1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thể loại

105 3K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 845,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một nhà văn trẻ nhưng chị là chủ nhân của nhiều giải thưởng có uy tín, tiêu biểu là: Giải Nhất cuộc vận động sáng tác "Văn học tuổi 20 lần thứ II" do Nhà xuất bản Trẻ, Hội Nhà văn th

Trang 1

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Lý Hoài Thu - người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Công đoàn, tổ Văn - Sử - GDCD và đồng nghiệp trường Phổ thông dân tộc nội trú - Trung học phổ thông Miền Tây đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của cha mẹ, anh chị em và bạn bè Đó chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn này

Người viết luận văn

Nguyễn Thị Thảo

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Người viết luận văn

Nguyễn Thị Thảo

Trang 3

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng nghiên cứu 10

5 Phạm vi nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Cấu trúc của luận văn 11

8 Dự kiến đóng góp 11

PHẦN NỘI DUNG 12

Chương 1:CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT 12

1.1 Cốt truyện 12

1.1.1 Khái niệm cốt truyện 12

1.1.2 Cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 14

1.2 Nhân vật 26

1.2.1 Khái niệm nhân vật 26

1.2.2 Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 28

Chương 2:KẾT CẤU VÀ KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 41

2.1 Kết cấu 41

2.1.1 Kết cấu trong tác phẩm văn học 41

2.1.2 Kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 42

Trang 4

Ngọc Tư 47

2.2.1 Nghệ thuật tổ chức không gian 47

2.2.2 Nghệ thuật tổ chức thời gian 58

Chương 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 69

3.1 Ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 69

3.1.1 Quan niệm về ngôn ngữ 69

3.1.2 Những từ chỉ địa danh, địa hình, sản vật Nam Bộ 70

3.1.3 Những từ chỉ trạng thái, hành động theo kiểu Nam Bộ 75

3.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 76

3.2.1 Quan niệm về giọng điệu 76

3.2.2 Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh 78

3.2.3 Giọng điệu tâm tình, chia sẻ 82

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn trẻ được biết đến nhiều nhất tại Việt Nam hiện nay Trong suốt quá trình làm việc, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã viết rất nhiều các tạp văn, tạp bút, và truyện ngắn, không ít trong

số đó được các hội văn học đánh giá cao và trao giải Là một nhà văn trẻ nhưng chị là chủ nhân của nhiều giải thưởng có uy tín, tiêu biểu là: Giải Nhất

cuộc vận động sáng tác "Văn học tuổi 20 lần thứ II" do Nhà xuất bản Trẻ, Hội

Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ tổ chức năm 2000 với tập

truyện Ngọn đèn không tắt; Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam các năm

2001; 2004; 2006; Giải Ba cuộc thi sáng tác truyện ngắn 2003-2004 của báo

Văn Nghệ với truyện ngắn Đau gì như thể…; Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban Toàn quốc liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cho tập Ngọn

đèn không tắt Truyện ngắn Cánh đồng bất tận là một trong mười truyện

ngắn hay nhất năm 2005 do báo Văn nghệ bình chọn Chị là một trong "Mười

gương mặt tiêu biểu năm 2003” do TW Đoàn trao tặng và là một trong những

Hội viên trẻ tuổi nhất của Hội nhà văn Việt Nam

Truyện Nguyễn Ngọc Tư được Nhà xuất bản Trẻ mua giữ bản quyền Các tác phẩm của chị liên tục được tái bản và được bạn đọc đón nhận nồng

nhiệt Tập truyện Ngọn đèn không tắt đã được tái bản đến trên mười lần Đặc biệt, tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận: số lần tái bản đã lên tới mười sáu

lượt, số lượng phát hành lên tới 25.000 bản (số ấn bản cao nhất cho sách văn học Việt Nam năm 2005; 5000 bản in đầu tiên đã bán hết chỉ trong một tuần

lễ) Truyện Cánh đồng bất tận đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất của sách văn học Việt Nam năm 2006 Cánh đồng bất tận được hãng phim truyện Việt Nam mua bản quyền để chuyển thể thành phim Năm 2007, Cánh đồng bất

Trang 6

tận được dịch và xuất bản ở Hàn Quốc Với tập truyện ngắn này, tại Hội nghị

ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam lần thứ 6, khóa VI (13-10-2006) đã quyết định trao tặng giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2006 cho

truyện Cánh đồng bất tận Năm 2008 chị được trao tặng giải thưởng văn học

ASEAN Đây cũng là năm đầu tiên Hội nhà văn đề cử trao giải cho một tác giả dưới bốn mươi tuổi Đó là niềm vinh dự lớn đối với Nguyễn Ngọc Tư

Các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón đọc nhiệt tình Do đó, vì lòng yêu mến của bản thân đối với các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng như với văn học Nam

Bộ, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài luận văn là "Truyện ngắn Nguyễn

Ngọc Tư từ góc nhìn thể loại"

Việc tìm hiểu "Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thể loại"

của một tác giả trẻ như Nguyễn Ngọc Tư là một công việc đòi hỏi người viết một thái độ đánh giá khoa học Chúng tôi mạnh dạn căn cứ vào một số tập truyện ngắn đã xuất bản trong thời gian qua của Nguyễn Ngọc Tư để nghiên cứu, xem như bước đầu khảo sát thể loại truyện ngắn của cây bút trẻ này qua

một chặng đường sáng tác

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Ngọc Tư có một sự khởi nghiệp vất vả, nhọc nhằn và đặc biệt hơn các nhà văn khác Chị phải bỏ dở học hành vì ông ngoại già yếu Chị chỉ học hết lớp 9 phổ thông, cấp ba bổ túc, sống giản dị cùng người chồng thợ bạc chẳng bao giờ đọc truyện vợ viết nhưng chị thực sự là một tài năng rực sáng ở vùng cực Nam của Tổ quốc Chị cầm bút viết văn từ chính hiện thực quê nghèo với kênh rạch chằng chịt, con người đi lại đều trên mặt nước, một bước cũng phải ghe xuồng

2.1 Ý kiến đánh giá về Nguyễn Ngọc Tư và tác phẩm

Thành công của Nguyễn Ngọc Tư là tác phẩm Ngọn đèn không tắt

Trang 7

Tác phẩm đầu tay đoạt giải 3 báo chí trong năm 1997 đã chính thức đưa Nguyễn Ngọc Tư vào nghề văn với những thành công tốt đẹp tiếp theo Mặc

dù không gây xôn xao dư luận nhưng Ngọn đèn không tắt dành được nhiều

cảm tình của dư luận và các nhà chuyên môn

Khi nhắc đến những bài viết về Nguyễn Ngọc Tư trước hết phải kể đến

bài Nguyễn Ngọc Tư như thế nào? của nhà văn Dạ Ngân đăng trên báo Văn

nghệ Nhà văn từng bộc bạch: "Tôi đã viết bài Nguyễn Ngọc Tư như thế nào?

bằng tâm trạng thú vị khi nhớ đến lời khen mà người ta dành cho Solokhov:

"Trên bầu trời văn học Nga, một con đại bàng non vừa cất lên đôi cánh mênh mông từ sông Đông" [16;1] Nhà văn rất vui mừng: "Khi tập truyện Ngọn đèn không tắt vào giải Nhất cuộc thi "Văn học tuổi 20 lần thứ 2" năm 2000, ban Văn (của báo Văn nghệ) chúng tôi mới thú vị nhận ra chính Văn nghệ đã in cho tác giả ngôi sao này một truyện rất Nam Bộ (…) Nhiều tiếng khen, nhiều bài báo trong Nam ngoài Bắc phát hiện về Nguyễn Ngọc Tư, một hiệu ứng đọc ít thấy từ lâu" [16;1] Nhà văn cũng từng tâm sự: “Tôi nhớ mãi cảm giác của người trong nghề, lại là dân biên tập, tôi nghĩ hình như mình đang tiếp cận một ngôi sao không biết nó sẽ tỏa sáng đến đâu”[16;1]

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Tổng thư ký Hội nhà văn Thành phố

Hồ Chí Minh, trưởng ban chung khảo cuộc thi sáng tác văn học tuổi 20 lần

thứ II năm 2000 đã nhận xét về tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt như sau: “Tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư có truyện

Ngọn đèn không tắt là truyện ngắn nổi bật nhất Với giọng văn mộc mạc, bình dị, với ngôn ngữ đời thường đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng Tổ quốc – mũi Cà Mau của những con người mà cha ông là người tứ xứ về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả đã dày công khai phá, đã đứng lên khởi nghĩa Qua ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, những con người lam lũ, giàu bộc trực ấy chứa bên

Trang 8

trong cả một tâm hồn vừa nhân hậu, vừa tinh tế qua cách đối nhân xử thế…Ngọn đèn không tắt là tập truyện ngắn vừa hấp dẫn, vừa thuyết phục, xứng đáng đạt giải nhất trong cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ II này”[25;1]

Sau thành công ban đầu với tác phẩm Ngọn đèn không tắt, các tác

phẩm của chị được đăng liên tục trên các báo Nguyễn Ngọc Tư cho ra đời

liên tiếp các tập truyện ngắn: Ông ngoại (2001); Biển người mênh mông (2003); Giao thừa (2003); Nước chảy mây trôi (2004); Truyện ngắn Nguyễn

Ngọc Tư (2005); Cánh đồng bất tận (2005); Gió lẻ và 9 câu chuyện khác

(2008); Khói trời lộng lẫy (2010)

Nói về Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận định "Mấy

năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất

mà tinh tế, đặc biệt "Nam Bộ " một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước"[18;1]

Nhà văn Chu Lai phát biểu: "Tôi là người đã bỏ phiếu bầu Nguyễn

Ngọc Tư vào Hội Nhà văn, bỏ phiếu ủng hộ cô ấy trong nhiều giải thưởng Nguyễn Ngọc Tư là một cây viết đặc biệt của miền Tây Nam bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của Việt Nam"[13;1]

Một Việt kiều ở Mỹ, Giáo sư kinh tế Trần Hữu Dũng vì quá mê “đặc sản miền Nam” Nguyễn Ngọc Tư nên đã lập một thư viện điện tử "Tủ sách Nguyễn Ngọc Tư" trên website Văn hóa giáo dục của mình Giáo sư tự bạch:

"Tôi tự lập trang web với mục đích, trước hết, cho tôi thu thập vào một nơi những bài của (và về) Nguyễn Ngọc Tư rải rác trên web, và sau đó chia sẻ với những bạn thích văn Nguyễn Ngọc Tư như tôi" [22;1] Nguyễn Ngọc Tư

được ông đánh giá là một "đặc sản miền Nam"

Trang 9

Tháng 8 năm 2005, truyện ngắn Cánh đồng bất tận ra mắt bạn đọc, lúc

này những nhận định trái chiều về Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu xuất hiện kéo theo đó là nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét khác nhau được đăng tải rộng rãi trên các báo, tạo thành một "hiện tượng văn học" đáng chú ý năm 2005 Ngay

lúc này, nhà văn Phạm Xuân Nguyên đã tuyên bố: “Tôi muốn nói Cánh đồng

bất tận đã chia giai đoạn sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thành những truyện trước và sau nó”[20;1] Ở một bài báo khác Phạm Xuân Nguyên lại cho rằng

" Cánh đồng bất tận là một truyện hay, nó chứng tỏ bút lực của Nguyễn Ngọc

Tư trong việc đào sâu vào thể hiện cuộc sống và khơi sâu vào thân phận con người Viết được một truyện như thế chứng tỏ Tư có tài năng văn chương và

có lòng thương người Đúng vậy, thương người bằng những nỗi đau của con người, bằng cái cách nhìn thẳng vào những vùng sáng tối chồng chéo trên những khuôn mặt người và trong những cõi lòng người”[21;1]

Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng: Trước

Cánh đồng bất tận, cái hay của Nguyễn Ngọc Tư là cái hay "xinh xẻo mong manh", còn Cánh đồng bất tận đã có đột phá về bút pháp, về dung lượng

cuộc sống trong tác phẩm Ông nhấn mạnh: "Đây là một tác phẩm văn

chương chứ không phải bút kí hay phóng sự Tác giả hoàn toàn có quyền hư cấu, sáng tạo nhằm chuyển tải tốt nhất thông điệp nghệ thuật đến người đọc Đảng và Nhà nước hoàn toàn tôn trọng quyền tự do sáng tạo của người nghệ

sĩ Đây chỉ là vấn đề khó xử với một tác phẩm văn chương ( ) Nguyễn Ngọc

Tư là người tha thiết yêu quê hương, không lí gì cô lại có ý xúc phạm đến quê hương và những người dân xung quanh mình"[33]

Nhà lí luận phê bình Nguyễn Đăng Điệp trong bài tham luận ở "Hội

nghị lí luận, phê bình văn học" lần thứ II đã khẳng định: “Cánh đồng bất tận

không chỉ là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Ngọc Tư mà thực sự là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại (Đừng lo

Trang 10

Nguyễn Ngọc Tư còn quá trẻ mà ngại xếp loại, vì khi truyện ngắn này xuất hiện trên báo Văn nghệ, tác giả đã tròn ba mươi, so với Vũ Trọng Phụng khi viết Giông tố, Số đỏ…thì đã bắt đầu "già"!)" [7]

Tuy nhiên, bên cạnh những bài báo hết lời ca ngợi Nguyễn Ngọc Tư và

Cánh đồng bất tận thì cũng có không ít bạn đọc tỏ ra bất ngờ, tiếc nuối vì

Nguyễn Ngọc Tư đã "là một cơn gió mát rượi của đất phương Nam, bỗng trở

thành cơn lốc, xoáy lên, chướng lên trên cánh đồng bất tận Hay Cánh đồng bất tận đã mở ra trước mắt người đọc một thế giới khốc liệt và tàn khốc"

[17] Sau khi Cánh đồng bất tận ra đời được 5 tháng, hàng loạt sự kiện gây

xôn xao dư luận Đầu tiên là việc ban Tuyên giáo tỉnh uỷ tỉnh Cà Mau yêu cầu Hội VHNT tỉnh kiểm điểm nghiêm khắc nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Báo cáo

số 35 ngày 27/3 đề nghị Hội VHNT kiểm điểm phê phán nghiêm khắc nhà

văn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả truyện ngắn Cánh đồng bất tận Tiếp theo, ông

Nguyễn Hữu Thành, Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiếp tục kí báo cáo

số 41 ngày 12/4/2006 về việc "Đại biểu HĐND và truyện ngắn Cánh đồng

bất tận với câu chữ khá nặng nề: "Với tư cách là cán bộ, viên chức Nhà nước, đại biểu HĐND mà trả lời thiếu trách nhiệm, coi thường cơ quan quyền lực ở địa phương, làm mất uy tín HĐND, làm giảm sút niềm tin của cử tri đối với đại biểu HĐND và xem thường nông dân Việt Nam" Theo đó, báo cáo đề

nghị Đảng, Đoàn nơi Nguyễn Ngọc Tư sinh hoạt giáo dục, kiểm điểm nghiêm khắc về việc phát ngôn thiếu trách nhiệm, đề nghị Hội VHNT Tỉnh thường xuyên có định hướng chính trị cho hội viên (trong đó có Nguyễn Ngọc Tư) được học tập lí luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao ý thức

trách nhiệm của người cầm bút cách mạng

Về việc Nguyễn Ngọc Tư bị kiểm điểm, báo Tuổi trẻ đã tổ chức một

diễn đàn về Cánh đồng bất tận Các ý kiến trao đổi, phản hồi liên tục được cập nhật vào Tuoitreonline Sau năm ngày mở ra diễn đàn, đã có 868 bạn đọc

tham gia góp ý kiến, viết bài

Trang 11

Tựu trung lại, có hai luồng ý kiến:

Một bên ủng hộ lối viết dữ dội đến khốc liệt, ủng hộ việc khai thác và phản ánh hiện thực chân thực đến trần trụi như thế, nghĩa là ủng hộ một Nguyễn Ngọc Tư "mới" Còn phía bên kia, lại cảm thấy tiếc nuối vì chị đã đánh mất đi chất trong trẻo, nhẹ nhàng, đầy ân tình trong những sáng tác trước đó

Như chính tác giả thừa nhận Cánh đồng bất tận chỉ là việc "xen canh", một

ngã rẽ bất ngờ để thử thách và làm mới bản thân Sự chuyển đổi đột ngột về giọng điệu này khiến những độc giả đã quá quen thuộc với lối viết hiền lành, mộc mạc của chị bị sốc Và trong thực tế, theo dõi những tác phẩm ra đời sau

Cánh đồng bất tận, chúng tôi vẫn nhận thấy một Nguyễn Ngọc Tư của nông

thôn Nam Bộ hiền lành, chân chất nhưng ngày càng sâu sắc và ám ảnh hơn với nỗi đau, nỗi buồn man mác trước số phận những con người bé nhỏ, thiệt thòi, những mối tình lỡ dở, cùng với giọng văn bình dân, đậm chất Nam Bộ

2.2 Những bài nghiên cứu phê bình có liên quan đến vấn đề thể loại truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn gây được nhiều chú ý với giới nghiên cứu phê bình văn học bởi tài năng và phong cách rất Nam Bộ, nhẹ nhàng như không của chị Bước đầu đã có những bài viết tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư in trên các báo Chúng tôi xin được điểm qua một số bài viết và những lời nhận xét tiêu biểu

Sớm nhất và tiêu biểu nhất có thể kể đến bài viết Nguyễn Ngọc Tư, đặc

sản miền Nam của nhà nghiên cứu Trần Hữu Dũng Ông đã xem xét tường

tận và thấu đáo về truyện ngắn của chị trên cả hai phương diện nội dung và

nghệ thuật: “Trong cách chọn lựa tình tiết, cốt truyện, Nguyễn Ngọc Tư trung

thành với cái “tình tự” Nam Bộ của quê hương cô Chỉ những người sống, lớn lên ở địa phương, thật sự mến yêu họ hàng, làng xóm của mình, mới thể hiện tình tự với quê hương mình được như thế… Sự cá biệt của phương ngữ,

Trang 12

khi được sử dụng để diễn đạt những tình tự phổ quát của con người,có khả năng vạch ra cái chung của cái riêng” [5;1]

Nói về dấu ấn mà Nguyễn Ngọc Tư để lại trong lòng người đọc, theo

nhà phê bình Văn Công Hùng thì đó là ngôn ngữ: “…cái làm nên Nguyễn

Ngọc Tư còn là ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư đã thiết lập cho riêng mình một

hệ thống ngôn ngữ đặc chất Nam Bộ nhưng không dị mọ ăn theo mà tung tẩy, thăng hoa trong từng ngữ cảnh cụ thể” [10;1]

Đoàn Ánh Dương có phân tích trong bài viết Cánh đồng bất tận nhìn

từ mô hình tự sự và ngôn ngữ nghệ thuật như sau: “Tác giả đã lồng ghép hai hệ thống tự sự với ba mô hình cốt truyện trong Cánh đồng bất tận Trực diện với tác phẩm, cốt truyện sự kiện đã ít nhiều bị phân rã và cốt truyện tâm lý đã có phần lấn lướt Truyện như một bức tranh ghép mảnh những mảng kí ức chắp nối, đứt đoạn nhân vật Ở đó nhân vật tan chảy thành dòng xúc cảm hỗn độn giữa quá khứ và hiện tại, tâm cảnh và ngoại cảnh mà một

sự phục dựng đầy đủ chỉ có được khi người đọc lật đến trang cuối cùng Điều này đem đến cho người đọc cái hứng thú được thể nghiệm “một hiện thực chưa hoàn kết”, được cùng theo đuổi và trải nghiệm với nhân vật, tức

là gia tăng sự tham gia của người đọc vào câu chuyện Đó là khuynh hướng

tự sự giàu tính hiện đại”[6;2]

Ở bài viết Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, Phan Quý Bích nhận định: “Cho nên, nhiều người viết truyện ngắn thường cố tìm ra những

cốt truyện li kỳ, những sự kiện mà người ta hay gọi là đắt giá Không phải trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư không có những chân dung lạ, những sự kiện ít gặp trong cuộc sống của chúng ta vì hình như bức tranh không có chút

gì đặc biệt thì nó khó thành bức tranh của truyện ngắn Những truyện như thế không nhiều Thường thì Nguyễn Ngọc Tư cho ta biết những cái "tin" giản dị: một cô gái sửa soạn đồ mang theo trong ngày cưới, một anh bạn trẻ thấy

Trang 13

nhớ ông già hàng xóm đã đi xa Những cái tin như thế không cần đến cốt truyện li kỳ, những biến cố giật gân, mà chỉ như sự thông báo những gì diễn

ra quanh ta với những con người mà ta có thể bắt gặp thường ngày mà thôi Tuy vậy, nó vẫn là "tin", vẫn đáng chú ý vì có một cái gì đó khiến ta phải suy nghĩ, phải chiêm nghiệm Và đây mới là điều đáng nói” [3;1] Phan Quý Bích

cũng nhận thấy: “Nguyễn Ngọc Tư thường kể cho ta nghe những chuyện

buồn, rất buồn Những cảnh đời éo le, những thân phận đau đớn…” [3;2]

Trần Phỏng Diều có những nhận xét rất tinh tế về nhân vật trong

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Mặc dù phần lớn người nông dân Nam Bộ

trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đều nghèo, đều có số phận long đong, vất vả nhưng trên hết họ đã sống với nhau bằng cái tình, bằng sự yêu thương và đùm bọc lẫn nhau… Nguyễn Ngọc Tư quả có cái nhìn sâu sắc, tinh tế, có khả năng phát hiện ra những ngõ sâu trong tâm hồn những người nông dân Nam Bộ, những niềm vui, nỗi buồn, cốt cách đặc trưng cũng như bản chất cố hữu của họ”[4;4]

Đa phần các bài viết đều trên tinh thần giới thiệu một tập truyện của chị vừa xuất bản, hay phê bình một truyện ngắn cụ thể nào đó Có rất ít những bài phê bình mang tính khái quát về văn chương Nguyễn Ngọc Tư

Đa số là những bài nhận xét, đánh giá có nhiều cảm thụ tinh tế hơn là những nhận định khoa học

Hầu hết các bài viết đều khẳng định tài năng và giá trị tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư Chị là một nhà văn Nam Bộ, luôn trăn trở với cuộc sống

và số phận con người nói chung và người nông dân vùng đồng bằng sông nước nói riêng Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ có bản lĩnh, không ngần ngại động chạm đến những vấn đề phức tạp Đồng thời, có cái nhìn tinh tế, cách khai thác và thể hiện cuộc sống - con người một cách độc đáo, ám ảnh người đọc Về thể loại truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, có một số bài

Trang 14

viết đã đề cập đến, nhưng thường đặt nó trong mối quan hệ tổng thể mà ít

có những khảo sát kĩ lưỡng Tuy vậy, đây cũng là một số gợi ý để chúng tôi triển khai đề tài của luận văn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những đặc sắc riêng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ đó khẳng định những đóng góp không nhỏ của Nguyễn Ngọc Tư trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt trong thể truyện ngắn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

Nghiên cứu những phương diện cơ bản về thể loại truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

4 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các khía cạnh nổi bật của thể loại truyện ngắn: cốt truyện, nghệ thuật, nhân vật, đồng thời qua đó cho thấy nét riêng, độc đáo của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư

5 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thể loại truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua những tập truyện mang tính dấu mốc, cụ thể là các tập truyện ngắn sau:

- Ngọn đèn không tắt Nhà xuất bản Trẻ, 2001

- Giao thừa, Nhà xuất bản Trẻ, 2003

- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Văn hoá, 2005

- Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, 2005

Đây là những văn bản tập hợp những tác phẩm đặc sắc, có giá trị và tiêu biểu cho văn chương Nguyễn Ngọc Tư Tuy nhiên, luận văn cũng chú ý đến nghiên cứu những tác phẩm khác trong cả quá trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, thấy được sự vận động trong truyện ngắn của chị

Trang 15

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương pháp sau:

6.1 Phương pháp tiếp cận thi pháp học

6.2 Phương pháp loại hình

6.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

6.4 Phương pháp phân tích

6.5 Phương pháp thống kê - phân loại

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nội dung

được chia làm ba chương:

Chương 1: Cốt truyện và nhân vật

Chương 2: Kết cấu và không gian, thời gian nghệ thuật

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

8 Dự kiến đóng góp

Luận văn tập trung tìm hiểu "Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn

thể loại" nhằm mục đích: Bước đầu chỉ ra đặc điểm phong cách và những

đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư đối với nền văn xuôi Việt Nam hiện đại ở phương diện thể loại

Thực hiện luận văn này chúng tôi mong đóng góp một chút công sức cho công tác nghiên cứu – phê bình văn học Việt Nam hiện đại và đương đại

về nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư Hơn nữa, việc khảo sát và nghiên cứu thể loại truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chưa nhiều và chưa có hệ thống Do đó, chúng tôi mong muốn bổ sung thêm một số nhận định có ý nghĩa khoa học bên cạnh những ý kiến đã có về vấn đề này và đóng góp một chút công sức nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu nhà văn trẻ đầy triển vọng Nguyễn Ngọc Tư, một điểm sáng của truyện ngắn Việt Nam đương đại

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT

1.1 Cốt truyện

1.1.1 Khái niệm cốt truyện

Vấn đề cốt truyện từ xưa đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan

tâm Aristote (384-322 TCN) cho rằng: "Cốt truyện là cơ sở, là linh hồn của

bi kịch sau đó mới tính đến tính cách; bi kịch bắt trước hành động và vì vậy

nó phải bắt trước những con người hành động" [23;13] Điều đó cho thấy

Aristote chú ý tới yếu tố hành động của cốt truyện, cốt truyện là cơ sở của bi kịch Macxim Gorki thì chú ý nhấn mạnh đến sự kiện, hành động luôn thể

hiện những mối quan hệ khác nhau giữa các nhân vật: "cốt truyện là những

liên hệ, những mâu thuẫn, những thiện cảm và ác cảm và nói chung là những mối quan hệ qua lại của con người, là lịch sử phát triển và tổ chức của tính cách này hay khác" [23;13,14] Nhiều nhà nghiên cứu rất đề cao vai trò của

cốt truyện, coi cốt truyện là một yếu tố không thể thiếu trong việc quyết định thành công của tác phẩm

Sách Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên cũng viết: "Hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu

cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc loại tự sự và kịch

có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ: một mặt cốt truyện là phương diện bộc lộ tính cách; mặt khác, cốt truyện còn là phương diện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội" [9;88]

Cốt truyện được hình thành bởi các sự kiện, những mâu thuẫn xã hội, những sự tác động qua lại giữa các nhân vật trong một bối cảnh cụ thể và

Trang 17

được tổ chức có hệ thống bởi tư duy nghệ thuật của tác giả Cốt truyện có nhiều chức năng trong đó bộc lộ tính cách nhân vật và thể hiện nhiều xung đột

xã hội là hai chức năng quan trọng hơn cả Chúng ta không nên hiểu cốt

truyện chỉ giản đơn là tích truyện mà "cốt truyện là chuỗi sự kiện hữu hạn có

tính liên tục trước sau, có quan hệ nhân quả hoặc có liên hệ về ý nghĩa, vừa

có tác dụng biểu hiện về tính cách, số phận nhân vật, vừa là yếu tố gây hấp dẫn cho người đọc" [26;65] Trong một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, cốt truyện

luôn giữ vị trí "xương sống", nó liên kết các chi tiết, các sự kiện và tạo thành

một hệ thống Bởi vậy, trong cuốn sách Truyện ngắn - những vấn đề lí

thuyết và thực tiễn thể loại, tác giả Bùi Việt Thắng cũng khẳng định: "Cốt truyện là một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống

và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề tư tưởng tác phẩm" [33;70]

Cốt truyện hiểu theo cách truyền thống là: “hệ thống sự kiện cụ thể

được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [9; 70-72] Hệ thống các sự kiện có vai trò thể

hiện những biến cố quan trọng, đảm bảo sự mạch lạc của diễn biến câu truyện gồm giai đoạn chính: mở đầu, cao trào, và kết thúc Nhưng cốt truyện trong văn xuôi hậu hiện đại đã không còn giữ vị trí độc tôn nữa, nó bị xóa bỏ bởi quan hệ nhân quả, phá hủy tính hiện thực, những yếu tố không thể thiếu của cốt truyện theo quan niệm truyền thống Vai trò của cốt truyện bị mờ nhạt:

"Thay vì duy trì tính thống nhất trong trình tự thời gian và nhân quả của chuỗi

sự kiện gắn với hành động của nhân vật chính, tự sự tan vỡ thành một chuỗi lắp ghép các phân đoạn, các mảnh vỡ của cuộc đời nhân vật chính Thay vì triển khai tự sự bám vào cuộc phiêu lưu của nhân vật, nhà văn lại biến tự sự

Trang 18

trở thành cuộc phiêu lưu của cái viết - sự chắp ghép ngẫu nhiên các mảnh vỡ - những sự kiện phân tán rời rạc" (Trịnh Bá Dĩnh) Nhà nghiên cứu văn học hậu

hiện đại Barry Lewish cũng nhấn mạnh: "Cốt truyện bị nghiền nát thành từng

viên nhỏ của biến cố và hoàn cảnh, nhân vật được phân tán thành một bó khát vọng và nhức nhối" Nền văn học thế giới, cùng với sự ra đời của chủ

nghĩa hậu hiện đại, đã chứng kiến nhiều sự thay đổi trong kĩ thuật tự sự, trong

và giao hòa lẫn nhau Cách nhìn nhận, đánh giá của chúng tôi chỉ mang tính chất phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này

1.1.2 Cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua bốn tập truyện, chúng tôi nhân thấy một số ít truyện được viết theo truyện có cốt truyện, còn đa số là truyện không có cốt truyện

1.1.2.1 Truyện có cốt truyện

Về phương diện kết cấu và quy mô về nội dung, cốt truyện của Nguyễn Ngọc Tư thường là cốt truyện đơn tuyến, hệ thống sự kiện được kể đơn giản

về số lượng và rất gọn gàng, ít nhân vật và tính cách nhân vật thường được

mô tả một cách rất tập trung và cô đọng, nhiều khi chỉ là một lát cắt của cuộc sống được phản chiếu hay chỉ một đoạn đời nào đó của nhân vật chính được quan tâm mà thôi Qua khảo sát nhìn chung có thể kết luận, đa số truyện ngắn của chị có cốt truyện khá mờ nhạt Truyện bắt đầu từ một trạng thái tĩnh, ổn định, sau đó xảy ra mâu thuẫn, xung đột rồi lại trở về trạng thái thăng bằng

Trang 19

như ban đầu, kết thúc một quá trình phát triển của các xung đột Truyện chia giai đoạn như đã đề cập ở trên Nhưng chúng ta cũng nhận thấy, không phải bất cứ cốt truyện nào cũng bao hàm đầy đủ ba giai đoạn như thế, hoặc vị trí giữa các thành phần có thể hoán đổi Có thể kể đến một vài truyện ngắn có cốt

truyện tiêu biểu như: Bến đò xóm Miễu, Chuyện vui điện ảnh,

Bến đò xóm Miễu là tác phẩm tiêu biểu của truyện có cốt truyện

Truyện được xây dựng dựa trên số phận, hành động, biến cố của nhân vật chính, truyện có đầu cuối rõ ràng

Phần mở đầu: tác phẩm giới thiệu khái quát đặc điểm các nhân vật: Lương là chàng trai nghèo, xấu xí, má mất sớm, không biết cha là ai Anh làm nghề chèo đò mướn ở bến đò xóm Miễu Đã ba mươi mốt tuổi rồi mà

chưa lấy vợ Anh có con mắt mất đoàn kết "nhìn lại, người ta tưởng anh ngó

đi đâu", suốt ngày anh "hềnh hệch ra" cười, làm như vui, làm như không, khó nắm bắt" [44;85] Còn Bông là một người mê chơi sông, nhà cũng ở bên

xóm Miễu Bông thường mặc cái áo trắng bằng vải soa lông vịt, hơi ố vàng;

tan học "Bông cùng một bầy em lít chít đi mót cây vụn ở các trại xuồng về

nấu cơm" [44;85] Nhà Bông cũng nghèo như nhà Lương, má Bông bơi

xuồng vớt chai nhựa dưới sông, ba nó thường hay nhậu xỉn rồi đánh má nó Lương biết Bông từ ngày Bông còn đi học Phần này tác giả chỉ giới thiệu về cuộc đời, mối liên hệ của hai nhân vật Lương và Bông Những sự kiện, biến

cố chưa được đề cập tới

Phần cao trào: khởi đầu cho sự vận động của mâu thuẫn, xung đột là việc Lương bắt đầu thích Bông Và Bông bỏ học, "từ mai, nó vẫn qua đò, nhưng nó đã khác, con Bông đã khác", nó đi bán bia ở quán "Đêm sầu", bên kia cầu Chính sự kiện này đã thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện với nhiều tình tiết xảy ra liên quan đến hai nhân vật này Cũng nhờ thế, Lương có cơ hội bộc lộ được tấm lòng của mình với Bông Còn Bông sẽ bộc lộ được những

Trang 20

góc khuất của tâm hồn, tính cách Chính phần này đã đánh dấu điểm khởi đầu của một mối quan hệ tất yếu sẽ phát triển giữa Lương và Bông

Cũng ở phần này đã thể hiện rất nhiều sự kiện, biến cố liên quan đến Bông với sự chứng kiến hàng ngày của Lương Đó là hình ảnh thay đổi của Bông khi từ quán bia trở về lúc hai giờ sáng: "quần áo xốc xếch, tóc mai dính bết vào khuôn mặt dày son phấn Đôi mắt dại đi vì say, vì mất ngủ, người sềnh sệch mùi bia" Có lần, Bông xòe trên tay, quạt phơ phất trước Lương

một nắm tiền, rồi cười chua xót "tui giàu rồi nè" Bông thở than "chừng nào

có người cưới tui thân tui còn gì kén chọn nữa" [44;88] Chính câu nói ấy

đã làm Lương hy vọng biết bao nhiêu với nhiều dự tính Anh xin cây vụn về đóng một cái hộp đựng tiền nho nhỏ, Lương giấu nó đi để không ai trông thấy, anh cũng chưa nói được gì với Bông Nhưng rồi chính Bông lại làm anh thất vọng, Bông nói trước "chắc tui bỏ nghề, tui lấy chồng" Bông sẽ lấy một

ông già "con Bông hám tiền ráng kêu ông ngoại đó bằng anh" [44;88] Lương

chết lặng trước tin ấy nhưng vẫn phải gượng cười Rồi Bông lại có chuyện xảy ra, vợ ông già kia cùng bầy con đến nhà đánh ghen Bông bị "rọc nham nhở mái tóc dài", bị "xé quần áo", và bị "lột sạch những đồ trang sức đang đeo" Lương đã chủ bụng làm đắm đò đám người ấy khi họ về qua sông Bữa

đó Bông cảm động, gọi Lương theo đúng tên của anh chứ không kêu là

"khùng", là "đò" nữa Bông đã nhận ra tình cảm mà Lương dành cho mình, nhưng con người Lương thật thà, nhút nhát, chẳng dám cầm tay hay ôm người mình yêu thương Vậy là những ngày sau đó Bông lại dửng dưng qua đò như chưa hề có chuyện gì với Lương Để Lương lại phải chứng kiến Bông đi với

một thằng con trai mới "trẻ măng, quần áo thơm, đầu tóc thơm, chiếc xe phân

khối lớn nổ tè tè ra đám khói cũng thơm" [44;91] Cuộc đời trớ trêu cứ xô đẩy

Bông vào hết vòng xoáy này đến vòng xoáy khác

Đỉnh điểm của phần này là sự việc "một chiều Lương đưa Bông tươi

Trang 21

hồng qua sông" rồi nhận lại tin Bông bị tai nạn giao thông "một vụ tai nạn giao thông thảm khốc xảy ra trong cuộc đua xe" [44;91] Sau tai nạn ấy, Bông

không còn có thể đi được trên đôi chân của mình Sự kiện này đánh dấu điểm dừng trên con đường sống xô bồ, ê chề của Bông, đó cũng là cơ hội để Lương tháo gỡ được mối tơ vò trong lòng mình

Phần kết thúc: Bến đò xóm Miễu đã thay đổi chủ, Lương vẫn mải miết chèo đò Bông bây giờ đã là vợ của Lương, Bông ngồi trên bến để thu tiền Người lạ qua bến nhìn Bông xinh đẹp, tươi hồng rồi đọ với vẻ mặt già háp

của Lương mà tiếc hùi hụi, "tiếc đôi đũa mốc gác lên mâm son, tiếc bông nhài

thơm mà cắm nhầm bãi cứt trâu" [44;92] Nhưng người dân xóm Miễu thì

thấu hiểu hơn, họ nhận ra tấm lòng cao thượng của Lương, sự thiệt thòi của

anh khi "cưu mang đứa con gái đã lỡ lầm còn tàn tật" [44;92] Nhưng đã

thương rồi thì đâu cần toan tính, tình yêu trong sáng, chân thành của chàng trai nghèo khổ, xấu xí ấy đã đem lại cho truyện một kết thúc đầy tính nhân

văn: "chớ biết làm sao, lỡ thương quá chừng rồi" [44;92]

Từ câu chuyện của chàng trai nghèo làm nghề chở đò qua sông, Nguyễn Ngọc Tư như hé lộ một thông điệp rất nhân văn trong tình cảm con người Dù chỉ là người lao động bình thường như bao con người khác nhưng tấm lòng của Lương thật đôn hậu, cao cả Lương thương Bông đến

thắt cả gan ruột: "Người ta đưa đẩy cuộc đời Bông thế nào Nhưng thế nào

thì Bông chắc cũng giãy dụa, quặn đau như nước ở ngã ba Vàm vậy" Cưu

mang Bông bằng tấm lòng chân thật đúng với bản chất con người Nam Bộ

"yêu ai thì yêu đến hết mình"

Bến đò xóm Miễu chưa hẳn là truyện ngắn hay nhất của Nguyễn Ngọc

Tư, cũng chưa phải là sự thành công nhất của chị trong việc tổ chức cốt truyện Nhưng nhà văn đã chú ý xây dựng những sự kiện, hành động của nhân vật, đôi khi là nghịch lí, khác thường để gửi gắm những thông điệp về tình

Trang 22

nhân ái, yêu thương giữa người với người Truyện đọng lại những ấn tượng khó quên trong lòng người đọc khi gấp trang sách lại

Chuyện vui điện ảnh cũng là truyện có cốt truyện Cốt truyện của

truyện được xây dựng bằng những sự kiện bi hài, tạo nên sức lôi cuốn cho người đọc

Phần mở đầu: tác phẩm giới thiệu về những người sống ở hẻm Cựa Gà

"hẻm văn hóa Một trăm mười lăm" [41;26] Họ sống bằng đủ nghề "tay mặt"

từ cán bộ công chức tới cán bộ về hưu, từ công nhân cho đến bán bắp luộc,

thiến heo và nghề "tay trái" của họ là đóng phim Trong số đó, chú Sa "làm

bảo vệ kiêm thêm trồng bông xén cỏ ở hãng phim truyền hình thành phố, người rất quý bà con trong xóm"[41;26] Chính chú là người đầu tiên rủ mọi

người đi đóng phim Chú từng đóng vai một người nông dân "đó là vai có da

có thịt, mặt mày rõ ràng nhất của chú" [41;27]

Phần cao trào: Sau khi giới thiệu về hoàn cảnh nảy sinh xung đột dẫn đến con đường phát triển của các sự kiện cơ bản, tác phẩm mở ra đầu mối của những xung đột, những nghịch lí trớ trêu đánh dấu bằng sự kiện chú Sa được mời tham gia đóng "vai lớn" trong phim nhưng đó lại là vai ác để nhận năm triệu đồng Sự kiện này làm xôn xao xóm Cựa Gà, đảo lộn cuộc sống êm đềm của chú Sa Sự kiện này làm thay đổi cái thế tĩnh ban đầu, lôi cuốn chú

Sa và những người dân xóm Cựa Gà cùng tham gia vào xung đột: sự nhầm lẫn giữa nhân vật người diễn viên hóa thân trong phim với con người thật ngoài đời Các sự kiện, biến cố xảy ra trong xóm khi chú Sa tham gia đóng phim và bộ phim được phát trên truyền hình được thuật lại rõ ràng và chi tiết Khi mới biết tin chú Sa được đóng vai lớn, cô Thư ủng hộ hết mình, cô lấy sữa hột gà nóng đem qua cho chú Sa bồi dưỡng Bà con trong chòm xóm cũng

ủng hộ chú hết mình: "Tối tối mọi người còn kéo đến nhà, đọc thuộc lòng kịch

bản, vô vai cho chú diễn thử luôn" [44;28] Chú được ông Long Xưởng khen

Trang 23

ngợi hết lời: từ hồi tôi làm đạo diễn tới giờ, chưa diễn viên nào đóng hay như

thế" [41;29] Chú " Sa đã" nổi tiếng khi phim còn làm hậu kỳ" Vui nhất là

khi chú thấy cô Thư cũng có tình ý với chú: "không biết người ta nổi tiếng rồi

có còn ghé chỗ em nữa hen?" [41;31] Chú sống trong niềm vui và hạnh phúc

Nhưng chuyện lại không chiều lòng người Khi bộ phim được trình chiếu, mọi người trong xóm háo hức đón xem Đó là bộ phim chiến tranh bạo liệt Chú đóng vai ác quá và vào vai cũng rất thật, cứ như là chú sinh ra để đóng vai này Trẻ con sợ hãi khóc thét lên, người lớn không nói gì, lẳng lặng

ra về Chú nhận thấy mình "đã đánh mất một cái gì đó, lớn lắm, quả tình

không có gì bù đắp được" [41;32] Những biến cố xảy ra với chú dồn dập, tạo

ra bầu không khí căng thẳng trong xóm, chờ một sự thay đổi

Đỉnh điểm của phần này là khi bộ phim gây tiếng vang, đám diễn viên chuyên nghiệp có phần kiêng nể chú nhưng chú lại trở thành cô độc khi trở về nơi thân thuộc của mình Mọi người nghĩ chú chính là nhân vật trong phim đi

ra cuộc sống bên ngoài Họ xa lánh chú, trẻ con sợ hãi khi gặp chú "tụi con nít

nghe tiếng xe đạp chú lè tè lọc cọc thì chắc mẫm đứa nào đứa nấy mặt xanh mặt tím chạy vô nhà trốn" [41;34] Người bạn chí cốt như bác Tư Cự cũng

lánh chú Con Mẻn vùng vằng với cô Thư: "mai mốt đừng cho ổng ghé đây

nữa nghen má? Con thấy mặt ổng là con ghét" [41;33] Như vậy, sự kiện

chú nổi tiếng trên màn ảnh không phải là chuyện tốt mà là tai nạn nghề nghiệp

của chú, "tiền bạc có lúc xây đắp được tình yêu đâu" [41;33]

Phần kết thúc của truyện là cảnh cô Thư và chú Sa bắc ghế ngồi cửa

trước "giả bộ nhìn trời đất thực ra là nhìn nhau" [41;35] Mọi người vẫn chưa

chịu hiểu và thông cảm cho chú Giờ đây chú chỉ biết sống với những kí ức ngọt ngào trước đây về tình cảm giữa chú với bà con, với "giọt nước mắt" buồn tủi của cô Thư và "cái bóng cô" ngồi trước của để nhớ nhau Sau những biến cố căng thẳng, cốt truyện trở lại thế tĩnh tại khi "chú Sa đã thấy niềm vui cháy le lói trở lại" [41;35]

Trang 24

Cốt truyện trong Chuyện vui điện ảnh thật giản dị, xoay quanh sự

kiện chú Sa đóng phim nhưng sự vận động của các sự kiện, biến cố lại cho thấy nó được xây dựng từ cốt truyện với đủ ba thành phần Với tư cách là hình thức động, cốt truyện đã lôi cuốn sự chú ý của người đọc bằng lối vận động, phát triển của sự kiện Qua đó cũng gửi gắm được thông điệp về tình người, cách nhìn nhận về bản chất con người trong mối quan hệ giữa cuộc sống thực với nghệ thuật

Việc xuất hiện truyện có cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chứng tỏ tài năng của chị trong xây dựng cốt truyện và sự đa dạng, sáng tạo trong nghệ thuật trần thuật

1.1.2.2 Truyện không có cốt truyện

Khái niệm về truyện không có cốt truyện mang tính ước lệ và quy ước cao đánh dấu sự cách tân nghệ thuật lớn của các nhà văn hiện đại ở lĩnh vực tự sự Truyện không có cốt truyện có những biến thái tinh vi với

sự đan cài phức tạp tự sự với trữ tình và những miêu tả đời sống nội tâm nhân vật Ở loại truyện này, nội dung của nó chỉ được cảm nhận trực tiếp

mà khó có thể kể lại được Đặc điểm nổi bật của truyện không có cốt truyện là sự giảm bớt tối đa những sự kiện quan trọng trong những thời điểm có tính chất bước ngoặt của hành động bên ngoài của nhân vật và sự phát triển của cốt truyện Các nhà văn giai đoạn 1930 - 1945 là những người gặt hái thành công với những sáng tác không có cốt truyện (tiêu biểu như Thạch Lam), sau này là Nguyễn Huy Thiệp

Truyện không có cốt truyện của Nguyễn Ngọc Tư có những biểu hiện chủ yếu như: nó có thể chỉ là những truyện đời thường vặt vãnh, hoặc một nét tâm trạng, một tình huống, một hoàn cảnh của nhân vật Những sáng tác như thế bắt nguồn từ cái nhìn của nhà văn về hiện thực và con người:

"Nguyễn Ngọc Tư đã trung thành với cái "tình tự" Nam Bộ của quê hương

Trang 25

cô” [5;2], chị thường viết về những câu chuyện nhỏ xíu ở xung quanh mình,

viết về những con người ở đất Mũi Có thể kể đến những sáng tác tiêu biểu

như: Một mối tình, Duyên phận so le, Cái nhìn khắc khoải, Thương quá

rau răm, Cuối mùa nhan sắc, Cải ơi, Huệ lấy chồng, Nhớ sông, Dòng nhớ, Ngổn ngang, Biển người mênh mông

Cải ơi là truyện ngắn tiêu biểu cho truyện không có cốt truyện dựa trên

những truyện đời thường vặt vãnh Chúng ta khó có thể tìm thấy ở đây những

sự kiện lớn lao của một cốt truyện lắt léo, phức tạp Nguyễn Ngọc Tư đã tập trung khai thác những tình huống đời thường mà lại chứa đựng những triết lí nhân sinh sâu sắc Truyện kể về ông già Năm Nhỏ phải chịu tiếng oan là giết con riêng của vợ, khi Cải làm mất đôi trâu, sợ bị đánh đòn nên bỏ trốn Ông

đã đi tìm con bé gần mười hai năm, ông đã đi tới rất nhiều nơi nhưng người đông, đất rộng, mỏi chân mà ông vẫn chưa tìm thấy Ông xin làm chân sai vặt trong đoàn ca múa nhạc, bán kẹo kéo, trụ lại ở ngã ba Sương Nhiều đêm, ngã

ba Sương khắc khoải trong tiếng "Cải ơi" của ông Sau nhiều lần tìm kiếm thất bại, ông đã nghĩ ra một hạ sách là đi ăn cắp trâu để được lên truyền hình

để nói với con là ông đang đi tìm nó Cuộc đời với những ngang trái, trớ trêu khiến ông Năm phải phiêu bạt tìm con để tự minh oan cho mình Dù phải lặn lội khắp nơi nhưng ông vẫn kiên nhẫn tìm con Ông ăn cắp trâu để mong được lên truyền hình "bêu riếu", muốn thông qua đó để nhắn tìm con, nhưng trớ trêu thay, cái câu mà ông đã phải tốn nhiều công sức nghĩ ra, cái câu quan trọng nhất mà ông muốn nói lại bị cắt đi, không được phát lên truyền hình Ấn tượng đọng lại trong lòng người đọc là số phận một con người đau khổ nhưng tràn ngập tình yêu thương, tâm hồn vô cùng cao thượng Cái cao thượng, đẹp

đẽ của ông đến tự nhiên như thể mùa gió chướng đến hẹn thì phải về, như thể làm người thì nhất định phải như thế

Một mối tình là truyện mang nhiều dáng dấp và đặc điểm của kiểu

Trang 26

truyện không có cốt truyện của Thạch Lam nhất Nó đơn giản đến mức chẳng

có gì để kể ngoài một điều: Đây là một mối tình thầm lặng mà dữ dội của nhân vật “tôi”, với khát khao cháy bỏng được làm vợ người mình thương, được sống một cuộc đời đơn giản mà hạnh phúc trong căn nhà xưa cũ kĩ Những cái gọi là “sự kiện nội tâm” của nhân vật chủ yếu xoay quanh những tình cảm của nhân vật “tôi” dành cho Trọng Tâm lý nhân vật không phức tạp

và cũng không có sự chuyển biến dữ dội nên cốt truyện khá lỏng lẻo, nhưng

nó có độ nén do hình ảnh căn nhà xưa của Trọng được nhắc đi nhắc lại, được

“nhớ dằn nhớ vặt” trong tâm thức của nhân vật “tôi” Dòng nội tâm của nhân

vật cứ đều đặn trôi chảy và cuối cùng “tức nước vỡ bờ” trước sự lạnh lùng đè nén của người đàn ông đành bất chợt tuôn ra không kiềm chế nổi

Thương quá rau răm là câu chuyện nhẹ nhàng nhưng chứa đựng trong

nó triết lí nhân sinh sâu sắc Truyện kể về cuộc sống, con người nơi vùng đất tận cùng Tổ quốc Đó là một cù lao "nằm hiu hắt, lâu lâu mới thấy bóng dáng một con tàu lớ ngớ chạy vào rồi lại tẽn tò quay ra vì lầm đường, vì không biết đằng sau cù lao, sông cụt" Con người nơi đây gần như sống khép kín, tách biệt với thế giới bên ngoài Ông Tư Mốt đã chứng kiến cái chết của ông bạn láng giềng nên tha thiết mong muốn có một bác sĩ về đây làm việc, chữa bệnh

cho mọi người Ông nói với các gia đình trong xóm "bất cứ người xứ lạ nào

đến làm việc ở đất cù lao đều quý, mình phải đối xử cho tử tế, thiệt tử tế"

[45;19] Ông cũng dùng tình cảm chân thành để giữ chân người bác sĩ trẻ tên

Văn ở lại: "ông nghĩ mình có cách, không có gì sâu nặng bằng tình cảm người

với người" [45;19] Nhưng cuối cùng họ cũng ra đi hết bởi cuộc sống ở đây

buồn tẻ quá: "nửa khuya ngồi ăn mì gói, nghe cú kêu lẫn tiếng radio khọt khẹt

(để chút âm thanh ấy cho đỡ quạnh), vạch đi vạch lại tờ báo cũ mèm, họ sực nhớ phải về quê lấy vợ, lấy chồng, sực nhớ vợ mình mới sinh, sực nhớ tội nghiệp ba má đã già Và họ đã từ giã cù lao" [45;19] Rồi đến lượt Văn nữa,

Trang 27

anh cũng ra đi, đi mà không từ giã ông một lời để lại trong lòng ông nỗi đau

nuối tiếc "trưởng ấp Tư Mốt đứng ở trạm xá, thấy sau trước trống không,

trong lòng nghe đau tiếc như vừa thua một ván bài lớn" [45;25], "ông thấy mình chùng chình, vớ được khúc cây bình lát, ông chống vào đất Bên ngoài cái đất Mút Cà Tha dường như đã có sự thay đổi lớn Thí dụ như con cá, lá rau, hạt gạo mến thương của người cù lao không ràng buộc được một con người (như đã từng rịt chân ông lại), thì cái bóng nhỏ nhoi của đứa con gái đang tuyệt vọng đứng ngóng chờ dưới bến không có ý nghĩa gì sao? Tuyệt không đáng gì à?" [45;25]

Chúng ta khó có thể tìm thấy ở truyện ngắn này những sự kiện lớn lao của một cốt truyện lắt léo, phức tạp Trong truyện này, thời gian vận động của cốt truyện bị cắt ngang, ghép nối bởi cách chiếm lĩnh đời sống theo khoảnh khắc Tính cách các nhân vật cũng vậy, nó không có quá trình bộc lộ và phát triển mà dường như tồn tại sẵn có trong đời sống Tấm lòng của ông Tư Mốt với đất và người cù lao cứ tự nhiên như dòng chảy của sông, không ồn ào mà nặng trong từng cử chỉ, lời nói Truyện cũng không có biến cố gì nổi bật, ngay

cả khi Văn theo đám bạn bỏ về thành phố không một lời từ biệt

Tác phẩm đã đề cập đến một vấn đề rất đời thường của cuộc sống nhưng người đọc cảm nhận được từ đây tấm lòng nhân hậu của con người vùng đất mũi, Họ không sống bằng triết lí màu mè, cao sang gì mà bằng chính tấm lòng yêu thương chân thành với đất và người quê hương, mong muốn làm được điều tốt cho cuộc sống của bà con mình

Nhớ sông là truyện ngắn xây dựng bằng chuỗi cảm xúc của Giang

khi nhớ về câu chuyện của gia đình mình Cấu trúc của truyện không chặt chẽ, tạo điều kiện cho truyện có độ co giãn linh hoạt, phù hợp với việc thể hiện tâm trạng, tình cảm của Giang khi nhớ về sông gắn với câu chuyện buồn của gia đình mình

Trang 28

Dòng nhớ đầu tiên của Giang về con sông Cái lớn là hình ảnh má Giang ngã xuống dòng sông ấy và mãi mãi không trở về khi cô mười tuổi:

"Giang nhớ hoài, nhớ ràng ràng cái ngày đó" [44;110] Giang gặp hoài nỗi

đau của ba: "rồi khi hai đứa con gái ông sinh ra những đứa con chúng lại

phải sống cuộc đời lênh đênh như má chúng, ông nghĩ, đó là những buổi chiều, ghe đi qua thị trấn, qua phố huyện, giờ tan học, nhìn đám học trò túa

ra cổng trường, đám học trò áo lem mực, tay kẹp nách cái cặp, tay mang bình nước, mắt ông Chín cháy âm âm một cái gì đau đáu" 44;112] Vì thế, Giang

phải lấy chồng Nhưng khi phải xa cuộc sống sông nước thì Giang không sao

quên được: "trời ơi, con nhớ ghe quá trời đất đi" [44;114] Cơm nước, dọn

dẹp xong nếu hở ra giờ nào Giang thường lấy xuồng chèo đi giờ ấy, "chèo khơi khơi vậy" thôi chứ có vì cái gì đâu Bởi Giang nhớ sông và không thể xa

sông "chưa đầy con trăng đã thấy Giang khăn gói về bến Xã Xiệu Giang lần

theo mấy chiếc ghe bạn hỏi thăm rồi quá giang họ về" [44;116] Thấy con gái

như vậy, ông Chín quyết định bán ghe về quê để làm vườn Ông đi cả đời đã mệt rồi Ông cũng không muốn con cháu mình cứ lênh đênh mãi cảnh sông nước, cứ phải sống mãi với kí ức buồn đau về cái chết của vợ ông

Truyện là dòng chảy tâm lý đầy suy tư của các nhân vật trong truyện Các chi tiết ở đây đều rất nhẹ nhàng, không có những tình tiết giật gân, kịch tính Hành động bên ngoài của nhân vật rất ít, chủ yếu là hành động của suy nghĩ, tâm tưởng Nó lôi kéo người đọc vào những miền kí ức buồn, nỗi niềm nhớ sông đến khắc khoải của Giang cùng những đau đớn, day dứt của người cha khi nghĩ đến người vợ xấu số, nghĩ đến tương lai của những đứa con Ở truyện này, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện hướng tiếp cận đời sống qua chiều sâu tâm tưởng nên cốt truyện không có những sự kiện li kỳ, không theo trật tự các thành phần của truyện có cốt truyện

Ngổn ngang cũng là truyện ngắn đầy ắp tâm trạng Điều đó được gợi

Trang 29

mở ngay từ nhan đề của truyện Truyện là sự đan xen giữa cảm xúc hiện tại và quá khứ của nhân vật tôi, giữa những suy tư về nghề nghiệp, về cuộc đời với những suy tư về tình yêu, sự đan xen giữa độc thoại và đối thoại đã tạo được dấu ấn đậm nét cho kiểu truyện không có cốt truyện

Truyện là lời kể của Viên với má mình về chuyện tình yêu của cô Giọng kể nhẹ nhàng nhưng thấm đẫm ưu tư Truyện không có sự kiện gay cấn, đột biến bất nghĩa mà chỉ là những dòng chảy cảm xúc đan xen giữa quá khứ và hiện tại

Viên nhớ lại những kỉ niệm mà cô đã có với người yêu "phòng Bảo, cái

ban công nhà Bảo, với tôi, có cái gì đó vấn vương thiêng liêng Chỗ này, ngày xưa ba Hậu tôi Chúng tôi thường hôn nhau rất vội" [44;95,96], và cả cái

giây phút bẽ bàng khi cô phát hiện mình bị lừa dối "Từ đằng xa thấy Bảo âu

yếm hôn một cô gái dưới ban công Ủa, lạ lùng thiệt, người con gái ấy không phải là mình Tôi không biết là Bảo thích một cô gái da trắng, tóc dài chứ không mạnh mẽ, bụi bặm như tôi" [44;96] Truyện chủ yếu được kể qua lời

độc thoại nội tâm của Viên cùng với việc xáo trộn thời gian của các sự kiện góp phần thể hiện chiều sâu nội tâm của nhân vật Khi mối tình với Bảo tan

vỡ, hi vọng ở Nguyên không còn thì Viên vẫn bộc lộ mình bằng ý nghĩ, cảm

xúc: "Tôi về ngồi ngay chỗ gạch cửa nhổ tóc bạc cho má tôi Tôi không nói gì

hết vì sợ mình để rớt nước mắt lên đỉnh đầu đã trống huơ của má tự dưng tôi thèm được dốc hết lòng yêu thương ai đó để chia sẻ, dìu dắt nhau đi trên con đường đời ngổn ngang mà vì một nỗi niềm đam mê nào đó tôi đã đánh mất rất nhiều" [44;99] Truyện đã chứng tỏ tài năng của Nguyễn Ngọc Tư

trong việc thâm nhập vào ngõ ngách sâu kín của nội tâm con người

Như vậy, khái niệm truyện không có cốt truyện có thể được hiểu là sự thay thế của những sự kiện, những xung đột lớn lao ở một cốt truyện có những cao trào, đỉnh điểm bằng những câu chuyện đời thường mỏng manh, tẻ nhạt

Trang 30

hàng ngày Nhưng chính những câu chuyện như thế lại ẩn chứa trong nó những triết lí nhân sinh sâu sắc Từ đó, chúng ta nhận ra truyện không có cốt truyện là sản phẩm chứng tỏ tài năng xây dựng cốt truyện của Nguyễn Ngọc Tư

1.2 Nhân vật

1.2.1 Khái niệm nhân vật

Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì vậy, Tô

Hoài đã có lí khi cho rằng "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy,

giải quyết hết thảy trong một sáng tác"

Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay

sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm

Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm Cám, Thúy Vân, Thúy Kiều, chị Dậu, anh Pha ), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan, mụ quản gia ) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình - ta trong ca dao )

Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn

dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn, người

ta thường nói đến nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh

Trang 31

và hòa bình của L Tônxtôi, ca cao là nhân vật chính trong Ðất dữ của G

Amađô, chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của Nguyễn

Công Hoan Tuy vậy, nhìn chung, nhân vật vẫn là hình tượng của con người trong tác phẩm văn học

Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng

là ngôn từ Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó

Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm

Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình

mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống Chính

vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc

đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên; Chị Sứ trong Hòn Ðất )

nhưng cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những

vấn đề của hiện thực cuộc sống Betông Brecht cho rằng: "Các nhân vật của

tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả"

Trang 32

Tóm lại: Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên Nhân vật văn học rất phong phú, nó có thể là loài vật, đồ vật… nhưng chủ yếu là con người Sự thể hiện nhân vật cũng ở những hình thức rất

đa dạng Dù nhân vật là thế giới loài người hay loài vật nó đều có vai trò rất quan trọng trong sáng tác của nhà văn, nó làm nên linh hồn của tác phẩm

1.2.2 Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư thường viết những câu chuyện nhỏ xảy ra ở xung quanh mình, về cuộc sống và con người vùng đất Mũi Nhân vật trong tác phẩm của chị không chia ra nhân vật chính diện hay phản diện, không có nhân vật lí tưởng, nhân vật tư tưởng hay tính cách Nhân vật trong sáng tác của chị

là con người rất đời thường, có tốt, xấu, hay, dở Họ ở xung quanh chúng ta Điểm nổi bật ở nhân vật của chị là họ đều là những con người nghèo khó, sống phiêu dạt nay đây mai đó vì miếng cơm manh áo Dù là nông dân hay nghệ sĩ hát cải lương thì cuộc đời họ vẫn hay gặp những bất trắc, những long đong khốn khó Họ là con người của những bi kịch, luôn phải đấu tranh để hoàn thiện mình trong sự tồn tại những mặt đối lập tốt - xấu Trong phạm vi

đề tài này, chúng tôi xin được trình bày khía cạnh nổi bật nhất về nhân vật cũng như nghệ thuật khắc họa nhân vật trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư

1.2.2.1 Hình tượng người lao động nghèo vùng sông nước Nam Bộ

So với tác phẩm của những nhà văn Nam bộ đi trước như Hồ Biểu Chánh, Trang Thế Hy, Sơn Nam, cái nhìn của Nguyễn Ngọc Tư về người nông dân mới lạ và có ý nghĩa bổ sung Truyện của chị đa phần hướng tới những tình cảnh gia đình nghèo, đề cập đến số phận buồn đau của những con người nhỏ bé, dù họ là nông dân hay người nghệ sĩ Qua khảo sát bốn tập

truyện: Giao thừa, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận,

Ngọn đèn không tắt, chúng tôi thấy tỉ lệ những truyện trực tiếp nói về cái

nghèo là 49/51, những truyện có nhân vật chính trong tác phẩm là người nông

Trang 33

dân chiếm tỉ lệ 33/51 Điều đó cho thấy Nguyễn Ngọc Tư đã giành cho những con người bình dị này một mối quan tâm rất đặc biệt Họ đi vào trang văn của chị là những con người hiền lành, chăm chỉ nhưng cái đói, cái nghèo vẫn cứ quấn lấy họ Họ lăn lộn với đủ nghề để mưu sinh Họ có thể chèo đò như

Lương trong Bến đò xóm Miễu, nghề nuôi vịt chạy đồng như ông Hai trong

Cái nhìn khắc khoải hay cha con Nương, Điền trong Cánh đồng bất tận;

nghề hát rong như chú Đời trong Đời như ý; nghề gánh nước thuê như Tiên trong Nửa mùa, nghề đẻ thuê như Lành trong Làm mẹ; nghề lặn đất thuê như ông già Tư Nhỏ trong Đau gì như thể; nghề làm ruộng như ông ba già trong

Lỡ mùa; nghề bán dưa như Điệp trong Giao thừa; nghề buôn bán trên ghe

như cha con ông Chín trong Nhớ sông

Dù làm đủ mọi nghề để kiếm sống song những người nông dân trong

truyện ngắn của chị vẫn nghèo: "Nhà Lương nghèo, chỉ là cái chòi rách tả tơi,

từ ngày đi chèo đò suốt ngày quần quật trên sông mà bộ mình khẳng khiu chỉ độc cái quần xà lỏn dính dầy nhựa trong cái thời làm sai vặt ở các trại xuồng Bến đò Đậu đỏ qua xóm Miễu sang đi nhượng lại qua tay bốn người chủ Mà, Lương vẫn còn nghèo" [44;84] "Thằng Hết được, hiền, giỏi giang, chịu khó lại hiếu thảo Nhưng nó nghèo quá, thân sơ thất sở không một cục đất chọi chim" [44;23]

Nương và Điền trong Cánh đồng bất tận cũng sớm chịu nhiều khổ đau,

bất hạnh Chứng kiến mẹ ân ái với người đàn ông không phải cha mình đã ám ảnh hai chị em suốt quãng đời sau này, để rồi Điền không thể trở thành người đàn ông bình thường Cũng chính vì điều này mà người mẹ hổ thẹn đã bỏ đi còn cha chúng trở nên tàn nhẫn và lạnh lùng Hai chị em đã phải chịu sự lạnh lùng, hắt hủi của người cha, cùng ông lang thang từ cánh đồng này sang cánh đồng khác, phải tự chăm lo cho mình và học mọi thứ mà không có sự chỉ bảo của cha và mẹ Cuối cùng Điền bỏ đi còn Nương bị hãm hiếp ngay trước mặt

Trang 34

cha mình Có thể nói đây là sự bất hạnh cùng cực, ngang trái nhất trong chuỗi bất hạnh mà cô bé phải chịu đựng từ khi hạnh phúc gia đình cô tan vỡ

Người cha trong Dòng nhớ, vì nặng lòng thương người đàn bà không

được gia đình đồng ý, ông đã cùng người đàn bà này bỏ đi, sống kiếp thương

hồ Cuộc sống nay đây mai đó của họ vô cùng cực khổ: "hai người đã trải

qua biết bao nhiêu cơ cực, nào là gặt mướn, làm cỏ lúa, đắp bờ mới có được một ít vốn, ba tôi sắm cái Koler xuống dẫy bán hàng bông Họ sống nghèo lắm" [41; 51]

Nhân vật Giang trong truyện ngắn Nhớ sông dù đã có chồng và ở hẳn

trên bờ nhưng vẫn không sao quên được những năm tháng sống cùng cha và

em trên ghe, tuy cực khổ, chật chội nhưng ấm áp và vui vẻ Vì vậy nên dứt

khỏi sông rồi thì Giang như người mất hồn, nó sống với chồng mà “lòng dạ

nó ở đâu á”, hở ra giờ nào là nó lại hối hả chèo đi, chèo khơi khơi vậy rồi tấp

vào một bụi lá nào đó, ngồi ở đó một chút rồi chèo về Nhưng cuối cùng Giang phải vì cha mà bỏ sông, ông Chín vì tương lai con cháu mà bỏ sông, vì yêu thương nhau mà họ tự nguyện từ bỏ điều mình yêu thương Cuộc sống thương hồ lênh đênh rày đây mai đó, chịu nhiều thiệt thòi so với những người trên bờ nhưng nó cũng có cái thú vị riêng, những tâm tình riêng mà chỉ những người trong cuộc mới thấu hiểu được

Truyện ngắn Thương quá rau răm lại phơi bày một hiện thực buồn

thảm và nghèo nàn của nông thôn Nam bộ, đặc biệt là những vùng cù lao

xa tít "nằm gần cuối sông Dài" như Mút Cà Tha Ở đây thiếu trầm trọng

những dịch vụ chăm sóc y tế tối thiểu, thiếu trầm trọng đội ngũ y bác sĩ, thiếu thuốc men, những người trí thức trẻ về được một thời gian rồi sẽ lại

ra đi Người cù lao rất cần và quý bác sĩ, họ níu kéo bằng tất cả tình thương nhưng vẫn không giữ được chân người Những đứa trẻ lớn lên, đi học thành tài rồi thì cũng không muốn quay trở lại cái xứ "khỉ ho cò gáy" này nữa

Trang 35

Nổi lên trong truyện là những trang viết buồn thảm: "Bên đường thấp

thoáng nhiều nấm đất con con của những đứa trẻ kiệt sức vì bị đẹn mà chỉ được rơ miệng bằng cỏ mực, những đứa trẻ bị bệnh sốt xuất huyết chỉ chữa bằng cạo gió, uống nước mía lau rễ tranh, những đứa trẻ mắc thương hàn

bị thủng ruột vì tự do chạy ra vườn ăn ổi chua, ổi chát… Những gò đất ấy

đã cũ mèm rồi, bây giờ người cù lao hiểu biết nhiều rồi, nhưng vẫn còn chuyện rủi may, còn người bị rắn độc cắn, chết trên đường ra bệnh viện huyện" [45;18] Họ đã phải trả giá cho sự nghèo khổ, cho nơi sinh sống

heo hút của mình bằng chính mạng sống của họ Tuy nhiên, cuộc sống dù còn tăm tối vì thiếu ánh sáng văn minh nhưng không làm vơi đi tình thương của ông già Tư Mốt với Mút Cà Tha này Tình cảm của ông với cù lao xa vắng, khép mình như ốc đảo này chính là tình cảm của con người với xóm làng, với mảnh đất quê hương, với nơi "chôn rau cắt rún" của họ

Viết về đề tài nông thôn nhưng Nguyễn Ngọc Tư không bó hẹp người

nông dân với đồng ruộng, khi đất bị thu hẹp dần, chị còn đặt người nông dân

vào những môi trường rộng lớn hơn, xa lạ hơn: đó có thể là ở thành phố, ở tỉnh,

ở chợ… để làm nổi bật sự lam lũ, sự thua thiệt, rủi ro của người nhà quê so với

những người thành phố Truyện ngắn Giao thừa hé mở cho chúng ta thấy cuộc

sống khó khăn, nhọc nhằn của những con người từ ruộng ra phố bán dưa Tết, bán bông Tết Công việc cực nhọc đầy may rủi, mà nguy cơ lỗ vốn luôn chực chờ Họ đều phải bươn chải nhọc nhằn trong cuộc mưu sinh, họ luôn phấp

phỏng với nỗi lo "dưa trúng mùa cả núi vầy ăn gì cho hết", "năm nay chắc thua

rồi" 41;68-69] Cảnh những quầy hàng bán dưa, bán bông trên bãi đất xác xơ

trống trải đối lập với những toà nhà cao tầng lộng lẫy, ngất ngưởng khiến người nông dân không khỏi tủi cho thân phận của mình Nhưng những con người lam

lũ ấy vẫn lạc quan trong tình yêu với cuộc đời Niềm vui của Đậm khi có Quý

ở bên giúp đỡ trong khung cảnh sắp giao thừa gợi cho người đọc bao cảm xúc

Trang 36

Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư dù trong đói nghèo lam lũ nhưng biết vươn lên, khao khát hạnh phúc và tình yêu Họ biết tìm cho mình một lối sống, một cách

để yêu thương, để tự tin trước cuộc đời

Cuộc sống nghèo khổ được Nguyễn Ngọc Tư nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau Khi là sự thiếu thốn vật chất, khi là nỗi nhục nhã đớn đau vì phải phơi bày sự nghèo khó của mình Nghèo thường đi đôi với khổ Khái niệm

"đời như ý" có lẽ không bào giờ đúng đối với những người nghèo Chú Đời

trong truyện ngắn Đời như ý là một người mù, phải ca cải lương, bán vé số

để nuôi sống gia đình gồm một người vợ bệnh tật nửa điên nửa tỉnh và hai đứa con gái nhỏ Vì hi vọng đời là "như ý" nên chú đặt tên các con của mình

là Như và Ý Nhưng cuộc đời đã chẳng như ý, đến một ngày chú không còn khả năng lao động và không thể chăm lo cho những người mình yêu thương, chú đành phải chủ động sắp xếp một cuộc chia lìa, đành đoạn bán đi một đứa con Ở đây, cái nghèo không chỉ đọa đày thân xác con người mà nó còn là nguyên nhân dẫn đến sự chia cắt tình yêu thương và những bẽ bàng đau đớn

Đói nghèo thường là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật, đẩy người dân đến tình cảnh đã nghèo lại càng nghèo hơn Vì muốn có tiền chữa bệnh cho con

mà ông Chín trong truyện ngắn Nhớ sông đã phải bán ruộng, bán vườn, bán

nhà cửa đất đai, để rồi cả gia đình phải lênh đênh trên một chiếc thuyền sống trên sông nước nay đây mai đó kiếm kế sinh nhai Cũng vì thế mà vợ ông mất

sớm vì một tai nạn bất ngờ trên sông nước Anh Hết trong Hiu hiu gió bấc

cũng vì cái nghèo mà đành tuột mất người yêu Hết yêu chị Hoài nhưng vì

anh nghèo "không một cục đất chọi chim" mà mẹ Hoài không đồng ý, bà đã

đến khóc lóc, xin anh để chị đi lấy người khác Từ đó anh phải nhập vai một người bê tha, ham cờ bạc đến nỗi không chịu làm ăn, không chăm sóc cha… mục đích là để chị Hoài chán anh mà nghe theo lời mẹ đi lấy chồng Chú Đời

trong truyện ngắn Đời như ý phải bán đi đứa con gái yêu để lấy tiền chạy

Trang 37

chữa cho vợ Nhưng thật trớ trêu, con thì đã bán mà bệnh của vợ cũng không khỏi Mất vợ, nhớ con, vì đau khổ nên chú sớm lìa bỏ cuộc đời…Biết bao nỗi cực khổ, biết bao thiệt thòi, bất hạnh, bao tình yêu tan vỡ có nguyên nhân sâu

xa từ cái nghèo

Như vậy, người nông dân trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư hiện lên một cách chân thực, sinh động Cuộc sống khó khăn, vất vả nhưng người dân

Nam Bộ vẫn cố gắng vươn lên, chống chọi với số phận: "Cô thấy mình giống

cỏ ven đường, người ta đi qua đạp, đi lại đạp vẫn ngoi lên sống, sống cỗi cằn, những mùa lam lũ, những mùa cực nhọc, một mình chồng chọi" [41;69]

1.2.2.2 Những con người nghĩa hiệp, vị tha, giàu đức hi sinh

Hầu hết các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đều là những nhân vật có cuộc sống nghèo khổ nhưng ở họ lại chan chứa tình yêu thương giữa con người với nhau Họ giúp đỡ nhau, cưu mang nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn mà không nề hà gì

Ông Hai trong Cái nhìn khắc khoải đã cưu mang người đàn bà bị

chồng bỏ rơi khi chị không biết đi đâu về đâu mặc dù cuộc sống của ông cũng rất khó khăn Công việc nuôi vịt chạy đồng vốn bấp bênh và không cố định nhưng ông vẫn giúp đỡ chị, cho chị ở nhờ, luôn tôn trọng chị Thấy chị làm việc nhiều, ông rầy la Ông dựng cho chị cái nhà tắm bằng lá dừa, mua cho chị đôi dép mới Biết chị còn thương người chồng cũ đã bỏ chị mà đi, ông cất công tìm giúp và chỉ nơi chồng chị đang ở để chị đến với chồng Sau khi chị

đón tàu về với chồng, ông nhìn theo với "cái nhìn khắc khoải", cái nhìn đó

chứa đựng nhiều điều ông muốn nói mà không thể nói ra với chị

Út Vũ trong Cánh đồng bất tận cũng đã từng cho một người phụ nữa

quá giang, người này sau đó là vợ của ông và là mẹ hai đứa con ông Ông

đã yêu thương người phụ nữ này hết lòng bằng những hành động chăm sóc

ân cần Ngày ngày ông xếp những cục đá tảng dài theo lối đi ra vườn, ra

Trang 38

bến để suốt một mùa mưa chân vợ ông không dính sình bùn Nối tiếp hành động nghĩa hiệp của cha, Nương và Điền cũng đã cưu mang Sương khi cô cùng đường

Nhân vật Lương trong Bến đò xóm Miễu cũng là người có mối thâm

tình và lòng hào hiệp Anh yêu và lấy Bông dù hiện tại Bông là cô gái tật nguyền không có khả năng làm vợ "một nửa chi dưới bất toại", dù qua khứ Bông đã từng làm ở quán bia, làm gái bao, từng bị đánh ghen Tình yêu của anh bị mọi người gọi là khùng nhưng anh không thấy buồn, anh hạnh phúc khi được sống với người mình yêu

Tấm lòng và tình cảm của ông Mười đối với dì Thấm và đứa con riêng

của liệt sĩ Nguyễn Thọ trong truyện Mối tình năm cũ đã gây nhiều bất ngờ và

làm xúc động bao người Khi đoàn làm phim về liệt sĩ Nguyễn Thọ đến, ông Mười tìm cách né tránh, kiên quyết không cho vợ tham gia, bởi ông sợ khi nhắc đến chuyện cũ vợ ông lại buồn Bà con chòm xóm chê trách, nói rằng ông, hẹp hòi, ghen tuông cả với người đã mất, rằng ông không yêu thương con riêng của vợ Lặng lẽ, âm thầm ông chịu mọi điều tiếng bởi ông yêu

thương dì Thấm thật lòng, "yêu thương thằng bé bằng chang con ruột của ông

đó chớ" Ông chỉ sợ một điều, khi kí ức kia được khơi dậy, nỗi đau trong lòng

vợ ông bị khoét sâu thêm Khi cảm nhận được sự tri âm, đồng cảm của trưởng đoàn ông đã đưa vợ đến tận đoàn phim tham gia, lúc đó mọi người mới hiểu Ông nhận mọi sự chê trách về mình miễn là vợ con ông được hạnh phúc, nụ cười lại trở về trên khuôn mặt dì Thấm

Tinh thần nghĩa hiệp không chỉ xuất hiện ở đàn ông mà còn có ở cả phụ

nữ Nhân vật má tôi trong Dòng nhớ là một người như vậy Biết chồng mình

suốt đời mang trong tim mình hình bóng người phụ nữ khác, bà cũng buồn, cũng ghen nhưng vượt lên tất cả những điều nhỏ bé đó, bà vẫn bỏ công sức đi tìm người phụ nữ kia dù biết đó không phải là việc đơn giản Bà muốn người

Trang 39

ấy hiểu rằng chồng bà dù không sống với người ấy nữa nhưng đã suốt đời nhớ thương cô Bà hi vọng việc làm nhỏ bé của mình phần nào bù đắp sự thiệt thòi của hai con người đáng thương yêu nhau mà không được ở bên nhau Bà còn mong muốn người phụ nữ đó đồng ý sau này khi qua đời sẽ nằm cạnh ông để ông được thanh thản Đây quả là một nghĩa cử cao đẹp hiếm thấy

Nước chảy mây trôi cũng là một câu chuyện về sự cao thượng trong

tình yêu Diệp yêu thầy Nhiên, nhưng thầy Nhiên lại yêu mẹ Diệp, cô gọi tiếng "ba" mà lòng trào dâng cảm xúc tình yêu chứ không phải tình cha con

Cô quyết định đi xa để cho những người mình yêu thương được hạnh phúc trọn vẹn Diệp sớm trưởng thành trong suy nghĩ so với lứa tuổi của cô

Tiêu biểu cho những nhân vật nghĩa hiệp, vị tha, giàu đức hi sinh là

hình ảnh ông Chín trong Cuối mùa nhan sắc Ông đã bao bọc và giúp đỡ mẹ

con đào Hồng mỗi khi họ gặp khó khăn bằng tình yêu cả cuộc đời mình Khi đào Hồng có mang, cha ruột đứa bé im lặng thì ông lại nhận mình là cha của đứa bé để người yêu mình không bị mang tiếng dù ông biết tình cảm đào Hồng không dành cho mình Lúc Trường Khanh - người mà đào Hồng yêu và dành cả cuộc đời mình để chờ đợi - đến tìm, ông vẫn nói với bà bởi ông biết

bà mong gặp ông ấy đến dường nào Hành động của ông thật nghĩa hiệp Ông không ích kỉ mà ngược lại ông hiểu chỉ cần người mình yêu được hạnh phúc

là ông mãn nguyện lắm rồi Ông đã giấu đi nỗi buồn và day dứt của mình để

bà được hạnh phúc trọn vẹn Ông đã làm một việc có ý nghĩa là thay thế đứa con nói lời tha thứ cho bà để bà được ra đi trong thanh thản

Ông Tư Nhớ trong Đau gì như thể đã giang rộng vòng tay cưu mang

cô Cúc và đứa con trong bụng của cô Rồi cô lại bỏ ông với cái Nga - con của

cô - ở lại để ra ngoài xóm chợ ông vẫn cưu mang Khi Nga có thai, dân làng đàm tiếu, ông bị nói là đã hại đời con bé Ông nổi quạu đùng đùng nhưng vẫn không hề oán giận hay trách mắng Nga Ông lo lắng động viên lúc nó khó

Trang 40

khăn nhất Ông đối xử rất tốt với Nga và con của cô Việc làm của ông xuất phát từ trái tim nhân hậu và bao dung mà không phải ai cũng làm được

Tấm lòng hào hiệp của những con người giàu lòng trượng nghĩa, khi gặp những số phận bất hạnh, những mảnh đời éo le, họ sẵn sàng giúp đỡ mà không so tính thiệt hơn là một nét tính cách đặc trưng của con người Nam Bộ Nét đẹp tâm hồn ấy đã được Nguyễn Ngọc Tư khắc họa thành công qua các nhân vật của mình

1.2.2.3 Hình tượng người phụ nữ vùng sông nước Nam Bộ

Nhà thơ Huy Cận từng viết:

" Chị em tôi toả nắng vàng lịch sử

Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ "

Có thể nói, ngày nay, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được đề cao, tôn vinh Họ đã được giải phóng khỏi xã hội đầy bất công, ngang trái, giành lại vị trí xứng đáng của mình Họ đi vào những trang văn với nhiều góc nhìn khác nhau Trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cũng vậy, đó là những người từng yêu đến đắm say nhưng lỡ dở, là những người yêu đơn phương thầm lặng, những người đàn bà giàu tình cảm, giàu đức hi sinh nhưng lại bất hạnh, họ còn là những người phụ nữ thủy chung và mạnh mẽ, những người khát khao được làm mẹ, và những người phụ nữ bị bỏ rơi và trôi dạt Chị viết

về họ không chỉ là với tư cách một nhà văn với nhân vật của mình mà chị viết

về họ với mối đồng cảm sâu sắc giữa những người phụ nữ

Trong Duyên phận so le, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng một hình ảnh

Xuyến - người được mệnh danh có cuộc đời buồn nhất So Le Vì yêu hết mình và vì dòng đời trôi dạt, Xuyến trở thành tiếp viên của một nhà hàng ở mũi So Le Ở đây cô đã gặp được tình yêu của mình nhưng cô không thể đáp lại tình cảm của họ Bởi tình yêu duy nhất cô đã dành cho bé Bi - đứa con mà

cô đã để dưới gốc cây điệp già của một gia đình hiếm con Ngày ngày cô nhìn

Ngày đăng: 23/07/2015, 18:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Đoàn Ánh Dương (2006). "Cánh đồng bất tận" nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật. HTTP://tieuluan-hopto-org. Tháng 8/2006 7. Nguyễn Đăng Điệp. Văn trẻ có gì mới. Báo Văn nghệ số 41 ngày8/10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2006
13. Chu Lai. Đối thoại với "cánh đồng bất tận". Báo Tuổi trẻ, ngày 12/4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cánh đồng bất tận
14. Hoàng Thiên Nga (2005). Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua “Cánh đồng bất tận”. Báo Văn nghệ ngày 13/8/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận
Tác giả: Hoàng Thiên Nga
Năm: 2005
15. Dạ Ngân. Nguyễn Ngọc Tư: Điềm đạo mà thấu đáo. Http://www.tuoitreonline.com.vn. ngày 12/04/2004 16. Dạ Ngân (2006) May mà có Nguyễn Ngọc Tư.Http://www.tuoitreonline.com.vn. ngày 06/4/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: May mà có Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Dạ Ngân
Nhà XB: Http://www.tuoitreonline.com.vn
Năm: 2006
17. Đỗ Hồng Ngọc (2005). Tiếng thở dài của "Cánh đồng bất tận". Http://www.tuoitreonline.com.vn ngày 30/11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận
Tác giả: Đỗ Hồng Ngọc
Năm: 2005
20. Phạm Xuân Nguyên (2005). Cánh đồng bất tận dữ dội và nhân tình. http://vietbao.vn ngày 03/12/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận dữ dội và nhân tình
Tác giả: Phạm Xuân Nguyên
Nhà XB: Việt Báo
Năm: 2005
24. Minh Phương. Đọc sách "Nước chảy mây trôi", tập truyện và bút kí mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư. Báo Nhân dân, tháng 5/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước chảy mây trôi
30. Kiệt Tấn. Cái rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. HTTP://www.viet- studise.info/NNTu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Kiệt Tấn
31. Ngô Thị Thanh. Mô típ "tha hương, lưu lạc" trong "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư. Báo cáo khoa học, khoa Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tha hương, lưu lạc" trong "Cánh đồng bất tận
32. Bùi Việt Thắng (2000). Truyện ngắn - Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại. NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn - Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
33. Hữu Thỉnh (2006). "Người đọc bắt được sóng của trái tim và tài năng", Báo Tuổi trẻ, ngày 12/4/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đọc bắt được sóng của trái tim và tài năng
Tác giả: Hữu Thỉnh
Năm: 2006
35. Đỗ Nguyên Thương. Đôi điều cảm nhận về "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư. Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, tháng 8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận
48. Lê Vĩnh Trang. Hãy nâng niu và trân trọng một nhân tài. http.evan.vnexpress.net/News Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy nâng niu và trân trọng một nhân tài
Tác giả: Lê Vĩnh Trang
50. Nguyễn Tý (2006). Ngày đầu năm đọc “Cánh đồng bất tận” với sức hút kỳ lạ. http://www.viet-studies.info/NNTu/DocCDBT_NguyenTy.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận
Tác giả: Nguyễn Tý
Năm: 2006
18. Nguyên Ngọc. Còn rất nhiều người cầm bút có tư cách. Chuyên đề: Tiểu thuyết đang ở đâu?. http://www.vnexpres.net, ngày 02/01/2005 Link
22. Hoàng Tả Pháp (2005). Một giáo sư kinh tế Mĩ mê Nguyễn Ngọc Tư. http://wwwdantri.com.vn, ngày 16/11/2005 Link
37. Bùi Công Thuấn. Sự giống nhau trong tác phẩm văn chương và sự hời hợt của nhà phê bình. http://www.phongdiep.net Link
1. Mikhail Bakhtin (1992). Lí luận và thi pháp tiểu thuyết. Phạm Vĩnh Cư dịch, trường viết văn Nguyễn Du Khác
2. Lê Huy Bắc (2004-2005). Lí luận và tác giả, tác phẩm. (Sách dùng trong nhà trường T1,2), NXB giáo dục Khác
3. Phan Huy Bích (2006). Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư – VNT số 46 – 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê những từ chỉ địa danh, địa hình, sản vật Nam Bộ - Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thể loại
Bảng th ống kê những từ chỉ địa danh, địa hình, sản vật Nam Bộ (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w