầy đủ nhất Nhưng sân khấu dân gian đang dần bị lấn át bởi các loại hình nghệ thuật hiện đại, các làng nghề tranh dân gian đang dần lụi tàn, các giai điệu dân gian ngày càng ít người biết đến thì văn học dân gian vẫn ghi đậm dấu ấn trong tâm thức người Việt Ở đó người Việt tìm được cội nguồn của mình, tìm được đầy đủ những nét văn hóa đẹp đẽ của dân tộc Không biết từ bao giờ văn hoá
đã trở thành “nguồn sữa”, chất liệu cho văn học “lớn lên” Ta có thể bắt gặp tục ăn trầu qua truyện cổ tích Trầu cau hay tục làm bánh trưng, bánh dầy ngày
Trang 1913
tết qua Sự tích bánh trưng bánh dầy Như vậy, các phong tục tập quán, các yếu tố văn hóa được đưa vào văn học, làm đề tài cho văn học, bảo lưu trong văn học Mặt khác, văn học lại lý giải các giá trị văn hoá, đồng thời bảo lưu chúng trong trường kỳ lịch sử Nhờ vậy mà nhiều giá trị văn hóa đã chiến thắng được thời gian đến tận bây giờ
Văn hoá thời kỳ phong kiến cũng được phản ánh sâu sắc qua các sáng tác văn học Chúng ta có thể thấy được hào quang của các triều đại phong kiến qua các tác phẩm văn học, thấy được lịch sử qua các trang sách, thấy được cha ông ta đã sống ra sao, chiến đấu thế nào… trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Qua văn học, chúng ta có thể thấy được bức tranh văn hóa của dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử Tuy nhiên, văn học không thể
phản ánh trực tiếp được văn hoá: “ mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng
kính” văn hóa, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hóa Nhờ thế mà tránh được sự phản ánh “gương”, phản ánh một cách trần trụi Và, có lẽ, cũng nhờ thế mà tạo cho văn học một lối phản ánh đặc trưng, phản ánh như người ta nói, có nghệ thuật” [62, 3]
Có người cho rằng, chúng ta có thể tìm thấy văn hóa qua sử sách, thậm chí còn rõ hơn văn học Chúng ta có thể biết người xưa ăn gì, mặc gì, sinh hoạt
ra sao một cách cụ thể Đây là điều không cần bàn cãi nhưng cũng chỉ là một phần, bởi khái niệm văn hóa có nội hàm rất rộng Sử học có thể tái hiện được những giá trị văn hóa cụ thể nhưng còn những giá trị phi vật chất Đó là điều khó có thể dựng lại được nếu chỉ qua một mảnh gốm, một lưỡi cày hay lưỡi cuốc Chẳng hạn như tinh thần yêu nước, tư tưởng nhân đạo Đó là những truyền thống văn hóa quý giá chỉ có thể thấy được rõ nhất qua hình tượng nghệ thuật văn học Đó là khả năng phản ánh tuyệt vời của văn học nếu chỉ miêu tả bằng ngôn ngữ thông thường khó có thể thuyết phục được Mặt khác, có những yếu tố văn hóa từ lâu đã không còn nữa, thời gian đã xoá nhoà nó đi mà sử học
Trang 2014
cũng không sao tạo dựng lại được, lúc đó họ phải tìm đến các tác phẩm văn thơ Đó không phải là điều ngẫu nhiên bởi từng có thời kỳ văn sử bất phân Nhờ các sáng tác đó mà các “ẩn số” lịch sử văn hoá được giải mã
Văn hoá của thời kỳ nào cũng có những chuẩn mực riêng, là thước đo cái đẹp của thời kỳ đó Ví dụ như thời trung đại coi áo the, khăn xếp là đẹp, còn người hiện đại lại coi quần jeans, áo phông… là hợp mốt Như vậy, nếu không hiểu văn hoá ăn mặc của mỗi thời kỳ, lại đem cái chuẩn này đánh giá cái chuẩn kia sẽ sai lầm Như vậy, khi thưởng thức một tác phẩm văn học, người đọc cũng phải hiểu môi trường văn hóa tác phẩm ấy hình thành mới có thể thấy được cái hay, cái đẹp của nó Bởi vậy mới nói văn hóa là “chìa khoá”
để đi vào thế giới văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung Chỉ đơn cử như việc tìm hiểu văn học nước ngoài, nếu chúng ta không hiểu văn hóa của họ
(tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, quan niệm thẩm mĩ…), chúng ta sẽ không
hiểu được văn học của họ Ví dụ việc tìm hiểu văn học Nhật Bản, chí ít chúng
ta cũng phải biết đến văn hoá Trà đạo, Kiếm đạo hay tinh thần Samurai của
họ Để cho nhân vật ngồi uống tách trà ngắm hoa anh đào nở phải hiểu nhân vật ấy đang thư thái, tâm tĩnh như mặt nước mùa thu Hay một võ sĩ nếu thua cuộc tại sao phải mổ bụng tự sát? Đó là quan niệm về danh dự của người võ
sĩ, nếu không biết văn hoá của họ có thể đánh giá sai lầm
Mỗi dân tộc đều có văn hóa riêng, nghiên cứu văn học không thông qua văn hóa sẽ dẫn đến những nhận định sai lầm, phiến diện Trong các tác phẩm
của nhà văn Hồ Anh Thái gần đây, như cuốn Đức Phật, nàng Savitri và tôi,
ngập tràn một màu sắc Phật giáo cũng như phong tục tập quán của người Ấn
Độ Nếu chúng ta không hiểu về văn hóa Ấn Độ, đặt tác phẩm trong môi trường đó thì chắc chắn người đọc không thể đánh giá hết được giá trị của nó, như tại sao các đền đài ở đây lại khắc hình nam nữ giao hoan, tại sao nhà văn
lại để giáo lý nhà Phật bên cạnh Kama Sutra Dục lạc kinh? Một vấn đề nữa về
Trang 2115
lý thuyết cần phải tìm hiểu, văn hóa không chỉ là vật chất hiện hữu, còn là những yếu tố tinh thần Những yếu tố tinh thần này không những thuộc về ý thức, còn thuộc về vô thức Ở đây người viết muốn nhắc tới Tâm phân học của C G Jung Ông đã tự tìm cho mình một hướng đi riêng khi chia vô thức con người thành ba tầng:
- Ý thức là phần nhô lên trên mặt nước của hòn đảo
- Phần chìm dưới nước là vô thức cá thể
- Cắm sâu dưới đáy biển là vô thức tập thể
Ông cho rằng vô thức tập thể là những yếu tố ẩn sâu trong tâm lý con người, do những dấu ấn nguyên thủy của cộng đồng chi phối Như đã nói ở trên, những gì thuộc về con người đều là dấu ấn văn hóa Bởi vậy khi tìm hiểu văn học theo hướng này, chúng ta cũng không thể không khảo sát tới các yếu tố tâm lý thuộc về vô thức Không chỉ vậy, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học còn thể hiện ở khả năng điều chỉnh văn hóa của văn học Có thể nói, văn hóa phát triển theo từng thời kỳ lịch sử Ở đó có những giá trị vẫn trường tồn, có những giá trị đã mất đi hay gần bị mất đi Đó là sự “thanh lọc” của thời gian Thời gian lưu lại những gì đẹp đẽ và “phủ bụi” lên những gì không còn phù hợp Sự “thanh lọc” ấy một phần nhờ vào vai trò của văn học Chẳng hạn như
tác phẩm Vang bóng một thời của tác giả Nguyễn Tuân Trước những cách
sống đẹp, tao nhã như uống trà, thưởng hoa, thả thơ… đang dần mất đi cùng sự suy tàn của triều đại phong kiến, nhà văn đã dùng văn học để bảo lưu nó Như vậy, những nét văn hóa đó sống cùng tác phẩm của ông để nhắc nhở chúng ta
về một thời quá khứ vàng son, sống mãi cùng tâm thức người Việt Một tác
phẩm được đánh giá là “kỳ thư” như Tôtem sói (Khương Nhung) cũng thể hiện
rất rõ điều này Có lẽ với nhiều nước trên thế giới thì văn hóa du mục và loài sói thảo nguyên vẫn còn rất xa lạ Chúng ta không biết rằng nền văn hóa đó đang dần bị biến mất bởi sự phát triển của đô thị, của khoa học hiện đại Tác
Trang 2216
giả Khương Nhung bằng tác phẩm của mình đã giới thiệu cho bạn đọc thế giới
về điều đó Nó như một tiếng chuông cảnh tỉnh chúng ta về sự lụi tàn của văn hóa du mục, sự biến mất của loài sói thảo nguyên, rộng hơn nữa là sự xói mòn của nhiều nền văn hóa trong cuộc sống hiện tại Nói cách khác, tác phẩm văn học qua việc phản ánh văn hóa đã tác động vào tình cảm con người, để qua đó điều chỉnh cách sống, cách ứng xử với văn hoá, điều chỉnh hành vi, lối sống văn hóa của con người Tác phẩm để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc, nhiều tri thức Tiếng sói tru dưới ánh trăng ám ảnh mỗi người Bàn về điều này,
tác giả Đỗ Lai Thuý cũng khẳng định: “Văn học không thể có ảnh hưởng tức
thời, trực tiếp đến hành động của con người mà chỉ có thể tác động đến con người với tư cách là chủ/ khách thể của văn hoá, làm cho con người biến chuyển rồi mới phát sinh hành động cụ thể” [62, 3]
Bàn về mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, chúng tôi muốn giải thích tại sao hướng nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa là cần thiết
và đúng đắn Với những gì đã trình bày ở trên, chúng tôi có thể khẳng định, nhiều tác phẩm văn học nếu chỉ tìm hiểu ở bình diện đạo đức, thẩm mĩ… thì chưa thể khám phá được hết những giá trị của nó
1.3 Nghiên cứu văn học theo hướng văn hóa
Nghiên cứu văn học theo hướng văn hóa học từ lâu trên thế giới đã vô cùng đa dạng và phong phú Có rất nhiều cách để đi vào tác phẩm thông qua các môi trường văn hóa và từ các phương diện văn hóa được phản ánh vào tác phẩm văn học qua các hình tượng văn học Trên cơ sở tổng hợp của người viết, về cơ bản, chúng ta có những hướng chính sau đây:
Thứ nhất, định hướng nghiên cứu thi pháp văn hóa, bao gồm thi pháp đối thoại, thi pháp Cácnavan kiểu M Bakhtin, nghiên cứu mẫu gốc huyền thoại kiểu Northrop Frye, trần thuật lịch sử kiểu H White, so sánh văn loại học kiểu E.Miner, phê bình văn hoá kiểu F Jameson… Về cơ bản, hướng
Trang 2317
nghiên cứu này tập trung tìm hiểu, khám phá các dấu hiệu văn hóa trong hình
thức tác phẩm văn học Chẳng hạn như việc nghiên cứu “cổ mẫu” (Archetype)
là hướng nghiên cứu tập trung vào những biểu tượng văn hóa ảnh hưởng trong
vô thức cộng đồng xuất hiện trong sáng tác văn học Mục đính của thao tác này
như C.G Jung đã từng tuyên bố: “Nỗi buồn sáng tạo dẫn đưa nghệ sĩ đi vào bề
sâu cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức mình cái nguyên tượng có khả năng
bù đắp lại cao nhất sự tổn thất và què quặt của tinh thần hiện đại” [21] Nói
cách khác, việc tìm hiểu cổ mẫu chính là tìm về cõi vô thức nơi động lực thôi thúc nhà văn viết và ảnh hưởng của nó tới việc xây dựng tác phẩm thông qua những biểu tượng văn hóa Hay hướng nghiên cứu thi pháp đối thoại kiểu Bakhtin cũng nhằm khám phá bề sâu tác phẩm trong mối quan hệ đối thoại với các văn bản khác trong đó có văn bản văn hóa Ở đây người viết muốn nhấn mạnh thêm một vấn đề: đấy chính là quan niệm của văn học đương đại coi văn bản không đơn thuần là một quyển sách hay tờ giấy cụ thể nữa mà còn bao gồm những gì thuộc về ý thức, tinh thần Nói như vậy văn hóa cũng được coi là một văn bản mà văn học trong tính đối thoại của nó cần có mối quan hệ chặt chẽ để nhằm kêu gọi tối đa ý nghĩa Tính đối thoại này trong biểu hiện của nó cũng ảnh hướng tới việc xây dựng, kết cấu tác phẩm
Thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ văn học với các truyền thống văn hóa, chẳng hạn văn học với Nho học, Đạo học, Phật học, văn hóa với thi ca, văn hóa với tư duy tiểu thuyết, sinh thái tinh thần với thể loại phóng sự… Mối quan hệ văn học với chính trị được nghiên cứu dưới góc độ văn học với văn hóa chính trị, văn học với các thiết chế văn học như nghị quyết về văn học, phê bình văn học, tổ chức văn học, báo chí… Hướng nghiên cứu này tập trung việc đưa văn học vào môi trường văn hóa với những phong tục, tập quán, tư tưởng, tín ngưỡng… Từ xưa đến nay văn học cũng như tác giả luôn đứng trong một nền văn hóa nào đấy, theo đuổi hay chịu ảnh hưởng của một
Trang 2418
vài học thuyết, tư tưởng Cho nên khi khám phá văn bản, chúng ta cũng phải
đi sâu vào những phương diện đó để khám phá những biểu hiện cũng như dụng ý nghệ thuật của tác giả Việc biệt lập tác phẩm văn học với các yếu tố khác như một “hòn đảo cô độc” đã cho thấy sự bế tắc trong nghiên cứu, bởi chỉ đi sâu vào từng câu chữ trong một số lượng tác phẩm hạn chế đã dần cạn
đi ý nghĩa Mở rộng tác phẩm sang nhiều lĩnh vực cũng phù hợp với xu thế thời đại và có triển vọng hơn
Thứ ba, nghiên cứu “văn học đại chúng” Nhiều hiện tượng văn học trước đây bị coi là văn học đại chúng, thông tục, không được nghiên cứu nay bắt đầu được tìm hiểu, chẳng hạn tiểu thuyết Kim Dung, các truyện ma Có thể nói trước kia với quan niệm cũ coi nhẹ tính giải trí của văn học, các thể loại trên chỉ được coi là “cận văn học” thì ngày nay do xu thế thời đại, sự thay đổi quan niệm cũng như sức hút của văn hóa giải trí, dòng văn học này đã được coi là văn học chính thống Trên thế giới có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều công trình viết về các sáng tác của Kim Dung Họ nhận thấy ở đó không chỉ là những yếu tố giải trí đơn thuần mà thể hiện nhiều quan niệm triết học sâu sắc cũng như mở ra một thế giới văn hóa phong phú, có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến hình thái ý thức cộng đồng Chúng ta có thể hình dung một bộ phận ngôn ngữ truyện kiếm hiệp tồn tại trong đời sống của giới trẻ bởi những nhân vật trong thể loại này luôn có sức hấp dẫn lớn, thậm chí trở thành thần tượng đối với xã hội Ở Việt Nam hướng nghiên cứu này vẫn chưa thật sự cởi mở Ngoài một số bài viết của nhà “Kim Dung học” Vũ Đức Sao Biển, chúng ta vẫn chưa thật sự mạnh dạn trong hướng nghiên cứu này
Do năng lực còn hạn chế, chúng tôi mới chỉ tìm hiểu sơ lược một số cách tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, bởi đây là một hướng nghiên cứu khá rộng và phức tạp Sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối bởi trong thực tế khuynh hướng này sẽ có sự đan xen với khuynh hướng kia
Trang 2519
Tuy nhiên, chúng tôi chọn khuynh hướng nghiên cứu thứ nhất để thực hiện đề tài của mình Thêm vào đó trong quá trình vận dụng lý thuyết để nghiên cứu đối tượng của mình, chúng tôi sẽ cố gắng áp dụng một cách linh hoạt nhất, sao cho phù hợp với đối tượng mà mình đang tìm hiểu
1.4 Đôi nét về văn hóa dân tộc Tày ở Cao Bằng
Dân tộc Tày có khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta, là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái Dân tộc Tày còn có tên gọi khác là Thổ và bao gồm cả các nhóm: Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí Phần đông người Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lào Cai, Quảng Ninh
và một số vùng thuộc Bắc Giang vv Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai và rau quả mùa nào thức đó
Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ Gia đình người Tày thường quí con trai hơn và có qui định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà Vợ chồng yêu thương nhau, ít ly hôn Đã từ lâu không còn tục ở rể
Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ tôn giáo hàng đầu của người Tày Nơi thờ tổ tiên chiếm vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất trong nhà Chiếc giường trước bàn thờ để không, khách lạ không được ngồi, nằm lên đó Ngoài ra, có những điều kiêng kị như không đặt chân lên khúc củi đang cháy trong bếp lửa hay đặt chân lên thành bếp Những người đi đám ma về chưa tắm rửa sạch sẽ không được nhìn vào gia súc, gia cầm
Nhà ở của người Tày Cao Bằng Những thường là nhà sàn, nhà đất mái lợp cỏ gianh và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng Phổ biến là loại nhà đất 3
Trang 2620
gian, 2 mái (không có chái), tường trình đất hoặc thưng phên nứa, gỗ xung quanh, mái lợp cỏ tranh, ngói âm dương hoặc tấm Prôximăng Bố trí mặt bằng sinh hoạt được quy định thống nhất qua từng vị trí trong ngôi nhà Người Tày sống định cư, quây quần thành từng bản chừng 15 đến 20 hộ, có quan hệ gần gũi với người Nùng và với người Choang (Trung Quốc)
Văn hóa ẩm thực của người Tày Cao ở Bằng có thể kể đến hàng chục loại rau rừng thường xuyên được dùng trong các bữa ăn của người Tày: rau dạ hiến hay còn gọi là rau bò khai, rêu đá, rau chuối rừng, hoa ban…Trong số đó
có rất nhiều loại du khách không thể bỏ qua khi có dịp đến đây thưởng thức hoặc mua về cho người thân Cách chế biến món ăn của người Tày cũng rất
đa dạng, vừa đem lại cảm giác mới lạ, vừa tạo mỹ quan lại có sự kết hợp hài hòa gữa các vị đắng-cay-mặn-ngọt Nhiều loại rau rừng được dùng ăn ghém như cỏ mần trầu, rau dạ hiến, rau ngót rừng… vừa bùi, thơm lại ngọt Tuy nhiên cách chế biến các món rau của người Tày chủ yếu lại là bằng cách
“xôi” Có những loại đắng-cay-chua-chát vậy mà khi kết hợp với nhau lại trở nên thơm ngon lạ thường Măng đắng ngâm với hoa ban hết đắng mà có vị chua dễ chịu, đem nấu canh cà rất “đưa” cơm Rau chuối rừng trộn thịt băm tạo vị ngọt bùi, thơm đậm… Rượu là một phần không thể thiếu Trong đời sống rượu là một nét văn hoá ẩm thực đặc sắc và gắn bó với cuộc sống của đồng bào Tày từ lâu đời Rượu của người Tày được làm bằng nguyên liệu là gạo, ngô, khoai, sắn, có khi bằng cả mật mía, chuối quả Men dùng để ủ rượu thường làm từ các loại lá rừng nên uống rất êm Với người Tày, rượu là cách để chủ nhà thể hiện lòng hiếu khách của mình Dù quen hay lạ, trước khi bắt đầu một câu chuyện bao giờ chủ nhà cũng mời rượu Có thể nói rượu của người Tày như “miếng trầu” để mở đầu câu chuyện của người Kinh Điều đặc biệt trong các cuộc rượu của người Tày đó là hiếm khi xảy ra hiện tượng quá chén dẫn đến mất tự chủ, xô xát nhau mà thường kết thúc trong sự thân ái, vui
Trang 2721
vẻ Rượu không thể vắng mặt trong các sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Tày, nó gắn với người Tày như một sự tất yếu Trong các cuộc vui chung như lễ hội, thoảng trong câu sli, câu lượn trao duyên của những đôi trai gái hay trong những điệu nhảy của các chàng trai Tày luôn phảng phất men say nồng của rượu
Người Tày thường mặc quần áo thổ cẩm, áo phụ nữ dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5 khuy Không ai rõ nghề dệt thổ cẩm của người dân tộc Tày Cao Bằng có từ bao giờ, mà chỉ biết những tấm vải thổ cẩm do chính họ dệt ra từ lâu đã nổi tiếng với những hoa văn đẹp mắt, sặc sỡ, mang đậm sắc thái dân tộc Nguyên liệu chính để dệt thổ cẩm là sợi bông nhuộm chàm và tơ tằm nhuộm màu Tuy nhiên, do giá tơ tằm đắt nên ngày nay người dệt thổ cẩm dùng len có chi phí thấp hơn để thay thế Quy trình dệt thổ cẩm hoàn toàn thủ công và chính đôi tay khéo léo và sự nhẫn nại của người phụ nữ Tày mà những tấm thổ cẩm nên hình nên dạng vô cùng đặc sắc
Từ những tấm thổ cẩm tự tạo ấy người phụ nữ Tày may thành mặt chăn, mặt địu, khăn trải giường và nhất là những bộ trang phục đặc sắc của dân tộc Nghề dệt thổ cẩm phát triển mạnh ở Cao Bằng Các sản phẩm thổ cẩm hiện nay cũng khá phong phú, đường nét, màu sắc đẹp hơn và là món quà lưu niệm
ý nghĩa mà các du khách thường chọn mua để tặng người thân và bạn bè khi
Trang 2822
vui chơi mang đậm yếu tố sân khấu Ông Then là người thuộc nhiều đường Then và có căn Then Người làm Then phải là người có Mình pang Then thích hợp cho việc làm thầy cúng, được cộng đồng tín nhiệm, nể trọng Cũng giống như Hầu đồng của người Việt, Then của người Tày mượn lời ca, tiếng đàn cùng chùm xóc nhạc dẫn đường đến với các đấng siêu nhiên để thỉnh cầu hay cảm tạ Trong Then có nhiều đường then như: Pang Khoăn, Thống Đẳm, Cấp Sắc hay Cầu Hoa… Về dạng Then cũng lắm, trong mỗi dạng lại có nhiều điệu hát khác nhau ví như cúng lễ có: Điệu khẩu tu (vào cửa trời); Pây mạ (đi ngựa); Điệu đông mèng đông quảng (vào rừng ve); gọi vía; chèo thuyền vượt khái… dùng trong các buổi Then chữa bệnh, hát hái hoa, nối số, tiêu hao tàn (dành cho người chết), Then kỳ yên giải hạn… Với dạng hát vui như: Then vào nhà mới, Then chúc thơ, Then tảo mộ, Then trong đám cưới (được đệm bằng hồ hoặc đàn tính) Trong Then đại lễ, người ta thường thấy có hát múa, hát điệu bốn, múa chầu, cùng với một số trò vui như Pắt phu (Bắt chồng), Pắt slao báo (Bắt trai gái)…về nhạc dùng cho nhạc cụ của Then trong các nghi lễ hay hội bao gồm: Khúc tính pây tàng, khúc tính tàng nặm, tàng bốc, khúc tính chầu, khúc hoà tấu đàn tính và tam thập lục, khúc hoà tấu đàn tính và hồ trung, khúc tính giã bạn Các khúc Then được tạo nên một cách có hệ thống, bài bản theo trình tự nội dung trình diễn Không gian biểu diễn, hát Then thường được trình diễn chủ yếu trong một không gian nhỏ hẹp như trong nhà (trước bàn thờ) tuy nhiên đôi khi cũng được trình diễn trong một không gian rộng như ngoài cánh đồng, phổ biến ở Lễ hội Lồng Tồng vào dịp tháng giêng, tháng hai Hát then trong sinh hoạt văn hoá thường nhật khi vui người ta mời then, khi nhà có chuyện mời Then, người có bệnh mời Then, người hiếm muộn mời Then, Then không thể thiếu trong đời sống tinh thần và tâm linh của người Tày, nó đã trở thành một trong số tín ngưỡng đặc thù của cộng đồng tộc người này Theo quan niệm của người Tày có ba tầng trời, mỗi
Trang 2923
Mường đều có người sinh sống, trần sao âm vậy và họ tin khi tiếng đàn tính cùng lời Then cất lên là lúc các ông Then đang bắt đầu cuộc hành trình với từng đường Then dẫn quan quân đi khắp ba tầng trời
Ngoài ra, lễ hội cũng là một trong những nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc của dân tộc Tày Lễ hội Lồng Tồng (còn gọi là lễ xuống đồng) là lễ hội quan trọng bậc nhất vào dịp đầu năm mới của người Tày ở cao Bằng, gắn liền với nền nông nghiệp trồng trọt, được tổ chức trong các bản làng để cầu cúng thần Nông - vị thần cai quản ruộng đồng, vườn tược, gia súc, làng bản cho được cây cối xanh tươi, mùa màng bội thu, gia súc sinh sôi, mọi người no ấm, bản làng yên lành Lễ hội Lồng Tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc Lễ hội của dân tộc Tày, Nùng ở Cao Bằng diễn ra từ ngày 2 đến 30 tháng giêng âm lịch để mở mùa gieo trồng mới (tùy theo từng địa phương) Lễ hội Nàng Hai của dân tộc Tày được bắt đầu vào tháng giêng và kéo dài đến trung tuần tháng
ba Theo tín ngưỡng dân gian dân tộc Tày thì trên cung trăng có Mẹ Trăng và mười hai nàng tiên - con gái của mẹ Mẹ cùng các nàng hằng năm chăm lo bảo vệ mùa màng cho dân Hội Nàng Hai được tổ chức với ý nghĩa tượng trưng các mẹ các nàng ở dưới trần gian hành trình lên trời đón Mẹ Trăng và các nàng tiên xuống thăm trần gian và giúp trần gian trong công việc làm ăn
để sinh sống
Đám cưới của người Tày Cao Bằng thường được tổ chức vào lúc chiều tối (tầm 4 -5 giờ trở đi) Cưới vào giờ này không ảnh hưởng đến công việc trong ngày của mọi người, người ở xa mấy cũng đến kịp Hơn nữa, mọi người
sẽ có thời gian ở chơi lâu hơn Tiệc cưới được chia làm hai tiệc Tiệc thứ nhất dành cho người lớn tuổi, bậc cha chú, anh em họ hàng Tiệc thứ hai dành cho nam nữ thanh niên, bạn bè gần xa của cô dâu chú rể Tiệc này bắt đầu vào
Trang 3024
khoảng 7-8 giờ đêm Ăn uống xong, mọi người vẫn ở lại Người lớn ngồi uống nước, hàn huyên với gia chủ Thanh niên, đám thì tổ chức lày cỏ (một trò chơi như kiểu oẳn tù tì, người thua sẽ bị uống rượu phạt), đám thì bên trai bên gái hát lượn với nhau Cuộc vui ồn ã, kéo dài thâu đêm, mờ sáng mới tan Theo phong tục, mọi chi phí tổ chức đám cưới của nhà gái đều do nhà trai lo liệu hết: tiền mặt, lợn, gà, gạo, rượu… Điều đó có ý nghĩa là nhà trai tỏ lòng biết ơn, mong đền đáp phần nào công lao dưỡng dục của bố mẹ cô gái Nhà gái sẽ trích ra một số tiền để sắm sửa tư trang, cho con gái làm của hồi môn: quần áo mới, vòng bạc, xà tích bạc, chăn màn thổ cẩm, chiếu hoa… và những
đồ gia dụng khác Còn rượu, thịt, gạo nếp, gạo tẻ sẽ dùng làm cỗ để mời họ hàng, làng xóm Tất nhiên, hai bên gia đình có thể điều đình với nhau Tùy theo gia cảnh, nhà gái có thể đòi ít hay đòi nhiều Có trường hợp, thấy nhà trai điều kiện kinh tế không mấy dư dả, nhà gái chỉ đòi một ít gọi là, cốt để tránh tiếng là con mình theo không người ta Người Tày còn có một phong tục đẹp khác Đó là tục “khẩu lẩu” (gạo rượu) Khi gia đình nào có đám cưới (cũng như những việc hiếu hỉ khác như : vào nhà mới, thôi nôi, mừng thọ, ma chay…), ngoài số tiền phong bao như thường lệ, nhiều người còn đem gạo và rượu đến Mươi ống gạo, chục lít rượu, nhiều ít tùy theo Số gạo rượu đó được gia chủ ghi chép vào sổ cẩn thận Để khi nào nhà khác có việc, mình lại đi khẩu lẩu lại người ta Đây là một hình thức giúp đỡ lẫn nhau bằng hiện vật, đỡ phần nào chi phí cho gia chủ khi nhà có công việc Thập niên chín mươi trở
về trước, khi kinh tế còn khó khăn, đặc biệt là vùng núi, vùng đồng bào dân tộc, thì việc làm đó thật có ý nghĩa Nó thể hiện tính cộng đồng rất cao của cư dân nơi đây Người Tày có câu “lắng lẩu cẩu vằn”, có nghĩa là mời khách tới
dự đám cưới phải mời trước chín ngày, không sớm hơn mà cũng không muộn hơn Điều này có lẽ xuất phát từ việc xưa kia do đi lại khó khăn, đường sá cách trở, phải mời trước như thế người được mời mới có thời gian chuẩn bị,
Trang 3125
sắp xếp công việc đến mừng Anh em, bạn bè ở xa có thể đến trước một ngày
Dự đám cưới xong còn ở chơi thêm một hai ngày nữa mới chia tay Trong thời gian đó, gia chủ tiếp đãi rất thịnh tình, chu đáo, không để điều gì khiến khách phiền lòng Điều đó cho thấy lòng hiếu khách của người miền núi Có một điều đặc biệt là lễ cưới cử hành xong, cô gái không ở lại nhà chồng mà quay về nhà bố mẹ đẻ ngay đêm đó Dù đêm đã khuya, chú rể và đại diện nhà trai vẫn phải đưa cô dâu và phái đoàn nhà gái trở về Nếu vì lý do nào đó như đường sá quá xa xôi, không thể về ngay mà phải ở lại thì đêm đó cô dâu và các cô gái phù dâu sẽ ngủ chung một phòng rồi sáng hôm sau về sớm Ngày thứ ba tính từ ngày cưới, chàng trai mới đi đón vợ về Đêm đó mới chính thức
là đêm tân hôn của hai người Tục gọi đó là lễ slam nâư (ba ngày) - hiểu nôm
na là lễ lại mặt Theo cách giải thích của những người cao tuổi thì sở dĩ có tục này là bởi trước và trong ngày cưới chú rể sẽ rất mệt mỏi vì phải lo nhiều việc, nhất là phải uống rất nhiều rượu mừng của mọi người, nếu động phòng ngay thì sẽ không có lợi Nhưng cô dâu cũng chỉ ở nhà chồng chừng dăm bảy ngày, sau đó lại quay về sống với bố mẹ đẻ Bởi theo phong tục của người Tày, khi nào con dâu có con mới được về ở hẳn nhà chồng Chính vì thế mới
có chuyện, cứ dăm bữa nửa tháng, mẹ chồng lại cho gọi con dâu về với những
lý do: giúp nhổ mạ, cấy lúa hay xay lúa, giã gạo hộ mẹ… Tóm lại là kiếm đủ
cớ để gọi con dâu về, mục đích là để đôi trẻ có dịp gần gũi nhau, để bà mau
có cháu bế Khi cô gái có mang, gần đến ngày khai hoa mãn nguyệt, nhà chồng mới đón về để sinh nở Có con rồi cô gái mới chính thức về nhà chồng, được giao chìa khóa tay hòm, gánh vác mọi công việc Ở một số huyện của tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, đồng bào Tày còn có tục cưới vắng mặt chú rể Nếu chú rể vì một lý do nào đó mà vắng mặt trong ngày cưới, nhà trai sẽ chọn một người thế vai chú rể, gọi là rể giả (khươi chả) Người làm rể giả phải là trai tân, khỏe mạnh, có đạo đức… thường là con cháu trong nhà hoặc là bạn
Trang 3226
thân của chú rể Rể giả sẽ cùng họ nhà trai đi đón dâu, cùng cô dâu ra mắt hai họ… Cốt là để cô dâu không phải lẻ bóng trong ngày cưới Tục này có từ bao giờ cũng không rõ, chỉ biết những năm đất nước còn chiến tranh, tục này diễn ra khá phổ biến Những chàng trai do bận công tác đột xuất, đi bộ đội đóng quân ở
xa, ngày cưới của mình không về được cũng không sao Ở nhà, đám cưới vẫn được tổ chức bình thường, chu đáo; mà cũng không vì thế mà mất vui Cùng sự phát triển của xã hội, nhiều tập tục trong việc cưới xin của người Tày cũng có sự thay đổi, không còn nguyên như xưa nữa, như việc bây giờ người con gái không còn phải đợi đến khi có con mới về nhà chồng, hoặc nhà gái cũng không còn đòi hỏi nhà trai quá nặng về vật chất… Việc cưới xin bây giờ ngày càng giản tiện, văn minh hơn xong vẫn giữ được bản sắc dân tộc độc đáo
1.5 Nhà văn Cao Duy Sơn
1.5.1 Cuộc đời
Cao Duy Sơn là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông cùng với những cái tên như Nông Quốc Chấn, Y Phương, Lò Ngân Sủn, Irasara, Hoàng Hà, Hà Thị Cẩm Anh đã dệt lên tấm thổ cẩm rực rỡ nhiều màu sắc cho văn học các dân tộc thiểu số Để làm nên thành công đó, nhà văn đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách trong cuộc sống để đến với đam mê văn chương của mình
Nhà văn Cao Duy Sơn tên thật là Nguyễn Cao Sơn Ông sinh năm 1956 tại Cao Bằng Ông từng là Tổng biên tập tạp chí Văn hoá các dân tộc, hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Ông sinh
ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khó ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Cha ông là người Kinh, mẹ là người Tày do vậy Cao Duy Sơn được thừa hưởng nền văn hóa của cả hai dân tộc Điều đó đã tạo nên sự phong phú trong tâm hồn của nhà văn Không chỉ vậy ông còn được sinh ra trên một vùng đất được coi là “nơi dồi dào sự sống bền lâu, nơi chất chứa bao trầm tích lịch sử”,
Trang 3327
đó là thị trấn cổ Cô Sầu Chính mảnh đất giàu truyền thống văn hóa ấy đã nuôi dưỡng và hun đúc lên một tài năng cho quê hương như Cao Duy Sơn
Nhà văn đến với nghiệp văn chương cũng thật ngẫu nhiên Học xong
phổ thông, ông xung phong lên đường vào chiến trường với ước mơ trở thành người lính, sau khi giải ngũ trở về, vì có chút chữ nghĩa nên ông xin vào làm
ở Sở Văn hóa thông tin của tỉnh Tháng 4 năm 1984, Cao Duy Sơn tình cờ được tham dự trại sáng tác do Hội Văn nghệ Tuyên Quang và tuần báo Văn nghệ tổ chức tại thị xã Tuyên Quang Đây là lần đầu tiên nhà văn được tham gia một sự kiện văn học lớn trong đời Lúc ấy, tình yêu văn chương trong ông rất lớn nhưng văn chương là gì, truyện ngắn là như thế nào thì nhà văn vẫn còn rất mơ hồ Đứng trước những cây bút lớn trong nghề, Cao Duy Sơn thấy mình thật nhỏ bé và lúng túng khi bước đầu chập chững làm quen với công
việc sáng tác Có lần nhà văn tâm sự: “Hôm đầu, các trại viên phải trình bày
đề cương sẽ viết gì Đến lượt mình, mình chợt nhìn thấy một người đàn ông nhỏ bé nhưng ánh mắt rất sáng Đó là nhà văn Nguyễn Thành Long, người nổi danh với truyện Lặng lẽ Sapa Mình cảm thấy run Ông nhắc: “Cậu trình bày đi”, mình lại càng run hơn Mình không có gì để trình bày cả, mình biết trình bày cái gì bây giờ Nhưng rồi mình vẫn cố gắng để trình bày những gì đang nghĩ Mình nói một lúc, thì “ông mắt sáng” bảo: “Cậu trình bày kịch bản điện ảnh đấy à? Thôi, ngay cả đề cương còn không viết được thì viết văn làm gì Cậu về đi” “Ông mắt sáng” dứt lời, mồ hôi mình toát ra Mình cảm thấy bẽ bàng, xấu hổ, ngượng ngùng Mình đã định xách tay nải ngược về Cao Bằng mà sống, nhưng rồi có mấy người động viên và mình quyết định ở lại” [22, 2] Câu chuyện đó trở thành bài học lớn trên con đường đến với văn
chương của Cao Duy Sơn Sau lần đó, ông đã cố gắng học hỏi và hoàn thiện
bản thân rất nhiều Ông âm thầm viết truyện ngắn Dưới chân núi Lục Vèn
Thật bất ngờ, sau đó khi tổng kết trại viết, truyện này được biểu dương Nhà
Trang 3428
văn Lê Lựu còn mang truyện ngắn ấy in trang trọng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội Đó là truyện ngắn đầu tiên, kỷ niệm với nghề viết mà nhà văn không bao giờ quên
Đến gần hơn với sự nghiệp văn chương, năm 1989, Cao Duy Sơn thi
vào Trường Viết văn Nguyễn Du và tốt nghiệp với cuốn tiểu thuyết Người
lang thang Cuốn sách này ngay sau đó đã đoạt giải A của Hội đồng Văn học
Dân tộc và Miền núi - Hội Nhà văn Việt Nam và giải Nhì của Hội Hữu nghị Việt - Nhật Sau thành công đó, khi học xong ông trở về quê nhà nhưng lại thất nghiệp mặc dù ông đã đi xin nhiều nơi mà không được
Nghiệp văn chương của Cao Duy Sơn tưởng chừng như dừng lại ở đây khi ông bất đắc chí gác bút để lao vào cuộc sống mưu sinh với nghề bán xăng Nghề buôn bán tuy vất vả nhưng đã mang lại cho ông và gia đình một cuộc sống khá sung túc Ông chấp nhận từ bỏ giấc mộng văn chương với đủ các lý thuyết, sách vở Tây Tàu cùng cơ số những kinh nghiệm mà trong suốt bốn năm học ở Trường Nguyễn Du ông đã được các thầy truyền đạt, để kiếm tiền
Thế nhưng, dường như cái nghiệp văn chương đã vận vào người Cao Duy Sơn từ lúc nào không biết, ông muốn từ bỏ mà không thể bỏ Một lần nhà văn Tạ Duy Anh lên thăm ông thấy xót xa cho kiếp chữ nghĩa quá Khi trở về Hà Nội, lão Tạ (một bút danh của nhà văn Tạ Duy Anh) đã viết một bài
về ông in trên báo Tiền Phong Lãnh đạo tỉnh đọc được và sau đó có lệnh điều ông trở lại cơ quan cũ làm việc Cao Duy Sơn định thôi không đi làm công chức nữa vì nghĩ bán xăng cũng kiếm được "nồi cơm" tươm tất cho vợ con rồi Nhưng mà, chữ nghĩa vẫn cứ đeo bám nhà văn!
Quyết định trở lại với cây bút và trang giấy, Cao Duy Sơn đã lao động miệt mài và đầy tâm huyết Ông lại bắt đầu sáng tác với tinh thần nghiêm túc
cao Ông từng nói: “Tôi, có lẽ cũng như những người viết khác cũng chỉ nghĩ
một điều, viết là viết, cặm cụi như một nhu cầu tự thân, nhọc nhằn vô cùng,
Trang 3529
chứ không phải một sự nỗ lực để đạt được giải này, giải nọ Chỉ cần tôi thấy
có một chút giống thôi là tôi đã muốn viết lại rồi Bởi vì, truyện mình viết ra, khi công bố với độc giả là không còn của mình nữa, mà độc giả rất tinh, mình
"thuổng" của ai dù vô tình hay cố ý mà bị phát hiện ra đã không còn trốn vào đâu được Lúc đó tôi chỉ muốn vứt nó vào sọt rác mà thôi Tính tôi thế, cho nên tôi thường viết rất chậm, viết rất ít, như là cách thử thách chính mình qua thời gian.” [22, 3]
Với tình yêu văn chương và tinh thần lao động nghề nghiệp nghiêm túc của mình, Cao Duy Sơn đã cho ra đời các tác phẩm có chất lượng Ông viết chậm mà kỹ Ông được đánh giá là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học dân tộc thiểu số hiện nay với nhiều giải thưởng danh giá trong và
ngoài nước Nhà văn Trung Trung Đỉnh nhận định rằng Cao Duy Sơn đã “lột
xác từ chú cầy hương thành chàng gấu Và phải công nhận chàng gấu của tôi đã trưởng thành hẳn lên bởi dáng đi lầm lũi tự tin, cách tự thể hiện mình vững vàng rắn rỏi Chú gấu say mật, say vị ngọt tinh khiết và vẻ đẹp hào hoa phóng túng của rừng, những dòng văn cứ thế từ trong cơn say toả ra tạo nên một Cao Duy Sơn mềm mại, gầm gừ, vừa “gấu” lại vừa rất lành theo kiểu gấu!” [12, 2]
Sự nghiệp văn học của nhà văn chớm nở vào năm 1984, khi ông tình cờ được đi dự trại sáng tác văn học dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang, khi ấy Cao Duy Sơn đang là phóng viên của Đài phát thanh tỉnh Cao Bằng Sau những
Trang 3630
tình huống lúng túng, ngại ngùng mà ông gặp phải trong cuộc sáng tác, ông
đã cố gắng đặt bút viết thử truyện ngắn Dưới chân núi Nục Vèn Truyện kể về
chính cuộc sống của người dân quê ông Thật bất ngờ, truyện ngắn đầu tay ấy ngay sau đó đã được in trang trọng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nó đã gây được sự chú ý lớn với nhiều độc giả và các tác giả trong hội viết
Tiếp theo đó, năm 1989 ông theo học trường viết văn Nguyễn Du và tốt
nghiệp với tiểu thuyết Người lang thang Tiểu thuyết này cũng mang lại cho
ông giải A của Hội đồng Văn học Dân tộc và Miền núi - Hội Nhà văn Việt Nam và giải Nhì của Hội Hữu nghị Việt - Nhật Nhưng sau thành công này, vì nhiều lý do mà Cao Duy Sơn ngừng viết
Sau một thời gian dài vắng bóng, ông quyết định trở lại văn đàn với nguồn sinh lực dồi dào Ông lại bắt tay vào viết và cho ra đời nhiều tập truyện ngắn cùng các tiểu thuyết có giá trị Hiện nay, các tác phẩm của ông đã được xuất bản như:
Tiểu thuyết Người lang thang, Nxb Hội nhà văn, 1992
Tiểu thuyết Cực lạc, Nxb Hà Nội, 1994
Tập truyện ngắn Những chuyện ở lũng Cô Sầu, Nxb Quân đội nhân dân,
1996
Tiểu thuyết Hoa mận đỏ, Nxb Quân đội, 1999
Tập truyện ngắn Những đám mây hình người, Nxb Văn hóa dân tộc, 2002 Tiểu thuyết Đàn trời, Nxb Hội nhà văn, 2006
Tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối, Nxb Văn hóa dân tộc, 2007 Tiểu thuyết Chòm ba nhà, Nxb Lao động, 2009
Tập truyện ngắn Người chợ, Nxb Văn hóa dân tộc, 2010
Có thể nói, Cao Duy Sơn là một nhà văn có duyên với các giải thưởng mặc dù các tác phẩm của ông không nhiều Có lẽ như ông nói mình được ăn
“lộc” từ quê hương Các tác phẩm của ông đã đoạt giải cao như:
Trang 3731
Giải A của Hội đồng văn học dân tộc miền núi Hội nhà văn Việt nam;
Giải nhì Hội hữu nghị Việt Nhật năm 1993 cho tiểu thuyết Người lang thang Tặng thưởng Hội nhà văn Việt Nam (1999) cho tập truyện ngắn Những
chuyện ở lũng Cô Sầu
Giải B của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt nam (1999)
cho tập truyện ngắn Những đám mây hình người
Giải A của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (2007)
cho tiểu thuyết Đàn trời
Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (2008) cho tập truyện ngắn Ngôi nhà
xưa bên suối
Và đặc biệt là Giải thưởng văn học ASEAN (2009) cho tập truyện ngắn
Ngôi nhà xưa bên suối Cao Duy Sơn là nhà văn thứ 13 của Việt Nam được
nhận giải thưởng Văn học Đông Nam Á danh dự này
Vậy, điều gì đã làm nên thành công trong các sáng tác của Cao Duy Sơn?
Có lẽ, đó chính là khi bước chân vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, ta sẽ bắt gặp hồn dân tộc, bản sắc dân tộc người miền núi qua những câu chuyện đầy tính nhân văn Cả đời Cao Duy Sơn chỉ theo đuổi đề tài dân tộc miền núi, ông viết như sự “trả nợ” cho quê hương Đó là sự định hướng rõ nét của nhà văn trên con đường hoạt động nghệ thuật đầy thử thách của mình Ngòi bút của Cao Duy Sơn đã vẽ lên những bức tranh sinh động về cuộc sống và sinh hoạt văn hóa của người dân miền núi, đặc biệt là mảnh đất Cô Sầu yêu dấu của nhà văn Ở đó, có những vỉa tầng văn hoá truyền thống dân tộc đã được hun đúc qua hàng trăm năm lịch sử Đó là tục lệ cưới xin của người Tày, tục lấy tên
con để gọi thay tên cúng cơm của người mẹ trong truyện ngắn Song Sinh Tục
đi chợ tình Âu Lâm vào dịp tháng Giêng để những đôi tình nhân xưa được thổ
lộ tâm tình, ôn lại kỷ niệm sau một chặng đường dài xa cách (Chợ tình) hay tục hát khai xuân vào ngày mùng một Tết trong truyện ngắn Súc Hỷ, Bên
Trang 3832
cạnh đó, nhà văn còn phản ánh hiện thực cuộc sống của người dân miền núi với bao gam màu sáng tối, thiện ác, tốt xấu, giàu nghèo phủ lên núi rừng, làng bản nơi đây Nhưng dù viết về vấn đề gì đi chăng nữa, các sáng tác của Cao Duy Sơn cũng đau đáu một tình yêu quê hương xứ sở với sự trân trọng những giá trị văn hóa cội nguồn của dân tộc
Tóm lại, Cao Duy Sơn đã để lại một sự nghiệp văn học có giá tri trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam Thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn là hai thể loại đã mang lại nhiều thành công cho tác giả Trên mỗi trang văn của mình, nhà văn luôn thể hiện sự yêu quý và niềm tự hào lớn với những truyền thống văn hóa của quê hương và có ý thức tích lũy, khám phá để "mã hóa" những vỉa tầng văn hóa nguyên bản, hồn nhiên của người dân tộc
Tiểu kết chương 1:
Ở chương 1 người viết tập trung triển khai các vấn đề về nghiên cứu văn học dưới góc độ văn hóa trên các bình diện: khái niệm, mối quan hệ giữa văn hóa và văn hóa học, các khuynh hướng nghiên cứu văn hóa cơ bản Đồng thời chúng tôi cũng muốn khái quát những đặc trưng cơ bản của văn hóa miền núi phía Bắc, cụ thể là văn hóa của dân tộc Tày để làm cơ sở khảo sát các chương tiếp theo Chương 1 này cũng tập trung tìm hiểu vài nét về nhà văn Cao Duy Sơn, cùng các quan niệm của ông về nghệ thuật, về cuộc sống
Văn hóa là một phạm trù rộng bao hàm tất cả những giá trị liên quan đến đời sống của con người về mọi mặt Việc tìm hiểu văn học dưới góc độ này khá phức tạp, đòi hỏi người nghiên cứu phải có một vốn văn hóa phong phú, nhất là trong việc tìm hiểu những yếu tố tinh thần, tâm linh Văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết Văn hóa là phông nền để cho văn học xuất hiện với sự đa dạng và phong phú Văn học được gắn với từng giai đoạn văn hóa cụ thể, phản ánh nhưng biến động, những giá trị văn hóa mang tính lịch
sử, tính thời đại, tính dân tộc Tuy nhiên văn học là một yếu tố “năng động”
Trang 3933
có khả năng tác động ngược trở lại, làm thay đổi các giá trị văn hóa Các khuynh hướng nghiên cứu văn học dưới góc độ văn hóa rất đa dạng, nhiều cấp độ Để tìm hiểu được một cách sâu sắc nhất, chúng ta nên kết hợp các khuynh hướng lại với nhau, chọn lọc những hướng đi phù hợp cho từng vấn
đề của tác phẩm
Nhà văn Cao Duy Sơn là cây bút tiêu biểu của văn học miền núi Ông
đã mang được “hồn văn hóa” của mảnh đất Cao Bằng vào trong tác phẩm của mình Đó là những nét văn hóa đặc trưng, cùng với đời sống và con người nơi đây Nó đánh dấu một bước tiến vững chắc của nhà văn trên con đường văn chương của mình
Trang 40
34
Chương 2 CON NGƯỜI VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
2.1 Vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của con người đồng bào dân tộc thiểu số
2.1.1 Con người thủy chung, tình nghĩa
Có lẽ, khi nhắc đến tính cách và tâm hồn của con người đồng bào dân tộc thiểu số, người đọc sẽ nghĩ ngay đến hình ảnh những con người mộc mạc, chất phác Đó là nét tính cách điển hình của họ Trong cái mộc mạc, chất phác đáng yêu ấy, người dân miền núi thường rất coi trọng tình nghĩa Họ luôn sống thủy chung son sắt với một niềm tin sắt đá về tình người, tình đồng bào mình Trong các tập truyện ngắn viết về đề tài dân tộc miền núi, con người thủy chung, tình nghĩa được nhà văn Cao Duy Sơn thể hiện một cách sâu sắc, thấm thía qua các trang viết đậm hồn núi của ông
Nếu ai đã từng yêu thích văn chương của Cao Duy Sơn, chắc hẳn chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy trong các tác phẩm viết đề tài dân tộc miền núi của mình, tình yêu là một chủ đề lớn trong sáng tác của nhà văn Khi viết về tình yêu, tác giả thường quan tâm nhiều hơn đến những mối tình dở dang, tan
vỡ Những đôi lứa yêu nhau thường không đến được bến bờ của hạnh phúc vì rất nhiều lý do khác nhau Thế nhưng, vượt lên sự đau khổ, mất mát ấy, các chàng trai cô gái vẫn dành trọn cho nhau một tình yêu thủy chung, son sắt Dù thời gian có đi qua và cướp mất tuổi thanh xuân, nhưng trong họ vẫn không nguôi nhớ về người yêu cũ của mình Đó là lão Sinh và mú ếm trong truyện
ngắn Chợ tình Hồi còn trẻ, Sinh và mú ếm đều xuất thân trong gia đình
nghèo khó Sinh đem lòng yêu ếm từ lâu Họ đến với nhau bằng tình cảm
chân thật và con tim chân thành: “Hồi ấy ông trời cho mình gặp ếm, mình yêu
ếm tưởng sẽ chết nếu không lấy được nhau.” [49, 71] Vậy mà tình yêu giữa