Để góp phần tìm hiểu đặc trưng di tích và di vật khảo cổ giai đoạn tiền sử và sơ sử ở Khánh Hòa, xác định những giá trị văn hóa và những đóng góp của nó đối với thời đại kim khí miền Tru
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC QUÝ
KHẢO CỔ HỌC TIỀN SỬ VÀ SƠ SỬ KHÁNH HÒA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHẢO CỔ HỌC
Mã số: 62 22 03 17
HÀ NỘI - 2016
Trang 2KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Bùi Văn Liêm
2 TS Trần Quý Thịnh
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, khách quan và được trích nguồn rõ ràng Những ý kiến khoa học chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả Luận án
Nguyễn Ngọc Quý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận án này, ngoài sự phấn đấu của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên rất nhiều từ các cơ quan, đơn vị, các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Các thầy cô, những người đã góp công dạy dỗ tôi từ ngày tôi bước vào giảng đường Đại học và theo ngành Khảo cổ học Đặc biệt là với PGS.TS Bùi Văn Liêm,
TS Trần Quý Thịnh, hai người thầy hướng dẫn khoa học đã định hướng và chỉ dạy cho tôi không chỉ trong quá trình học tập và thực hiện luận án này mà còn là những người định hướng cho tôi về lĩnh vực nghiên cứu từ ngày tôi mới chập chững bước vào nghề
- Ban Lãnh đạo Viện Khảo cổ học - nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện về thời gian và một phần kinh phí để tôi thực hiện và hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu
- Bảo tàng Khánh Hòa - nơi đã nhiều năm ủng hộ chúng tôi bằng các chương trình hợp tác nghiên cứu để tôi có thể tích lũy tư liệu thực hiện luận án
- Học viện Khoa học xã hội và Khoa Khảo cổ học đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án
- Các bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Cuối cùng, là lời tri ân của tôi tới gia đình tôi, nơi đã động viên và đáp ứng mọi điều kiện về tinh thần cũng như vật chất để tôi có thể chuyên tâm học tập và hoàn thành luận án
Xin trân thành cảm ơn./
Trang 5MỤC LỤC
Bảng các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu sử dụng trong chính văn
Danh mục phụ lục minh họa
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6
7 Cơ cấu của luận án 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TƯ LIỆU 7
1.1 Vài nét về vùng đất Khánh Hòa 7
1.2 Lịch sử nghiên cứu 12
1.3 Cơ sở lý thuyết 34
1.4 Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG HỆ THỐNG DI TÍCH 39
2.1 Đặc trưng không gian phân bố di tích 39
2.2 Đặc điểm cấu tạo địa tầng - tầng văn hóa 46
2.3 Đặc trưng loại hình di tích 52
2.4 Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG HỆ THỐNG DI VẬT 64
3.1 Đồ đá 64
3.2 Đồ gốm 81
3.3 Đồ xương và nhuyễn thể 93
3.4 Đồ thủy tinh 96
3.5 Đồ kim loại 97
Trang 63.6 Đặc trưng di vật 104
3.7 Tiểu kết chương 3 108
CHƯƠNG 4: VỊ TRÍ CỦA TIỀN SỬ VÀ SƠ SỬ KHÁNH HÒA TRONG MỐI QUAN HỆ KHU VỰC 110
4.1 Niên đại và các giai đoạn phát triển 110
4.2 Phương thức sống và tổ chức xã hội 124
4.3 Khảo cổ học tiền sử và sơ sử Khánh Hòa trong mối quan hệ khu vực 131
4.4 Tiểu kết chương 4 145
KẾT LUẬN 147
Danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án 150
Tài liệu tham khảo 152
Phụ lục minh họa 166
Trang 7ĐHQG - Đại học Quốc gia
KHXH&NV - Khoa học Xã hội và Nhân văn
HNTBVKCH - Hội nghị thông báo về khảo cổ học
VHDT - Văn hóa Dân tộc
VHTT - Văn hóa Thông tin
UBND - Ủy ban nhân dân (tỉnh)
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU SỬ DỤNG TRONG CHÍNH VĂN
Bảng 2.1: Thống kê di tích phân bố theo địa hình và địa giới hành chính Bảng 3.1: Thống kê di vật đá thời tiền sử và sơ sử Khánh Hòa
Bảng 3.2: Thống kê di vật xương và vỏ nhuyễn thể
Bảng 3.3: Thống kê di vật kim loại
Bảng 4.1: Phân kỳ giai đoạn phát triển văn hóa tiền sử và sơ sử Khánh Hòa Bảng 4.2: Biểu đồ tỉ lệ phân hóa mộ táng ở di tích Hòa Diêm
DANH MỤC PHỤ LỤC MINH HỌA
BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính Việt Nam [Nguồn: 141]
Bản đồ 2: Bản đồ phân bố di tích khảo cổ học Khánh Hòa [Nguồn: 6]
Bản ảnh 3: Các di tích phân bố vùng cồn bàu ven biển [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 4: Khai quật di tích Văn Tứ Đông [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 5: Các di tích phân bố vùng cồn bàu ven biển [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 6: Khai quật di tích Vĩnh Yên năm 2009 [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 7: Di tích Trảng Cháy khai quật năm 2010 [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 8: Các di tích phân bố vùng cồn bàu ven biển [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 9: Các di tích phân bố vùng cồn bàu ven biển
Trang 9Bản ảnh 10: Di tích Hòa Diêm
Bản ảnh 11: Di tích Gò Duối khai quật năm 2008 [Nguồn: 37]
Bản ảnh 12: Di tích Gò Miếu khai quật năm 2015 [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 13: Khảo sát huyện đảo Trường Sa [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 14: Địa tầng di tích Văn Tứ Đông [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 15: Địa tầng di tích [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 16: Địa tầng di tích
Bản ảnh 17: Mộ chôn nằm co bó gối ở di tích Vĩnh Yên [Nguồn: Tác giả] Bản ảnh 18: Khai quật nhóm mộ chum vò
Bản ảnh 19: Mộ chum di tích Hòa Diêm
Bản ảnh 20: Mộ chum Hòa Diêm
Bản ảnh 21: Mộ chum Hòa Diêm
Bản ảnh 22: Di cốt người cổ
Bản ảnh 23: Vết tích di tích cư trú
Bản ảnh 24: Di tích vỏ nhuyễn thể và xương động vật trong các di tích tiền sơ
sử ở Khánh Hòa [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 25: Đồ đá văn hóa Xóm Cồn [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 26: Đồ đá văn hóa Xóm Cồn [Nguồn: 6]
Bản ảnh 27: Đồ đá văn hóa Xóm Cồn [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 28: Đồ đá văn hóa Xóm Cồn [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 29: Hiện vật xương và vỏ nhuyễn thể
Bản ảnh 30: Đồ gốm văn hóa Xóm Cồn giai đoạn sớm khai quật ở di tích Xóm Cồn [Nguồn: 6]
Bản ảnh 31: Đồ gốm văn hóa Xóm Cồn giai đoạn sớm ở Văn Tứ Đông [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 32: Đồ gốm văn hóa Xóm Cồn giai đoạn muộn ở di tích Văn Tứ Đông [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 33: Đồ gốm văn hóa Xóm Cồn giai đoạn muộn ở di tích Vĩnh Yên [Nguồn: Tác giả]
Trang 10Bản ảnh 34: Đồ gốm một số di tích thời tiền sơ sử ở Khánh Hòa [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 35: Đồ gốm tùy táng trong mộ di tích Hòa Diêm
Bản ảnh 36: Đồ gốm cư trú ở cụm di tích Hòa Diêm
Bản ảnh 37: Đồ trang sức và đồ đồng tùy táng trong mộ Hòa Diêm [Nguồn: 157]
Bản ảnh 38: Đồ đồng thời tiền sơ sử ở Khánh Hòa
Bản ảnh 39: Đồ sắt thời tiền sơ sử ở Khánh Hòa
Bản ảnh 40: Đánh bắt nhuyễn thể ở đầm Thủy Triều
Bản ảnh 41: Đồ tùy táng trong một số một chum di tích Hòa Diêm [Nguồn: 4] Bản ảnh 42: Di tích, di vật thời tiền sử ở Buôn Râu (Đắk Lắk) [Nguồn: Tác giả]
Bản ảnh 43: Các nhóm di vật tiền sơ sử ở Khánh Hòa, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Bản ảnh 44: Tiền sơ sử Khánh Hòa với các khu vực khác
Bản ảnh 45: Đồ gốm Sa Huỳnh và Đông Nam Á hải đảo
BẢN VẼ
Bản vẽ 1: Di tích Văn Tứ Đông [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 2: Mặt bằng xuất lộ di tích ở các hố khai quật Văn Tứ Đông năm 2006 [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 3: Địa tầng di tích Văn Tứ Đông [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 4: Không gian di chỉ và các khu cư trú tập trung của cư dân Vĩnh Yên [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 5: Mẳt bằng xuất lộ di tích ở một số hố đào di tích Vĩnh Yên [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 6: Một số đoạn địa tầng tiêu biểu ở di tích Vĩnh Yên
Bản vẽ 7: Di tích mộ táng ở Vĩnh Yên [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 8: Mặt bằng di tích Trảng Cháy [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 9: Mặt bằng và mặt cắt địa tầng hố đào Trảng Cháy năm 2010
Trang 11[Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 10: Vị trí các hố đào khảo cổ ở Hòa Diêm các năm 1999 và 2002 [Nguồn: 24]
Bản vẽ 11: Bình diện hố khai quật 1 năm 2002 ở Hòa Diêm [Nguồn: 24]
Bản vẽ 12: Vị trí các hố đào di tích Hòa Diêm năm 2007 và 2010 [Nguồn: 157]
Bản vẽ 13: Vị trí hố đào di tích Hòa Diêm năm 20011 [Nguồn: 22, tr 18]
Bản vẽ 14: Một số mộ chum ở di tích Hòa Diêm năm 2007 [Nguồn: 157]
Bản vẽ 15: Di tích Gò Duối [Nguồn: 37]
Bản vẽ 16: Di tích Gò Duối khai quật năm 2008 [Nguồn: 37]
Bản vẽ 17: Rìu bôn đá văn hóa Xóm Cồn [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 18: Công cụ đá ở các di tích Xóm Cồn giai đoạn muộn [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 19: Một số loại hiện vật đá ở Vĩnh Yên [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 20: Bàn mài [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 21: Hòn ghè - Hòn kê [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 22: Vòng đá văn hóa Xóm Cồn [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 23: Phác - phế vật đồ đá [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 24: Miệng nồi gốm di tích Văn Tứ Đông [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 25: Miệng nồi gốm di tích Vĩnh Yên [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 26: Một số loại miệng nồi gốm [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 27: Miệng bát gốm di tích Văn Tứ Đông [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 28: Miệng bát gốm di tích Vĩnh Yên [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 29: Một số loại chân đế bình và bát bồng trong văn hóa Xóm Cồn [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 30: Một số hiện vật gốm thuộc văn hóa Xóm Cồn giai đoạn muộn [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 31: Một số loại chum mộ Hòa Diêm khai quật năm 2011 [Nguồn: 4] Bản vẽ 32: Một số đồ gốm tùy táng trong mộ chum Hòa Diêm
Trang 12Bản vẽ 33: Một số loại hình gốm khu cư trú Hòa Diêm khai quật năm 2008 [Nguồn: 37]
Bản vẽ 34: Một số loại hình gốm cư trú ở Gò Duối khai quật năm 2008 [Nguồn: 37]
Bản vẽ 35: Một số loại hình gốm cư trú ở Gò Miếu [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 36: Hiện vật xương trong văn hóa Xóm Cồn [Nguồn: Tác giả]
Bản vẽ 37: Hiện vật trang sức và công cụ sắt ở Hòa Diêm
Bản vẽ 38: Sưu tập hiện vật gốm đá di tích Buôn Râu ở trung tâm tỉnh Đắk Lắk [Nguồn: 123, tr 19-20]
Bản vẽ 39: Sưu tập hiện vật gốm di tích Kalanay [Nguồn: 159]
BẢN DẬP HOA VĂN
Bản dập 1: Hoa văn đồ gốm văn hóa Xóm Cồn giai đoạn sớm ở Văn Tứ Đông Bản dập 2: Hoa văn đồ gốm văn hóa Xóm Cồn giai đoạn muộn ở Vĩnh Yên Bản dập 3: Hoa văn đồ gốm văn hóa Xóm Cồn giai đoạn muộn ở các di tích Hòa Do 5A và Vĩnh Hải
Bản dập 4: Hoa văn đồ gốm di tích Hòa Diêm khai quật năm 2011 [Nguồn: 4] Bản dập 5: Hoa văn đồ gốm di tích Hòa Diêm khai quật năm 2007 [Nguồn: 37]
Bản dập 6: Hoa văn đồ gốm di tích Gò Duối khai quật năm 2007 [Nguồn: 37] Bản dập 7: Hoa văn đồ gốm di tích Gò Miếu [Nguồn: Tác giả]
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ, nơi có phần lãnh thổ trên đất liền vươn xa nhất về phía biển Đông, nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ của Tây Nguyên thông ra biển Đông, Khánh Hòa có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về các mặt chính trị, kinh
tế, văn hóa và quốc phòng an ninh của đất nước
Chính vì nằm ở vị trí thuận lợi như vậy nên ngay sau khi vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung bộ thành tạo ổn định, trên dải đất Khánh Hòa đã có dấu tích
cư trú của con người khá đông đúc Việc nghiên cứu khảo cổ học Khánh Hòa nhằm tìm hiểu những nền văn hóa cổ xưa nhất, góp phần làm rõ ràng hơn bức tranh lịch
sử văn hóa Khánh Hòa là một hành động thiết thực và cũng chính là trách nhiệm của chúng ta góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, giữ vững
quốc phòng an ninh ở một vùng đất có vị trí chiến lược của đất nước
1.2 Trong những năm qua, đặc biệt là khoảng 10 năm trở lại đây, khảo cổ học giai đoạn tiền sử và sơ sử Khánh Hoà đã đạt được những thành tích đáng khích lệ cả
về số lượng và chất lượng công việc Nếu đến trước năm 2005, số lượng di tích giai đoạn tiền sử và sơ sử ở Khánh Hòa phát hiện được mới chỉ khoảng gần một chục địa điểm, thì chỉ từ năm 2005 đến nay, số lượng di tích đã lên đến con số gần 40 địa điểm Trên cơ sở những phát hiện mới về các di tích, nhiều cuộc khai quật nghiên cứu đã được thực hiện, trong đó có những cuộc khai quật rất lớn, như cuộc khai quật di dời di chỉ Vĩnh Yên (Vạn Ninh) năm 2009, thể hiện tinh thần bảo vệ di sản văn hóa cao Kết quả của những đợt điều tra, thám sát và khai quật đó đã đóng góp thêm nhiều tư liệu mới và từ đó không ngừng gia tăng sự hiểu biết về lịch sử văn
hóa Khánh Hoà thời Tiền sử và Sơ sử
Do công tác khảo cổ trên đất Khánh Hòa được thực hiện bởi nhiều cơ quan nghiên cứu, ở những thời điểm khác nhau, nên việc hệ thống hóa khối tư liệu đó là một yêu cầu cần thiết Hơn nữa, nghiên cứu các vấn đề khảo cổ tiền sử và sơ sử ở
Trang 14tỉnh Khánh Hòa không thể tiến hành riêng rẽ ở từng địa điểm, mà phải tiến hành tổng thể và cần phải đặt trong không gian khu vực để có thể thấy được sự hình
thành và phát triển và đặc trưng của các nền văn hóa cổ ở đây
1.3 Vì yêu cầu công tác, nghiên cứu sinh có cơ may được kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, cùng với kinh nghiệm và tư liệu tích lũy được qua các mùa điền dã khảo cổ từ năm 2005 đến nay Nghiên cứu sinh đã tham gia khai quật nghiên cứu và biên soạn hồ sơ báo cáo khoa học kết quả khai quật nhiều di tích: khai quật di tích Văn Tứ Đông hai lần vào các năm 2006 và 2012, khai quật Cù Hin năm 2008, khai quật Vĩnh Yên năm 2009, khai quật Trảng Cháy năm 2010, khai quật Hòa Do 5A năm 2011 Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh cũng tham gia điều tra tổng thể tất cả các di tích khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
và góp phần phát hiện thêm hơn 20 di tích khảo cổ giai đoạn tiền sơ sử phân bố trên vùng đất Khánh Hòa mà trước đây chưa được biết tới
Để góp phần tìm hiểu đặc trưng di tích và di vật khảo cổ giai đoạn tiền sử và
sơ sử ở Khánh Hòa, xác định những giá trị văn hóa và những đóng góp của nó đối với thời đại kim khí miền Trung Việt Nam, nghiên cứu sinh đã mạnh dạn chọn đề
tài “Khảo cổ học Tiền sử và Sơ sử Khánh Hòa” làm đề tài luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài luận án đặt ra 4 mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa toàn bộ khối tư liệu khảo cổ thời tiền sơ sử Khánh Hòa hiện biết cho đến nay qua các đợt điều tra, thám sát và khai quật của các nhà khảo cổ học, qua những sưu tập hiện vật được phát hiện, sưu tầm trong nhân dân và đang được lưu giữ ở BT Khánh Hòa; Hệ thống cơ bản các kết quả nghiên cứu về khảo cổ học tiền sơ sử ở Khánh Hòa từ trước đến nay nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu một cái nhìn tổng quan về tư liệu khảo cổ học tiền sơ sử Khánh Hòa
- Trên cơ sở hệ thống hóa di tích và di vật, tìm hiểu đặc trưng của từng di tích, từng loại hình và từng cụm (hay nhóm) di tích, cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau
Trang 15- Nghiên cứu so sánh các di tích, các nhóm di tích ở Khánh Hòa với nhau nhằm làm rõ mối quan hệ văn hóa và sự phát triển theo trật tự thời gian, từ đó có thể phác thảo nên diện mạo văn hóa thời tiền sơ sử ở Khánh Hòa
- Tìm hiểu vị trí của hệ thống di tích khảo cổ học Khánh Hòa trong bối cảnh thời tiền sơ sử khu vực Nam Trung bộ và xa hơn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, cần thực hiện những nhiệm vụ:
- Điền dã, khảo sát lại hiện trạng toàn bộ những di tích đã được phát hiện nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu nghiên cứu đã có để xác định và hệ thống hóa đặc điểm cơ bản của tiền sơ sử Khánh Hòa
- Nghiên cứu, phân tích tư liệu và xây dựng các bảng biểu thống kê, nghiên cứu kỹ thuật tạo hình và so sánh loại hình di tích, di vật theo các chiều đồng đại và lịch đại nhằm xây dựng được một hệ thống các bước phát triển của các nhóm di tích, di vật khảo cổ qua từng giai đoạn lịch sử
- Điền dã, khảo sát, thu thập thông tin và tổng hợp tư liệu khảo cổ học giai đoạn tiền sơ sử ở các tỉnh lân cận như Đắk Lắk, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận làm cơ sở dữ liệu đối sánh nhằm làm rõ sự phân bố các di tích khảo cổ ở Khánh Hòa
- Tổng hợp những kết quả nghiên cứu đã công bố về văn hóa Sa Huỳnh, về giai đoạn tiền sơ sử Tây Nguyên, về văn hóa Đồng Nai ở Nam Trung Bộ, về tiền sơ
sử ở vùng Đông Nam Á hải đảo làm tư liệu nghiên cứu so sánh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài luận án là các di tích, di vật khảo cổ giai đoạn tiền sơ sử ở Khánh Hòa Bao gồm tư liệu của hệ thống gần 40 địa điểm khảo cổ đã phát hiện điều tra, thám sát và khai quật ở Khánh Hòa Trong đó, đặc biệt chú trọng đến khối tư liệu từ 10 địa điểm đã được khai quật nghiên cứu gồm: Vĩnh Yên, Văn Tứ Đông, Trảng Cháy, Cù Hin, Hòa Do 5A, Xóm Cồn, Bình Hưng, Bích Đầm, Hòa Diêm, Gò Duối Cùng những sưu tập hiện vật đã thu thập được ở
Trang 16Khánh Hòa từ trước đến nay
Đề tài còn tham khảo thêm các di tích, di vật khảo cổ thuộc giai đoạn tiền sơ
sử ở các tỉnh lân cận trong khu vực Nam Trung bộ, Trung Trung bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên Việt Nam Và ở một mức độ nhất định là một số di tích tiền sơ sử ở khu vực Đông Nam Á hải đảo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, giới hạn chính của đề tài nằm ở địa bàn hành chính của tỉnh Khánh Hòa hiện tại Đồng thời không gian khu vực cũng được đề cập sơ lược nhằm làm rõ vị trí và mối quan hệ giữa các di tích, di vật thời tiền sơ sử ở Khánh Hòa trên bình diện khu vực
Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống di tích, di vật giai đoạn tiền
sơ sử, nằm trong khung niên đại từ 3.500 năm đến trên dưới 2.000 năm BP
Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu các nhóm vấn đề chính gồm: Xác định đặc trưng cơ bản của nhóm di tích, di vật thời tiền sơ sử ở Khánh Hòa; trên cơ
sở đó xác định đặc trưng văn hóa, xã hội và môi trường sống của các nhóm cư dân
cổ nơi đây và bước đầu tìm hiểu vị trí của khảo cổ học tiền sơ sử Khánh Hòa trong mối quan hệ với khu vực
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Đề tài Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu và khái quát giá trị đặc trưng về văn hóa - lịch sử của hệ thống di tích, di vật khảo cổ tiền sử và sơ sử ở Khánh Hòa trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, môi trường kinh
tế - lịch sử - xã hội; cũng như trong quá trình phát triển và giao lưu, tiếp biến văn hóa với khu vực
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Điền dã khảo cổ học: bao gồm nghiên cứu hiện trường từ khảo sát đánh giá
sơ bộ di tích, điều tra, đào thám sát, cho đến khai quật khảo cổ được sử dụng với mục đích thu thập tư liệu khảo cổ tại tất cả các di tích tiền sơ sử ở Khánh Hòa Khảo
Trang 17sát đánh giá sơ bộ được áp dụng với những di tích được phát hiện lần đầu Điều tra, đào thám sát nhằm đánh giá trữ lượng và giá trị nghiên cứu của từng di tích để phục
vụ công tác khai quật nghiên cứu tiến hành sau đó Khai quật khảo cổ nhằm thu thập toàn bộ những thông tin cần thiết về từng di tích cụ thể phục vụ cho công tác nghiên cứu chuyên ngành
- Nghiên cứu chỉnh lý khảo cổ trong phòng: mục đích nghiên cứu phân loại loại hình di tích, di vật; về các mặt kỹ thuật chế tạo các loại hiện vật chất liệu khác nhau… bằng các kỹ thuật thống kê, mô tả, chụp ảnh, dập hoa văn, đo vẽ…
- Phân tích tư liệu: Bên cạnh những tư liệu do Nghiên cứu sinh trực tiếp tham gia, còn có một khối lượng lớn tư liệu nghiên cứu do những nhà khảo cổ khác thực hiện Trong đó có những cuộc khai quật đã được thực hiện nhiều năm trước khi Nghiên cứu sinh bước vào nghề, do vậy, thu thập và phân tích khối tư liệu này là nhiệm vụ bắt buộc Bên cạnh đó những tài liệu nghiên cứu ở dạng khái quát về khảo
cổ học trên bình diện khu vực cũng được thu thập và phân tích, nhằm đưa ra những đánh giá về đặc trưng và giá trị lịch sử - văn hóa của tiền sử và sơ sử Khánh Hòa
- Nghiên cứu so sánh: là phương pháp được sử dụng phổ biến để phát hiện ra những điểm giống và khác nhau giữa các di tích, các nhóm di tích hay giữa các nền văn hoá khảo cổ Trong quá trình thực hiện đề tài luận án, phương pháp nghiên cứu
so sánh được sử dụng nhằm để thấy được những nét tương đồng và khác biệt giữa các nhóm di tích Xóm Cồn - Hòa Diêm - Diên Sơn và rộng hơn là giữa tiền sơ sử Khánh Hòa với các khu vực khác nhằm làm rõ vai trò và vị trí của nó trong tiến trình lịch sử khu vực
- Phỏng vấn: được thực hiện đan xen trong quá trình nghiên cứu, với cách thức chủ yếu là thảo luận và chắt lọc các ý kiến của những chuyên gia nghiên cứu đi trước về khảo cổ học và ở các lĩnh vực liên quan về các phương diện thuộc lý thuyết nghiên cứu hoặc về các vấn đề cụ thể liên quan đến đề tài luận án
- Nghiên cứu liên ngành và đa ngành: được áp dụng để khai thác từng lĩnh vực
cụ thể bổ khuyết cho đề tài luận án: các phương pháp phân tích mẫu bằng khoa học
tự nhiên như 14C nhằm tìm kiếm niên đại tuyệt đối cho các di tích khảo cổ; cổ sinh
Trang 18học và phân tích mẫu bào tử phấn hoa nhằm tìm hiểu về môi trường tự nhiên của khu vực nghiên cứu; cổ nhân học nghiên cứu về di cốt và nhân chủng…
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án góp thêm một nguồn tư liệu nghiên cứu làm rõ hơn bức tranh văn hóa
Khánh Hòa thời tiền sử và sơ sử thể hiện qua các điểm sau:
- Hệ thống toàn bộ tư liệu về di tích và di vật giai đoạn tiền sơ sử ở Khánh Hòa
từ trước đến nay Cung cấp cho các nhà nghiên cứu những thông tin đầy đủ, cập
nhật về khảo cổ học Khánh Hòa
- Xác định đặc trưng chung và riêng của các nhóm di tích và di vật thời tiền sử
và sơ sử trên đất Khánh Hòa Từ đó phác thảo nên bức tranh kinh tế, văn hóa, xã hội
của các nhóm cư dân giai đoạn tiền sử và sơ sử ở Khánh Hòa
- Bước đầu xác định vị trí của văn hóa tiền sử và sơ sử Khánh Hòa trong
không gian khu vực và trong quá trình phát triển văn hóa, văn minh Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý văn hóa các cấp xây dựng các phương án quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị các di tích tiền sơ sử ở Khánh Hòa
Những tư liệu được hệ thống hóa và kết quả nghiên cứu từ luận án cung cấp thêm một nguồn tư liệu giúp các nhà khoa học, các bạn bè trong và ngoài nước quan
tâm đến lịch sử văn hóa Khánh Hòa có thể nghiên cứu, tìm hiểu
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan tư liệu
- Chương 2: Đặc trưng hệ thống di tích
- Chương 3: Đặc trưng hệ thống di vật
- Chương 4: Vị trí của tiền sử và sơ sử Khánh Hòa trong mối quan hệ khu vực Ngoài ra, trong luận án còn các mục: Tài liệu tham khảo và Phụ lục minh hoạ Phần đầu của luận án có Lời cam đoan, Bảng các chữ viết tắt, Danh mục các bảng biểu sử dụng trong chính văn, Danh mục phụ lục minh hoạ
Trang 19Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển dài và đẹp nhất Việt Nam. Đường bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, độ dài khoảng 385km với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, cùng khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ
và các đảo san hô của quần đảo Trường Sa Khánh Hòa có sáu đầm và vịnh lớn, đó
là Đại Lãnh, Vân Phong, Hòn Khói, Nha Phu, Nha Trang (Cù Huân) và Cam Ranh Trong đó có nổi bật nhất vịnh Cam Ranh với chiều dài 16km, chiều rộng 32km, thông với biển qua eo biển rộng 1,6km, có độ sâu từ 18m - 20mvà được xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á
Khánh Hòa nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Song khí hậu Khánh Hòa có những nét biến dạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt So với các tỉnh, thành phía Bắc từ Đèo Cả trở ra và phía Nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa ôn hòa hơn Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm
Trang 20Những tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng Nhiệt
độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7°C, riêng trên đỉnh núi Hòn Bà (cách Nha Trang 30km) có khí hậu như Đà Lạt và Sa Pa Độ ẩm tương đối khoảng 80,5% Từ tháng 1 đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổi dần Những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25°C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34°C (ở Nha Trang) và 37-38°C (ở Cam Ranh) Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhiệt độ thay đổi từ 20-27°C (ở Nha Trang) và 20-26°C (ở Cam Ranh) Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào đất liền thấp chỉ khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển nước ta Tuy vậy, do địa hình sông suối có độ dốc cao nên khi có bão kèm theo mưa lớn, làm nước dâng cao nhanh chóng, trong khi đó
sóng bão và triều dâng lại cản đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt
Nằm ở phần cuối của dải Trường Sơn Nam, Khánh Hoà là vùng chuyển tiếp
từ núi xuống biển nên địa hình bị chia cắt mạnh mẽ Địa hình núi và bán sơn địa chiến ¾ diện tích Miền đồng bằng lại bị chia thành từng ô, cách ngăn bởi những dãy núi ăn ra biển Do đó để đi dọc tỉnh, phải đi qua rất nhiều đèo như đèo Cả, đèo
Cổ Mã, đèo Chín Cụm, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, các đồng bằng nhỏ hẹp, bờ biển bị chia cắt nhiều vũng, vịnh lớn nhỏ từ vũng Rô, Ô Loan tới vịnh Cam Ranh Nhìn chung, do điều kiện tự nhiên quy định nên ở Khánh Hoà tồn tại đầy đủ các hệ sinh thái tự nhiên - nhân văn của Việt Nam: núi rừng - đồng bằng - biển (gồm cả vùng cồn bàu, đầm phá ven biển) và hải đảo
Hệ thống sông ngòi dày đặc, ngắn và dốc, chảy theo hướng tây - đông chia cắt vùng đất Khánh Hoà nhưng cũng chính là cầu nối giữa núi rừng với biển đảo
Có thể chia địa hình Khánh Hòa thành ba vùng chính: Vùng núi và bán sơn
địa; Vùng đồng bằng; Vùng ven biển và hải đảo
Vùng núi và bán sơn địa: Khánh Hòa là một tỉnh có địa hình tương đối cao ở Việt Nam, độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 60m Núi ở Khánh Hòa hiếm những đỉnh cao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dải Trường Sơn, lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng Phía
Trang 21Bắc và Tây Bắc tỉnh là vùng núi cao thuộc dãy Vọng Phu cao hơn 1000m, trong đó
có dãy Tam Phong gồm ba đỉnh núi cao là Hòn Giữ (cao 1264m), Hòn Ngang (1128m) và Hòn Giúp (1127m) Các núi thuộc đoạn giữa của tỉnh thường có độ cao kém hơn, có nhiều nhánh đâm ra sát biển tạo nên nhiều cảnh đẹp nổi tiếng, gắn với những huyền thoại dân gian, di tích lịch sử như Hòn Giữ, núi Chúa với chùa Suối Ngỗ, Hòn Ngang - Suối Phèn có miếu thờ Thái tử Bắc Hải, hòn Bà (tức bà Thiên Yana), hòn Cù Lao có tháp Po Nagar, và các cảnh đẹp thiên nhiên như Thác Ba Hồ, suối Ồ Ồ, eo Gió Đến phía Nam và Tây Nam, lại xuất hiện một vùng núi rộng, với nhiều đỉnh núi cao trên 1500m đến trên 2000m, trong đó có Đỉnh Hòn Giao (2062m) thuộc địa phận huyện Khánh Vĩnh, là đỉnh núi cao nhất Khánh Hòa Do có nhiều núi cao, mật độ chia cắt lớn bởi khe, suối, sông tạo thành nhiều hẻm, vực,
thung lũng sâu, gây khó khăn cho giao thông
Đồng bằng ở Khánh Hòa nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra biển Chẳng những thế, địa hình rừng núi của tỉnh không thuận lợi cho quá trình lắng đọng phù sa, nên nhìn chung Khánh Hòa không phải là nơi thuận lợi để phát triển nông nghiệp Các đồng bằng lớn ở Khánh Hòa gồm có đồng bằng Nha Trang - Diên Khánh nằm ở hai bên sông Cái với diện tích 135km²; đồng bằng Ninh Hòa do sông Dinh bồi đắp, có diện tích 100km² Cả hai đồng bằng này đều được cấu tạo từ đất phù sa cũ và mới, nhiều nơi pha lẫn sỏi cát hoặc đất cát ven biển Ngoài ra, Khánh Hòa còn có hai vùng đồng bằng hẹp là đồng bằng Vạn Ninh và đồng bằng Cam Ranh ở ven biển Các đồng bằng ở Khánh Hòa được hình thành rất muộn Phần lớn diện mạo đồng bằng hiện tại chỉ được hình thành trong vài thiên niên kỷ gần đây,
đặc biệt là sau cực đại biển tiến Holocene trung
Thềm lục địa tỉnh Khánh Hòa rất hẹp, đường đẳng sâu chạy sát bờ biển Địa hình vùng thềm lục địa phản ánh sự tiếp nối của cấu trúc địa hình trên đất liền Các nhánh núi Trường Sơn đâm ra biển trong quá khứ địa chất như dãy Phước Hà Sơn, núi Hòn Khô, dãy Hoàng Ngưu không chỉ dừng lại ở bờ biển để tạo thành các mũi Hòn Thị, mũi Khe Gà (Con Rùa), mũi Đông Ba mà còn tiếp tục phát triển rất xa
về phía biển mà ngày nay đã bị nước biển phủ kín Vì vậy, dưới đáy biển phần thềm
Trang 22lục địa cũng có những dãy núi ngầm mà các đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình thành các hòn đảo như hòn Tre, hòn Miếu, hòn Mun Xen giữa các đảo nổi, đảo ngầm là những vùng trũng tương đối bằng phẳng gọi là các đồng bằng biển (đồng bằng mài mòn, đồng bằng bồi tụ ), đó chính là đáy các vũng, vịnh như vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh Địa hình này rất thuận lợi cho việc cư trú của con người với phương thức kinh tế khai thác tự nhiên, chủ yếu là đánh bắt các loại hải sản sinh sống trong các đầm phá Tuy nhiên do những khu vực cồn cát chỉ được hình thành sau đợt biển tiến cực đại Holocene trung nên những làng cư trú
cổ ở Khánh Hòa cũng chỉ có thể hình thành vào khoảng cuối Holocene [141]
Ngoài các đảo đá, Khánh Hoà còn có các đảo san hô ở huyện đảo Trường Sa Quần đảo Trường Sa nằm ở phía nam biển Đông, cách Cam Ranh 250 hải lý (khoảng 450km), với khoảng 100 đảo bãi cạn, bãi ngầm rải rác trên một diện tích từ
160 đến 180.000km2, trong đó có từ 23 đến 25 đảo, bãi cạn nổi thường xuyên, với tổng diện tích 10km2 Đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa chỉ rộng 0,65km2 Bãi lớn nhất là bãi Thuyền Chài, dài 30km, rộng 5km (ngập nước khi triều lên) Về khí hậu, nhiệt độ không khí cao, ít biến động theo thời gian, gió mạnh, nhiều bão (trung bình 0,6 cơn/năm); nhiều mưa, mùa mưa kéo dài 8 tháng, mùa khô 4 tháng Địa hình trên bề mặt các đảo rất đơn giản, chỉ là những mõm đá, vách đá vôi san hô, cao vài ba mét Đất trên các đảo là đất đá vôi bị phong hóa, kết hợp với các thành phần hữu cơ như: phân chim, xác sinh vật biển, cây cỏ và nước khí quyển Các loại thực vật có bàng biển, mù u cây thân thảo Động vật trên cạn có rắn mối Động vật biển phong phú với nhiều loại: đồi mồi, ốc tai tượng, rùa biển, hải sâm, bào ngư và rất nhiều chim biển [18] Nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết trong Phủ biên
tạp lục: ''Các thứ chim có hàng ngàn, hàng vạn, thấy người thì đậu quanh không tránh Thứ chim từng đàn che kín mặt đất, mặt trời tiếng kêu át tiếng sóng Chim Yến, chim Nhạn biển đẻ trứng trong các hốc đá nhiều vô kể Nhiều người đi biển bị nạn trôi dạt lên đảo nhờ trứng chim, thịt chim mà khỏi chết đói'' [41, tr 154]
Biển Khánh Hoà là đoạn bờ biển cao và khúc khuỷu nhất Việt Nam, thuộc dạng bờ biển trẻ, quá trình xâm thực, mài mòn và bồi đắp tự nhiên phát triển mạnh
Trang 23Bờ biển có nhiều dạng khác nhau: bờ biển cát, bờ biển đá, bờ biển vùng vịnh và quanh các đảo Dọc bờ biển có nhiều vũng, vịnh, bãi triều, bãi cát trắng
Sông ngòi ở Khánh Hòa ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày Hai dòng sông lớn nhất tỉnh là Sông Cái (Nha Trang) và sông Dinh (Ninh Hòa) Hầu hết, các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía Đông Dọc
bờ biển, cứ khoảng 5 - 7km có một cửa sông Hướng chảy cơ bản của các sông là hướng Tây - Đông, uốn lượn tùy theo hướng của mạch núi kiến tạo hoặc do địa hình cục bộ và đổ ra biển Đông Đặc biệt là sông Tô Hạp, bắt nguồn từ dãy núi phía Tây
của huyện Khánh Sơn là con sông duy nhất của tỉnh chảy ngược dòng về phía Tây
Cấu tạo địa chất của Khánh Hòa chủ yếu là đá granit và Riônit, đaxit có nguồn gốc mắc-ma xâm nhập hoặc phún xuất kiểu mới Ngoài ra còn có các loại đá cát, đá trầm tích ở một số nơi Về địa hình kiến tạo, phần đất Khánh Hòa đã được hình thành từ rất sớm, là một bộ phận thuộc rìa phía Đông-Nam của địa khối cổ Kom Tom, được nổi lên khỏi mặt nước biển từ đại cổ sinh, cách đây khoảng 570 triệu năm Ở đại trung sinh có 2 chu kỳ tạo sản inđôxi và kimêri có ảnh hưởng một phần đến Khánh Hòa Do quá trình phong hóa vật lý, hóa học diễn ra trên nền đá granit, riônit đã tạo thành những hình dáng độc đáo, rất đa dạng, phong phú, góp phần làm cho thiên nhiên Khánh Hòa có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng Các loại đá, khi phong hóa thường tạo ra các loại đất feralit tầng mỏng, cấu tượng kém, đất chua, độ phì kém Với những đặc điểm như trên, hệ đất trồng của tỉnh rất đa dạng, với những nhóm
chính: đất feralit đỏ vàng, đất phù sa, đất phù sa, đất mặn, đất cát
Về chế độ hải vân: Sóng ở biển Khánh Hòa chủ yếu do gió mùa và bão gây nên Về mùa đông, gió mùa đông bắc thổi mạnh nên sóng phát triển cực đại và có hướng ổn định Độ cao sóng có khi đạt đến 2m - 3m Về mùa hạ, do ảnh hưởng của
gió mùa tây nam nên cường độ sóng yếu hơn, độ cao sóng ít khi vượt quá 0,9m
Chế độ thủy triều của vùng biển Khánh Hòa được xếp vào loại thủy triều hỗn hợp (kết hợp giữa nhật triều và bán nhật triều), thiên về nhật triều hơn Biển Khánh Hòa chịu ảnh hưởng của 2 dòng hải lưu chính Dòng hải lưu nóng chảy từ xích đạo
Trang 24lên ; và dòng hải lưu lạnh chảy từ Đài Loan xuống Hai dòng hải lưu này chảy gần
bờ, chảy ngược chiều nhau và đều do gió mùa tạo nên
Rừng Khánh Hòa là kiểu rừng nhiệt đới - gió mùa Đông Nam Á, ngoài ra cũng
có kiểu rừng á đới, ôn đới núi cao, nhưng không nhiều Rừng phát triển trên đất feralit hình thành từ đá gốc mắc ma xít: granit, riôlit hoặc phiến thạch, sa diệp thạch, tầng phong hóa mỏng, đất chua Mặc dù mùa khô ở Khánh Hòa kéo dài từ 7 đến 8 tháng, mùa mưa ngắn, cường độ mưa cao, thiếu ẩm, nhưng thời tiết có nền nhiệt độ cao, lượng mưa cả năm vượt quá 1.200mm (từ 1.200 đến 1.800mm/năm)
và có một ''mùa mưa nhỏ'' giữa mùa khô Vì vậy, rừng kín lá rộng thường xanh vẫn
có đủ điều kiện nhiệt - ẩm để phát triển
Cũng như các tỉnh miền Nam Trung Bộ khác, trên vùng đất Khánh Hoà có nhiều tộc người cùng sinh sống Cư dân chủ yếu thuộc về hai ngữ hệ: Mã Lai - Đa Đảo hay Nam Đảo gốc biển và Nam Á gốc đồi núi Hiện nay, dân số Khánh Hoà xấp xỉ 1 triệu người, gồm người Kinh và các dân tộc thiểu số Raglai, Êđê… cùng chung sống Riêng ở khu vực Cam Lâm và Cam Ranh thì chỉ có hai tộc người Việt
và Raglai sinh sống là chủ yếu
Tóm lại, Khánh Hoà là vùng đất có địa hình đa dạng, điều kiện tự nhiên phong phú thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và đặc biệt là các hoạt động
về ngư nghiệp như chế biến hải sản Cho nên trong lịch sử phát triển vùng đất Khánh Hòa, các nhóm người cổ đã sớm có mặt và sinh sống ở đây Điều đó đã tạo cho Khánh Hoà những nét văn hoá mang sắc thái riêng, đặc sắc trong diễn trình lịch
sử - văn hoá dân tộc [141]
1.2 Lịch sử nghiên cứu
1.2.1 Tình hình phát hiện và nghiên cứu
* Giai đoạn trước năm 1975:
Khảo cổ học tiền sử và sơ sử Khánh Hòa được đánh dấu mốc đầu tiên năm
1925 với sự kiện H.Mansuy, một nhà địa chất người Pháp công bố phát hiện 2 công
cụ bằng đá mài ở làng Bích Đầm, đảo Hòn Tre trong vịnh biển Nha Trang trên Tập san của Sở Địa chất Đông Dương vào năm 1925 Ông cho rằng, đây là hai nông cụ
Trang 25lao động thích hợp cho việc làm đất, song cũng không loại trừ là vật dụng dùng trong nghi lễ thờ cúng, có niên đại hậu kỳ thời đại đá mới [153, tr 18-19]
Gần 50 năm sau, năm 1973, một học giả người Pháp khác là E.Saurin, trong khi công bố về những phát hiện mộ chum Sa Huỳnh ở Hàng Gòn, gần Xuân Lộc (Đồng Nai) trong Tạp chí của Viện Viễn Đông bác cổ có nhắc đến một số rìu đá và mành gốm giống Sa Huỳnh tìm thấy ở cạnh nhà thờ Mỹ Ca, vịnh Cam Ranh [156,
pg 352]
Nhìn chung, ở giai đoạn trước năm 1975, khảo cổ học tiền sử và sơ sử Khánh Hòa cơ bản đều là những phát hiện ngẫu nhiên, mang tính báo dẫn rằng ở Khánh Hòa có một giai đoạn văn hóa tiền sơ sử vẫn đang nằm ngủ yên trong lòng đất Khác hẳn với tình hình nghiên cứu sôi động về kiến trúc, mỹ thuật Tháp Bà và bi ký Chămpa ở Khánh Hòa trong bối cảnh chung nghiên cứu về lịch sử, nghệ thuật Chămpa thời đó của các học giả người Pháp như: E.Aymonier, A.Bergaigne, J.Claeys, G.Goedes, L.Pinot, G.Maspero, H.Parmentier, P.Stern, J.Boisselier…
* Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay:
Sau ngày thống nhất đất nước, công tác nghiên cứu khảo cổ học ở miền Nam nói chung và ở Khánh Hòa nói riêng, tiếp tục được thực hiện bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam Đến nay, kết quả nghiên cứu tiền sử và sơ sử Khánh Hòa đã phân lập
ba nhóm văn hóa gồm: văn hóa Xóm Cồn, cụm di tích Hòa Diêm, văn hóa Sa Huỳnh ở Diên Sơn, nhóm cư dân sử dụng trống đồng Đông Sơn ở Khánh Hòa và một số phát hiện đơn lẻ khác
- Lịch sử nghiên cứu văn hóa Xóm Cồn bắt đầu từ những thông tin của người dân phường Cam Linh (Cam Ranh) về những hiện vật khảo cổ phát hiện ở địa điểm Xóm Cồn (Bản ảnh 3.1-2) Tháng 8/1979, Trịnh Sinh và Nguyễn Trọng Hiền đã
khảo sát Di chỉ Xóm Cồn (Phú Khánh) [103, tr 150-151] Đây là phát hiện cực kỳ
quan trọng, khẳng định trong lòng đất Khánh Hòa ẩn chứa một những dấu tích của một giai đoạn tiền sơ sử mà chúng ta chưa từng biết tới Phát hiện này cũng thu hút các nhà nghiên cứu khảo cổ học đến với Khánh Hòa và là tiền đề cho nhiều phát hiện mới và những công trình nghiên cứu về khảo cổ học tiền sơ sử Khánh Hòa ra
Trang 26đời ở giai đoạn sau
Phát hiện di tích Xóm Cồn được công bố trong Hội nghị KCH năm 1979 và được những người khảo sát xếp vào văn hóa Sa Huỳnh [103, tr 151] Tháng 3/1980, Trương Hoàng Châu khảo sát lại và cho rằng niên đại Xóm Cồn sớm hơn, thuộc giai đoạn sớm của văn hóa Sa Huỳnh [21] Tháng 5/1980, Nguyễn Duy Tỳ và Bùi Chí Hoàng tiến hành khảo sát lần thứ ba và mở một hố đào rộng 30,25m2 Nhóm khảo sát nhận định tính chất di tích giống với các di tích cồn sò điệp thuộc văn hóa Quỳnh Văn ở Nghệ An - Hà Tĩnh, có niên đại chuyển tiếp từ Hậu kỳ Đá mới sang
Sơ kỳ Kim khí, khoảng 3.500 - 4.000 năm BP [139, tr 147-151]
Căn cứ vào các kết quả khảo sát trên, cuối năm 1980, Viện BTLS Việt Nam (nay là BTLSQG Việt Nam) phối hợp với Sở VHTT Phú Khánh tiến hành khai quật 79m2 tại di tích Xóm Cồn Đây là cuộc khai quật khảo cổ đầu tiên ở Khánh Hòa Dựa vào tư liệu mới, Vũ Quốc Hiền đã nhận định Xóm Cồn là di tích thuộc Sơ kỳ thời đại đồng thau, tồn tại trong khoảng thiên niên kỷ II trước CN và cho rằng Xóm Cồn là một di tích nằm ngoài hệ thống văn hóa Sa Huỳnh [50, tr 34-44]
Hơn 10 năm sau, di tích Xóm Cồn tiếp tục được đào sâu nghiên cứu với đợt khai quật lần thứ hai, tháng 11/1991 của Viện BTLS Việt Nam và BT Khánh Hòa
Di tích được được khai quật tổng diện tích 92,75m2 Tầng văn hóa dày 0,8m - 1,1m đất cát đen tơi xốp, màu đất lớp dưới nhạt hơn lớp trên, ở lớp trên xuất lộ một vài đống vỏ sò nằm tập trung, các lớp dưới chứa nhiều mảnh gốm nằm thành từng đống Trong tầng văn hóa thu được vỏ nhuyễn thể, xương thú, xương cá, đồ đá và nhiều mảnh gốm vụn Từ kết quả khai quật, nhóm công tác nhận định Xóm Cồn là một di chỉ lớn, có tính chất tương đồng với các địa điểm khảo cổ ở vùng ven biển hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên mới được phát hiện và nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1988 - 1992 như: di tích Bình Hưng, Bình Ba (Cam Ranh), Đầm Già, Bãi Trủ, Bích Đầm (Hòn Tre, Khánh Hoà) và Gò Ốc, Giồng Đồn (Sông Cầu, Phú Yên)… Chúng là một cụm di tích thuộc về một văn hóa khảo cổ tiêu biểu cho khu vực Nam Trung Bộ thời tiền sử, là một nền văn hoá trước Sa Huỳnh, khác Sa Huỳnh và là một trong những nguồn tham góp vào sự hình thành văn hoá Sa Huỳnh
Trang 27[16], [17], [20, tr 95-100], [51], [139, tr 147-150] Chính trên cơ sở các lần khai quật Xóm Cồn vùng những tư liệu mới thu thập được, Nguyễn Công Bằng và các cộng sự đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm “Văn hóa Xóm Cồn” vào năm 1993 Khái niệm này được Vũ Quốc Hiền khẳng định vững chắc vào năm 1996 trong Luận án
Phó Tiến sĩ khoa học Lịch sử Văn hoá Xóm Cồn và vị trí của nó trong thời đại kim
khí ven biển Miền Trung của ông [51]
Năm 1988, Viện BTLS Việt Nam và BT Phú Khánh triển khai một đợt điều tra khảo cổ, kết quả đã phát hiện một số địa điểm khảo cổ [15, tr 57-58] Trong đó, hai địa điểm Bình Ba, Bình Hưng được xếp vào nhóm di tích văn hóa Xóm Cồn [17], [51] Tháng 5/1990 Viện BTLS Việt Nam khai quật di tích Bình Hưng diện tích 25m2 [19, tr 30-36] và đào thám sát đào thám sát 4m2 ở Hòn Cò - một gò cát bên dưới chân núi Bình Ba [16, tr 103-104]
Di tích Bình Hưng nằm trên một cồn cát ven biển ở phía tây nam đảo Bình Hưng, xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh Kết quả khai quật năm 1990 cho biết tầng văn hoá di tích chỉ có một lớp dày 0,35m - 0,4m, đất cát pha lẫn đất mùn thực vật từ trên núi chảy xuống, trong chứa mảnh gốm, vỏ ốc và hòn ghè Vỏ ốc chủ yếu
là loại ốc xà cừ, hầu hết đều bị đập vỡ để lấy thức ăn [19, tr 30-36]
Di tích Bình Ba nằm trên đảo Bình Ba, xã Cam Bình, thị xã Cam Ranh, toạ
độ 11053’20” vĩ Bắc và 109015’30” kinh Đông Năm 1988 tại sườn phía Tây núi Một - nằm ở giữa đảo Bình Ba, phát hiện dấu tích của di tích khảo cổ tiền sử Tháng 5/1990 di tích được đào thám sát 4m2 ở Hòn Cò - một gò cát bên dưới chân núi Trong hố phát lộ 1 ngôi mộ của một cá thể ở độ sâu 0,7m, được chôn thẳng xuống đất, tình trạng di cốt mủn nát, hộp sọ vỡ vụn, còn lại mấy chiếc răng và hai đoạn xương chi trên Đồ tuỳ táng là 1 đồ đựng có chân bằng đất nung, 3 hạt chuỗi hình ống bằng đá và một khuyên tai làm từ phần miệng của một con ốc Di tích có cùng khung niên đại với di tích Bình Hưng và di tích Xóm Cồn [16, tr 103-105], [51] Tháng 3/1990, Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội điều tra khảo cổ ở Khánh Hòa đã phát hiện và khảo sát hai di tích Bãi Trủ và Đầm Già, trên đảo Hòn Tre, phường Vĩnh Nguyên (Nha Trang) Ở cả hai địa điểm này, đều phát hiện di chỉ
Trang 28cồn sò điệp, nằm cùng với những mảnh gốm sứ, sành Những người khảo sát ghi nhận đây là di chỉ phức hợp văn hóa qua nhiều thời đại [144, tr 209-211]
Tại Bích Đầm - một làng chài nhỏ trên đảo Hòn Tre, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang Di tích phân bố trên mũi đất rộng khoảng 10.000m2 - một phần gắn liền với Hòn Lớn, xung quanh là biển bao bọc (Bản ảnh 9.1) Từ năm
1925, H.Mansuy đã công bố hai chiếc cuốc có vai bằng đá kích thước rất lớn tìm được tại đây [153, p 18-19] Năm 1991, di tích Bích Đầm được các nhà khảo cổ học Việt Nam khảo sát trong lúc đang khai quật di tích Xóm Cồn lần thứ hai Tháng 10/1993, di tích được khai quật nghiên cứu với tổng diện tích 86m2 Tầng văn hóa dày 0,5m - 0,6m, là lớp cát, phù sa biển màu nâu sẫm lẫn nhiều vỏ ốc, sò, hến biển
và hiện vật khảo cổ như công cụ chặt, rìu, bôn đá, công cụ vảy ốc và đồ gốm Đặc biệt, ở Bích Đầm đã tìm thấy một mảnh khuôn đúc giáo đồng Những người khai quật nhận định Bích Đầm nằm ở giai đoạn muộn của văn hóa Xóm Cồn [56, tr 128-130], [51]
Bước sang thế kỷ 21, khảo cổ học Khánh Hòa tiếp tục có nhiều phát hiện và nghiên cứu mới, cung cấp nhiều thông tin có giá trị góp phần hoàn thiện và làm sáng tỏ dần những mảng tối trong bức tranh văn hóa - lịch sử Khánh Hòa ở thời tiền
sử và sơ sử, nổi bật nên là những thành tựu trong nghiên cứu về văn hóa Xóm Cồn Đặc biệt, trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2015, công tác khảo cổ ở Khánh Hòa diễn ra rất sôi động, công tác nghiên cứu được đẩy mạnh, nhiều cuộc khai quật được tiến hành, trong đó có những cuộc điều tra và khai quật trên quy mô lớn, đã đưa ra ánh sáng một khối lượng tư liệu khảo cổ đồ sộ
Liên tiếp trong hai mùa điền dã năm 2005 và 2006, các cán bộ BT Khánh Hoà
và Viện KCH đã tiến hành điều tra trên các khu vực vũng, vịnh, cồn cát ven biển từ Cam Lâm đến Vạn Ninh Kết quả đã phát hiện thêm nhiều di tích mới, trong đó, giai đoạn tiền sơ sử gồm các di tích: Văn Tứ Đông, Cù Hin ở Cam Lâm; Vĩnh Yên, Đồi
Cô Đơn (Bản ảnh 9.6), Hồ Suối Lớn, Trản Bà Vải, Sơn Đừng ở Vạn Ninh [6], [7] Tháng 3/2009 trong đợt Khảo sát biển đảo Cam Ranh (Khánh Hòa), các cán bộ chuyên môn BT Khánh Hòa đã phát hiện mới 4 di tích Rừng Cấm (đảo Cam Bình),
Trang 29Hòn Lao (Cam Ranh) (Bản ảnh 9.4-5), Tân Hải, Trảng Cháy (Cam Lâm) đều thuộc giai đoạn tiền sơ sử, có niên đại khoảng 3.000 năm BP [6], [7]
Tháng 8/2010, BT Khánh Hòa tổ chức Hội thảo quốc tế Khảo cổ học Khánh Hòa Hội thảo đã bước đầu tổng kết, đánh giá những kết quả nghiên cứu, những tư liệu khai quật khảo cổ giai đoạn tiền sơ sử Khánh Hòa từ trước đến nay và đưa ra những định hướng nghiên cứu ở giai đoạn tiếp theo
Trong thời gian 2010 - 2011, công tác điều tra Quy hoạch Khảo cổ Khánh Hòa tiếp tục mở rộng diện khảo sát trên địa bàn toàn tỉnh, đến cả các vùng núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo của Khánh Hòa Đợt công tác đã phát hiện và nghiên cứu thêm các di tích mới thuộc giai đoạn tiền sơ sử như Vĩnh Hải, Gò Điệp (Cam Lâm), Hòa
Do 5A (Cam Ranh) và nhiều vết tích cư trú ở các địa điểm Suối Cam, Vĩnh Phú, Vĩnh Nam, Tân An (Cam Lâm) (Bản ảnh 1.6), Cam Nghĩa 1 (Bản ảnh 9.2), Cam Nghĩa 2 (Bản ảnh 9.3), Lợi Thịnh, Nghĩa trang Công giáo Cam Phúc Bắc, Sông Cạn (Cam Ranh) (Bản ảnh 1.5), Ba Cụm Bắc (Khánh Sơn) (Bản ảnh 1.1-2) và Gò Cát (Vạn Ninh) Trong đó, quan trọng nhất là việc phát hiện những dấu tích cư trú ở vùng núi và bán sơn địa cho biết mặc dù cư trú tập chung chủ yếu ở vùng cồn bàu ven biển nhưng các nhóm cư dân cổ Khánh Hòa đã triển khai kinh tế khai thác trên một không gian khá rộng [6]
Trên cơ sở các phát hiện ở trên, nhiều cuộc khai quật nghiên cứu về văn hóa Xóm Cồn đã liên tục được tiến hành: Di tích Văn Tứ Đông (Cam Lâm) được khai quật hai lần vào các năm 2006 và 2011; Di tích Vĩnh Yên (Vạn Ninh) được khai quật hai lần vào các năm 2007 và 2009, trong đó đợt khai quật năm 2009 đã khai quật nghiên cứu và di dời toàn bộ di tích về lưu giữ tại BT Khánh Hòa Khai quật di tích Cù Hin (Cam Lâm) năm 2008 Khai quật di tích Trảng Cháy (Cam Lâm) năm
2010 Khai quật di tích Hòa Do 5A (Cam Ranh) năm 2012…
Tại di tích Văn Tứ Đông, tháng 6 - 7/2006 BT Khánh Hoà đã phối hợp với Viện KCH tiến hành khai quật lần thứ nhất diện tích 79m2 và tháng 9-11/2011, khai quật lần thứ hai với diện tích 100m2 Di tích nằm ở thôn Văn Tứ Đông, xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm Tọa độ 12007’199" vĩ Bắc và 109009’567” kinh Đông, độ
Trang 30cao khoảng 5 - 7m so với mặt nước biển (Bản ảnh 3.4-5; 4; Bản vẽ 1) Đây là di tích “đống rác bếp” có tầng văn hóa dày từ 0,5m đến 1,7m, hình thành từ các loại vỏ nhuyễn thể ken dày đặc, trong có chứa các loại đồ đá, gốm và xương động vật Đặc trưng nổi bật của nhóm hiện vật Văn Tứ Đông là sự phong phú về số lượng nhưng lại nghèo nàn về loại hình Đồ đá phổ biến nhóm rìu hình bầu dục chuôi thuôn nhỏ,
ít chú trọng vẻ bề ngoài Đồ trang sức chỉ thấy duy nhất loại vòng đá mặt cắt ngang hình tam giác và hình chữ D Chất liệu đá sử dụng chế tạo rìu và vòng tay là loại đá xấu, được khai thác tại chỗ Cùng với một số lượng tương đối lớn bàn mài cho thấy,
cư dân ở đây có khả năng tự chế tạo các loại công cụ lao động và đồ trang sức, tuy nhiên nó mang tính chất nhỏ lẻ chứ không tập trung thành dạng công xưởng chế tác
Đồ xương và nhuyễn thể Văn Tứ Đông đại đa số công cụ làm từ các mảnh xương ống động vật, được mài chau chuốt, có thể được sử dụng làm suốt đan, vá lưới Một vài chiếc lại có tác dụng như dạng mũi kim hay mũi dùi để khâu vá Đồ gốm Văn
Tứ Đông có mật độ phân bố rất cao, đại đa số là loại văn chải mang chức năng kỹ thuật là chính, hiếm văn mỹ thuật kiểu khắc vạch, in ấn Xuất hiện loại gốm phủ lớp
áo mỏng, mịn và tô thổ hoàng tương tự đồ gốm tô màu trong văn hoá Xóm Cồn Trong cả hai lần khai quật đều thấy sự khác biệt mang tính diễn biến sớm muộn thể hiện ở đồ gốm [133] Từ những tư liệu thu được, lúc đầu những người khai quật nhận định Văn Tứ Đông thuộc loại hình di tích cồn sò điệp giống các di tích cồn sò điệp ở văn hoá Quỳnh Văn, có đặc trưng văn hóa của di tích khác Xóm Cồn và trước Xóm Cồn Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu so sánh đặc trưng của nhóm hiện vật thu được, họ đã thay đổi ý kiến và nhận định Văn Tứ Đông là di tích nằm trong không gian văn hoá Xóm Cồn, có niên đại dự đoán khoảng 3500 - 3000 năm BP [125, tr 3-18]
Tại di tích Vĩnh Yên nằm phía sau ngôi Đình thôn Vĩnh Yên, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, toạ độ 12042’525” vĩ Bắc và 109022’823” kinh Đông (Bản ảnh
nhất, diện tích 50m2 Tầng văn hóa di tích dày trung bình 1m, đất cát biển mịn, màu xám đen, chứa công cụ đá, đồ gốm mịn, mộ táng, bếp, cụm gốm và đá tập trung Di
Trang 31tích gồm 2 cụm rác bếp, 10 cụm gốm và đá tập trung, 8 mộ nồi hình cầu, hầu hết đều chôn theo đồ tuỳ táng rìu đồng, công cụ, vòng tay bằng đá hoặc nồi gốm Di vật
363 đồ đá, 3 đồ đồng, 45 viên thổ hoàng, 31 đồ đất nung, 62 mảnh tước… và 127.067 mảnh gốm Ngoài ra còn có xương động vật và vỏ nhuyễn thể Từ kết quả thu được, những người khai quật nhận định Vĩnh Yên là di chỉ cư trú - mộ táng và
là nơi phát triển các ngành nghề thủ công đúc đồng, làm gốm Cư dân Vĩnh Yên đã bước vào thời đại đồng thau có niên đại khoảng 3000 năm BP Đồng thời, qua nghiên cứu so sánh Vĩnh Yên với các di tích tiền sơ sử khác đã được khai quật nghiên cứu, họ cho rằng, dấu ấn văn hoá cổ nhất ở Khánh Hoà là Văn Tứ Đông, tiếp theo là giai đoạn văn hoá Xóm Cồn, giai đoạn phát triển cao của tiền sử Khánh Hoà
là giai đoạn Vĩnh Yên và tiếp nối là giai đoạn đỉnh cao với di chỉ Hoà Diêm [110, tr 12-24]
Phục vụ yêu cầu giải phóng mặt bằng xây dựng cảng biển trung chuyển quốc
tế Vân Phong, trong thời gian tháng 7-12/2009, BT Khánh Hoà và Viện KCH đã tiến hành khai quật nghiên cứu, di dời toàn bộ 2.200m2 di tích Vĩnh Yên Kết quả ghi nhận, tầng văn hoá di tích ổn định mang diễn biến của một giai đoạn văn hoá Tính chất di tích là di chỉ cư trú - mộ táng, trong đó nổi bật là tính chất di chỉ cư trú
sơ sử, nhiều dải gốm, cụm gốm đá là dấu tích của khu cư trú Di vật gồm 1460 hiện vật thuộc các nhóm chất liệu: đồ đá, đồ kim loại, đồ xương, nhuyễn thể, đồ gốm và trên 10 tấn gốm mảnh Vĩnh Yên là di chỉ khảo cổ học đầu tiên ở Khánh Hòa được khai quật nghiên cứu toàn bộ Kết quả khai quật ghi nhận đây là một ngôi làng cổ của cư dân văn hóa Xóm Cồn thuộc giai đoạn muộn, có niên đại cách ngày nay khoảng 2500 - 2000 năm BP [131, tr 22-32]
Ở di tích Cù Hin, sau khi phát hiện và đào thám sát vào tháng 7/2006 Tháng 5/2008, BT Khánh Hoà phối hợp với Viện KCH khai quật diện tích 50m2 Di tích nằm ở thôn Cù Hin, xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm Toạ độ 12007'127" vĩ Bắc
và 109011'347" kinh Đông Di tích có tầng văn hoá mỏng, độ dày trung bình 0,4m, đất cát màu trắng xám ngả đen nhạt, trong chứa ít di vật gốm đá Những người khai
Trang 32quật ghi nhận đây là loại hình di chỉ cư trú ngắn hạn, có niên đại tương đương và có mối quan hệ khá mật thiết với di chỉ Văn Tứ Đông [94, tr 169-170], [135]
Di tích Trảng Cháy phát hiện vào cuối năm 2009, thẩm tra vào cuối tháng 1/2010 Tháng 7 - 8/2010 khai quật với tổng diện tích 40m2 Di tích nằm ở thôn Tân Hải, xã Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm Toạ độ 12005’120” vĩ Bắc và 109010’178” kinh Đông Tầng văn hoá di tích chỗ dày nhất 120cm, lớp trên dày 0,45m đất pha cát màu đen và lớp dưới dày 0,75m là lớp vỏ nhuyễn thể dày đặc ken lẫn gốm mảnh dạng tàn tích sinh hoạt hàng ngày (Bản ảnh 7; Bản vẽ 8) Di vật gồm 38 đồ đá, 8072 mảnh gốm vụn và khoảng 450kg vỏ nhuyễn thể các loại Trảng Cháy là di chỉ cư trú
có mối liên hệ rất khăng khít với các cư dân thuộc văn hoá Xóm Cồn Niên đại tương đối của di tích nằm trong khoảng trên dưới 3.000 năm BP [96, tr 182-183],[99]
Di tích Hoà Do 5A nằm ở tổ dân phố Hoà Do 5A, phường Cam Phúc Bắc, thành phố Cam Ranh Toạ độ 11057’51.51” vĩ Bắc và 109011’34.74” kinh Đông Di tích được phát hiện trong đợt điều tra Quy khoạch khảo cổ vào tháng 10/2010 Đầu năm 2012 được BT Khánh Hòa và Viện KCH khai quật với diện tích 27m2 Tầng văn hóa cư trú dày trung bình 0,50m, đất cát mịn màu đen thẫm, nằm bên dưới lớp đất mặt dày 20cm, chứa hiện vật chủ yếu là gốm mảnh (Bản ảnh 8.1-4) Hiện vật gồm 6 đồ đá và gần 7000 mảnh gốm vụn có phong cách tương tự gốm Xóm Cồn Hoà Do 5A là di chỉ cư trú có niên đại nằm trong khoảng trên dưới 2.500 năm BP, thuộc văn hóa Xóm Cồn [98]
Bên cạnh những cuộc khai quật, cuối tháng 2/2014, BT Khánh Hòa và Viện KCH còn tiến hành đào thám sát ở 4 địa điểm: Vĩnh Hải, Gò Điệp, Suối Cam, Gò Rừng (Cam Lâm) thuộc văn hóa Xóm Cồn Kết quả ghi nhận đây đều là những di chỉ cư trú có tầng văn hóa dày và có khả năng nghiên cứu ở giai đoạn tiếp theo
Di tích Vĩnh Hải phân bố ở nghĩa địa cũ của người dân thôn Vĩnh Hải, xã Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm Tọa độ 12005’358” vĩ Bắc 109009’474” kinh Đông Diện phân bố di tích rộng trên 10.000m2 Di tích được phát hiện năm 2010 và đào thám sát diện tích 4m2 đầu năm 2014 Tầng văn hóa di tích dày trung bình 0,8cm đất cát
Trang 33mịn màu xám đen, chứa gốm cổ, ít đồ đá và xỉ sắt (Bản ảnh 8.5-6) Di tích nằm trong hệ thống di chỉ cư trú thời tiền sử và sơ sử phân bố quanh bờ vịnh Cam Ranh như Văn Tứ Đông, Cù Hin, Trảng Cháy
Di tích Suối Cam nằm ở khuôn viên Trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thôn Suối Cam, xã Cam Thành Bắc, huyện Cam Lâm Tọa độ 12002’20.17” vĩ Bắc
và 109010’17.71” kinh Đông Địa điểm được phát hiện năm 2010, đào thám sát hai lần vào các năm 2010 và 2014, mỗi lần thám sát diện tích 4m2, tầng văn hóa dày trung bình 0,6cm, cát màu xám đen, chứa nhiều mảnh gốm vụn và ít đồ đá tiền sử
Di tích Gò Điệp nằm ở thôn 2, xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm Tọa độ
12005’19.44” vĩ Bắc và 109044’46.21” kinh Đông Di tích được phát hiện và khảo sát vào các năm 2009, 2010 và đào thám sát 4m2 đầu năm 2014 Đặc điểm của di tích là dạng tích tụ “đống rác bếp” hình thành từ các loại vỏ nhuyễn thể và đồ gốm, đá… bị người xưa loại bỏ trong quá trình sinh hoạt hàng ngày được đổ thành đống lớn ở ven sườn phía tây của gò cát, chỗ dày nhất tích tụ dày tới gần 2m (Bản ảnh
Di tích Gò Rừng thôn Tân Hải, xã Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm, phát hiện năm 2009 và đào thám sát năm 2010 diện tích 1m2 Tọa độ 12004’546” vĩ Bắc và
109010’110” kinh Đông Tầng văn hóa dày 0,5m, là cát mịn màu đen, chứa di vật
đá, gốm mảnh, vỏ nhuyễn thể Dạng di chỉ cư trú thuộc văn hóa Xóm Cồn
Dấu tích cư trú thuộc văn hóa Xóm Cồn còn phát hiện ở 11 địa điểm khác: Tân Hải (Cam Lâm), Lợi Thịnh, Cam Phúc Bắc, Cam Nghĩa 1, Cam Nghĩa 2, Hòn Lao (Cam Ranh), Hồ Suối Lớn, Đồi Cô Đơn, Trản Bà Vải, Sơn Đừng, Gò Cát (Vạn Ninh) Những địa điểm này đều có tầng văn hóa mỏng, xuất hiện ít mảnh gốm tiền
sử nằm rải rác, dấu tích cư trú mờ nhạt không rõ ràng [6]
- Nghiên cứu về cụm di tích Hòa Diêm được bắt đầu kể từ khi phát hiện di tích Hòa Diêm phân bố trên một cồn cát ven biển ở Đội 5, thôn Hòa Diêm, xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh, phía nam tỉnh Khánh Hòa Những năm sau đó, ở khu vực này tiếp tục phát hiện thêm 3 địa điểm Hòa Diêm 2, Gò Miếu và Gò Duối
Trang 34phân bố liền khoảnh Tên gọi Hòa Diêm, vì vậy, được lấy để gọi chung cho một cụm gồm 4 di tích đều phân bố ở khu vực Đội 5, thôn Hòa Diêm Đây là một cụm di tích cư trú - mộ táng rất quan trọng trong công tác nghiên cứu về lịch sử - văn hóa Khánh Hoà giai đoạn tiền sơ sử, là nơi rất nhiều cuộc khai quật nghiên cứu được tiến hành, thu hút rất nhiều nhà khoa học thuộc nhiều ngành: khảo cổ học, nhân học,
cổ nhân học, cổ sinh học… trong nước và quốc tế tham gia
Di tích Hoà Diêm (còn gọi là Hòa Diêm 1 hay Hòa Diêm Đình có toạ độ
11053’14.77” vĩ Bắc và 109006’35.14” kinh Đông, là di tích cư trú - mộ táng, trong
đó nổi bật lên là khu mộ táng có niên đại vài thế kỷ trước sau Công nguyên Sau khi được phát hiện vào tháng 2/1998, tại đây đã triển khai nhiều cuộc khai quật nghiên cứu vào các năm 1999, 2002, 2007, 2008, 2010 và 2011 (Bản ảnh 10; Bản vẽ 10;
Tháng 4/1999 BT Khánh Hoà đã phối hợp với Viện KCH đào thám sát tổng diện tích 50m2, thu được nhiều mộ vò, mộ đất, xương cốt còn khá nguyên vẹn, chôn nằm ngửa Di vật có một số mảnh bàn mài, 7 vòng tay làm từ ốc tai tượng, 20 lõi vòng làm từ vỏ nhuyễn thể, 1 vòng gốm và gần 3000 mảnh gốm nằm trong tầng văn hóa cư trú Những người thám sát xác định Hòa Diêm có niên đại muộn hơn Xóm Cồn [8, tr 724-725], [27, tr 708-710], [81, tr 72-80]
Tháng 3 - 4/2002, BT Khánh Hoà và Viện KCH tiến hành đào thám sát với tổng diện tích 15m2 tại di tích Hòa Diêm, đã phát hiện 2 ngôi mộ, 16 đồ đá, gần
1500 mảnh gốm, cùng các loại xương động vật và vỏ nhuyễn thể [24, tr 15-18] Tháng 7 - 8/2002 Viện KCH và BT Khánh Hoà tiến hành khai quật lần thứ nhất 100m2 di tích Hòa Diêm Tầng văn hoá dày trung bình 0,5m, đất màu xám đen
Di tích phát hiện phát hiện 24 mộ chum vò, 2 mộ đất cùng di tích bếp và hố đất đen
Mộ chum chủ yếu là chum hình cầu với bốn dạng thức: mộ chôn lần đầu, mộ cải táng, mộ hoả táng, mộ chôn biểu tượng Đồ tuỳ táng thu được nhiều loại công cụ và
đồ trang sức có chất liệu khác nhau: đá, gốm, đồng, sắt, xương, vỏ nhuyễn thể, đá quý… Hiện vật trong tầng văn hoá bao gồm 1 rìu tứ giác, 3 phác vật rìu, 14 chày nghiền - hòn nghiền, 41 bàn mài, 3 mũi nhọn xương, 2 công cụ bằng vỏ nhuyễn thể,
Trang 351 vòng tay và 4 lõi vòng bằng vỏ nhuyễn thể cùng 32.938 mảnh gốm, trong đó có
280 mảnh thuộc nhóm gốm Chăm sớm có niên đại khoảng thế kỷ II - III sau CN Ngoài ra còn thu được nhiều xương động vật và các loại vỏ nhuyễn thể Kết quả khai quật khẳng định di tích Hòa Diêm là khu cư trú mộ táng có niên đại nằm trong khoảng thế kỷ I - II trước sau CN [24], [76, tr 167-169]
Tháng 1/2007, di tích Hoà Diêm được BT Khánh Hòa phối hợp với Viện KHXH vùng Nam Bộ, Đại học Waseda (Nhật Bản) khai lần thứ hai với diện tích 72m2 Tầng văn hóa di tích gồm tầng cư trú và mộ táng nằm đan xen Di tích gồm
14 mộ chum và 2 mộ đất Mộ chum chủ yếu là hình cầu, miệng được ghè phẳng có chủ ý Hiện vật chôn theo nằm ở bên ngoài và bên trong chum, bao gồm đồ gốm, hạt chuỗi và số ít đồ sắt Tổng số hạt chuỗi phát hiện lên đến gần 520 hạt, bao gồm các loại hình chất liệu đá mã não, đá ngọc (nephrite), christal và thuỷ tinh và 2 hạt chuỗi bằng vàng Di cốt trong chum có cả hung táng và cải táng Một số mộ thấy cả hiện tượng chôn nhiều cá thể trong một mộ Về niên đại, khu mộ Hoà Diêm có niên đại sớm nhất tương đương Hán (Tây và Đông Hán, trong khoảng thế kỷ I sau CN đến một vài thế kỷ đầu CN) Những người khai quật nhấn mạnh rằng sưu tập hiện vật gốm chôn theo mộ chum ở Hoà Diêm hoàn toàn giống gốm tìm thấy ở Hang Kalanay, đảo Masbate (Trung Philippines) và đảo Samui (Thái Lan) ở cả hình dáng
và hoa văn, nhưng không thấy các yếu tố đặc trưng văn hoá Sa Huỳnh Trên cơ sở
đó, họ đưa ra gợi ý rằng cư dân ở 3 khu vực này thuộc một nhóm người, họ trao đổi,
đi lại bằng thuyền qua đường biển, hải đảo [64, tr 125-128]
Tháng 7/2007, trong khi phối hợp khai quật di tích Gò Duối, BT Khánh Hòa
và Trường Đại học KHXH-NV Hà Nội đã khai quật lần ba di tích Hòa Diêm diện tích 8m2 Kết quả ghi nhận đây là khu rìa của di tích, tầng văn hoá mỏng và vết tích văn hoá phân bố thưa, hiện vật thu được có nhiều nét tương đồng với hiện vật khai quật từ tầng cư trú đình Hoà Diêm năm 2002 [37], [38, tr 131]
Tháng 3/2010, BT Khánh Hòa phối hợp với Viện PTBV vùng Nam Bộ, Đại học Waseda (Nhật Bản) khai quật lần thứ tư Hòa Diêm với tổng diện tích hơn 80m2 Bình diện khai quật cho thấy vết tích của sự cư trú với những cụm vỏ sò ốc, xương
Trang 36động vật và mảnh gốm nằm rải rác và một nhóm năm mộ chum nằm sát nhau thành một cụm Các chum mai táng có đáy nằm ngay trên hoặc đào xuyên nhẹ qua tầng chứa các vết cư trú, phản ánh mối quan hệ niên đại sớm - muộn giữa di tích cư trú
và mộ táng Cùng với tục chôn nhiều cá thể trong một chum, việc chôn cất thành cụm nhiều chum là một trong những nét đặc trưng khác biệt của di tích Hòa Diêm
so với các di tích mộ chum cùng thời khác [32, tr 178-180], [63]
Tháng 8/2011 BT Khánh Hòa phối hợp với BTLS Quốc gia tiến hành khai quật di tích Hòa Diêm lần thứ năm với tổng diện tích 51,5m2 Trong các hố đào phát hiện 26 ngôi mộ, gồm 24 mộ chum vò và 2 mộ huyệt đất Địa tầng di tích khác với các đợt khai quật trước là không thấy lớp văn hóa cư trú Mộ táng và các đồ tùy táng theo mộ về cơ bản tương tự các đợt khai quật trước, ngoại trừ một ngôi mộ chum có đáy hình trứng Những người khai quật nhận định Hòa Diêm không có quan hệ gần với Xóm Cồn, khác Sa Huỳnh và khá gần gũi với nhóm di tích mộ chum ở Đông Nam Bộ và với Đông Nam Á hải đảo Niên đại di tích nằm ở khoảng
500 năm trước đến một vài trăm năm sau Công nguyên [22, tr18-32]
Di tích Gò Duối có toạ độ 11053’21.28” vĩ Bắc và 109006’42.23” kinh Đông, được phát hiện và đào thám sát vào tháng 2/2007 Tháng 7 - 8/2007, BT Khánh Hòa phối hợp với Trường Đại học KHXH-NV Hà Nội khai quật diện tích 27m2 (Bản
tích tụ vỏ nhuyễn thể, than tro và đồ gốm bị loại bỏ trong quá trình sinh hoạt hàng ngày nằm trong lớp cát đen mịn Phát hiện 1 mộ đất có niên đại muộn hơn chôn trong khu cư trú Hiện vật thu được gồm vài mảnh vỡ đồ sắt, 2 đồ đồng, 1 hạt cườm thủy tinh, đồ xương, đồ đá và gốm mảnh Những người khai quật cho rằng
Gò Duối có niên đại sơ kỳ Sắt, trong khoảng một vài thế kỷ trước CN đến cận
kề CN, ở các lớp trên có sự hiện diện của đồ gốm sau CN [37], [38, tr 128-131]
Di tích Gò Miếu có toạ độ 11053’00.03” vĩ Bắc và 109006’36.79” kinh Đông, được phát hiện và đào thám sát vào tháng 10/2005 diện tích 2m2; đào thám sát lần hai năm 2014 diện tích 4m2 [114] Cuối tháng 5/2015 BT Khánh Hòa và Viện KCH khai quật di tích Gò Miếu (Cam Ranh) với tổng diện tích 33m2 (Bản ảnh 12). Tầng
Trang 37văn hoá trong hố khai quật dày 1m, chia làm hai lớp sớm muộn, ngăn cách bởi một lớp vô sinh dày 0,3m Lớp văn hóa trên chứa các cụm gốm, vỏ nhuyễn thể thuộc dạng rác thải sinh hoạt, nhiều mảnh miệng đồ gốm được trang trí văn in mép vỏ sò tương tự đồ gốm cư trú ở Hòa Diêm và Gò Duối Lớp văn hóa dưới chỉ có ít mảnh gốm được tô đỏ thổ hoàng, mang yếu tố của văn hóa Xóm Cồn Về niên đại, qua so sánh với các di tích khác ở Khánh Hòa, những người khai quật nhận định khả năng
Gò Miếu có niên đại vào khoảng 2500 năm BP, có thể mở rộng hơn đến 2800 năm
BP đến vài thế kỷ trước CN [115]
Di tích Hoà Diêm 2 có toạ độ 11053’09.16” vĩ Bắc và 109006’37.98” kinh Đông, được phát hiện và đào 2 hố thám sát vào tháng 3/2010 cùng trong đợt khai quật lần thứ tư ở Hòa Diêm Di tích thuộc loại hình cư trú - mộ táng Tầng văn hoá
là tích tụ gốm và vỏ sò khá dày, đã bị xâm hại nặng bởi các huyệt mộ hiện đại Bên dưới lớp cư trú phát hiện 2 mộ đất, một của trẻ em và một của người lớn Ngôi mộ người lớn khả năng có niên đại sớm hơn di tích mộ táng của Hòa Diêm 1 [32, tr 178-180], [63]
- Di tích mộ chum Diên Sơn (Diên Khánh) thuộc văn hóa Sa Huỳnh, tình cờ được phát hiện khi người dân địa phương đào giếng nước vào đầu năm 1988 Tháng 6/1988 Viện BTLS Việt Nam phối hợp với BT Phú Khánh tiến hành khảo sát khảo
cổ các huyện, thị ven biển từ Sông Cầu (Phú Yên hiện nay) đến Cam Ranh (Khánh Hòa), đã đến Diên Sơn khảo sát và khai quật chữa cháy, thu về 1 chum mộ cùng 4 nồi gốm nhỏ tùy táng [15, tr 57-58] Đến năm 1994, cũng trong một đợt khảo sát khu vực này, các cán bộ BT Khánh Hòa đã tìm thêm được một chiếc chum nữa trong tình trạng bảo quản rất tốt, nằm gần chum mộ năm 1988 Di tích mang những đặc điểm chung của nhóm di tích mộ táng văn hoá Sa Huỳnh phân bố ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, có niên đại nằm trong khoảng trên dưới 2000 năm BP [14, tr
250-252], (Bản ảnh 2.1)
- Về nhóm trống đồng Đông Sơn ở Khánh Hòa, tính đến nay đã phát hiện 5 trống, ở 3 địa điểm phường Phước Hải (thành phố Nha Trang), xã Ninh Phụng và Ninh Thân (thị xã Ninh Hòa)
Trang 38Trống Nha Trang I và Nha Trang II phát hiện tại phường Phước Hải, thành phố Nha Trang vào các năm 1983 và 2000, cùng ít đồ sắt và đồ gốm mang phong cách Sa Huỳnh [10, tr 373-375]
Khi phát hiện trống Nha Trang I vào tháng 10/1983, Ngô Sĩ Hồng và Nguyễn Nam Phong xếp vào loại I Heger hay còn gọi là trống Đông Sơn, có thể tương đương với trống Đak Glao (Gia Lai - Kon Tum) [68, tr 137-138] Nhưng cũng có ý kiến xem trống Nha Trang có niên đại sớm hơn, thuộc nhóm trống B (theo cách phân loại của Phạm Minh Huyền, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Sinh [69, tr 86-87]), tương đương với các trống Hà Nội, Vĩnh Ninh (Thanh Hóa)… [17, tr 16]
Trống Nha Trang II phát hiện vào tháng 12/2000, tại khuôn viên nhà số 6A, đường Hương Điền, phường Phước Hải, thành phố Nha Trang Trống còn tương đối nguyên vẹn, chôn sấp, bên trong chôn theo đồ gốm, đồ đồng và đồ sắt Trống Nha Trang II nằm cùng nhóm với trống Nha Trang I, thuộc nhóm trống đồng Hêgơ I, loại B2 điển hình [10, tr 373-375], [11, tr 312-315]
Thời gian 2004 - 2005 tại cồn cát cổ ở các xã Ninh Phụng và Ninh Thân thị xã Ninh Hòa đã phát hiện 3 chiếc trống đồng Đông Sơn, được đặt tên là Đại Cát I, Đại Cát II và Đại Mỹ, đều là trống Heger I, loại A
Trống Đại Cát I và Đại Cát II được người dân địa phương phát hiện ngẫu nhiên vào tháng 3/2004, trong khi đào phế liệu ở một quả đồi thấp thuộc thôn Đại Cát, xã Ninh Phụng (Bản ảnh 2.2) Hiện tại, một chiếc đang được trưng bày tại BT Khánh Hòa (trống Đại Cát I), chiếc kia được trưng bày tại Phòng Trưng bày thị xã Ninh Hòa (trống Đại Cát II) Hai chiếc trống có hình dáng và phong cách trang trí tương tự các trống Ngọc Lũ, Cổ Loa 1, Miếu Môn 2, Quảng Chính, Phổ Đà… nằm trong nhóm trống đồng Hêgơ I, loại A theo cách phân loại của Phạm Minh Huyền
và các cộng sự, thuộc loại sớm, có niên đại khoảng 2.500 năm BP [88, tr 208-211] Tháng 6/2005, người dân tiếp tục đào được một chiếc trống đồng trong khi dò tìm phế liệu tại khu vực cồn cát cổ thuộc thôn Đại Mỹ, xã Ninh Thân và giao nộp cho BT Khánh Hòa Trống có đặc điểm tương tự các trống Đại Cát I và Đại Cát II, thuộc nhóm trống đồng Hêgơ I, loại A, có niên đại khoảng 2.000 - 2.300 năm BP
Trang 39- Về nghiên cứu khảo cổ học biển đảo, trong thời gian các năm 1993 - 1994 và
1999, Viện KCH thực hiện nhiệm vụ cấp Nhà nước “Khảo cổ học Trường Sa, Tây Nguyên, Nam Bộ” do Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ đạo, đã hai lần khảo sát khảo cổ tại quần đảo Trường Sa Tại đây, Viện KCH đã phát hiện di tích khảo cổ ở 4 đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết, Song Tử Tây và Sinh Tồn Trong hố khai quật khảo cổ tại Trường Sa Lớn, diện tích 70m2 đã phát hiện gần 30 mảnh gốm tiền sơ sử trong tổng số hơn 300 hiện vật thu được ở đây [28, tr 14-24] Tiếp theo đó, đợt khảo sát huyện đảo Trường Sa của Viện KCH tiến hành vào giữa năm 2014 đã khảo sát lại các điểm di tích phát hiện trước đây và thu được thêm 4 mảnh gốm tiền sơ sử tạo đảo Trường Sa Lớn (Bản ảnh 13)
- Bên cạnh những công tác điều tra, thám sát, khai quật nghiên cứu ở trên, ở Khánh Hòa còn phát hiện nhiều sưu tập hiện vật đá được phát hiện ngẫu nhiên nằm rải rác trên địa bàn toàn tỉnh
1.2.2 Tổng quan tư liệu đã công bố
Đến nay kết quả nghiên cứu về khảo cổ học tiền sơ sử ở Khánh Hòa đã được công bố dưới nhiều dạng thức khác nhau, bao gồm: một số ít sách chuyên ngành; trong Luận án tiến sĩ của Vũ Quốc Hiền; các Báo cáo khoa học kết quả, điều tra, thám sát và khai quật lưu giữ tại nhiều cơ quan khác nhau; các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành Khảo cổ học, Thông báo Khoa học của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia); mà ở dạng thức phổ biến nhất là những bài viết ngắn gọn công bố trong các tập sách của Hội nghị Những phát hiện mới về khảo cổ học hàng năm
Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, Nguyễn Khắc Sử trong một bài
nghiên cứu Rìu, cuốc hay mai (?) đăng trên tạp chí Khảo cổ học đã nhắc đến hai
công cụ đá được H.Mansuy phát hiện ở đảo Hòn Tre và cho rằng, đây là những chiếc mai dùng để đào xới đất của cư dân làm nông; có niên đại đồng thau - sắt sớm, cách nay trên dưới 2.500 năm [105, tr 61-68]
Năm 1983, Vũ Quốc Hiền công bố kết quả cuộc khai quật Di chỉ Xóm Cồn
(Phú Khánh) lần thứ nhất [50, tr 39-44], trên Thông báo khoa học Viện BTLS Việt
Trang 40Nam Qua những tư liệu thu được, ông nhận định Xóm Cồn là di tích thuộc Sơ kỳ thời đại đồng thau và chỉ là một trong những yếu tố tạo nên văn hóa Sa Huỳnh sau
này Năm 1991, cũng trên Thông báo khoa học Viện BTLS Việt Nam, Quang Văn Cậy công bố kết quả khai quật Di chỉ Bình Hưng (Khánh Hoà) [19, tr 30-36] và nhận định đây là di tích tương tự Xóm Cồn
Những nghiên cứu về giai đoạn tiền sơ sử Khánh Hòa từ trước cho đến năm
1993 được cô đọng trong Văn hóa Xóm Cồn với Tiền sử và sơ sử Khánh Hòa [17]
Trong tác phẩm này, dựa trên những phát hiện và nghiên cứu các di tích Bình Hưng, Bình Ba, Bích Đầm, Bãi Trủ, Đầm Già (Khánh Hòa), Gò Ốc, Giồng Đồn (Phú Yên)… được nghiên cứu trong giai đoạn 1988 - 1992 và đặc biệt là dựa trên kết quả
từ hai lần khai quật di tích Xóm Cồn vào các năm 1980 và 1991, Nguyễn Công
Bằng và các cộng sự đã đưa ra thuật ngữ văn hóa Xóm Cồn, nền văn hóa khảo cổ
đầu tiên và duy nhất cho đến nay ở khu vực Nam Trung Bộ
Cũng trên cơ sở những dữ liệu về hệ thống di tích khảo cổ giai đoạn tiền sơ sử phân bố ở vùng ven biển Phú Yên - Khánh Hòa cho đến năm 1993, Vũ Quốc Hiền
đã đi sâu nghiên cứu và thực hiện đề tài Luận án Tiến sĩ của ông về Văn hóa Xóm
Cồn và vị trí của nó trong thời đại kim khí ven biển miền Trung [51] Công trình
này là một dấu mốc xác nhận Văn hóa Xóm Cồn chính thức được thừa nhận là một
văn hóa thuộc Sơ kỳ thời đại Kim khí, có niên đại từ 3.500 - 3.000 năm BP, phân bố chủ yếu ở vùng ven biển Phú Yên - Khánh Hòa
Năm 1997, trong bài viết Khánh Hòa: một cái nhìn địa - văn hóa, Giáo sư
Trần Quốc Vượng có đề cập và khai quát thêm rằng đặc trưng của văn hóa Xóm Cồn ở Khánh Hòa cũng như các nền văn hóa ven biển miền Trung thời tiền sử - sơ
sử (đá mới - sơ kỳ kim khí) là văn hóa cồn bàu [143, tr 14-18] Văn hóa Xóm Cồn
còn được đề cập ngắn gọn trong tập sách Khảo cổ học Việt Nam, Tập 2: Thời đại
Kim khí Việt Nam của Viện KCH [117]
Từ năm 1998 đến nay ở Khánh Hòa đã tiến hành thêm nhiều cuộc khai quật nghiên cứu tại 7 địa điểm: Hòa Diêm [24], [60], [63], Vĩnh Yên [109], [137], Văn
Tứ Đông [134], [113], Gò Duối [37], Cù Hin [135], Trảng Cháy [98], Hòa Do 5A