Trong tác phẩm này, Đỗ Bích Thúy đã thể hiện chân thực và sinh động những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc H’Mông ở Hà Giang.. Lịch sử vấn đề Trong phạm vi đề tài khóa luận, chúng t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====
PHÙNG THỊ THU TRANG
TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT
CỦA ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GÓC NHÌN
VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====
PHÙNG THỊ THU TRANG
TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT
CỦA ĐỖ BÍCH THÚY DƯỚI GÓC NHÌN
VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS.GVC Nguyễn Thị Tuyết Minh
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Tuyết Minh – Giảng viên tổ Văn học Việt Nam đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy/ cô trong khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận này
Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy/ cô để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Phùng Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Tuyết Minh và không trùng lặp với bất kì đề tài nghiên cứu nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Phùng Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 7
7 Cấu trúc của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 8
1.1 Mối quan hệ văn hóa - văn học và hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 8
1.1.1 Mối quan hệ văn hóa – văn học 8
1.1.2 Hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 10
1.2 Văn hóa của dân tộc H’Mông ở Hà Giang 12
1.3 Tác giả Đỗ Bích Thúy với văn hóa dân tộc H’Mông 14
1.3.1 Đôi nét về tác giả Đỗ Bích Thúy 14
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 15
1.3.3 Tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy và sự phản ánh văn hóa dân tộc H’Mông 18
Tiểu kết 20
Chương 2 BIỂU HIỆN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 22
2.1 Đời sống sinh hoạt vật chất 22
2.2 Đời sống văn hóa tinh thần 28
Trang 62.2.1 Những phong tục truyền thống 28
2.2.2 Một số luật tục, hủ tục 30
2.3 Ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp
33
Tiểu kết Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 36
3.1 Hình tượng nghệ thuật 36
3.1.1 Hình tượng con người 36
3.1.2 Hình tượng thiên nhiên 44
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 46
3.2.1 Ngôn ngữ đặc trưng của vùng cao Hà Giang 47
3.2.2 Giọng điệu trữ tình 48
3.3 Thời gian và không gian nghệ thuật 49
3.3.1 Thời gian nghệ thuật 49
3.3.2 Không gian nghệ thuật 51
Tiểu kết KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học và văn hóa là hai phạm trù có mối quan hệ với nhau Văn học
là gương mặt, là nơi kết tinh của văn hóa dân tộc, còn văn hóa có khả năng
chi phối, tác động ở chiều sâu văn học Gần đây “nhờ UNESCO phát động
những thập kỷ phát triển văn hóa, nhờ thức nhận văn hóa là động lực của phát triển, nên quan hệ văn hóa và văn học được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, khi xuất hiện văn hóa học và nhân học văn hóa thì văn hóa bắt đầu được coi
là nhân tố chi phối văn học Đã có một số tác giả đi theo hướng nghiên cứu này như Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy, Trần Nho Thìn
Và, khi một số công trình của M.Bakhtin được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì hướng đi này càng được khẳng định” [27]
Văn học là nơi mà những giá trị văn hóa của dân tộc được thể hiện chân thực và sâu sắc nhất Do đó một tác phẩm văn chương ưu tú thường phản ánh
và kết tinh những giá trị văn hóa của thời đại ấy Đó có thể là những giá trị văn hóa tinh thần hay vật chất được biểu hiện qua các phương diện như phong tục tập quán, hủ tục, cuộc sống sinh hoạt, con người… Ngược lại, văn hóa cũng tác động đến văn học qua cách miêu tả, cảm nhận, xử lí đề tài của nhà văn trong quá trình sáng tác; đồng thời cũng chi phối đến hoạt động tiếp nhận, thưởng thức, đánh giá của độc giả Do đó, việc nghiên cứu văn học của một dân tộc không thể tách rời với văn hóa của dân tộc ấy và cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa là một hướng đi tất yếu, một xu hướng nghiên cứu khoa học; nó không chỉ khắc phục được những hạn chế nhất định của việc nghiên cứu văn học bằng chính văn học mà có thể khai mở thêm những giá trị mới, ý nghĩa mới cho văn học
Đỗ Bích Thúy là nữ nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại
Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã nhận xét rằng, chị “là một trong những cây bút
nữ quan trọng nhất hiện nay ở mảng văn học về đề tài miền núi” [4] So với
Trang 8các tác giả đương đại, Đỗ Bích Thúy đã tìm cho mình một lối đi riêng, mang
viết về lũng Cô Sầu (Trùng Khánh - Cao Bằng), Phạm Duy Nghĩa viết về đường biên khắp núi rừng Tây Bắc thì Đỗ Bích Thúy lại gắn liền với Hà Giang – mảnh đất tuổi thơ của chị Chị viết về thiên nhiên, lịch sử, văn hoá,
Việt Bắc và Tây Bắc – những miền đất vàng của văn chương miền núi, nơi ngưng tụ nguồn mạch chính của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam nếu
Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp là người miền xuôi đi thực tế, kiếm tìm tư liệu để viết; Cao Duy Sơn, Vi Hồng là nhà văn dân tộc Tày viết cuộc sống của dân tộc mình thì Đỗ Bích Thúy lại là người dân tộc Kinh (quê gốc ở Nam Định) nhưng được sinh ra và lớn lên ở Hà Giang lại chọn chính
Hà Giang làm “mảnh đất màu mỡ” để chị “canh tác” trên “cánh đồng văn chương” Và trong buổi giao lưu với độc giả diễn ra tại Hà Nội ngày
13/1/2016, Đỗ Bích Thúy chia sẻ rằng: “Với tất cả những gì tôi viết thì mới
chỉ được một phần rất nhỏ so với những gì Hà Giang có và tôi nhận được từ
Hà Giang, đặc biệt là văn hóa Mông Người Mông đã ở Hà Giang rất nhiều năm rồi Dân tộc Mông chủ yếu sống ở vùng đặc biệt nhất của Hà Giang là vùng cao núi đá, chủ yếu ở 4 huyện với thiên nhiên khắc nghiệt, sẽ quy định lối sống, tập quán canh tác và tạo cho người Mông một nền văn hóa đặc sắc, dày dặn Và tôi nghĩ nếu tôi viết đến già cũng không hết được vùng văn hóa đó” [23]
Chúa đất là tác phẩm văn học thứ 13 của Đỗ Bích Thúy viết về đề tài
miền núi sau một số tác phẩm đã gây được tiếng vang trước đó như: Tiếng
đàn môi sau bờ rào đá, Sau những mùa trăng, Ngải đắng ở trên núi, Lặng yên dưới vực sâu Hơn18 năm sinh sống và làm việc ở Hà Nội, nữ nhà văn từng
có bước chuyển vùng sáng tác về đô thị, nhưng sau đó chị lại tiếp tục quay về với đề tài miền núi máu thịt, nơi luôn khiến văn chương của chị thăng hoa
Trang 9Tiểu thuyết Chúa đất do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành và xuất bản vào năm
2016 Trong tác phẩm này, Đỗ Bích Thúy đã thể hiện chân thực và sinh động những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc H’Mông ở Hà Giang
Vì những lí do trên chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài:
Tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy từ góc nhìn văn hóa để tiếp tục luận
giải sâu hơn về tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy
2 Lịch sử vấn đề
Trong phạm vi đề tài khóa luận, chúng tôi đi từ mối quan hệ hai chiều
giữa văn học và văn hóa để đi sâu khám phá tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ
Bích Thúy, tìm hiểu và đánh giá giá trị nội dung và các yếu tố nghệ thuật tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa Đồng thời cũng cho thấy những đóng góp của
Đỗ Bích Thúy đối với văn học Việt Nam đương đại Sau đây chúng tôi xin liệt kê những công trình, bài báo nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài:
Báo Văn nghệ trẻ (số ra ngày 11/3/2001), Điệp Anh với bài báo Gặp
hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ đã nhận xét: “Thế mạnh của Đỗ Bích Thúy
là đời sống của người dân Tây Bắc, với những không gian vừa quen vừa lạ, những phong tục tập quán đặc thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn hút ( ) Trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, không gian Tây Bắc hiện lên đậm nét, để lại dư vị khó quên trong lòng độc giả.” [1, 3]
Cũng trên báo Văn nghệ trẻ (số 3/2005), Lê Thành Nghị trong bài báo
Từ truyện ngắn của một người viết trẻ cảm nhận: “Chúng ta sẽ bước vào
một không gian lạ, không gian có núi cao, trời rộng của vùng núi phía Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Quế chỉ còn bé như sợi chỉ dưới chân núi Mã Pí Lèng Một không gian đầy hoa lá rừng, có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái khoác quẩy tấu xuống chợ; những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc; những đêm trăng sóng sánh huyền ảo, những cụm mần tang mọc trong thung
Trang 10lũng; tiếng đàn môi réo rắt sau bờ rào đá; lễ hội gầu tào với điệu hát gầu Plềnh mê đắm của các cô gái, chàng trai người Mông trên đỉnh núi ” [17]
Nhà văn Trung Trung Đỉnh cảm nhận văn phong Đỗ Bích Thúy trong
bài viết Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy in trên báo Văn nghệ (sô 5 ra ngày
3/2/2007): “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền
thống của con người miền cao một cách tài tình Không truyện nào là không kể
về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù các tác giả không
hề cố ý đưa vào chi tiết lạ Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có” [9, 58]
Trên báo điện tử VTV (số ra ngày 14/1/2016), trong bài viết Chúa đất
của Đỗ Bích Thúy – Bi kịch tình yêu bạo chúa, nhà báo Đinh Thúy có trích
dẫn lời nhận xét của nhà văn Bùi Việt Thắng: “bằng sự tưởng tượng phong
phú, chị đã dịch chuyển được truyền thuyết và thực tại, kéo thời gian từ xa đến gần, biến cái vô hình thành hữu hình Chúa đất là câu chuyện về cái chết, nhưng là cái chết có ý nghĩa gieo mầm sự sống Xét từ góc độ văn hóa thì đó
là vấn đề hủy diệt và sinh thành của sự sống, cụ thể hơn là các giá trị sống được trả giá và bảo tồn như thế nào trong sự biến thiên của lịch sử” [23]
Trên tựa đề cuốn tiểu thuyết Chúa đất, nhà văn Hoàng Đăng Khoa có
trích dẫn “Chúa đất là một diễn ngôn văn chương ám gợi về vấn đề nữ quyền
nói riêng, nhân quyền nói chung, là khúc bi ca về cái đẹp bị dập vùi, tình yêu
bị ngáng trở, tự do bị cướp đoạt nhưng đồng thời cũng là khúc hoan ca về sự nổi loạn của cái đẹp, của tình yêu, của tự do” [24, 8]
Trên báo điện tử Nhân dân (số ra ngày 29/1/2016), trong bài viết Chúa
đất của Đỗ Bích Thúy đủ giàu hình ảnh để lên phim , Nhà thơ Hữu Việt nói
rằng: “cuốn sách có nhiều chi tiết miêu tả nếu dựng thành phim thì có nhiều
lợi thế bởi chất Mông, cảnh sắc thiên nhiên, con người dân tộc đậm chất”
[16] Đạo diễn trẻ Đỗ Thanh Sơn khẳng định: “Chúa đất đủ chất liệu để trở
Trang 11thành một tác phẩm điện ảnh ” [16].Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý cũng nhận
xét rằng:“Từ một truyền thuyết về chúa đất Sùng Chúa Đà, Đỗ Bích Thúy đã
dựng lên một tiểu thuyết vô cùng sống động với những phong tục, tập quán, tính cách, diện mạo khá rõ nét về từng nhân vật” [16] Nhà văn Sương
Nguyệt Minh cho rằng: “Đỗ Bích Thúy đã làm được một việc lớn mà không
nhiều nhà văn làm được, đó là hai năm về trước viết văn như thế nào, thì cho đến nay vẫn giữ nguyên như vậy không thay đổi Có những nhà văn thay đổi cách viết liên tục 15 năm trước, văn của Đỗ Bích Thúy là văn của một sự lấp lánh, lung linh, Bây giờ đã bớt đi phần nào độ lung linh, thêm vào đó hiện thực và sự sâu sắc hơn” [16] Nhà văn Sương Nguyệt Minh còn nhận xét
rằng: “một tiểu thuyết có thể coi là thành công khi có ba nhân vật thành công,
đằng này Chúa đất giải quyết được hết tất cả các tuyến nhân vật” [16] “Nếu độc giả không có thời gian, chỉ cần đọc 50 trang đầu là giải quyết hết được mọi mâu thuẫn trong cuốn sách Tuy nhiên, trong thực tế thì khó một độc giả nào có thể bỏ cuốn sách xuống khi chưa lật đến trang cuối cùng” [16]
Nhìn chung, những công trình, bài viết ở trên có tiếp cận và nghiên cứu tác phẩm của Đỗ Bích Thúy nhưng mới chỉ dừng lại ở những nhận xét khái
quát Nhìn nhận và nghiên cứu chuyên biệt tiểu thuyết Chúa đất ở góc nhìn
văn hóa thì đến nay chưa có một công trình nào thực hiện Đây là khoảng
trống thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài khóa luận Tiểu thuyết Chúa đất của
Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn văn hóa Chúng tôi xem những ý kiến ở trên sẽ
là những gợi mở để triển khai đề tài này, với mong muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định đóng góp của Đỗ Bích Thúy ở đề tài vùng cao
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy dưới góc
nhìn văn hóa nhằm hướng tới các mục đích sau:
- Có cái nhìn khái quát về tác giả Đỗ Bích Thúy, sự nghiệp sáng tác của chị đặc biệt là các sáng tác viết về đề tài miền núi
Trang 12- Tìm hiểu bản sắc văn hóa miền núi nói chung và bản sắc văn hóa dân
tộc H’Mông ở Hà Giang nói riêng trong tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích
Thúy Trên cơ sở đó, đem đến cho người đọc những trải nghiệm, khám phá về văn hóa vùng cao ở cực Bắc của Tổ quốc
- Những đóng góp của Đỗ Bích Thúy với sự phát triển mảng văn xuôi miền núi, dân tộc của văn học Việt Nam hiện đại cũng như đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đời sống văn hóa vùng cao
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ
Bích Thúy do NXB Phụ nữ xuất bản năm 2016 Cụ thể là những biểu hiện văn hóa người Mông ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật
- Trong khuôn khổ phạm vi một khóa luận, chúng tôi chỉ tập trung nghiên
cứu những biểu hiện văn hóa trong tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp xã hội học: Sử dụng phương pháp này, trước hết chúng
tôi tìm hiểu những tác động của các yếu tố văn hóa, xã hội của vùng đất có ảnh hưởng như thế nào đến các yếu tố nội dung và nghệ thuật của văn xuôi
Đỗ Bích Thúy Đồng thời, cũng lý giải những tín hiệu văn hóa có trong tác phẩm của chị
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phân tích hình thức nghệ
thuật tác phẩm để làm rõ biểu hiện văn hóa trong tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ
Bích Thúy
- Phương pháp hệ thống: Đặt tác phẩm Chúa đất trong mối quan
hệ biện chứng với một số tác phẩm khác của Đỗ Bích Thúy và trong một số tác phẩm của các nhà văn khác cùng đề tài
- Phương pháp liên ngành: tiếp cận đối tượng bằng nhiều cách thức, dựa trên những dữ liệu của nhiều chuyên ngành như: văn hóa, lịch sử…
Trang 13- Kết hợp các thao tác thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp: Đây là những thao tác cơ bản trong nghiên cứu các vấn đề văn học, giúp người viết
đi sâu vào khám phá những khía cạnh cụ thể của tác phẩm, từ đó làm rõ biểu
hiện văn hóa trong Chúa đất của Đỗ Bích Thúy
6 Đóng góp của khóa luận
Đóng góp về mặt lý luận: Thông qua việc tiếp cận tiểu thuyết Chúa đất
của Đỗ Bích Thúy từ góc nhìn văn hóa, khóa luận góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý thuyết liên quan đến tiếp cận tác giả và tác phẩm văn học bằng
phương pháp văn hóa học
Đóng góp về mặt thực tiễn: Khóa luận góp phần đi sâu tìm hiểu những
đặc điểm văn hóa trong tiểu thuyết Chúa đất Đỗ Bích Thúy, tiếp cận tác phẩm
của chị từ góc nhìn văn hóa Công trình sẽ góp phần trong việc nghiên cứu văn học bằng phương pháp tiếp cận văn hóa học
7 Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận Phần Nội dung được triển khai thành 3 chương
Chương 1: Giới thuyết chung
Chương 2: Biểu hiện văn hóa trong tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật biểu hiện văn hóa trong tiểu
thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy
Trang 14NỘI DUNG Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 1.1 Mối quan hệ văn hóa - văn học và hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa
1.1.1 Mối quan hệ văn hóa – văn học
Để hiểu rõ tầm quan trọng của văn hóa và mối quan hệ biện chứng giữa văn học và văn hóa trước hết chúng ta phải tìm hiểu khái niệm “văn hóa”
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình lao động thực tiễn, trong sự tương tác với con người, tự nhiên xã hội” [13, 10] Văn hóa là hồn cốt, sợi chỉ đỏ
xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc UNESCO đã công nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp để phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa, Đảng ta cũng xác
con người và xã hội loài người Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, định hướng cho sự phát triển bền vững của xã hội Văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội và mọi hành vi của con người, điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của con người.” [5]
“Trong suốt chặng đường hơn 83 năm lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của văn hóa và thường xuyên quan tâm lãnh đạo, phát huy sức mạnh văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước”
[5] Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Đảng Trung ương (khóa VIII)
tháng 7 năm 1998, Đảng đã đặt mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc” [5]
Trang 15Văn hóa mang bản sắc và phương thức tồn tại của dân tộc Để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, cần phát huy những giá trị tốt đẹp của truyền thống, gạn lọc những mặt tiêu cực Đặc biệt phải luôn luôn xác định mục tiêu: hòa nhập chứ không hòa tan Văn học nghệ thuật là một lĩnh vực không nằm ngoài quy luật đó Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, dân tộcViệt Nam đã thể hiện sức sống kiên cường, mãnh liệt Và chính sức sống ấy là tiền đề khơi nguồn để hình thành nên một nền văn học dân tộc tuyệt vời như ngày hôm nay Văn học là vừa là “máu”, vừa là “linh hồn” của Tổ quốc Dòng “máu” văn học ấy chảy trong lòng dân tộc suốt những chặng đường dài của lịch sử,
đi qua bao thác ghềnh, phong ba và in dấu vào tâm hồn dân tộc chúng ta hôm nay với một sức sống rạo rực, mãnh liệt
Standal từng nói rằng:“Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã
hội” Văn học lại là một trong những bộ phận hợp thành của văn hóa Do đó
khi nhắc đến văn hóa của một dân tộc thì cũng đồng thời nói đến bản sắc văn
hóa trong văn học, các nhà lí luận văn học khẳng định:“Tính dân tộc của văn
nghệ là tổng hòa mọi đặc điểm độc đáo chung cho các sáng tác của một dân tộc và phân biệt với các sáng tác dân tộc khác” [11, 102] Một tác phẩm văn
chương mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc thì nó phải kết tinh được những gì độc đáo nhất, tiêu biểu nhất của dân tộc ấy Và điều đó được biểu hiện trên cả hai phương diện nội dung và hình thức
Ở phương diện nội dung, văn hóa dân tộc được thể hiện qua phong tục tập quán, ngôn ngữ, con người Nó phải thể hiện được những nét tinh túy nhất, tiêu biểu nhất của dân tộc ấy để khi đọc một tác phẩm văn chương, ta như thấy sống lại những giá trị văn hóa một thuở Đó có thể là những hàng bạch dương, mùa thu vàng, thảo nguyên, cánh đồng tuyết trắng, cỗ xe tam mã trong văn học Nga; là trà đạo, hoa đạo trong văn học Nhật Bản; là những làng quê thanh bình với cánh cò, cánh đồng chiêm, câu hát ru à ơi của văn học Việt Nam Để khắc họa được những bức tranh mang bản sắc văn hóa ấy
Trang 16không thể không nhắc tới vai trò của những người nghệ sĩ tài năng đánh thức những giá trị văn hóa ngàn năm của dân tộc Những sáng tác của Hồ Xuân Hương so với những tác giả cùng thời thì nó không chỉ chứa đựng được tinh thần dân tộc, tấm lòng nhân đạo cao cả mà đặc biệt hơn những tác phẩm ấy còn mang những tư tưởng tiến bộ, nhân sinh quan mới mẻ về người phụ nữ
Đó là tiếng lòng của một người phụ nữ lên tiếng để bảo vệ, giành lấy tình yêu,
những sự vật, sự việc hết sức bình thường quanh cuộc sống nhưng mang tính phồn thực cao
Về phương diện hình thức, văn hóa dân tộc được thể hiện ở hình tượng trong tác phẩm, ngôn ngữ, thể loại Trở lại với những tác phẩm của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, những yếu tố đó được thể hiện qua hình tượng gần gũi đời thường nhưng lại mang tính ẩn dụ cao đậm màu sắc phái tính và phồn thực Hồ Xuân Hương đã vận dụng tài tình lối chơi chữ, nói lái của dân gian
vì thế mà ngôn ngữ thơ bà vừa thanh, vừa tục, vừa gai góc lại châm biếm sâu cay Kết hợp những thể thơ truyền thống của dân tộc, bà đã làm nên một phong cách, dấu ấn Hồ Xuân Hương rất riêng: quen mà lạ trong thi tàng văn
học Việt Nam và lòng người
1.1.2 Hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa
Văn học và văn hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau nên việc nghiên cứu văn học từ góc độ văn hoá là một hướng đi tất yếu và có triển vọng Trước khi xuất hiện cách tiếp cận tác phẩm văn học bằng văn hóa đã có những cách tiếp cận khác có từ trước đó như: xã hội học, mỹ học, thi pháp học Đó đều là cách tiếp cận thành công, gây được nhiều tiếng vang qua các công trình nghiên cứu của các giáo sư đầu ngành ở cả Phương Đông và phương Tây Hướng tiếp cận văn học bằng văn hoá học tuy ra đời muộn hơn, chỉ mới xuất hiện từ những thập kỉ gần đây Nhưng hướng tiếp cận này giúp chúng ta lý giải tác phẩm thấu đáo và trọn vẹn hơn với những giá trị văn hoá
Trang 17được thể hiện trong tác phẩm văn học Không những vậy, tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ văn hóa không dừng lại ở góc độ tiếp cận, cách đánh giá, nhìn nhận tác phẩm văn học mà thực sự còn là một phương pháp nghiên cứu văn học hiệu quả
M.Bakhtin cùng từng khẳng định rằng: “Cần phải nghiên cứu văn học
và tác phẩm văn học như những hệ thống chỉnh thể ở hai cấp liên đới Hệ thống chỉnh thể của tác phẩm gia nhập hệ thống chỉnh thể của văn học; hệ thống chỉnh thể của văn học, đến lượt nó, lại gia nhập hệ thống chỉnh thể của văn hóa; và chỉ có hệ thống văn hóa mới quan hệ trực tiếp với những lĩnh vực khác của đời sống xã hội Không thể tách rời văn học ra khỏi hệ thống văn hóa và “vượt mặt” văn hóa liên hệ trực tiếp với các nhân tố chính trị, kinh tế,
xã hội Những nhân tố ấy tác động trực tiếp đến văn hóa trong chỉnh thể của
nó và chỉ thông qua nó mà ảnh hưởng đến văn học” [7, 182]
Tóm lại, về mặt lý luận, bản chất của mối quan hệ văn hóa và văn học
có thể giúp cho nghiên cứu văn học Việt Nam xử lý được một số trường hợp vướng mắc, mâu thuẫn do cách tiếp cận cũ để lại Nghiên cứu văn học bằng phương pháp tiếp cận văn hóa học là đi từ cái tổng thể, toàn diện đến cái thành phần, chi tiết bằng phương pháp loại suy khoa học, hoặc đặt tác phẩm, tác giả trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống văn hóa, với các thành tố khác: ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, cách nghĩ của con người Sử dụng phương pháp tiếp cận văn hóa học trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận
này chúng tôi đặt tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy trong mối quan hệ
chi phối, quy định bởi các đặc điểm, các thành tố, các đặc trưng văn hóa của vùng cao Hà Giang và cũng đánh giá được phần nào, sự đóng góp của nhà văn với những giá trị văn hóa vùng cao Hà Giang
Trang 181.2 Văn hóa của dân tộc H’Mông ở Hà Giang
Hà Giang là tỉnh thuộc điểm cực Bắc của Tổ quốc Với diện tích rộng lớn, địa hình đồi núi là chủ yếu nên đây là địa bàn cư trú của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Đặc biệt, ở đây người H’Mông chiếm tỉ lệ cao nhất: trên 31% dân số các dân tộc trong tỉnh Không chỉ là dân tộc có tỉ lệ dân số đông nhất ở
Hà Giang, H’Mông còn là dân tộc có nền văn hóa truyền thống đặc sắc với những biểu hiện phong phú với nhiều phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng
Trước khi tìm hiểu những nét văn hóa đặc sắc, chúng ta phải biết được nguồn gốc và lịch sử của người H’Mông ở Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc H’Mông có nguồn gốc từ Trung Quốc Khoảng 300 năm trước đây, do các cuộc chiến tranh phong kiến tranh giành quyền lợi ở Trung Quốc mà họ phải di cư về phía Nam sinh sống Địa bàn đầu tiên mà người H’Mông cư trú khi đến Việt Nam là ở huyện Mèo Vạc và Đồng Văn thuộc tỉnh Hà Giang nên họ coi đây như tổ tiên, quê hương nguồn cội của mình
Trang phục truyền thống của phụ nữ H’Mông vô cùng sặc sỡ và đa dạng bao gồm: áo yếm lửng xẻ ngực, váy, xà cạp để quấn hai bụng chân, thắt lưng, tấm xiêm che trước bụng, khăn quấn đầu, Váy thường có hình nón cụt, xếp nếp xoè rộng Hoa văn trang trí trên váy rất phong phú với các họa tiết được thêu bằng tay hình bướm, rắn, hoa, răng bừa, mắt chim có màu sắc sặc
sỡ Vào những ngày lễ tết, họ thường đeo thêm trang sức bằng bạc (khuyên tai, vòng cổ, vòng chân, nhẫn,…) để tôn lên vẻ đẹp duyên dáng và thu hút ánh nhìn của mọi người xung quanh
Người H’Mông sống ở độ cao 800 đến 1700m so với mặt nước biển trên các cao nguyên đá Ở đó nước rất hiếm nên họ chủ yếu sống bằng nghề làm nương rẫy và lương thực chính của họ là ngô Do ở trên các cao nguyên
đá đất ít, chủ yếu là canh tác trong các hốc đá nên người H’Mông có kỹ thuật thâm canh, xen canh khá cao: trên cùng nương ngô họ có thể trồng xen cả bí
Trang 19và dưa Một số món ăn truyền thống và đặc trưng của người H’Mông như mèn mén, rượu ngô, thắng cố, bánh tam giác mạch…
Vật nuôi không thể thiếu của người H’Mông là ngựa Ngựa dùng để cưỡi và thồ hàng Khi bán và đổi ngựa người H’Mông giữ lại bộ yên cương vì
họ cho rằng, có giữ lại bộ yên cương thì mua con ngựa sau mới tốt Ngoài ra
họ còn nuôi dê, lợn, gà, ngan, ngỗng để trao đổi mua bán, làm thức ăn phục
vụ các dịp lễ tết, cưới xin,…
So với các dân tộc khác, nhà ở của người H’Mông khá khang trang và kiên cố: Nhà gỗ lợp tranh, lá, phên vách hoặc nhà trình tường lợp ngói âm dương Nhà được chia làm ba gian và phía trên áp mái thường có gác xép để cất lương thực, dụng cụ trong nhà Nhà người H’Mông làm thống nhất theo một khuôn mẫu nhất định dù là nhà tranh, phên vách hay trình tường đều phải theo dáng chữ đinh
Hôn nhân của dân tộc H’Mông theo tập quán tự do, tự kén chọn bạn đời Họ không có hôn nhân cận huyết Trước đây, việc lựa chọn bạn đời thường qua tục cướp vợ Tuy nhiên việc bắt vợ phải diễn ra khéo léo và tuân thủ các nguyên tắc của tập tục này Nếu bắt vợ chỉ vì tình yêu đơn phương của chàng trai mà không được cô gái đồng ý thì coi như hôn ước bị hủy bỏ và nhà trai sẽ phải đền danh dự cho nhà gái, dân làng đến bắt vạ ăn uống trong vòng 7 ngày
Tết Nguyên Đán có thể coi là ngày hội lớn của người H’Mông và được chuẩn bị rất chu đáo, cẩn thận Người H’Mông chuẩn bị giấy xanh, đỏ, giấy bản, gà trống, trứng gà, ngô, rượu, nước, những gia đình khá giả có thể mổ lợn, dê, bò làm lễ cúng tết Tết không chỉ là dịp nghỉ ngơi, ăn uống thoải mãi mà còn là dịp để gia đình sum họp, con cháu làm lễ cúng viếng tổ tiên, chào mừng ngày âm dương giao hoà và cầu chúc cho năm mới mùa màng bội thu, vạn sự bình an, tốt đẹp
Trang 20Ngoài ra người H’Mông còn có rất nhiều lễ hội khác như: Lễ hội Gầu Tào, lễ cúng mưa, cúng cơm mới,…Trong đó đặc biệt phải kể đến chợ tình Khâu Vai ở huyện Mèo Vạc, được tổ chức vào ngày 27/3 âm hàng năm Chợ tình là một hình thức sinh hoạt đặc biệt, có tính nhân văn sâu sắc Người ta đến chợ không chỉ để sinh hoạt văn hoá: múa khèn, đua ngựa, thổi kèn lá
mà còn để gặp gỡ, tìm bạn đời, hàn huyên gắn bó tình cảm với nhau Ngày nay, chợ tình Khâu Vai của người H’Mông Hà Giang được biết đến nhiều hơn, phiên chợ không chỉ có người Mông ở Hà Giang mà còn thu hút hàng ngàn lượt khách thập phương đến trải ngiệm và khám phá
Trong 54 dân tộc của Việt Nam, H’Mông là dân tộc có bản sắc văn hóa truyền thống ít bị mai một nhất Trong thời kì hội nhập, mở cửa văn hóa như ngày nay, để phát triển mà không bị hòa tan, đánh mất bản sắc dân tộc cần phải có sự chung tay góp sức của cả cộng đồng Có như vậy những giá trị văn hóa truyền thống mới được bảo tồn và phát huy qua thời gian
1.3 Tác giả Đỗ Bích Thúy với văn hóa dân tộc H’Mông
1.3.1 Đôi nét về tác giả Đỗ Bích Thúy
Đỗ Bích Thúy sinh ngày 13/04/1975, dân tộc Kinh, là cây bút trẻ của văn học Việt Nam đương đại Chị quê gốc ở Nam Định, nhưng sinh ra và lớn lên ở Hà Giang - mảnh đất thuộc địa đầu cực Bắc của Tổ quốc, nơi có cao nguyên đá Đồng Văn bên bờ sông Nho Quế huyền thoại Hà Giang còn được mệnh danh là xứ sở “đá nở hoa” bởi khắp nơi trên đó đều là bạt ngàn hoa: màu vàng của hoa cải, sắc trắng của hoa mận, cái đỏ thắm của hoa đào, chút
khó khăn, thiếu thốn Chị lớn lên bằng dòng sữa của những bà mẹ H’Mông, nói được cả tiếng địa phương, ăn được mèn mén và am hiểu sâu sắc cuộc sống đồng bào vùng cao nơi đây Chính mảnh đất cao nguyên đá ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn “đứa con của núi rừng” suốt ngần ấy năm Đỗ Bích Thúy bén
duyên với văn chương từ rất sớm, năm 17 tuổi truyện ngắn Chuỗi hạt cườm
Trang 21màu xám được đăng trên báo Tiền phong và đạt giải A cuộc thi Tác phẩm
tuổi xanh năm 1995 Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Tài chính – Kế toán, chị
được mời về làm việc tại Hội Văn nghệ Hà Giang khi có một vị khách đọc được truyện ngắn, mời chị về làm việc Nhưng sau đó Đỗ Bích Thúy lại đến với nghề báo, trở thành cô phóng viên trẻ của Báo Hà Giang Bốn năm trời lặn lộn với nghề báo, bàn chân chị đã in hằn lại dấu vết ở khắp các làng bản, các đồn biên phòng vùng Đông Bắc, Tây Bắc của Tổ quốc Những bài báo chị viết ra có cả mùi mồ hôi, và mùi hiểm nguy mà người cầm bút phải đối mặt
Dự định gắn bó lâu dài với nghề, Đỗ Bích Thúy đi học tiếp lại Phân viện Báo chí Tuyên truyền Sau khi tốt nghiệp Phân viện (năm 27 tuổi), cánh cửa “nhà
số 4” Lý Nam Đế (cách gọi thân mật Tạp chí Văn nghệ Quân đội) đã mở cửa
Nguyễn Thị Như Trang, công tác tại đây Năm 35 tuổi, chị lên quân hàm Thượng úy và trở thành nữ Phó tổng biên tập đầu tiên trong lịch sử hơn 50
năm của Tạp chí Văn nghệ quân đội
Hiện tại, với quân hàm Trung tá, nhà văn Đỗ Bích Thúy đã xuất bản 19 cuốn sách gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn, trong đó có một số tác phẩm được chuyển thể thành kịch bản phim truyền hình
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác
Đỗ Bích Thúy đến với văn chương khá sớm, năm 17 tuổi với truyện
ngắn đầu tay Chuỗi hạt cườm màu xám được in trên báo Tiền phong, nữ nhà
văn đã bắt đầu được dư luận chú ý Sau đó, Đỗ Bích Thúy nhanh chóng khẳng
định vị trí trên văn đàn với 3 truyện ngắn đạt giải Nhất (Sau những mùa trăng,
Ngải đắng trên núi, Đêm cá nổi) từ cuộc thi truyện ngắn trên Tạp chí Văn nghệ quân đội 1998 –1999 Tên tuổi của nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy từ đó
được độc giả biết đến nhiều hơn Tiểu thuyết Bóng của cây sồi sau này cũng
đem lại cho chị giải thưởng trong cuộc thi sáng tác văn học cho tuổi trẻ lần 2 – NXB Thanh niên 2005
Trang 22So với những nhà văn lão thành, chặng đường viết văn của Đỗ Bích Thúy chưa dài, nhưng chị đã thật sự tâm huyết và nghiêm túc cho nghề Công
tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội cũng có đặc thù riêng đòi hỏi mỗi người làm
việc tại đây phải đảm nhận song song hai vai trò: vừa là nhà báo với việc biên tập giỏi vừa là tác giả tài năng Vì thế mỗi tháng chị phụ trách 2 số báo của Tạp chí và gần như năm nào Đỗ Bích Thúy cũng xuất bản một cuốn sách Tính đến thời điểm hiện tại, sau hơn 20 năm công tác, nữ nhà văn đã cho xuất bản 19 đầu sách từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, trong đó chủ yếu mang âm hưởng vùng cao và được sự quan tâm đánh giá cao của giới chuyên môn và độc giả
Tác phẩm chính của Đỗ Bích Thúy bao gồm:
- Tiểu thuyết
+Bóng của cây sồi (NXB Thanh niên, 2005)
+ Cánh chim kiêu hãnh (NXB Quân đội, 2013)
+ Cửa hiệu giặt là (NXB Phụ nữ, 2014)
+ Chúa đất (NXB Phụ nữ, 2016)
+ Lặng yên dưới vực sâu (NXB Hội nhà văn,2017)
- Truyện ngắn:
+ Sau những mùa trăng (NXB Văn nghệ Quân đội, 2001)
+ Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (NXB Công an Nhân dân, 2005)
+ Người đàn bà miền núi (NXB Phụ nữ, 2008)
+ Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (NXB Thanh niên, 2003)
+ Kí ức đôi guốc đỏ (NXB Kim Đồng, 2004)
+ Mèo đen (NXB Thời đại, 2011)
Trang 23+ Tôi đã trở về trên núi cao (NXB Hội nhà văn, 2018)
- Truyện thiếu nhi
+ Em béo và hội cầu vồng (NXB Kim Đồng, 2012)
Đặc biệt Đỗ Bích Thúy còn bén duyên môn “nghệ thuật thứ bảy”- điện ảnh Đây là bước đệm quan trọng trên thành trình sáng tạo nghệ thuật và
chuyển sang kịch bản thì văn chương sẽ bị “hỏng”, nhưng điều đó không làm khó được nữ nhà văn bởi viết kịch bản cũng là để trau dồi thêm tư duy logic
và bút lực của mình Đỗ Bích Thúy cũng từng chia sẻ như vậy vào năm 2005
khi chị vừa được giải A trong cuộc thi sáng tác điện ảnh với kịch bản Người
yêu ơi Trả lời phỏng vấn báo VOV, Đỗ Bích Thúy tâm sự:“Viết kịch bản đã giúp trang bị cho tôi một thứ kĩ năng mà xưa nay tôi kém, đấy là tư duy logic Nhân vật phải cực kì sắc nét, nhân vật nào ra nhân vật ấy, tuyệt đối không lẫn lộn, từ cách nói năng, suy nghĩ, hành xử… Nếu không viết kịch bản, thì tôi chưa luyện được kĩ năng ấy Khi viết tiểu thuyết, cảm xúc mãnh liệt có thể khiến người viết quá đà ở điểm này và sơ sài ở điểm kia, kịch bản không cho phép như vậy Người viết luôn phải cân bằng giữa cảm xúc và tư duy Đây là điều lớn nhất mà tôi thu được từ sau khi hoàn thành 30 tập kịch bản phim truyền hình “Chuyện tình bên đồng hoa tam giác mạch” [22]
Truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thúy được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành phim Chuyện của Pao Bộ phim đã
đoạt giải phim truyện nhựa hay nhất trong lễ trao giải Cánh diều vàng năm
2006 của Hội Điện ảnh Việt Nam Với thành công này, cái tên Đỗ Bích Thúy
đã thực sự tỏa sáng trong làng văn Việt Nam và được rất nhiều người hâm
văn cũng viết xong kịch bản 32 tập phim truyền hình chuyển thể từ tiểu thuyết
Lặng yên dưới vực sâu Bộ phim lấy bối cảnh chính là Cao nguyên đá Hà
Giang, xoay quanh câu chuyện tình của Vừ, Phống, Súa, Xí, Chía những
Trang 24thanh niên người Mông ở vùng núi U Khố Sủ.Đầu năm 2016, Đỗ Bích Thúy
cho ra mắt tiểu thuyết Chúa đất, sau đó lại bắt tay vào viết kịch bản phim
sánh về những số phận của Đỗ Bích Thúy từ trang sách đến màn ảnh Và sẽ
có những diễn biến, kết thúc số phận nhân vật bất ngờ khác với nguyên tác trên trang sách nhưng điều đó sẽ làm tăng thêm sự thú vị và lôi cuốn hơn cho người thưởng thức, trong đó có chính tác giả
Phong cách viết văn của Đỗ Bích Thúy mộc mạc, giản dị như mây trời núi rừng, đậm đà bản sắc văn hóa vùng cao Nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận
xét rằng chị “là một trong những cây bút nữ quan trọng nhất hiện nay ở mảng
văn học về đề tài miền núi” [4] Chính cái phong cách riêng ấy là ngọn hải
đăng soi đường để tác giả có thể xác định phương hướng và khơi sâu những mạch ngầm cảm xúc Thứ cảm xúc mà tâm hồn người viết như hòa quyện, đồng hành cùng nhân vật trên từng bước đi, từng hơi thở Đặc biệt hơn, hầu hết các tác phẩm của chị đều viết về đề tài miền núi, về mảnh đất Hà Giang nhưng không hề có sự trùng lặp, nhàm chán Và đề tài miền núi cho đến giờ
với chị: “Vẫn là một vùng đất mà tôi vừa thuộc về vừa cảm thấy chưa bao giờ
tôi hiểu nó đến tận cùng Thế nên, cứ viết vậy thôi”[4] Mỗi tác phẩm sẽ là
những cảnh đời khác nhau, có những suy tư, trăn trở, những lời tâm tình, những tiếng thở dài nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng réo rắt
1.3.3 Tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy và sự phản ánh văn hóa dân tộc H’Mông
Nói về tiểu thuyết Chúa đất, Đỗ Bích Thúy cho biết: “Tiểu thuyết này
được lấy cảm hứng từ một truyền thuyết cách đây khoảng 2 thế kỷ ở vùng Đường Thượng (Yên Minh - Hà Giang) Đó là truyền thuyết vô cùng bi tráng
về chúa đất Sùng Chúa Đà và cây cột đá chỉ dùng để treo người Cột đá cao 1,9m, hai bên có hai cái lỗ để nhét tay người bị hành quyết vào Tất cả những
ai trêu ghẹo vợ chúa, và vi phạm luật lệ do ông đặt ra đều bị chúa đất bắt
Trang 25phải chết bằng công cụ man rợ đó Hiện cột đá này đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Hà Giang” [20] Hơn 20 năm trước, khi Đỗ Bích Thúy là
phóng viên báo Hà Giang, chị đã có nhiều dịp công tác ở Đường Thượng Những chuyến đi thực tế vào vùng cao ấy để lại trong chị rất nhiều ấn tượng
khó phai, nữ nhà văn từng chia sẻ rằng: “Đường Thượng thực sự là một vùng
đất gợi cảm Thung lũng tuyệt đẹp chạy dài với hai bên núi cao dựng đứng, là thung lũng đẹp nhất trên cao nguyên cực Bắc… Vùng đất lại nhiều huyền tích, thực thực hư hư chưa biết đâu mà kết luận Và chỉ với một Sùng Chúa
Đà tôi đoán rằng trên thế giới cũng khó tìm đâu một chúa đất tàn bạo, nghĩ
ra cách hành quyết ghê rợn như chúa Đà” [20] Chính điều đó đã thôi thúc
Đỗ Bích Thúy chấp bút viết tác phẩm này
Chúa đất là tác phẩm văn học thứ 13 viết về đề tài dân tộc miền núi của
nhà văn Đỗ Bích Thúy Sau 18 năm gắn bó với Hà Nội, chị đã có bước chuyển vùng sáng tác về đề tài đô thị, nhưng sau đó Đỗ Bích Thúy lại quay trở về với đề tài miền núi máu thịt, nơi luôn khiến ngòi bút của chị thăng hoa
và tiểu thuyết Chúa đất là minh chứng cho điều đó Có thể nói đây là cuốn
sách “kỷ lục” của Đỗ Bích Thúy: kỷ lục với thời gian viết và xuất bản Tác phẩm chỉ được viết vẻn vẹn trong 17 ngày và in trong một tháng Sau khi
hoàn thành cuốn sách này, Đỗ Bích Thúy cho biết, chị thấy “như mình bị hút
cạn kiệt sinh lực” [16]
Tiểu thuyết Chúa đất gồm có 19 chương, mỗi chương được mở đầu
bằng một câu dân ca của người H’Mông Sùng Chúa Đà là một bạo chúa ở vùng cao Đường Thượng nhưng lại có bi kịch không thể làm đàn ông Cuộc đời Sùng Chúa Đà gắn liền với sự tích cây cột đá hành quyết Đoạn đầu của tiểu thuyết kể về việc Chúa đất xây cột đá để phạt chết, trừng trị những người gây tội với y Chúa đất có đầy đủ quyền uy và tiền bạc, nhưng không thể có tình yêu, mặc dù tất cả những cô gái đẹp nhất vùng Đường Thượng đều rơi vào tay hắn ngay từ khi họ mới là đóa hoa hàm tiếu hé nở Bà Cả có một tình
Trang 26yêu trung thành với chúa đất, về làm dâu từ khi mới 16 tuổi nhưng cả cuộc đời không được làm một người đàn bà đúng nghĩa Vàng Chở - vợ tư của
chúa đất trắng trẻo, xinh đẹp, có “dáng đi như rắn bò” [24, 21], thân hình quyến rũ “cặp vú vừa dày vừa nóng thơm ngát mùi ngô non” [24, 24], lúc nào
cũng có thái độ vênh váo chẳng coi ai ra gì kể cả Bà Cả Chở là người được Chúa Đà yêu thương và chiều nhất trong các bà vợ, nhưng Vàng Chở lại cặp
kè, dan díu với Lù Mìn Sáng là thằng chăn ngựa trong nhà Chúa Hai người
cứ lén lút dan díu với nhau một thời gian cho đến khi bị Bà Cả phát hiện và tố giác với Chúa đất Cái chết đau đớn là sự trả giá cho hành động phản bội lại Chúa đất của hai người Cả Vàng Chở và Lù Mìn Sáng bị trói hành xác ở cây cột đá cho đến chết Sự phản bội của Vàng Chở là cú sốc tinh thần nặng với
Chúa đất, làm cho Chúa “đã hung ác nay lại càng hung ác hơn” [24, 100]
Bao nhiêu đứa gái đẹp bắt về không ai thay được chỗ Vàng Chở, đứa nào cũng từng bị gọi lên rồi lại bị đuổi về lúc nửa đêm Trong một lần đi qua nương nhà Sùng Pà Xính, Chúa đất tình cờ nghe được giọng hát và thấy được dung nhan xinh đẹp của Xính bèn tìm mọi cách bắt cô về làm vợ bé Tuy nhiên Xính đã có người thương là Thào Chá Vàng Để bảo vệ người yêu và trả thù cho em trai, Thào Chá Vàng đã lập mưu giết chết Chúa đất Nhân lúc
sơ hở, Vàng đã đột nhập vào nhà Chúa đất, đốt hết cả dinh thự, giết hết những tên lính gác, máu chảy đầy sân, tiếng kêu gào, tiếng la hét, tiếng khóc náo loạn cả một góc trời Vàng vung lưỡi dao sáng loáng lên, xé gió bổ thẳng
xuống Chúa đất như một ánh chớp, “Chúa đất nằm ngửa trên chiếc bàn lớn,
giữa những đĩa thịt còn đầy ú ụ Bụng lòi ra một dải ruột dài loằng ngoằng”
[24, 290] Kết thúc tác phẩm là hình ảnh “Cả khu nhà lớn đều đã chìm trong
lửa Lửa mỗi lúc một bốc cao, như chạm tới chân trời…” [24, 291]
Tiểu kết: Ở chương này, chúng tôi xác định văn hóa – văn học là hai
phạm trù có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau để từ đó khẳng định nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa là hướng đi thiết yếu, có
Trang 27triển vọng, giúp luận giải tác phẩm văn học sâu sắc và đa chiều hơn Dân tộc H’Mông ở Hà Giang có đời văn hóa rất phong phú, đa dạng Tiểu thuyết
Chúa đất của Đỗ Bích Thúy chứa đựng tình cảm sâu nặng với mảnh đất Hà
Giang và cả một chiều sâu văn hóa H’Mông cần nghiên cứu
Trang 28Chương 2
BIỂU HIỆN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT CHÚA ĐẤT
CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 2.1 Đời sống sinh hoạt vật chất
Không gian văn hóa của mỗi dân tộc mang những nét đặc trưng văn hóa của cộng đồng ấy Đặc trưng văn hóa của đồng bào các dân tộc vùng cao
Hà Giang được Đỗ Bích Thúy khai thác ở nhiều bình diện, từ nét đẹp văn hóa tinh thần đến các sinh hoạt vật chất tiêu biểu cho bản sắc người H’Mông và cộng đồng các dân tộc vùng cao phía Bắc như: thói quen làm nương rẫy, ở nhà sàn, săn bắt hái lượm, dùng ngựa làm phương tiện đi lại, các loại dụng cụ lao động, thói quen sinh hoạt trong gia đình Là một người miền xuôi nhưng sinh ra và lớn lên ở miền núi, do đó chị viết về vùng cao trong tâm thế của một đứa con xa quê vừa thấy nhớ, vừa thấy đặc sắc, thấy lạ Giống như nhà
thơ Trần Đăng Khoa nhận xét rằng : “Nhờ đắm mình trong đời sống, hiểu cặn
kẽ mọi ngóc ngách từ cảnh sắc, phong tục, tập quán, đến đời sống tính cách, tâm hồn và văn hóa của người dân vùng cao, với con mắt của người dưới xuôi, chị phát hiện được nhiều vẻ đẹp mà có khi chính người vùng cao không nhìn ra được” [14] Sức hấp dẫn trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy không chỉ
bởi cách miêu tả tự nhiên, sử dung lối ví von, so sánh giàu biểu tượng – đặc trưng trong tư duy của dân tộc thiểu số mà còn bởi tình cảm chân thành, chan chứa sức nặng tình yêu và những kỉ niệm với mảnh đất Hà Giang thân thương
Trong tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy, đời sống sinh hoạt vật
chất mang đặc trưng của vùng cao được thể hiện từ nhà ở, thói quen sinh hoạt, đến hoạt động lao động sản xuất, canh tác…Sùng Chúa Đà là nhân vật trung tâm và cũng chính là Chúa đất – người đứng đầu nắm giữ uy quyền mạnh nhất vùng Đường Thượng Dinh thự của chúa có quy mô lớn, đồ sộ y như quyền uy
của chúa Đọc Chúa đất, khiến ta liên tưởng ngay đến nhân vật có thật trong
Trang 29lịch sử đó là vua Mèo Vương Chính Đức và dinh thự của y ở thôn Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Tương truyền vào năm 1913, một thuộc hạ của Vương Chính Đức là Cư Trồng Lù gợi ý vua nên thay đổi nơi ở Nghe vậy, Vương Chính Đức đã sang Trung Quốc để tìm thầy phong thủy Vua đã dẫn thầy phong thủy đi qua cả 4 huyện trong khu vực cai quản của mình là Quản
Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn để chọn địa thế đất Cuối cùng thầy quyết
cung Tiền, Trung, Hậu với 64 phòng dành cho 100 người ở Ở giữa khu Tiền
và Trung có một sàn gỗ, chính là khu vực xét xử của cụ Đức Trung dinh và Hậu dinh là nơi ở, làm việc của thành viên trong gia tộc họ Vương
Giống như dinh thự họ Vương, dinh thự của Sùng Chúa Đà cũng được
nằm ở nơi đất tốt, có phong thủy đẹp, “là mảnh đất tốt nhất ở Đường Thượng”
[24, 133] Trong dinh thự cũng được chia làm 3 gian: Tiền dinh, Trung dinh, Hậu dinh, bao gồm nhiều kho, phòng khác nhau như: kho thuốc phiện, kho bạc trắng, phòng ngủ, nhà bếp, chuồng ngựa… Đặc biệt khu nhà lớn – Trung dinh
là không gian quan trọng nhất trong nhà Chúa Nó quan trọng không chỉ bởi nó
là nơi rộng, đẹp, trang hoàng nhất; mà đó còn là nơi diễn ra những cuộc gặp mặt quan trọng, xét xử hàng ngày Tại đây có ngai vàng – biểu trưng cho địa vị, quyền uy của người thống trị đứng đầu Đường Thượng Chiếc đệm được đặt
trên trên ngai vàng ấy “được thêu hình ông Mặt trời Chúa đất khi nào muốn
quyết việc lớn đều ngồi trên cái ghế ấy, tựa lưng vào Mặt trời” [24, 61], “Mặt trời tỏa sáng sau lưng chúa đất” [24, 81] Ánh sáng Mặt trời trong phong thủy
mang ý nghĩa về sức sống, thành công và thịnh vượng, chứa năng lượng mạnh
mẽ để thể hiện quyền lực của chủ nhân Đối chiếu vào trong tác phẩm, biểu tượng Mặt trời ấy biểu trưng cho sự uy quyền, đầy nội lực của người đứng đầu Đường Thượng - Sùng Chúa Đà
Không những thế, trong dinh thự của Chúa đất, kẻ hầu người hạ nhiều
vô kể, thậm chí có người phải đi ở cho nhà Chúa từ năm chín tuổi để trả nợ như
Trang 30Lù Mìn Sáng “bố mẹ gán nợ cho Chúa đất bằng thằng bé Lù Mìn Sáng lúc nó
mới chín tuổi” [24, 22] Cuộc sinh hoạt trong nhà Chúa đất lúc nào cũng bận
rộn Từ việc dọn dẹp, nấu nướng, chăn gia súc, phục vụ chúa đất… không lúc nào ngơi Một ngày mới của người làm bắt đầu từ khi gà gáy cho đến khi mặt trời gác núi vẫn chưa được nghỉ Bên cạnh Chúa Đà lúc nào cũng phải có kẻ
hầu, người hạ “Chúa đất Sùng Chúa Đà đang nằm bên bàn đèn Hai đứa ở gái
ngồi dọc theo người, đứa bóp vai, đứa bóp tay, đứa bóp lưng bóp chân” [24,
44] Những đứa gái đấm bóp cho Chúa đất đều là gái già đã hơn hai mươi tuổi
Việc đấm bóp sao cho vừa ý Chúa chẳng hề đơn giản mà phải học, có đứa học
cả năm cũng không được, lại bị đuổi xuống làm bếp Hễ thấy có đứa gái nào
đẹp là bắt về làm người ở hết “Đứa thì phục dịch việc hút thuốc phiện của Đà
và khách khứa Gặp khách quý, khách thích dùng đứa nào thì cho dùng đứa ấy,
có cả một khu nhà nhiều buồng để cho khách nằm nghỉ Đứa thì chuyên đấm lưng, bóp chân bóp tay cho Đà Đứa thì làm chăn làm gối cho Đà tựa, Đà gác”
[24, 18] Cứ như thế, số phận của những người phụ nữ phía sau hàng rào dinh thự Chúa đều phải chịu chung số kiếp bất hạnh, không có hạnh phúc, tuổi xuân lãng phí trôi qua Thậm chí đến cả người phụ nữ uy quyền nhất trong dinh thự
là Bà Cả cũng chẳng mấy bận được rảnh rỗi Bà quản lí tiền nong, quán xuyến
mọi việc trong dinh thự nên lúc nào cũng tỉ mỉ, chu đáo, cẩn thận “Đếm bạc
với bà đã thành một việc giống như xúc cơm cho vào miệng” [24, 20], mỗi
ngày bạc ra khỏi nhà thì ít, bạc vào nhà thì nhiều vô kể Nhưng chẳng bao giờ
bà nhầm
Việc trồng anh túc đã khiến cho tiền vào nhà Chúa đất nhiều không
xuể, bởi “mỗi vụ anh túc, Chúa đất lại thu về không biết bao nhiêu bạc trắng
Bạc trắng vào nhà Chúa đất một trăm đồng chưa chắc vào nhà người trồng anh túc được một đồng” [24, 75] Đường Thượng là vùng trồng nhiều thuốc
phiện nhất cao nguyên Cây thuốc phiện ở Đường Thượng bao giờ cũng cho nhiều quả nhất, nhiều nhựa nhất Chúa đất vì thế không thích trồng ngô bằng
Trang 31trồng anh túc, vì loại cây này dễ sống“trồng vào mùa đông, trời lạnh đến
mấy, trâu bò còn chết trong chuồng, nhưng anh túc vẫn ra hoa, đậu quả” [24,
75] Vậy mà chỉ có duy nhất nhà Chúa được trồng, nhà nào lén lút trồng nếu
bị phát hiện sẽ phạt cho đến chết Việc trồng anh túc được canh phòng cẩn mật Tất cả các công đoạn đều phải thực hiện kĩ càng đúng theo chuẩn chỉ,
cẩn thận từng li: “Khía quả anh túc là việc khó nhất Vết khía phải thật khéo,
sâu quá thì hỏng quả, nông quá thì nhựa không chảy Khi không còn chỗ để khía dọc thì khía chéo một lần cuối Nhựa anh túc sẽ chảy ra, đọng ở cuống, hôm sau mới ra gỡ phần nhựa dính ở cuống ấy mang về Nhựa sống được bôi lên giấy bản, rồi phơi cả giấy cả nhựa cho khô Bao giờ được nhiều nhiều, hết chỗ phơi giấy thì sẽ thu giấy lại, cho vào nồi nước nóng, khoắng cho nhựa tan
ra, lọc hết chất bẩn, rồi đun lên, đến lúc nó cạn sạch, thành cục nhựa sờ vào dính tay Lúc ấy mới được nhựa chín” [24, 87] Chỉ cần sai sót một chút là có
thể bị bắt tội, thậm chí phải lấy mạng để đền cây Thu hoạch anh túc xong, người trồng chỉ được trả công không đủ ăn cháo ngô đến vụ sau
Do đặc điểm của địa hình và khí hậu vùng cao nguyên đá nên lương thực của người dân tộc ở đây chủ yếu là ngô Ngô được dùng để nấu rượu, nấu cháo, làm mèn mén Ở Đường Thượng, mọi đất đai, nương rẫy đều thuộc quyền sở hữu của nhà Chúa Anh túc là cây được trồng nhiều vụ nhất để kiếm
lời trong năm, sau mỗi vụ anh túc là đến vụ ngô “Anh túc đã thu hoạch xong,
quả đã bẻ để lấy hạt, cây đã nhổ, các nhà lại lên nương làm đất chuẩn bị cho
vụ ngô” [24, 106] Một năm ngô chỉ được phép trồng một vụ để lấy lương
thực cho cả năm nên bà con chăm sóc, canh tác rất cẩn thận: “Vàng đang gùi
đất từ dưới thung lũng lên núi, đổ vào hốc đá, giúp Xính gieo ngô Năm nay thời tiết tốt, có một ít mưa, đất ẩm, mềm, ngô sẽ lên rất nhanh Mỗi nương ngô đều chỉ được thu về một nửa, một nửa nộp cho nhà chúa đất Thế nên phải chăm thật tốt, để cây ngô thật khỏe, bắp ngô thật to, nhiều hạt, không thì
sẽ bị đói” [23, 106] Từng hạt ngô đối với người lao động ở đây quý như